ThS. Đào Lê Na

Khoa Văn học và Ngôn ngữ

ĐHKHXH&NV, ĐHQG TPHCM

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. 

Mặc dù mới ra đời vào năm 1918 nhưng đến năm 1945, cải lương đã có số lượng tác giả và tác phẩm rất lớn để phục vụ cho nhu cầu của đông đảo quần chúng cả miền Nam lẫn miền Bắc. Vì đây là loại hình nghệ thuật mới, có sự dung hòa giữa loại hình nghệ thuật phương Tây là kịch nói và kịch hát dân tộc nên đã đáp ứng được nhu cầu của đại bộ phận khán giả thời bấy giờ. Để có những vở cải lương biểu diễn kịp thời cho công chúng, bên cạnh việc tự sáng tác, các soạn giả đã chuyển thể những tiểu thuyết Việt Nam và Trung Quốc rất “ăn khách” thời bấy giờ.

TS. Wang Xiaolin (王小林)

(Đại học Sư phạm Hồ Nam, Trung Quốc)

TS. Nguyễn Đình Phức dịch 

Tóm tắt nội dung: Tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du là sự tiếp biến văn hóa trên cơ sở cải biên tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của tiểu thuyết gia Thanh Tâm Tài Nhân sống vào giai đoạn Minh Thanh. Thông qua quá trình tiếp biến ngoại văn hóa này, từ một tiểu thuyết thông tục mang đậm chất tài tử giai nhân, Nguyễn Du đã đem nó cải biên thành một tác phẩm truyện thơ dài, đồng thời còn là sự thể hiện đỉnh cao của tính điển nhã trong văn chương Việt. Nhờ có quá trình tiếp biến yếu tố ngoại văn hóa này mà Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du trở thành một tác phẩm văn học kinh điển đồng thời được rất nhiều độc giả trên thế giới yêu thích.

Trong nhà trường, văn bản hành chính và các phương tiện truyền thông ở Việt Nam, tên riêng tiếng nước ngoài đang được sử dụng hết sức tùy tiện.

Đối với tên riêng tiếng nước ngoài khi dùng trong sách giáo khoa và trên các phương tiện truyền thông, việc phiên âm ra tiếng Việt hay giữ nguyên dạng là rất quan trọng vì nó tác động đến sự phát triển tư duy, trình độ văn hóa và cảm thức thẩm mỹ của cả một hoặc nhiều thế hệ.

Nguyen Thanh Tam

 University of Social Sciences and Humanities-Hochiminh City

Abstract . It is said that most of the cultures around the world have experienced the processes of formation, development, rubbing and exchanges to take shape like they are today. Translation in general, along with literary translation in particular have contributed to that whole processes. From the ancient times, Vietnam and Japan have used translation as an efficient method in acquiring culture from the giant neighbor China and gradually built up their national culture. However, because of the differences in geographical location, in ethnic characteristics and in thinking tradition, acculturation with Chinese culture through translation in Vietnam and Japan followed different paths .

Những vấn đề thiếu nhất quán trong tiếng Việt đang được giới nghiên cứu Việt ngữ học mổ xẻ để tìm tiếng nói thống nhất, hướng đến một chuẩn chính tả chung cho cả nước, phục vụ dự án Luật Ngôn ngữ hiện chuẩn bị được soạn thảo. Bất quy tắc i/y từ 100 năm trước. Văn bản tiếng Việt từ khoảng 100 năm qua tồn tại nhiều điểm thiếu nhất quán, trong đó có “tranh chấp” giữa i (ngắn) và y (dài), d và gi. Sử dụng i hay y khi 2 chữ này đứng liền sau các phụ âm [h], [k], [l], [m], [t], [s], [v] gây tranh luận nhiều hơn cả vì…sự lộn xộn nổi cộm của nó...

MA. Le Ngoc Phuong

University of Social Sciences and Humanities-Hochiminh City

ABSTRACT .Magic Realism was actually a literary movement  related to the outbreak of Latin American literature in the 1960s - 1970s. With the appearing of many masterpieces, magic realist method spread out all over the world. Japan is among the experimenters of this new writing style. Fantasizing the reality, mixing the real with the virtual elements, upsetting the linear of time and using the religious archetypes are specific characteristics of many works of Japanese contemporary literature. Sharing some general features, Japanese literature as well as the other national literatures have found for themselves their own specifically magical realism.

Hội thảo Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á do Khoa Văn học và Ngôn ngữ chủ trì, với sự tài trợ của Quĩ Japan Foundation, vừa được tổ chức trọng thể tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào hai ngày 6 và 7-12-2011.

Nakagawa Shigemi (*)

Ngày nay, trên thế giới có khoảng bao nhiêu người học tiếng Nhật, đọc văn học Nhật Bản bằng tiếng Nhật? Có bao nhiêu người sử dụng sách tiếng Nhật để nghiên cứu những vấn đề văn hoá liên quan đến Nhật Bản? Có lẽ chuyện những nhà nghiên cứu Nhật Bản có liên quan đến những cuốn sách về văn hoá, văn học Nhật Bản tỏ ra thờ ơ một cách bất ngờ với vấn đề này là do từ trong vô thức, họ tin rằng tiếng Nhật, người Nhật và văn hoá Nhật được gắn bó chặt chẽ với nhau.

Đối với hầu hết các nước trên thế giới, người Việt viết tên riêng (nhân danh, địa danh) của nước ấy không gặp vấn vấn đề gì rắc rối lắm. Tuy nhiên với ba nước Trung, Nhật, Hàn, do những quan hệ văn hóa lịch sử lâu đời với Việt Nam (các nước khu vực văn hóa chữ Hán/ “Đồng văn”), nên nhân danh, địa danh các nước này đã có truyền thống được đọc/ viết bằng âm Hán Việt hay Hán Hòa, Hán Hàn. Vì vậy đối với Việt Nam hiện nay đưa ra quy tắc viết tên riêng các nước này không hề đơn giản. 

 

Nguyễn Thị Phương Thuý(*)

Tham luận tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại    

             Với nhiều thành tựu rực rỡ cả về hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng, Tự Lực văn đoàn không chỉ là dấu son của một thời kỳ hiện đại hoá văn học Việt Nam đầy sôi động mà còn để lại ảnh hưởng sâu đậm trong sáng tác của nhiều nhà văn cùng thời và giai đoạn sau. Đô thị Nam Bộ 1945-1954 đã chứng kiến sự ra đời và trưởng thành của nhiều cây bút giàu lý tưởng tranh đấu bảo vệ quê hương, giàu tình cảm với nhân dân lao động và những người nghèo khổ, thể hiện qua những phong cách lý tính nhưng lại không hề thiếu chất hào hoa, lãng mạn. Sáng tác văn xuôi của họ mang không ít dấu ấn của Tự Lực văn đoàn từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Tôn chỉ, mục đích, nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Tự Lực văn đoàn thống nhất trên tất cả các thể loại văn xuôi, và ảnh hưởng của họ đến văn học Nam Bộ không chỉ gói gọn ở lĩnh vực tiểu thuyết. Thế nhưng trong khuôn khổ một báo cáo khoa học, bài viết này chỉ có thể điểm qua ảnh hưởng của tiểu thuyết nhóm Tự lực đối với một số lượng giới hạn các tiểu thuyết của một số nhà văn Nam Bộ như Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Dương Tử Giang, Sơn Khanh, Việt Quang, Thanh Thuỷ, Ngọc Sơn…

(Nhân Hội thảo quốc gia Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng)

Không thể có quy  tắc chính tả nào đúng tuyệt đối

Những quy  tắc cho một chuẩn lý tưởng, ở mức độ thứ nhất  là những quy  tắc tuyệt đối đúng. Ở mức độ thứ hai, nếu không tuyệt đối đúng thì những quy  tắc được mọi người chấp nhận cũng là chuẩn lý tưởng. 

Đoàn Lê Giang-Lê Quang Trường(*)

Từ cuối thập niên 1980 quan hệ Việt Nam và Nhật Bản bắt đầu nồng ấm trở lại, việc học tập và nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hoá Việt Nam và Nhật Bản được tăng cường. Năm 1990 giới sử học hai nước đã mở hội thảo về Hội An, nơi còn lưu lại nhiều dấu tích về giao thương Việt Nam và Nhật Bản TK.XVII. Trong tập kỷ yếu hội thảo, có bài Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn cứ theo Gaiban tsusho (Ngoại phiên thông thư) của Giáo sư Kawamoto Kunie, một nhà Việt Nam học có tiếng của Nhật Bản([1]). Đây là bài viết đầu tiên bằng tiếng Việt giới thiệu về các bức thư trao đổi giữa Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản) và chúa Trịnh, chúa Nguyễn (Việt Nam). Năm 1995, trên Kiến thức ngày nay số Xuân, chúng tôi (Đoàn Lê Giang) có viết bài giới thiệu về nhà thơ Nhật Bản Abe no Nakamaro (TK.VIII), bạn thơ của Lý Bạch lưu lạc đến Việt Nam (bài Một người bạn của Lý Bạch lưu lạc ở Việt Nam)…Ngoại phiên thông thư và Abe no Nakamaro là hai sự kiện quan trọng, nổi bật về quan hệ Việt Nam-Nhật Bản không thể bỏ qua. Từ cuối thập niên 1990 trở đi việc nghiên cứu về quan hệ văn hoá, văn học giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Gần đây, nhân tìm hiểu phần Hán văn trên Nam phong tạp chí, chúng tôi mới phát hiện ra là từ gần 100 năm trước Lê Dư đã nghiên cứu về những chuyện nói trên khá kỹ, chỉ tiếc là ông viết bằng Hán văn, nên ít người chú ý đến.

Các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà giáo cùng thống nhất quan điểm: Tiếng Việt phải được luật hóa

NHÀ VĂN HÓA NGUYÊN NGỌC:

Phải có cách viết thống nhất

Cần có chuẩn chính tả thống nhất cho cả nước để duy trì được sự vận hành thông suốt của cuộc sống bình thường trong đất nước. Đấy là chức năng xã hội của chính tả.

Toàn cầu hoá là một quá trình lịch sử lâu dài, diễn ra một cách thầm lặng nhưng không thể đảo ngược được giữa các quốc gia, các cộng đồng cư dân khác nhau để nhân loại có thể xích lại gần nhau trong mái nhà chung là trái đất.  Đối với Việt Nam và Nhật Bản cũng như các dân tộc khác, toàn cầu hóa là cơ hội và cũng là thách thức. Trong bối cảnh toàn cầu hóa của thế kỷ 21, nhiều vấn đề đặt ra đối với văn hóa, văn học của mỗi nước mà trung tâm là vấn đề văn học Việt Nam và Nhật Bản đã và sẽ phát triển thế nào trong quá trình ấy? Những người làm nghiên cứu, phê bình văn học cần phải làm gì để góp phần vào sự phát triển đúng hướng của sáng tác và nghiên cứu, phê bình văn học trong tương lai?  

Thông tin truy cập

36755517
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
3323
5963
36755517

Thành viên trực tuyến

Đang có 211 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929