Khi thông tin liên tục truyền nhau từ bạn bè đồng nghiệp về sự ra đi của Thầy cũng là lúc tôi bàng hoàng nhận ra mình đã vĩnh viễn mất đi một người thầy mẫu mực, đáng kính; một chỗ dựa tinh thần cao cả mà mình không bao giờ tìm thấy được. Bàng hoàng hơn nữa là tôi không kịp gặp Thầy trong những giây phút cuối cùng...

DANH SÁCH TÓM TẮT THAM LUẬN

VĂN HỌC VIỆT NAM

1. ThS. Cao Hạnh Thủy: Hình tượng nhân vật cô hai Tân trong tiểu thuyết  “Tân Phong Nữ sĩ” của nhà văn Hồ Biểu Chánh từ góc nhìn nữ quyền

2.ThS. Lê Văn Thi: Giới thiệu về các nhà thơ nữ hoàng tộc triều Nguyễn

3.ThS. Nguyễn Cảnh Chương: Tư tưởng Lão - Trang trong thơ Nguyễn Công Trứ thể hiện qua đề tài

Tôi là một trong những học trò được học thầy sớm nhất từ năm 1951 tại Sư phạm Trung cấp – Khu học xá Trung ương – tức cách đây 62 năm. Lại may mắn được gần gũi với thầy lâu nhất, vào những năm cuối đời của thầy, khoảng 7,8 năm lại đây.

Tiếp cận Thiền uyển tập anh như một pho kinh sách sáng tạo hay như một tác phẩm văn học cổ uyên bác là điều không độc giả nào ngày nay băn khoăn. Từ nhiều thế kỷ trước, tác phẩm lấp lánh cảm hứng và triết luận thiền giáo này đã thu phục sự tôn kính của các thế hệ cao tăng cho đến tầng lớp đại trí thức Nho học (như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú…). Vào một thời kỳ khi mà văn học Trung đại Việt Nam thành tựu chưa được dày dặn với 3 thế kỷ ra đời, phát triển (tính đến đầu thế kỷ XIV), thì sự xuất hiện của tập truyện ký với ngót 70 tiểu phẩm này đã thực sự tạo nên một cái mốc đi lên thận trọng mà vững chắc. Đương nhiên, công trình này trước hết là sự tổng kết nghiêm túc mà thi vị chặng đường 7 thế kỷ vẻ vang của thiền giáo Đại Việt. Cảm hứng chủ đạo và thấm đẫm trong từng tiểu truyện của Thiền uyển tập anh là cảm hứng thiền. Đây thực sự là áng thiền ca đẹp đẽ, có sức thu hút đặc biệt.

 hoang nhu mai van tap

           Nhiều thế hệ sinh viên rời ghế Khoa Văn Tổng hợp ra trường hàng mấy chục năm vẫn còn nhớ mãi phong thái thung dung, tác phong nghệ sĩ và nhất là lời giảng hào hùng, giọng đọc thơ ru hồn của GS.Hoàng Như Mai. Người nghe bị cuốn hút bởi cách phân tích sắc sảo, bởi tinh thần học thuật tự do và nhất là bởi cái tình với văn chương. Trong thời chiến tranh và bao cấp, việc giảng văn nhiều khi phải hy sinh cả chính văn chương để đạt được những mục tiêu trước mắt, nhưng ngay cả trong những lúc như thế, Giáo sư vẫn nuôi trong tâm hồn nhiều thế hệ sinh viên niềm yêu thích với những áng thơ văn đích thực: Ngày về, Tây Tiến, Màu tím hoa sim, Bên kia sông Đuống v.v. để đến bây giờ, những tác phẩm ấy đã có được vị trí xứng đáng trong chương trình môn Văn và trong lịch sử văn học dân tộc. 

ĐOÀN LÊ GIANG(*)

Tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của nước ta là tác phẩm nào? Có thể nói đó là cuốn Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản do F.H.Schneider xuất bản ở Sài Gòn năm 1910. Tác phẩm kể về cuộc đấu tranh của Vương Thế Trân và Nhan Khả Ái chống lại các thế lực xấu xa, thù địch để có thể giúp Nguyễn Ánh trong công cuộc chống Tây Sơn. Sau Trương Duy Toản, người thứ hai viết tiểu thuyết lịch sử là Phan Kế Bính với tác phẩm Hưng Đạo Đại vương xuất bản ở Hà Nội năm 1912(1). Thể loại tiểu thuyết lịch sử đặc biệt được yêu thích ở Nam Kỳ(2) với các nhà văn tên tuổi: Trương Duy Toản, Phạm Minh Kiên, Nguyễn Chánh Sắt, Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh…

             1. Bản chất và phong thái là nghệ sĩ, nhưng Thầy đã hiến trọn đời mình cho giáo dục. Từ đâu lại có sự lựa chọn này?

             Tôi bắt đầu làm nghề dạy học từ lời mời của một người bạn. Đó là một ngôi trường tư ở Hải Dương. Cảm giác ban đầu là thú vị, vì được tiếp xúc với thanh niên.Các bạn thanh niên bây giờ đôi khi khó chịu vì có cảm giác bị lãnh đạo, nhưng thanh niên chúng tôi trước năm 1945 hầu như rất khao khát được chỉ đạo. Chí ít đó là tâm trang thực của tôi, bạn bè tôi và học trò của tôi thuở ấy. Chúng tôi như cây chuối đứng giữa cơn gió bão, tàu lá rách tả tơi, không biết nên ngả về hướng nào...Chúng tôi như  người bộ hành lỡ bước,trời chiều, đường xa không biết sẽ dừng chân ở nơi đâu...Nói như Tố Hữu, đó là tâm trạng ” bâng khuâng đứng giữa đôi giòng nước”. Những ngày cuối tuần, tôi thường về Hà Nội để gặp gỡ, hỏi Bạn hỏi Thầy. Xã hội ta lúc ấy có nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Chọn được một con đường để đi không phải dễ dàng!

Nói đến thơ văn thời thịnh Lê, dễ có cảm tưởng chúng mang đậm tính chính thống, quan phương, và kinh đô khi được tái hiện lại trong nhóm tác phẩm ấy cũng khó xa rời mục đích chính trị - yếu tố dễ khiến sáng tác nghệ thuật trở nên khuôn sáo. Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, có thể thấy bên cạnh tính quy phạm không thể phủ nhận, vẫn còn đó trong thơ ca thời thịnh Lê nét đẹp thi vị dễ quyến lòng người của cảnh sắc và con người trên đất kinh kỳ. Công bằng mà xét, phải đâu tính chất cung đình, tụng ca của văn học giai đoạn này chỉ mang đến bất lợi cho văn học, mà nhìn từ góc độ khác, đã tạo nên những vần thơ giàu mỹ cảm, là “lời ca chân thành và say sưa của các thi sĩ trước cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống thanh bình”(1). Rõ ràng là dưới triều vua Lê Thánh Tông, khi lực lượng sáng tác chuyển sang quy tụ hoàn toàn ở phía nhà nho thì kinh đô, mảnh đất gắn liền với cuộc đời của nhiều nho sĩ, đã dần trở thành không gian quen thuộc gợi nên biết bao xúc cảm. Chính vì thế, ít nhiều bức tranh Thăng Long trong văn học thời thịnh Lê vẫn có sức hấp dẫn riêng, phần nào thể hiện được cảm nhận tinh tế của các tác giả trước vẻ đẹp quê hương buổi thịnh triều.  

            Một số nhà nghiên cứu văn học ở ta thường giấu mình đi, và giấu rất khéo, đằng sau những trang sách. Đó một phần là do yêu cầu khoa học, phần khác là do hoàn cảnh.

            Nhưng cũng có những người, vì phẩm chất nghệ sĩ, đã không ngần ngại bộc lộ cái nhìn, tâm trạng của mình trên cả trang văn chính luận.

 1. Muốn tìm hiểu hình ảnh Thăng Long trong thơ Nguyễn Du được biểu hiện dưới các cấp độ đậm nhạt như thế nào thì trước hết phải xác định được mối quan hệ gắn bó giữa Nguyễn Du với Thăng Long sâu nặng đến mức độ nào. Ai cũng biết quê quán của Nguyễn Du là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc Hà Tĩnh. Nhưng ông lại sinh ra giữa kinh đô Thăng Long vào thời quyền uy Lê – Trịnh đang nghiêng ngửa.

Albert Camus (1913-1960) và Dazai Osamu (1909-1948) là hai nhà văn nổi tiếng sau Thế chiến thứ hai thuộc hai nền văn học – một phương Tây (Pháp) và một phương Đông (Nhật Bản). Dưới ánh sáng thể loại, chúng tôi tiến hành so sánh cảm thức người xa lạ của hai tác giả thông qua hai nhân vật chính là Meursault và Yozo trong hai tác phẩm nổi tiếng của hai ông là Kẻ xa lạ (Albert Camus) và Thất lạc cõi người (Dazai Osamu). Và thế là, bi kịch hiện sinh của họ đã hiện ra như một thách thức đối với chúng ta về sự cô đơn của con người.

Nhiều người đều nghĩ rằng hiếm thấy nơi đâu trên đất nước Việt Nam lại có vị thế đẹp và thuận lợi như đất Thăng Long - Hà Nội. Đây là nơi truyền thuyết kể rằng có rồng bay lên, là nơi tụ thủy, tụ nhân. Các bậc tiền nhân xây dựng kinh đô nơi đây với mong ước muôn đời non nước phồn vinh phát triển theo thế rồng bay lên. Và quả thật trời đất đã ban tặng cho vùng đất này bao nhiều là tiềm năng phát triển về mọi mặt, điều này đã được chứng minh qua 10 thế kỷ trung đại, cả cho đến ngày nay. Dù có thể không sinh ra trên vùng đất đế kinh này nhưng đã là người Việt Nam ai cũng cảm nhận được một huyền thoại lung linh về Hồ Gươm - Tháp Rùa, về nơi thanh tịnh trang nghiêm của Chùa Một Cột, về chốn lưu giữ tri thức thời đại đầy tự hào của Văn miếu - Quốc Tử Giám, về đài Nghiên, tháp Bút mạnh mẽ vươn mình lên tận trời xanh … Và một điều gì đó hết sức gần gụi thân quen, đó có thể là hình ảnh dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, là con đường nồng nàn mùi hoa sữa, là những dòng sóng lan nhẹ trên mặt hồ, là mùa thu chìm khuất trên những táng cây già buông nhè nhẹ từng chiếc lá, là mùa đông trên đôi má ửng hồng của các cô gái thị thành…nói chung là những gì rất thủ đô, của thủ đô.

Một chủ đề lớn trong tiểu thuyết hậu hiện đại của Paul Auster là sáng tạo và văn chương. Hầu như tiểu thuyết nào của ông cũng có một tầng nghĩa nói về sự trăn trở, về nỗi khó nhọc của việc viết văn. Đó là cuộc trinh thám đặc biệt xâm nhập vào chính quá trình viết lách, xâm nhập vào bản chất ngôn ngữ, và sự trả giá của nhà văn. Thử thách mà các nhân vật phải khám phá, ngoài thân phận của họ, còn là những bí mật trong bản chất sáng tạo, trong trí tuệ, trong những liên kết nghệ thuật. Và không chỉ bằng nội dung, Paul Auster đã viết về chủ đề sáng tạo và văn chương còn bằng chính cấu trúc và cách triển khai của tác phẩm văn chương.

               Tính đến năm 2015, chữ quốc ngữ - thứ chữ viết ghi âm mà chúng ta dùng hiện nay đã tròn 400 năm. Từ khi hình thành cho đến nay, dù trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, sự tồn tại và hoàn thiện của chữ quốc ngữ là điều đáng ghi nhận và trân trọng.

Trong dòng chảy của truyện thơ Đông Nam Á, truyện thơ Thái Lan có một vị trí quan trọng với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Ramakien, Khun Chang Khun Phaen, Inao, Phra Lo, Kraithong, Phra Abhai Mani… Đặc biệt, tất cả các truyện thơ Thái Lan đều chứa đựng nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo, các nhân vật thần tiên hoặc nhân vật trần thế có phép thuật, bùa chú. Đặc điểm này có thể lý giải trên nhiều phương diện:

Tuy có hình thức văn tự khác nhau, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ latinh đều là "chữ Quốc ngữ" với nghĩa là hệ thống chữ viết ghi lại tiếng nói dân tộc; do vậy, chúng có mối tương quan nhất định về ngữ âm và ngữ nghĩa. Xét về phương diện ngữ âm, chữ quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La­ thể hiện rất rõ mối tương quan với cấu tạo chữ Nôm vào thời điểm bộ từ điển trên ra đời. Bài viết chủ yếu quan tâm các mảng từ tiếng Việt cổ có tổ hợp phụ âm đầu, có phụ âm đầu nay đã biến mất, hoặc có phụ âm đầu nay đã đổi khác, với các hình thức ghi âm tương ứng của chữ Nôm. Nghiên cứu các mảng từ này trong Từ điển Việt - Bồ - La­ sẽ giúp ích nhiều cho việc lý giải và đọc chữ Nôm nói chung, chữ Nôm giữa thế kỷ 17 về trước nói riêng, một cách có cơ sở.

 Văn học miền Nam 1954-1975 là một hiện tượng phức tạp và tế nhị mà cho đến nay việc đánh giá vẫn còn gây ra nhiều chia rẽ, trái nghịch. Bài viết này muốn đặt hiện tượng đó trong bối cảnh cuộc chiến tranh khốc liệt và bi thảm và trong quan hệ với một xã hội tiêu thụ bước đầu hình thành ở các đô thị. Thị trường văn học kích thích sự tiếp nhận của công chúng góp phần lý giải những thành tựu và hạn chế về sáng tác, phê bình, khảo cứu, dịch thuật trong giai đoạn đó. Một cái nhìn khách quan, điềm tĩnh và cởi mở về văn học miền Nam sẽ tạo điều kiện cho sự hòa hợp dân tộc trên bình diện văn hóa.

1-     Đến nay, cương vị của chữ Quốc ngữ trong văn hóa nước nhà không có gì phải nói nữa. Thế nhưng để có được cương vị như vậy, chữ ta đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn mới cập bến.

Với hướng tiếp cận hậu thực dân và hậu cấu trúc luận, bài viết này tìm hiểu cơ cấu tạo nghĩa trong quá trình phiên/biên dịch mà trong đó dịch giả/phiên dịch viên đóng vai trò chủ đạo. Vai trò chủ đạo ở đây của dịch giả/phiên dịch viên không chỉ dừng ở tính sáng tạo và tự chủ, hay ở một tác nhân, mục đích chính trị nào đó, m à là một sự can thiệp khi thì trực diện, khi gián tiếp của dịch giả/phiên dịch để thương lượng với các bên liên quan một sự đồng thuận về nghĩa nào đó. Thông qua một vài trường hợp điển hình, bài viết này làm sáng tỏ tính liên ngành của dịch thuật, gắn kết lý luận phê bình hậu cấu trúc với các lý thuyết về về đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, và vấn đề phát triển và công bằng xã hội trong mối tương quan giữa chính lưu và các nhóm tiểu nhược. Bài viết cũng hy vọng khơi gợi một cuộc đối thoại của những nhà lý luận phê bình văn học, những nhà hoạt động xã hội, và các dịch giả vốn hiện rất cần tại Việt Nam.

 

1. Dẫn nhập

Chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII - đầu thế kỉ XIX cho thấy rất rõ sự tồn tại của các tổ hợp phụ âm đầu tiếng Việt /bl/, /ml/, /mɲ/, /tl/ (ghi bằng chữ viết: bl, ml, mnh, tl). Bốn tổ hợp phụ âm này được ghi đầy đủ trong Dictionarivm Annamiticvm Lvsitanvm, et Latinvm ope (Từ điển Annam - Lusitan - Latinh; Cũng gọi Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latinh) của A. de Rhodes [1] [3].

Thông tin truy cập

37711566
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
5024
8183
37711566

Thành viên trực tuyến

Đang có 366 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929