Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Hán Nôm Mấy vấn đề về văn học thông tục trong thư tịch Hán Nôm Việt Nam

Mấy vấn đề về văn học thông tục trong thư tịch Hán Nôm Việt Nam

Email In

 

Dân tộc ta có mấy ngàn năm lịch sử. Trong mấy ngàn năm lịch sử đó người Việt đã có khoảng 2000 năm dùng chữ Hán, chữ Nôm để viết (chữ Nôm được sử dụng khá rộng rãi từ TK. XIII), và cha ông ta đã để lại một kho thư tịch Hán Nôm được sinh thành trong suốt cả 1000 năm độc lập tự chủ. Trong vốn di sản văn hiến ấy, theo Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (dưới đây gọi giản lược là Đề yếu) thì có đến khoảng một nửa là thuộc về hoặc liên quan đến văn học: với 2500 tác phẩm trên 5038 đầu sách [1, 24].  Tuy đây là con số thống kê chưa đầy đủ, nhưng ta thấy số đầu sách thuộc lĩnh vực văn học vẫn chiếm địa vị chủ đạo trong kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam.

Do hoàn cảnh lịch sử, môi trường văn hoá, nên nền văn học cổ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn học Trung Quốc. Cha ông ta đã vay mượn Trung Hoa ngôn ngữ văn tự, hình thức thể loại, nội dung đề tài để thể hiện tâm hồn Việt, tinh thần Việt. Ngay cả mảng văn học viết bằng chữ Nôm, khu vực được coi là mang sắc thái Việt đậm đà nhưng cũng thấy thấp thoáng đâu đó cái bóng Hoa Hạ. Chính vì thế mà người Việt ta rất am tường văn học Trung Quốc. Thế nhưng ngược lại, người Trung Quốc chẳng được mấy người rành rẽ văn học Việt Nam. Người viết từng học ở Bắc Kinh một thời gian, đã bỏ công tìm kiếm trong các nhà sách lớn, thư viện các trường đại học, kể cả Thư viện Quốc gia, nhưng chẳng tìm được một công trình nào viết về văn học Việt Nam cho ra ngô ra khoai cả, chỉ được đôi ba mươi trang sơ lược trong các giáo trình văn học nước ngoài. Tuy nhiên, theo Vương Tiểu Thuẫn (Đại học Dương Châu) thì những năm gần đây học giới Trung Quốc càng ngày càng quan tâm đến cái gọi là “vòng văn hoá Hán” (Hán văn hoá khuyên). Khái niệm đó đã mở rộng mảnh đất nghiên cứu văn hoá Trung Quốc, và người ta đã chú ý đến địa vị trọng yếu của Việt Nam. So với Nhật Bản, Hàn Quốc thì giới nghiên cứu Trung Quốc xem Việt Nam vẫn còn là một vùng hoang địa chưa được khai khẩn [2, 18]. Chúng ta có cơ sở để tin rằng, thời gian sắp tới, mối quan hệ văn học, văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ được tìm hiểu thấu đáo hơn, có nhiều thành quả hơn; thư tịch Hán Nôm Việt Nam sẽ cung cấp những gợi chỉ, những cứ liệu quý báu để học giới Trung Quốc nghiên cứu về Trung Quốc. Và có thể cho rằng bài viết Tùng Việt Nam tục văn học văn hiến khán Đôn Hoàng văn học nghiên cứu hoà văn thể nghiên cứu đích tiền cảnh (Từ thư tịch tục văn học Việt Nam nhìn đến tương lai của việc nghiên cứu văn học Đôn Hoàng và nghiên cứu văn thể [Trung Quốc]) của Vương Tiểu Thuẫn là một một trong những luống cày đầu tiên thể hiện điều đó trên cánh đồng Hán Nôm Việt Nam. Cũng xin thưa rằng, bài viết của chúng tôi có thể xem như một bài miêu thuật có nhận xét và đánh giá những vấn đề chính yếu về mảng tục văn học trong kho cổ tịch Hán Nôm Việt Nam mà Vương Tiểu Thuẫn trình bày trong công trình nghiên cứu nói trên.

Từ năm 1998 đến năm 2001, Vương Tiểu Thuẫn đã hai lần đến Hà Nội cùng đồng sự tìm hiểu kho thư tịch Hán Nôm. Qua quá trình khảo sát công phu, tiên sinh nhận thấy rằng, cơ cấu chủng loại thư tịch cổ Việt Nam đại thể là tương đồng với thư tịch được lưu trữ ở các địa phương của Trung Quốc thời xưa. Nó có đặc điểm là tính ứng dụng nổi bật và giàu sắc thái địa phương. Chẳng hạn: Thư tịch thuộc lĩnh vực Kinh bộ, thì trong đó có đến hơn 1 phần 4 là sách dùng cho cử nghiệp và hơn 1 phần 4 là sách được viết bằng chữ Nôm. Điều đó thể hiện khuynh hướng ứng dụng hoá, thông tục hoá mạnh mẽ trong việc dùng sách của người Việt; Sách thuộc lĩnh vực Sử bộ thì đa phần là tạp sử, tài liệu về xã thôn. Trong đó các loại công văn nhà nước, hương ước, sổ sách đinh điền, chúc thư, phả điệp, thần tích,... dường như toàn là sử liệu thuộc về cơ tầng xã hội, có tính địa phương; Trong nhóm Tử bộ thì những loại sách chiếm số lượng cao lần lượt là Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, y gia, Phật giáo, số thuật. Thư tịch thuộc cửu lưu thập gia truyền thống trong bộ này chỉ chiếm tỉ trọng 5 % [2, 21].

Cách đây 31 năm, trong hội nghị “Vấn đề thư tịch Hán Nôm”, nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Đổng Chi khi nêu ra những đặc điểm của thư tịch Hán Nôm cũng đã nhận xét tương tự như vậy. Ông nói: “Sách Hán của chúng ta có phần văn học, có phần sử, địa v.v... nhưng phải thừa nhận rằng nhan nhản đều là những sách thuộc về văn cử nghiệp, là sách kinh điển Nho gia, là sách giáo khoa, nếu không phải là sách tôn giáo tín ngưỡng” [3, 10]. Có thể nói tính ứng dụng trong thư tịch có liên quan mật thiết đến cái học từ chương khoa cử thực dụng của đa số trí thức Việt Nam dưới chế độ phong kiến thời bấy giờ. Trước đây, trong lời tựa thiên “Nghệ văn chí”, Lê Quý Đôn cũng đã phê phán cái tệ tục này: “Các người đi học từng thời cũng chỉ mua chứa, tập hợp các sách học để đi thi, để cố thi đậu, thấy những sách lạ của đời trước để lại mà không liên quan đến môn học khoa cử, thì cũng làm lơ, không sao chép lấy” [4, 100].

Tuy nhiên, tính ứng dụng trong lĩnh vực văn học không dẫn đến tình hình đáng phê phán như trên, mà ngược lại đã để lại cho chúng ta không ít những thành quả đáng trân trọng. Trong mảng thư tịch được xếp vào Tập bộ của Việt Nam, theo Vương Tiểu Thuẫn, hàm chứa một lượng lớn tác phẩm tục văn học, là những tài liệu tham chiếu có giá trị không nhỏ đối với việc nghiên cứu văn học Trung Quốc.

Khái niệm “tục văn học” nói chung chưa được dùng phổ biến ở Việt Nam. Có thể hiểu đó là văn học thông tục, mảng văn học có tính bình dân đại chúng, đối lập với mảng văn học chính thống bác học. Trung Quốc văn học đại từ điển định nghĩa “tục văn học” như sau: “Là tên gọi chung các loại văn học thông tục cổ đại của Trung Quốc. Người đề xuất khái niệm này là Trịnh Chấn Đạc và được các học giả chuyên về văn học cổ Trung Quốc dùng theo. Tục văn học bao gồm các loại dân ca, ca dao, khúc, các loại tiểu thuyết thông tục như giảng sử, thoại bản, các loại văn học giảng xướng từ đời Tống-Nguyên như Nam Bắc hí khúc, hí kịch địa phương, biến văn, đàn từ, cổ từ, bảo quyển, các truyền thuyết dân gian, truyện cười, câu đố v.v...” [5, 1893].

Căn cứ vào cách hiểu trên, dựa trên tính tương đồng về hình thức thể loại, nội dung đề tài giữa tục văn học Trung Quốc với văn học Hán Nôm Việt Nam, Vương Tiểu Thuẫn xếp những thể tài sau đây trong văn học cổ nước ta vào mảng “tục văn học”: tục phú, diễn ca lục bát thể, ca trù, tiểu thuyết và chèo, tuồng. Dưới đây chúng tôi xin miêu thuật sơ qua về 6 thể tài này.

1. Tục phú

Có thể nói, ở Việt Nam phú là một thể văn giàu tính ứng dụng. Về phú, trong kho sách Hán Nôm Việt Nam có đến 54 đầu sách. Trong đó có 41 đầu sách là những tập phú viết bằng chữ Hán, đa số là tài liệu dùng cho việc thi cử; phú viết bằng chữ Nôm có 11 đầu sách, phần lớn thuộc loại văn học giảng xướng và loại có tính giảng xướng này được các nhà nghiên cứu Trung Quốc gọi là “tục phú”.

Tục phú của Việt Nam có 3 đặc điểm: Thứ nhất, phần lớn là viết theo thể tự sự, dùng nhiều các sự kiện, nhân vật lịch sử Trung Quốc mà nhiều nhất là thời Hán làm đề tài. Chẳng hạn như Khổng Tử trong Khổng Tử mộng Chu Công phú, Gia Cát Lượng trong Lượng như long phú, Hàn Tín trong Hàn Vương Tôn phú, người cung nữ và Lưu Bang trong Tần cung nữ oán Bái Công văn, Trương Lương trong Trương Lưu Hầu phú, Vương Lăng trong Vương Lăng phú,... Đó đều là các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cổ đại. Điểm chung của loại phú này là thông qua việc ca ngợi nhân vật, miêu thuật sự việc, tác giả bày tỏ chí nguyện hoặc gửi gấm niềm riêng. Có lẽ vì thế mà những bài phú loại này thường luôn có danh tính tác giả. Xét về mặt ngôn ngữ, ta thấy chúng phần lớn là phú Nôm, tức viết bằng tiếng Việt có tính khẩu ngữ cao và có tính truyền miệng, có quan hệ với văn học bình dân. Điều đó thể hiện rõ loại phú này là một thể tài tục văn học tuy có nguồn gốc sâu xa từ Trung Quốc nhưng có những yếu tố văn hoá Việt tham dự vào tạo nên một sắc thái riêng. Thứ hai, nhóm phú này có phong cách hài hước, trào lộng, châm biếm. Về văn thể có thể là biền văn, tản văn, có vần hoặc không. Có thể nói hình thức khá tự do, giàu sắc thái giảng xướng. Ví dụ như Hàn nho phong vị phú, Tài tử đa cùng phú, Bài phú ông đồ ngông, Thầy đồ đi trọ, Ngũ canh phú, Nữ tử hiếu sĩ từ nông phú, Thế tục phú, Lẳng lơ phú, Bài phú tài bàn,... Ngoài ra, những bài văn sách, kinh nghĩa Nôm hài hước như Lấy chồng cho đáng tấm chồng, Mẹ ơi! Con muốn lấy chồng tương truyền là của Lê Quý Đôn (?) cũng có thể xếp vào nhóm này. Về phong cách thể hiện, thì nhóm phú này gần gũi với loại tục phú Đôn Hoàng. Thứ ba, trong thư tịch Hán Nôm, những tác phẩm này thường được sao chép chung với những tác phẩm tục văn học khác. Kiểu hợp biên, hợp đính này là dạng thức hết sức phổ biến mà bất cứ ai cũng có thể nhận thấy khi tìm hiểu kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam. Chẳng hạn: hai bài Trương Lưu Hầu phú, Hàn Tín phú được chép chung với các bài ca trù và thơ chữ Hán, chữ Nôm của Nguyễn Khuyến trong đầu sách có tên là Ca trù (VNv. 192); cũng vậy, ở đầu sách Thi ca tạp biên (VNv. 262) bài Trương Lưu Hầu phú được chép chung với Phú năm canh, Ngâm năm canh,... với các bài ca Gia huấn, Khuyến học,... với ca trù Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai,... với bản diễn Nôm Ấu học ngũ ngôn thi,... với thơ khuê oán, vịnh trăng, vịnh nhân vật lịch sử, thơ mừng mẹ thọ 80 tuổi,... Đúng như nhan đề của đầu sách, người ta dồn vào chung một nồi tất cả các loại thịt thà, rau củ mà mình kiếm được! Từ đó Vương Tiểu Thuẫn nhận định rằng: “Đấy chính là chứng cứ cho thấy tục phú Việt Nam được lưu truyền trong dân gian” [2, 22].

Ngoài loại tục phú đã nói ở trên, trong thư tịch Hán Nôm Việt Nam ta còn dễ dàng bắt gặp một thể tài hết sức phổ biến, hầu như có mặt ở mọi lĩnh vực trong thư tịch cổ, đó là loại diễn ca viết bằng thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát.

2. Diễn ca lục bát thể

Diễn ca lục bát thể là chỉ chung những thể tài được viết bằng vận văn lấy thể thơ sáu tám làm cú thức chính yếu, bao gồm hai loại hình cơ bản là lục bát và song thất lục bát. Vì thể tài này phần lớn dùng chữ Nôm để viết cho nên còn được gọi là “thơ Nôm” hoặc “thơ quốc âm”. Theo số liệu thống kê mà Vương Tiểu Thuẫn dẫn ra thì loại “thơ ca lục bát thể” trong phần Tập bộ có 34 đầu sách (“ca dao, dân ca”, “Kim Vân Kiều” và “truyện thơ” được xếp vào 3 loại riêng, không kể vào đây[1]). Trong đó viết bằng Hán văn có 4 đầu sách, còn lại 30 đầu sách là viết bằng chữ Nôm. Còn “truyện thơ” thì Vương Tiểu Thuẫn xếp vào loại “tiểu thuyết” ở Tập bộ. Trong đó thể tài “truyện thơ” chiếm gần một nửa trong loại “tiểu thuyết”: 62 trong 140 đầu sách[2]. Trong 62 đầu sách đó thì số viết bằng chữ Nôm chiếm đến 55. Qua các số liệu trên Vương Tiểu Thuẫn nhận định rằng, điều đó chứng minh về bản chất thể lục bát là thể thơ của văn Nôm, và điều đó cũng chứng minh thể lục bát còn là một thể vận văn thuần Việt giàu công năng tự sự. Nhận định trên đối với học giới Việt Nam thì chẳng có gì mới mẻ, nhưng đối với học giới Trung Quốc thì có thể nói đó là một thông tin hết sức thú vị.

Do thể lục bát có quan hệ mật thiết với văn Nôm như vậy, nên trong “tứ bộ cổ tịch” (kinh, sử, tử, tập) của Việt Nam đều có tác phẩm được viết bằng thể lục bát. Những tác phẩm này đã biểu hiện rõ tính thông tục và tính tự sự, đồng thời cũng biểu hiện rõ tính mĩ văn nổi trội trong trước tác của người Việt. Chẳng hạn:

Trong Kinh bộ: Đây là bộ dùng thể lục bát để viết có tỉ lệ cao nhất trong tứ bộ. Trong 147 đầu sách của Kinh bộ thì có khoảng 20 đầu sách có tác phẩm viết theo thể thơ này[3]. Trong đó hình thức chủ yếu là diễn dịch ra văn Nôm và giải thích tác phẩm kinh điển Hán văn. Thí dụ: Chu Dịch quốc âm ca (AB. 29), Thi kinh diễn âm (AB. 169), Luận ngữ thích nghĩa ca (A. 186/ 1-2; VHv. 709/ 3-6),... Điều này cho thấy thể lục bát có tính thông tục dễ hiểu, dễ đọc, dễ nhớ đối với người Việt.

Trong Sử bộ: Sử bộ có 1667 đầu sách. Trong đó trên 30 đầu sách có dùng thể lục bát để diễn ca. Hiện tượng này chủ yếu thấy ở các thể tài khá giàu tính tự sự như lịch sử, thần tích, kí sự. Chẳng hạn, trong loại lịch sử có các tác phẩm như Lịch đại hồng mông diễn kiếp (VHt. 36), Đại Nam quốc sử diễn ca (AB. 1; VNv. 3; AB. 328; VNv. 4;...), Thiên Nam ngữ lục ngoại kỉ (AB. 478/ 1-2; AB. 192), Thiên Nam quốc ngữ lục kí (AB. 315),...; trong loại thần tích có các tác phẩm như Quan Âm chính văn tân truyện (AB. 638; AB. 48;...), Phất Lộc xã sự tích văn (AB. 393),... Ngoài ra các loại chính thư hoặc địa lí cũng được diễn ca, như Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca (AB. 321), Thánh dụ huấn địch thập điều diễn nghĩa ca (Paris. SA.PD. 2392), Tổng địa lí phương pháp ca (trong Địa lí toản yếu VHv. 1041),... Có thể nói những tác phẩm diễn ca này đã chứng thực tính thông tục, tính tự sự của thể thơ lục bát.

Trong Tử bộ: Tử bộ là bộ sử dụng thể lục bát để viết với số lượng nhiều nhất, ước khoảng 140 đầu sách (tổng số đầu sách ở bộ này là 1529), chủ yếu là diễn dịch điển tịch Hán văn ra tiếng Việt (tức văn Nôm) để phổ cập chúng. Thí dụ như: Những đầu sách diễn dịch ra thể lục bát Tam tự kinh trong loại mông học. Trong Đề yếu ta thấy có nhiều công trình diễn dịch Tam tự kinh khác nhau, chẳng hạn như Tam tự giải âm (AB. 474), Tam tự kinh giải âm diễn ca (AB. 304; VNv. 185;...), Tam tự kinh thích nghĩa (Paris. BN.A. 56 vietnamien; VNv. 257;...),... Ở loại Phật giáo có đến 18 đầu sách diễn Nôm thể lục bát những tác phẩm Phật kinh bằng Hán văn, chẳng hạn như Phật thuyết Mục Liên cứu mẫu kinh diễn âm (AB. 97), Phật thuyết ngũ vương kinh diễn âm (AB. 103;...), Phật thuyết thập lục quán kinh diễn âm (AB. 95),... Trong loại Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian có 5 đầu sách diễn nghĩa Đạo kinh và trên 20 đầu sách giáng bút văn diễn Nôm lục bát thể, chẳng hạn Cảm ứng thiên diễn quốc âm (AB. 247), Bách hạnh thiện thư (VHv. 42),... Thể lục bát còn dùng trong lĩnh vực y dược (có khoảng trên 60 đầu sách), giáo dục khuyến thiện (có khoảng 10 đầu sách),... Thí dụ như Dược tính (VNv. 182), Gia truyền tập nghiệm liệt phương (VNv. 236),... Nữ tắc diễn âm (AN. 47), Nhị thập tứ nữ tắc diễn âm (AB. 307), Nhị thập tứ đễ tân lục (AB. 341), Nhị thập tứ trung diễn ca (AB. 291)[4],... Ngoài ra thể lục bát cũng được dùng khá phổ biến trong một số loại văn tế tự, như các bài văn chầu trong Chư vị tán văn toàn tập (AB.601), Trần Thái Sư tán văn (A. 1160),... Qua đó ta thấy lục bát là một thể thơ có công năng rất cao trong việc phổ cập tri thức văn hoá nói chung và cũng rất thích hợp đối với các thể tài có tính chất giảng xướng, xướng tụng.

Nhưng, nếu từ nghĩa hẹp của khái niệm “văn học” mà xem xét, thì phần lớn những tác phẩm được viết bằng thể lục bát trong Kinh bộ, Sử bộ và Tử bộ rất ít văn học tính (hay xét một cách “nghiêm khắc” hơn, chúng không phải là tác phẩm văn học), chỉ có những tác phẩm viết bằng thể thơ này trong Tập bộ mới có thể “đường đường chính chính” ngồi trong chiếu của “làng văn”. Trong mảng văn học viết bằng thể lục bát và song thất lục bát ở Tập bộ thì nhóm có số lượng đáng kể nhất là truyện thơ Nôm lục bát thể, nhóm thứ hai là ca ngâm lục bát thể. Ở đây chúng tôi chỉ nói về nhóm thứ hai này. Vì nhóm truyện thơ được Vương Tiểu Thuẫn xếp vào loại tiểu thuyết nên sẽ luận xét ở phần sau. Nhóm này bao gồm: những tác phẩm ca dao, dân ca được sưu tập trong thư tịch Hán Nôm như Nam nữ đối ca (AB. 615), Phong tình tân truyện (AB. 63); những bài ca vãn, ngâm khúc trữ tình có giá trị văn học cao như Bần nữ thán, Xuân tình tưởng vọng, Chinh phụ ngâm khúc diễn âm, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Tự tình khúc,...ngay cả tác phẩm viết bằng Hán văn như Thu dạ lữ hoài ngâm cũng được viết theo thể song thất lục bát[5]; ngoài ra còn có những tác phẩm diễn Nôm thi ca Trung Quốc hết sức điêu luyện, đặc sắc như Tì bà hành diễn âm, Trường hận ca diễn âm,... Những tác phẩm này được sưu tập, sao chép trong rất nhiều đầu sách Hán Nôm, và Vương Tiểu Thuẫn cho rằng điều đó “cho thấy rõ ca ngâm lục bát thể là một kiểu loại thuyết xướng thông tục được quần chúng yêu thích thưởng thức”.

Có thể nói rằng, những tác phẩm diễn âm nói trên không những để đọc, để ngâm mà còn để hát. Tìm hiểu những bài hát trong ca trù ta sẽ thấy điều đó.

3. Ca trù

Ca trù là một loại hình văn học diễn xướng đã để lại cho nền văn học nước ta không ít tác phẩm đặc sắc. “Ngoài ca dao, văn thơ lục bát, song thất, đáng kể nhất là văn chương ca trù, trong đó về hình thức cũng như nội dung chúng ta thấy cái tinh thần Việt hoá dồi dào phong phú của thi sĩ Việt Nam vậy. [......] Chính ở ca trù chúng ta mới thấy được chân tướng của con người Nho sĩ không bị gò bó vào nghi lễ máy móc của chế độ hay của một ý thức hệ. [......] Chính ở ca trù chúng ta không những thấy được cái chân tướng con người sống động của giới trí thức Việt Nam xưa, mà chúng ta còn thấy được cái tài dung hợp Việt hoá nào Đường thi, nào Từ, nào Phú, nào Lục bát, nào Song thất, ngắn được, dài được, đã thoả mãn cho sự khao khát tự do ra ngoài lề lối nhất định quá chật hẹp, và màu sắc phong phú trăm hoa” [7, 6-7].

Quả thật những dòng nhận định trên của học giả Nguyễn Đăng Thục có thể nói đã thâu tóm được cả “tinh thần” và “thể xác” của ca trù. Người viết không rõ Vương Tiểu Thuẫn đã đọc những dòng nhận định hàm súc, chân xác này chưa, nhưng việc họ Vương xếp ca trù vào loại tục văn học là có cơ sở. Vì sao? Thứ nhất, xét ở góc độ Việt Nam tính, như nhận định trên đã nói, nó chỉ đứng sau ca dao, văn thơ lục bát và song thất lục bát, những thể tài rất Việt Nam, rất bình dân, dễ dàng lưu hành trong quần chúng. Thứ hai, nó không bị gò bó trong những thể tài kinh điển bác nhã gắn liền với Hán văn. Thứ ba, nó đã thể hiện một tinh thần trần tục gần gũi, hoà đồng với chúng sinh khác xa cái dáng vẻ đạo mạo khiến người ta “kính nhi viễn chi” của những bậc hiền nhân quân tử chính thống.

Mặc dầu Vương Tiểu Thuẫn đã đưa ra một số cứ liệu chứng minh rằng ca trù có uyên nguyên từ Trung Quốc, rằng nó là một loại hình xướng diễn những tiểu khúc của các nàng ca kĩ ở xóm Bình Khang giúp vui cho các bậc quân tử xỉn rượu ở kinh thành Trường An từ thời Đường, thì họ Vương vẫn xác nhận rằng ở Việt Nam anh kép dùng cây đàn đáy tương truyền là do chàng Đinh Lễ quê ở làng Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh làm ra để đệm cho cô đào hát Tì bà hành bằng tiếng Việt!

Hiện tại có đến 37 đầu sách có nội dung liên quan đến ca trù được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các đầu sách này chủ yếu được viết bằng chữ Nôm, xét trên đại thể bao gồm 3 nội dung: Thứ nhất, ghi chép về các điệu hát và những bài hát; Thứ hai, miêu thuật cách thức diễn tấu trống, đàn, phách và giải thích các từ ngữ khái niệm chuyên môn; Thứ ba, trình bày những vấn đề thuộc về lí luận ca hát. Những đầu sách viết về ca trù có 2 đặc điểm chính yếu sau: Một là sách có tính tạp sao, thường sao chép chung với những tác phẩm ở các thể tài tục văn học khác như phú Nôm, diễn ca lục bát thể, tuồng chèo,...Chẳng hạn như Ca điệu lược kí (AB. 456), Ca phả (AB. 170),... Hiện tượng này cho thấy sự gần gũi về mặt thể tài của những tác phẩm này. Hai là sự xuất hiện những tập ca trù sưu lục tác phẩm của một nhóm văn nhân. Thí dụ như trong Ca trù (VNb. 14), Ca trù các điệu (VNb. 268), Ca trù thể cách (AB. 431; AB. 160; VNv. 99; AB. 564;...),... ta thấy sưu lục rộng rãi tác phẩm của các danh gia như Lê Đức Mao, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Quý Tân, Ngô Thế Vinh, Trương Quốc Dụng, Trịnh Đình Thái, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Lâm, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương,...   Điều này cho thấy thể tài ca trù đã tạo nên một kiểu hình văn nhân mới có những điểm tương đồng về phong cách, cùng hướng theo một trào lưu.

Về loại hình văn học diễn xướng, ngoài 37 đầu sách nói trên, trong kho thư tịch Hán Nôm của ta còn có một mảng thư tịch đáng chú ý nữa, đó là những đầu sách sao lục kịch bản (hoặc bài hát) của hai loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam: chèo và tuồng.

4.  Chèo và tuồng

Theo ước lượng của Vương Tiểu Thuẫn, hiện tại trong kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam có trên 10 đầu sách thuộc lĩnh vực ca khúc dân gian, cơ bản là những đầu sách viết bằng chữ Nôm. Nhóm thư tịch này có thể phân làm 2 loại là ca dao dân gian và ca diễn lễ hội. Loại thứ nhất là những tập sách ghi chép ca dao dân ca của người Việt như Nghệ An dân ca, Thanh Hoá quan phong (VHv. 1370;...),... Loại thứ hai là những bài ca, điệu hát dùng để chúc tụng, cầu cúng trong các lễ tiết, lễ hội dân gian. Chẳng hạn: tập bài hát cúng tết Trung nguyên ở xã Lũng Giang, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Lũng Giang ca bản (AB. 273); tập ghi chép những câu hát cầu chúc ở đền miếu vào dịp năm mới Thượng điện xướng ca (AB. 642); tập bài hát cúng thần Cá Ông theo điệu đò đưa của nhân dân thôn Trường Đông, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hoà Trường Đông thôn sự thần trạo ca (AB. 645); tập ghi chép những lời chúc tụng trong đám cưới ở nông thôn Vấn đáp ca tạp lục (VNv. 101);... Những tập sách như thế này cấu thành một bộ phận trọng yếu trong mảng văn học thông tục Việt Nam[6]. Theo Vương tiên sinh, “hình thức văn Nôm của chúng cho thấy rõ chúng có quan hệ trực tiếp với sinh hoạt ca hát trong dân gian.” Do khuôn khổ của một bài viết, nên Vương Tiểu Thuẫn chỉ giới thiệu qua hai loại hình diễn xướng dân gian là chèo và tuồng.

Chèo là một loại hình văn nghệ diễn xướng dân gian đặc thù, giàu bản sắc Việt. Vương Tiểu Thuẫn phân làm 2 loại. Loại ca hát có vai diễn nhân vật, có tình tiết, cốt truyện gọi là “trò” ( trù)[7] hoặc “vở chèo” ( trào hí); loại ca hát không có vai diễn nhân vật, không có tình tiết, cốt truyện gọi là “hát chèo (hát chầu?)” (嘲歌 trào ca) hoặc “chèo văn (chầu văn?)” (嘲文 trào văn). Những đầu sách được xếp vào loại thứ nhất như Lưu Bình tiểu thuyết (AB. 479), Lưu Bình trò (AB. 640), Trương Sinh tân trò (VNb. 61), Trương Viên diễn ca (VNb. 80), Bản diễn trò Hà Ô Lôi (AB. 451)[8],... Những đầu sách được xếp vào loại thứ hai như Các diên khai trần (VHv. 2252), Hùng triều Ngô tướng công sự tích văn (AB. 359),... Theo chúng tôi chỗ này Vương Tiểu Thuẫn đã nhầm lẫn, bởi Ngô tướng công sự tích văn là một bài văn chầu kể sự tích còn Các diên khai trần là một tập hát chèo. Có lẽ Vương tiên sinh lẫn lộn giữa “hát chèo” với “hát chầu văn” hay “hát văn”, “hát bóng” là một một loại hình diễn xướng dân gian có tính chất nghi lễ, làn điệu phong phú, giàu văn học tính, dùng để ca tụng thần thánh khi cúng bái, lên đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Câu giải thích sau đây cho thấy tác giả bài viết dùng từ 嘲文 để chỉ “chầu văn” chứ không phải “hát chèo”: “ 嘲文 là thể văn ca hát trong tôn giáo thờ Mẫu - một tôn giáo dân gian” [2, 32].

Về tuồng (còn gọi là hát bội), kho sách Hán Nôm có 33 đầu sách, trong đó có 3 đầu sách viết bằng chữ Hán, 30 đầu sách còn lại viết bằng chữ Nôm. Theo Vương Tiểu Thuẫn thì tuồng là một thể tài nghệ thuật biểu diễn thông qua sự giao lưu văn hoá mà hình thành. Điều đó được thể hiện qua hai hiện tượng sau đây: Thứ nhất, cho dù tuồng sử dụng phương thức biểu diễn bản địa Việt Nam, nhưng đề tài của nó hầu như luôn đến từ Trung Quốc. Thí dụ như Bản trò Nghiêu Thuấn (AB. 404), Hoa Dung tiểu lộ (AB. 422), Kim Thạch kì duyên (VNv. 72; AB. 598), Bạch Kì Châu (AB. 342), Hổ thành nhân (AB. 330), Kim long xích phượng toàn tập (AB. 510),... đều vay mượn từ tích truyện Trung Quốc. Thứ hai, một số lượng lớn tác phẩm tuồng lấy hai từ “diễn ca”, “diễn truyện” đặt sau tên tác phẩm. Chẳng hạn như: Đinh Lưu Tú diễn ca (AB. 375;...), Trần trá hôn diễn ca (AB. 553;...), Lưu Bình diễn ca (AB. 66;...), Tam quốc diễn ca hay Giang tả cầu hôn (VNb. 38), Tam quốc diễn ca hay Tam cố thảo lư (AB. 203), Tiểu Sơn Hậu diễn ca hay Sơn Hậu (AB. 205), Trần Quảng Nhĩ diễn ca (AB. 207), Trung quân đối ca (AB. 211-216;...), Tây du kí diễn truyện (Paris. EFEO. VIET/B/Litt-15 [1-100]), Lão bạng sinh châu diễn truyện (Paris. BN. A. 100 vietnamien;...), Gia ngẫu diễn truyện (Paris. EFEO. VIET/B/Litt. 11 [1-11]), Đường chinh Tây diễn truyện (Paris. EFEO. VIET/B/Litt. 12 [1-23]), Tứ hải đồng xuân diễn truyện (Paris. EFEO. VIET/B/Litt. 18), Từ Thắng diễn truyện (Paris. EFEO. VIET/B/Litt. 19. [1-3]),... Nếu như nói chữ “diễn” có nghĩa là phiên dịch về mặt ngữ văn (“diễn âm”) hoặc cải biên về mặt thể tài (“diễn ca”, “diễn truyện”) trong thư tịch cổ Việt Nam, thì có thể cho rằng tuồng được hình thành trong bối cảnh những tiểu thuyết Hán văn như Thuyết Đường, Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí,... đã lưu hành rộng rãi ở Việt Nam.

Ngoài những thể tài nói trên, trong thư tịch cổ Việt Nam còn có một thể tài  văn học thông tục hết sức phong phú, có giá trị văn học cao, được học giới quan tâm, đó là tiểu thuyết.

5. Tiểu thuyết

Trong kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam tiểu thuyết là mảng thể tài chiếm một tỉ trọng khá lớn. Bởi ngoài những thể loại được viết bằng văn xuôi như bút kí, truyền kì, tiểu thuyết chương hồi, Vương Tiểu Thuẫn còn xếp cả tiểu thuyết bằng văn vần tức loại truyện thơ vào mảng này. Tổng cộng mảng này có 140 đầu sách. Nhưng cũng xin lưu ý rằng đây chỉ là con số thống kê dựa trên số liệu của bộ Đề yếu mà thôi. Ngoài ra, như trên đã nói nhóm đầu sách Truyện Kiều cũng được tách riêng, không kể vào đây. Tuy nhiên, theo họ Vương, nếu định nghĩa “tiểu thuyết” là tác phẩm tự sự có tình tiết, có nhân vật, có hư cấu, thì phần lớn những truyện kí viết về thần linh và nhân vật (khoảng 100 đầu sách) trong loại truyện kí ở Sử bộ (có 106 đầu sách) cũng có thể đưa vào mảng thể tài tiểu thuyết. Bốn loại tiểu thuyết trên của Việt Nam, nếu xét ở góc độ lịch sử phát triển, thì lần lượt tương ứng với dòng tiểu thuyết bút kí từ thời Hán trở về sau, dòng tiểu thuyết truyền kì từ thời Lục triều trở về sau, dòng tiểu thuyết thị dân từ thời Tống trở về sau, và với dòng tiểu thuyết chương hồi thời Minh-Thanh. Trong đó truyện thơ là một thể văn được hình thành trên cơ sở tự sự truyền thống có tính bản địa của Việt Nam, nó có điểm tương đồng với loại tiểu thuyết thị dân hình thành vào thời Tống, ấy là loại hình nghệ thuật giảng xướng lấy sự tích nhân vật làm chủ đề. Ngoài loại truyện thơ ra thì 3 loại kia, xét về mặt thể loại, đều có uyên nguyên từ Trung Quốc. Dưới đây là 4 loại tiểu thuyết cổ của Việt Nam phân theo cách của Vương Tiểu Thuẫn:

Tiểu thuyết bút kí: Đây là loại đoản thiên cố sự (truyện ngắn), đặc điểm chính yếu là giàu tính kí thực. Có 11 đầu sách được họ Vương xếp vào loại này (trong đó có 1 đầu sách bằng chữ Nôm). Tác phẩm tiêu biểu trong loại này là Công dư tiệp kí Mẫn Hiên thuyết loại.

Tiểu thuyết truyền kì: Là những đoản thiên cố sự giàu tính hư cấu được viết bằng Hán văn, khu biệt với loại truyện thơ ở đặc điểm là lấy sự kiện (chứ không phải nhân vật) làm trung tâm. Theo số liệu thống kê của Vương Tiểu Thuẫn và đồng sự thì loại tiểu thuyết truyền kì có 42 đầu sách[9]. Trong đó viết bằng chữ Hán có 39 đầu sách, viết bằng chữ Nôm có 13 đầu sách. Bộ phận viết bằng Hán văn có thể phân làm hai loại: loại truyện thần thánh và loại truyện quái dị. Đại biểu cho loại truyện thần linh[10]Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái. Đại biểu cho loại truyện quái dị là Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả. Bộ phận viết bằng chữ Nôm thì phần lớn là những tác phẩm dịch ra văn Nôm những truyện được viết bằng Hán văn. Chẳng hạn Tiên hoa lục là bản dịch Nôm Hoa tiên truyện[11], hay Trùng Tương tân lục là tác phẩm kể lại truyện Tư Mã Mạo, tiền thân của Tư Mã Ý[12].

Tiểu thuyết chương hồi: Đây là loại tiểu thuyết bạch thoại lấy chương hồi mà phân chia phần đoạn tác phẩm. Theo Vương Tiểu Thuẫn loại này có 15 đầu sách. Trong đó viết bằng chữ Nôm có 6 đầu sách. Nhóm viết bằng Hán văn chủ yếu là những tiểu thuyết lịch sử trường thiên, như Hoàng Việt xuân thu, Hoan châu kí, Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt long hưng chí,... Nhìn chung nhóm tiểu thuyết này sao phỏng thể tài tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử của Trung Quốc khá rõ. Nhóm viết bằng chữ Nôm thì đều là thể truyện thơ, như Sự tích ông trạng Lợn (19 hồi), Sự tích ông trạng Quỳnh (23 hồi), Đổng Thiên Vương tân truyện (12 hồi), Bích câu kì ngộ (24 hồi). Những tiểu thuyết chương hồi Nôm này, theo chúng tôi, đã thể hiện rõ nét sự thông tục hoá, bản địa hoá, hay Việt hoá thể loại tiểu thuyết chương hồi được vay mượn từ Trung Quốc. Điều đó cho thấy thể thơ lục bát bản địa của Việt Nam là một thể văn hết sức linh hoạt, có khả năng ứng dụng cực kì cao, nhất là đối với các thể tài tự sự[13].

Truyện thơ: Truyện thơ là một thể văn tự sự giàu sắc thái bản địa của Việt Nam. Tác phẩm truyện thơ luôn lấy một nhân vật, một thời đại làm đơn vị trần thuật, cho nên thường được gọi là “sự tích”. Về hình thức thì đa số tác phẩm được viết bằng thể thơ lục bát, vì vậy mà gọi là “truyện thơ”. Theo số liệu thống kê của Vương Tiểu Thuẫn và đồng sự thì có 62 đầu sách truyện thơ[14], trong đó viết bằng Hán văn chỉ có 7 đầu sách, 55 đầu sách còn lại là truyện Nôm. Vương tiên sinh nhận định: “Sự chênh lệch số lượng này cho thấy rõ truyện thơ Nôm là chủ lưu của thể truyện thơ.” (Dĩ nhiên nhận định này không có gì mới mẻ đối với học giới Việt Nam, nhưng nó cũng có một giá trị khách quan mà chúng ta cần ghi nhận).

Theo Vương Tiểu Thuẫn, những truyện thơ Nôm trên có 2 loại hình chủ yếu là: Thứ nhất, kể chuyện tình duyên của nam nữ; thứ hai, kể lại cuộc đời của các nhân vật anh hùng. Chúng phản ánh 2 khía cạnh khác nhau trong truyền thống truyện thơ bản địa. Đấy là truyền thống kể truyện tình duyên có tính chất mua vui và truyền thống kể truyện anh hùng có tính nghi thức của người Việt. Hoạt động kể truyện tình duyên nam nữ và kể “truyện tích” các nhân vật anh hùng trong dân gian có thể xem là căn nguyên bản địa lâu đời tạo nên truyện thơ của người Việt[15].

Ngoài ra, truyện thơ Nôm còn có một lai nguyên mà giới nghiên cứu văn học cổ Việt Nam ai cũng biết đến, đấy là hiện tượng vay mượn cốt truyện từ văn học Trung Quốc diễn dịch thành truyện thơ Nôm, chẳng hạn những tác phẩm sau: Bạch Viên tân truyện, Bình Sơn Lãnh Yến diễn âm, Hảo cầu tân truyện diễn âm, Hoa tiên, Kim Vân Kiều tân truyện, Lâm tuyền kì ngộ, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai tân truyện, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Nhị độ mai truyện, Nữ tú tài truyện, Phan Trần truyện, Phù Dung tân truyện, Song Tinh Bất Dạ, Song phượng kì duyên (Chiêu Quân cống Hồ truyện), Tam quốc thi, Tây sương truyện, Tây du truyện, Thẩm Tử Hư truyện, Tì bà quốc âm tân truyện, Tái sinh duyên, Tống chí truyện,... Đây là danh sách dẫn ra để minh hoạ, chưa phải là một danh sách đầy đủ. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu có điều kiện khảo sát, thẩm tra kĩ lưỡng mối quan hệ giữa thư tịch Việt Nam và thư tịch Trung Quốc thì chúng ta sẽ có một danh sách khá dài. Thậm chí chúng ta còn thấy hiện tượng từ một tác phẩm, một cốt truyện nào đó của Trung Quốc có thể sinh ra nhiều dịch phẩm khác nhau. Thí dụ như: Từ Nhị độ mai của Trung Quốc ta có đến 3 tác phẩm diễn Nôm khác nhau là Nhị độ mai diễn ca (VNb. 28; VNb. 37), Nhị độ mai tinh tuyển (AB. 350), Nhị độ mai truyện (AB. 419) và một bản sửa sang lại tên là Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai (AB. 419 bis); Từ câu chuyện Vương Chiêu Quân bị cống Hồ và tiểu thuyết Song phượng kì duyên của Trung Quốc ta có tác phẩm Truyện Vương Tường gồm 46 bài thơ Nôm Đường luật liên hoàn và truyện thơ Nôm lục bát thể Chiêu Quân cống Hồ truyện (còn có tên là Chiêu Quân tân truyện, Chiêu Quân cống Hồ thư)[16]; Từ mối tình của Bạch Viên và Tôn Các trong Viên thị truyện của Trung Quốc ta có 2 tác phẩm diễn dịch ra thơ Nôm Đường luật khác nhau là Bạch Viên thi tập gồm 150 bài (VNv. 169) và Lâm tuyền kì ngộ gồm 147 bài (AB. 78). Ngoài ra còn có một tác phẩm diễn Nôm lục bát thể là Bạch Viên tân truyện hay Bạch Viên Tôn Các truyện (VNb. 68; Paris. BN.B. 114);...

Việc vay mượn cốt truyện từ văn học Trung Quốc rồi chuyển thể diễn dịch thành truyện thơ Nôm phong phú như vậy, một mặt cho ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của văn hoá Hán đối với văn hoá Việt, nhưng mặt khác cũng cho ta thấy năng lực Việt hoá mạnh mẽ của văn hoá Việt. Như chúng ta đã thấy, hầu như tất cả những tác phẩm văn xuôi tự sự của Trung Quốc sau khi “nhập cảnh” vào Việt Nam đều được khoác lên người “chiếc áo thi ca” của người Việt. Thuở ban sơ dò dẫm, “chiếc áo” ấy còn vay mượn kiểu dáng “Đường luật” không được thoải mái cho lắm, nhưng sau đó “người mặc” đã hết sức thư thái với kiểu dáng “lục bát” chính hiệu bản địa. Thiển nghĩ, nếu chúng ta chỉ nhìn thấy việc mượn “tấm lụa” mà không ngắm nghía “chiếc áo” được may từ tấm lụa ấy như thế nào, thì quả là hơi thiếu sót với “bác thợ may”! Chúng tôi hết sức tâm đắc những dòng sau đây của Kiều Thu Hoạch và N.I. Niculin:

“Xét về nguồn gốc thể loại, chúng ta đã thấy truyện Nôm vốn được sinh thành từ trong môi cảnh văn hoá truyền thống của người Việt. Mặc dầu về nội dung, có một phân số truyện Nôm vay mượn cốt truyện từ văn hoá Trung Hoa, nhưng truyện Nôm hoàn toàn là văn hoá Việt, là một thể loại văn học nội sinh mà không phải là một thể loại văn học ngoại lai. Truyện thơ dài vốn không phải là truyền thống của văn hoá Hán. [......] ‘Những thể loại khác nhau của truyện thơ, như đã được mọi người thừa nhận, là một tài sản vô cùng quý báu của nền văn học dân tộc Việt Nam. Truyện thơ bắt nguồn từ văn học dân gian, với tư cách là một thể loại, chúng tạo thành một bộ phận đặc biệt tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam. Truyện thơ đã làm cho văn học Việt Nam khác biệt hẳn với truyền thống ở Viễn Đông mà nó gắn bó mật thiết.’...” [6, 264].

Quả đúng như vậy. Nàng Kiều sinh ra ở Trung Hoa, nhưng nàng lớn lên và khoe sắc là nhờ vào “dòng sữa lục bát” của bà mẹ Việt Nam!

Thay cho lời kết

Hiện nay khái niệm “tục văn học” hay “văn học thông tục” chưa được học giới nước ta sử dụng. Trong các công trình văn học sử, nghiên cứu văn học nói chung, chúng ta thấy có xuất hiện khái niệm “văn chương bình dân” (chẳng hạn như trong Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm [8, 6]), hoặc “truyện Nôm bình dân” khu biệt với “truyện Nôm bác học” (chẳng hạn trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX) của Nguyễn Lộc [8, 475],...). Nhìn chung hai tên gọi này giống nhau ở chỗ là đều chỉ những thể tài, những tác phẩm văn học truyền miệng hay văn học dân gian, khu biệt với mảng văn học viết, văn học bác học, ít có tính truyền khẩu và khuyết danh.

Chính vì thế việc đưa những tác phẩm văn học viết có tên tác giả đường hoàng, lại còn được xem là tác phẩm bác học như Hàn Vương Tôn phú, Hàn nho phong vị phú, Tài tử đa cùng phú, Chinh phụ ngâm khúc diễn âm, Cung oán ngâm khúc, Tì bà hành diễn âm, Truyền kì mạn lục, Hoàng Lê nhất thống chí, Hoa tiên, Kim Vân Kiều tân truyện,... vào mảng văn học thông tục, xếp chung một chiếu với những tác phẩm bình dân làng nhàng, vô danh khác sẽ khiến cho không ít người cảm thấy “bất công”, không thể chấp nhận được. Cũng phải thôi! Vì ngay cả người viết bài này khi gắn cái nhãn “tục văn học” vào tên những tác phẩm vừa kể ra ở trên cũng cảm thấy lành lạnh sau gáy, lo rằng “búa rìu” sẽ bổ xuống cổ mình. Nhưng nghĩ lại mình có thể “né được” và để cho ông Vương Tiểu Thuẫn kia “hứng chịu” vậy. Thực ra khi xếp những tác phẩm nói trên vào chiếu “tục văn học” Vương tiên sinh cũng có cái lí của mình. Theo chúng tôi “cái lí” của Vương tiên sinh có thể dựa trên mấy tiêu chí sau đây:

Thứ nhất, khu biệt dòng văn học chính thống, bác học với dòng văn học bình dân, thông tục bằng tiêu chí ngôn ngữ: tác phẩm được viết bằng Hán văn sẽ “ưu tiên” xét cho vào dòng chính thống, tác phẩm viết bằng thứ chữ “Nôm na mách qué” (tức bằng tiếng Việt mà dân chúng ai cũng hiểu được, nói được) thì “xét lại” cho vào “xóm nhà lá” bình dân.

Thứ hai, khu biệt dòng văn học chính thống, bác học với dòng văn học bình dân, thông tục dựa trên phương thức truyền bá tác phẩm: tác phẩm truyền đến người tiếp nhận bằng hình thức đọc một mình thì “ưu tiên” xếp vào “làng” chính thống, còn tác phẩm truyền đến người tiếp nhận bằng hình thức diễn xướng dân gian (kể, ca hát, múa hát, biểu diễn tổng hợp) thì đưa vào “làng” thông tục.

Thứ ba, khu biệt căn cứ trên nguồn gốc thể loại: những thể loại nào vốn “xuất thân” từ dân dã, trước đây bị giới chính thống cầm trịch văn đàn xếp vào loại “nhai đàm hạng ngữ”, “đạo thính đồ thuyết” thì cũng cho về “nguyên quán” là “làng” thông tục.

Thứ tư, là “phân chiếu” theo cách thông thường, khu biệt giữa văn học viết và văn học truyền miệng: những tác phẩm, những thể tài được sáng tác và lưu truyền trong quần chúng nhân dân đủ mọi thành phần, giai cấp thì tất nhiên phải xếp vào “chiếu” bình dân.

Thứ năm, phải đưa những tác phẩm và thể tài văn học mà ta đang xét quay về với thời đại nó sinh ra để xem khi ấy người ta nhìn nó như thế nào, ứng xử với nó ra sao. Bởi lịch sử văn học cho thấy có những tác phẩm, những thể tài văn học mà ngày nay chúng ta xếp vào hàng văn chương tiêu biểu của một thời hay của muôn đời, thì có khi vào thời đại chúng ra đời chẳng mấy ai xem chúng là “văn học” cả. Chúng chỉ là “dân ngụ cư” sống lay lắt ở ngoài rìa “làng văn” chính thống. Có những áng văn chương ngày nay chúng ta cho là tuyệt phẩm, thế mà trước đây khi viết nó tác giả lại nghĩ rằng “Mua vui cũng được một vài trống canh”.

Tóm lại, có thể không ít người không đồng ý với cách nhìn nhận trên của Vương Tiểu Thuẫn, nhưng dù sao đó cũng là một cái nhìn lạ, gợi cho chúng ta nhiều vấn đề để suy nghĩ về mảng văn học cổ trong thư tịch Hán Nôm Việt Nam.

Vương tiên sinh nhận định rằng: “Thư tịch cổ Hán Nôm Việt Nam là một pho văn hiến hết sức đặc thù cả về nội dung và ý nghĩa. Nó có một sắc thái thông tục hoá mạnh mẽ, tục văn học được sử dụng một cách rộng rãi và đặc sắc. Chính vì vậy đã hình thành nên một kiểu kết cấu thư tịch đặc thù. Nếu như nói rằng thư tịch văn học trong kho cổ tịch Hán Nôm Việt Nam chiếm tỉ trọng 2 phần 5, thì lạc quan mà nhìn, số đầu sách thuộc lĩnh vực tục văn học trong mảng thư tịch văn học đạt đến tỉ trọng 2 phần 5. Nếu từ góc độ công năng (dùng để giải trí) mà định nghĩa văn học, thì thư tịch tục văn học của Việt Nam có khoảng 4 trăm đầu sách; nếu từ góc độ văn thể (sử dụng mĩ văn) định nghĩa văn học, thì thư tịch tục văn học của Việt Nam có thể đạt đến 7 trăm đầu sách. Kiểu kết cấu và đặc điểm của kho cổ tịch Hán Nôm Việt Nam hoàn toàn khác biệt với kho cổ tịch truyền lại đời sau của Trung Quốc; chính vì vậy mà nó hết sức gần gũi với kho thư tịch viết tay ở Đôn Hoàng mới phát hiện vào đầu thế kỉ XX”[17] [2, 33].

Vì thời gian và khuôn khổ bài viết có hạn, nên những vấn đề về sự tương đồng giữa cổ tịch Hán Nôm Việt Nam với cổ tịch Đôn Hoàng Trung Quốc và những vấn đề nghiên cứu so sánh giữa văn học thông tục Việt Nam với văn học Đôn Hoàng hay với văn thể Trung Quốc nói chung, chúng tôi phải gác lại. Hi vọng rằng những dòng miêu thuật của chúng tôi trong bài viết này cung cấp được một vài thông tin bổ ích cho những ai quan tâm đến nền văn học cổ Việt Nam và kho cổ tịch Hán Nôm của dân tộc.

 

NVH.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       GS. Trần Nghĩa - Prof. François Gros, Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, Tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

2.       Vương Tiểu Thuẫn, “Tùng Việt Nam tục văn học văn hiến khán Đôn Hoàng văn học nghiên cứu hoà văn thể nghiên cứu đích tiền cảnh”, Trung Quốc cổ đại văn học nghiên cứu cao tầng luận đàn luận văn tập, Trung Hoa thư cục, 2004, tr. 18-54.

3.       Nguyễn Đổng Chi, “Đặc điểm của thư tịch Hán Nôm và nhiệm vụ cấp thiết của chúng ta đối với kho di sản ấy”, Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, tr. 7 – 31.

4.       Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.

5.       Tiền Trọng Liên, Phó Toàn Tông, Vương Vận Hi, Chương Bồi Hằng, Trần Bá Hải, Bào Khắc Di tổng chủ biên, Trung Quốc văn học đại từ điển (tu đính bản), hạ sách, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2000.

6.       Kiều Thu Hoạch, Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại, NXB Giáo dục, 2007.

7.       Nguyễn Đăng Thục, Lời Giới thiệu “Việt Nam ca trù biên khảo” của Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1994.

8.      Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, NXB Hội nhà văn, 2002.

9.      Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX), NXB Giáo dục, 1997.

 

Nguồn: Bình luận văn học 2009, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, 2010.



[1] Ca dao, dân ca và truyện thơ thì có thể tách ra khỏi nhóm thơ ca lục bát thể (hay gọi chính xác hơn là diễn ca lục bát thể theo cách hiểu của Vương Tiểu Thuẫn), nhưng tách những đầu sách Truyện Kiều (Kim Vân Kiều) ra khỏi nhóm truyện thơ thì không được thoả đáng.

[2] Số liệu này chắc hẳn là chưa đầy đủ, bởi tác giả bài viết chỉ thống kê số đầu sách có truyện thơ được kê ra trong bộ Đề yếu mà thôi. Theo thống kê chưa đầy đủ (chưa điều tra và thống kê các thư viện ở miền Nam và nước ngoài) của Kiều Thu Hoạch trong Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại thì đã có đến 120 tác phẩm truyện Nôm [6, 321-326].

[3] Số liệu tứ bộ được dẫn ra ở đây là số liệu được Vương Tiểu Thuẫn cùng cộng sự phân loại, thống kê lại trên cơ sở bộ Đề yếu .

[4] Ba tác phẩm sau được Kiều Thu Hoạch xếp vào loại truyện thơ Nôm [6, 324]

[5] Tác phẩm này cũng được diễn Nôm theo đúng nguyên thể.

[6] Ở mục 2. Diễn ca lục bát thể, Vương Tiểu Thuẫn có xếp những đầu sách ca dao, dân ca vào đấy, nhưng ở mục 4 này tiên sinh lại xếp những đầu sách cũng thuộc loại ca dao, dân ca như thế vào một nhóm riêng. Chúng tôi chưa hiểu vì sao. Cũng có thể là tiên sinh nhầm lẫn chăng?

[7] Chữ “trù” có bộ “khẩu” phía trước. Những chữ Hán chú kèm trong ngoặc đơn là chữ của Vương Tiểu Thuẫn dùng trong bài viết.

[8] Đầu sách này gồm 3 vở chèo: Bản diễn trò Hà Ô Lôi, Nhị độ mai trò, Thạch Sanh diễn hí bản.

[9] Đúng ra là 52 đầu sách. Có lẽ chỗ này bị in nhầm.

[10] Theo chúng tôi cái tên này chỉ thích hợp với loại truyện như Việt điện u linh chứ không thích hợp với loại truyện như Lĩnh Nam chích quái.

[11] Chúng tôi chưa rõ vì sao Vương Tiểu Thuẫn lại xếp Tiên hoa lục vào đây mà không xếp vào loại truyện thơ. Hiện tại chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu. Trong Đề yếu tác phẩm này chỉ được mô tả bằng một câu vắn tắt là “Bản diễn Nôm khác về truyện Hoa tiên.

[12] Cả  2 loại tiểu thuyết bút kí và truyền kì đều được Vương Tiểu Thuẫn cho là có sự ảnh hưởng, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Theo chúng tôi, nhận định này khá cảm tính. Công dư tiệp kí, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái là những tác phẩm không dễ chứng minh có ảnh hưởng Trung Quốc về thể loại và cốt truyện.

[13] Đổng thiên vương tân truyện Bích câu kì ngộ được Kiều Thu Hoạch xếp vào loại truyện Nôm như những truyện Nôm khác [6, 322], còn  Sự tích ông trạng Lợn Sự tích ông trạng Quỳnh thì chúng tôi chưa có điều kiện xác minh xem có phải là truyện thơ hay không.

[14] Như đã nói ở phần trước, số liệu này chưa đầy đủ, thực tế số đầu sách truyện Nôm lớn hơn nhiều.

[15] Về nguồn gốc thể loại truyện Nôm có thể tham khảo thêm chương 2 của tài liệu 6.

[16] Kiều Thu Hoạch nhận định rằng “rõ ràng là truyện thơ Nôm Chiêu Quân cống Hồ đã được sáng tạo trên cơ sở cốt truyện dân gian / thông tục của Trung Quốc, chứ không phải dựa theo sử sách như Hán thư hoặc Hậu Hán thư” [6, 363]. Chúng tôi chưa rõ câu “truyện dân gian / thông tục” ấy như thế nào, nhưng có chứng cứ khá chắc chắn rằng truyện thơ Nôm này có quan hệ với tác phẩm Song phượng kì duyên dài 80 hồi của Trung Quốc. So sánh các tình tiết chính yếu giữa hai tác phẩm, chúng tôi thấy chúng hầu như trùng khớp hoàn toàn với nhau.  

[17] Vào năm Quang Tự thứ 25 (1899) đời Thanh, tại khu vực Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, người ta phát hiện được rất nhiều sách vở, tranh tượng,... hết sức giá trị trong các hang động. Riêng sách vở có đến hơn 2 vạn quyển, gồm nhiều lĩnh vực. Từ đó hình thành nên ngành Đôn Hoàng học với các lĩnh vực như Đôn Hoàng văn học, Đôn Hoàng mĩ thuật, Đôn Hoàng kiến trúc, Đôn Hoàng tôn giáo,...

 

Các nhà tài trợ

 _logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Thành viên trực tuyến

Hiện có 8551 khách Trực tuyến