Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Ngôn ngữ học Lô gích – ngữ nghĩa của từ MÀ

Lô gích – ngữ nghĩa của từ MÀ

Email In

 

là một từ hư. Các sách ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập tới từ hư, trong đó có từ . Có những  sách công cụ bàn về từ hư như sách của Nguyễn Anh Quế [6 ], Đỗ Thanh [7 ]… Trong từ điển tiếng Việt [3 ], từ được miêu tả là có 7  nghĩa.

Trong bài này, dưới góc độ lô gích,  chúng tôi nghiên cứu về nghĩa của từ  và cấu trúc hoá những cách dùng của từ theo những nét nghĩa của nó.

1Từ” – một tín hiệu của cấu trúc nghịch nhân quả (NNQ)

1.1 Khái niệm cấu trúc NNQ trong tiếng Việt  được chúng tôi trình bày trong [1]. (Cũng có thể xem trong [3]). Hai cấu trúc ngôn ngữ NNQ cơ bản là:

·         cấu trúc  thể hiện quan hệ nghịch nhân quả sớm  (I):

 

           còn   A        nhưng mà

   Tuy (X)      mới   A       nhưng  mà           (Y)   (cũng)  đã   D

                     chưa  C       song 

·         cấu trúc thể hiện quan hệ nghịch nhân quả muộn (II) :

 

                                      nhưng (mà)                                          (còn) B

        Tuy (X)  đã   C     song                  (Y)  (cũng)  (vẫn)       chưa  D

 

Cấu trúc ngôn ngữ rút gọn .

Trong [1] chúng tôi đã chứng minh rằng ở những cấu trúc trên , có thể bỏ đi những cặp từ “tuy… nhưng”, “tuy … song” mà những từ còn lại vẫn chuyển tải được những thông tin ngữ nghĩa như trong dạng đầy đủ. Do vậy:

·         có những cặp từ đặc thù (là Ia) trỏ quan hệ nghịch nhân quả sớm:

 (Ia)   còn… (mà) đã …; mới (còn) … (mà) đã…; chưa… (mà) cũng đã…     

·         có những cặp từ đặc thù (là IIa) trỏ quan hệ nghịch nhân quả muộn:

(IIa)      đã … (mà)  vẫn …; đã … (mà)  còn …

             đã … (mà)  còn …;    đã … (mà) (cũng)  (vẫn) chưa

1.2         Trong  nhiều cấu trúc NNQ, khi xuất hiện từ thì có thể bỏ đi cặp “tuy … nhưng”. Nói cách khác, có nhiều  trường hợp chỉ riêng từ  mà cũng  chuyển tải được ý nghĩa của quan hệ nghịch nhân quả. Nói rộng ra, tất cả những gì ngược đời, trái ngược với lí lẽ thông thường, tất cả những gì  lạ lẫm làm bất ngờ, gây kinh ngạc … đều có thể được biểu hiện bằng từ .

Trong những câu có từ với chức năng này, nếu bỏ đi từ , chúng ta sẽ được một  câu theo một  trong ba khả năng  sau đây:

a)  Chuyển sanng một nghĩa khác. Ví dụ:  Chẳng ai mời nó tới. ¹ Chẳng ai mời  nó tới. (Từ ngày cô đi lấy chồng) Gớm sao có một quãng đồng mà xa (Nguyễn Bính,  Lỡ bước sang ngang) ®  Gớm sao có một quãng đồng  xa

b) Một câu sai . Ít nhất cũng là một câu khó nghe. Ví dụ:

“Mong manh thế sao rắn chắc.” (VT).

Câu trên  ngược với lí lẽ thông thường: mong manh thì không vững chắc.

Mong manh thế sao rắn chắc. ¹ * Mong manh thế sao rắn chắc.  (Câu này khó nghe, khó chấp nhận. Câu có dấu * đứng trước là câu khó chấp nhận.)

 Giàu có ức vạn mà làm cộng sản , thật cũng lạ.(NK)

Câu trên  ngược với lí lẽ: Nghèo thì mới làm cộng sản

Giàu có ức vạn mà làm cộng sản  ¹ *? Giàu có ức vạn  làm cộng sản .

Cái đồng hồ đó rẻ mà rất tốt ¹ * Cái đồng hồ đó rẻ  rất tốt

c) Nếu câu giữ nguyên nghĩa thì trong câu ắt có một từ/ một cụm từ  khác cũng giữ chức năng NNQ. Ví dụ:

Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời” (NC , một bữa no)® Đã đi ở  còn không biết phận… Cặp đã … còn … cũng biểu hiện cấu trúc NNQ.

“Ban sáng u đã vào người ta cho đâu; cậu Phúc bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.” ( TL, Nhà mẹ Lễ ) ® Ban sáng u  đã vào  người ta cho đâu […]. Cặp đã … có…  đâu đồng nghĩa với “đã … chưa…” nên cũng biểu hiện cấu trúc NNQ.

Suy ra: Các điều a), b), c)  là những dấu hiệu để xác định xem từ có chức năng NNQ trong một câu hay không. 

Nếu có thể thay từ bằng một từ khác và câu vẫn giữ nguyên nghĩa đồng thời chúng ta biết chắc rằng từ này không có chức năng NNQ thì từ trong câu đang xét không có chức năng biểu hiện một quan hệ  NNQ . Ví dụ: Trong câu “May  cụ ấy không biết đấy.” (NCH), từ  không giữ chức năng NNQ vì rằng khi thay bằng , chúng ta vẫn được một câu đồng nghĩa: “May  cụ ấy không biết đấy.” Câu này cũng là câu “Cụ ấy không biết đấy   may”.

1.3  Chúng ta chú ý tới hai trường hợp đặc biệt của cấu trúc rút gọn:

  (Ia)     chưa X  (mà) (cũng) đã  Y

 (IIa)    đã X  (mà) (cũng)  (vẫn) chưa Y

Ở  hai cấu trúc trên, thay chưa bằng không, chẳng chúng ta có những cách nói:

       (Ib)  Không/ chẳng   X mà  (lại/vẫn) cũng   Y,

·         Mõ thảm không khua mà cũng cốc.

(Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?) ( Hồ Xuân Hương, Tự tình)

       (IIb)  X mà (lại/vẫn) không/chẳng Y

hoặc diễn đạt theo trật tự ngược lại:

            (Ia’) Y mà không/chẳng  cần/có X

            (IIb’)  không/chẳng   Y  mà (lại/vẫn) X

Do vậy, những câu dưới đây cũng thể hiện cấu trúc nghịch nhân quả:

·         (Mõ thảm không khua mà cũng cốc?)

      Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?  (» chẳng đánh mà lại om)

·         Chẳng ai mời nó tới. (Lẽ thường: có mời mới tới)

·               Ông ta không dùng tới một dụng cụ máy móc gì […]  mà vẫn bay lượn được. (Con voi, truyện dịch). Lẽ thường: người cần có dụng cụ thì mới bay lượn được.

·               Tất nhiên anh rảo cẳng lúc nào mà anh không biết. (NCH) (Lẽ thường: người ta luôn luôn biết là mình đi nhanh hay đi chậm)

Từ bốn cấu trúc trên, chúng ta có những cấu trúc phái sinh rút gọn một hoặc cả hai từ lại, vẫn. Mặt khác, trong những cấu trúc trên , yếu tố “không X”, “không Y” có thể được từ vựng hoá. Nghĩa là chúng có thể thay bằng một yếu tố  Z  đồng nghĩa:

(Ia1)   “Z mà (vẫn/lại)  Y

“Giáo khổ trường tư cũng đòi nhìn mặt gái tân thời. (NC, Sống mòn)

Anh giáo nghèo trong Sống mòn  bị phê là ảo tưởng vì đã làm một điều ngược với lẽ thường “người  nghèo thì chớ mơ tưởng đến các cô gái tân thời ham ăn sung mặc sướng” 

(c1) “X mà (lại /vẫn) Z

·         Còn trẻ tóc anh ta đã bạc trắng. (Lẽ thường: trẻ thì tóc đen)

·         Đã tháng 12 rồi trời còn khá nóng.

·         Có A giúp B vẫn thua

Trong cấu trúc Ib , có thể dùng vậy, thế  thay cho “không X”. Từ đây, suy ra:

·         vậy/thế mà; ấy thế mà cũng một  tín hiệu nghịch nhân quả. Do vậy,Vậy/Thế mà cũng Y cũng là câu biểu hiện quan hệ nghịch nhân quả:

·         Thế mà cũng đọc kinh, cũng xưng tội (NH)

·         (Máu ghen ai cũng  chau mày mghiến răng)

Thế mà  im, chẳng đãi đằng

(Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng)   (ND,  Truyện Kiều, câu 2011)

·         Làm vậy mà được khen. (Lẽ thường: làm vậy thì không được khen)

·         Ta chỉ đoán mò thế thôi. Vậy cũng đúng. (Lẽ thường: điều suy luận có căn cứ xác đáng  thì  có khả năng đúng, còn điều suy đoán không có căn cứ thì  có khả năng sai:  đoán mò thì trật)

·         Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt (KL, Vợ nhặt)

 

2.  Từ “”trong những câu chất vấn về quan hệ nhân quả  và nghịch nhân quả .

Trong giao tiếp luôn luôn có lí lẽ cho những lời khẳng định hoặc phủ định của mình. Mỗi lí lẽ đều xuất phát từ một hay nhiều tiền đề làm luận cứ để dẫn tới một kết đề. Giữa  tiền đề X và  kết đề Y trong  một lí lẽ đều có quan hệ nhân quả . Các lí lẽ đó không xuất hiện trong lời nói nhưng chúng làm cơ sở cho những kiểu câu chất vấn  để khẳng định hoặc phủ định. Chúng ta đã biết chất vấn để bác bỏ [2 ]. Chất vấn câu nhân quả  sẽ là câu bác bỏ nó, tức là có hàm ý bác bỏ kết quả. Đứng trước những  hiện tượng có quan hệ NNQ, trái với những điều thông thường,  người ta luôn luôn bất ngờ. Vì vậy người ta hỏi, chất vấn  về điều bất ngờ này. Chất vấn câu NNQ sẽ là câu bác bỏ nó tức là có hàm ý  khẳng định một quan hệ nhân quả . 

2.1 Chất vấn toàn bộ. Khi chất vấn  quan hệ nhân quả  “X thì Y”, từ “thì” chuyển thành từ “” theo mẫu chung: “X mà Y?”.

2.1.1 Chất vấn theo hình thức của câu có dấu hỏi:

·         Thiếu chi hoa lý hoa lài

Mà anh đi chuộng hoa khoai trái mùa? (ca dao)

[ Thiếu gì A mà lại B? Suy ra: có A thì không cần có B. Hàm ý: không cần/nên B] Hàm ý của câu trên là: anh không nên chuộng những người con gái tầm thường (hoa khoai trái mùa).

·         Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử sự với tôi như thế này à? (NC, Lão Hạc) .

Hàm ý: Lão không nên xử sự với tôi như thế này.

2.1.2 Cụm từ chất vấn sẽ đứng trước “X mà Y”

Cấu trúc  chất vấn khái quát để bác bỏ quan hệ “X thì Y”:

 “Mấy đời/ Có bao giờ/Chẳng lẽ  X mà Y?

Những cấu trúc trên có hàm ý “X thì không Y”

Y ở dạng khẳng định:

·         Mấy đời thày kiện mà thua mẹo

(Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân.)

·         “Mấy đời bánh đúc có xương?” (rút gọn của “Mấy đời bánh đúc có xương?”)

Y ở dạng phủ định : Y = Không Y’. Hàm ý “X thì không Y” sẽ thành “X thì Y’”

·         Có bao giờ tha thứ một tội như thế không sợ nhục?

·         Ồ , thưa cậu thế chẳng nhẽ làm cái thằng con giai mà lại không có vợ.  (NC)

2.2 Chất vấn bộ phận câu nhân quả “X thì Y”.  Có phương thức chất vấn tiền đề X để bác bỏ hệ quả Y và chất vấn hệ quả Y để bác bỏ tiền đề X. Có các công thức  để xác định hàm ý.

§  Chất vấn  tiền đề X  theo mẫu “X gì  đâu để/mà Y?” hoặc “X nào mà Y?” để tạo ra hàm ý bác bỏ kết đề Y  thành “không Y”  (theo  luật V: lấy điều kiện cần làm điều kiện đủ). Với hàm ý bác bỏ nên  không cần dấu hỏi đứng cuối loại câu này.

Ví dụ . So sánh hai câu sau:

(a) Vốn của nó không có bao nhiêu mà khoe.  

(b) Vốn của nó bao nhiêu mà khoe.

Cả hai câu này đều dựa trên lí lẽ: “người ta thường khoe cái mà mình hơn người khác”. Nếu  có nhiều tiền thì người ta (thường /có thể) khoe tiền, khoe của. Câu (a)  phủ định  trực tiếp tiền đề để khẳng định nó ít vốn rồi dẫn  tới kết luận bác bỏ hành động, khả năng   “khoe của”.  Câu (b) mơ hồ. Có thể hiểu  (b) là một câu hỏi thực sự mà cũng có thể hiểu đây là  một  câu bác bỏ tiền đề một cách gián tiếp theo hình thức chất vấn để khẳng định nó ít vốn rồi dẫn tới một hàm ý là lời khuyên  không nên khoe của hoặc bác bỏ hành động đó. Trong thực tế chúng ta gặp hàng loạt câu chất vấn tiền đề nhằm tạo ra hàm ý bác bỏ kết đề:

·         Nó thấy rằng trước nó hèn nhát vô cùng. Làm  phải sợ ai ? (NC). Hàm ý: Không phải sợ ai.

·         Tội gì đi tàu hoả  chen chúc. (NC)

·               Vui vẻ gì đâu  đùa. (TDĐC) . Câu này mơ hồ: a) Tôi vui vẻ gì đâu  anh  đùa. Với cách hiểu này, câu sẽ có hàm ý: Anh không nên đùa. b) Tôi vui vẻ gì đâu  tôi  đùa. Với cách hiểu này, câu sẽ có hàm ý: Tôi không đùa.

·         Can gì đến mình mà mình cũng nhắng nhít lên? (NCH)

(Lí lẽ: nếu điều gì có can hệ tới mình thì mình mới phải (nhắng nhít) quan tâm.) Câu trên chất vấn tiền đề “can gì tới mình?” để bác bỏ  kết đề theo luật V. Từ đây, hàm ý  của câu  là một lời khuyên “đừng có nhắng nhít lên như  vậy”

·         Bà tuy đông cháu , nhưng hai giọt máu của đứa con trai xấu số này, bà lòng nào bỏ chúng nó. (NTP) Hàm ý: Bà không thể bỏ chúng nó.

·         Ông Phúc bóp điếu thuốc trong tay hỏi nhỏ:

-         Bà định nói chuyện với tôi? Có chuyện gì nữa mà nói?” (NKT, 228)

·         Nhưng tôi không muốn tỏ ra hối hận về việc này. Mà sao phải hối hận? (NMT)

·         Có 4 đồng mày cũng cưới được vợ kia à? (NC, Sống mòn).

Từ lí lẽ “Có ít tiền thì không thể cưới được vợ” chúng ta suy ra câu “Có 4 đồng mày cũng đòi cưới vợ à?” có hàm ý “(với 4 đồng) mày không thể cưới được vợ”.    Nhưng thực tế thằng Mô trong Sống mòn  của NC đã cưới được vợ nên câu hỏi trên chỉ bày tỏ sự ngạc nhiên về một điều  ngược đời: “một người có ít tiền mà lại  cưới được vợ”.

·         [Ông giáo cứ là mặc kệ tất!Chị giáo tức lộn ruột lên!] Đàn ông gì mà hèn nhát! (Lẽ thường: đàn ông thì không hèn nhát. Nhưng thực tế ông giáo đã hèn nhát (theo quan niệm của vợ). Vậy theo luật T,  suy ra hàm ý: ông giáo không đáng mặt đàn ông)

§  Chất vấn  kết đề Y: Chất vấn mục đích  Y của sự kiện  X theo mô hình:

 “X để/mà làm gì?” Theo luật suy luận theo điều kiện cần, câu này luôn luôn gây ra hàm ý: “không cần X”. 

·               “(Thế mà anh chưa biết tên em.)

Biết mà làm gì?” (Phim Đêm miền yên tĩnh) . Hàm ý: Biết cũng không để làm gì.

Chất vấn kết quả Y của sự kiện X theo mô hình:

 X mà sao không  Y?”. Hàm ý: X thì Y.

 “X mà  cũng   Y?”. Hàm ý: X thì không Y.

·         Tôi mà còn có biết hay không à? Câu này được rút gọn từ  “Tôi mà ông/bà còn phải hỏi [có biết hay không?]” Hàm ý: Với tôi thì ông/bà không phải hỏi [có biết hay không?]. Điều này có nghĩa là câu  có hàm ý:  tôi biết là cái chắc, không cần phải hỏi)

·         (Có anh chiều nó quá thì có.)

    -Tôi mà chiều? ( LBC). Hàm ý: Tôi không chiều nó.

·         Anh cũng nghĩ thế à? ®  Việc ‘anh nghĩ thế’ làm tôi ngạc nhiên, vì tôi cho rằng anh không thể nghĩ thế. ® Anh không nên nghĩ như thế.

·          

2.3  Từ “”trong những câu bình luận về quan hệ nghịch nhân quả .

Trong ngôn ngữ, có những câu thể hiện lời bình luận về một sự kiện nghịch nhân quả. Ví dụ: “Tội nghiệp! Cháu tôi thế kia mà không nói được” (Thế Lữ, Thoa) . Từ “tội nghiệp” là một tín hiệu thể hiện hành vi bình luận xảy ra sau đó. Từ “mà” trong câu trên thể hiện quan hệ nghịch nhân quả giữa hai vế. “Không nói được” có phẩm chất âm ( – ).  Do vậy cụm từ  “Cháu tôi thế kia”  đứng  trước từ  “mà” có phẩm chất dương ( + ).  Lời nói được coi là phạm trù  nội dung, nó đối lập với phạm trù  hình thức. Từ “kia” trỏ mức độ cao. (xem NĐD, 1984a). Vậy thì, “Cháu tôi thế kia” trỏ phẩm chất hình thức ở mức độ cao: trẻ và rất xinh đẹp. Đó là hàm ngôn làm cơ sở cho  câu  bình luận đã nêu.

Bất ngờ trước những  hiện tượng có quan hệ nghịch nhân quả, người ta cũng bình luận về điều bất ngờ này theo những câu có cấu trúc:

 “[Nếu] X không Y thì/là  Z” hay

  “[Nếu] không X  Y thì/là  Z”.

Trong những câu trên Z là lời bình luận.

·         Tôi mà cũng nghĩ liều như thế thì con tôi khổ.

·         Kẻ hạ thần nhảy từ trên núi cao xuống không chết cũng là nhờ uy linh của Đức Chúa trời.

·         Bệ hạ đã buộc tội Hoàng hậu mà không xét xử ; như vậy là trái lẽ.

·         Thanh niên mà trốn việc , vất cho vài hòn đá đã.

Do vậy, từ “”có thể dùng để mở đầu cho một lời bình luận về một hiện tượng không bình thường. Ở trường hợp này, có thể đứng ở đầu câu :

·         Mà có những thế thôi đâu! (NC, Đôi mắt)

·         Mà cả anh cũng vậy.

 

 3.  Chức năng giải thích  của từ

3.1  Liên kết nhân quả:

Giải thích mục đích của A: A để mà B” Nó được rút gọn thành: “A mà B

·         Anh thử lên Hà Nội, thửa một thức hàng xem” (NCH, Vợ)

·         (Em như con hạc đầu đình)

Muốn bay [nhưng] không nhấc nổi mình  bay. (ca dao)

 Nêu hệ quả của A: (Vì) A B

·         Chính vì câu nói ấy chàng phải xa lánh cõi đời.

Từ đây dẫn tới một kiểu thoại, ở đó lượt lời thứ hai nhằm giải thích cho lượt lời thứ nhất:

-          B

-          A mà (lại)

Ví du ï1: - X đoạt giải nhất cuộc thi này đấy!

              - Má của hắn là trưởng ban giám khảo mà (lại)!

 Ví dụ 2: - Chị đưa giùm tôi cuộn băng ông Trinh mượn  bữa trước.

                - Ông ấy bảo đã trả anh rồi (cơ) !

·         Anh ấy đi rồi mà!

“A = Anh ấy đi rồi”  dẫn tới hệ quả là “B = Anh ấy không còn ở nơi được đề cập tới”.  Như vậy, câu trên có thể  dùng để phủ định một  phát ngôn  trong đó có phần khẳng định “anh ấy đang có mặt  ở nơi được đề cập”.

Cấu trúc “Còn về phần A thì B”,  nói rằng A có thuộc tính B, dùng để liên kết đối chiếu A với một đối tượng khác đi trước đó có thuộc tính không phải là B, cũng được biến đổi thành  “Mà A thì  B”.

3.2 Cấu trúc “A B” là một danh ngữ, ở đó B là một định ngữ của A . Kết quả là nó khu biệt A với những A khác cùng tên gọi.

·         Không gì buồn bằng những buổi chiều êm

      Mà ánh sáng đã mờ dần  cùng bóng tối (XD)

·         Đó là điều những người cách mạng Việt Nam cần ghi nhớ và biết ơn. (HCT)

3.3   Có thể  dùng một câu hoặc một cụm chủ vị để giải thích. Nó có thể đứng độc lập. Trong những trường hợp này, từ “mà” có thể được thay bằng từ “và”:

·     Đây quả nhiên là cuộc hành trình hôn lễ của chúng tôi. Mà lại là cuộc hành trình đặc sắc biết chừng nào!

·         Vì vậy, tôi không dám nghĩ đến chuyện lấy chồng. Mà có nghĩ tới cũng chẳng ai lấy. (TNVN, 45-85, t.218)

·         Tôi nhức đầu quá, mà cơm cúng ở nhà cũng chưa sắp sửa được gì cả. (NCH, Được chuyến khách)

·         Đây không biết mà cũng không nghe đâu.

3.4        có thể dùng để giải thích cho yếu tố đi sau nó. Và nó đứng ở đầu  tiền đề thứ hai trong một lập luận tam đoạn “A. Mà B. Nên C”. Kết luận C là hiển nhiên và người nói không cần nêu ra, nhưng người nghe luôn luôn  nhận ra. Vậy C như là một hàm ý của chuỗi hai câu “A. B”.  Trong trường hợp này có thể được thay thế bằng  hoặc còn. 

·         Bà thừa hiểu con gái bà cũng chỉ lấy được đến hạng như tôi là cùng. tôi  thì hồi ấy ngây thơ thành thực.

·         Ngon hay không là tại miệng. Mà cái miệng người đói thì ăn gì cũng ngon. (NC)

Ngữ cảnh cho biết người nói câu trên đang đói. Trong ngữ cảnh ấy, hàm ý của câu trên là “ Tôi ăn rất ngon”.

·         Từ nhỏ cháu đã cứng rắn như một trái hồ đào bà thì không ưa đàn bà cứng rắn. (CTCG,II,288). Từ đây suy ra hàm ý của câu: “Bà không thích cháu”.

·         “Mà có biết  không bao giờ mụ ta nói với tôi” (LL, Ranh giới).  Đây là câu rút gọn của “Mà dù có biết thì cũng  không bao giờ mụ ta nói với tôi”

·         Như thế họ cho là ngược đời, [nếu] mà ngược được đời  thì thích lắm. (NC)

·         Tôi đi thì tôi mất cả ngày, [nếu]  mất buổi làm thì tôi với các cháu nhịn đói. (NCH)

·         Cô nhìn cái chai, cô cáu tiết, cấu một cái rõ mạnh,  cậu thì đau điếng cả người. (NCH)

 

 3.5  Nhóm 4:  Từ “mà” đứng cuối câu:

Từ “mà” đứng cuối câu có thể dùng để trỏ hành vi giải thích (xem § 3.1). Ví dụ khác:

·         Bác thấy nó thế nào? Đầu đã có sợi tóc bạc rồi à? Ờ thì tôi đây cũng vậy. Hai đứa cùng một tuổi mà. (TNVN 45 – 85, tr. 211)

Khi xảy ra một sự kiện P như  đã đoán định,  đã cảnh báo trước, người ta nhấn mạnh điều này bằng lời  bình luận :  “ Tôi đã bảo sẽ P mà!”

·         Tớ đã bảo mà! ( vì đã không nghe, do vậy nhận hệ quả xấu. Hoặc là “vì đã nghe, do vậy nhận được kết quả tốt”)

·         Tớ đã nói rồi mà. Có sao đâu.

·         Tao biết mà!

·         (Việt  ta thích chí:)

        “Cháu đã bảo mà”

        (Và móc túi ra

        “Biếu ông cái kẹo”) ( Tú Mỡ, TV3- sách thử nghiệm)

·         Tôi chỉ hỏi một tý thôi mà.

·         (–Vô đây má biểu chút con – Dì Năm nói)

 – Biểu gì vậy má?

 – Thì vô đây mà!  (VĐ )

¨ Chẳng qua A mà thôi.

¨ Cứ về mà chờ đợi ít lâu ( Ngậm cười, NCH)

     lời kết

Dưới góc độ lô gích, theo mô hình nghịch nhân quả, kết hợp với lí thuyết hành vi ngôn ngữ, chúng ta xác định được  nghĩa và cấu trúc hoá những cách dùng của từ mà , nhờ đó xác định được một cách  thuyết phục hàm ý của nhiều  cấu trúc chứa từ . Có thể vận dụng phương pháp này để dạy  các từ hư , cho chính người Việt  cũng như  cho người nước ngoài.

 

                                               TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

 

1. Nguyễn Đức Dân , ngữ nghĩa các từ hư, Ngôn ngữ, số 2 ,& 4, 1984

2. Nguyễn Đức Dân, lô gích, ngữ nghĩa và cú pháp, nxb ĐH &THCN, 1987

3. Nguyễn Đức Dân, lô gích và tiếng Việt, nxb Giáo dục, 1996

4. Lê Đông, ngữ nghĩa – ngữ dụng  của hư từ: siêu ngôn ngữ và hư từ tiếng Việt , Ngôn ngữ , số 2,  1992

5. Hoàng Phê ( chủ biên), Từ điển tiếng Việt, UB KHXH, Viện ngôn ngữ học, 1992

6. Nguyễn Anh Quế, Hư từ trong tiếng Việt hiện đại , nxb KHXH, Hà Nội , 1988

7. Đỗ Thanh, Từ điển từ công cụ tiếng Việt , nxb Giáo dục , Hà Nội , 1998

 

                   XUẤT XỨ CÁC VÍ DỤ

CTCG – Cuốn theo chiều gió, truyện dịch; KL – Kim Lân, Vợ nhặt; LBC- Lý Biên Cương; LL- Lê Lựu, Ranh giới; NB – Nguyễn Bính, Lỡ bước sang ngang; NC – Nam Cao , Tác phẩm Iⅈ NCH – Nguyễn Công Hoan, Tuyển tập truyện ngắn; ND  - Nguyễn Du, Truyện Kiều; NH – Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu; NK – Nguyễn Khải, Cách mạng; NKT – Nguyễn Khắc Trường, mảnh đất lắm người nhiều ma, NMT – Nguyễn Mạnh Tuấn, Cù lao Tràm; NTP – Nguyễn Thế Phương, Đi bước nữa; TDĐC – Trên dặm đường cong, truyện dịch; TL – Thạch Lam ; TM – Tú Mỡ, TV3-sách thử nghiệm; TNVN – truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1985; VĐ – Văn Định; VT – Vương Trọng; XD – Xuân Diệu .