Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu VH nước ngoài & VH so sánh Dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản

Dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản

Email In

 

Bìa Kim Vân Kiều do K.Kiyoshi dịch

Việt Nam và Nhật Bản trong lịch sử có quan hệ từ rất lâu đời, từ thời nước ta còn là An Nam thuộc nhà Đường thì nhà thơ nổi tiếng của Nhật Bản là Abe no Nakamaro đã từng lưu lạc đến nước ta. Về văn hoá, Việt Nam và Nhật Bản là hai nước có rất nhiều điểm tương đồng. Nói như Ikawa Kazuhiki, nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử-văn hoá Đông Nam Á thì: “Có lẽ không có đất nước nào mà phong thổ lại giống với Nhật Bản như Việt Nam, không có dân tộc nào lại giống Nhật Bản như Việt Nam. Ví dụ: Việt Nam là đất nước có đạo thờ Thần (Thần đạo) và Phật giáo đại thừa duy nhất ở Đông Nam Á, ở các làng miền Bắc và miền Trung làng nào cũng phải có chùa và đình thần (1). Người cả hai nước đều ăn cơm bằng đũa, thích ăn đậu phụ, dưa muối và trà xanh, thích dùng đồ sành sứ và sơn mài, thích nghe đàn bầu và samisen (đàn 3 dây của Nhật), vào ngày Tết cũng có tục lệ cho tiền mừng tuổi. Rồi người cả hai nước đều được khen ngợi là chăm học, trọng tình người và đạo lý, ghét bạo lực (vì vậy số vụ giết người ngoại quốc là 0), đề cao mối quan hệ đồng tộc, đồng hương…” (2). Quan hệ văn hoá giữa hai nước trong quá khứ đã có từ lâu đời, nhưng về phương diện dịch văn học thì đến thời cận đại mới có. Việt Nam dịch văn học Nhật sớm nhất là vào đầu thế kỷ XX do các chí sĩ thuộc phong trào Duy tân thực hiện (3) Có thể lấy mốc đầu tiên về việc dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản là năm 1942, năm nhà văn, học giả Komatsu Kiyoshi dịch Kim Vân Kiều. Qua lịch sử phiên dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản, chúng ta có thể biết được mối quan tâm của trí thức và nhân dân Nhật đối với Việt Nam về vấn đề gì và như thế nào.

Có thể chia lịch sử phiên dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản ra thành ba giai đoạn lớn:

-                  Trước 1945

-                  Từ 1945 đến 1985

-                  Từ 1986 cho đến nay

1. Dịch văn học Việt Nam trước 1945

Tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên được dịch ra tiếng Nhật, do những ngẫu nhiên nào đó mà là tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học nước ta: Truyện Kiều. Người dịch là một nhà nghiên cứu văn học phương Tây, nhà văn, dịch giả nổi tiếng của Nhật Bản : Komatsu Kiyoshi. Komatsu từng dịch Andre Malreaux, Andre Gide ra tiếng Nhật. Ông từng du học và làm việc ở Pháp khá lâu, từng có cuộc hội ngộ với Nguyễn Ái Quốc, và là bạn thân của thi sĩ Nguyễn Giang (con trai nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh). Như ông kể, sau khi dịch Từ Liên Xô trở về của Andre Gide (xb.1937), ông thề là không dịch nữa mà chú tâm vào sáng tác. Mùa xuân năm 1941, Komatsu lần đầu tiên đi du lịch đến Đông Dương. Tình cờ gặp lại người bạn cũ là Nguyễn Giang sau 10 năm không gặp, kể từ ngày chia tay nhau ở Paris. Nguyễn Giang đã giới thiệu cho Komatsu tác phẩm Truyện Kiều, và cho ông mượn bản dịch Pháp văn của thân phụ mình là Nguyễn Văn Vĩnh. Komatsu thực sự bị cuốn hút bởi cuốn kỳ thư này, như ông viết : “Trong một thời gian rất ngắn tôi đã đọc hết từ đầu đến cuối. Tôi trở thành tù nhân bởi sức cuốn hút đẹp đẽ từ cuốn sách với gần 400 trang in, một tập thơ trữ tình lớn lao và tinh tế.  Trong số khá nhiều những tác phẩm văn học An Nam mà tôi đã đọc, cả mới cả cũ, không có một cuốn sách nào sánh được với Kim Vân Kiều. Từ chiều cao của giá trị văn học mà nói, tác phẩm này cao vòi vọi át hẳn các tác phẩm khác.” (4).  Bằng sự nhạy bén, tinh tế của một nhà văn, Komatsu nhanh chóng nhận ra chân giá trị của Truyện Kiều, như ông nói, nó chứa đựng cái “bí mật của hồn dân tộc An Nam” (Annan minzoku (An Nam dân tộc) no tamashii (hồn) no himitsu (bí mật)), và ông đã viết về kiệt tác này với những lời hết sức sôi nổi: “Tôi nghĩ rằng có thể thông qua tác phẩm này mà tìm hiểu cái bí mật của hồn dân tộc An Nam. Và cũng vì tôi nghĩ rằng, đây không chỉ là một tác phẩm văn học ưu tú, mà còn là một tấm gương phản chiếu một cách rõ ràng tâm hồn người An Nam, và còn hơn là một tác phẩm văn học, có thể gọi nó là cuốn kinh được viết ra bởi một thi nhân. Một tác phẩm văn học gắn liền với vận mệnh của một dân tộc như thế là hiếm có trong suốt lịch sử cổ kim Đông Tây.” Theo ông Kim Vân Kiều của Nguyễn Du ở Việt Nam có thể sánh với Thần khúc của Dante ở Ý, bi kịch của Shakespeare ở Anh, bi kịch của Racine ở Pháp, Faust của Goethe ở Đức. Vì vậy ông đã phá bỏ lời thề trước kia và chú tâm vào việc dịch Truyện Kiều. Vì không biết tiếng Việt nên ông phải dùng hai bản Truyện Kiều bằng Pháp văn, một là bản “đối dịch”, có lẽ là bản thảo dịch sát từng câu của Nguyễn Văn Vĩnh (do Nguyễn Giang cho mượn) và một nữa là của Craysac, cùng sự giúp đỡ của một người Việt đang ở Nhật là Nguyễn Văn Thái. Komatsu dịch trong vòng 6 tháng là xong, năm sau - 1942, sách được nhà Đông Bảo (Toho) ở Tokyo xuất bản. Đó là tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên được dịch và xuất bản ở Nhật. Đánh giá về bản dịch này, GS.Kawaguchi ở Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo viết : “Do dịch từ tiếng Pháp, dùng văn nói chứ không phải thơ, nên bản dịch không có được cái vẻ đẹp âm điệu của bản tiếng Việt, nhưng nếu truy tìm việc triển khai câu chuyện thì đây là một bản dịch rất hay, rất tinh tế.”(5)

Ngoài Kim Vân Kiều ra, trước 1945 còn có hai quyển sách nữa được dịch ra tiếng Nhật, đó là Truyện cổ An Nam của Nguyễn Tiến Lãng, Fukao Sumako dịch và Lòng nhiệt tình của người An Nam của Nguyễn Thục Oanh, Oku Yoshiaki dịch. Cả 2 cuốn đều được dịch từ bản tiếng Pháp và xuất bản vào năm 1942.

Trước khi những quyển sách trên ra đời, báo chí Nhật Bản đã bắt đầu giới thiệu về văn học Việt Nam. Trên nhật báo Asahi shimbun (bản Tokyo) tháng 8 năm 1941 đã đăng liên tục 11 kỳ (10/8 – 18/8/1941) bài tường thuật “Buổi toạ đàm về Đông Dương”, trong đó buổi toạ đàm thứ nhất được rút “tít” rất ấn tượng :  “Kim Vân Kiều, tác phẩm trữ tình vĩ đại đối địch được với Truyện Genji ”. Ý kiến này là của Suzuki Mutsuro, nguyên Tổng Lãnh sự Nhật Bản ở Hà Nội. Buổi toạ đàm về Đông Dương cũng bàn về văn học đương đại Việt Nam bấy giờ, ý kiến khá phân tán, Suzuki Mutsuro cho là văn học đương đại Việt Nam (nói theo thời điểm 1941) không có gì giá trị, nhưng Komatsu lại đánh giá khá cao, đặc biệt là các tác phẩm thuộc “phái xã hội”. Asahi shimbun năm 1942 cũng có một bài giới thiệu văn học Việt Nam đương đại của một người Việt tên là Văn Hoàn, giới thiệu bao quát về diện mạo văn học từ thập niên 1920 đến bấy giờ. (6)

Như vậy văn học Việt Nam được dịch ở Nhật Bản trước 1945 đều thuộc loại văn học truyền thống. Đến với Việt Nam, người Nhật lúc đó muốn tìm hiểu những giá trị căn bản của một nước “đồng chủng đồng văn” và bắt đầu có ý muốn tìm hiểu về văn học đương đại Việt Nam. Tuy nhiên do không có trí thức biết tiếng Việt, và do hoàn cảnh khói lửa của Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nên câu chuyện văn chương còn phải tạm thời gác lại. Trớ trêu thay, lời hẹn ấy phải đến 40 năm sau mới có thể thực hiện được.

2. Dịch văn học Việt Nam từ sau 1945 đến 1985

Gọi là dịch văn học Việt Nam từ sau 1945 để cho việc khảo sát có vẻ liên tục, thực ra sau 1945 Nhật Bản lao vào xây dựng lại đất nước từ đống đổ nát, còn Việt Nam thì bắt đầu bước vào cuộc trường chinh để giữ trọn lời thề độc lập của mình ở Quảng trường Ba Đình 9/1945. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bắt đầu bước vào giai đoạn cao trào: Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời, Phong trào Phật giáo chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm dấy lên cao ở các đô thị miền Nam…Tin tức về Việt Nam lan đi khắp thế giới, trong đó có Nhật Bản. Người Nhật bắt đầu quan tâm đến chuyện gì đang xảy ra ở đất nước này.

Năm 1962, sau 20 năm gián đoạn, văn học Việt Nam lại bắt đầu được dịch sang tiếng Nhật. Đó là cuốn Truyện Tây Bắc của Tô Hoài và những người khác. Gọi là  Truyện Tây Bắc, nhưng đây là tuyển tập truyện ngắn Việt Nam, trong đó những tác phẩm của Tô Hoài. 3 truyện của Tô Hoài in trong tập truyện đó là: Vợ chồng A Phủ, Chuyện  Mường Giơn,  Cứu đất cứu mường, sau 3 truyện ấy là truyện của Xuân Thiều, Nguyễn Địch Dũng, Chu Văn….Sách được Hirota Shigemichi và Okubo Akio dịch từ quốc tế ngữ (Esperanto), Shinnihon (Tân Nhật Bản) xuất bản. Có lẽ tập truyện này được đón nhận nồng nhiệt, nên năm 1962 in lần thứ nhất, nhưng chỉ 1 năm sau - năm 1963, sách được tái bản đến lần thứ 6 và đến năm 1975 vẫn còn được tái bản.

Cao trào dịch văn học Việt Nam bắt đầu từ 1967, tương ứng với tình hình “Chiến tranh Việt Nam” bước vào giai đoạn khốc liệt nhất trong lịch sử. Có thể thấy văn học Việt Nam dịch ở Nhật Bản trong giai đoạn này có 3 mảng đề tài:

-                  Văn học dân gian Việt Nam: được dịch khá nhiều, theo thống kê chưa thật đầy đủ, từ năm 1968 đến 1986 có 8 tập truyện cổ được dịch và xuất bản. Đó là các tập của các nhà nghiên cứu và dịch giả như : Ikeda Yoshinae, Hoshino Katsuo, Kozawa Toshio, Yano Yubiko, Yamashita Kinichi, Inada Koji và Tanimoto Naofumi, do các nhà xuất bản nổi tiếng ở Nhật Bản in và phát hành như: Sanseido, Asahi shimbunsha, Shakai shisosha, Domeisha, Kenshu…

-                  Văn học trước 1945: có 2 tập được dịch là: Bước dường cùng của Nguyễn Công Hoan và Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh. Tập thơ nổi tiếng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh được NXB.Idzuka xuất bản vào đúng năm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần (1969), sách do Akiyoshi Kukio dịch. Sau này cũng có một tập Hồ Chí Minh- Thơ và Nhật ký của học giả tên tuổi là Kawamoto Kunie dịch, giới thiệu, chúng tôi sẽ nói ở sau.

-                  Văn học kháng chiến được dịch nhiều nhất, có thể coi như là chủ đạo. Thực ra 2 sách mảng trên chỉ là nhằm hoàn chỉnh thêm bức tranh về văn học Việt Nam kháng chiến.

Có điều phải lưu ý là mặc dù về mặt ngoại giao, Nhật Bản lúc bấy giờ quan hệ chính thức với chính quyền Sài Gòn, Đại sứ quán Việt Nam ở Tokyo là của chính quyền Sài Gòn, thế nhưng không có một cuốn tiểu thuyết, một tập thơ chống Cộng nào được dịch và xuất bản ở Nhật Bản, mặc dù loại sách này đương thời cũng nhan nhản ở các hiệu sách và thư viện Sài Gòn. Điều ấy cho thấy giới trí thức Nhật Bản cũng có những quan điểm độc lập, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Tất nhiên không phải người trí thức nào đấu tranh cho Việt Nam, dịch giả nào dịch văn học Việt Nam cũng có tư tưởng và quan điểm chính trị giống với nhà nước ta lúc bấy giờ, nhưng giữa lúc một dân tộc châu Á nhỏ bé đang bị thui chín trong bom napan và phải hứng chịu một khối lượng bom đạn gấp 2,8 lần số bom đạn Mỹ sử dụng trong Thế chiến thứ hai, thì không một trí thức có lương tâm nào lại đi phụ hoạ cho guồng máy chiến tranh của phe diều hâu ở Lầu Năm Góc. Ngoài đời họ sát cánh cùng với những người BEHETO (Hội Những Người Việt Nam ở Nhật Bản Đấu tranh vì Hoà bình và Thống nhất Việt Nam / Betonamu no Heiwa to Toitsu no tameni Tatakau zaiNichi Betonamujin no kai) và BEHEREN (Liên minh đấu tranh cho hoà bình ở Việt Nam (của người Nhật Bản)) nằm chắn trước xích xe tăng của Mỹ ở căn cứ Yokohama, Okinawa, họ hát vang những bài ca phản chiến của Trịnh Công Sơn và của SVHS yêu nước ở các đô thị miền Nam, thì trong văn học nhiều người trong số họ dịch những tác phẩm của những người Việt Nam đang kháng chiến chống Mỹ. Có thể kể ra đây một danh mục dài những tác phẩm nổi tiếng một thời ở cả hai miền Nam Bắc như: Trong khói lửa (tập truyện ngắn miền Nam VN) của Phan Tứ và những người khác, Kurita Kimiaki dịch, Viết trong khói lửa của nhiều tác giả, Watanabe Akira dịch, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Ikegami Hideo dịch, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Kurita Kimiaki dịch, Tiệm đồng hồ ở Điện Biên PhủTiếng sáo trúc của nhiều tác giả do Nhóm Phụ nữ Hội Esperanto Kanazawa dịch, Việt Nam thi tập của nhiều tác giả, Oshima Hiromi dịch v.v…

Từ 1975 đến 1985 vẫn tiếp tục khuynh hướng dịch thuật trước đó, có thể coi đây như niềm hân hoan chung của những người đứng về phía BEHETO và BEHEREN trước một nước Việt Nam hoà bình và thống nhất. Có thể kể tiếp ra đây danh mục đang kể dang dở ở trên, đó là: Văn học giải phóng Việt Nam của Nguyễn Sáng và nhiều người khác, do BEHETO biên tập, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, Kawamoto Kunie dịch, Trận tuyến đặc biệt của Khánh Vân, Miura Kazuo dịch, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi,  Áo trắng của Nguyễn Văn Bổng đều do Takano Isao dịch, Về làng của Phan Tứ, Chiếc lược ngà của Nguyễn Sáng, Đôi bạn  của Lê Văn Thảo,  X30 phá lưới của Đặng Thanh đều do Higuma Masumi dịch .v.v. và v.v. (Xin xem Phụ lục ở cuối bài).

Nếu đọc kỹ hơn vào các tác phẩm trên, có thể thấy các nhà văn Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng (lúc bấy giờ lấy bút danh là Nguyễn Sáng), Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc được dịch nhiều nhất, từ 2 cho đến 6, 7 tác phẩm, cả truyện ngắn và tiểu thuyết. Các tác giả ở miền Bắc được dịch ít hơn, trong đó Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Hồng, Hữu Mai được dịch nhiều nhất. Riêng thơ Hồ Chí Minh thì được giới thiệu có vẻ đầy đủ hơn cả.

Về dịch giả, tôi đặc biệt có ấn tượng về một số dịch giả sau đây:

Nhóm phụ nữ Hội Esperanto ở Kanazawa, như tên gọi cho thấy họ không biết tiếng Việt, nhưng đã cố gắng dịch 2 tuyển tập văn học kháng chiến Việt Nam từ Quốc tế ngữ (Esperanto).

Dịch giả dịch nhiều nhất trong giai đoạn này là Higuma Matsumi, ông đã dịch ít nhất là 8 quyển sách độc lập của Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Chu Văn, Phan Tứ, Nguyễn Sáng, Lê Văn Thảo, Đặng Thanh. Sách đều do Shinnihon và Shinkyo xuất bản từ 1981 đến 1983.

Kawamoto Kunie là một học giả được biết đến nhiều ở Việt Nam do công trình nghiên cứu rất công phu của ông về một kiệt tác của văn học cổ điển Việt Nam có tên là Truyền kỳ mạn lục san bản khảo, Đại học Keio xuất bản, 1998, cùng với bài viết của ông về vấn đề đó trên Tạp chí Văn học số 6 năm 1996. Ít ai biết ông còn là tác giả và dịch giả nhiều công trình khác về văn học Việt Nam rất có giá trị như: Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu, dịch chung với Nagaoka Shinjiro, Đông dương văn khố 73, Heibonsha xuất bản lần đầu năm 1966, đến năm 1981 tái bản đến lần thứ 8; Việt Nam-Thơ và sử; Hồ Chí Minh-Thơ và nhật ký; Lời chứng của các tù chính trị Miền Nam Việt Nam. Về dịch văn học Việt Nam hiện đại, ông là người người dịch cuốn hồi ký nổi tiếng: Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, bản dịch tiếng Nhật lên đến 4 tập, trở thành bản dịch đồ sộ nhất về văn học Việt Nam, sách do Shinnihon xuất bản, lần đầu in đúng 30 tháng 4 năm 1976. Sách bán rất chạy, nên chỉ 5 tháng sau (9/1976) đã phải tái bản đến lần thứ 3.  

Trong số các dịch giả kể trên, người Việt Nam cũng quen thuộc cái tên Takano, nhưng qua một bài hát rất được yêu thích về anh : “Takano, nhân chứng quả cảm”, có lẽ bây giờ cũng còn rất nhiều người thuộc bài này :

          Xin hát về người con của tuyết trắng Fuji hùng vĩ

          Anh đến với quê tôi trong những ngày lửa khói

          Tâm hồn anh tươi sáng như hoa anh đào mới nở…

Anh hy sinh ở Lạng Sơn năm 1979, là nhà báo nước ngoài duy nhất hy sinh trong cuộc chiến này. Chuyện đúng sai hay dở của lịch sử thì thời gian đã phán xét, nhưng mặc cho cuộc chiến ấy thế nào, người Việt Nam vẫn phải nhớ ơn anh, khi: “Anh đến với quê tôi trong những ngày lửa khói”- những ngày gian nan, vất vả, đói khổ và bị thế giới cô lập. Anh ngã xuống ở Việt Nam để lại vợ con đang ở Nhật Bản. Tìm tài liệu cho bài viết này, tôi mới biết anh là dịch giả của hai tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam kháng chiến: Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Shinnihon xuất bản và Áo trắng của Nguyễn Văn Bổng, Shinnihon xuất bản 1980. Takano tên họ đầy đủ là Takano Isao, sinh năm 1943 ở Kobe, tốt nghiệp Khoa Tiếng Việt, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1971. Năm 1978 anh quay lại Việt Nam với tư cách là phóng viên báo Akahata lấy tài liệu về cuộc chiến biên giới Việt-Trung, hy sinh ngày 7/3/1979  ở Lạng Sơn. Ngoài 2 dịch phẩm trên anh còn để lại tập bản thảo Ngày 7 tháng 3 ở Lạng Sơn, không rõ đã được xuất bản hay chưa. Tình cảm của anh đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam hết sức nồng hậu. Trong bài bạt cho bản dịch Áo trắng anh đã viết những lời rất say mê  như sau:

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày không bao giờ quên được, đó là ngày ghi dấu thắng lợi huy hoàng trong lịch sử đầy nước mắt của dân tộc Việt Nam. Toàn thế giới hướng tai mắt về Việt Nam, theo dõi chiến dịch giải phóng Sài Gòn đầy kịch tính, hoàn thành sự nghiệp vĩ đại giải phóng miền Nam Việt Nam.(…)

 Đề tài của tác phẩm này như tên gọi của nó, là “Áo trắng ”- áo dài trắng, đồng phục của nữ sinh đô thị miền Nam. Nó thể hiện sự trong trắng của người phụ nữ Việt Nam đối với người yêu, sự thuần khiết của người yêu nước đối với Cách mạng, dù có bị đàn áp khốc liệt như thế nào, dù môi trường xung quanh có truỵ  lạc như thế nào, vẫn không bị nhiễm bẩn, vẫn trong trắng, đẹp đẽ, tinh khôi, như là lời ngợi ca thắng lợi của sự khoẻ mạnh và của  lòng yêu nước của thế hệ trẻ.” (7)

Bản dịch hoàn thành vào tháng 6 năm 1976, nhưng đến năm 1980 mới ra mắt được độc giả, còn với dịch giả thì tiếc thay, chưa kịp thấy, và vĩnh viễn không thể thấy được  thấy đứa con tinh thần của mình.

Những bản dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản trước 1975 đều được dịch qua ngôn ngữ trung gian, từ Quốc tế ngữ (Esperanto), từ tiếng Pháp, tiếng Anh…chứ chưa được dịch trực tiếp từ nguyên tác tiếng Việt, phải từ năm 1975 trở đi mới có bản dịch trực tiếp từ nguyên tác. Các dịch giả dịch từ nguyên tác tiếng Việt chủ yếu xuất thân từ một “lò” đào tạo là khoa tiếng Việt của Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, trừ Takano - như đã nói ở trên là học Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khoa tiếng Việt Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo trong giai đoạn đầu dưới sự dìu dắt của GS.Takeuchi Yonosuke, đã âm thầm giới thiệu văn học Việt Nam một cách căn bản, chú trọng tiêu chuẩn nghệ thuật của tác phẩm và tính học thuật đối với bản dịch. Sinh viên Việt Nam học tiếng Nhật chỉ biết GS.Takeuchi là người chủ biên của bộ từ điển “gối đầu giường”: Nhật-Việt và Việt-Nhật tiểu từ diển, chứ ít ai biết ông còn là một dịch giả nổi tiếng. Ông là người Nhật đầu tiên dịch văn học Việt Nam ra tiếng Nhật trực tiếp từ nguyên tác-chữ Nôm cũng như chữ Quốc ngữ Latin. Cuốn sách đầu tiên của ông là một công trình nghiên cứu và dịch thuật hết sức công  phu:  Kim Vân Kiều do một nhà xuất bản rất có tiếng tăm là Kodansha xuất bản năm 1975. Để dịch công trình này, ông đã mất trên dưới 10 năm sưu tầm, so sánh các nguyên tác, các bản phiên âm Nôm, bản dịch Pháp văn như bản Nôm Kim Vân Kiều của Quan Văn Đường tàng bản đầu thế kỷ XX cho đến các bản Pháp văn sau này. Bản dịch Kim Vân Kiều của ông là bản dịch Truyện Kiều thứ hai sau bản dịch của Komatsu Kiyoshi năm 1942 như đã nói ở phần đầu bài viết này. Với bản dịch này GS.Takeuchi dường như cũng đã mở ra học phong cho Khoa tiếng Việt của đại học này là: dịch văn học là phải dịch từ nguyên tác và mỗi một bản dịch đồng thời cũng gần như một công trình nghiên cứu. Ông cùng với những học trò, sau này là cộng sự của ông đã tiến hành việc dịch và giới thiệu văn học Việt Nam với những tác phẩm căn bản theo đúng những tiêu chuẩn nghệ thuật, tiếp nối sự nghiệp dở dang mà Komatsu Kiyoshi và những trí thức Nhật Bản đã từng hẹn ước từ 40 năm trước. Những tác phẩm dưới đây là loại sách đối dịch song ngữ, chủ yếu dùng để giảng dạy, nhưng uy tín của nó vượt ra ngoài khuôn viên đại học, được nhiều người Nhật biết đến. Sách đều do một nhà xuất bản ngữ học là Daigakushorin (Đại học Thư lâm) xuất bản:

Văn học cổ điển có: Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, Takeuchi Yonosuke dịch (1984),  Kim Vân Kiều tân truyện của Nguyễn Du,  Takeuchi Yonosuke dịch (1985), Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Takeuchi Yonosuke dịch (1986)

Văn học cận đại có: Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Takeuchi Yonosuke dịch (1980) Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam của nhiều tác giả, Takeuchi Yonosuke, Kawaguchi Kenichi dịch (1982), Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Takeuchi Yonosuke dịch (1983), Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Takeuchi Yonosuke, Kawaguchi Kenichi dịch (1984), Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam- tiếp theo của nhiều tác giả, Takeuchi Yonosuke, Kawaguchi Kenichi, Imai Akio dịch (1987).

Khuynh hướng dịch văn học Việt Nam theo tiêu chuẩn “thuần văn học” và có tính chất học thuật như trên là khuynh hướng “hàn lâm” của đại học. Khuynh hướng này vẫn được tiếp tục sau đó cho đến nay, và chắc chắn cả sau này nữa - càng ngày càng mạnh, tôi nghĩ như vậy.

3. Dịch văn học Việt Nam từ 1986 đến nay

Từ 1986 trở đi, việc dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản có sự thay đổi quan trọng : các mảng đề tài trở nên đa dạng hơn, trong đó đặc biệt chú trọng đến văn học đương đại (từ sau Đổi mới). Sau thắng lợi của công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đất nước ta trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn với sự suy sụp về kinh tế, tình hình biên giới Việt –Trung căng thẳng, cuộc chiến sa lầy ở Campuchia, bị Mỹ cấm vận và thế giới cô lập, nạn “thuyền nhân” bi thảm, việc đóng cửa với thế giới bên ngoài (trừ phe Đông Âu sắp sụp đổ)…làm cho câu chuyện vinh quang thời kháng chiến càng ngày càng nhạt đi. Điều ấy lý giải tại sao từ sau đợt sách của Shinnihon phát hành về văn học Việt Nam kháng chiến (đã được dịch trước sau 1975), thì mảng đề tài này hầu như không được tiếp tục nữa. Người ta đang chờ đợi những thay đổi tích cực diễn ra ở đất nước này. Sau những năm tháng vật vã hoài thai, cuối cùng thì công cuộc Đổi mới được Đảng phát động, đến năm 1989, tình hình thế giới thuận lợi hơn, công cuộc Đổi mới càng khẳng định một cách vững vàng. Điều đáng trân trọng là ngay cả trong tình hình khó khăn như vậy, nhưng giới trí thức Nhật Bản vẫn không dịch một tác phẩm văn học nào chống lại nhà nước Việt Nam, mặc dù những loại sách phản động với tư liệu thật có, giả có xuất hiện nhan nhản. Dịch giả Nhật Bản theo dõi công cuộc Đổi mới, chia xẻ những suy nghĩ của chúng ta, lo âu trước những tệ nạn và trì trệ, vui mừng trước những thành quả Đổi mới đánh dấu một nước Việt Nam mới ra đời.

Không kể loại sách viết về Việt Nam, chỉ riêng loại sách dịch văn học Việt Nam, chúng ta cũng thấy điều ấy. Tính đa dạng của các sách dịch có thể thấy qua những mảng sau :

-        Sách văn học “cổ điển” có tính chất học thuật (“cổ điển” hiểu theo nghĩa rộng là những sách có giá trị xuất hiện đã lâu): Sách của Daigakushorin (những sách xuất bản sau 1986 đã kể ở trên), Gánh hàng hoa của Khái Hưng và Nhất Linh, Katayama Sumiko dịch, Nắng trong vườn- Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam, Kawaguchi Kenichi dịch, Biến đổi (truyện ngắn) của Khái Hưng, Kawaguchi Kenichi dịch…

-        Văn học dân gian: Truyện cổ thế giới, tập 19: Việt Nam, Yoshikawa Toshiharu,  Tomita Kenji dịch, Truyện cổ Việt Nam, Tomita Kenji dịch

-        Văn học kháng chiến: Hòn đất của Anh Đức, Tomita Kenji dịch

-        Văn học đương đại (từ Đổi mới cho đến nay): Đây là mảng sách chiếm số lượng nhiều nhất, xin chỉ liệt kê một số : Truyện như đùa của Mai Ngữ, Kato Sakae dịch, Ánh sao băng, tập truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương và những người khác, Kato Sakae dịch, Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, Kato Sakae dịch, Những thiên đường mù của Dương thu Hương, Kato Sakae dịch, Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng, Kato Sakae dịch, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam của nhiều tác giả như : Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Thu Huệ…, Kato Sakae dịch, Thời xa vắng của Lê Lựu, Kato Norio dịch, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, có 2 bản dịch, một của Ikawa Kazuhisa, một của Okawa Hitoshi .v.v.

Tổng kết một cách khách quan, trong số văn học đương đại được dịch ra tiếng Nhật thì các tác giả : Ma Văn Kháng, Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Mai Ngữ được dịch nhiều. Điều này cho thấy cách đánh giá của các dịch giả Nhật Bản cũng không giống với cách đánh giá ở Việt Nam.

Tác phẩm gây được dư luận rộng rãi nhất là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Trừ Truyện Kiều cho đến nay có 4 bản dịch thì chỉ có thơ Hồ Chí Minh và  Nỗi buồn chiến tranh có có 2 bản dịch mà thôi. Người dịch Nỗi buồn chiến tranh đầu tiên là Ikawa Kazuhiki, dịch từ bản tiếng Anh, do Merukumaru xuất bản năm 1997. Ikawa từng 2 lần đến Việt Nam với tư cách là phóng viên chiến trường của báo Asahi, lần đầu ở Sài Gòn vào đầu những năm 1970, lần sau ở Hà Nội vào đầu những năm 1990, tổng cộng khoảng 7 năm. Như ông viết trong lời bạt quyển truyện Gió hỡi, Việt Nam (đã dẫn một đoạn ở đầu bài viết này): “Việt Nam là đất nước có duyên nợ máu thịt đối với tôi”. Có lẽ vì vậy bản dịch Nỗi buồn chiến tranh của ông được độc giả đánh giá là rất cuốn hút, rất có hồn. Hiện nay ông giáo sư thỉnh giảng ở nhiều đại học như Trường Báo chí Nhật Bản, Đại học Shochi, Đại học Kinh tế và Pháp luật Osaka, Đại học Waseda, chuyên về lịch sử và giao lưu văn hoá châu Á. Tuy nhiên vì dịch từ bản tiếng Anh và có lẽ bản thân ông khi dịch cũng diễn giải viết thêm vào khá nhiều, nên ông Okawa Hitoshi (làm việc ở Trung tâm Xúc tiến Định cư cho Người tị nạn Đông Dương) không bằng lòng với bản dịch ấy, đã dịch lại từ bản tiếng Việt với nhan đề khác: Ai wa tatakai no kanata e (Tình yêu đến phía xa chiến tranh, có lẽ lấy ý từ nhan đề Thân phận tình yêu, một tên gọi khác của tiểu thuyết này), Yu Taimu xuất bản, 1999, sau đó ông Okawa viết một bài chỉ trích bản dịch của ông Ikawa. Cuộc tranh luận giữa hai dịch giả hết sức căng thẳng, tới mức phải đưa ra pháp luật.

Trong số các dịch giả dịch văn học Việt Nam đương đại, thì nữ sĩ Kato Sakae là người có nhiều đóng góp nhất. Chị đã dịch ít nhất là 6 tập truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam cùng nhiều truyện đăng ở các tạp chí. Chị Kato Sakae tốt nghiệp ngành tiếng Việt Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, hiện là giảng viên thỉnh giảng ở Đại học Tokyo, là nhà nghiên cứu và dịch thuật văn học Việt Nam nổi tiếng. Phu quân của chị - anh Kato Norio cũng là một dịch giả dịch văn học Việt Nam có tên tuổi (dịch Thời xa vắng của Lê Lựu). Bản dịch được xuất bản gần đây  nhất của chị là tiểu thuyết Chim én bay của Nguyễn Chí Huân, Terainku xuất bản năm 2002.

Ở Nhật Bản việc dịch và giới thiệu văn học Việt Nam gần như đều tập trung ở Tokyo. Ngoài Tokyo thì ở Osaka có GS.Tomita Kenji (Trường Đại học Ngoại ngữ Osaka). Trường này là nơi có cơ sở giảng dạy, nghiên cứu  ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam lớn thứ hai ở Nhật Bản sau Đại học Ngoại ngữ Tokyo. GS.Tomita cũng xuất thân từ Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, về việc dịch văn học Việt Nam ông có khuynh hướng thiên về văn học dân gian. Tập truyện cổ Việt Nam đầu tiên của ông (dịch chung) được xuất bản năm 1986, tập thứ hai xuất bản năm 1991. Ngoài văn học dân gian, ông còn dịch tiểu thuyết Hòn đất của Anh Đức (bản tiếng Nhật có tên là Hondat dôkutsu no yoake / Bình minh trong hang Hòn Đất), Hataka shoten xuất bản năm 1992, sách in ở Đài Loan.

Khách quan mà nói, sách dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản hiện nay không được quan tâm rộng rãi bằng thời “Chiến tranh Việt Nam” và vài năm sau Giải phóng. Trước kia có những cuốn trong vòng một năm được tái bản đến lần thứ 6, hay 5 tháng mà tái bản đến lần thứ 3. Nói chung hiện nay thì văn học Đông Nam Á thường có ít độc giả., vì thế mà những người quan tâm đến văn học Đông Nam Á nói chung và văn học Việt Nam nói riêng phải tổ chức những tập san riêng, lưu hành trong phạm vi hạn chế. Đó là trường hợp  tập san Văn học Đông Nam Á (Tonanajia bungaku) của Hội Văn học Đông Nam Á biên soạn, trung tâm của  Hội là ở Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo. Qua khoảng 10 số, người ta thấy văn học việt Nam được giới thiệu khá căn bản và mang đậm tính học thuật. Về văn học cận đại, có dịch một số truyện của Nhất Linh, Khái Hưng…Về phê bình văn học, có dịch  những bài xung quanh cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh” của Hải Triều, Hoài Thanh, Thiếu Sơn, một số bài bàn về nghệ thuật tiểu thuyết của Thạch Lam. Những bài trên đều do GS.Kawaguchi Kenichi dịch. Ngoài ra còn thấy một số bài dịch xung quanh vấn đề chủ nghĩa hiện đại trong văn học, như về Nhóm Xuân Thu Nhã Tập trước 1945, rồi Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện ở Sài Gòn trước 1975. Những bài dịch này là của nhà nghiên cứu và dịch thuật trẻ Nohira Munehiro. Anh Nohira tốt nghiệp ngành tiếng Việt Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, hiện đang làm tiến sĩ ở trường này. Anh từng có bài viết về Xuân Thu Nhã Tập đăng trên Tạp chí Văn học (Viện Văn học ở Hà Nội) với nhiều kiến giải mới mẻ, độc đáo. Gần đây anh có dịch một truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh in trong sách Lời mời gọi vào văn học Đông Nam Á, Dandansha xuất bản năm 2001.

Người có công lớn trong việc nghiên cứu, giới thiệu và dịch văn học Việt Nam ở Nhật Bản là GS.Kawaguchi Kenichi (Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo). Đóng góp lớn nhất của ông là ở phương diện nghiên cứu. Ông đã có hàng chục đầu sách viết chung và viết riêng giới thiệu về văn học Việt Nam, đáng chú ý là: Để hiểu rõ hơn về Việt Nam, Lời mời gọi vào văn học Đông Nam Á, đồng thời ông cũng là một trong những người sáng lập ra tờ tạp chí Văn học Đông Nam Á (Tonanajia bungaku) của Hội Văn học Đông Nam Á, trong đó có nhiều bài dịch về văn học Việt Nam rất có giá trị, như đã nói ở trên. Về phương diện dịch thuật, cuốn sách đầu tiên của ông là Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam (dịch chung), xuất bản 1982, sau đó là những cuốn: Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng (dịch chung), Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam – tiếp theo (dịch chung), những sách trên đều nằm trong tùng thư về văn học Việt Nam của NXB.Daigakushorin. Cuốn sách dịch gần đây nhất của ông là Nắng trong vườn – Tuyển tập Thạch Lam, Daidôseimei xuất bản 2000. Như nhan đề chúng ta đã thấy, đây không phải là bản dịch tập Nắng trong vườn của Thạch Lam mà là tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam, rút từ cả 3 tập truyện ngắn của ông: Gió đầu mùa, Nắng trong vườn Sợi tóc. Về phương diện dịch văn học Việt Nam, ông là người tiếp tục khuynh hướng coi trọng những giá trị nghệ thuật của tác phẩm và có yêu cầu học thuật cao đối với bản dịch. Mỗi bản dịch của ông đều khảo cứu nhiều bản khác nhau, trong đó việc sử dụng tư liệu gốc gần như là một yêu cầu bắt buộc (như trường hợp ông dịch Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam…đều từ những bản in trước 1945). Cho nên có thể nói mỗi một bản dịch của ông cũng gần như một công trình nghiên cứu. Đây là một học phong có tính “hàn lâm”, là một truyền thống được mở ra từ nhà văn Komatsu Kiyoshi, tiếp tục định hình rõ hơn với GS.Takeuchi Yonosuke và sau đó GS.Kawaguchi Kenichi là người đang tiếp tục nêu cao nó.

Văn học Việt Nam gần đây có vẻ như đang chững lại. Những nhà văn có tiềm lực vẫn đang suy nghĩ và hối hả viết mà chưa cho ra mắt độc giả. Những nhà văn công huân một thời đang chuyển dần vào chiêm nghiệm bằng hồi ký hay một loại tiểu thuyết tương tự như vậy. Một thế hệ nhà văn mới của nước Việt Nam mới vẫn chưa thực sự ra đời. Chúng ta hy vọng, cùng với một nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng và văn minh ra đời, chúng ta sẽ có nhiều tác phẩm có giá trị văn học mang tính phổ biến trên thế giới (chứ không phải là những giá trị biệt lập chỉ mình ta tự công nhận và đề cao với nhau), và trong tủ sách của làng văn học thế giới, trong đó có Nhật Bản, tiếp tục có những pho sách quý của văn học Việt Nam.

Tokyo 8/ 2003

 

CHÚ THÍCH                       

** Viết bài này, chúng tôi được GS.Kawaguchi Kenichi ở Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo cho mượn nhiều tài liệu có liên quan, đồng thời Giáo sư cũng có một bài viết rất công phu về văn học Việt Nam ở Nhật Bản (xem Chú thích 5 ở dưới) mà chúng tôi sử dụng khá nhiều trong bài viết này. Nhân đây xin chân thành cảm ơn Giáo sư.

(1) Nguyên văn dùng chữ omiya / cung : miếu / đền thờ thần đạo

(2) Lời bạt cho tiểu thuyết Kazeyo Vetonamu (Gió hỡi, Việt Nam) của nữ văn sĩ Hiraiwa Yumie, Shinchosha xuất bản, Tokyo, 2003

(3) Điển hình như tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ do Phan Chu Trinh dịch.  

(4) Lời người dịch ở cuối Kim Vân Kiều  của Nguyễn Du, Komatsu Kiyoshi dịch, Toho hakkosho, phát hành ngày 7 tháng 10 năm 1942 (Showa 17), các tư liệu dưới đây về bản dịch này cũng đều căn cứ vào bài viết ấy.

(5), (6) Kawaguchi Kenichi : “Văn học Việt Nam” trong sách Một trăm năm phiên dịch : Văn học nước ngoài và Nhật Bản cận đại, (Honyaku hyakunen: Gaikoku bungaku to Nihon no kindai),  Hara Takuya, Nishinaga Yoshinari chủ biên, Daishùkan shoten xuất bản, Tokyo, 2000

(7) Áo trắng, Nguyễn Văn Bổng, Takano Isao dịch, Shinnihon xuất bản, 1980

 

 

 

DANH MỤC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM

DỊCH SANG TIẾNG NHẬT

(tác phẩm tiêu biểu)

 

STT

TÁC GIẢ

TÁC PHẨM

NHAN ĐỀ TIẾNG NHẬT

NGƯỜI DỊCH

NXB,  NĂM XB

TRƯỚC 1945

1

Nguyễn Du

Kim Vân Kiều

金雲翹

Komatsu

Kiyoshi

Toho, 1942

2

Nguyễn Tiến Lãng

Truyện cổ An Nam

安南草話

Fukao Sumako

Kaiseisha,

1942

3

Trịnh Thục Oanh

Lòng nhiệt tình của người An Nam

安南の情熱

Oku Yoshiaki

Muroto shobo, 1942

1945 - 1985

4

Tô Hoài, Xuân Thiều và những người khác

Truyện Tây Bắc

西北地方物語

Hirota Shigemichi, Okubo Akio

Shin Nihon, 1962 và 1975

5

Phan Tứ và nh.ng.kh

Trong khói lửa

(tập truyện ngắn miền Nam VN)

炎の中で

Kurita Kimiaki

Toho, 1967

6

Nguyễn Công Hoan

Bước dường cùng

袋小路

Kurita Kimiaki,  Ide Oto

Kashiwa shobo, 1967

7

 

Truyện dân gian Việt Nam

ベトナム民話

Ikeda Yoshinae

Sanseido shoten, 1968

8

 

Truyện dân gian Việt Nam

ベトナム民話

Hoshino Katsuo

Asahi shimbunsha, 1969

9

Nhiều tác giả

Viết trong khói lửa

炎の記録

Watanabe Akira

Yashio, 1969

10

Hồ Chí Minh

Ngục trung nhật ký

獄中日記

Akiyoshi Kukio

Iidzuka shoten, 1969

11

Nhiều tác giả

Việt Nam thi tập

ベトナム詩集

Oshima Hiromi

Iidzuka shoten, 1974

12

Nhiều tác giả

Tiếng sáo trúc

竹笛

Nhóm phụ nữ Hội Esperanto Kanazawa

1974

13

Nguyễn Du

Kim Vân Kiều

金雲翹

Takeuchi Yonosuke

Kodansha, 1975

14

Nhiều tác giả

Tiệm đồng hồ ở Điện Biên Phủ

デイエン・ビエン・フーの時計屋

Nhóm phụ nữ Hội Esperanto Kanazawa

1975

15

Hữu Mai

Cao điểm cuối cùng

最後の高地

Kurita Kimiaki

Toho, 1975

16

Nguyên Ngọc

Đất nước đứng lên

不敗の村

(Làng không bao giờ thua)

Ikegami Hideo

Shin Nihon, 1975

17

Nguyễn Sáng và nh.ng.kh

Văn học giải phóng Việt Nam

ベトナム解放文学

Tổ chức Beheito biên tâp

Suzusawa shoten, 1976

18

Nhiều tác giả

Việt Nam-thơ và lịch sử

ベトナム詩と歴史

Kawamoto Kunie

?

19

Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh-thơ và nhật ký

ホーチミン詩と日記

Kawamoto Kunie

?

20

Nguyễn Đức Thuận

Bất khuất

不屈 

(4 tập)

Kawamoto Kunie

ShinNihon, 1976

21

Khánh Vân

Trận tuyến đặc biệt

敵の奥ふかく(Vào sâu trong lòng địch)

Miura Kazuo

ShinNihon, 1978

22

 

Truyện dân gian thế giới-22: Việt Nam…

世界の民話

Kozawa Toshio

Gyôsei, 1979

23

 

Tập truyện dân gian Việt Nam

ベトナム民話集

Yano Yubiko

Shakai shisosha, 1979

24

 

Truyện dân gian Việt Nam

ベトナム民話

Yamashita Kinichi

Dainihon ega,

1980

25

 

Truyện cổ Việt Nam-dịch từ nguyên ngữ

原語訳ベトナムの昔話

Inada Kôji,

Tanimoto Naofumi

Dômeisha, 1980

26

 

Truyện dân gian thế giới-12: Việt Nam…

世界の民話

 

Kenshu, 1980

27

Nguyễn Thi

Người mẹ cầm súng

母さんはおるす

Takano Isao

ShinNihon, năm ?

28

Nguyễn Văn Bổng

Áo trắng

白い服

Takano Isao

ShinNihon, 1980

29

Nguyễn Huy Tưởng

Cha và con (?)

父子

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

30

Nguyên Hồng

Tiếng kêu

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

31

Chu Văn

Con trâu bạc  

白い水牛

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

32

Nguyễn Đình Thi

Đại đội trưởng Còm

中隊長コム

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

33

Phan Tứ

Về làng

村へ帰る

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

34

Nguyễn Sáng

Chiếc lược ngà

象牙の櫛

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

35

Lê Văn Thảo

Đôi bạn

二人の戦友

Higuma Masumi

ShinNihon, 1981

36

Đặng Thanh

X30 phá lưới

ベトナムのスパイ X三0

Higuma Masumi

Shinkyô, 1983

37

Hoàng Ngọc Phách

Tố Tâm

ト・タム

Takeuchi Yonosuke

Daigaku shorin, 1980

38

Nhiều tác giả

Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam

ベトナム短篇小説選

Takeuchi Yonosuke, Kawaguchi Kenichi

Daigaku shorin, 1982

39

Nhất Linh

Đoạn tuyệt

断絶

Takeuchi Yonosuke

Daigaku shorin, 1983

40

Khái Hưng

Hồn bướm mơ tiên

蝶魂仙夢

Takeuchi Yonosuke, Kawaguchi Kenichi

Daigaku shorin, 1984

41

Đoàn Thị Điểm

Chinh phụ ngâm khúc

征婦吟曲

Takeuchi Yonosuke

Daigaku shorin, 1984

42

Nguyễn Du

Kim Vân Kiều tân truyện

金雲翹新伝

Takeuchi Yonosuke

Daigaku shorin, 1985

1986 – HIỆN NAY

43

 

Truyện cổ thế giới-19: Việt Nam…

世界の昔話

Yoshikawa Toshiharu, Tomita Kenji

Komine shoten, 1986

44

Nguyễn Đình Chiểu

Lục Vân Tiên

陸雲仙

Takeuchi Yonosuke

Daigaku shorin, 1986

45

Nhiều tác giả

Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam ( tiếp theo)

続ベトナム短篇小説選

Takeuchi Yonosuke, Kawaguchi Kenichi, Imai Akio

Daigaku shorin, 1987

46

Mai Ngữ

Truyện như đùa

冗談みたい話

Kato Sakae

Shueisha,

1988

47

Dương Thu Hương và nh.ng.kh

Ánh sao băng

流れ星の光

Kato Sakae

Shinjuku shobo, 1988

48

Nguyễn Minh Châu

Bức tranh

Kato Sakae

Waseda Bungaku, số tháng 10/1989

49

Trần Thuỳ Mai

Cái quạt (?)

扇風機

Kato Sakae

Fujin no Tomodachi, số tháng 10/1990

50

Thái Bá Tân

Những nàng áo trắng (?)

白い服の娘たち

Kato Sakae

Fujin no Tomodachi, số tháng 11/1990

51

Ma Văn Kháng

Mẹ và con

母と子

Kato Sakae

Fujin no Tomodachi, số tháng 12/1990

52

 

Truyện cổ Việt Nam

ベトナムむかし話

Tomita Kenji

Kaiseisha,

1991

53

Anh Đức

Hòn Đất

ホンダット洞窟の夜明け(Bình minh trong hang Hòn Đất)

Tomita Kenji

Hotaka shoten, 1992

54

Ma Văn Kháng

Mưa mùa hạ

夏の雨

Kato Sakae

Shinjuku shobo, 1992

55

Dương Thu Hương

Những thiên đường mù

虚構の楽園

(Thiên đường tưởng tượng)

Kato Sakae

Dandansha, 1994

56

Nhiều tác giả

Tập truyện ngắn hiện đại Việt Nam

ベトナム現代短篇集

Kato Sakae

Daidô Seimei Kokusai Bunka Kikin, 1995

57

Nguyễn Thị Ấm

Người hát rong (?)

盲目の歌手

Kato Sakae

Ajia Bungaku, số 1/1996

58

Khái Hưng và Nhất Linh

Gánh hàng hoa

花を担いで

Katayama Sumiko

Hotaka shoten, 1996

59

Bảo Ninh

Nỗi buồn chiến tranh

戦争の悲しみ

Ikawa Kazuhisa

Merukuma-ru, 1997

60

Bảo Ninh

Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu)

愛は戦いの彼方へ

Okawa Hitoshi

Yu Taimu, 1999

61

Nguyễn Thị Thu Huệ

Phù thuỷ

魔術師

Kato Sakae

Kinokuniya shoten, 1997

62

Nguyễn Thị Thu Huệ

Minu xinh đẹp

可愛いミヌー「アジア理解講座 ベトナム文学を味わう」

Kato Sakae

Kokusai Bunryu Kikin, Asia Center, 1998

63

Xuân Thiều

Truyền thuyết Quán Tiên

クワンテイエンの伝説「アジア理解講座 ベトナム文学を味わう」

Kato Sakae

Kokusai Bunryu Kikin, Asia Center, 1998

64

 Lựu

Thời xa vắng

はるか遠い日

Kato Norio

Mekon, 2000

65

Thạch Lam

Nắng trong vườn – Tuyển tập Thạch Lam

タック・ラム作品集・農園の日差し

Kawaguchi Kenichi

Daidô Seimei Kokusai Bunka Kikin, 2000

66

Lê Minh Khuê

Anh lính Tony D.

米兵トニー.D

Kato Sakae

Minshu bungaku, số tháng 1/2001

67

Võ Thị Xuân Hà

Cây bồ kết nở hoa

サイカチの花が咲く頃

Kato Sakae

Minshu bungaku, số tháng 6/2001

68

Khái Hưng, Phan Thi Vàng Anh và nh.ng.kh

Biến đổi, Một ngày trong năm  (trong Lời mời gọi vào văn học Đông Nam Á)

変化、年に一度だけの日「東南アジア文学への招待」

Kawaguchi Kenichi,

Nohira Munehiro…

Dandansha, 2001

69

Nguyễn Chí Huân

Chim én bay

ツバメ飛ぶ

Kato Sakae

Terainku, 2002

 

 

 

Các nhà tài trợ

 _logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Thành viên trực tuyến

Hiện có 3169 khách Trực tuyến

Cùng một tác giả