Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Research Vietnamese Literature Cái chết của tác giả (tiểu thuyết lịch sử)?

Cái chết của tác giả (tiểu thuyết lịch sử)?

E-mail Print
There are no translations available.

Những vấn đề nhân đọc Hoàng Việt xuân thu 皇越春秋

(Kính tặng Gs. Trần Nghiã)

Vận dụng lý luận về tiểu thuyết lịch sử vào nghiên cứu mảng tác phẩm này ở Việt Nam vẫn là một đòi hỏi thiết yếu hiện nay.  Nhiều vấn đề của tiểu thuyết lịch sử cần được thảo luận qua các phẩm cụ thể – ví như liều lượng cho phép giữa “sự thực” và “hư cấu”, biên độ sáng tạo khả thủ của tác giả, tư liệu được sử dụng để phục dựng lịch sử trong khuôn khổ tiểu thuyết, cũng như động cơ và nhãn quan lịch sử – chính trị của người viết. Tham luận này khảo nghiệm các vấn đề trên qua trường hợp bộ tiểu thuyết Hán văn Hoàng Việt xuân thu 皇越春秋 (hay Việt Lam xuân thu 越藍春秋).  Do khuyết danh và niên đại không rõ, Hoàng Việt xuân thu (HVXT) là một bài toán khó dung nạp nhiều đáp án.  Giả định một tác giả (hay đồng tác giả) nào đó cũng đồng thời đòi hỏi phải tái hiện một bối cảnh lịch sử – chính trị, xã hội – văn hóa  hình thành nên (đồng) tác giả ấy. Về phía người đọc – người nghiên cứu, một khi đã chấp nhận (đồng) tác giả giả định nọ, tất sẽ có những ý kiến nhận định đa chiều về tác giả và tác phẩm thay đổi tùy thuộc vào tư liệu khả dụng, khả kiến, và theo lập trường tư tưởng của họ. Tham luận xem xét tỷ lệ “thực” và “hư,” xác lập nguồn sử liệu của “thực,” đoán định cơ sở lịch sử của “hư,” từ đó phác thảo nhãn quan lịch sử của tác giả. Tham luận cũng lược luận các nhận định, phẩm bình HVXT của các học giả Việt Nam và Trung Quốc để thấy vai trò của người đọc trong quá trình tái sáng tạo ý nghiã lịch sử của tác phẩm.  

  

Câu chuyện văn bản, tác giả và thời điểm sáng tác

Theo thống kê của Gs. Trần Nghĩa, hiện có 12 dị bản Hoàng Việt xuân thu (hay Việt Lam tiểu sử / xuân thu).[i]  Tuy khảo sát văn bản không phải là trọng tâm của bài viết này, một khảo sát sơ bộ các dị bản hiện tồn sẽ giúp đoán định rõ hơn thời điểm sáng tác của tác phẩm và tác giả của nó; trên cơ sở đó, nhận định lại các diễn giải đã có về tác phẩm này.   

 

Đầu tiên có thể tìm hiểu các bản chép tay chiếm đa số trong tổng thể dị bản. Khi hiệu khám Hoàng Việt xuân thu, học giả Đài Loan Hứa Minh Thương không hề được tiếp xúc với bản in (mạt kiến khan bản 末見 刊本) mà chỉ đọc được các bản chép tay, bao gồm: (1) Bản H.M. 2184, bộ sưu tập Maspéro, Thư viện Hiệp hội Á châu, Paris; (2) Bản A 3215, Viện nghiên cứu Hán Nôm;  (3) Bản “Tân thư viện”, được chụp và in cùng với bản dịch của Phương Phủ Nguyễn Hữu Quỳ[ii]; và (4) Bản A 69, Thư viện quốc gia, Paris.[iii]  Các bản thủ sao này đều có tên là Hoàng Việt xuân thu, mở đầu với bài “Truyện tự 傳敍” bằng thơ “tứ tự” – 16 câu, nhưng không có bài tựa của Mục Đình Lê Hoan, và không cung cấp bất kỳ một hiệu chỉ nào về thời điểm biên soạn của tác phẩm.  Trong “Giới thiệu văn bản”, Gs. Trần Nghĩa có liệt kê một số bản chép tay khác như A. 13, VHv. 1683, VHv. 2085 (lưu trữ tại Viện Hán-Nôm), HV. 141 (Viện Sử học), R. 451 (Thư viện quốc gia – Hà Nội).[iv]  Đáng chú ý là căn cứ vào cách phân quyển, đại thể có thể chia tất cả các bản chép tay trên đây thành hai nhóm: các bản như HV. 141 và A. 13 phân thành hai quyển thượng (hồi 1-28) và hạ (hồi 29-60)[v]; các bản như H.M. 2184 (được Hứa Minh Thương dùng làm cơ sở, để bản 底本), A. 3215,[vi] R. 451, và “Tân thư viện” chia văn bản làm ba: (hồi 1-20), trung (hồi 21-40), và hạ tập (hồi 41-60).[vii]

 

Dưới nhan đề Việt Lam tiểu sử / xuân thu 越藍小史/ 春秋, bản in duy nhất hiện còn của bộ tiểu thuyết có bài tựa của Lê Hoan đề ngày 1 tháng 10 năm Duy Tân Mậu thân (1908).  Bản này hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học (HV. 84), Đông dương văn khố – Nhật Bản (X-2-35)[viii], Bảo tàng Guimet – Pháp quốc (MG FV. 55732), và Thư viện Viện nghiên cứu Hán-Nôm (VHv. 1819/1-3, thiếu 10 hồi cuối).     

 

Chữ húy là một trong những tiêu chí quan trọng để đoán định niên đại của văn bản.  Dựa trên bản khắc in HV. 84, ngay ở Hồi thứ nhất, Trần Nghĩa đã chỉ ra hiện tượng “tông ” kiêng húy vua Thiệu Trị (Miên Tông) được viết khuyết nét.[ix]  Hiện tượng này cũng xảy ra trong bản chép tay “Tân thư viện”, tuy nhiên nó không phải là nhất quán trong tất cả các văn bản: chẳng hạn, bản Maspéro viết đủ nét và không kiêng húy chữ “tông”.  Ngoài chữ húy “tông”, các văn bản hiện tồn còn kiêng húy chữ “thì ” trong tên vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì): trong khi bản “Tân thư viện” kiêng húy bằng cách chép khuyết nét, bản in 1908 in chữ “thìn ” thay cho “thì”.[x]  Chữ húy trong các trường hợp này chỉ giúp đoán định tương đối thời điểm in – chép của văn bản cụ thể, chứ chưa phải là cứ liệu để xác định thời điểm sáng tác của tác phẩm.

 

Chữ “tông ” kiêng húy (viết khuyết nét) trong bản “Tân thư viện” (trái) và không kiêng húy (viết đủ nét) ở bản Maspéro (phải)

 

Bài tựa của Lê Hoan là nét đặc sắc của bản in, và chính nó đã là cơ sở lý giải cho những tựa đề khác nhau cũng như về thời điểm sáng tác của sách.  Về tựa sách, Thúc Ngọc Trần Văn Giáp giải thích vì sao có hai tiêu đề song hành (Việt Lam tiểu sử và Việt Lam xuân thu) trong bản in 1908: “[C]ó lẽ khi mới làm, tác giả đặt tên là Hoàng Việt xuân thu 皇越春秋, phỏng theo sách Hoàng Lê nhất thống chí 皇黎一統志 của Ngô Thì Du 吳時悠 và Ngô Thì Chí 吳時俧.  Đến khi Lê Hoan sửa lại đem khắc in, mới đổi tên là Việt Lam tiểu sử, nhưng có lẽ nguyên tác giả khi ấy hãy còn sống, vẫn tiếc cái tên sách Việt Lam xuân thu của mình, có ý nghĩa hơn, cho nên mặt sách vẫn đề Việt Lam xuân thu mà trong sách và rốn sách thì đề Việt Lam tiểu sử để lấy lòng Lê Hoan.”[xi]  Giả thuyết của Thúc Ngọc thực có giá trị gợi mở cho những thảo luận tiếp theo.  Thành công của Hoàng Lê nhất thống chí thường tạo nên những liên tưởng đến nó như điểm tham chiếu mỗi khi thảo luận về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời cổ – cận đại.  Tuy nhiên, tựa sách Hoàng Việt xuân thu không nhất thiết đã được phủ dưới bóng của Hoàng Lê nhất thống chí.  “Hoàng Việt” là danh xưng phổ dụng trong nhiều văn bản, ví như ở văn bia đề danh tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), hay ở bài “Tự dẫn” của Gia Cát thị đề năm Cảnh Hưng Giáp Ngọ (1774) trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập.  Đặc biệt danh xưng “Hoàng Việt” càng được sử dụng phổ biến trong các tựa sách được biên soạn hay khắc in dưới triều Nguyễn.[xii]  Như vậy, có thể tiến đến một giả thuyết khác: tựa đề Hoàng Việt xuân thu không lấy cảm hứng trực tiếp từ Hoàng Lê nhất thống chí, mà thuộc về “lưu phái” Hoàng Việt của các tác phẩm biên soạn dưới triều Nguyễn, hồi cố về di sản lịch sử dân tộc.

 

Cũng trong phần khảo luận về Việt Lam tiểu sử, Trần Văn Giáp cho biết: “Theo lời truyền lại của các cụ Nho học từ ba mươi năm trước đây, sách Việt Lam xuân thu mới soạn khoảng cuối thế kỷ XIX, vào thời Kiến Phúc Đồng Khánh, của một tập đoàn theo triều đình Huế và Chính phủ Pháp thực dân do Hoàng Cao Khải tổ chức riêng.”  Ông còn viết thêm: “Riêng sách Việt Lam...tương truyền của Vũ Xuân Mai 武春梅 người phường Xuân Yên, tỉnh Hà Nội, đậu cử nhân khoa Phúc Kiến Giáp Thân (1884), sau làm tri huyện Phúc Thọ (Sơn Tây).  Lời truyền lại này chưa tìm thấy ghi trong sách nào cả, nhưng đọc kỹ bài tựa của Lê Hoan và xem qua nội dung sách, ta cũng có thể đoán định lời truyền ấy có lẽ là đúng, và thời gian xuất hiện sách vào khoảng 1884-1917 là không sai.”[xiii]  Hai đoạn trích dẫn trên có ảnh hưởng rất lớn đối với các nhà nghiên cứu sau này: bản dịch Việt Lam xuân thu (1999) và Từ điển văn học bộ mới (2004) đều theo đó mà thận trọng ghi nhận Vũ Xuân Mai là người biên soạn hay khởi thảo.[xiv]  Thực tế, những điều nêu trên có nhiều điểm cần thảo luận.  Trước hết, tập I của bộ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm được in lần đầu vào năm 1970; nếu lấy đó làm mốc thời gian thì “lời truyền lại của các cụ Nho học từ ba mươi năm trước đây” phải ở vào khoảng những năm 1940, khi cuộc đấu tranh phản phong, bài thực của dân tộc đang trong giai đoạn quyết liệt.  Những lời tương truyền đã có độ gián cách thời gian khá xa so với thời điểm “xuất hiện sách” (giả định là trong khoảng 1884-1917), và hẳn ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của không khí chính trị trong thập niên 1940. 

 

Mặt khác, tác giả của bộ tiểu thuyết này không thể là người cùng thời, quen biết với Lê Hoan, “hãy còn sống” để có thể “tiếc cái tên sách Việt Lam xuân thu của mình” mà đành ghi Việt Lam tiểu sử (tựa đề đặt mới của Lê Hoan) vào rốn sách “để lấy lòng Lê Hoan.”  Trong bài tựa đề ngày mồng 1 tháng 10 năm Duy Tân Mậu Thân (1908), Lê Hoan ghi rõ: “Thời thường sưu tầm cố sự, tạc thủy ư danh gia sử tứ trung, đắc thị thư 辰嘗搜尋故事,昨始於名家史笥中,得是書” (có lúc sưu tầm chuyện xưa, gần đây tìm trong rương sách sử của một nhà danh gia, tìm được tập sách này).  Rõ ràng, ở đây hoàn toàn không có một liên hệ nào giữa Lê Hoan và tác giả tập sách.  Một điểm đáng chú ý khác là sau khi nhuận sắc, chính Lê Hoan là người đưa khắc in lại tập sách này (phó chi kỳ quyết 付之剞劂) và còn ghi rõ địa điểm lưu giữ ván khắc (tàng bản) ở ngay quê ông: thôn Cự Lộc, xã Nhân Mục (làng Mọc), huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.  Do vậy, việc song tồn hai tựa đề Việt Lam xuân thu (trên bìa sách) và Việt Lam tiểu sử (trên rốn sách) có thể đã phản ánh việc hoán cải tựa sách chưa được triệt để, và giá trị ngụ bao biếm, biệt thiện ác 寓褒贬别善恶 của từ xuân thu trong tựa gốc vẫn còn nguyên hiệu lực để tiếp tục xuất hiện trên bìa sách.  Cần nhắc thêm là tuy không có bài tựa của Lê Hoan nhưng cùng có chung tựa đề Hoàng Việt xuân thu, tất cả các bản chép tay hiện còn đều thống nhất với bản in về nội dung, có “phục bút,” “giáp phê,” “giáp bình,” có cả những tài liệu bổ sung như thơ Cảm hoài của Đặng Dung ở cuối hồi 33, hay trích dẫn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi trong hồi 39.  Nếu như tất cả những phụ gia trên là sản phẩm nhuận sắc của Lê Hoan, các bản chép tay này hẳn phải có niên đại muộn hơn (sau năm 1908), và ngoài việc tước bỏ bài tựa của Phú Hoàn nam, các bản này đã hoàn nguyên tựa sách, trả lại tên gọi Hoàng Việt xuân thu cho nó.  Tuy nhiên theo logic phổ quát, bản in thường ra đời và định bản sau bản chép tay; nếu không, sao lại có nhiều người bỏ công sức để sao chép lại bản in đã được phổ biến khá rộng rãi như thế?  Theo luận lý này, bản in 1908 phải xuất hiện sau các bản chép tay Hoàng Việt xuân thu và Việt Lam xuân thu, và cũng theo đó, công lao “nhuận sắc” của Lê Hoan không nhiều lắm, ngoại trừ bài tựa thêm vào sau này.  

 

Cuối cùng, hai đầu mốc thời gian (1884 và 1917) tạo nên một khung linh động cho thời điểm “xuất hiện sách” cũng không thật thuyết phục.  Điểm mốc đầu (1884) chính là năm Vũ Xuân Mai đỗ cử nhân khoa Phúc Kiến Giáp Thân; điểm mốc cuối (1917) không rõ có gốc từ đâu (phải chăng đây là do nhầm lẫn với năm 1908 của bài tựa do Lê Hoan viết?).  Dẫu sao cũng không thể lấy năm Vũ Xuân Mai đậu cử nhân làm mốc đầu, bởi lẽ một tác phẩm có thể được sáng tác trước khi tác giả của nó thành đạt trên đường khoa cử.  Lại càng không thể khi hoàn toàn không có một tư liệu viết nào minh chứng quyền tác giả của Vũ Xuân Mai với bộ tiểu thuyết tương thích với những lời “tương truyền” được Thúc Ngọc Trần Văn Giáp ghi lại.   Tương tự, không thấy một cứ liệu nào chỉ ra liên hệ giữa tác giả (giả định) Vũ Xuân Mai và “tập đoàn theo triều đình Huế và Chính phủ Pháp thực dân” dưới sự chỉ đạo của Hoàng Cao Khải.  Khi bàn về tác giả của sách, Tạ Ngọc Liễn đã có lý khi nhận định rằng “Vũ Xuân Mai có lẽ không phải là người khởi thảo bộ tiểu thuyết lịch sử chương hồi này.”[xv]          

    

(Từ trái sang phải)

(1) Bià sách bản khắc in Việt Lam xuân thu; (2) Trang đầu bài “Việt Lam tiểu sử tự” của Lê Hoan; (3) Thông tin thời gian ghi cuối bài tựa: Duy Tân Mậu Thân niên, thập nguyệt sóc, hiệp biện đại học sĩ Ninh Thái Hải Yên tổng đốc, Phú Hoàn nam Mục Đình Lê Hoan phụng tự (Hiệp biện đại học sĩ Ninh Thái Hải Yên tổng đốc, Phú Hoàn nam Mục Đình Lê Hoan dâng tựa ngày 1 tháng 10 năm Duy Tân Mậu Thân, 1908); (4) Thông tin điạ điểm lưu tàng văn bản: Hà Đông tỉnh, Thanh Trì huyện, An Đình tổng, Nhân Mục môn xã, Cự Lộc, Chính Kinh, nhị thôn đình tàng bản (Tàng bản tại đình hai thôn Cự Lộc, Chính Kinh, xã Nhân Mục, tổng An Đình, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông).

 

Kết quả khảo sát của Trần Nghĩa trên bản dịch Việt Lam xuân thu (phụ đề “Truyện vua Lê Thái Tổ”) của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến xuất bản trong 3 năm (1914-1916)[xvi] cho thấy hai khả năng tạo nên sự khác biệt giữa bản dịch này và bản in duy nhất hiện còn: hoặc là “Nguyễn Đông Châu đã lược dịch bản Việt Lam tiểu sử do Lê Hoan in năm 1908,” hay là ông “đã dựa vào văn bản gốc – văn bản Lê Hoan từng sử dụng để biên tập, nhuận sắc thêm...trước lúc đưa in mà ngày nay đã thất lạc.”[xvii]  Bản dịch của Đông Châu được in làm 7 quyển, có thể đã xuất bản theo phương thức “dịch đến đâu, in đến đó” nhằm đáp ứng yêu cầu của độc giả, và được bán với một giá vừa túi tiền (0$20), không thay đổi trong suốt 3 năm: quyển 1 (1914), quyển 2-6 (1915), và quyển 7 (1916).   Việt Lam xuân thu do Đông Châu dịch cũng gồm đủ 60 hồi: quyển 1 (hồi 1-11), quyển 2 (hồi 12-19), quyển 3 (hồi 20-27), quyển 4 (hồi 28-36), quyển 5 (hồi 37-44), quyển 6 (hồi 45-54), và quyển 7 (hồi 55-60).  Qua “Nhời của người dịch sách” in ở bìa trong quyển 1, người đọc được biết:

 

Nguyên bản chữ nho truyện Việt Lam xuân thu này có đã lâu lắm, không biết đích xác là ai làm, nhưng có nhiều người truyền là của ông Nguyễn Trãi làm ra [sic]. Đến năm Duy Tân Mậu Thân, quan Tổng đốc Hải Dương Phú Hoàn tử Lê tướng công có đề thêm một bài tựa và khắc bản in ra, ai ai cũng được đọc và cũng lấy làm hay lắm.

Chúng tôi thấy sách hay, nên dịch ra quốc âm để chư vị dễ xem, không những là mua vui trong mươi lăm phút đồng hồ, mà ai xem truyện này, lại biết được cả sự tích nước mình.

 

Ngoài việc xác định bản chữ Hán Việt Lam xuân thu “có đã lâu lắm” trước khi được Lê Hoan nhuận sắc, Đông Châu còn cho thấy mức độ phổ biến của bản này trước đây rất hạn chế, chỉ đến sau khi được Lê Hoan đề tựa và cho khắc in lại thì “ai ai cũng được đọc.”  Một trong những điểm khu biệt của bản dịch này với bản in 1908 là sự thiếu vắng của bài “Truyện tự” bằng thơ, phần đối chiếu thời điểm các sự kiện – tình tiết quan trọng trong truyện với niên đại – niên hiệu nhà Minh Trung Quốc, và toàn bộ phần “lưỡng cước chú” (phê ngữ và chú thích).[xviii]  Kết quả khảo sát văn bản công phu của Trần Nghĩa đã giúp phán đoán được dung mạo của một bản Việt Lam xuân thu có trước bản in 1908.  Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu của Gs. Phan Huy Lê (1964) trên bản dịch quốc ngữ này cũng đã góp thêm cứ liệu để khẳng định niên đại triều Nguyễn của nguyên tác Hán văn mà Nguyễn Đông Châu sử dụng.[xix]    

 

(Trái) Trang bìa quyển 1 của bộ tiểu thuyết Việt Lam xuân thu do Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch; (Phải) Trang đầu của Hồi thứ 1

 

Gần đây, việc công bố bản dịch quốc ngữ tộc phả “Gốc tích họ Trần Duyên Hưng” – nguyên do cụ Trần Quang Tiến (Tú Tiến) soạn bằng Hán văn “vào cuối mùa xuân năm Tự Đức thứ 36 (Quý Mùi - 1883)”  – đã giúp thêm tư liệu cho việc thẩm nghiệm niên đại của bộ tiểu thuyết lịch sử đang bàn.    Họ Trần Duyên Hưng nguyên quán ở xã An Giàng, huyện Đại An phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định di cư đến xã Duyên Hưng, tổng Duyên Hưng thượng, huyện Nam Trực sinh cơ lập nghiệp.  Theo tộc phả,

 

Từ trước truyền lại thì họ Trần ta vốn phát tích từ họ Trần Tức Mạc, nhưng không có sổ sách chính xác, đến đời cụ Trần Tuấn Tài tức cụ Huyện Hạo làm tri huyện huyện Vị Xuyên tỉnh Tuyên Quang là cháu sáu đời cụ thuỷ tổ đến làng An Giàng để tìm tôn phái, nhưng sách ghi chép không đủ tin chắc, chỉ chép được các tên huý của các cụ cao cao tổ là Trần Phúc An, cụ bà hiệu là Từ Lâm, cụ cao tổ là Trần Phúc Chinh tức là Phúc tài, cụ bà huý là Quang, sau này được xem hai quyển Hoàng Việt Xuân Thu là dã sử của những quan to mới có.
Quyển một những công việc của nhà Hậu Trần, quyển hai chép những công việc của nhà Lê, lời lẽ giản dị, nội dung chi tiết.[xx]

 

Bản tộc phả đã dựa vào truyện Vũ Duy Dương (tộc phả chép là Trần Cố) và Trần Cảo thích sát Hồ Quý Ly trong Hồi 6 của Hoàng Việt xuân thu để xác định gốc tích của họ tộc.  Theo đó, sau khi thích sát không thành, “Duy Dương bị chết, [Trần Cảo] liền bỏ vợ con chạy sang Lão Qua.  Về sau con cháu nhà Trần còn sót lại ở An Giang là có gốc gác từ đây.”[xxi]  Căn cứ theo Tộc phả, Hoàng Việt xuân thu nguyên được phân làm hai quyển (phù hợp với phân quyển của bản HV. 141 và A. 13 đã miêu tả ở phần trước), và được phổ biến rất hạn hẹp, chỉ “những quan to mới có” (phù hợp với thuật sự của Lê Hoan và ghi nhận của Đông Châu).  Theo Tộc phả, bộ tiểu thuyết này phải được soạn và lưu hành khá lâu trước năm 1883 (năm biên soạn bài tựa).  Cứ liệu này giúp loại trừ quyền tác giả của Vũ Xuân Mai; vai trò của nhân vật huyền thoại này đối với tác phẩm (nếu có) có lẽ chỉ giới hạn trong khuôn khổ người phê hiệu hay nhuận sắc, tương tự như Lê Hoan về sau này.  Cũng từ cứ liệu của Tộc phả có thể thấy bộ tiểu thuyết đã được lưu hành dưới tựa đề Hoàng Việt xuân thu trong một thời gian khá lâu.

 

Với tất cả những những khảo sát văn bản và cứ liệu đã trình bày, có thể giả định quá trình và thời gian biên soạn – nhuận sắc, cùng với những diễn biến của tựa sách.  Được biên soạn khá lâu trước năm 1883, bộ sách có thể đã có nguyên tựa là Hoàng Việt xuân thu thuộc về “lưu phái” Hoàng Việt của các tác phẩm biên soạn dưới triều Nguyễn, hồi cố quá khứ lịch sử dân tộc; sách cũng đồng thời có tên là Việt Lam xuân thu, tựa đề lấy sự kiện khởi nghĩa Lam Sơn làm trọng điểm.  Sau, sách được Vũ Xuân Mai (hoặc một người nào khác) viết “Truyện tự” và phê hiệu.  Dưới tựa đề Hoàng Việt xuân thu và Việt Lam xuân thu (đã có “Truyện tự” và được phê hiệu), bộ sách này được phổ biến rất hạn chế, chỉ những “danh gia” mới có.  Năm 1908, Lê Hoan nhuận sắc Việt Lam xuân thu (bản đã có “Truyện tự” và phê hiệu), viết bài tựa, đổi tựa sách thành Việt Lam tiểu sử, nhưng việc cải sửa này không triệt để vì khi đưa khắc in, tựa sách vẫn là Việt Lam xuân thu.  Trong vòng 3 năm (1914-1916), Đông Châu dịch “cựu bản” Việt Lam xuân thu (bản chưa chưa có “Truyện tự,” phê hiệu và bài tựa của Lê Hoan) ra quốc ngữ.  Đây chỉ là một giả thuyết về quá trình biên soạn, lưu hành, cải biến và nhuận sắc của tác phẩm.  Tuy nhiên có mấy điều có thể khẳng định: tác giả đến nay vẫn là khuyết danh; sách đã được lưu hành hạn chế trước năm 1883; trước khi Lê Hoan nhuận sắc và đề tựa, sách đã được một người nào đó (Vũ Xuân Mai?) viết “Truyện tự” và phê hiệu.  Với một tác giả không rõ, tác phẩm này càng mở ra thêm nhiều cách đọc, mời gọi thêm những diễn giải khác nhau cho nội dung của nó.          

 

Cái chết và sự trở lại của tác giả

Vào cuối thập niên 1960, Roland Barthes (1915-1980) khai tử nhân vật “tác giả” với tiểu luận “La mort de l’auteur” (Cái chết của tác giả).[xxii]  Barthes mở đầu tiểu luận bằng một câu trích từ truyện vừa Sarrasine của Honoré de Balzac (1799-1850).  Ông đặt ra một loạt câu hỏi: Ai đang nói đấy? Phải chăng là nhân vật trong truyện? Phải chăng là cá nhân Balzac?  Phải chăng là tác giả Balzac?  Phải chăng ấy là kiến thức phổ quát?  Là tâm lý lãng mạn?; rồi ông tự lý giải: “Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được bởi lẽ lối viết [écriture] là sự hủy hoại mọi tiếng nói, mọi căn nguyên.  Lối viết là không gian trung tính, phức hợp, và quanh co như thế, nơi chủ thể của chúng ta trượt mất; là âm bản nơi mọi căn tính bị thất lạc, khởi đầu với căn tính của chính nhân thể đang viết.”[xxiii]  Điểm mấu chốt trong lập luận của ông ở đây là sự thay thế Tác Giả (viết hoa) bằng lối viết; ở đây cũng là sự phân biệt căn bản  giữa écriture (lối viết tách khỏi mọi tác nhân, hành vi) và écrire (viết như là hành động của một tác nhân).  Theo Barthes, tiến trình ra đời của xã hội hiện đại đã lắp đặt nhân vật chuyên chế Tác Giả lên lối viết, và nay là lúc khai tử Tác Giả để hoàn trả lối viết lại như nó đã từng tồn tại trước đó.  Lối viết không còn (bị) bắt nguồn từ một nhân vật sinh thành nào đó có trước nó, tức là Tác Giả hay những “thực thể” của Tác Giả (như xã hội, lịch sử, tâm tính, tự do), mà được trả về chốn cũ của nó ở trong ngôn ngữ.  Việc tháo bỏ Tác Giả đồng thời chuyển hóa văn bản hiện đại (texte moderne): văn bản được tạo thành và được đọc trong sự vắng mặt của tác giả.  Trước kia Tác Giả được xem là quá khứ của tập sách của mình: Tác Giả và sách được định vị theo tuyến tính thời gian trước và sau.  Theo đó, Tác Giả nuôi dưỡng sách, tồn tại trước nó, sống cho nó như cha sống cho con.  Thay thế Tác Giả bằng khái niệm người ghi ký hiện đại (scripteur moderne), Barthes trình hiện một tiến trình khác hẳn: người ghi ký hiện đại ra đời cùng lúc – bây giờ và ngay đây – với văn bản, xóa đi phân biệt thời tính trước – sau của Tác Giả và sách.   Lối viết là cái mang tính năng biểu hiện (performatif), là hình thức ngôn từ hãn hữu trong đó phát biểu không có nội dung nào khác hơn là hành vi phát ngôn.  Theo Barthes, “văn bản không phải là một hàng những từ ngữ nhả ra ý nghĩa đơn nhất ‘mang tính thần học’ (‘thông điệp’ của Tác Giả – Thượng Đế), mà là một không gian đa chiều trong đó một loạt các lối viết – không một lối nào độc sáng – hòa trộn và va đập lẫn nhau.  Văn bản là một giải những dẫn văn rút ra từ vô số trung tâm văn hóa” (ở đây, Barthes chạm đến cái mà Julia Kristeva gọi là “liên văn bản” – intertextuality).  Barthes nhận định: “Cho văn bản một Tác Giả là áp đặt một giới hạn lên văn bản ấy, là cung cấp cho nó một cái được biểu hiện chung cuộc, là khóa chặt lối viết.”  Tiến xa hơn, Barthes nhấn mạnh tầm quan trọng của người đọc (lecteur) trong việc kiến tạo ý nghĩa của văn bản:

 

Một văn bản được tạo thành từ nhiều lối viết, được rút ra từ nhiều nền văn hóa và đi vào những quan hệ tương hỗ của đối thoại, giễu nhại, tranh luận, nhưng có một chỗ ở đó phức số này được được tập trung lại, và chỗ ấy là người đọc, chứ không phải là là tác giả như từ trước đến giờ vẫn nói.  Người đọc là không gian nơi tất cả các dẫn văn tạo nên một lối viết được ghi ký lại mà không mảy may thất thoát; tính thống nhất của văn bản không phải ở khởi nguyên mà ở điểm đến của nó.  Nhưng điểm đến này không thể mang tính cá nhân nữa: người đọc không có lịch sử, tiểu sử, tâm lý, mà chỉ đơn giản là điều một ai đó thâu tóm lại trên một lĩnh vực đơn nhất tất cả các vết tích nhờ đó văn bản viết được hình thành.[xxiv]                  

 

Kết thúc bài tiểu luận, ông viết: “Sự ra đời của người đọc phải trả giá bằng cái chết của Tác Giả.”  Bài viết của Barthes đã có hiệu ứng mạnh mẽ, và bài diễn giảng của Michel Foucault (1926–1984) là một hồi đáp đặt ra những vấn đề khác về Tác Giả.

 

Tiểu luận “Tác giả là gì?” (Qu’est-ce qu’un auteur?) nguyên là bài diễn giảng của Foucault tại Hội triết học Pháp tháng 2 năm 1969.[xxv]  Ngoài hiệu ứng bài viết của Barthes, một trong những tác nhân khiến Foucault đặt lại vấn đề “tác giả” là do những phê bình đối với công trình Les mots et les choses (Từ ngữ và sự vật) của ông. [xxvi]  Trong tập sách này, dựa trên phân tích mở rộng các trứ tác về ngôn ngữ, lịch sử tự nhiên, kinh tế chính trị, triết học, và văn chương, Foucault trình bày một kiến giải độc đáo về sự phát triển của tư tưởng khoa học nhân văn phương Tây từ thế kỷ XVI cho đến hiện tại.[xxvii]  Phân tích của ông được tiến hành thông qua khảo sát các luận thuật (discourse), hay khối tập các tư tưởng và trứ tác được hợp nhất do có chung đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận, thuật ngữ, và ý tưởng.  Chính do khảo sát các luận thuật mà Foucault tiến hành thảo luận trên cơ sở một khối lượng đa dạng các văn bản từ những xứ sở, giai đoạn lịch sử, ngành khoa học, và thể loại khác nhau.  Theo cách này, khi thảo luận về các nhà tự nhiên học, Foucault đã xếp khoa học gia người Pháp, Công tước Buffon Georges-Louis Leclerc (1707–1788) cùng với nhà khoa học người Anh Charles R. Darwin (1809–1882).  Phương thức khảo sát và lập luận này của ông đã gặp phải phản ứng của các nhà phê bình.  Để đáp lại, Foucault chất vấn: vì sao ta quá quan tâm đến tác giả mà không để ý đến luận thuật tập hợp văn bản và ý tưởng.  Trong tiểu luận “Tác giả là gì?”, ông tập trung thảo luận quan hệ giữa tác giả và văn bản, cũng như phương thức văn bản quay hướng chú ý về tác giả với tư cách là nhân vật bên ngoài, có trước nó.        

 

Tương tự như Barthes trong “Cái chết của tác giả”, Foucault mở đầu thảo luận với lời trích từ tản văn thứ 3 trong loạt bài “Văn bản chẳng để làm gì” của Samuel Beckett (1906–1989) – “‘Ai đang nói thì có việc gì đâu,’ có ai đấy đã nói, ‘ai đang nói thì có việc gì đâu’”[xxviii] – như một minh chứng cho thái độ “thờ ơ” (indifférence) đối với vấn đề “tác giả” trong lối viết hiện đại.[xxix]  Theo Foucault, phần lớn trong lịch sử văn hóa phương Tây, trứ tác là phương tiện để trở nên bất tử, thế nhưng trong thời hiện đại, lối viết lại thủ tiêu tác giả, vì tác giả/người viết chỉ được xem như chức năng của bản thân ngôn ngữ mà thôi. Ở đây là sự đối lập giữa mô hình nhân văn truyền thống và nhãn quan chủ nghĩa hậu cấu trúc. Với mô hình nhân văn, tác giả là người sản sinh ra văn bản, là quyền năng tạo tác của tác phẩm; ở chủ nghĩa hậu cấu trúc, “tác giả” chỉ là tên gọi của vị trí chủ thể trong ngôn ngữ, trong văn bản. Foucault nhìn nhận “cái chết của tác giả” hiện hành trong triết học và phê bình văn chương theo nghĩa “cái chết của Thượng đế” của triết gia người Đức Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844 –1900): Thượng đế Chúa trời không còn là trung tâm của hệ thống triết học – đạo đức mà Nietzsche phủ nhận; tương tự, “tác giả” không còn là trung tâm mà là sản phẩm hay chức năng của trứ tác – lối viết.   Tuy nhiên, qua việc trình bày quan hệ giữa “tác giả” và “tác phẩm” (œuvre), Foucault đã thiết lập một vị trí khác cho “tác giả.”  Theo Foucault, sự biến mất của tác giả đã để lại khoảng trống cần lấp đầy, đặc biệt với những vấn đề nảy sinh trong việc sử dụng tên tác giả.  Tên riêng và tên tác giả dao động giữa hai cực chỉ danh (designation, liên quan đến con người) và miêu tả (description, liên quan đến ý tưởng, tác phẩm).  Không chỉ đơn giản là yếu tố của lời nói, tên tác giả là phương tiện nhận diện, tổ hợp các văn bản của cùng một người lại với nhau, và khu biệt chúng với các văn bản khác.  Nó cũng đặc trưng hóa tồn tại của luận thuật: văn bản có tên tác giả thường thu hút được nhiều chú ý và giá trị văn hóa hơn những văn bản khuyết danh.  Thế nên, tên tác giả tiếp tục tồn tại trên khung viền của văn bản như biến số, như cái chỉ định (signifiant), đi kèm với một số văn bản này và loại trừ các văn bản khác.  Cùng với tên tác giả, Foucault chỉ ra 4 đặc điểm của văn bản có tác giả, tạo ra chức năng – tác giả (function-auteur):

(1) “Chức năng – tác giả” gắn với những hệ thống luật pháp và thể chế giới hạn, quy định phạm vi – lĩnh vực của luận thuật;

(2) Chức năng – tác giả không phải là phổ quát cho mọi văn bản.  Nhiều văn bản không yêu cầu tác giả (như thần thoại, cổ tích, hay truyện dân gian).  Ở phương Tây đã có thời văn bản văn chương có thể khuyết danh, nhưng tính khả tín của văn bản khoa học buộc phải có tác giả; trong thế kỷ XVII và XVIII tình hình lại đảo ngược: văn bản văn chương được đánh giá trên cơ sở quan niệm về tác giả;   

(3) Chức năng – tác giả là kết quả của những thiết chế văn hóa, chọn ra một số thuộc tính nào đó của một cá nhân để làm thuộc tính tác giả, và loại trừ các thuộc tính khác;

(4) Chức năng – tác giả không đơn thuần chỉ một cá nhân cụ thể, vì nó đồng thời gợi lên một loạt “tự ngã” (ego) và một loại vị trí chủ thể mà các cá nhân thuộc bất kỳ một tầng lớp nào có thể chiếm cứ.

 

Hai tiểu luận “Cái chết của tác giả” của Barthes và “Tác giả là gì?” của Foucault là những nỗ lực của trào lưu phê bình chủ nghĩa hậu cấu trúc nhằm hướng sự chú ý của nhà phê bình khỏi quan hệ tác giả – tác phẩm truyền thống, để “quan tâm đến những cấu trúc của một tác phẩm, những hình thức kiến trúc của nó, được nghiên cứu [để làm rõ] cho những quan hệ cố hữu và nội tại của chúng.”[xxx]  Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1960 lan sang một số năm đầu thập niên 1970, khi phong trào chống chiến tranh Việt Nam đang lên cao ở châu Âu và Mỹ, hai tiểu luận này nằm trong trào lưu chất vấn quyền lực của nhà đương quyền (question authority). Tuy nhiên trong quá trình lập luận của Barthes và Foucault, nhân vật tác giả vẫn không hoàn toàn biến mất, tầm quan trọng của nó bị giảm thiểu nhưng không vì thế mà triệt tiêu hẳn.  Sự hiện hữu, trở lại, hay phục sinh của “tác giả” không ngừng được các nhà lý luận, phê bình bàn thảo trong thập niên 1990 và trong những năm gần đây.[xxxi] Nhìn chung, các học giả nhận rằng nỗ lực xóa bỏ tác giả của “chủ nghĩa phản tác giả” (anti-authorialism) không vững vàng về mặt triết học: ngay ở cao điểm của “chủ nghĩa đả phá ngẫu tượng” (iconoclasm) lật đổ “tác giả,” cả Barthes, Foucault, hay Derrida (Grammatology – “Ngữ tự học”) đều xuất phát từ các tác giả cụ thể (như Rousseau hay Nietzsche) để triển khai luận thuyết của mình.[xxxii]  Nguồn tác giả (authorship), ý hướng tác giả (authorial intention), cũng như bản chất và chức năng của những kiến tạo tác giả (author constructs) lại được thảo luận trong thế đối thoại ở các lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu văn chương, phân tâm học, chủ nghĩa nữ quyền, hay văn hóa học.[xxxiii]  Đúng như Adrian Wilson nhận xét: bởi lẽ nhân vật – tác giả được kiến tạo như một cá nhân, “việc đè nén tên tuổi, tính cá thể, và sinh thể cá nhân của nhân vật – tác giả dựa trên một loạt những thủ đoạn tu từ được che đậy (covert rhetoric manoeuvres).”[xxxiv]  Tuy các tiểu luận của Barthes và Foucault không nhằm vào các tác phẩm khuyết danh, những lập luận của chúng – đặc biệt là đoạn cuối trong bài của Foucault bàn về việc chuyển đổi cách tiếp cận văn bản từ phương thức nhân văn truyền thống lấy quan hệ tác giả – tác phẩm làm trung tâm, sang cách tiếp cận hậu cấu trúc chủ nghĩa – là hướng mở cho việc diễn giải tác phẩm không có tên tác giả:

 

Chúng ta có thể dễ dàng hình dung ra một nền văn hóa, ở đó luận thuật sẽ lưu hành không cần tác giả.  Cho dù trạng huống, hình thức, hay giá trị của chúng là gì chăng nữa, bất kể phương cách ta xử lý chúng như thế nào, những luận thuật sẽ mở ra trong tính nặc danh lan tỏa.  Sẽ không còn những lặp lại nhàm chán kiểu như, ‘Ai là tác giả thực sự?  Ta có chứng cứ về tính xác thực, tính độc sáng của người ấy không?  Người ấy đã bộc lộ điều gì về bản ngã sâu sắc nhất trong luận thuật này?’  Những câu hỏi mới sẽ được đặt ra, ‘Những phương cách tồn tại của luận thuật này là gì?  Luận thuật này xuất sứ từ đâu? Được lưu hành như thế nào?  Ai kiểm soát nó?  Những phối trí nào được xác định cho các chủ thể khả thi?  Ai có thể hoàn thành được những chức năng đa dạng này của chủ thể?’[xxxv] 

 

Với tác phẩm khuyết danh, đọc lên nó một tác giả là kiến tạo một cương giới cho tác phẩm với tư cách là một luận thuật.  Đọc tác phẩm với một tác giả giả định này mà không phải với một người nào khác chính là lặp lại truyện “Pierre Menard – Tác giả của Quixote” của Jorge Luis Borges (1899-1986) trong một hoàn cảnh cụ thể.  Theo đó, nếu có thể thay đổi được tác giả của cùng một tác phẩm từ thời đại này sang thời đại khác (như đổi tác giả của Don Quixote của Miguel de Cervantes Saavedra ở thế kỷ XVI-XVII thành một tác giả hư cấu Pierre Menard của thế kỷ XX), vô số ý tưởng mới có thể đọc ra được từ văn bản cố định Quixote, do nó được đặt vào một bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội hoàn toàn khác. Hoàng Việt xuân thu với một tác giả khuyết danh – bất định đã tạo ra nhiều cách đọc khác nhau như thế.

 

Biến số tác giả – Biến số diễn giải

Các học giả Trung Quốc đã quan tâm khá nhiều đến Hoàng Việt xuân thu,[xxxvi] trong đó, đáng chú ý hơn cả là công trình Việt Nam Hán văn lịch sử tiểu thuyết nghiên cứu 越南漢文歷史小説研究 (Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam) của Lục Lăng Tiêu.[xxxvii]  Phần lớn các học giả Trung Quốc nghiên cứu lịch sử, văn hóa cổ – cận đại Việt Nam đều dựa trên tư liệu Hán văn do người Việt hay Trung Quốc biên soạn, và thường không tham khảo được các tài liệu quốc ngữ do hạn chế nhất định về ngôn ngữ. Nghiên cứu của Trần Mặc và Lục Lăng Tiêu về Hoàng Việt xuân thu cũng không tránh được hạn chế này. Do chỉ đọc bản in trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san mà không tham khảo các nghiên cứu quốc ngữ khác, các học giả Trung Quốc đã không thấy được tình hình phức tạp của tác giả và văn bản của HVXT.  Tuy nhiên, cũng do ở vào thế thông tin học thuật cách biệt như trên, họ đã có đoán định riêng về tác giả và có những cách đọc dựa trên những đoán định ấy.

 

Căn cứ trên phương diện nghệ thuật, Trần Mặc cho rằng HVXT mô phỏng Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa, vì thế tất phải được viết sau bộ tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc cổ điển này.[xxxviii]  Việc phỏng đoán trên đây đặt ra được một mốc thời gian nhưng lại quá mơ hồ, không có điểm kết, tạo ra biên độ dao động niên đại quá lớn. Vấn đề tác giả không ảnh hưởng nhiều đến cách đọc HVXT trong tiểu luận của Trần Mặc, vì tiểu luận không triển khai theo hướng xác định tác giả và niên đại tác phẩm trước, mà tập trung khai thác trực tiếp hai tuyến xung đột chính (giữa khởi nghĩa Lê Lợi và quân Minh xâm lược) và phụ (giữa nghĩa quân Lê Lợi và triều đình nhà Hồ). Vấn đề tác giả và thời điểm sáng tác chỉ là hệ luận trong quá trình Trần Mặc bàn về ảnh hưởng nghệ thuật của Tam quốc đối với HVXT. Khác với Trần Mặc, Lục Lăng Tiêu thảo luận về tác giả và thời điểm sáng tác của HVXT trên bình diện rộng và sâu hơn. Theo ông, việc khiếm khuyết tên tác giả có thể do mấy nguyên nhân sau: một là tác giả dấu tên, “dật danh”; hai là do tiểu thuyết ra đời tương đối sớm nên vấn đề tác giả không được chú trọng; hoặc ba là do nội dung tiểu thuyết có thể gây phiền hà cho tác giả, ví như việc Lê Lợi có lúc từng liên minh với quân Minh – “nội dung này rất có thể dẫn đến nghị luận thị phi, thậm chí có thể đưa đến tai họa chết người.” Tuy nhiên, Lục Lăng Tiêu nhận xét: “Việc có hay không có ký tên tác giả đều không ảnh hưởng bao nhiêu đối với bản thân tiểu thuyết.”[xxxix]              

 

Luận về thời điểm sáng tác của HVXT, Lục Lăng Tiêu đoán rằng đây là một tác phẩm ra đời khá sớm trong dòng tiểu thuyết lịch sử viết bằng Hán văn của Việt Nam: “Xét từ phương diện nội dung, hình thức, văn tự, tác phẩm ước chừng ở vào khoảng nửa sau thế kỷ XV và nửa đầu thế kỷ XVI.”  Suy đoán này trước hết được dựa trên cơ sở nội dung: tiểu thuyết viết về một giai đoạn sớm của lịch sử trung đại Việt Nam, về quá trình Lê Thái tổ khởi nghĩa, đánh đuổi quân Minh, và khôi phục độc lập; các tiểu thuyết lịch sử khác đều viết về những giai đoạn muộn hơn.  Những sự kiện lịch sử trọng yếu khác như thảm án của Nguyễn Trãi (1442), Mạc Đăng Dung soán vị (1527), hay phân liệt nam – bắc (1533) đều không thấy đề cập đến trong tác phẩm này.[xl]  Xét về mặt hình thức, HVXT mang rõ dấu tích mô phỏng Tam quốc, từ hình thức kết cấu chương hồi, quan niệm chính thống, cho đến loại hình hóa nhân vật, hay miêu tả cảnh tượng, trạng huống.  Tam quốc chí bình thoại, đặc biệt là Tam quốc diễn nghĩa có thể đã theo quan quân nhà Minh truyền nhập vào Việt Nam cùng với nhiều thư tịch khác trong giai đoạn tạm chiếm, và dẫn khởi truyền thống tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam.  Xét về phương diện văn tự, theo Lục Lăng Tiêu HVXT được biên soạn bằng văn ngôn Hán văn, lấy thuật sự làm chủ, ít miêu tả – khắc họa chi tiết, phản ánh đặc trưng văn tự của tiểu thuyết lịch sử viết bằng Hán văn của Việt Nam ở giai đoạn đầu.  Đáng chú ý hơn cả là các nhận xét của Lục Lăng Tiêu về tác giả của bộ tiểu thuyết này.  Theo ông, HVXT phải được viết bởi một người “thông thuộc quá trình khởi nghĩa của Lê Lợi và có trình độ tu dưỡng văn hóa cao,” bởi lẽ:

 

Trong tiểu thuyết có nhiều tình tiết lịch sử không ghi chép, nếu như không phải là người thông thuộc tình huống đương thời thì không thể viết được.  Như tình tiết Lê Lợi liên hợp với quân Minh để lật đổ Hồ Quý Ly, sử gia húy kị mà không ai đi sâu vào.  Hay như Hồi 37 nhân viết về việc Nguyễn Trãi gặp Lê Lợi mà kể lại giấc mơ của Nguyễn Trãi hẳn phải có xuất sứ từ bản thân Nguyễn Trãi.  Đây không phải là một giấc mộng thông thường mà là mộng triệu tương tự như của Chu Văn vương thời cổ, có quan hệ rất lớn với việc Nguyễn Trãi quyết tâm xuất sơn phò tá Lê Lợi.  Từ quan niệm đức trị cho đến việc giữ quan hệ với Trung Quốc được phản ánh trong tiểu thuyết đều rất chừng mực, đều không phải là loại tác gia quá cường điệu tình cảm dân tộc có thể viết được.  Do đó có thể thấy tác giả là nhân sĩ lớp trên, có tu dưỡng Hán văn hóa cao.  Đại Việt sử ký của Ngô Sĩ Liên hoàn thành năm 1479, 51 năm sau khi triều Lê kiến lập; từ nội dung tiểu thuyết có thể thấy tác giả có thể đã tham khảo qua Đại Việt sử ký, nhưng trong tiểu thuyết lại xuất hiện rất nhiều tình tiết không thấy chép trong sử sách, biểu minh tác giả có thể đã biết đến nhiều tài liệu hơn các sử gia.  Do vậy, tác giả có thể là một văn nhân nhậm chức ở triều đình.[xli]                       

 

Lục Lăng Tiêu kết luận: “Tác giả tiểu thuyết không phải là người bình dân, mà là sĩ nhân lớp trên, thông thuộc lịch sử khai quốc triều Lê và có trình độ tu dưỡng Hán văn hóa cao.”[xlii]

 

Cách đọc và luận đoán của Lục Lăng Tiêu cho thấy lịch sử và tiểu thuyết đã bị đồng nhất hóa.  Việc HVXT không đề cập Mạc Đăng Dung soán vị, hay phân liệt nam – bắc không có nghĩa là bộ tiểu thuyết này phải được sáng tác trước những sự kiện ấy, mà chỉ đơn thuần là việc lựa chọn giai đoạn của tác giả, khuôn tác phẩm của mình trong phạm vi khởi nghĩa của Lê Thái tổ, từ khởi đầu cho đến kiến triều độc lập thành công.  Việc tiểu thuyết không nói đến thảm án của Nguyễn Trãi cũng không có nghĩa là nó phải được viết trước 1442.  Hồi 38 kể chuyện Nguyễn Trãi dựng trường trên đỉnh Lam sơn, sơ xuất để thương hại đến sơn thần rắn vàng đang có mang, và chuyện rắn vàng nhỏ máu thấm qua ba trang giấy (ứng với thảm án tru di tam tộc Ức Trai phải chịu sau này), nhưng tiểu thuyết lại dừng ở việc kiến lập triều Lê mà không phát triển bi kịch cá nhân Nguyễn Trãi.  Ngoài ra, tác giả tiểu thuyết lịch sử không nhất thiết phải chọn viết về giai đoạn cận thời với mình; thời đại trong tiểu thuyết lịch sử không liên quan mật thiết với thời điểm sáng tác của tác phẩm: một tác phẩm hậu kỳ có thể chọn viết về một giai đoạn rất sớm trong lịch sử, sớm hơn cả những tác phẩm đã có trước nó.  Cuối cùng, tuy có quan hệ khăng khít với nhau, lịch sử và tiểu thuyết lịch sử không phải là hai thực thể đồng nhất: cấp độ hư cấu cao là đặc điểm khu biệt tiểu thuyết lịch sử với lịch sử.  Không phải tất cả các tình tiết trong tiểu thuyết lịch sử đều là sử thực, và cơ sở sử liệu để xác định thực – hư của các tình tiết trong tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi phải được thẩm tra kỹ lưỡng.  Trong khi Lục Lăng Tiêu nhìn nhận việc Lê Lợi liên hợp với quân Minh để chống nhà Hồ là một sự thực lịch sử đã bị chính sử loại bỏ, các học giả Việt Nam lại xem đó là tình tiết hư cấu có thể được diễn giải qua nhiều động cơ chính trị khác nhau.  Mặt khác, chuyện Nguyễn Trãi hội kiến Thần nữ Sùng sơn được Lục Lăng Tiêu so sánh với việc Chu Văn vương mộng cầu hiền tài phạt Trụ thực ra cũng không nhất thiết xuất tự bản thân Nguyễn Trãi; chi tiết đậm màu huyền bí này ắt là một sản phẩm hư cấu, hầu như không có giá trị lịch sử.               

 

Tình tiết Lê Lợi liên hợp với quân Minh chống nhà Hồ đã là mấu chốt trong việc giải đọc HVXT ở Việt Nam.  Thúc Ngọc Trần Văn Giáp là người phát biểu sớm nhất về vấn đề này.  Ông cho rằng,

 

[T]ác giả đã cố xuyên tạc nhiều sự thực lịch sử, đầy rẫy tư tưởng phản động, phản lịch sử, phản chính nghĩa.  Một thí dụ rõ ràng nhất: Hồi thứ mười, chép việc hai anh em Lê Lợi lập mưu thông với tướng Minh, kéo quân giúp quân Minh đánh Quý Ly để cho dân được yên.  Như thế, là ám chỉ việc của Hoàng Cao Khải và Lê Hoan giúp người Pháp đàn áp quân Bãi Sậy của Tán Thuật, bình định quân Yên Thế của Đề Thám cũng như Lê Lợi, Lê Thiện giúp Trương Phụ nhà Minh đánh Quý Ly.  Cố nhiên Quý Ly không thể so sánh với Tán Thuật và Đề Thám được, nhưng tác giả chỉ nắm một điểm để xuyên tạc: Lê Lợi giúp quân Minh.  Như thế, họ gọi là chính nghĩa, làm tay sai cho địch, đem đồng bào giết đồng bào, bỉ ổi đến đâu tội ác đến đâu![xliii]

 

Ông cũng đồng thời cảnh giới: đây là “một bộ tiểu thuyết làm vào hồi thực dân Pháp mới chiếm cả nước ta, chứa đầy tư tưởng phản lịch sử, phản tổ quốc, phản nhân dân, đứng trên lập trường của thực dân Pháp, có dựa vào Pháp thì dân mới yên ổn, ủng hộ Pháp đàn áp các cuộc khởi nghĩa yêu nước.  Sau đó, sách này đã được nhà Nam Phong đem dịch và xuất bản, biết đâu nhóm dịch không cùng một lập trường với nhóm tác giả sách ấy? Vậy nên cảnh giác khi thấy sách ấy.”[xliv]  Mấy nhận định trên của Trần Văn Giáp dựa trên luận suy của ông về quan hệ giữa tác giả giả định Vũ Xuân Mai và người đề tựa Lê Hoan[xlv] cùng với nhóm tu thư của Hoàng Cao Khải[xlvi] (đã đề cập đến trong phần khảo luận về văn bản). Theo luận giải của Thúc Ngọc, HVXT được viết để biện hộ cho hành động của một tầng lớp quan lại Việt Nam (như Lê Hoan, Hoàng Cao Khải) hợp tác với Pháp đàn áp khởi nghĩa yêu nước. Cũng theo đó, HVXT thuộc về nhóm trứ tác của một tập đoàn thân sĩ do Hoàng Cao Khải tổ chức, và người góp phần truyền bá sách ấy về sau (như dịch giả Nguyễn Đông Châu của nhóm Nam Phong) có thể chung một lập trường như thế. Tuy nhiên, thử đọc một vài tác phẩm lịch sử ký tên Hoàng Cao Khải có đề cập đến Lê Lợi, khởi nghĩa Lam sơn, và Nguyễn Trãi – như Gương sử Nam hay Việt Nam nhân thần giám, cũng không tìm thấy dấu tích nào đề cập xa gần đến việc Lê Lợi hợp tác với quân Minh.[xlvii] Thực ra, do một mặt đồng nhất Vũ Xuân Mai với nhóm tu thư của Hoàng Cao Khải, và mặt khác tạo dựng nên mối liên hệ giữa tác giả giả định nọ với người đề tựa Lê Hoan, Thúc Ngọc Trần Văn Giáp đã hình thành nên một tập thể tác giả với lập trường chính trị tiêu cực cho HVXT.  Cũng do nhân thân của Vũ Xuân Mai không rõ, Lê Hoan – với tư cách là người đề tựa và nhuận sắc cho bộ sách này – đã dần có vai trò như một “đồng tác giả” trong mắt các nhà nghiên cứu, và theo cách đọc tác phẩm dựa trên lai lịch tác giả (hay “đồng tác giả”), nhân vật Lê Hoan với những hành vi chính trị của ông đã có ảnh hưởng đến cách đọc và thái độ của người đọc đối với HVXT.  Những hiểu biết và nhận định mới về thái độ – lập trường chính trị của Lê Hoan không ngừng biến động, góp phần thay đổi cách đọc HVXT do Thúc Ngọc kiến lập vào đầu thập niên 1970 khi đất nước còn bị chia cắt bắc – nam.       

 

Những tư liệu lịch sử mới về Lê Hoan được công bố từ cuối thập niên 1990 cho đến những năm gần đây đã đem lại một cảm quan mới đối với nhân vật này và tác phẩm HVXT.  Năm 1998, Tạp chí Xưa và nay công bố thư của Gs. Charles Fourniau gửi Gs. Lê Thành Khôi, trong đó có đoạn trích thư Lê Hoan gửi Đề Kiều – một thủ lĩnh nghĩa quân (1892): “Lúc này chống với quân Pháp phỏng có ích gì, vì họ mạnh hơn.  Chúng ta hãy làm như đã từ bỏ sự nghiệp của người nước Nam, mà chỉ thân thiện với Pháp thôi.  Chúng ta phải kiên trì, rồi một ngày kia chúng ta sẽ tập hợp chống lại chúng và tống chúng ra biển.  Thời cơ lúc này chưa đến.  Tốt hơn hết là hãy ru ngủ chúng bằng tình bạn giả vờ của chúng ta.”[xlviii]  Tiếp theo bức thư này, Ts. Phan Thị Minh Lễ đã góp thêm hai bài báo trích từ Le Journal de Paris: “Ông Picquié chống Lê Hoan” (17/4/1910) và “Lê Hoan có phải là kẻ phản bội không?” (24/4/1910).  Hai bài báo này cho thấy người Pháp đã cho mở cuộc điều tra Lê Hoan nhân bị tố giác về tội tham nhũng, và đặc biệt là chứng cứ liên lạc bí mật giữa viên Khâm sai này và Hoàng Hoa Thám.[xlix]  Việc đánh giá lại Lê Hoan được trình bày hệ thống trong bài viết của Gérard Sasges.[l]  Qua khai thác các tài liệu từ Cục Lưu trữ hải ngoại (Pháp) và Cục Lưu trữ quốc gia (Việt Nam), Sasges cũng cho thấy qua chiến dịch chống Hoàng Hoa Thám năm 1896, vụ đầu độc trại lính Pháp ở Hà Nội năm 1908, và việc đánh dẹp khởi nghĩa Yên Thế năm 1909, “các quan chức ở mọi cấp từ địa phương đến quan toàn quyền đều tỏ ra nghi ngờ lòng trung thành của Lê Hoan với chế độ thuộc địa.”[li]  Sasges kết thúc bài viết với việc xem HVXT như phát biểu ngấm ngầm về lòng trung thành của Lê Hoan với tổ quốc:

 

Tuy nhiên, nếu Lê Hoan có thể không bao giờ dám phát biểu công khai về lòng trung thành của mình, thì về sau gần cuối sự nghiệp của mình ông ta có thể làm việc đó một cách ngấm ngầm.  Năm 1908, Lê Hoan biên soạn cuốn sách mang tựa đề Việt Lam xuân thu (…)  Trong phần giới thiệu cuốn sách, Lê Hoan viết rằng ông ta cảm thấy cần phải xuất bản bản thảo đó để các thế hệ người Việt sau này có thể học về người anh hùng dân tộc này và áp dụng một số bài học cho những tình huống khó khăn mà họ gặp phải.  Có lẽ Lê Hoan đã tìm cách hành động tương tự bằng cách riêng của mình.[lii]

 

Trước Sasges, các học giả Việt Nam như Chương Thâu, Tạ Ngọc Liễn cũng đã đề cập đến tâm sự Lê Hoan gửi gắm vào HVXT: “[Lê Hoan] giới thiệu một cuốn sách đương thời đầy tính chất ‘tự tình dân tộc’ như vậy, chắc phải có một dụng ý gì chứ không phải là một sự bất chợt, một sự tình cờ, ngẫu nhiên,” và “Đánh giá sự nghiệp vĩ đại của Lê Lợi trong lịch sử dân tộc như ý kiến Lê Hoan thiết tưởng là xác đáng.”[liii]  Gần đây, trong bài “Nghi án Lê Hoan – Sĩ phu hay Việt gian?”, Hữu Ngọc còn tiến xa hơn khi nhận định: “Theo nhiều sử gia Việt Nam và G. Sasges, Lê Hoan phải chơi hai mang để đánh lừa Pháp, ông đã gián tiếp nêu chính kiến yêu nước của mình trong tác phẩm Việt Lam xuân thu (1908) do ông đề tựa.  Cuốn tiểu thuyết lịch sử  về cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống quân Minh chứng minh một điều: Phải đợi thời cơ thì khởi nghĩa mới thành công.  Có thể chính Lê Hoan là tác giả sách ấy.”[liv] 

Đọc lại đoạn kết bài viết “Tác giả là gì?” của Foucault trích dịch ở trên, có thể thấy rằng những luận giải vừa nêu chính là cách tiếp cận văn bản từ phương thức nhân văn truyền thống lấy quan hệ tác giả – tác phẩm làm trung tâm.  Với phương thức này, những nhân vật như Vũ Xuân Mai, Lê Hoan đã được lắp vào chỗ trống “tác giả khuyết danh” của HVXT, và nhân thân chính trị của họ đã trở thành cơ sở diễn giải tác phẩm.  Mặt khác, nếu tạm gác lại vấn đề tác giả để tiếp cận theo hướng chủ nghĩa hậu cấu trúc như Foucault đề nghị, có thể thấy với tư cách là một luận thuật, HVXT đã được lưu hành dưới hình thức tiểu thuyết lịch sử với những đặc điểm thể loại riêng của nó.  Tuy xuất xứ không thật rõ, cũng có thể thấy HVXT là một hồi cố lịch sử của thế kỷ XIX với niềm tự hào Hoàng Việt, được truyền bá tương đối hạn hẹp trong giới thượng lưu, bao gồm danh gia, nhân sĩ – trí thức và quan lại thông thạo Hán văn. Đến đầu thế kỷ XX, nhờ Lê Hoan nhuận sắc, viết tựa, và cho khắc in mới 1908, HVXT được phổ biến rộng rãi hơn.  Nhấn mạnh phẩm chất trí, nhân, dũng của bậc quân vương sáng nghiệp, Lê Hoan đề cao Lê Thái Tổ như một “đại anh hùng,” nhờ ứng xử thao lược, linh động hợp thời mà lấy lại được đất nước từ tay giặc Minh.  Theo Lê Hoan, những bài học lịch sử về cuộc sáng nghiệp gian nan, giành độc lập cho đất nước của Lê Thái Tổ nên được quảng bá không chỉ trong nước mà còn phải “lưu truyền ra ngoài Âu, Á, khắp năm châu”: gương lịch sử ấy và thái độ “ôn cố, tri tân” cần được mọi người trong cũng như ngoài nước tri ngộ.  Cũng theo đó, HVXT có thể được xem như một thông điệp yêu nước gửi đến chính quyền thực dân thuộc địa.  Thế nên, bài tựa của Lê Hoan xuất hiện như một luận thuật mới của một lớp văn thân có nhân thân chính trị phức tạp trong một đất nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa đầu thế kỷ XX, được ghép vào cạnh luận thuật HVXT nhằm góp phần định hướng cách đọc bộ tiểu thuyết nàySáu năm sau (1914), bản dịch của Đông Châu tiếp tục giúp phổ biến tập sách rộng rãi hơn qua chữ quốc ngữ, vừa là phương tiện thưởng ngoạn “mua vui trong mươi lăm phút đồng hồ,” vừa là phương tiện truyền bá tri thức lịch sử “mà ai xem truyện này, lại biết được cả sự tích nước mình.”  Nhận chân HVXT qua đặc trưng thể loại tiểu thuyết lịch sử vốn mang tính lịch sử và khu vực là góp phần hiểu thêm ranh giới giữa lịch sử và tiểu thuyết lịch sử, cũng như giữa sử thực và hư cấu.

Tiểu thuyết lịch sử: Sử thực và hư cấu

Hội Tiểu thuyết lịch sử (Historical Novel Society) đã đề xuất mấy tiêu chí sơ bộ để nhận diện tiểu thuyết lịch sử như sau, “tiểu thuyết phải được viết tối thiểu 50 năm sau những sự kiện được miêu thuật, hay được biết bởi một người không sống trong thời của những sự kiện nọ (do vậy chỉ tiếp cận chúng qua nghiên cứu).”[lv]  Tiêu chí nhận diện trên đã chỉ ra thời gian gián cách cần thiết (ít nhất 50 năm) giữa tác giả tiểu thuyết và sự kiện lịch sử được trình hiện trong tác phẩm: người viết ở đây không trực tiếp trải nghiệm lịch sử mà tri nhận lịch sử thông qua nghiên cứu tư liệu, phục dựng lịch sử dựa trên văn kiện lịch sử và tưởng tượng.  Từ điển bách khoa Encyclopædia Britannica xem tiểu thuyết lịch sử là một tác phẩm “có bối cảnh là một giai đoạn lịch sử và nỗ lực chuyển tải tinh thần, lề thói, cũng như điều kiện xã hội của một thời quá khứ với chi tiết hiện thực và sự trung thành (trong một số trường hợp chỉ có vẻ trung thành) với sử thực.  Tác phẩm có thể có quan hệ với những nhân vật lịch sử có thực...hay có thể chứa đựng sự pha trộn giữa nhân vật lịch sử và hư cấu.”  Định nghĩa trên đặt ra những câu hỏi cốt yếu cho tiểu thuyết lịch sử: Thế nào là “sử thực”? và thế nào là “trung thành” với “sử thực”?   Đối chiếu định nghĩa này với tiêu chí của Hội Tiểu thuyết lịch sử, có thể thấy nguồn sử liệu và mức độ hư cấu cũng là những vấn đề lý luận quan yếu của tiểu thuyết lịch sử.

 

Lý thuyết và thực tiễn tiểu thuyết lịch sử vừa có tính phổ quát vừa mang tính đặc thù khu vực.  Tuy nhiên, những hiểu biết, trao đổi lý luận – học thuật trong lĩnh vực này dường như vẫn chưa được thiết lập bền chặt giữa học giới Đông và Tây.  Trong chuyên luận The Historical Novel (Tiểu thuyết lịch sử), Jerome de Groot dẫn hai câu thơ từ bài cổ phong chép ở cuối sách Tam quốc diễn nghĩa, “Đỉnh túc tam phân dĩ thành mộng – Hậu nhân bằng điếu không lao tao 鼎足三分已成夢——後人凭吊空牢騷” (Tam phân chân vạc nay là mộng – Người sau điếu viếng trống không âu sầu), xem như lời nhận định về mục đích của tiểu thuyết và khoảng cách lịch sử ảnh hưởng đến sự thông hiểu các sự kiện của chúng ta, đồng thời cho rằng tuy có ảnh hưởng lớn trong văn hóa Trung Quốc, văn bản này còn được xem xét rất ít ở phương Tây.[lvi]  Tương tự, hai công trình về tiểu thuyết lịch sử của Âu Dương Kiện歐陽健cũng như của Đoạn Khải Minh段啓明và Trương Bình Nhân張平仁xuất bản gần đây ở Trung Quốc tuy thảo luận chi tiết về tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, nhưng hầu như không đề cập gì đến những nghiên cứu quan trọng phương Tây như Der Historische Roman (Tiểu thuyết lịch sử, 1937) của Georg Lukács.[lvii]  Do vậy, một cái nhìn tham chiếu, kết hợp Đông – Tây là cần thiết.    

 

Sử thực và hư cấu là những vấn đề thu hút nhiều quan tâm của các nhà lý luận và nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử.  Âu Dương Kiện phân biệt hai trường nghĩa rộng và hẹp của “lịch sử”: theo nghĩa rộng, “lịch sử” chỉ chung tiến trình phát triển của tất cả sự vật; theo nghĩa hẹp, “lịch sử” là bằng chứng lịch sử (bao gồm sách vở, tư liệu thành văn, có thể gọi chung là “sử thư”), qua đó người đời sau có thể tri nhận đại thể tình huống của những giai đoạn đã qua. “Lịch sử” (nghĩa rộng) là suối nguồn duy nhất cho cả “lịch sử” (nghĩa hẹp) và văn học nghệ thuật.  Khi soạn Sử ký, đề ra tiêu chuẩn “trạch kỳ ngôn ưu nhã giả 擇其言優雅者” (chọn lấy lời lẽ ưu nhã), Tư Mã Thiên 司馬遷 (145-87 TCN) xuất phát từ chủ kiến, tiến hành “thủ – xả 取捨” (chọn giữ và loại bỏ) tư liệu từ kho sử thư đương tồn: yêu cầu chép điều chân thực mà vứt bỏ chuyện quái dị, chép chuyện lớn mà loại điều vặt.  Nỗ lực này được các sử gia đời sau học hỏi và tuân thủ, khiến tương quan “đồng nguyên, đồng thể 同源同体” trước đó giữa sử và văn (tiểu thuyết) dần trở nên “đồng nguyên, dị thể 同源異体.” Dẫu thế, nhân tố “tiểu thuyết” không thực vẫn tiếp tục tồn tại trong chính sử.  Trong bài “Ngự chế độc sử Hán thư hữu cảm 御制讀史漢書有感” (Cảm tưởng nhân đọc bộ sử Hán thư), Hoàng đế Càn Long 乾隆 (1711-1799) nhắc rằng dù hai người kề cận trò chuyện với nhau, vẫn có điều nọ, chuyện kia không tiết lộ; thậm chí duy nhất chỉ một người, tâm tích vẫn còn chỗ ẩn giấu không nói ra. Vậy nên, trong chính sử “Kỷ ngoa diệc lũ lũ – Tận tín bất như vô 紀訛亦屢屢——盡信不如無” (Chép sai cũng luôn có – Tin cả chẳng bằng không). Ở đây, ông đã chạm đến vấn đề “hư cấu” (hữu thức hay vô thức) của sử gia trong quá trình phục dựng lịch sử như một bức tranh vuông vức vẹn toàn, lấp đầy hay lướt qua những khoảng trống lịch sử bằng chủ kiến của mình.  Mặt khác, Từ Vị 徐渭 (1521—1593) cho rằng bài sử 稗史, dã sử 野史 thậm chí có lúc yết lộ những góc khuất không được chính sử đề cập (bài tựa Tùy Đường diễn nghĩa 隋唐演義). Lời bình cuối hồi 69 sách Tùy Đường diễn nghĩa viết: “Trước nay hễ có chính sử là có dã sử. Chính sử truyền tín, không truyền nghi; dã sử truyền cả tín lẫn nghi, cũng truyền cả dật sự. Thế nên, việc mắt thấy tai nghe là chuyện có trong chính sử, người người có thể nói đến, không phải lấy làm lạ. Nếu việc tai chưa nghe, mắt chưa thấy, người nghe được, thấy được, không khỏi kinh hãi, bảo rằng người sau vu cho người trước, mà không biết là trong dã sử xác thực có cái dật sự nghe được, thấy được.”[lviii]  Chính đây là điểm kết nối tiểu thuyết lịch sử với chủ nghĩa hậu hiện đại, là phân giới mờ tỏ giữa lịch sử và tiểu thuyết lịch sử tạo ra trạng huống lịch sử như là hư cấu/tiểu thuyết, và tiểu thuyết như là lịch sử.[lix]

          

Tỷ lệ giữa sử thực – hư cấu là một vấn đề quan yếu của tiểu thuyết lịch sử.  Sử thực ở đây là dựa trên sử thư được tác giả tiểu thuyết tham khảo.  Các nhà lý luận nhận rằng “cái gọi là thực lục, tín sử của kinh sử – điển tịch cũng chỉ là khái niệm tương đối, mà nhân tố tiểu thuyết vẫn là điều lờ mờ có thể thấy được.  Nhân đấy, ta hoàn toàn có lý do xem kinh sử, sử truyện là nguồn cội của tiểu thuyết lịch sử (bao gồm tiểu thuyết văn ngôn lịch sử sơ kỳ và lịch sử diễn nghĩa giai đoạn sau).”[lx]  Trong Bính thìn trát ký 丙辰札記, nhân bàn đến diễn nghĩa lịch sử, Chương Học Thành 章學誠 (17381801) luận về thực sự và hư cấu trong Tam quốc diễn nghĩa như sau,     

 

Thường các sách diễn nghĩa như Liệt quốc chí 列國誌, Đông Tây Hán 東西漢, Thuyết Đường 說唐, và Nam Bắc Tống 南北宋 phần nhiều chép thực sự; loại sách như Tây du, Kim Bình toàn dựa vào hư cấu, đều không thương tổn.  Chỉ có Tam quốc diễn nghĩa thì 7 phần là thực sự, 3 phần là hư cấu, khiến cho người xem thường bị mê hoặc, rối loạn; ví như những chuyện Đào viên, học sĩ đại phu thường dẫn dụng trong trứ tác.   Do vậy, tác phẩm thuộc loại diễn nghĩa tuy không đáng ở bậc trứ thuật, nhưng lưu hành trong dân tục, dần trở thành cách nhìn, nếp nghĩ, thực có ích trong việc khuyến thiện, trừng ác.  Thế nhưng cần phải thực thì nhất luật phải xuất phát từ thực sự; nếu là hư thì phải viết rõ thành ngụ ngôn, không thể hư – thực lẫn lộn làm rối loạn nhân thế như Tam quốc vậy.[lxi]         

 

Luận định của Chương tách bạch diễn nghĩa lịch sử với tiểu thuyết. Với ông, diễn nghĩa lịch sử vẫn là lịch sử, cho nên phải tôn trọng sử thực, không được hư cấu hỗn tạp. Tỷ lệ “thất thực, tam hư 七實三虛” mà Chương ước định trên Tam quốc diễn nghĩa cho thấy dù chiếm phần ít, hư cấu trong diễn nghĩa lịch sử vẫn có ảnh hưởng đáng kể do khả năng thâm nhập sâu trong thế tục, do đó có thể nhiễu loạn “lịch sử” qua việc tạo ra những tự sự “lịch sử” khác với “chính sử.” Mặt khác, yêu cầu phải theo đúng sử thực được ghi chép trong sử thư cũng đồng thời đòi hỏi người đọc thông tường (informed reader) phải thường xuyên tham chiếu các nguồn “chính sử” để đoan chắc diễn nghĩa lịch sử và “chính sử” đang đi cùng mạch, cũng như để thấy được phạm vi và mức độ hư cấu trong tác phẩm diễn nghĩa; qua đó, chính kiến của tác giả diễn nghĩa lịch sử cũng phần nào được phản ánh qua nguồn sử liệu được sử dụng.

 

Dẫn dụng sử liệu trong Hoàng Việt Xuân Thu

Việc HVXT từng được một số nhà nghiên cứu đề nghị sử dụng như một tài liệu tham khảo lịch sử ở đầu thập niên 1960 phản ánh cách đọc “truyền thống” đối với tiểu thuyết lịch sử trình bày ở trên.  Nhân tìm hiểu về người chỉ huy chiến dịch Tốt Động – Chúc Động, các tác giả Nguyễn Văn Dị và Văn Lang đề xuất tham khảo Việt Lam xuân thu (HVXT), vì “[b]ộ sách này, ngoài những tình tiết tiểu thuyết hóa, căn bản có nhiều điều phù hợp với chính sử, có thể tin được,” và mong muốn “trình bày một tài liệu có thể cung cấp thêm một chi tiết lý thú.”[lxii]  Giải pháp này đã gặp phải phản ứng của các sử gia, điển hình là Gs. Phan Huy Lê trong bài “Tác phẩm Việt Lam xuân thu có giá trị về mặt sử liệu hay không?”[lxiii]  Bài viết cô đọng nhưng dồi dào thông tin của ông đã chỉ ra được các nguồn sử liệu được dẫn dụng trong HVXT.  Theo ông, tác giả HVXT đã không chỉ “tham khảo nhiều sử sách trong nước, nhiều tập truyền trong dân gian, mà còn tham khảo cả một số sử sách của Trung quốc nữa.” Thực ra, nguồn sử liệu Trung quốc đóng vai trò khá quan trọng trong việc kiến cấu bộ tiểu thuyết này. Tác giả HVXT chí ít đã sử dụng sử liệu từ Minh sử 明史 (định cảo 1739), Minh sử kỷ sự bản mạt 明史紀事本末 (Cốc Ứng Thái 谷應泰, thành thư khoảng 1658), Thù vực chu tư lục 殊域周咨录 (Nghiêm Tòng Giản 嚴從簡, 1574) và Việt kiệu thư 越嶠書 (Lý Văn Phượng 李文鳳, 1540), cho phép người đọc nội quan, thấy được chính kiến và nội tình triều chính nhà Minh trong quá trình xâm lược An Nam.  Ngoài việc dẫn dụng số liệu thống kê trong tấu biểu của Trương Phụ 張輔 tâu lên triều đình nhà Minh sau khi xâm chiếm thành công (Hồi 22) đã được Phan Huy Lê phân tích, lời phát lệnh của Minh Thành tổ trong lễ tế cờ ở Long giang 龍江gốc từ Thù vực chu tư lục (phần “An Nam”) chép ở Hồi 7, hay cuộc tiếp nhận tù binh (cha con Hồ Quý Ly) của Thành tổ tại cửa Phụng Thiên 奉天 gốc từ Minh sử kỷ sự bản mạt (quyển 22, “An Nam bạn phúc 安南叛服”) kể trong Hồi 22 là những ví dụ minh họa bổ sung cho thấy tác giả HVXT đã dùng sử liệu Trung Quốc như thế nào.

 

Bên cạnh việc sử dụng sử liệu nặng tính “trích dẫn” như trên, HVXT còn pha trộn sử liệu với hư cấu.  Để thấy rõ tác giả đã hư cấu hóa/tiểu thuyết hóa (fictionalized) “lịch sử” như thế nào, ở đây sẽ phân tích hai trường hợp từng bị Thúc Ngọc nghiêm khắc phê phán.  Trường hợp thứ nhất là việc Lê Lợi liên hợp với quân Minh chống nhà Hồ.  Sử gia Phan Huy Lê suy đoán tác giả dựng nên chuyện này có lẽ chỉ là do “căn cứ vào một câu trong Minh sử: ‘Lê Lợi trước làm Kim ngô tướng quân với Trần Quí Khoáng, sau quy phụ triều đình được làm tuần kiểm huyện Nga-lạc, phủ Thanh-hóa,” đồng thời phủ nhận việc trên vì “tài liệu này hoàn toàn không phù hợp với chính sử của ta.”[lxiv]  Tuy nhiên, đọc lại Lam sơn thực lục cũng thấy Lê Lợi đã từng hòa hoãn với quân Minh để chờ thời cơ quật khởi trong giai đoạn tiền khởi nghĩa:

 

Nhưng bởi thế giặc còn mạnh, chưa dễ khống chế được [chúng].  Vua thường phải nhún lời hậu lễ, nhiều lần đem vàng bạc, của báu đút lót cho bọn tướng giặc là Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ...mong được thư giảm phần nào ý định hãm hại của chúng, để chờ dịp sơ hở [của đối phương].[lxv]                                      

 

Thuật sự trên khá gần với khuyến luận của Lê Thiện khi thuyết phục Lê Lợi nên liên hợp với quân Minh để phế bỏ nhà Hồ ở Hồi 12 trong HVXT:

 

Huống hồ ta quân mỏng, tướng ít, nước nhỏ, dân nghèo.  Mang vài nghìn quân ô hợp để chống lại trăm vạn hùng binh giống như đem trứng chim chọi với núi Thái.  Người xưa có nói: “Non sông nước Nam vua Nam ở;  Rành rành phân định tại sách trời,” không hẳn là câu nói suông.  Chi bằng ta hợp sức cùng quân Minh để tóm bọn loạn thần, khiến non sông nước Nam trở về với chủ cũ, sau đó anh em ta sẽ lui về chốn ruộng đồng an cư lạc nghiệp.  Giả dụ nhà Minh có ý dòm ngó, cũng phải tính đến danh nghĩa chứ.[lxvi]   

 

Ở đây, ngoài việc chỉ ra thế đối kháng không cân sức dẫn đến yêu cầu phải hòa hoãn, nhân vật Lê Thiện còn viện dẫn “thơ thần”, khẳng định nguyên tắc độc lập bất di, bất dịch “Nam quốc sơn hà Nam đế cư.”  Một khi đã kiên định với nguyên tắc này, việc hoà hoãn hay liên hợp với quân Minh chỉ là sách lược tạm thời nhằm đánh đổ “loạn thần” tiếm vị, vãn hồi cương thổ cho vương triều “cố chủ”  chính thống.  Nhà Minh mượn cớ chinh phạt loạn thần mà xâm chiếm, vậy nên họ sẽ không còn lý do để chiếm đóng khi kỷ cương đã được tái lập, “thiên mệnh” được tuân thủ, và quốc thổ được tái khẳng định theo “thiên thư.”  Khi dùng ngữ từ kí du chi tâm  覬覦之心 (tâm địa ham muốn vượt phận) cho tham vọng thôn tính nước Nam của nhà Minh, Lê Thiện đã xem đấy là đi ngược lẽ trời, phản “thiên lý,” phi chính danh, không thuận “danh nghĩa.”  Cố nhiên, cốt tủy vẫn phải là tự cường lực lượng để sẵn sàng giành lại sơn hà cho Nam đế khi kẻ ngoại xâm bỏ quên nguyên tắc độc lập quốc thổ quan trọng này.    

 

Chuyện liên hợp với quân Minh trong HVXT gợi lại một “sử thực” khác ở cùng giai đoạn này.  Đó là việc các anh em Mạc Thúy 莫邃, Mạc Viễn 莫遠 (hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi và tiên tổ của Mạc Đăng Dung) tán trợ Trương Phụ phá phòng tuyến sông Phú Lương của nhà Hồ năm 1406, có chép trong An Nam truyện 安南傳,[lxvii] Minh thực lục 明實錄,[lxviii] Đại Việt sử ký toàn thư,[lxix] và Công dư tiệp ký.[lxx]  Tuy với những sử liệu hiện có rất khó minh xác đâu là động cơ thực sự khiến nhóm Mạc Thúy, Mạc Viễn liên hợp với quân Minh,[lxxi] sự kiện này là “sử thực” về một bộ phận nhân sĩ cộng tác với nhà Minh chống triều Hồ, ít nhiều tương cận về mặt hiện tượng với tình tiết “hư cấu” Lê Lợi hợp lực với quân Minh đánh nhà Hồ trong HVXT.

 

Ngoài tình tiết vừa phân tích, Thúc Ngọc còn lên án Hồi 59, trong đó “Lê Công Soạn là tướng Lê Lợi, xin chết thay cho Hoàng Phúc là tướng Minh.”  Theo ông, “ở điểm này, tác giả lại quá xuyên tạc sự thực, chủ ý xóa nhòa tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam.”[lxxii]  Tình tiết Lê Công Soạn 黎公僎 và Lâm Thiếu Ngại 林少碍 liều mình xin tha chết cho Hoàng Phúc đã được tác giả HVXT “phục bút” trong nhiều hồi trước đó.  Hồi 36 kể việc sau khi tạm chiếm An Nam, Hoàng Phúc 黄福 lập trường học ở các phủ, châu huyện, “cấp phát các sách về âm dương, y học, tăng đạo,” và “bấy giờ [1415] những người Giao Châu như Lâm Thiếu Ngại, Lê Công Soạn cũng tới Đông Đô theo học Hoàng Phúc.”[lxxiii]  Hồi 57 thuật chuyện Lê Thiện điều binh, khiển tướng đón đánh quân của Liễu Thăng, Mộc Thạnh và Hoàng Phúc: “sai Công Soạn và Thiếu Ngại đem 2,000 quân ra hai bên tả hữu Ải Lưu...mai phục, chờ quân Bắc rút lui sẽ đổ ra đánh.”[lxxiv]  Hồi 58 tiếp theo sau nhắc việc quân của Thiếu Ngại và Công Soạn phục đánh, bắt được giặc, rồi mới nhận ra Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc “là thầy cũ của mình,” nhưng vẫn phải “giải về Trấn Di để bẩm báo, bởi lẽ “Sư đệ một niềm không bội nghĩa – Quân thần tấc dạ dám quên ơn.”[lxxv]  Đến Hồi 59, sau khi Công Soạn và Thiếu Ngại xin Lê Thái Tổ cho chết thay cho Hoàng Phúc vì cả hai “từng theo học Hoàng Thượng thư,” nếu đúng theo “quan hệ thầy trò, lẽ ra nên thả” sau khi bắt được, nhưng do “đạo vua tôi, không dám vị tình riêng” nên đã đưa về dâng nộp, tác giả mới cho thấy việc bố trí Công Soạn và Thiếu Ngại phục binh ở Ải Lưu là do dụng ý của Lê Thiện: “Trước đây cử hai tướng đi, đoán thế nào cũng bắt được Phúc, và chắc hai tướng sẽ không vì tình riêng mà bỏ phép công.  Dâng tù binh dưới trướng, đó là lòng trung thờ vua; xin thay chịu cực hình, ấy là đạo nghĩa thờ thầy.”[lxxvi]  Tình tiết này rõ ràng phỏng theo chuyện Khổng Minh phân công Quan Vân Trường mai phục ở Hoa Dung đạo đón giết Tào Tháo ở Hồi 49 và 50 trong Tam quốc diễn nghĩa, “biết số Tào Tháo chưa chết, nên mới để một mối tình nghĩa ấy cho Vân Trường làm [để Vân Trường tha Tào Tháo nhằm đền hậu ân Tháo đãi mình trước đây], cũng là một việc hay.”[lxxvii]  Thế nhưng, chuyện Công Soạn và Thiếu Ngại có dựa trên “sử thực” nào không, hay hoàn toàn chỉ là hư cấu?

 

Sử liệu từ Lam sơn thực lục và liệt truyện Hoàng Phúc trong Minh sử (quyển 154, “Liệt truyện” 42) giúp hiểu thêm kiến cấu câu chuyện Công Soạn – Thiếu Ngại.  Theo Lam sơn thực lục, tháng chạp năm Đinh Mùi (1427), sau khi các tướng nhà Minh giao trả thành trì, dân chúng, mong được tha để “kéo quân về Bắc,” quân – dân trong nước đã “kéo nhau tới nài nỉ, mong vua hãy giết chúng đi, để cho hả mối hận của trời, đất, thần, người.”  Tuy nhiên, vì lẽ “không thích giết người là bản tâm của bậc nhân giả,” Lê Thái Tổ đã thể hiện đức hiếu sinh mà phóng thích quân tướng nhà Minh, “cho phép chúng tùy nghi theo đường thủy và đường bộ mà rút về.  Lại sai sứ dâng biểu tạ lỗi.”[lxxviii]  Minh sử cung cấp một sử thuật khác về thái độ của người Nam đối với một viên tướng nhà Minh qua liệt truyện Hoàng Phúc.   Khi bị bắt ở Kê Lăng quan 雞陵関, Hoàng Phúc đã muốn tự sát, nhưng quân lính nước Nam đã ra sức can ngăn: “Công, Giao dân phụ mẫu dã, công bất khứ, ngã tào bất chí thử 公交民父母也。公不去,我曹不至此。(Ngài là bậc phụ mẫu của dân Nam.  Ngài không đi thì lũ chúng tôi đã chẳng đến đây).  Lê Thái Tổ nghe được, có nói: “Trung Quốc khiển quan lại trị Giao Chỉ, sử nhân nhân như Hoàng thượng thư, ngã khởi đắc phản tai! 中國遣官吏治交阯,使人人如黃尚書,我豈得反哉” (Trung Quốc điều quan lại quản trị Giao Chỉ, nếu khiến ai ai cũng được như thượng thư họ Hoàng thì sao ta phải phản công) và thả Hoàng Phúc về, tặng kèm vàng bạc, lương thực.  Bên cạnh cố gắng khắc họa một gương sáng qua trường hợp Hoàng Phúc, sử thuật của Minh sử cũng đã gián tiếp thừa nhận Hoàng là một bậc quan “phụ mẫu” thực sự hiếm hoi trong đội quân Minh xâm lược Giao Chỉ.  Tác giả HVXT đã mượn lời quân lính nước Nam chép ở liệt truyện Hoàng Phúc, sửa lại thành lời của trò thưa với thầy để Công Soạn và Thiếu Ngại phát biểu khi nhận ra Hoàng: “Ngã phụ mẫu dã!  Tiên sinh hướng bất Bắc quy, tiểu tử tất bất chí thử 我父母也!先生向不北歸,小子必不至此.” (Chính là bậc phụ mẫu của chúng ta!  Tiên sinh nếu xưa không về Bắc, thì bọn tiểu tử chúng tôi nay ắt không đến đây).[lxxix]  Với những thay đổi này, HVXT giới hạn lòng tri ân đối với Hoàng Phúc lại chỉ trong vòng quan hệ thầy – trò hạn hẹp, thay vì mở rộng ra như Minh sử  đã chép.  Đáng chú ý là tác giả HVXT tiếp tục phát triển quan hệ sư – đồ giữa Hoàng Phúc và Lê Công Soạn để khắc hoạ tính cách trọng ân, trượng nghiã của hai nhân vật này.         

 

Quan hệ đặc biệt giữa Hoàng Phúc và Lê Công Soạn được phát triển ở hồi cuối 60 của HVXT.  Sau khi bình định quân Minh xâm lược, hậu duệ nhà Trần là Trần Cảo 陳暠 chẳng may lâm bạo bệnh mà mất, Lê Lợi nghị bàn với quần thần và sứ giả nhà Minh là Lý Kỳ 李琦, cuối cùng đi đến quyết định dâng biểu xin thay Trần Cảo cai quản đất nước.  Trong khi chư thần còn “ngại không dám đi,” Lê Công Soạn “hăng hái nhận lời” đến Bắc Kinh dâng biểu lên Tuyên Tông, nhưng bị Trương Phụ tống giam, rồi “đem bỏ ngoài bờ thành, không cho ăn uống gì cả.”  May nhờ Hoàng Phúc ám trợ, gửi cho cám gạo mà sau chín ngày Công Soạn “vẫn cao đạo ngâm nga không ngớt.”  Tuyên Tông lấy làm lạ, bèn cho gọi ông vào triều, bảo nếu có thể “chép lại tường tận đầy đủ” sách Đại học diễn nghĩa 大學衍義 thì sẽ tha cho về.  Công Soạn “ngồi ngay tại sân chầu viết liền một mạch toàn bộ cuốn sách, có kèm theo các dòng cước chú, trên dưới lớn nhỏ không sai một chữ.”  Tuyên Tông cả khen, ban thưởng trọng hậu và tha cho về nước.[lxxx]  Về đại thể, có thể nói Hồi 60 chủ yếu dựa trên sử liệu của Minh sử kỷ sự bản mạt (Tuyên Tông năm thứ 3, Mậu Thân 1428, tháng 4 nhuận) để ghi lại việc thưởng phạt ở Bắc Kinh sau khi nhà Minh rút quân khỏi An Nam, số lượng tướng tá, sĩ tốt, ngựa xe được Đầu mục Lê Công Soạn hoàn trả cho Bắc triều, cũng như lập luận nên giữ hay bỏ Giao Chỉ của Tuyên Tông.  Minh thực lục cũng ghi lại việc một sứ bộ An Nam do Đầu mục Lê Khí 黎器 (Lê Công Soạn?) và Hà Phủ aHa何甫 đi cùng sứ thần nhà Minh Lý Kỳ đến Bắc Kinh tấu biểu về việc con cháu nhà Trần tận tuyệt và xin để Lê Lợi đảm nhiệm việc nước, cũng như việc Tuyên Tông ra sắc chỉ chuẩn thuận, giao cho Lê Khí cùng tùy tùng mang về nước 18 ngày sau đó.[lxxxi]  Tuy nhiên, các sử thư Trung Quốc không đề cập gì đến những sự biến khác liên quan đến Lê Công Soạn như trong HVXT.  Ngoài ra, chi tiết Lê Công Soạn bị bắt phơi trần giữa trời vẫn khảng khái bảo “Ngô sái can Ngũ Kinh tứ nhĩ 吾晒乾五經笥耳” (Ta đang phơi hòm sách Ngũ Kinh đấy thôi) chính là dựa theo chuyện danh sĩ đời Đông Tấn Hác Long 郝隆 thản phúc sái thư 坦腹晒書 (thản nhiên vạch bụng phơi sách) khi các nhà giàu có trong làng phơi tơ hong lụa.  Tinh thần trọng ân – trượng nghĩa, ân tình thầy – trò sâu đậm, và khí chất thông tuệ của hai nhân vật Hoàng Phúc và Lê Công Soạn đã được tác giả HVXT tiếp tục phát triển qua những tình tiết hư cấu trên nền “sử thực.”

 

Kết luận

Trong chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử, Georg Lukács cho rằng thể loại này ra đời vào đầu thế kỷ XIX (khoảng thời gian Napoléon sụp đổ và chủ nghĩa tư bản ra đời với tư cách là một cấu trúc kinh tế), đánh dấu bởi tác phẩm Waverley của tiểu thuyết gia người Scotland Walter Scott (1771 –1832), góp phần khẳng định cảm thức lịch sử như một tiến trình.  Ông kỳ vọng tiểu thuyết lịch sử phải tạo nên tri giác về kết nối nhân văn giữa con người ở những thời – không khác nhau: tiểu thuyết lịch sử phải tái trải nghiệm (re-experience) tâm lý và đạo đức của con người quá khứ như một giai đoạn phát triển của nhân loại, có liên quan và tác động đến con người đương đại chúng ta.[lxxxii]  Lukács cũng nhấn mạnh vai trò của “sự sai lệch thời gian cần thiết” (necessary anachronism), hay hư cấu, trong tiểu thuyết lịch sử.  Hư cấu cho phép “các nhân vật diễn đạt tình cảm, tư tưởng về các quan hệ lịch sử có thực rõ nét hơn những con người của thời ấy đã từng trải nghiệm,” nhưng phải luôn xác thực về mặt lịch sử, xã hội.[lxxxiii]  Đặc biệt, Lukács cũng lưu ý rằng tiền thân của “tiểu thuyết lịch sử” theo như ông quan niệm có thể đã tồn tại rất sớm ở Trung Quốc và Ấn Độ.[lxxxiv]  Theo đó, HVXT cũng là một trường hợp khá điển hình.       

 

Khác với các bộ tiểu thuyết lịch sử “diễn nghĩa” của Trung Quốc tập trung vào phân tranh giữa các vương triều, HVXT là tập truyện về chống ngoại xâm, bảo vệ cương thổ.  Được biên soạn có lẽ vào khoảng đầu triều Nguyễn, HVXT với tác giả khuyết danh và Lê Hoan với tư cách người đề tựa và nhuận sắc đã cho phép nhiều cách đọc khác nhau.  Dẫu muốn “khai tử” tác giả để chuyên chú vào nội dung sách, người đọc vẫn không khỏi bị ám ảnh bởi chiếc bóng của một tác giả nào đó trong quá trình diễn giải tác phẩm.  Tác giả HVXT đã thâu dụng truyền thuyết dân gian, tham khảo quốc sử (đặc biệt là Lam sơn thực lục), và sử liệu Trung Quốc trong quá trình biên soạn bộ tiểu thuyết này.  Những ghi chép của sử liệu Trung Quốc trình hiện một góc nhìn khác về cuộc kháng chiến chống Minh của Lê Lợi và quân dân nước Nam, cho thấy nội tình và các quan điểm khác nhau của Minh triều đối với cuộc viễn xâm An Nam của họ.  Dẫn dụng sử liệu Trung Quốc để góp phần kiến cấu nên tác phẩm HVXT, tác giả bộ sách này cơ hồ như muốn trình bày một sử thuật khác về giai đoạn lịch sử này qua hư cấu tiểu thuyết.  Qua các trường hợp đã phân tích trong bài, có thể thấy “lịch sử” đã được “hư cấu” như thế nào, và “tiểu thuyết” đã được “lịch sử hóa” ra sao.          

 

 

Death of the Author of a Historical Novel? 

Issues from Reading the Hoàng Việt xuân thu 皇越春秋

By Nguyễn Nam

 

Applying theories of the historical novel into the studies of this literary genre in Vietnam still remains an urgent need even nowadays.  Several issues of the historical novel – such as defining acceptable proportion between “fact” and “fiction,” delineating allowable extents for the author’s fictional creation, identifying employed historical sources for the re-creation of history within a fictional framework, or speculating the writer’s motivations and historical viewpoints – require comprehensive discussions through specific works.  This paper ponders on these issues through the case of a Vietnamese novel written in classical Chinese entitled Việt Lam xuân thu 越藍春秋 (“Exemplary Spring-and-Autumn Annals of the Viet Kingdom”; also known as Hoàng Việt xuân thu 皇越春秋, “The August Viet’s Spring-and-Autumn Annals”).  Anonymous, thus composition date unknown, Việt Lam xuân thu (VLXT) stands out as a brain-teaser entailing various possible answers/interpretations.  The assumption of an author (or co-author) for the novel also simultaneously requires the contextualization of historical, political, and socio-cultural conditions that have effects on the writer.  As for the reader/critic, once the assumed (co-) author has been accepted, there will be diverse thoughts on the novel and its author, and those thoughts vary significantly through history depending on available supplementary documents, and on the ideological standpoints of readers/critics.  The paper will examine the fraction of “fact” and “fiction” in the novel, pinpointing historical sources for “fact,” conjecturing historical bases (if any) for “fiction,” and sketching out the author’s historical viewpoints.  It will also review judgments and criticisms on VLXT made by Vietnamese and Chinese scholars to accentuate the role of the reader in the process of reinventing the historical meanings of the novel.  

                        

Nguyễn Nam

(TS., Khoa Đông phương học,

ĐH KHXH&NV, ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh)

(Tham luận đọc tại hội thảo “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội”([Pre]Modern Asian Literatures Read through Modern Western Theories: Applications, [In]Compatibilites, Challenges, and Opportunities) do Viện Văn học tổ chức ngày 14-15 tháng Ba, 2011 tại Viện KHXH VN)

 



*Tiểu luận này được hoàn tất nhờ sự giúp đỡ quý báu của Gs. Đinh Khắc Thuân (Viện Nghiên cứu Hán – Nôm), Ts. Đào Thế Đức (Tạp chí Xưa và nay); nhân đây xin chân thành cảm ơn.

[i] Trần Nghĩa.  “Nguyễn Đông Châu đã dựa vào bản chữ Hán nào để dịch Việt Lam xuân thu?” Tạp chí Hán-Nôm, số 1 (38), 1999, chú thích (1).

[ii] Vô danh thị.  Hoàng-Việt Xuân-Thu, Phương Phủ Nguyễn Hữu Quỳ dịch, Saigon: Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, 1971.  

[iii] Xem Hoàng Việt xuân thu trongTrần Khánh Hạo, Vương Tam Khánh (Chủ biên).  Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng khan, tập 3: Lịch sử tiểu thuyết, Paris-Taipei: Pháp quốc Viễn đông bác cổ học viện & Đài Loan Học sinh thư cục, 1986, t. 3. 

[iv] Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, Trần Nghĩa dịch và giới thiệu, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1999, t. 11-12.

[v] Trần Văn Giáp.  Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam (tập 2), Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, 1990, t. 179.

[vi] Tuy được đóng thành hai quyển, bản A. 3215 thực tế cũng phân thành 3 tập: sơ, trung, và hạ.  Xem Trần Nghĩa.  “Nguyễn Đông Châu đã dựa vào bản chữ Hán nào…”, bđd., chú thích (1).

[vii] Tuy thiếu hẳn 20 hồi cuối (41-60), kết cấu hiện tồn của bản “Tân thư viện” cho thấy sách rõ ràng được chia làm ba quyển: quyển 1 (hồi 1-21), quyển 2 (hồi 22-40), và quyển 3 (gồm các hồi khiếm khuyết còn lại, 41-60).   Cách phân quyển này giống như bản R. 451 (chỉ còn quyển 2, hồi 22-40).

[viii]Đông dương văn khố (Toyo bunko) đăng ký sách này trong catalogue dưới tên Việt lam tiểu sử 越藍小Xem http://www.toyo-bunko.or.jp/ToyoBunko-E/index-e.html

[ix] Vũ Xuân Mai, Lê Hoan.  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 18, chú thích 3.  

[x] Xem Vô danh thị.  Hoàng-Việt Xuân-Thu, sđd., t. 207 (phần chữ Hán); Vũ Xuân Mai, Lê Hoan.  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 596.

[xi] Trần Văn Giáp.  Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd., t. 179.

[xii] Ví như Hoàng Việt lịch đại hợp biên皇越歷代合編, Hoàng Việt thực lục皇越實錄 (chép các sự kiện Nguyên Hoà thứ 8 (1540) đến năm Cảnh Hưng 38 (1877)), Hoàng Việt luật lệ 皇越律例 (1812-1813), Hoàng Việt ngọc phả ký tập 皇越玉譜記集 (do con cháu đời sau của nhà Lê biên soạn năm Gia Long 15 (1816)), Hoàng Việt hội điển toát yếu 皇越會典撮要 (1833), Hoàng Việt sách tuyển 皇越策選 (do Ngô Thế Vinh吳世榮 (1802 - 1856) bình duyệt), Hoàng Việt văn tuyển 皇越文選 (1825), Hoàng Việt thi tuyển 皇越詩選 (1825), Hoàng Việt thái phó Lưu quân mộ chí 皇越太傅劉君墓志 (với bài văn bia của Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức 8 (1855)), Hoàng Việt phong nhã thống biên皇越風雅統編 (do Phan Thanh Giản biên tập), Hoàng Việt lịch đại thi phú 皇越歷代詩賦 (1879), Hoàng Việt long hưng chí皇越龍興志 (1904), Hoàng Việt khoa cử kính 皇越科舉鏡 (1919), Hoàng Việt tân san luật 皇越增刊新律 (1923), Hoàng Việt hình luật 皇越刑律(1933), hay Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật 皇越中圻戶律 (1937).  Tham khảo tại: http://www.hannom.org.vn/default.asp?CatID=131.  

[xiii] Trần Văn Giáp.  Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd., t. 179.

[xiv] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Chủ biên).  Từ điển văn học bộ mới, Hà Nội: Nxb. Thế Giới, 2004, t. 1996.

[xv] Tạ Ngọc Liễn.  “Việt Lam xuân thu qua các bản dịch,” trong Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 401.

[xvi] Việt Lam xuân thu (4 tập), Nguyễn Đông Châu dịch, Hà Nội: Đông Kinh ấn quán, 1914-1916.

[xvii] Trần Nghĩa.  “Nguyễn Đông Châu đã dựa vào bản chữ Hán nào...”, bđd.

[xviii] Như trên.

[xix] Phan Huy Lê.  “Tác phẩm Việt Lam xuân thu có giá trị về mặt sử liệu hay không?”, Nghiên cứu lịch sử, số 58 (1/1964): “[Đ]i sâu vào nội dung của tác phẩm, chúng ta còn tìm thấy nhiều chi tiết chứng tỏ rằng tác phẩm xuất hiện về sau này.  Hồi XL chép rằng sau khi nghĩa binh hạ thành Nghệ-an thì thái thú Trấn định là Can Tỏa, thái thú Trấn biên là Lỗ Quý đến đầu hàng.  Trấn định và Trấn biên là hai điạ danh mãi đến đời Nguyễn mới đặt ra (…)  Hồi XLV mấy lần nhắc đến huyện Phúc-thọ.  Tên huyện Phúc-thọ (ngày nay là huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn-tây) cũng mãi đến đầu đời Nguyễn mới xuất hiện, còn trong thế kỷ XV là huyện Phúc-lộc thuộc phủ Quốc-oai (…)  Một số chứng cứ trên đây cũng cho phép kết luận rằng Việt lam xuân thu (…) là một tác phẩm xuất hiện chậm hơn nhiều, có thể khoảng đời Nguyễn.” (t. 42).  

[xx] Tham khảo http://sites.google.com/site/hotranduyenhung/goc-tich-ho-tran-duyen-hung.  Người viết đã liên lạc với đại diện họ tộc (Gs. Trần Minh Thế) để xin tham khảo bản gốc chữ Hán của Tộc phổ, nhưng rất tiếc bản này hiện nay đã thất lạc, chưa truy tìm được.

[xxi] Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 53.  Tộc phả họ Trần ở Duy Hưng chép, “Sau khi Hồ Quý Ly là cháu ngoại nhà Trần cướp ngôi vua, cho lệnh truy nã ông Trần Cảo là em thứ ba của vua Trần Duệ Tông, ông phải trốn ngụ tại nhà lão tướng Trần Cố là một viên tướng nhà Trần đã về hưu.  Một tháng sau Quý Ly lại ra lệnh truy nã nữa, ông Trần Cảo bèn nói với lão tướng rằng:  ‘Nay lệnh của Quý Ly truy nã tôi rất gấp, tôi không thể tránh được nữa, vậy ông nên đưa tôi nộp để lấy công danh và cũng là để tránh khỏi liên lụy,’ viên lão tướng sửng sốt nói rằng: ‘Ông vốn dòng dõi cành vàng lá ngọc mà nói như thế thì từ nay xin đừng trông thấy tôi nữa.’  Ông Trần Cảo nói: ‘Ta nói thế để thử lão tướng đấy thôi. Nay Quý Ly sắp ra chơi núi Gôi, ông nên tìm cách trừ đi.’  Lão tướng vâng lời rồi cùng hẹn nhau mang trùy sắt đến núi Gôi nấp mình trong bụi rậm chờ đoàn xe Quý Ly tới, Lão tướng từ trong bụi nhẩy ra hành thích, nhưng không trúng xe Quý Ly bị quân của Quý Ly bắt được, tra tấn cực hình để tìm dòng dõi vua Trần, nhưng ông nhất định không khai, quay mặt về phía kinh đô Tức Mạc lạy năm lạy, vừa lạy vừa chửi Quý Ly rồi đập đầu vào đá chết.  Ông Trần Cảo liền trốn thoát không biết đi đâu nữa, lúc ấy con trai ông Trần Cảo cón nhỏ là ông Trần Phúc An vẫn trốn ở An Giàng cùng với mẹ.  Gốc tích họ Trần ở An Giàng cũng từ đấy.”

[xxii] Roland Barthes.  “La Mort de l’auteur” trong Mantéia, no. 5 (1968), t. 61-67; sau in lại ở Le bruissement de la langue (Xao xác của ngôn ngữ), Paris: Seuil, 1984, t. 63-69.  Tiểu luận này ban đầu được gửi trực tiếp cho tạp chí Aspen (Mỹ), được dịch sang tiếng Anh và công bố trên tạp chí này năm 1967.  Một năm sau (1968), Barthes công bố lại nguyên văn tiểu luận bằng tiếng Pháp trên Mantéia, và tác phẩm này đã nhanh chóng trở thành kinh điển của chủ nghĩa hậu cấu trúc (poststructuralism).  Tham khảo thêm các bản dịch tiếng Anh: “The Death of the Author”, Richard Howard dịch, trong Aspen 5 & 6 (1967); và “The Death of the Author”, Stephen Heath dịch, trong Image, Music, Text (Hình ảnh, âm nhạc, văn bản), London: Fontana Press, 1977, t. 142-148.

[xxiii] Roland Barthes.  “La Mort de l’auteur”, bđd., t. 61.

[xxiv] “The Death of the Author”, Stephen Heath dịch, bđd., t. 148.

[xxv] Xem Michel Foucault.  “Qu’est-ce qu’un auteur?” trong Bulletin de la Société française de Philosophie, số 63:3 (1969), t. 73-104.

[xxvi] Michel Foucault.  Les mots et les choses Une archéologie des sciences humaines (Từ ngữ và sự vật – Khảo cổ học khoa học nhân văn), Paris: Gallimard, 1966.

[xxvii] Xem chương giới thiệu Les mots et les choses của John C. Greene trong Julia Kristeva, Josette Rey-Debove, và Donna Umiker (biên tập).  Essays in Semiotics/Essais de sémiotique (Các tiểu luận ký hiệu học), Berlin, New York: De Gruyter Mouton, 2010, t. 230-238.

[xxviii] Samuel Beckett.  Stories and Texts for Nothing (Truyện và văn bản chẳng để làm gì), Grove Press, 1994, t. 85.

[xxix] Thực ra, dẫn văn của Beckett không hoàn toàn “thờ ơ” với vấn đề “tác giả” khi nhắc rằng “có ai đấy đã nói”.  Xem Thomas Hunkeler.  “The Role of the Dead Man in the Game of Writing: Beckett and Foucault” (Vai trò của người chết trong trò chơi trứ tác: Beckett và Foucault) trong Richard Lane (biên tập).  Beckett and Philosophy (Beckett và triết học), New York: Palgrave, t. 70.

[xxx] Michel Foucault.  Language, Counter-Memory, Practice – Selected Essays and Interviews (Ngôn ngữ, Đối-ức, Thực tiễn – Tiểu luận và phỏng vấn chọn lọc), Donald F. Bouchard biên tập và giới thiệu; Donald F. Bouchard và Sherry Simon dịch, Oxford: Basil Blackwell, 1977, t. 118.

[xxxi] Về các công trình lý luận liên quan đến vấn đề “tác giả”, tham khảo: Adrian Wilson.  “Foucault on the ‘Question of the Author’: A Critical Exegesis” (Foucault bàn về “Vấn đề tác giả”: Luận bình phê phán), The Modern Language Review, số 99:2 (4/2004), t. 349, chú thích 2.

[xxxii] Seàn Burke.  The Death and Return of the Author: Criticism and Subjectivity in Barthes, Foucault and Derrida (Cái chết và sự trở lại của tác giả: Phê bình và tính chủ thể trong Barthes, Foucault và Derrida), Edinburgh: Edinburgh University Press, 1992, in lần thứ 3 năm 2008.

[xxxiii] William Irwin. The Death and Resurrection of the Author? (Cái chết và sự phục sinh của tác giả?), Westport, Connecticut – London: Greenwood Press, 2002.

[xxxiv] Adrian Wilson.  “Foucault on the ‘Question of the Author’...”, bđd., t. 360.

[xxxv] Tham khảo bản dịch tiếng Anh Michel Foucault.  “What Is an Author?” (Tác giả là gì?), trong Donald Preziosi (biên tập).  The Art of Art History: A Critical Anthology (Nghệ thuật của lịch sử nghệ thuật: Tuyển tập phê bình), New York : Oxford University Press, 1998, t. 314.

[xxxvi] Xem Trần Mặc 陳默.  “Luận Việt Nam Hán văn tiểu thuyết Hoàng Việt xuân thu 論越南漢文小説《皇越春秋》” (Bàn về tiểu thuyết Hán văn Việt Nam Hoàng Việt xuân thu), Bắc phương luận tùng 北方論叢, số 164 (6/2000), t. 109-114; Lục Lăng Tiêu 陸淩霄.  “Luận Việt Nam Hán văn tiểu thuyết Hoàng Việt xuân thu đích đức trị quan niệm論越南漢文小説《皇越春秋》的德治觀念” (Bàn về quan niệm đức trị của tiểu thuyết Hán văn Việt Nam Hoàng Việt xuân thu), Bách sắc học viện học báo 百色學院學報, số 20:1 (2/2007), t. 98-103; Lục Lăng Tiêu, Từ Kiệt Thuấn 徐傑舜.  “Luận Việt Nam Hán văn tiểu thuyết Hoàng Việt xuân thu đích chính thống quan niệm 論越南漢文小説《皇越春秋》的正統觀念” (Bàn về quan niệm chính thống của tiểu thuyết Hán văn Việt Nam Hoàng Việt xuân thu), Bách sắc học viện học báo, số 20:2 (4/2007), t. 72-77.

[xxxvii] Lục Lăng Tiêu. Việt Nam Hán văn lịch sử tiểu thuyết nghiên cứu, Bắc Kinh: Dân tộc xuất bản xã, 2008.

[xxxviii] Trần Mặc 陳默.  “Luận Việt Nam Hán văn tiểu thuyết...”, bđd., t. 113-114.

[xxxix] Lục Lăng Tiêu. Việt Nam Hán văn lịch sử tiểu thuyết..., sđd., t. 54.

[xl] Như trên, t. 55-56.

[xli] Như trên, t. 55.

[xlii] Như trên, t. 57.

[xliii] Trần Văn Giáp.  Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd., t. 179.

[xliv] Như trên, t. 179-180.

[xlv] Lê Hoan (1856-1915) từng giữ chức Tổng đốc của triều Nguyễn tại nhiều tỉnh bắc bộ trong thời gian những năm 1890 và 1900.  Ông được xem là đã hợp tác với Pháp trong nhiều chiến dịch đàn áp khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám và sát hại vị thủ lĩnh nghĩa quân này năm 1913.    

[xlvi] Hoàng Cao Khải (1850–1933): Đại thần thân Pháp, Kinh lược sứ Bắc kỳ cuối cùng của triều Nguyễn.

[xlvii] Hoàng Cao Khải.  Gương sử Nam (En Annam), bản song ngữ Việt – Pháp, Thái Hà ấp – Hà Nội: Imprimerie Express, 1910; Hoàng Cao Khải.  Việt Nam nhân thần giám (Quelques grandes figures de l’histoire d’Annam), bản dịch chữ Pháp của Đỗ Thận, Hà Nội: Viễn đông ấn đường, 1915. Gương sử Nam viết: “Đến khi người nước ta đâu đâu cũng là dấy, mà ông Lê Lợi cũng đã dựng cờ ở núi Lam sơn, thế mà quan nhà Minh, tâu với vua nhà Minh, một thì nói rằng: ông Lê Lợi đã chết; hai thì nói rằng: ông Lê Lợi đã hàng.  Đến lúc tướng Liễu Thăng phải chết, thành Đông quan phải hàng mà trong khoảng mười bốn năm giời, nhà Minh phải bỏ mà về, không còn cai trị nước ta được nữa.” (t. 68); Việt Nam nhân thần giám chép: “Từ khi đời rốt nhà Trần, nước ta phải nhà Minh [x]âm chiếm, thì có vua Lê Thái Tổ dấy lên mà chống với nhà Minh” (t. 4), “Buổi ấy nhà Minh cai trị nước ta.  Nghi rằng ông Phi Khanh có ý phản đối, bắt giải về đất Kim lăng.  Ông Nguyễn Trãi đi đưa cha đến cửa Nam quan.  Ông Phi Khanh bảo rằng: ‘Con giở về lo mà rửa thẹn cho nước, phục thù cho cha, đi theo khóc lóc để mà làm gì?’” (t. 8).

[xlviii] “Thư gửi từ Pháp,” Xưa và nay, số 55 (9/1998), t. 29.

[xlix] “Bạn đọc viết tiếp,” Đào Hùng giới thiệu, Xưa và nay, số 62 (4/1999), t. 31.

[l] Gérard Sasges.  “Quanh việc đánh giá nhân vật Lê Hoan trong lịch sử cận đại,” Xưa và nay, số 110 (2/2002), t. 34-35, và 40.

[li] Như trên, t. 34.

[lii] Như trên, t. 40.

[liii] Chương Thâu.  “Đọc Việt Lam xuân thu (bản Duy Tân) nghĩ về người khắc in, công bố, và một vài nhân vật thời đại”; Tạ Ngọc Liễn.  “Việt Lam xuân thu qua các bản dịch” trong Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 395 và 403.

[liv] Hữu Ngọc.  “Nghi án Lê Hoan – Sĩ phu hay Việt gian?” Sức khỏe và đời sống (3/4/2010), xem http://suckhoedoisong.vn/2010032208003920p15c77/nghi-an-le-hoan-si-phu-hay-viet-gian.htm; tham khảo thêm bản tiếng Pháp “Une énigme de l'histoire : Lê Hoan, traître ou patriote?” (Câu đố lịch sử: Lê Hoan – Kẻ phản bội hay người yêu nước?), trong Le courrier du Vietnam (23/01/2010), xem

 http://blog.vietnam-aujourdhui.info/post/2010/01/24/Une-%C3%A9nigme-de-l-histoire-%3A-L%C3%AA-Hoan,-tra%C3%AEtre-ou-patriote 

[lvi] Jerome de Groot.  The Historical Novel, New York: Routledge, 2010, t. 14.

[lvii] Âu Dương Kiện.  Lịch sử tiểu thuyết sử 歷史小説史 (Lịch sử tiểu thuyết lịch sử), Hàng Châu: Triết Giang cổ tịch xuất bản xã, 2003; Đoạn Khải Minh, Trương Bình Nhân.  Lịch sử tiểu thuyết giản sử 歷史小説簡史 (Lịch sử giản lược tiểu thuyết lịch sử), Thái Nguyên: Sơn Tây nhân dân xuất bản xã, 2005. 

[lviii] Xem Tiết 2, “Lịch sử hoà tiểu thuyết: Tòng đồng nguyên đồng thể đáo đồng nguyên dị thể 歷史和小説:從同源同体到同源異体,” trong Âu Dương Kiện.  Lịch sử tiểu thuyết sử, sđd., t. 3-12.

[lix] Xem Chương 5 “Postmodernism and the historical novel: history as fiction, fiction as history,” trong Jerome de Groot.  The Historical Novel, sđd., t. 109-120. 

[lx] Đoạn Khải Minh, Trương Bình Nhân.  Lịch sử tiểu thuyết giản sử, sđd., t. 4.

[lxi] Xem Bính thìn trát ký trong Tụ học hiên tùng thư 聚學軒叢書 (đệ tam tập), Quý Trì Lưu Thế Hành 歸池劉世珩 hiệu khan.

[lxii] Nguyễn Văn Dị và Văn Lang.  “Nghiên cứu về chiến dịch Tốt Động – Chúc Động (1426),” Nghiên cứu lịch sử, số 56 (1963), t. 27.

[lxiii] Phan Huy Lê.  “Tác phẩm Việt Lam xuân thu có giá trị về mặt sử liệu hay không?”, bđd., t. 41-43.

[lxiv] Như trên, t. 43.  Nguyên văn câu trích dẫn là “Lợi sơ sĩ Trần Quý Khoáng, vi Kim ngô tướng quân; hậu quy chính, dụng vi Thanh Hoá phủ, Nga Lạc huyện tuần kiểm 利初仕陳季擴為金吾將軍,後歸正,用為清化府俄樂縣巡檢.” (Lợi ban đầu ra làm quan cho Trần Quý Khoáng, giữ chức Kim ngô tướng quân; sau quay về nẻo chính, được bổ dụng làm tuần kiểm huyện Nga Lạc, phủ Thanh Hóa).  Xem Minh sử, quyển 321, “Liệt truyện” 209, Ngoại quốc 2.

[lxv] Nguyên văn: “Nhiên ư tặc thế do cường, vị khả dị chế, đế mỗi ti từ hậu lễ, đa dĩ kim ngân hóa bảo lộ tặc tướng Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ đẳng bối, kí đắc thiểu hoãn kỳ hại đế chi tâm, sử đế đắc đãi thời quan hấn 然於賊勢猶強未可易制,帝每卑辤厚禮,多以金銀貨寳賂賊將張輔,陳智,山壽,馬騏等輩,冀得少緩其害帝之心,使帝得待時觀釁.”  Xem Lê Lợi (kể), Nguyễn Trãi (ghi), Hồ Sĩ Dương (san định).  Trùng san Lam sơn thực lục, Trần Nghĩa dịch, chú thích và giới thiệu, Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, 1992, t. 24. 

[lxvi] Nguyên văn: “Thả ngã binh vi, tướng quả, quốc tiểu, dân bần.  Dục đề sổ thiên ô hợp chi sư nhi kháng bách vạn hùng hoàn chi chúng, chính do dĩ điểu noãn nhi đấu Thái sơn nhĩ.  Cổ nhân hữu ngôn viết: ‘Nam quốc sơn hà Nam đế cư – Tiệt nhiên định phận tại thiên thư’ bất hư ngôn dã.  Vô như dữ Minh hợp lực ngải ngải loạn thần, sử Nam quốc sơn hà quy vu cố chủ.  Nhiên hậu ngã huynh đệ thoái vu điền lí, lạc nghiệp an cư.  Thượng Minh hữu kí du chi tâm, diệc úy kỳ danh nghĩa hĩ 且我兵微,將寡,國小,民貧。欲提數千烏合之師而抗百萬熊桓之眾,正猶以鳥卵而斗泰山耳。古人有言曰:“南國山河南帝居;截然定分在天書”不虛言也。無如與明合力艾刈亂臣,使南國山河歸于故主,然後我兄弟退回于田裏,樂業安居。倘明有覬覦之心,亦畏其名義矣。”  Xem Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 85.

[lxvii] An Nam truyện của Vương Thế Trinh 王世貞 (1526-1590); xem An Nam truyện cập kỳ tha nhị chủng 安南傳及其他二种, Thượng Hải: Thương vụ ấn thư quán, 1937. 

[lxviii] Xem Minh thực lục: Vĩnh Lạc tứ niên (1406), thập nguyệt, thập tứ nhật; Vĩnh Lạc lục niên (1408), cửu nguyệt, bát nhật; và Vĩnh Lạc cửu niên (1411), tam nguyệt, nhị thập tứ nhật.  

[lxix] Đại Việt sử ký toàn thư (4 tập), Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, 1993, tập 2, t. 214-215.

[lxx] Vũ Phương Đề.  Công dư tiệp ký (3 tập), Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch, Saigon: Bộ quốc gia giáo dục, 1961, tập 2, t. 112.

[lxxi] Trang “Mạc tộc Việt Nam” viết về Mạc Thúy như sau: “Ngài là con thứ của cụ Mạc Dao. Anh trai của Ngài là cụ Mạc Địch, có tài năng và sức lực nhưng vì bất đắc chí muốn chống lại nhà Hồ và mắc sai lầm đưa đường cho nhà Minh sang đánh nhà Hồ. Người Minh phong cho cụ chức chỉ huy sứ.  Ngài có cùng chí hướng như anh và cũng có hành động sai lầm, muốn chống lại nhà Hồ buổi ấy nên đã dẫn đường cho Trương Phụ qua sông đánh úp phá thành Đông kinh. Ngài lại sai thủ hạ là bọn đầu mục Nguyễn Như Khanh bắt Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng. Người Minh thưởng công phong cho Ngài chức Tham chính ở Ty bố chính Giao Chỉ và em Ngài là Mạc Viễn chức Diêm thiết sứ. Năm Mậu Tý (1408) lại cùng Trương Phụ đánh Diễn Châu. Năm Nhâm Thìn (1412) niên hiệu Trùng Quang thứ tư vào tháng 12, đem quân đánh Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn bị trúng tên độc chết.”  Xem:  http://mactoc.com/newsdetail/120/vien-to-trieu-phuc-hoang-ao-tich-uc-hoang-e-mac-thuy.aspx .  Năm 1594, khi nhà Mạc đã ở vào thế yếu trong cuộc phân tranh với nhà Lê, Mạc Ngọc Liễn thành tâm khuyên vua Mạc Kính Cung rằng, “Hựu thiết vật yêu thỉnh Minh nhân nhập ngã quốc dĩ chí dân khổ đồ thán, thị diệc tội chi mạc thậm dã 又切勿邀請明人入我國以致民苦塗炭,是亦罪之莫甚也。(Nhất thiết không được mời người Minh vào nước ta để đến nỗi dân phải khốn khổ, lầm than; tội đấy không có gì nặng hơn).  Xem Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, t. 189, và tập 4, t. 571-572.

[lxxii] Trần Văn Giáp.  Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, sđd., t. 179.

[lxxiii] Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 245.

[lxxiv] Như trên, t. 361.

[lxxv] Như trên, t. 371.

[lxxvi] Như trên, t. 372-373.

[lxxvii] Xem La Quán Trung.  Tam quốc diễn nghĩa (2 tập), Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính, Hà Nội: Nxb. Văn Học, 2010, tập 1, t. 572.

[lxxviii] Lê Lợi (kể), Nguyễn Trãi (ghi), Hồ Sĩ Dương (san định).  Trùng san Lam sơn thực lục, sđd., t. 48.

[lxxix] Vũ Xuân Mai (soạn), Lê Hoan (nhuận sắc).  Việt Lam xuân thu, sđd., t. 370 và 686.

[lxxx] Như trên, t. 376-381.

[lxxxi] Minh thực lục, Tuyên Tông Chương Hoàng Đế thực lục, quyển 43, ngày 1 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ 3, bản ảnh ấn của Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan), tập 18, t. 1043, 1053-1054.

[lxxxii] Georg Lukács.  The Historical Novel (Tiểu thuyết lịch sử), Hannah và Stanley Mitchell dịch từ bản tiếng Đức, Lincoln & London: Nxb. Đại học Nebraska, 1983, t. 42.

[lxxxiii] Như trên, t. 63.

[lxxxiv] Như trên, t. 19; về Tiểu thuyết lịch sử của Lukács, xem thêm: Trương Đăng Dung.  “Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G. Lucacs,” Tạp chí văn học, 5/1994, t. 40-43.

 

Sponsors

_logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Login

Login to post research articles to FLL



Online Members

We have 1359 guests online