Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Văn học Việt Nam Thơ tự do – Một trong những phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 – 1975

Thơ tự do – Một trong những phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 – 1975

Email In

Bùi Bích Hạnh*

Để thể hiện hiệu quả diện mạo của cái tôi trữ tình, thế hệ thơ trẻ lựa chọn cho mình những phương thức nghệ thuật phù hợp. Đó chính là sự tìm kiếm thể thơ, sự khéo léo trong việc khám phá những chất liệu ngôn ngữ phong phú hay khai thác những hiệu ứng thẩm mĩ từ một số thủ pháp tu từ, biểu hiện những giọng điệu nghệ thuật đặc sắc… Tất cả đều góp phần tái hiện sinh động chân dung cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 – 1975. Đối với đội ngũ sáng tác lúc bấy giờ, đây không hẳn là những cách tân về mặt hình thức song có thể nhìn nhận với một số phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình, các tác giả trẻ đã đạt được những thành công nhất định, qua đó khẳng định được phong cách sáng tạo của người nghệ sĩ và phong cách thời đại.

 

Thể loại thơ ca là một phạm trù lịch sử. Tính lịch sử của thể loại tác động đến quan niệm của người nghệ sĩ trong quá trình lựa chọn phương thức biểu hiện phù hợp với tư tưởng, phong cách và thời đại sản sinh ra tác phẩm. Với dung lượng ôm chứa hiện thực ngồn ngộn của chiến tranh, thơ trẻ Việt Nam 1965 – 1975 mở rộng, tìm tòi những khả năng biểu hiện mới của thơ ca. Trong đó hình thức thể loại là một trong những phương thức được thơ trẻ ý thức lựa chọn, nhằm chuyển tải được tư duy nghệ thuật của thời đại. Thơ tự do, với những đặc trưng thể loại, là một hình thức biểu hiện được các nhà thơ trẻ chống Mỹ sử dụng phổ biến. Qua đó, thể hiện được phong cách sáng tác, xu hướng nghệ thuật của thơ trẻ.

Trên tiến trình phát triển của văn học, thơ tự do xuất hiện trong thời kì nền thơ Việt Nam chuyển sang “một thời đại trong thi ca” - phong trào Thơ mới 1932 - 1945. Đây được xem như bước khởi đầu Thơ mới khẳng định vị thế của mình trong công cuộc cách tân thể loại. Cùng với đặc trưng “mạch thơ tự do hoàn toàn không bị chi phối bởi một quy luật nào, mà mở rộng theo hai chiều dọc và ngang một cách phóng túng” [4,33], thơ tự do mang lại những cách tân đáng kể trong việc khơi rộng và thậm chí phá vỡ những khuôn khổ hạn định gò bó của hình thức thơ cũ. Thơ mới là một sự phóng túng trong hình thức biểu hiện, trong đó có thể thơ tự do song so với số chữ vẫn còn hạn định của câu Thơ mới thì phong trào thơ này vẫn chưa hoàn toàn thoát mình ra khỏi những ràng buộc. Có thể khẳng định thơ tự do thuộc Thơ mới (1932 - 1945) là bước tìm tòi thể nghiệm đầu tiên nên dù ít nhiều đã thoát khỏi sự gò bó của thể thơ ổn định nhưng vẫn chưa thực sự linh động và phóng khoáng bằng giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn 1965 – 1975. Như một số trường hợp: Sớm nay tiếng chim thanh/ Trong gió xanh/ Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình (Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ) hay Nhưng em ơi,/ Đất trời nghiêng ngửa/ Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ/ Đất trời nghiêng ngửa,/ Thành sầu không sụp đổ, em ơi! (Say đi em - Vũ Hoàng Chương)… đều là bước thể nghiệm đáng ghi nhận của thơ tự do song mạch thơ vẫn chưa thực sự được giải phóng; vẫn còn đó sự hạn định của vần thơ, nhịp điệu và cả tứ thơ cũng chưa thực sự bay bổng. Hay đến với Xuân về của Lưu Trọng Lư, với kiểu câu thơ dài ngắn khác nhau, thơ tự do được đánh giá là thể thơ ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu, về sự hạn định câu đã cho phép nhà thơ phóng túng trong tư duy nghệ thuật, tạo được những khoảng thăng hoa cảm xúc. Vì thế một số tác giả trong phong trào Thơ mới đã dần dần chiếm lĩnh thể thơ này, từ đó thơ tự do cũng dần khẳng định vị thế trong hình thức thơ Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên do nhiều nhân tố, hình thức thơ tự do của phong trào Thơ mới vẫn chưa chiếm nhiều ưu thế, nhất là trong tâm lí đón nhận của độc giả.

Chính sự xuất hiện của thể thơ tự do trong phong trào Thơ mới kéo theo sự ra đời của hàng loạt các cây bút thử sức với thể thơ này trong thơ kháng chiến miền Bắc. Trong khi đó ở miền Nam, các cây bút thể hiện ý thức sâu sắc trong việc cách tân nghệ thuật như Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Mai Thảo đã mạnh dạn đưa thể thơ này đến với đời sống tiếp nhận của công chúng miền Nam với quan niệm thống nhất thơ tự do cởi bỏ hết những ràng buộc để thơ ca đạt được đến đỉnh cao của sự thăng hoa. Như vậy, thơ tự do là một sự lựa chọn tất yếu của quá trình vận động và phát triển văn học. Có thể thấy đến giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, thơ tự do có điều kiện để phát triển với nhiều hình thức đa dạng. Đặc biệt ở giai đoạn chống Mỹ, thơ tự do nở rộ với nhiều cách lựa chọn hình ảnh táo bạo, mới lạ và nhiều cách sử dụng tiết tấu linh hoạt.

Có thể khẳng định đến nền thơ chống Mỹ, thơ tự do tiếp tục được lựa chọn như là hình thức phổ biến, phù hợp với dung lượng phản ánh hiện thực cách mạng và những vấn đề mang tầm triết luận. Đặc biệt là những năm 60, thơ tự do thực sự đã khẳng định được vị thế trên thi đàn. Với khả năng dung nạp nhiều suy tưởng, nhiều trạng thái cảm xúc sôi nổi trước bao nhiêu biến cố nóng bỏng của cuộc chiến đấu, thơ tự do thích hợp với những vấn đề giàu tính trí tuệ, tính chính luận; đồng thời cũng thể hiện bao quát nhất nguồn cảm xúc tràn đầy của chủ thể trước hiện thực chiến tranh. Với một phong cách thơ giàu triết luận, suy tưởng, Chế Lan Viên đã tìm đến với thơ tự do. Khi cần thể hiện cao độ chất suy nghĩ, tác giả sử dụng tối đa thể loại này bởi “thơ tự do chấp nhận nhiều khả năng diễn tả” [4,129]; trên cơ sở đó nhà thơ lật trở nhiều góc cạnh của vấn đề để suy ngẫm. Có thể thấy Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên, khi tính chính luận đóng vai trò chủ đạo trong tư duy nghệ thuật, thơ tự do xem như là thể loại phù hợp nhất. Bằng hình thức thể hiện linh hoạt, co giãn của câu thơ, những luận bàn về thời cuộc, thái độ của chủ thể đối với tội ác kẻ thù và nhất là niềm tự hào về phẩm chất của con người anh hùng trong kháng chiến… được khai thác thấu đáo.

 Sự biến động của đời sống xã hội, đời sống văn học tất yếu tác động đến tư tưởng và hình thức thơ ca. Đây là xu hướng tự do hóa hình thức của thơ trẻ 1965 – 1975. Tuy đã xuất hiện rải rác trong nền thơ cách mạng, song phải nói đến giai đoạn này, thơ tự do mới trở thành sự lựa chọn phổ biến của các cây bút trẻ. Cái tôi trữ tình là cách cảm nhận của chủ thể trước hiện thực, là cách tổ chức điểm nhìn của chủ thể trữ tình, đồng thời cũng là tổ chức sự vận động cảm xúc cũng như tổ chức các phương tiện biểu đạt để xây dựng hình tượng trữ tình. Như vậy cái tôi trữ tình là sản phẩm tinh thần thơ ca, thông qua việc tổ chức các phương tiện trữ tình. Thơ tự do chẳng những nói được những gân guốc của cuộc đời thường nhật mà còn đề cập đến nhiều chiều cuộc sống thật thấm thía. Với điểm nhìn đa dạng ở những ngổn ngang, góc cạnh của hiện thực chiến tranh; với những phức tạp của mạch cảm xúc, tư tưởng; với chồng chất trăn trở về được - mất, sống - còn; với sự giằng xé giữa vinh quang – mất mát, thơ tự do là hình thức phóng khoáng nhất để cái tôi trữ tình dịch chuyển điểm nhìn trên nhiều bình diện. Để khắc sâu diện mạo của cái tôi trữ tình với những suy tư, trải nghiệm đa chiều. Tích hợp nhiều vấn đề trong nội tại thể thơ luôn là thế mạnh bởi thơ tự do ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu, về sự hạn định câu và cho tác giả có điều kiện diễn tả đối tượng một cách thích hợp nhất. Thơ tự do xem ra là hình thức sát hợp nhất với nhu cầu của các cây bút trẻ trong việc cất dựng chân dung tinh thần của chủ thể trữ tình. Những vấn đề nhức nhối nhất của hiện thực chiến đấu, những phân tích lí giải của chủ thể về bộn bề sự kiện e không vừa vặn trong những thể thơ truyền thống, niêm luật chặt chẽ và hạn định về dung lượng. Sự gò bó của các thể thơ đó sẽ khuôn hẹp khả năng biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ với xu hướng đưa chất bộn bề, trần trụi của đời sống vào thơ.

Trong tầng lớp những trở trăn về số phận dân tộc hay số phận nhân dân, sự linh hoạt trong độ dài câu thơ tự do đã tạo điều kiện để các nhà thơ đi sâu vào bày biện, luận giải về những vấn đề phức tạp của thế giới tinh thần. Có những lúc chủ thể cần kéo căng cảm xúc và cũng có khi nhu cầu dồn nén cảm xúc rất lớn. Với sự luân phiên dài ngắn của câu thơ, cái tôi có khả năng thể hiện đầy đủ những cung bậc cảm xúc, suy tư. Đôi khi các nhà thơ trẻ tìm đến thể tự do như một cách thức kiềm nén nỗi xúc động trước những mất mát hay đó có thể là cách để thấm nghiệm nỗi đau chiến tranh, sự hy sinh của những người lính đã dâng hiến cả sự lành lặn của thân thể cho cuộc chiến dân tộc:

Không thể xông lên đồn thù bằng đôi chân được nữa

Và bàn tay xém lửa, xù xì

Thành bàn chân: như trẻ nhỏ - anh đi

(Bàn tay biết đi – Nguyễn Đức Mậu) 

 Thơ tự do không bị ràng buộc vào những quy tắc định trước như số dòng, số chữ, niêm, đối, vần… Số dòng trong khổ không nhất định. Số chữ trong từng dòng có thể nhiều ít khác nhau:

Tôi bước đi

mưa mỗi lúc mỗi to

sao hôm nay lòng thấy chật

như buổi sáng mùa đông chưa thấy mặt trời mọc

con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua

        (Bài thơ của một người yêu nước mình – Trần Vàng Sao)

 Với dòng thơ càng được kéo dài, cảm xúc của chủ thể trữ tình như được đẩy căng. Người thơ mong muốn đi tìm lời giải vì sao cõi lòng mình như hẫng đi giữa không gian giăng mắc nỗi niềm, ở đó có một con người nặng lòng với Tổ quốc. Thơ trẻ vì thế nói được rất nhiều nỗi lòng thành thật của con người: Họ trao cho nhau/ giọt nước mắt và nụ cười hai mươi sáu năm xa dành dụm lại/ giọt nước mắt cũng đã già như tuổi/ riêng nụ cười là vẫn trẻ trung (Giọt nước mắt và nụ cười - Nguyễn Duy). Chính sự co giãn linh hoạt của thể thơ tự do tạo ra những khoảng trắng trong thơ, những khoảng lặng, thậm chí là khoảng chết lặng trong tâm hồn. Nỗi đau mất mát không chỉ là nỗi đau nữa mà còn là thảng thốt. Cấu trúc câu thơ cứ thu ngắn lại, tưởng mọi cảm xúc của con người như lịm đi, trong hàng loạt lời chất vấn xót đau. Những câu thơ dài ngắn nối tiếp nhau diễn tả rất thấu tâm trạng khúc mắc, dằn vặt của cái tôi khi ngẫm ngợi về những điều còn – mất trong thời đạn lửa:

 Có người chưa gặp thân nhân

có người không gặp thân nhân

vợ lạc chồng

anh lạc em

và cha lạc con

ai còn?

ai mất?

                                                               (Tìm thân nhân - Nguyễn Duy)

Chính thơ tự do, với khả năng linh hoạt trong biên độ mở trên từng dòng thơ như thế đã giúp các tác giả trẻ tận dụng trong việc chuyển tải một số tư tưởng nghệ thuật và tạo nên được những quan niệm nghệ thuật độc đáo. Thời gian nghệ thuật được nhìn nhận không chỉ trên ba chiều nữa mà trong thơ trẻ, có khi con người được sống ở chiều thứ tư của thời gian - đó là chiều của đời sống tâm linh. Tiết tấu của những dòng thơ như bị dồn nén lại, khi gấp gáp, lúc lắng đọng trong nguồn cảm xúc trào dâng của cái tôi trữ tình. Cái tôi dự cảm như len thấm vào từng nhịp điệu của đoạn thơ. Nếu tách đoạn thơ này thành những câu thơ ngắn hoàn chỉnh, e khó thể hiện cho thấu cái tôi phức hợp của nhiều cảm xúc bâng khuâng, hồi hộp, ngỡ ngàng, âu lo... và chất chồng dự cảm. Hình tượng thời gian mang chiều kích mới: quá khứ ám ảnh ngay trong những ngày chưa sống, hôm nay đã đan cài những đường vân của cái còn phía trước và nhất là tương lai lại ôm trọn cả chiều xưa của quá khứ và chiều sâu của thực tại:

Tất cả ở đây đều chưa định

Cuộc đời như sắp sửa đi xa

Tươi trẻ đến phát lo

Ồn ào mà sâu hút

                           (Viết cho em từ cửa biển – Lưu Quang Vũ)

Với một số nhà thơ trẻ, đồng hiện nhịp thời gian đã trở thành một nghệ thuật ứng xử với đời của một con người đam mê sống. Thời gian đồng hiện kéo con người vào cơn lốc của xúc cảm; mà ở đó, cảm thức về cuộc đời trở nên sâu hơn và thấm thía hơn. Đây là sự hòa quyện giữa những mặt tưởng đối lập trong đời sống nội tâm của nhà thơ, khi dự cảm là cảm thức thời gian chủ đạo, chi phối một đời sáng tác. Như vậy, cái tôi thơ trẻ thể hiện sâu sắc triết lí về dòng đời riêng tư phần nhiều từ cái nhìn đồng hiện thời gian nhờ vào tiết tấu linh hoạt của thơ tự do.

Thơ trẻ đã thâm nhập vào những vùng cảm xúc đa chiều của cái tôi trữ tình. Tiếng thơ có khi dồn nén, có lúc lại hẫng hụt. Sử dụng độ dài ngắn của thơ tự do chính là cách để các cây bút trẻ thể hiện đầy đủ cung bậc cảm xúc của chủ thể trữ tình. Chính kết cấu linh hoạt đó kết hợp với nhịp điệu câu thơ, tạo nên tâm sự thiết tha của một thế hệ vẫn chưa hết bàng hoàng trước hiện thực chiến trường: Đêm nghe tằm ăn dâu/ Tưởng dòng sông đôi bờ đương vỡ/ Con lớn lên bỡ ngỡ/ Ôm ngọn súng trường dắt mặt trong mưa (Quê hương – Thu Bồn). Với độ dồn nén của những dòng thơ cực ngắn, thơ trẻ 1965 – 1975 tạo nên những tiếng tự tình trầm buồn, gây nên một nguồn cảm xúc mới mẻ trong thơ. Cũng với cách gieo cảm xúc vào những khoảng lặng cuối đoạn thơ, các nhà thơ trẻ có lúc đã để tiếng yêu thương – lẽ ra phải nén tận vào sâu tâm thức – bật thốt thành lời:

Tôi không thể nào không nghĩ về anh

Khi trở lại bến này – Anh đã vì Tổ quốc!

Thắt lòng tôi không khóc

                           (Bức ký họa trên bờ biển – Thúy Bắc)

 Thơ tự do không phải là một hình thức định trước trong quá trình sáng tác mà đó là sự tìm đến tất yếu khi tâm hồn nhà thơ đạt đến độ nhuần chín, ở đó độc giả như được trải lòng trong những trạng thái cảm xúc tế vi của người nghệ sĩ. Không chỉ tự do trong hình thức câu thơ, thể thơ này còn kéo dài biên độ của đoạn thơ, bài thơ. Đó là khi cái tôi có nhu cầu bộc bạch đến cạn cùng nguồn cảm xúc thẩm mĩ, khi tiếng nói bức bối của chủ thể trữ tình gần như không thể kiềm nén. Chính vì nhiều lí do khách quan, do quan niệm thơ ca mang hơi thở thời sự, thơ trẻ miền Nam gắn với những bài thơ có khuôn lượng câu thơ rất dài. Đặc điểm này đã góp phần chứng minh cho tư duy nghệ thuật của thơ trẻ, đặc biệt là thơ trẻ trong lòng đô thị miền Nam – đi vào những chi tiết vụn vặt của chiến trường và cuộc sống đời thường. Sự linh hoạt trong việc mở rộng biên độ như thế không chỉ phản ánh hiện thực phức tạp của chiến trường mà còn phù hợp với việc tái hiện cuộc sống đời thường. Những bài thơ trong Tiếng hát những người đi tới hay Viết trên đường tranh đấu của phong trào học sinh sinh viên thành thị miền Nam hầu hết không theo khuôn khổ câu chữ. Nhiều tác phẩm có khi kéo dài vài trang viết với hàng trăm dòng thơ, kết chứa nhiều hình tượng trữ tình và chuyên chở được vô vàn suy cảm của cái tôi về những vấn đề lớn lao của dân tộc đến những ngóc ngách của đời sống: Mỹ Lai – máu, nước mắt và niềm uất hận (Nguyễn Văn Phụng); Đi giữa rừng súng máy (Trần Phá Nhạc); Vì sao những lời quyết liệt, Sóng vẫn đập vào eo biển, Đất của những người bất phục (Lê Văn Ngăn); Về những con đường khô cây (Thái Ngọc San).

   Với sự tự do trong vần điệu, thơ tự do là sự hòa điệu của tiết tấu. Hay nói khác hơn, tính nhạc – phần lớn là nhạc lòng – mới là điều quyết định đến sức hấp dẫn của thể thơ này. Đồng thời sắc diện của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ chống Mỹ nhờ sự vượt thoát khỏi quy luật vần điệu mà được thể hiện một cách đầy đủ nhất. Bởi không gò bó trong những hạn định về niêm, luật, cái tôi trữ tình thể hiện được chiều sâu thế giới nội cảm trên những liên kết cảm xúc. Tiết tấu thơ mới là sợi dây kết dính cảm xúc của chủ thể để khắc họa sắc diện của cái tôi trữ tình. Cái tôi như chênh vênh trong hàng loạt lời chất vấn:

tôi chẳng phải là chim

sao biết đường bay mỏi

đôi cánh này ngông cuồng và rồ dại

gió đã đến rồi

xin một bàn tay đắp lên vết thương

sao gió không ru nỗi buồn tôi đi ngủ

bây giờ gió là đứa trẻ hoang tàn

đem cuộc đời tôi làm hát dạo

(Gió - Ngô Kha)

Thơ tự do là thơ phân dòng nhưng không theo một thể thức nhất định. Có thể nói đây là một cấu trúc thơ xóa bỏ hết mọi sự ràng buộc bên ngoài. Một trong những hình thức làm tăng khả năng biểu cảm và tăng nhạc điệu cho tác phẩm, đó là hình thức vắt dòng, vốn khá phổ biến trong tư duy lựa chọn hình thức biểu đạt của thơ trẻ đương thời. Nhịp điệu thơ phân khúc, âm hưởng lời thơ như chùng xuống, đó cũng chính là sức nặng của cảm xúc chủ thể trữ tình. Hiện tượng vắt dòng đã xuất hiện trong thơ ca kháng chiến chống Pháp và đã tạo được những thành công đáng kể. Tế Hanh là một trong những nhà thơ chuộng hình thức này. Để tái hiện hiệu quả mạch trăn trở của chủ thể trữ tình trước tương lai của dân tộc, tác giả đã tách dòng cảm xúc thành những khúc tâm trạng nôn nao, rạo rực. Cách vắt dòng của nhà thơ đã thể hiện sâu sắc sức mạnh của niềm tin:

Người thủy thủ

nhìn mặt trời sắp tắt

thấy lòng mình biển cháy mênh mông

ngày mai đây

                      ngày chiến đấu sau cùng

                                                                           (Người thủy thủ và con chim én)

Có thể xem đây là những khoảng trắng đầy tâm trạng của cái tôi. Các nhà thơ trẻ giai đoạn này tiếp tục khai thác thủ pháp vắt dòng, đem vào thơ cách ngắt nhịp của lời nói. Nhịp điệu thơ chính là nhịp điệu tình cảm. Kiểu kết cấu này mở độ lắng cho mạch cảm xúc, tạo những nốt lặng của hồn thơ. Như có lần sức nặng lời buộc tội về tình người của chủ thể trữ tình dường như dồn cả vào chỗ vắt dòng:

Sao mọi người có thể dửng dưng

Nhìn em đi trên đường tối

Mọi người đều có tội

Trước tuổi thơ đã chết của em

                                                                           (Những tuổi thơ - Lưu Quang Vũ)

Cũng có khi mạch cảm hứng như bị ngắt ra, mang nặng nỗi niềm cách trở:

   Tấm ký họa trên tay tôi

                                                bỗng nhòa vào biển rộng

Kết thành nghìn mắt ngọc long lanh

Chằm chặp nhìn tôi

                                                như đã nhìn anh

Tôi hiểu rõ anh đi

                                    giờ phút ấy!

(Bức ký họa trên bờ biển - Thúy Bắc)

hay đó là phông nền cho một sự cắt nghĩa về những nỗi nhớ đến “lạ” trong thời chiến. Cách ngắt dòng thơ tầng bậc như chất xúc tác đưa tư duy nghệ thuật của người sáng tác đạt đến độ chín. Sức nặng của nỗi nhớ dồn cả vào những chỗ vắt dòng, người đọc như cùng mải miết sóng bước với người nghệ sĩ trong hành trình đi tìm nguyên do của nỗi nhớ, có khi tưởng chẳng thể nào cắt nghĩa được của trái tim đa đoan thời chiến:

tôi vẫn sống

vẫn ăn

vẫn thở

            như mọi người

        đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ

        một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu

        một vết bùn khô trên mặt đá

        không có ai chia tay

        cũng nhớ một tiếng còi tàu

        (Bài thơ của một người yêu nước mình – Trần Vàng Sao)

Những chỗ vắt dòng đôi khi níu con người vào những miền nội cảm rất phức tạp của thế giới tinh thần thơ trẻ. Con gà đất, cây kèn và khẩu súng – Nguyễn Khoa Điềm là một trường hợp như thế, ở đây điều ước ao giản dị của một thuở ấu thơ lại đeo đẳng cả một đời day trở. Và chủ thể trữ tình đã cất xây một sự chuyển đổi những khát khao bé bỏng của tuổi thơ thành một niềm khát vọng của con người trưởng thành. Giấc mơ về con gà bảy sắc giục mùa sinh sôi là hiện thân của mơ ước về một cuộc sống ngắt tiếng bom rền, cuộc sống của yên ả, phồn thịnh. Sự chuyển biến trong những ước nguyện gắn với ba đoạn đời của anh giải phóng quân được nhà thơ thể hiện sinh động trong hình thức câu thơ bậc thang. Đoạn kết của tác phẩm chính là biểu hiện điểm nhìn của cái tôi trữ tình trải trên ba đoạn đời đầy cơ cực mà cũng ắp đầy dự báo của nhân vật trữ tình. Kết thúc của những chặng đời thăng trầm kia là bến đỗ của ngày mai tươi sáng, là hạnh phúc của niềm tin:

Anh đi từ

Con gà đất

                      cây kèn

                                  và khẩu súng

Để nhận lấy tình yêu của thuở ban đầu

Cái tôi ngập ngừng, e thẹn trong mảnh đất tình yêu dường như cũng tỏ ra phù hợp với lối thơ ngắt dòng. Người đọc không chỉ cảm nhận được cái thẹn thùa trong tình yêu trong trẻo mà còn như tận mắt chứng kiến cái dùng dằng, bịn rịn không thành lời qua hình thức rơi dòng như thế:

Rồi theo từng hơi thở của anh

Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực

Anh lên đường

                                  hương sẽ theo đi khắp

Họ chia tay

                                  vẫn chẳng nói điều gì

Mà hương thầm thơm mãi bước người đi

    (Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn)

Các nhà thơ trẻ có ý thức tìm tòi, thể nghiệm những hình thức biểu hiện của thơ tự do. Một số cây bút trẻ kéo dài câu thơ bằng lối viết rơi dòng với những chữ đầu dòng không được viết hoa. Đây được xem là phương thức vắt dòng, vừa tạo độ dài cho câu thơ, truyền hết được những ý tưởng mà những câu thơ theo hình thức thông thường không có khả năng diễn đạt trọn vẹn. Cách ngắt dòng bất ngờ đó làm cho mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình tác động rất mạnh đến tâm hồn người đọc. Thường những chỗ không viết hoa và đột ngột xuống dòng chính là điểm dừng để nguồn cảm xúc chất chứa của chủ thể trữ tình được đẩy lên đến cao trào. Hay có chỗ rơi dòng không viết hoa lại là sự đổ vỡ của con người trước những sự thật nghiệt ngã: tôi cũng có một cái làng/ không bao giờ tới được/ khi em mở bàn tay/ những đường chỉ xa xôi/ run run định mệnh/ những đường chỉ mơ hồ lẩn khuất/ dẫn anh về một cái làng xưa/ đã mất (Những chiếc lá rơi - Lưu Quang Vũ). Đồng thời lối vắt dòng này còn tạo ra nhịp điệu cho lời thơ, thể hiện được những điểm nhấn trong cảm xúc của chủ thể trữ tình:

Chuyến xe chiều chở đầy người

với sương mù và núi đi theo

và cô đơn lăn đều trên bánh

chuỗi cười để lại đằng sau

(Hành trình - Ngô Kha)

Có thể khẳng định thơ tự do là một trong những phương thức thể hiện đắc địa của thơ trẻ Việt Nam 1965 – 1975. Các cây bút đã thể nghiệm và gặt hái được khá nhiều thành công ở thể loại này, góp phần khắc họa sắc nét những biểu hiện của cái tôi trữ tình. Với việc sử dụng linh hoạt thể thơ này, các tác giả đã tạo ra một sức hấp dẫn riêng cho thế giới nghệ thuật của mình, đưa người đọc đến được với những góc cạnh của đời sống chiến trường và đưa thơ đi vào cuộc sống. Qua đó, người đọc hình dung một cách rõ nét hơn diện mạo phong phú của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ 1965 – 1975.

BBH

 

Tài liệu tham khảo

1.            Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995 (Nhìn từ phương diện sự vận động của cái tôi trữ tình), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2.            Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3.            Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4.            Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức (2003), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

 
Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, số chuyên đề Bình luận văn học – Niên giám 2011

* ThS., Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.