Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Văn học Việt Nam Nguyễn Văn Vĩnh phê phán thói hư tật xấu của người Việt

Nguyễn Văn Vĩnh phê phán thói hư tật xấu của người Việt

Email In

Tạ Anh Thư*

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhân vật có ảnh hướng lớn đến đời sống chính trị, xã hội, văn hoá Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX. Nhắc đến Nguyễn văn Vĩnh với cương vị một nhà văn, điều làm người đọc ấn tượng nhất có lẽ là những bài nghị luận sắc sảo, đa dạng trong phong cách, tinh nhạy trong việc nắm bắt các vấn đề thuộc về đời sống được ông thể hiện bằng một lối ngôn ngữ hiện đại, linh hoạt. Loạt bài phê phán thói hư tật xấu của người Việt là một mảng rất điển hình cho phong cách chính luận của Nguyễn Văn Vĩnh và tư tưởng cải cách của ông.

Chủ trương làm cho mọi người thấy rõ những nhược điểm của con người Việt Nam, của xã hội còn nhiều lạc hậu để từ đó loại bỏ được những thói tệ, học theo văn minh, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết khá nhiều bài báo về chủ đề này, tới mức, nhiều người trách ông lấy người phương Tây làm mẫu mực, không thông cảm, gần gũi với đồng bào của mình. Quả thật qua giọng điệu châm biếm đôi khi hơi quá quắt của ông, những thói tệ mà ông vạch ra làm nhiều người không mấy dễ chịu. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh vốn là một người rất kiên định với những gì mà mình đã tin tưởng. Dựa vào một phương châm của người Pháp : “Tout dire, pour tout connaitre, pour tout guérir - Nói hết, để biết hết, để chữa hết”, ông cho rằng  cách hiệu quả nhất để loại bỏ những tính xấu, những hủ tục là công khai những thói xấu, hủ tục đó ra để người đời soi vào đó mà sửa, các thiết chế của Nhà nước hay chính quyền cũng nhìn vào đó để có những điều chỉnh cho thích hợp. Đó không phải là sự bêu xấu dân tộc, hay coi thường nguồn gốc của mình mà là một cách xây dựng, mở lối cho những điều tốt đẹp. Từ những năm trước đây, khi sang Pháp dự đấu xảo, trong lá thư gửi người bạn Phan Duy Tốn của mình, ông đã bộc lộ suy nghĩ này: “Nhận thấy sự còn kém của mình, có phải là xấu xa gì đâu? Trên đời này người nào thấy được chỗ kém của mình, người ấy đã gần đi đến chỗ tiến bộ”.

Chính vì lẽ đó mà khi phác họa ra bức chân dung “người Việt xấu xí”, Nguyễn Văn Vĩnh không hề tỏ ra e dè hay khoan nhượng. Ngoài các bài viết trên Đăng cổ tùng báo, ông còn lập cả một chuyên đề riêng trên Đông Dương tạp chí với tên gọi “Xét tật mình”. Có thể chia mảng đề tài này làm 2 chủ đề chính: phê phán những hủ tục và phê phán những thói xấu của người Việt.

1. Phê phán những hủ tục:

Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu nên còn nhiều hủ tục. Những hủ tục này cản trở không ít đến sự phát triển của đất nước. Thói quen cúng bái, mê tín dị đoan là một ví dụ. Trong hoàn cảnh cuộc sống còn khó khăn, người sống còn không có cái ăn mà lại đi lãng phí tiền của để mua “voi giấy, mua ngựa giấy, hình nhân” đốt cho hồn ma thì thật đáng trách. Điều này được Nguyễn Văn Vĩnh đề cập đến trong bài Thiếu gạo ăn thừa giấy đốt, đăng trên Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo số 802, ngày 30-5-1907.

Ông  phê phán: “Ngẫm ngay cái điều cúng chúng sinh. Người đi ăn mày từng lũ lượt, thì chẳng nhìn đến, lại nhớ đến mấy con ma, mà sao lại khéo biết là ma đói? Đến cái bịa đặt ấy, thì chịu nước Nam, duy chỉ bịa ra máy móc là không biết mà thôi. Giời rét đến người trần cũng không có áo mà mặc, lại đi làm áo giấy để cúng các quan, chẳng biết các quan nào. Mình chẳng ra gì thì chớ, lại tưởng rằng ngoại dương gian cũng chẳng ra gì nữa. Trên trần ta thì có mấy quan ai lễ thì mới binh vực, chớ ở trên giời nếu cũng thế, thì chẳng hóa ra ông giời đâu đâu cũng tạo điều bất lương ư?”

Ông phân tích: “Làm như thế thực là đùa thánh thần đó, thánh thần đâu lại hễ ai cúng thì tha. Còn như ma đói, ma khát thì thực là bịa đặt. Sự đói khát là một cái cần riêng của giống súc sinh ở trần gian. Ra ngoài xác thịt không còn đâu những điều hèn hạ ấy. Nếu không, sao gọi là linh? Nếu có tài làm được điều lành điều dữ cho người ta, thì việc chi lại cần đến mình cho ăn; một năm cúng hai lần, còn những ngày khác ăn vào đâu?”

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, cần phải hiểu chữ “thờ” cho đúng nghĩa: “Xưa nay nước mình hay cúng vái cũng bởi hiểu nhầm điều này”. “Thờ một ông thánh, nghĩa là làm để cho lưu cái danh ông ấy lại, chứ không phải chiệu (triệu) hồn ông ấy về, ăn miếng thịt quay, uống ba chén riệu (rượu), rồi khấn ông ấy điều gì cũng được đâu.”

Một trong những thói tục Nguyễn Văn Vĩnh lên án nữa là tệ lãng phí khi ma chay, cúng giỗ. Người Việt Nam vốn trọng tình cảm, lễ nghĩa, coi trọng mối quan hệ với họ hàng làng xóm, việc ma chay, cúng giỗ đương nhiên phải có. Thế nhưng, không phải cứ mâm to cỗ đầy linh đình mới là hiếu thuận với người đã khuất. Tổ chức “ma to giỗ lớn” trong khi nhà không có cái mà ăn, phải bán cả ruộng vườn thì hóa ra lại là mang tội với cha mẹ. Trong bài “Ma to giỗ nhớn” đăng trên Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo, số 796 ngày 18/4/1907, ông phê phán: “Phong tục An–nam mình, nhiều điều thật không có nghĩa lý gì. Như có bố mẹ lên lão, hoặc mình đi thi đỗ, cưới vợ, làm nhà, được làm quan, thăng hàm, mà ăn mừng thì còn có nhẽ; nhưng bố mẹ chết, mà mổ trâu mổ bò, mời làng mời nước, biếu–sén hàng sóm (xóm) láng giềng, thì còn có nghĩa gì nữa ? (…) Tôi nghĩ không giả nghĩa nào bằng: lúc cha mẹ còn sống; nhà thường thì cố làm ăn cho cha mẹ được hiển vinh; nhà có thì gắng nên tài trí để cha mẹ được danh tiếng. Tôi tưởng lúc ông–cụ bà–cụ nằm xuống mà nghĩ được rằng: “ta đã sinh ra được con có tài có đức, cho xã–hội được nhờ; thì dù ta từ trẻ đến già, không làm nên điều gì, song đã để lại được dọt (giọt) máu tốt, để chuộc lấy cái đời vô ích của ta”, thì chắc hẳn các cụ thỏa lòng hơn rằng, chết rồi có tư–văn hàng–giáp đến tế–lễ linh–đình”.

Ông cũng bác bỏ lí do làm ma to, giỗ lớn để trả nợ miệng cho họ hàng làng xóm: “Cũng có kẻ nói là nợ miệng: ăn của người thì lại phải mời người đến ăn. Trong một đời người thiếu gì dịp tiếp khách, lại phải nhân khi bố mẹ chết mới tưởng đến ơn người cho ta ăn một bữa. Thì ra khi bố mẹ chết, tưởng đến bố mẹ ít, tưởng đến kẻ cho ăn nhiều.

Tôi tưởng làm người, thực có hiếu với cha mẹ, thì lúc cha mẹ thác đi, còn có trí nào mà nghĩ đến những điều thiệp–lịch mấy được, còn có bụng nào mà để vào những sự tiếp đãi anh em. Vả làm ra cỗ bàn lại hóa ra mất cả lòng thành hàng sóm (xóm) láng giềng, bạn-bè thân-thích. Thành ra ai cũng mang tiếng, vị có bữa cơm mấy đi đưa bà con tới mồ, chớ không phải thương vị tiếc bà con mà chịu khó nhọc đi đưa đám. Sau nữa lại còn một nỗi: vừa mất cha mất mẹ lại còn vừa hết cơ hết nghiệp, hết tang người rồi lại đến tang của. Có đâu lại làm như thế!”

Cũng về đề tài này, Nguyễn Văn Vĩnh còn có một bài viết khá gay gắt và thấm thía trên Đông Dương tạp chí số 10. Theo ông, ở nông thôn, cái thói xấu đáng hổ thẹn nhất, cần lên án và loại trừ là thói coi việc ăn uống là việc quan trọng hàng đầu trong quan hệ xã hội, “hạch nhau từ miếng thịt nắm sôi (xôi), làm cho người ở chốn hương thôn điêu đứng về cái nợ miệng”. Ông phẫn uất: “Ăn đâu mà lại có, mẹ người ta chết cũng đòi ăn, bố người ta già cũng đòi ăn. Không có cảnh nào làm cho người nhà quê An Nam nên xấu hổ bằng cái cảnh một nhà tấp nập, người chết nằm trong áo quan, người sống thì kẻ khóc người rên, mà chồng còn phải đi cầm trâu bán ruộng, vợ thì tất tả đi mượn nồi mượn niêu, trước giường thờ thì thân hào kỳ lão, cụ nọ ông kia thứ tự ngồi nhìn nhau đợi mâm cơm nai rượu cho được”.

Chính vì cái hủ tục đó mà đời sống người nông dân khốn đốn. “Tiền buôn bán chẳng có, đi vay nợ về làm mấy mâm cỗ để giữ thể diện với hàng xóm”. Quá bức xúc trước những thói tệ vô lý, dã man đó, Nguyễn Văn Vĩnh dường như không giữ được bình tĩnh nữa, viết đến đoạn này, người đọc cảm thấy như ông đứng bật dậy mà hét lên: “Nhục! Nhục! là nhục cả bọn khu khu thủ cựu, giữ thói giã man, nhà người ta chết cha than khóc, còn vác miệng đến đòi ăn. Nhục là nhục những đồ quanh năm bỏ sõng hai tay chỉ nay đi giỗ này, mai đi chay nọ, làm cho việc đãi khách vốn là cái thảo, là việc cầu thân, mà sinh ra một cái nợ phải nhăn nhó. Nhục, nhục cho xã hội nước Nam, tưởng đoàn tụ nhau mà cùng giữ yên chung, mà đồng tâm hiệp lực đưa nhau cho mỗi ngày một dảo bước lên cõi sung sướng, lên cõi khôn ngoan, chẳng hóa ra hội tụ để mà tranh nhau thịt lợn thịt gà, để mà ghen tị nhau miếng to miếng nhỏ, đầu cánh phao câu, để mà tị nhau chiếu trên chiếu dưới, bát đầy bát vơi. Miếng thịt là miếng nhục!”.

Từ rất sớm, Nguyễn Văn Vĩnh đã thấy được những tác hại của việc đốt pháo. Trong bài “Đốt pháo” đăng trên Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo số 824, ngày 31-10-1907, ông tỏ rõ quan điểm “đốt pháo là thậm giã man, thậm hay sinh phiền, thậm vô lý, thì anh em ta nên bỏ dứt hẳn đi.”

Ông phân tích rằng tục đốt pháo chẳng qua là du nhập từ mấy “chú khách”, vừa không có ích lợi gì lại sinh ra lãng phí, tổn hại tới kinh tế, sức khỏe. Tục đốt pháo ở nước ta đã bị chính phủ dẹp bỏ từ nhiều năm nay vì những tác hại của nó. Thế nên đọc lại Nguyễn Văn Vĩnh trong bối cảnh cách đây hơn một thế kỉ mới thấy khả năng “nhìn thấy trước”  vấn đề của ông thật đáng khâm phục.

Ngoài việc phê phán các hủ tục, Nguyễn Văn Vĩnh còn dành nhiều bài viết “lật tẩy” các thói xấu của người Việt.

2. Phê phán những thói xấu của người Việt

Dân tộc nào cũng có những phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu và đương nhiên cả những tính xấu. Dân tộc Việt Nam cũng vậy. Vấn đề là nắm đúng được căn nguyên của bệnh để kê đơn cho đúng thuốc. Nguyễn Văn Vĩnh đã tỏ ra khá tinh tế và sắc sảo trong vấn đề này khi ông phát hiện những thói xấu mà nhiều khi vô tình ta không coi đó là vấn đề cần lên án. Thói quen ỷ lại là một ví dụ.

Ở các nước văn minh người ta ghét nhất sự ỷ lại. Đến mức cha mẹ dù có vất vả cũng sống giản dị với nghề của mình, thấy con ăn nên làm ra, giàu có thì mừng cho con chứ không muốn nhờ cậy. Chỉ khi nào thật sự già yếu quá, túng thiếu quá mới yêu cầu con cái giúp đỡ. Dân ta thì ngược lại. Nhiều người có thói quen coi việc được sống dựa vào sự giàu có của người khác là một vinh dự. Đến độ thấy người sang bắt quàng làm họ; một người làm quan cả họ được nhờ; có người bỏ cả việc đang làm để bám vào người khác mà ăn không ngồi rồi. Vì thế người nghèo thì không khá hơn do lười lao động, người giàu thì phải tìm cách bất lương để có thêm tiền chu cấp cho họ hàng; người làm quan thì phải ra sức hà hiếp, chèn ép dân để ăn hối lộ. Cứ thế, đất nước quanh quẩn trong đói nghèo, lạc hậu:

“Phải trông vào hai tay mình mà có ăn, tựa hồ như một cái nhục. Ai có được anh em chú bác hoặc con cháu làm nên mà nương nhờ, thì lấy làm vinh hạnh. Người làm nên cho họ được nhờ cậy, thì lấy làm một nghĩa vụ danh giá. Vì một lí tưởng ỷ lại ấy, cho nên trong nước thực lắm kẻ ăn không. Trong một họ, có người làm quan, hoặc có người giàu có, thì từ ông bà, cha mẹ, chú bác, anh em, ai cũng trông vào đấy cả. Ví bằng đương có nghề gì làm ăn, thì hình như cũng phải bỏ nghề đi mà nhờ. Mà người làm nên quan cả, nếu để cho thân thích phải làm nghề hèn kiếm ăn, tự hồ cho như là một điều bạc ác, diết dóng.” [1]

Theo ông, cái tệ này rất nguy hiểm. “Nếu nước Nam ta mà cứ để vậy mãi cái phong tục nhờ vả, trông cậy lẫn nhau, thì càng ngày trong nước càng thêm giống xâu (sâu) bọ, công nghệ không sao tiến hoá được, việc bán buôn không sao thịnh được, mà trong đám thượng lưu cũng sai mất cái đường hy vọng” .

Một thói tật cần lên án nữa của người Việt là thói chuộng hư danh. Người Việt Nam vốn có tính cần cù chịu khó, hay lam hay làm nhưng lại hay đứng núi này trông núi nọ, không biết coi trọng công việc hiện tại của mình, xem thường việc lao động chân tay. Trong mục “Xét tật mình”, Đông Dương tạp chí số 11 năm 1913, ông viết: “…Tay cầm cày mà mắt vẫn trông bọn dài lưng tốn vải, lúc nào quăng được cái cày có ích, mà cầm lấy cái bút lông thỏ vẽ hươu vẽ vượn, tả cảnh trên giời dưới biển, thì cũng quăng đi ngay. Người đi buôn, người làm thợ thì lúc nào bất đắc dĩ phải vất vả thì vất vả. Đến khi nhờ cái chàng cái đục, cái kim cái chỉ, mà có đồng dư, thì đi lo ngay cái hàn cái bát chi chi, nghề nhà giao cho lũ đầy tớ không thèm làm nữa. Còn nhà nho thì khôn học, gia công đèn sách, cũng chẳng qua cố lấy đôi hia cái lọng, khi đã được rồi như người được câu thần chú mở cái cửa công đường. Làm đến quan chữ nghĩa xưa không dùng đâu đến nữa, thì cái cần lao đó có gọi là cần lao hữu dụng được không?”

Nguyễn Văn Vĩnh cũng mổ xẻ một tật xấu mà nhiều người vẫn cứ cho là một đức tính tốt của người Việt: tính hay cười. Trong mục “Xét tật mình”, Đông Dương tạp chí số 22 năm 1913, ông viết: “An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; phải cũng hì, quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang”

Ông đã chỉ ra rằng cái cười không đúng lúc đúng chỗ chẳng những không tích cực mà còn gây phản cảm: “Xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cách láo sược (xược) khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí (chí) không phải nghe hết nhời (lời) người ta mà đã rèm (bác bỏ) trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta (…) Không gì bực mình bằng dát (rát) cổ bỏng họng, mỏi lưỡi tê môi để mà hỏi ý một người, mà người ấy chỉ đáp bằng một tiếng hì, khen chẳng ơn, mắng chẳng cãi, hỏi chẳng thưa, trước sau chỉ có miệng cười hì, thì ir a không phải phát tức”. Cái cách ứng xử kiểu “gì cũng cười” như vậy, theo Nguyễn Văn Vĩnh, là “cách đãi kẻ dưới một cách thô tục, người có giáo dục đãi đứa ở cũng không nỡ thế”.

Thói quen “gì cũng cười” của người Việt là một thái độ không đúng mực chứ không phải là “cách của người hiền” như người ta vẫn tưởng: “Nó làm cho ta hình như (là) kẻ sấc (xấc) láo, không coi ai ra gì. Mà nên phân cái sấc (xấc) láo là cái nết tiểu nhân với cái cười đời là một cách cười kín đáo”.

Là một người năng động, hăng say làm việc và ham học hỏi, lại sống vào lúc đất nước đang cần gấp rút học tập phương Tây mà phát triển khoa học kĩ thuật để tiến bộ, Nguyễn Văn Vĩnh hết sức bất bình trước một thói xấu rất phổ biến ở một bộ phận không nhỏ người Việt là chỉ ngồi thừ cả ngày vô ích. Họ không biết tận dụng điều kiện của mình để học hỏi, trau dồi kiến thức hay lao động tạo ra của cải; họ bỏ phí bộ óc của mình không chịu suy nghĩ. Trong chuyên mục “Xét tật mình”, Đông Dương tạp chí số 16, ông viết: “Giống người An Nam ta, và có nhiều giống ở Á Châu, có một tính do thủy thổ và có tính truyền nhiễm đã lâu đời là tính ngồi thừ, không làm gì mà cũng không nghĩ gì cả. Tục ta nói rằng con ruồi đậu mép cũng chẳng buồn xua”.

Tính ngồi thừ ấy gây cái thiệt hại không nhỏ cho cả cá nhân và xã hội. Đó là sự lãng phí ghê gớm về mặt thời gian khi mà đời người là hữu hạn. Đối với Nguyễn Văn Vĩnh, một đời sống hữu ích phải là một cuộc sống trọn vẹn, sống hết mình mỗi phút giây: “sống là cử động, là mừng, là tủi, là cố gắng tất tả, chẳng bận việc nọ thì bận việc kia, có hỏng việc này mới khôn việc khác, có khó khăn, có vấp váp đến khi thành, nó mới thấy cái sướng, cái vẻ vang của người thắng…”

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, người ta ở đời thì giờ phải phân làm ba việc: làm lụng, nghỉ ngơi, giải trí. “Lúc làm ăn giốc chí làm ăn; khi đã muốn chơi, chơi cho nhã; lúc đã muốn ngủ, ngủ cho say. Chớ có nửa làm, nửa ngủ, nửa chơi…Sống một trăm năm mà ngồi thừ quá nửa thì khác nào như non yểu ba mươi năm”. Ông cho rằng muốn sống có ý nghĩa, sống có ích thì người Việt phải bỏ được thói tật này,  phải “tập lấy thói quen, mỗi khi mình hỏi lại mình, xem trí mình nghĩ làm sao, tay mình làm việc gì. Hỏi phải tự đáp được: ta làm, ta nghỉ, hay là ta chơi. Bằng chẳng đáp được, thì ta nên hối hận đã hoài ngày tháng, như một lúc sống thừa.”

Trên đây chỉ là một vài nết xấu, hủ tục của người Việt trong loạt bài viết về đề tài này của Nguyễn Văn Vĩnh. Tuy nhiên, chỉ với bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy rằng căn bệnh cần kê đơn của người Việt là  khá trầm kha! Nguyễn Văn Vĩnh đã cho thấy sự tinh nhạy, sắc sảo và thẳng thắn của mình khi mạnh dạn mổ xẻ những ung nhọt của xã hội để từ đó có thể biết hết, chữa hết. Đây là một sự dũng cảm, một bản lĩnh mà không phải ai cũng có được. Nó cho thấy cái tâm của ông với đất nước, với vận mệnh của dân tộc. Ngày nay, theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta thấy xã hội vẫn còn ngổn ngang những tiêu cực, những trì trệ do ý thức của người dân còn chưa cao; càng thấy thấm thía hơn những điều mà Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu ra từ cách đây cả một thế kỷ: một dân tộc muốn trở thành văn minh, giàu mạnh phải biết rõ những hạn chế ở bản thân mình, “tự biết dại ấy là đã giơ chân bước vào đường văn minh đó”.

TAT

 

Chú thích

[1] “Xét tật mình”. Đông Dương tạp chí số 8, 1913         

 

Tài liệu tham khảo

1.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, Đại Nam đăng cổ tùng báo, số 814 ngày 22/8/1907.

2.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, Đông Dương tạp chí số 8, Jeudi 3 Juillet 1913.

3.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Tính biển lận, ăn gian nói dối), Đông Dương tạp chí số 9, Jeudi 3 Juillet 1913.

4.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Thói ăn uống),Đông Dương tạp chí số 10, Jeudi 17 Juillet 1913.

5.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Thói làm biếng), Đông Dương tạp chí số 11, Jeudi 24 Juillet 1913.

6.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Thói không biết cần kiệm, dự phòng cho lâu dài), Đông Dương tạp chí số 12, Jeudi 31 Juillet 1913.

7.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, (Tính bán tín bán nghi không dứt khoát), Đông Dương tạp chí số 13, Jeudi 7 Aout 1913.

8.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Ăn mặc suồng sã, hớ hênh), Đông Dương tạp chí số 14, Jeudi 14 Aout 1913.

9.          Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, (Huyền hồ về nhận thức, tư tưởng), Đông Dương tạp chí số 15, Jeudi 21 Aout 1913.

10.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, (Lối học cổ hủ),Đông Dương tạp chí số 16, Jeudi 28 Aout 1913.

11.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, (Lợi dụng khó khăn của người khác để trục lợi), Đông Dương tạp chí số 17, Jeudi 4 Septembre 1913.

12.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, (Những khiếm khuyết trong hoạt động tri thức), Đông Dương tạp chí số 18, Jeudi 11 Septembre 1913.

13.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình, (Hội kiếp bạc, tính mê tín dị đoan), Đông Dương tạp chí số 19, Jeudi 18 Septembre 1913.

14.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Thư nặc danh), Đông Dương tạp chí số 20, Jeudi 25 Septembre 1913.

15.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Vụng nói chuyện), Đông Dương tạp chí số 21, Jeudi 2 Octobre 1913.

16.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Gì cũng cười), Đông Dương tạp chí số 22, Jeudi 9 Octobre 1913.

17.      Nguyễn Văn Vĩnh, Xét tật mình (Cờ bạc), Đông Dương tạp chí số 29, Jeudi 27 Novembre 1913.

18.      Nguyễn Văn Vĩnh, Thiếu gạo ăn thừa giấy đốt, Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo số 802, ngày 30-5-1907.

19.      Nguyễn Văn Vĩnh, Ma to giỗ nhớn, Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo, số 796 ngày 18/4/1907.

 

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, số chuyên đề Bình luận văn học – Niên giám 2011


 



* ThS., Đại học Thủ Dầu Một.