Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Văn học Việt Nam Đọc lại Người đi tìm Hình của nước của Chế Lan Viên

Đọc lại Người đi tìm Hình của nước của Chế Lan Viên

Email In

Đoàn Trọng Huy, "Đọc lại Người đi tìm Hình của nước của Chế Lan Viên", Tạp chí Đại học Sài Gòn, số chuyên đề Bình luận văn học - Niên giám 2011, tr. 276 – 280.

Kỷ niệm 23 năm ngày mất nhà thơ Chế Lan Viên (19.6.1989)

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, cách đây vừa 100 năm, Bác Hồ lấy tên Văn Ba lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latút’s T’rêvin  (L’Amiral  Latouche Tréville). Từ bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ Quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Hướng xuất phát là cực kỳ quan trọng, nơi đến – bến đỗ đầu đời tìm kiếm cách mạng cũng hết sức tiêu biểu: sang phương Tây, đến nước Pháp – nơi sản sinh ra những ngôn từ đẹp đẽ Tự do – Bình đẳng – Bác ái. “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về, giúp đồng bào ta”. Kết quả là, như ta biết, Người tìm thấy cẩm nang cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: Luận cương Lênin (Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản). Và từ đó Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt, lãnh tụ thiên tài đã lãnh đạo, tổ chức nên cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.

Sự kiện lịch sử ấy là hồn cốt bài thơ của Chế Lan Viên Người đi tìm Hình của nước (1960).

Cảm thụ thơ tinh tế và sắc sảo, với phong cách suy tư trí tuệ, nhà thơ đã đặt ra qua thơ một vấn đề - vấn đề tìm đường cách mạng và một hành trình – hành trình tìm kiếmtìm thấy con đường cách mạng.

Nâng tâm hồn mình lên để thấu hiểu tâm hồn lãnh tụ nhà thơ đã thể hiện chính xác và sâu sắc tầm vóc trí tuệ Hồ Chí Minh. Người đi tìm Hình của nước khai thác thật sâu và vinh danh phẩm chất cao đẹp của bậc đại trí.

Chế Lan Viên với thi tài xuất sắc đã tạo dựng nên nhiều vẻ đẹp phẩm chất tuyệt vời Hồ Chí Minh. Qua những vần thơ viết về Bác Hồ, tập trung nhất là Hoa trước lăng Người, ta nhận ra rất rõ điều đó. Trong kháng chiến trường kỳ, “Bác thành vị tướng lớn”. Khi xây dựng đất nước, ngày cả trong hoàn cảnh “nửa công trường, nửa chiến trường” bao giờ cũng là tư thế “Người trồng cây cho Tổ quốc”. Nhà thơ khắc họa hình ảnh vừa tượng trưng vừa hiện thực – lịch sử về nhân thân và vai trò của Bác trong những năm tìm đường hoạt động cách mạng “Người thủy thủ” từng “ vượt qua trùng dương sóng bạc ngất trời”, “Người thợ ảnh của loài người cùng khổ” để nói về tầm nhìnbước đi của Người(1)

Nguyễn Tất Thành khi bước chân ra đi đã mang cốt cách một nhà tri thức mới.

Xuất thân trong một gia đình nho học gốc nông dân, từ nhỏ anh được học để có một vốn Hán học khiêm tốn bước đầu đủ để đi dạy học ở trường Dục Thanh. Những năm học Quốc học Huế, người học sinh trẻ tuổi tiếp thu được văn hóa Âu Tây, chủ yếu là Pháp. Lên đường với tư cách công nhân thủy thủ, Nguyễn Tất Thành trở thành một trí thức kiểu mới, trí thức cách mạng. Trên hành trình hoạt động cách mạng sau này, được bồi dưỡng thêm lý luận ở các trường đại học quốc tế và thực tiễn trong “đại học cuộc đời”, đã hình thành ở Nguyễn Ái Quốc biểu hiện tập trung và sinh động Người trí thức hiện đại của một thế giới mới.

Tuy nhiên, ở xuất phát điểm của cuộc trường chinh cách mạng – hành trình huyền thoại, Hồ Chí Minh đã hiện lên rạng rỡ với tư cách  và vị thế một nhà cách mạng lớn mang tố chất như một phẩm hạnh căn cốt của nhà trí thức, nhà khoa học – Nói cách khác đó là cốt cách nhà khoa học cách mạng : có trái tim nóng và khối óc lạnh, tiềm năng cho một nhiệt huyết hăng say và trí tuệ tỉnh táo, phòng ngừa được mọi cuồng nhiệt và phiêu lưu, mạo hiểm.

Trước hết, đó là thái độ hoài nghi khoa học - ở đây là khoa học chính trị.

Trong hoàn cảnh bấy giờ, giữa ngã ba, ngã bảy của thời cuộc, chỉ riêng ý tưởng“Tìm đường đi cho dân tộc theo đi” đã hết sức lớn lao. Lúc ấy khuynh hướng lớn gần như chủ đạo của các chính khách yêu nước là nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ Nhật Bản, một đế quốc mới nổi ở châu Á sau chiến thắng Nga Sa hoàng 1905, đang giương cao ngọn cờ Đại Đông Á. Cũng có xu hướng ngưỡng vọng Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc. Bên cạnh sự nghiệp Tôn Văn còn có tấm gương Găng-đi – nhà cách mạng vĩ đại Ấn Độ, với chủ trương “Phản kháng bất bạo động”.

Thái độ của người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc đó là nghi vấn: có phải đó là những con đường đúng đắn? Đâu là con đường đúng nhất? Vấn đề đặt ra là đi tìm, đi hỏi:

Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi.

Những đất tự do, những trời nô lệ

Bài thơ có những câu hỏi lớn qua hàng loạt vấn đề hệ trọng bậc nhất: Ngày mai dân ta sẽ sống  sao đây?/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ giải Trường Sơn bừng giấc ngủ?/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?/ Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao?/ Nụ cười sẽ ra sao?... Người trẻ tuổi yêu nước biết đặt những câu hỏi lớn về vận mệnh của đất nước và dân tộc, chứng tỏ một trí tuệ vượt trội. Biết tìm tòi trước hết từ biết cật vấn. Biết đặt câu hỏi sẽ tìm ra câu trả lời.

Đã có lần Chế Lan Viên nêu lên sự bế tắc tâm trạng lịch sử một thời. Mượn ý của Huy Cận: “Một câu hỏi lớn, không lời đáp/ Cho đến bây giờ mặt vẫn chau” (Các vị La Hán chùa Tây Phương), Chế Lan Viên nhắc lại: “Cửa vẫn đóng và Đời im ỉm khóa./ Những pho tượng chùa Tây phương không biết cách trả lời” (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?). Thực ra, cha ông ta xưa đã từng hỏi và cũng đã biết trả lời trước những vấn đề, những sự kiện lịch sử cụ thể. Tuy nhiên chưa tìm ra được câu giải đáp có tính chất thời đại. Mười thế kỷ có độc lập quốc gia nhưng vẫn trong khuôn khổ chế độ phong kiến. Đến khi bị Pháp xâm lược, Việt Nam vẫn là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Câu hỏi lớn đặt ra là đi tìm một thể chế mới, mở ra một kỷ nguyên mới, một thời đại mới.

Vấn đề khảo sát thực tiễn xã hội trên phạm vi toàn thế giới là thái độ ứng xử hiệu quả để đi đến những nhận định, những kết luận khoa học về lịch sử. Vậy là cuộc hành trình rộng khắp được thực hiện qua “gió rét thành Ba Lê”, nơi “sương mù thành Luân Đôn”, tận “Châu Mỹ, châu Phi/ Những đất tự do, những trời nô lệ”. Rồi “Bác từng vượt qua bao quốc gia, sông núi bao lần” (Cách mạng, chương đầu). Trong hành trình 30 năm tìm đường cứu nước (1911 – 1941), người đã qua nhiều quốc gia khác nhau để trực tiếp quan sát, tìm hiểu những chuyển biến xã hội tại châu Phi, châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ và Trung Đông. Đó là việc mà “không có lãnh tụ nào khác làm được trong thế kỷ 20” – theo nhận định của một học giả thế giới đáng tin cậy.

Tạo ra bước ngoặt lịch sử rõ rệt trong quá trình nhận thức Nguyễn Ái Quốc là chuyến đi 1924 tới Liên bang Xô viết. Ở đây một hiện thực lịch sử chói lòa đã hiện ra trước mắt, cũng cố thêm cảm nhận như một thực nghiệm, thực chứng đầy thuyết phục.

Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc

Sao vàng bay theo liềm búa công nông

Nhận ra những hiện trạng xã hội như nó vốn có có ý nghĩa như sự phát hiện ban đầu với những nhận xét, kết luận sơ bộ. Là đại biểu ưu tú tối cao cho Người cùng khổ, nhà cách mạng trẻ tuổi đã nhận chân một “thế giới bạo tàn” trong thế kỷ 20 – “thế kỷ đau thương và anh dũng”!

Lăn lộn trong cuộc sống để mưu sinh, hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc có điều kiện len lỏi vào quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền và những người nông dân nghèo khổ các vùng quê - ở cả nhiều miền hẻo lánh, bản thân đã thấm thía nỗi cùng cực của những kiếp sống bị áp bức, bóc lột.

Trên cơ sở đó là sự tìm hiểu lịch sử - tìm hiểu và phân tích những cuộc cách mạng ở chính các nước tư bản phát triển nhất.

Những con đường cách mạng đang tìm đi

Mặc dầu rất khâm phục tinh thần cách mạng nhưng nhà cách mạng trẻ tuổi đã có tư duy khoa học lịch sử. “Kách mệnh Mỹ cũng như cách mạng Pháp, nghĩa là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông.

 Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ là một bằng chứng hiển nhiên cho thành công của cách mạng vô sản mà sau này Nguyễn Ái Quốc sẽ được tận mắt chứng kiến những thành quả đầu tiên để đưa vào kho trải nghiệm hoạt động cách mạng của bản thân.

Khảo nghiệm thực tế, tự rút ra những hiểu biết, rồi lại bồi bổ qua những đúc kết lý luận cách mạng tiến bộ nhất. Đó chính là quá trình tự hoàn thiện nhân cách của một nhà cách mạng lớn.

Mười năm thủy thủ đưa Người vào Đại học phương Đông.

Biện chứng đã vỡ lòng trong bão táp.

Bể và Người

Trên cơ sở của nhũng khảo nghiệm thực tiễn và minh chứng của lịch sử, nảy sinh sự lựa chọn. Sự lựa chọn đòi hỏi một đầu óc thật minh mẫn, hết sức tỉnh táo, khôn ngoan để tìm ra sự thật và lời giải đáp chính xác, phù hợp nhất.

Alanh Rutxiô (Alain Ruscio) – một nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp – xác nhận khoảng cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đoàn Thanh niên Xã hội Pháp và sau đó là Đảng Xã hội Pháp vì nhận thấy có mối liên hệ giữa hoạt động của Đảng với khát vọng giải phóng dân tộc.

Trong Đảng Xã hội nổ ra những cuộc tranh luận nên là thành viên của Quốc tế nào? Điều ông băn khoăn nhất là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa. Báo Nhân đạo (L’Humanité) đăng Sơ thảo luận cương và Đại hội Quốc tế cộng sản (19/7 – 10/8/1920) thì Lênin trình bày Luận cương.

Qua Luận cương, Nguyễn Ái Quốc tìm được chỗ dựa vững chắc, một nguồn sức lực mạnh mẽ để vươn tới cái đích của đấu tranh giải phóng dân tộc với khát vọng từng ôm ấp thiết tha.

Ơi, độc lập!

Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc

Khi tự do về chói ở trên đầu

Đó chính là lý tưởng vĩ đại như châm ngôn cách mạng một đời:

KHÔNG GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO!

Sự kiếm tìm nhọc nhằn đầy tâm huyết đã dẫn đến tìm thấy chân lý. Luận cương của Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc cảm xúc hết sức mạnh mẽ.

Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.

Tiếng kêu “ Ơrêka!” của nhà khoa học cách mạng đã được diễn tả thành tiếng thơ đầy sảng khoái.

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc

“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

Những tư tưởng lớn thường gặp nhau.

Luận cương chính là tia sáng đầu tiên của lý tưởng cách mạng chân chính.  Ánh sáng tư duy Hồ Chí Minh được bật lên cùng ảnh sáng tư tưởng Lênin. Để rồi trở thành nguồn sáng của tương lai. Để nhà cách mạng trẻ tuổi có thể mường tượng, tiên đoán. Bác thấy: Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt/ Ruộng theo trâu về lại người cày/ Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc… Tự dohạnh phúc được hiện thực hóa bằng giấc mơ của lý tưởng.

Sự lựa chọn chính xác giúp kiên định lập trường.

Lịch sử ghi nhận: ngày 30/12/1920 tại Đại hội Tua (Tours), Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những sáng lập viên Đảng Cộng sản Pháp và bỏ phiếu tham gia Quốc tế III, Quốc tế của Lênin.

Hình tượng Hồ Chí Minh thể hiện sự hài hòa của nhân cách tuyệt đẹp: nhà chiến lược cách mạng giàu trí lự.

Trí tuệ lớn lao xuất phát từ chủ nghĩa nhân văn cao cả. Từ bước đi đầu tiên ta đã thấy rõ tấm lòng yêu nước, thương nòi của một tư chất cách mạng Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ?/ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương!/ Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở/ Xa nước rồi, cảng hiểu nước đau thương!  Xuyên suốt bài thơ là một nỗi đau đáu tâm can. Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao, cũng xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ Quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa. Nhớ nhung, tưởng vọng đan xen với trạng thái bất an và cảm nhận vị đắng đót tâm hồn…

Lòng nhân ái bao la Hồ Chí Minh, còn chứa đựng tình thương yêu con người mở rộng ra cả năm châu bốn biển Những đất tự do, những trời nô lệ. Sau này, nhà thơ Chế Lan Viên còn khắc sâu vào tâm khảm ta những cảm nhận thật thấm thía Bác nằm đây lòng động đến trăm nơi/ Sóng nào rách xé Châu phi, sóng nào đau Châu Á/ Mỗi con sóng đau thương trên bể loài người/ Đều chấn động trái tim Người Thủy Thủ. (Ta nhận vào ta phẩm chất của Người). “Vì trong bốn biển đều là anh em” là một thành tố quan trọng nằm trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh và xuyên suốt minh triết Hồ Chí Minh, đã sớm hình thành trong những bước đầu hành trình cách mạng của Người.

Dũng khí của Hồ Chí Minh cũng là vũ khí của lòng nhân ái. Trong Trận đánh của tình thương có một tứ thơ độc đáo: Ở chỗ thương đau, Bác mở chiến trường… Bác thành vị tướng lớn sau những đêm dài tỉnh giấc/ Và trận đánh của Người là trận đánh của tình thương.

Trí, dũng, nhân kết hợp hài hòa trong con người lãnh tụ - hiền triết Hồ Chí Minh.

Nói rõ hơn, đó là nhà triết học hiền minh vĩ đại.

Trong Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” năm qua (5/2010), tiến sĩ Mukhtasar Syamsuddin tại Đại học Indonesia phát biểu: “Tôi muốn nhấn mạnh rằng Hồ Chí Minh là một triết gia vĩ đại của Việt Nam”. Ngay từ 30 năm tìm đường cách mạng, Hồ Chí Minh đã nêu một gương mẫu về triết lý thực tiễn, triết lý hành động. Minh triết Hồ Chí Minh là một triết lý sáng tỏ, sâu sắc kế thừa tinh hoa của triết học Đông Tây kim cổ, kế thừa tinh túy của triết học Mác – Lênin để nâng lên một tầm cao mới. Có thể khẳng định Biện chứng đã vỡ lòng trong bão táp. Bão táp của thời đại cách mạng đã tạo nên nhà triết học kiên cường và thông tuệ Hồ Chí Minh, người đã đóng góp vào bước đầu của hành trình huyền thoại bằng triết lý nhân sinh cao đẹp với tư tưởng sáng tạo về giải phóng con người, vì con người, phấn đấu cho tự dohạnh phúc của con người.

…Những đất tự do, những trời nô lệ

  …Khi tự do về chói ở trên đầu

…. Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc

…“Cơm áo là đây! Hạnh phúc là đây!”

Thành phố Hồ Chí Minh 5/2011

 

Chú thích

(1)   Tất cả các trích dẫn trong bài đều lấy từ Tuyển tập Chế Lan Viên – Tập I, Văn học, Hà Nội, 1985

 

 

 

 

Các nhà tài trợ

 _logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Thành viên trực tuyến

Hiện có 2536 khách Trực tuyến