Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Văn học Việt Nam Thẩm Thệ Hà (1923-2009) - Nhà văn yêu nước đất Nam Bộ

Thẩm Thệ Hà (1923-2009) - Nhà văn yêu nước đất Nam Bộ

Email In

Phan Mạnh Hùng, "Thẩm Thệ Hà (1923-2009) - Nhà văn yêu nước đất Nam Bộ", Tập san Khoa học Xã hội & Nhân văn, số 54, (2012).

Kỷ niệm 3 năm ngày mất nhà văn Thẩm Thệ Hà (20.6.2009) 

 

         1. Tiểu sử tác giả

Tác gia Thẩm Thệ Hà tên thật là Tạ Thành Kỉnh; sinh ngày 9 - III - 1923 tại làng Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh. Cha ông là Tạ Thành Tàu, mẹ là Nguyễn Thị Tám. Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu. Thẩm Thệ Hà học tiểu học ở Trảng Bàng, rồi trung học ở Sài Gòn. Thẩm Thệ Hà đỗ tú tài Pháp và lập gia đình năm 22 tuổi. Ông tham gia Cách mạng từ 1945, hoạt động trong Ban điệp báo Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Năm 1949, cùng với Vũ Anh Khanh (1926 - 1956) thành lập nhà xuất bản Tân Việt Nam. Từ 1952, để kiếm sống và hoạt động trong vùng tạm chiếm, Thẩm Thệ Hà dạy Việt Văn ở các trường trung học Nguyễn Văn Khuê, Chi Lăng, Tân Thanh, Đặng Văn Trước, Đức Trí, Dân Trí, Trần Hưng Đạo. Năm 1966, cùng với Tô Nguyệt Đình (1920 - 1988) thành lập nhà xuất bản Lá Dâu. Hai nhà xuất bản Tân Việt Nam và Lá Dâu đã in được nhiều tác phẩm văn chương có khuynh hướng đấu tranh cách mạng. Trước 1975, Thẩm Thệ Hà từng viết bài cộng tác và biên tập các báo và tạp chí Văn hóa, Việt bút, Đại chúng, Lẽ sống, Tiếng chuông, Tin sớm, Ánh sáng, Dân tộc, Tin lửa, Nhân loại, Tiểu thuyết thứ bảy; phụ trách mục “Phê bình sách mới” và “Những áng thơ hay” trên tạp chí Phổ thông (1958 - 1965) của Nguyễn Vỹ (1912 - 1971). Sau 1975, ông cộng tác với các báo và tạp chí Văn, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Bách khoa văn học, Sân khấu, Sài Gòn giải phóng thứ bảy, Giác ngộ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khóa đầu tiên và hội viên Hội Văn nghệ Tây Ninh. Qua một thời gian đau yếu, ông mất ngày 20 - VI - 2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 88 tuổi.

2. Sự nghiệp văn chương

Nghiệm sinh trên cõi đời 88 năm tuổi trời và 63 năm tuổi văn, Thẩm Thệ Hà đã để lại hàng chục tác phẩm dài ngắn khác nhau, bao gồm nhiều bộ môn chuyên ngành, nhiều thể loại và thể tài, nhiều hình thức và phương thức sáng tác. Trên thực tế, số lượng tác phẩm của Thẩm Thệ Hà phân chia theo thể loại có 7 tiểu thuyết (1 tiểu thuyết còn ở dạng bản thảo), 14 truyện ngắn, 14 truyện viết cho thiếu nhi, 2 vở kịch, 2 tập thơ (di cảo), 3 tác phẩm dịch, 2 tập khảo cứu, 5 bộ sách giáo khoa, 1 tập hồi ký, nhiều bài phê bình văn học đăng báo…

Thẩm Thệ Hà đến với văn chương khi còn học trung học. Năm 1937, với bút hiệu Thành Kỉnh, ông đã có thơ đăng trên Phổ thông bán nguyệt san ở Hà Nội và các báo ở Sài Gòn như Đồng trinh, Chúa nhật, Thanh niên, Điện tín. Các bài thơ được độc giả biết đến và mang lại chút tiếng tăm cho tác giả như Trịnh Đán, Rồi mỗi chiều xuân, Dòng mơ chung thủy, Xuân thanh sắc,… Sau Cách mạng tháng Tám có các bài Trời nổi phong yên, Việt Nam mến yêu, Tống biệt hành, Khóe mắt u hoài, Trường thành sông Đua,… Thơ của ông được tập hợp thành hai tập chưa xuất bản là Thâm thúy (Thơ trước 1945) và Trời nổi phong yên (Thơ sau 1945). Về văn xuôi có các bộ ngựa cầu thu (Tân Việt - 1949), Gió biên thùy (Tân Việt - 1949), Người yêu nước (Tân Việt Nam - 1949), Đời tươi thắm (Lá Dâu - 1956), Hoa trinh nữ (Sống mới - 1957), Bạc áo hào hoa (Miền Nam - 1969), Tủi phấn thẹn hồng (bản thảo chưa in),…; các truyện ngắn Nàng Phượng tóc thề (1960), Ai nghe lòng đất quặn đau (1961), Tình yêu và lý tưởng (1989), Thằng đưa đám (1990), Lửa tình (1991), Nhan sắc tàn phai (1991), Cánh hồng lưu luyến (1993), Duyên dáng Quỳnh Như (1994), Tổ ấm chim bay (1994), Thanh mai trúc mã (1994), Nhà sư dị thường (1996),…; chuyện viết cho thiếu nhi Bài học thương nhau, Con chim xanh, Tàn giấc mơ tiên, Tiểu anh hùng, Thần điểu và hoa hồng, Thiên tài lạc lối, Nhân ngư công chúa, Ngọc tuyền thảm sử,…; biên khảo Việt Nam trên đường cách mạng tân văn hóa (1949); dịch tiểu thuyết Con đường cứu nước (Maroussia của P. J. Satahn, Nam Việt - 1947) và Mũi tên đen (The Black Arrow của S. L. Stevenson, Sống mới - 1965).

Với những đóng góp quan trọng cho văn học và Cách mạng giải phóng dân tộc, Thẩm Thệ Hà được ghi nhận là “một nghệ sĩ đa năng” (Hoàng Tấn)(1), “Một cấy bút khả kính” (Trần Hữu Tá)(2), tác phẩm của ông có mặt trong một số chuyên luận và tuyển tập như Thi nhân Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh, Thi ca Việt Nam hiện đại của Trần Tuấn Kiệt, Thơ mùa giải phóng (Nxb Sống chung), Văn chương tranh đấu miền Nam của Nguyễn Văn Sâm, Tuyển tập thơ, truyện ngắn thành phố Hồ Chí Minh (Kỉ niệm 300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh), Thẩm Thệ Hà - thân thế và sự nghiệp của Thanh Việt Thanh, Nhìn lại một chặng đường văn học của Trần Hữu Tá, Từ điển Văn học (bộ mới) của nhiều tác giả, Văn học nơi miền đất mới của Nguyễn Q. Thắng,… cho thấy tác giả xứng đáng có một chỗ đứng trong lịch sử văn học, đặc biệt là văn học Nam Bộ.

3. Đặc trưng tác phẩm và những đóng góp của Thẩm Thệ Hà

3.1. Từ giọng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám…

Trước 1945 và trước khi viết văn xuôi, Thẩm Thệ Hà sáng tác thơ đăng trên Phổ thông bán nguyệt san ở Hà Nội ký bút danh đồng thời cũng là tên thật Thành Kỉnh. Bài thơ đầu tiên của Thẩm Thệ Hà đăng báo là bài Bến đò chiều trên Phổ thông bán nguyệt san. Vào thời điểm đó, mục phụ trang văn học trên Phổ thông bán nguyệt san do Trúc Khê Ngô Văn Triện (1901 - 1947) phụ trách. Được đón tiếp nồng hậu, ông sáng tác thêm nhiều bài thơ như Thâm thúy, Dòng mơ chung thủy, Trịnh Đán,… Thơ Thẩm Thệ Hà trước Cách mạng đậm chất trữ tình, êm ái nhẹ nhàng của cái tôi trữ tình trẻ trung cùng mạch với Thơ Mới: Ai hướng về đây mấy bước duyên / Nghiêng lòng cho gió bốn chiều lên / Dâng người một ý rung trong tối / Có phải hương đời khởi sắc men? (Tương tư). Đọc xong khổ này khiến chúng ta không thể không nghĩ đến tuyệt tác Thơ duyên của Xuân Diệu (1916 - 1985); hay: Rồi anh thỏ thẻ bảo em rằng / Có một lời thơ em nhớ chăng / Gấm vóc giang sơn xinh đẹp thế / Sao bằng khóe mắt của giai nhân (Làm thơ); ta lại bắt gặp tình yêu “sầu khổ dịu dàng”: Anh biết tình em đóa mộng đầu / Xa anh, em có ngậm ngùi đâu / Vì anh phạm tội yêu nhiều quá / Nên tránh làm sao khỏi thảm sầu (Giận dỗi); bất giác ta nghĩ đến Tràng giang của Huy Cận (1919 - ) khi đến với những vần thơ: Sông lạc dòng sông, thuyền lạc thuyền / Bến đò chiều vãng cuộc tình duyên / Ven bờ sông vắng, vời chân lại / Nhặt lá vàng rơi chạnh nỗi niềm (Bến đò chiều)… Thơ Thẩm Thệ Hà trước Cách mạng thường sử dụng thi liệu cổ, những bến đò, con thuyền, ánh trăng, dòng sông, áng mây… với các màu sắc vàng, xanh, trắng… trôi trong một không gian mùa thu, mùa xuân, trời chiều.. Những chất liệu không tạo nên những đột phá, cách tân nhưng lại làm ta mê đắm bởi sự trang nhã, giao hòa với thiên nhiên, thời gian vĩnh hằng. Thẩm Thệ Hà làm thơ trong không khí của Thơ Mới chắc chắn có âm hưởng của thời đại thi ca này. Dù được tập hợp thành tập với tựa đề Thâm thúy nhưng tác giả không tái công bố chắc chắn có sự cân nhắc cẩn trọng.

3.2. … đến giọng thơ tranh đấu

Cách mạng góp phần làm thi ca chuyển mình. Cũng như bao thi sĩ tiền chiến, Thẩm Thệ Hà bắt đầu sáng tác với một cảm hứng mới. Bút hiệu Thẩm Thệ Hà (Lời thề với non sông) gắn liền với bài thơ Trời nổi phong yên (1947) cũng là đánh dấu một giai đoạn mới của đời thơ tác giả: thơ ca đồng hành với công cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân. Cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân, những vần thơ mang âm hưởng hùng tráng của thời đại ra đời: Bỗng… tiếng nổ vang rền dữ dội / Khắp trời đêm như muôn vạn sao sa / Tiếng quân reo như chấn động sơn hà / Tiếng gió lộng như chan hòa máu lệ (Sơ ca); là một niềm tin vào ngày mai tươi sáng: Ta sống nơi này đất Việt Nam / Giữa mùa binh lửa động giang san / Lòng ta là cả niềm yêu nước / Là cả san hà chí dọc ngang /… Nào có quản gì cảnh máu sông / Hồn thơ thêm nữa nợ tang bồng / Việt Nam! Xin gửi niềm yêu mến / Của một lòng trai đã cảm thông (Việt Nam mến yêu - xuân 1949). Nhịp điệu của Việt Nam mến yêu rất gần với nhịp điệu trong một số bài thơ của Tố Hữu (1920 - 2002) – ngọn cờ đầu của thơ ca Cách mạng… Có thể nhận thấy, từ “Khóe mắt giai nhân” trước Cách mạng đến “Khóe mắt u hoài” sau Cách mạng tháng Tám là cả một sự chuyển biến lớn trong quan niệm về nghệ thuật của Thẩm Thệ Hà: Ta đau đớn nhưng giờ ta đã hiểu / Tại vì sao mắt đẹp động u hoài / Em đã gửi mộng hồn cho đất nước / Tấm lòng son muôn thuở vẫn không phai (Khóe mắt u hoài - 1952). Dù sáng tác trong thời điểm nào, hồn thơ Thẩm Thệ Hà vẫn trung thành với những thể thơ quen thuộc của Thơ mới. Điều đó không chỉ là giới hạn của riêng Thẩm Thệ Hà mà của rất nhiều nhà thơ thế hệ ông. Có thể thấy, chính thời cuộc đã góp phần tạo nên sức sống mới cho hồn thơ Thẩm Thệ Hà và ngược lại, thơ ông cũng góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc.

3.3. Văn xuôi – thành tựu và đóng góp nổi bật của Thẩm Thệ Hà

Lĩnh vực để lại nhiều dấu ấn nhất của Thẩm Thệ Hà chính là văn xuôi và những tác phẩm có giá trị nhất tập trung chủ yếu trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Trong giai đoạn 1945 - 1954, ông sáng tác tổng cộng 3 bộ tiểu thuyết: ngựa cầu thu, Gió biên thùy, Người yêu nước. Ba bộ tiểu thuyết này đều được xuất bản năm 1949. Tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà sở dĩ được hoan nghênh vì “chủ đề rất tập trung, nhất quán: sự trăn trở và động viên nhau tìm đến với lý tưởng cứu quốc của thế hệ thanh niên trong một bối cảnh không gian xác định (miền Nam Việt Nam) và trong một thời gian cụ thể (Những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945 và những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp)”(3).

Vó ngựa cầu thu là một trong những tiểu thuyết biểu của Thẩm Thệ Hà viết về những năm trước cách mạng tháng Tám. Sơn sinh ra trong một gia đình trưởng giả và sớm có tư tưởng cách mạng. Chàng từng theo một chiến sĩ Quốc dân đảng sang Trung Quốc và học trường võ bị Hoàng Phố. Sơn xót xa vì những người nghĩa sĩ của phong trào phải lên đoạn đầu đài. Từ nước ngoài, chàng và những người đồng chí nhận thấy các quan niệm quốc gia cổ truyền của ta không còn hợp nữa. Sơn và người đồng chí tên là Thái vượt biên giới về nước gây cơ sở phong trào trong nước.

Sơn và Thái tạm chia tay nhau vì Thái có việc riêng gia đình. Trên đường đi, Sơn tình cờ ngụ trong nhà của một cụ già yêu nước muốn lập lại chế độ phong kiến. Cụ từng có liên hệ với các sĩ phu trong phong trào cần vương. Sống với cụ có hai người cháu là Phương Lan và Phượng Nhi. Phương Lan - người cháu lớn, nết na xinh đẹp chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần phục cổ của cụ. Ba tháng sống trong không khí thân tình, đùm bọc của ba ông cháu nhà chí sĩ, Sơn có cơ hội hướng tâm hồn Phương Lan theo cách suy nghĩ và hành động phù hợp với tình hình hiện tại của đất nước. Tình yêu bắt đầu nảy nở giữa Sơn và Lan. Thế nhưng, vì đất nước, Sơn phải chia tay ông cháu Phương Lan để cùng Thái thi hành nhiệm vụ bí mật.

Trên đường lên Bắc Sơn, Sơn và Thái bị bắt giam. Họ đang tìm cách vượt ngục thì có người đến cứu thoát. Trên đường chạy trốn Sơn tự nghĩ mình đừng nên mơ tưởng về Phương Lan nữa. Nhưng không ngờ, chính Phương Lan là người cứu sống chàng và Thái, sau đó nàng bị truy đuổi và hy sinh. Phương Lan đã giác ngộ theo con đường của Sơn. Trước khi nhắm mắt trong vòng tay của Sơn, Phương Lan đã xúc động “từ ngày nghe được lời anh em đã giác ngộ. Em đã theo hai anh từng bước, tiếc thay em không phải là một chiến sĩ có tài... Chết vì nghĩa vụ là danh dự của người chiến sĩ, được chết trên tay anh là diễm phúc của em rồi”.

Nội dung Vó ngựa cầu thu cho thấy dự đồ sáng tạo của tác giả: viết về những con người trẻ tuổi đi theo cách mạng. Không khí truyện khiến chúng ta nghĩ đến phong trào khởi nghĩa Yên Bái. Tiếng vọng của cuộc khởi nghĩa Yên Bái cùng sự hi sinh của các nhà cách mạng có tác động ít nhiều đến ngòi bút Thẩm Thệ Hà. Thế nhưng, về mặt hình tượng văn chương, Sơn và Thái là sự tiếp nối các hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn: có nhiều sự đồng cảm với nhân dân, sẵn sang quăng mình vào gió bụi. Tuy vậy, khác với các nhân vật Dũng, Thái, Tạo trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, các nhân vật của Thẩm Thệ Hà đã có những ý hướng, lý tưởng cụ thể trong hành động. Nổi bật trong Vó ngựa cầu thu chính là mối tình giữa Sơn và Lan. Tình yêu của họ được ngòi bút tác giả thể hiện theo kiểu tình yêu trong các cuốn tiểu thuyết theo khuynh hướng lãng mạn, có kết thúc buồn. Hình ảnh Sơn và Lan đi chơi Tùng Lâm rồi suối Ngọc Tuyền đã là một dự cảm buồn cho kết cục một cuộc tình. Cốt truyện Vó ngựa cầu thu nhẹ nhàng, không phức tạp, ít có những xung đột. Tác giả tỏ ra khéo léo trong việc mô tả tâm trạng của Sơn và Lan, những cung bậc tình cảm của hai người đang yêu trong một không gian truyện cổ kính.

Nếu Vó ngựa cầu thu viết về những năm trước Cách mạng tháng Tám thì Người yêu nước viết về không khí của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Người yêu nước viết về những trí thức trên đường đến với cách mạng. Ngay lời phi lộ, tác giả đã cho biết mình chủ trương viết theo khuynh hướng “Văn chương tranh đấu”. Viết về những trí thức thành thị hẳn Thẩm Thệ Hà có nhiều thuận lợi. Công việc dạy học và sinh hoạt ở thành thị đã cung cấp cho ông những trải nghiệm quý báu khi viết về những con người này. Vũ, nhân vật chính của truyện, sinh ra trong gia đình giàu có, thích đọc sách tư tưởng và làm thơ, con quan tri phủ. Phượng, người bạn gái của Vũ từ thuở nhỏ, xinh đẹp, say mê nghệ thuật. Bão, sinh ra trong gia đình nghèo khó và là bạn học của Vũ. Từ khi chia tay Vũ ở trường học, Bão giác ngộ và đi theo cách mạng nhờ sự hướng đạo của giáo sư T và các bạn trong tù. Họ gặp lại nhau trong một hoàn cảnh đặc biệt: Bão bị bắt và tạm giam nơi dinh thự của quan tri phủ. Cuộc gặp gỡ nơi hầm tối nhà giam đã làm thay đổi cuộc đời của Vũ. Những cuộc tiếp xúc với Bão đã làm chàng hiểu được vẻ đẹp của lý tưởng cách mạng. Từ một người sống mộng mơ, làm thơ ủy mị và ít có mối liên hệ với quần chúng, Vũ từ bỏ gia đình và cuộc sống sung túc để bước vào con đường hoạt động cách mạng. Hành động cao đẹp và tình yêu trong sáng của Vũ đã giác ngộ Phượng đi theo lý tưởng cách mạng. Và cũng chính cô đã giác ngộ cho cha mình con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc. Phượng trở thành cán bộ chỉ huy lực lượng vũ trang cách mạng bên cạnh Vũ và Bão. Trong một trận đánh, cô bị bắt giam nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Phượng bị thực dân kết án tử hình. Nhờ sự can thiệp của một người Pháp, trước đây thọ ơn cha con cô trong cuộc bố ráp của hiến binh Nhật, Phượng được giảm xuống án chung thân. Trong tù, Phượng viết cho Vũ một bức thư thể hiện niềm tin về một tương lai tươi sáng.

Người yêu nước ra đời được báo chí tiến bộ đương thời đánh giá rất cao. Dương Tử Giang (1918 - 1956) nhà văn cùng thế hệ với Thẩm Thệ Hà đã viết trên Nguồn sống (số 3): “Người yêu nước có lẽ là quyển truyện dài khá nhất đã xuất bản từ sau chiến tranh đến ngày truyện ấy ra đời”; Nguyễn Bảo Hóa (bút hiệu Tô Nguyệt Đình) viết trên báo Ánh sáng (số 346-347): “sáng tác được một tác phẩm như Người yêu nước chẳng phải là một việc dễ. Tác giả đã tỏ ra sự cố gắng trong lúc ghi chép những phản ảnh của thời đại, nó đánh dấu một biến chuyển lớn lao của nền văn hóa nước nhà”; Việt báo (số 4) cũng nhận định: “Hành văn trong sáng và linh hoạt. Cốt truyện cảm động và ý nhị. Có thể nói đó là tác phẩm đặc sắc nhất của tác giả, và Thẩm Thệ Hà đã thành công ở công cuộc biểu dương nền ‘văn chương tranh đấu’ với tác phẩm này”.

Người yêu nước viết về cuộc sống xã hội của những con người, đặc biệt là những thanh niên trí thức, trước cách mạng tháng Tám và những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Vũ là nhân vật tiêu biểu cho lớp thanh niên trí thức thành thị, sống sung sướng, những ngày đầu cuộc kháng chiến còn bở ngỡ, hoài nghi, Sau khi được Bão giác ngộ, Vũ đi theo cách mạng. Vũ cảm thấy ngạc nhiên với sự thay đổi của mình. Chàng lặn lội khắp các vùng quê hẻo lánh và đem những hiểu biết của mình dạy cho những người dốt nát. Vũ nhận ra rằng cách mạng chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ. Điều kiện đủ chính là sự hưởng ứng liệt nhiệt của quần chúng nhân dân lao động. Bởi “cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân”, “dân là gốc” là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng. Trong Người yêu nước ta thấy xuất hiện một kiểu nhân vật tương đối gần gũi với kiểu nhân vật mà sau này trở thành phổ biết trong các tác phẩm văn xuôi giai đoạn chống Mỹ cứu nước: nhân vật người Đảng”. Nhân vật “người Đảng” là nhân vật đã giác ngộ và đi theo cách mạng rồi quay trở lại tác động, giác ngộ cho những nhân vật khác. Trong Người yêu nước: Bão giác ngộ cho Vũ; Vũ giác ngộ cho Phượng; Phượng lại giác ngộ cho cha mình. Trong tiểu thuyết Vó ngựa cầu thu, nhân vật Sơn cũng có một kiểu thức như vậy. Sơn đã giác ngộ cho Lan Phương. Những nhân vật như Vũ, Sơn có những nét gần gũi với A Châu trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Thế trong Đất nước đứng lên và Quyết trong Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Chị Ba Dương trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái … đó là nhân vật xuất hiện để giác ngộ quần chúng đi theo cách mạng. Với họ, tình yêu của cá nhân, nhiệm vụ đối với gia đình đành tạm gác lại dành tất cả sức lực, trí tuệ cho nhiệm vụ cứu nước. Họ đến với cách mạng với tinh thần tự nhiệm. Hình ảnh của Vũ khiến chúng ta không thể không liên tưởng đến nhân vật Dũng trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh (1905 - 1963). Cũng như Dũng, Vũ cảm thấy khổ sở và dằn vặt trước đời sống sung túc của mình và muốn làm một điều gì đó có ích cho giới cần lao. Và cuộc “tìm đường” của Vũ cũng khiến ta nhớ đến những trí thức tìm đường và nhận đường trong Đôi mắt của nhà văn Nam Cao (1915 - 1951). Người yêu nước có nhiều trường đoạn về sự triết lý con đường giải phóng dân tộc của những người trí thức. Cũng có lúc họ dao động, mất niềm tin vào “đám cần lao, cùng khổ, thất học” nhưng rồi chính họ lại tự đánh tan ngờ vực và thấy ở khối người đó có sức manh to lớn. Nguyễn Văn Sâm có lý khi cho rằng Người yêu nước đã thể hiện một “diễn trình ý thức cách mạng”(4) của tác giả. Người yêu nước là tác phẩm có chiều sâu nhất của Thẩm Thệ Hà: giọng kể thay đổi linh hoạt khi thì ngôi thứ nhất, khi thì ngôi thứ ba; cuộc sống và cách mạng được thể hiện qua điểm nhìn từ nhiều phía của các nhân vật. Nó xứng đáng được xem là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất trong văn nghiệp của nhà văn.

Sau 1954, tiếp tục đường hướng đã chọn, Thẩm Thệ Hà còn sáng tác thêm các tiểu thuyết Đời tươi thắm (1956), Hoa trinh nữ (1957), Bạc áo hào hoa (1969). Đời tươi thắm có giá trị lớn ở chỗ đã khẳng định lý tưởng cách mạng của những thanh niên trí thức. Tuấn, nhân vật chính của truyện, từng có những mong ước trở thành một chiến sĩ tiền phong của nền văn nghệ cấp tiến. Cách mạng nổ ra, Tuấn cùng bạn là Trọng và nhóm bạn hữu tiếp tục hoạt động văn nghệ trong bối cảnh đất nước bị thực dân chiếm đóng. Qua lại nhà Trọng nhiều lần, tình cảm giữa Tuấn và Thúy đã nảy sinh. Nhưng với Tuấn, lý tưởng lại mạnh hơn tình cảm. Tuấn gác lại tình riêng để hòa mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc. Nhìn chung, Đời tươi thắm vẫn tiếp tục mạch đề tài trước 1954 của Thẩm Thệ Hà. Trong lúc đó, Bạc áo hào hoa, Hoa Trinh nữ lại khai thác một khía cạnh khác của đời sống đô thị. Hoa Trinh nữ là câu chuyện nơi chốn học đường. Tình trạng tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận thanh niên mới lớn trước sự ảnh hưởng của lối sống thực dụng phương Tây. Bạc áo hào hoa được tác giả kết cấu thành hai phần. Phần đầu phản ánh cuộc sống của một số thanh niên học đòi theo lối sống mới, bất cần tương lai và chối bỏ hiện tại. Phần hai là bối cảnh cuộc sống thôn quê, nơi đó chiến tranh đang tàn phá, hủy hoại cuộc sống của những người dân chân lấm tay bùn. Hai bức tranh, một thành thị và một ở thôn quê được tác giả khắc họa như một toàn cảnh xã hội miền Nam thời chiến. Tiểu thuyết này dường như là một tự truyện của Thẩm Thệ Hà. Nhà văn đã ký thác toàn bộ hoài bão, nhiệt huyết tuổi trẻ của mình vào nhân vật Hoàng - một giáo sư dạy Việt văn ở Sài Gòn. Hà Liên Tử đã viết về tiểu thuyết này trên Tia sáng (ra ngày 29-5-1970): “Truyện dài Bạc áo hào hoa của Thẩm thệ Hà đã khơi bùng lên niềm khát vọng hòa bình của mọi người dân yêu nước đã quá thống khổ vì chiến tranh tàn phá”.

*

Có thể thấy, so với thời kỳ trước 1954, văn phong của Thẩm Thệ Hà không mấy thay đổi, có chăng là trong cách nhìn nhận đánh giá hiện thực cuộc sống. Trước đây văn ông đầy chất lãng mạn, lạc quan thì nay lại thêm dư vị đắng cay, đôi chút đượm buồn. Các tiểu thuyết của Thẩm Thệ Hà dù được viết sau 1945 nhưng nhiều nhân vật vẫn mang hơi thở của các nhân vật thời tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Những Sơn và Lan (Vó ngựa cầu thu), Vũ và Phương (Người yêu nước), Thúy (Đời tươi thắm) dù sống trong thời chiến nhưng họ vẫn mang những tâm tình lãng mạn, có lúc họ mơ mộng viễn vông, chìm đắm trong những nỗi buồn vô cớ. Thế nhưng, điểm làm cho người đọc yêu thích nhân vật Thẩm Thệ Hà chính là nhờ vào quá trình thay đổi nhận thức của họ trước thời cuộc. Con người trong tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà được miêu tả sẵn sàng hi sinh tình yêu riêng tư cho hạnh phúc chung của toàn dân tộc. Tình yêu nhiều khi đóng vai trò là động lực tinh thần giúp cá nhân vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ đối với đất nước.

Nhận xét về các tiểu thuyết của Thẩm Thệ Hà, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cho rằng: “Thời gian qua đi, giờ đây đọc lại người đọc dễ thấy những khiếm khuyết của tác giả về phương diện dựng truyện, khắc họa tính cách tâm lý… nhưng vẫn không thể không xúc động: người viết đã gửi vào trang sách của mình một tấm lòng nặng tình với đất nước”(5). Cái làm nên tầm vóc Thẩm Thể Hà đúng là qua trang sách tác giả đã thể hiện được tấm lòng “nặng tình với đất nước” và chúng tôi xin nhấn mạnh thêm điểm quan trọng khác chính là ở sự chân thật trong ngòi bút và nhân cách trí thức của nhà văn(*).

Chú thích:

(1) Thanh Việt Thanh: Thẩm thệ Hà - thân thế và sự nghiệp, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.12.

(2) (5) Trần Hữu Tá: Một cây bút khả kính, Tuổi trẻ chủ nhật, số 9-2003, ra ngày 9-3-2003, tr.24, 25.

(3) Nhiều tác giả: Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế giới, 2004, tr.1643.

(4) Nguyễn Văn Sâm: Văn chương tranh đấu miền Nam, Kỷ Nguyên xuất bản, Sài Gòn, 1969, tr.150.

(*) Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ đề tài NCKH cấp Trọng điểm ĐH Quốc TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2012: Sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ 1945-1954 do TS Võ Văn Nhơn chủ nhiệm.

THƯ MỤC THAM KHẢO

 

1.             Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế giới.

2.             Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1998), Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, tập III, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

3.             Trần Tuấn Kiệt (1967), Thi ca Việt Nam hiện đại 1880-1965, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn.

4.             Võ Văn Nhơn (1997), “Văn xuôi yêu nước và tiến bộ trong các thành thị bị tạm chiếm (1945-1954)”, Tạp san Khoa học Xã hội & Nhân văn, số 5.

5.             Trần Hữu Tá (2003), “Một cây bút khả kính”, Tuổi trẻ chủ nhật, số 9, ra ngày 9 /3/2003.

6.             Trần Hữu Tá (2000), Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

7.             Nguyễn Q. Thắng (2008), Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, NXB Văn học, Hà Nội.

8.             Thanh Việt Thanh (1993), Thẩm thệ Hà - thân thế và sự nghiệp, NXB Thành phố Hồ Chí Minh,.

9.             Nguyễn Văn Sâm (1969), Văn chương tranh đấu miền Nam, Kỷ Nguyên xuất bản, Sài Gòn.

10.     Nguyễn Văn Sâm (1972), Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950, Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn.

11.     Nguyễn Thị Thanh Xuân (1998), Nhìn lại văn học kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1945-1954), In trong Bình luận văn học, niên giám 1997, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

 

 

 

Các nhà tài trợ

 _logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Giáo trình và sách tham khảo

Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á , NXB Văn hóa – Văn nghệ, TP.Hồ Chí Minh, 782 tr, Giá bìa: 350,000đ, giá bán: 220,000đVăn học cận đại Đông Á từ góc nhìn so sánh, NXB Tổng Hợp TP.HCM, 803 tr, Giá bìa: 350,000đ, giá bán: 220,000đ

Những vấn đề chính tả tiếng Việt hiện nay, NXB. Văn hoá – Văn nghệ, 516 tr, Giá bìa: 95,000đ, giá bán: 75,000đ

Có thể gửi sách qua đường bưu điện, LH cô Tâm: 0906805929

Đăng nhập

Giảng viên, nhà nghiên cứu có thể đăng nhập để gửi bài cho trang web VHNN tại đây.



Thành viên trực tuyến

Hiện có 1985 khách Trực tuyến

Cùng một tác giả