Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nghiên cứu Hán Nôm Về nguồn gốc và tác giả của cuốn Ấu học ngũ ngôn thi

Về nguồn gốc và tác giả của cuốn Ấu học ngũ ngôn thi

Email In

(Trần Ngọc Thuận, TC Han Nom 1/ 2000)

Ấu học ngũ ngôn thi là một trong những cuốn sách học của học trò nhỏ ở Việt Nam ngày xưa. Cùng với Tam tự kinh, Bách gia tính, Thiên tự văn, bất kỳ ai đã theo nghiệp học “chi, hồ, giả, dã” hầu như đều thuộc nằm lòng những câu thơ nằm trong những cuốn sách này. Nhưng, theo thói quen, các ông đồ ngày xưa không ai quan tâm giảng giải về nguồn gốc của nó. Vì vậy mà sau này, ngay cả đến các học giả cũng không hiểu rõ. Dương Quảng Hàm từng viết: “Cuốn Ấu học ngũ ngôn thi không nằm trong danh mục sách của người Trung Hoa”. Trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1997, trong bài Sách học chữ Hán cho học sinh nhỏ tuổi ngày xưa, ông Thế Anh cũng nhắc lại nhận xét này. Còn ông Tảo Trang, trong bài Phương thảo, thanh thảoẤu học ngũ ngôn thi đăng trên Tạp chí Hán Nôm 4/1996 thì nêu giả định: “có thể, theo thiển ý, quyển sách này do một tác giả Việt Nam viết”. Nhưng, giả định này không vững, vì toàn bộ nội dung và lời thơ của Ấu học ngũ ngôn thi không có chỗ nào đề cập đến tên người, tên đất và sự kiện ở Việt Nam, ngoại trừ... một số thơ ca ngợi gió nồm.

Thế là, cho tới tận bây giờ, vấn đề về nguồn gốc và tác giả của cuốn sách này vẫn còn là một nghi án.

Rất may mắn, gần đây, tôi kiếm được hai cuốn sách Trung Quốc là cuốn:

1. Tam tự kinh - Bách gia tính - Thiên tự văn - Thần đồng thi do Thượng Hải thư điếm xuất bản năm 1991.

2. Thiên gia thi - Thần đồng thi - Tục Thần đồng thi do Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã xuất bản năm 1993.

Giở xem phần Thần đồng thi của hai cuốn sách trên thì thấy, tuy giữa chúng có sự xuất nhập về một số khổ thơ, nhưng về tổng thể nội dung thì đều trùng hợp với cuốn sách mà ở Việt Nam mang tên Ấu học ngũ ngôn thi.

Bản của Thượng Hải thư điếm (tạm gọi bản A) gồm 136 câu; bản của Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã (tạm gọi là bản B) gồm 176 câu. Cả hai bản đều bắt đầu bằng khổ thơ:

Thiên tử trọng anh hào
Văn chương giáo nhĩ tào
Vạn ban giai hạ phẩm
Duy hữu độc thư cao.

Bản A kết thúc bằng khổ thơ:

Đông khứ canh trù tận
Xuân tùy đẩu bính hồi
Hàn huyên nhất dạ cách
Khách mấn lưỡng niên thôi.

Bản B còn kéo dài thêm và kết thúc bằng khổ thơ:

Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi.

So sánh với Ấu học ngũ ngôn thi mà tác giả bài viết này được học từ hồi còn nhỏ và hiện còn lưu một phần trong trí nhớ thì bản B có phần trùng nhiều hơn, tuy vẫn có sự xuất nhập trên một số câu, chữ. Thí dụ, ngay câu đầu tiên, Ấu học ngũ ngôn thi chép: “Thiên tử trọng hiền hào”, trong khi ở hai bản Thần đồng thi đều chép là “... anh hào”.

Nhìn chung, dễ thấy ngay là Thần đồng thi (theo tên Trung Quốc) hay Ấu học ngũ ngôn thi (theo tên Việt Nam) là cuốn sách dạy học trò thời phong kiến, khuyến khích việc chuyên cần học tập để đỗ đạt, thành danh, hưởng ơn vua, lộc nước v.v. Vì bối cảnh ra đời như vậy nên những hạn chế về tư tưởng là không tránh khỏi. Tuy nhiên, chế độ khoa cử được khởi đầu từ thời Tùy mà cuốn sách này đề cao, lại là một tiến bộ rõ rệt so với chế độ cử người thân từ thời Hán về trước. Nó tạo điều kiện cho tầng lớp bình dân, nếu có học vấn, tài năng, thì đều có thể hiển đạt, ra phò vua giúp nước.

Những câu:

Triêu vi điền xá lang
Mộ đăng thiên tử đường
Tướng tướng ban vô chủng
Nam nhi đương tự cường.

rõ ràng là những lời hay ý đẹp, có sức sống lâu dài.

Về nguồn gốc Thần đồng thi, lời nói đầu cuốn sách của Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã, dẫn ghi chép của Chu Quốc Trinh thời Minh, viết: “Uông Chu, tự Đức Ôn người huyện Ngân, chín tuổi đã giỏi làm thơ, quan trên nghe tiếng triệu lên, ông mặc áo ngắn vào dinh quan. Quan hỏi: “Sao áo của thần đồng ngắn thế ?” Ông ứng khẩu trả lời:

Thần đồng sam tử đoản
Tụ đại nhạ xuân phong
Vị khứ triều thiên tử
Tiên lai yết tướng công.

Dịch:

Thần đồng áo cánh ngắn
Tay rộng hứng gió xuân
Chưa vào chầu thiên tử
Trước yết kiến thượng quan.

Người đời thu thập thơ của ông thành tập sách dạy nhi đồng, đặt tên là Uông Thần đồng thi. Đó là tên ban đầu của sách Thần đồng thi. Tương truyền, một số trang đầu của cuốn sách là do Uông Chu sáng tác lúc còn nhỏ. Những phần sau là do người đời Minh góp nhặt những câu thơ khác ghép thành. Uông Chu là người thời Bắc Tống, đỗ Tiến sĩ năm Nguyên Phù thứ ba đời Tống Triết Tông, làm quan tới chức Quan Văn điện Đại học sĩ. Sách Thần đồng thi được lưu hành rất rộng vào thời Minh - Thanh, có tác dụng khuyến học và bồi dưỡng kiến thức văn chương cho trẻ nhỏ.

Thời Thanh, người ta biên soạn tiếp cuốn Tục Thần đồng thi để bổ sung phần giáo dục luân lý, đạo đức cho trẻ nhỏ. Cuốn này chỉ chú trọng thuyết lý mà ít có giá trị văn chương. Do đó mức độ phổ cập nói chung kém Thần đồng thi.

Qua tư liệu trên, có thể suy đoán là sách Thần đồng thi được truyền từ Trung Quốc sang Việt Nam. Còn chính xác được truyền từ khi nào, được ai đổi tên thành Ấu học ngũ ngôn thi và được thêm bớt những gì, thì cần có sự nghiên cứu thêm nữa.

Về kết cấu tác phẩm, ông Tảo Trang căn cứ vào văn bản Ấu học ngũ ngôn thi, có đưa ra nhận xét: “Có thể nói cuốn sách đã tập hợp những bài thơ ngắn bốn câu năm chữ sắp xếp khá tùy tiện, không theo một trật tự rõ ràng” (bài đã dẫn).

Xét về chi tiết thì có phần như vậy. Nhưng nếu nhìn tổng thể, thì tác phẩm vẫn tuân theo một phác đồ logic là: khuyến khích lập chí tự cường, chuyên cần học tập, thi đỗ làm quan, làm vinh hiển song thân, hưởng thụ cảnh đẹp của non sông đất nước. Khi tuổi già, về trí sĩ, sống cuộc đời nhàn tản, cao khiết qua bốn mùa xuân hạ thu đông.

Dưới đây, xin trích bản B để thuyết minh những ý kiến trên.

· Đoạn mở đầu: Khuyến học

Thiên tử trọng anh hào,
Văn chương giáo nhĩ tào.
Vạn ban giai hạ phẩm,
Duy hữu độc thư cao.

Tạm dịch:

Thiên tử trọng kẻ anh hào,
Văn chương, nghĩa lý trao vào lũ bay.
Muôn nghề đều thấp kém thay,
Chỉ riêng đọc sách, việc này cao sang.

*

Thiếu tiển tu cần học,
Văn chương khả lập thân.
Mãn triều chu tử quí,
Tận thị độc thư nhân.

Tạm dịch:

Lúc nhỏ học tập chuyên cần,
Văn chương có thể lập thân sau này.
Đầy triều rực rỡ cân đai,
Đều người đọc sách những ngày còn xanh.

*

Học hướng cần trung đắc,
Huỳnh song vạn quyển thư.
Tam đông kim túc dụng,
Thùy tiếu phúc không hư ?

Tạm dịch:

Học hành chăm chỉ thì nên,
Muôn ngàn quyển sách trước đèn làu thông.
Công phu tích lũy ba đông,
Ai cười trong bụng rỗng không có gì ?

*

Tự tiểu đa tài học,
Bình sinh chí khí cao.
Biệt nhân hoài bảo kiếm,
Ngã hữu bút như đao.

Tạm dịch:

Tự nhỏ học tập thành tài,
Bình sinh chí khí không ai sánh bằng.
Mặc người kiếm báu ngang lưng,
Ta nay ngọn bút sánh cùng gươm đao.

*

Triêu vi điền xá lang,
Mộ đăng thiên tử đường.
Tướng tướng bản vô chủng,
Nam nhi đương tự cường.

Tạm dịch:

Nay còn cày cuốc ngoài đồng,
Ngày mai tất sẽ vào trong triều đường.
Khanh tướng đâu cứ giống dòng,
Làm trai cần biết tự cường thì nên.

· Thi đỗ:

Hỷ trúng thanh tiền tuyển,
Tài cao áp tuấn anh.
Huỳnh song tân thoát tích,
Nhạn tháp đạm thư danh.

Tạm dịch:

Văn hay được chọn dâng lên,
Tài cao xuất sắc vượt trên anh hào.
Song huỳnh khó nhọc xiết bao,
Tên ghi tháp nhạn mừng nào mừng hơn.

*

Niên thiếu sơ đăng đệ,
Hoàng đô đắc ý hồi.
Vũ môn tam cấp lãng,
Bình địa nhất thanh lôi.

Tạm dịch:

Tuổi xanh sớm chiếm bảng rồng,
Vũ môn ba lớp sóng lừng vượt qua.
Đất bằng sấm chớp chói lòa,
Vinh quy cho thỏa lòng ta những ngày.

*

Nhất cử đăng khoa nhật,
Song thân vị lão thời.
Cẩm y qui cố lý,
Đoan đích thị nam nhi.

Tạm dịch:

Ngày ta cập đệ đăng khoa,
Song thân còn đó một chờ mười mong.
Xênh xang áo gấm về làng,
Hiển vinh cha mẹ, rỡ ràng thân trai.

· Vào triều làm quan:

Cung điện điều nghiêu tủng,
Nhai cù cạnh vật hoa.
Phong vân kim tế hội,
Thiên cổ đế vương gia.

Tạm dịch:

Triều đình cung điện nguy nga,
Phố phường phẩm vật phồn hoa chen bày.
Phong vân gặp hội hôm nay,
Ngàn năm truyền mãi đất này đế vương.

*

Nhật nguyệt quang thiên đức,
Sơn hà tráng đế cư.
Thái bình vô dĩ báo,
Nguyện thượng vạn niên thư.

Tạm dịch:

Đức trời nhật nguyệt sáng soi,
Núi sông tô điểm rạng ngời đế kinh.
Báo ơn thịnh trị thái bình,
Vạn niên thư, chút lòng thành dâng lên.

*

Cửu hạn phùng cam vũ,
Tha hương ngộ cố tri.
Động phòng hoa chúc dạ,
Kim bảng quải danh thì.

Tạm dịch:

Nắng lâu gặp trận mưa rào,
Tha hương gặp bạn vui đâu sánh cùng.
Đuốc, soi buổi động phòng,
Thân trai gặp lúc bảng vàng treo tên.

· Đoạn tiếp sau, tả phong cảnh đất kinh kỳ qua 12 tiết trong năm, có dẫn dụng thơ Lý Bạch, Đỗ Mục đời Đường và Lý Phúc Nguyên đời Tống, nhằm dạy nhi đồng về kỹ thuật làm thơ.

Chúng tôi xin phép lược không dẫn.

· Đoạn cuối, tả sau khi công thành danh toại, về trí sĩ, hưởng thú thanh nhàn, cao nhã qua bốn màu xuân, hạ, thu, đông.

Thi tửu cầm kỳ khách,
Phong hoa tuyết nguyệt thiên.
Hữu danh nhàn phú quí,
Vô sự tản thần tiên.

Tạm dịch:

Khách là thi tửu cầm kỳ,
Phong hoa tuyết nguyệt thiếu gì thú vui.
Thanh nhàn, phú quí tót vời,
Thần tiên tự tại sống nơi cõi trần.

*

Đạo viện nghinh tiên khách,
Thư đường ẩn tướng Nho.
Đình tài thê phượng trúc,
Trì dưỡng hoá long ngư.

Tạm dịch:

Tướng Nho ẩn chốn thư đường,
Khách tiên thường đến, văn chương luận bàn.
Phượng vin cành trúc ngoài hiên,
Dưới ao cá lội đợi phen hóa rồng.

*

Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.

Tạm dịch:

Mùa xuân dạo thảm cỏ thơm,
Hè sang ngoạn cảnh xanh rờn ao sen.
Đêm thu rượu cúc giải phiền,
Đông ngâm bạch tuyết một thiên luật Đường.