27032017Thứ 2
Mới nhấtChủ nhật, 26 03 2017 5am

Đối chiếu một số loại câu đồng nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Anh

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 1.50 (1 Vote)

Chao         1.Khi nghiên cứu về nghĩa, trên phương diện từ vựng người ta chú ý đến những kiểu quan hệ ngữ nghĩa như: đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm v.v…. Trên phương diện cú pháp cũng có những vấn đề tương tự: có những câu với cùng một hình thức từ ngữ nhưng lại được hiểu theo những nghĩa khác nhau, đó là những câu mơ hồ. Lại có những câu có hình thức khác nhau nhưng lại diễn đạt cùng một nội dung, cùng chỉ một đối tượng, một sự tình v.v… đó là những câu đồng nghĩa (paraphrase). Việc nghiên cứu vấn đề câu đồng nghĩa (CĐN) sẽ góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống các quan hệ ngữ nghĩa – cú pháp, xây dựng các mô hình cú pháp, phát hiện các cấu trúc đồng nghĩa trong các ngôn ngữ phục vụ công tác xử lý dịch tự động văn bản, tóm tắt văn bản, dạy tiếng v.v… Với ý nghĩa đó, bài viết này đề cập đến việc đối chiếu một số loại CĐN của tiếng Việt với tiếng Anh, phát hiện các loại CĐN tương ứng, các cấu trúc đồng nghĩa, sự giống và khác nhau trong việc sử dụng các loại phương tiện và phương thức diễn đạt đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau.


Tìm hiểu du lịch qua ca dao ở một số tỉnh miền Tây Nam bộ theo hướng du lịch sinh thái hiện đại

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

PGS. TS. Lê Tiến Dũng

Trường ĐH KHXH &NV TP.HCM 

1.Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã đã định nghĩa về loại du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiênvăn hoá bản địa (chúng tôi nhấn mạnh - LTD)gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và cá giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương” [1].

Ăn Tết ở miệt vườn Lái Thiêu

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Tóm tắt. Bài viết giới thiệu những nét văn hóa Tết tiêu biểu của miệt vườn Lái Thiêu. Ở đây có nhiều phong tục độc đáo của ngày Tết gắn liền với nghề trồng vườn, khung cảnh thiên nhiên, sản vật địa phương, nhất là đặc điểm con người. Vì vậy, những nét văn hóa Tết của miệt vườn nơi đây cần được  bảo tồn để góp phần làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa Tết của dân tộc trong thời đại hội nhập và phát triển.

Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

(Chuyên luận của Trần Thị An. NXB KHXH, H., 2014; 430 trang)

TS. Đặng Quốc Minh Dương

Đại học Văn Hiến, TP Hồ CHí Minh.

So với các thể loại tự sự dân gian khác, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, truyền thuyết dân gian được các nhà nghiên cứu quan tâm muộn hơn cả. Hơn nữa, tư liệu về truyền thuyết dân gian Việt Nam hầu hết tản mát trong tín ngưỡng hoặc trong các tác phẩm văn học thành văn. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu nhưng các ý kiến bàn luận về thể loại truyền thuyết dân gian chưa thống nhất, nguyên nhân cơ bản là do có các ý kiến khác nhau về đặc trưng thể loại…

Chợ Tết Ba Tri

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Chợ quê vào những ngày giáp Tết là một bức tranh văn hóa sinh động, nhộn nhịp với bao điều thú vị. Hình ảnh buổi chợ quê những ngày này vẫn in sâu trong ký ức bao thế hệ con người Việt Nam, vẫy gọi họ trở về với quê hương, nguồn cội. Còn với tôi, hình ảnh chợ Ba Tri vào những ngày giáp Tết, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, thì không thể nào quên được và bỗng dưng nơi ấy lại làm bùng lên nỗi nhớ quê đến nôn nao lạ lùng trong tôi giữa phố thị Sài Gòn vào những ngày gần Tết ồn ào, vội vã.

Nỗi oan con gà

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

             Về mặt sinh học mà nói thì vươn cổ gáy là chuyện bản năng của con gà trống, giống loài nó đã gáy từ thời tổ tiên để lên tiếng về sự có mặt của mình trong vũ trụ, để chứng minh sự tồn tại của mình giữa muôn vàn sinh vật khác. Không gian càng vắng vẻ, lũ gà càng gáy to. Lại về mặt bản năng mà nói thì tiếng gáy của con gà trống là để…ra oai, để thu hút bạn tình (tất nhiên là lũ gà mái), nên mới có chuyện “con gà ghét nhau tiếng gáy”. Từ lũ gà thanh niên trai tráng tới ông lão gà hom hem cũng đều thể hiện mình bằng tiếng gáy, gáy cho cao giọng, cho oai vệ, cho át được tiếng gáy của những thằng gà khác, chung cuộc cũng là mong lũ gà mái để mắt tới mình, ngưỡng mộ sự oai phong qua tiếng gáy hùng dũng của mình để bu quanh chân mình, mong mình che chở.

Toạ đàm khoa học “Nghiên cứu và giảng dạy văn hoá biển – Trường hợp vùng biển Nam Bộ”

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Sáng ngày 26/09/2015 tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM đã diễn ra toạ đàm khoa học với chủ đề “Nghiên cứu và giảng dạy văn hoá biển – Trường hợp biển Nam bộ” do PGS.TS. Phan Thị Yến Tuyết, giảng viên Khoa Việt Nam học trình bày.

Tính hai mặt – Một đặc trưng của nhân vật con vật tinh ranh trong truyện dân gian

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

TS. Đặng Quốc Minh Dương

            Đại học Văn Hiến

TÓM TẮT

Nhân vật con vật tinh ranh là những con vật mà trong quan niệm dân gian được xem là thông minh, tinh quái, mưu trí. Song song với đặc trưng là biết vận dụng lý trí để hành động, nhân vật con vật tinh ranh còn thể hiện một đặc trưng khác, đó là tính hai mặt. Bởi bên cạnh việc sử dụng mưu mẹo để giúp đỡ các nhân vật khác vượt qua thử thách, đôi khi, nhân vật con vật tinh ranh lại lạm dụng mưu kế để chơi khăm, gây hại cho kẻ khác. Tính hai mặt này được thể hiện nhất quán từ mở đầu đến diễn tiến truyện và kết thúc truyện. Tính hai mặt góp phần giúp cho nội dung truyện kể thêm kịch tính, hấp dẫn.

Tục thờ Quan Âm Nam Hải ở hai cộng đồng ngư dân Sông Đốc (Cà Mau) và Trần Đề (Sóc Trăng)

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Trong những chuyến khảo sát thực tế gần đây ở hai cộng đồng ngư dân Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) và Trần Đề (huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng), chúng tôi đã có dịp chứng kiến và cảm nhận rõ hơn vai trò đặc biệt quan trong của Quan Âm Nam Hải trong đời sống tâm linh của ngư dân tại đây. Bồ tát được ngư dân gọi là bà, mẹ hay Phật bà,…với niềm tin được ngài  phù hộ cho họ mỗi khi ghe thuyền ra khơi, lênh đênh trên biển cả.

Truyện ngụ ngôn “Con ve và cái kiến” và nỗ lực cải cách ngôn ngữ dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

(ThS. Tạ Anh Thư, Bình luận văn học - niên san 2015, tr. 97-106)

Tóm tắt

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhân vật có ảnh hướng lớn đến đời sống chính trị, xã hội, văn hoá Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Ông còn là một dịch giả với nhiều đóng góp quan trọng trong việc dịch và giới thiệu văn học Pháp ở Việt Nam. Bài viết khảo sát bản dịch truyện ngụ ngôn “Con ve và Con kiến” để từ đó nhận diện vai trò quan trọng của Nguyễn Văn Vĩnh trong nỗ lực cải cách ngôn ngữ dịch thuật.

Từ khóa: Nguyễn Văn Vĩnh, “Con ve và cái kiến”, ngôn ngữ dịch thuật…

Văn hoá dân gian Việt Nam trong xã hội đương đại

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

TÓM TẮT

Xã hội Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá song song với việc xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Môi trường xã hội đó hoàn toàn khác với môi trường xã hội Việt Nam truyền thống, nơi mà hoạt động nông nghiệp thủ công cổ truyền chiếm ưu thế. Chính vì vậy mà văn hoá dân gian Việt Nam đang gặp phải một cú sốc lớn lao đòi hỏi nó phải thích ứng với tình hình mới nếu không muốn bị xoá sổ.

Truyện Tấm Cám ở Nam Bộ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

I. Tình hình truyện Tấm Cám ở Nam Bộ

1.1. Truyện Tấm Cám bằng văn xuôi

Bản kể truyện Tấm Cám xưa nhất hiện còn là Truyện Tấm Cám do G. Jeanneau sưu tầm ở Mỹ Tho, công bố năm 1886, rất tiếc không có bản gốc. Chúng ta chỉ biết được qua tóm tắt của Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập IV, tr.1783-1785). Cùng năm 1886 còn có một bản kể của người Kinh ở Nghệ An do A. Landes sưu tầm, công bố trong Légendes annamities (Sài Gòn, 1886), nhan đề “Histoire de con Tấm et de con Cám”. Trong hai bản cổ nhất hiện có này, điều thú vị là tên gọi và tính cách hai nhân vật chính khác với truyện thông thường chúng ta được biết: Cám là cô gái hiền lành bị hãm hại, Tấm mới là cô gái xấu xí, mưu mô. Hai bản này cũng đều có chi tiết Tấm Cám bị cha mẹ yêu cầu đi bắt cá để phân định chị em (ai bắt nhiều hơn được làm chị), chứ không phải ai xúc tép nhiều hơn được thưởng yếm đỏ như bản kể quen thuộc của Vũ Ngọc Phan. Bản truyện Tấm Cám phổ biến hiện nay trong cả nước (kể cả ở Nam Bộ) là Truyện Tấm Cám do Vũ Ngọc Phan kể (Nxb. Kim Đồng, Hà Nội, 1966). Ba bản kể này đều có thể tìm thấy trong công trình “Về type, motif và tiết truyện Tấm Cám” của GS. Nguyễn Tấn Đắc (Nxb. Thời đại, 2013).

Các hình thức đối đáp trong ca dao tình yêu nam nữ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Ra đời trong hoàn cảnh đối đáp giao duyên nam nữ trong môi trường lao động hay khi vui chơi hội hè nên trong nhóm ca dao tình yêu nam nữ có phần lớn những cặp ca dao là lời đối thoại của người nam và người nữ, gồm có hai vế đi song hành với nhau. Hình thức thông thường nhất là câu 6-8 đối của giới này và câu 6-8 đáp của giới kia. Có khi đó là lời trao đổi chuyện trò của hai bên nam nữ. Có khi đó là câu hỏi của bên này và câu đáp của bên kia. Cũng có khi bên này ra câu đố cho bên kia trả lời... Đa phần những câu ca dao này thường có nội dung dí dỏm, hài hước. Hỏi thì hỏi cắt cớ, bắt bí, trả lời đôi khi cũng bằng một câu hỏi ngược lại theo kiểu “ăn miếng trả miếng”. Không hiếm những câu đối thể hiện thái độ chua ngoa, đanh đá của cô gái và những câu đáp đầy “hậm hực”của chàng trai. Cũng không thiếu những câu ca dao có nội dung thách đố thật khó và đáp lại những câu hỏi có tính thách đố đó là những câu đố ngược lại hoặc những câu trả lời bừa đi cho qua chuyện. Nhìn chung dù ở hình thức đối thoại như thế nào đi nữa thì nội dung của những câu ca dao này cũng ý nhị, dễ thương, khiến người nghe có thể mĩm cười nhẹ nhàng hay cười to sảng khoái, có khi còn khoái chí cười muốn lộn gan lộn ruột. Cũng có vài câu dùng hình ảnh tính dục để thể hiện nội dung lời đối đáp nhưng không quá tục, dùng hình ảnh tục nhưng vẫn thanh do sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ.. có khả năng gây cười hiệu quả khi thể hiện được thái độ… đáo để của các nhân vật trữ tình trong những câu ca dao đó.

Tiếng Việt cổ và từ địa phương Nam Bộ trong “Câu hát góp” của Huình Tịnh Của

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

(La Mai Thi Gia, Tạp chí Đại học Sài Gòn, tháng 8.2016)

Tóm tắt

Trong bài viết, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của những câu ca dao đã được sưu tầm cách đây 128 năm trong sưu tập Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của. Chúng tôi tìm và giải thích những từ Việt cổ, từ địa phương Nam Bộ xuất hiện nhiều trong các câu ca dao khác nhau bằng cách tra cứu nghĩa của các từ đó trong Đại Nam quấc âm tự vị cũng của Huỳnh Tịnh Của biên soạn. Chúng tôi tìm hiểu tính Nam Bộ trong ngôn ngữ ca dao dân ca Nam Bộ được sưu tập ở cuối thế kỷ 19 thể hiện như thế nào thông qua từ địa phương và cách xưng hô đậm tính Nam Bộ, đồng thời giải nghĩa những câu ca dao dân ca chứa nhiều từ Việt gốc Hán trong Câu hát góp.

Bước đầu tìm hiểu về dừa trong tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 

TS. Trần Hoàng Hảo- ThS. Dương Hoàng Lộc

1. Dẫn nhập

Dừa được mệnh danh là cây của sự sống. Ngày nay, khoa học đã chúng minh dừa có nhiều công dụng ở lĩnh vực y học, dinh dưỡng, công nghiệp, môi trường, du lịch, dừa trở thành một loại cây kinh tế nhằm đảm bảo và phát triển đời sống của con người ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, một quốc gia có điều kiện tự nhiên nhiệt đới ẩm, cây dừa được trồng khá phổ biến và gắn liền với kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân. Ở Nam bộ, cây dừa được trồng ở nhiều địa phương, phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người dân Nam bộ, cây dừa đã để lại dấu ấn rất lớn trong ẩm thực, âm nhạc, nghề truyền thống, ca dao-dân ca, hội họa, nhà cửa, phương tiện đi lại,….Đặc biệt, dừa còn có mặt trong đời sống tín ngưỡng của người dân ở đây với nhiều biểu hiện khác nhau. Bài viết của chúng tôi bước đầu nhằm tìm hiểu về một số biểu hiện của dừa trong tín ngưỡng của  người dân Nam bộ.

Có hay không tiểu loại truyện cổ tích lũy tích ở Việt Nam?

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Tiểu loại cổ tích lũy tích là vấn đề ít được nghiên cứu, thậm chí đến này tiểu loại này vẫn chưa được nhiều quốc gia thừa nhận. Khảo sát truyện cổ tích loài vật ở Việt Nam, chúng tôi thấy có 5/11 type truyện Việt Nam tương thích với Bảng phân loại của V. Ia. Propp và 6 type truyện xuất hiện trong truyện dân gian Việt Nam. Căn cứ vào cấu trúc, kết cấu của các truyện khảo sát, chúng tôi tin rằng ở Việt Nam có tiểu loại truyện cổ tích lũy tích. Bài viết cũng cho thấy hướng nghiên cứu truyện cổ tích lũy tích trong truyện dân gian Việt Nam là có triển vọng mà bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề.....

Type truyện thanh gươm thần và tục thờ gươm qua truyền thuyết của các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

1. Lược sử vấn đề*

Đề tài gươm thần bảo vệ nước, bảo vệ giống nòi với hình tượng lưỡi gươm, cán gươm và vỏ gươm vốn đang rời rạc, khi ráp lại với nhau bỗng biến thành sức mạnh vô địch, sức mạnh đoàn kết chống ngoại xâm vốn được lưu hành từ xa xưa ở nhiều dân tộc. Nhiều tộc người ở Tây Nguyên, trong đó có các dân tộc chính thuộc hai nhóm ngữ hệ Nam Đảo và Môn-Khơ me như Ê Đê, Gia Rai, Chăm (Nam Đảo), Ba Na, Xơ Đăng (Môn-Khơ me) đều có truyện gươm thần riêng của dân tộc mình và có phần trùng hợp nhau về cốt truyện và hình tượng thanh gươm. Câu chuyện về gươm thần mà mỗi tộc người giữ một bộ phận, có hợp nhau lại mới chống được quân thù được các tộc người Trường Sơn - Tây Nguyên truyền lại có ít nhiều thay đổi, được xem là những dị bản của một cốt kể.

Về loại truyện cổ tích luỹ tích ở các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 3.50 (4 Votes)

             Tóm tắt. Truyện cổ tích lũy tích là một kiểu truyện có nghệ thuật kể chuyện độc đáo trên dựa trên nguyên tắc của sự xâu chuỗi. Từ lý thuyết về kiểu truyện cổ tích lũy tích, bài viết khảo sát về kiểu truyện này trong văn học dân gian các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên ở Việt Nam. Từ đó, bài viết phân loại các truyện cổ tích lũy tích này thành: loại sai đi hay đuổi theo, loại đổi chác-bắt đền, loại đổi chác-được đền.

Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hoá dân gian

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

      (Chu Xuân DiênIn trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa Văn học và Ngôn ngữ)

           So sánh (hoặc so sánh đôi chiếu) là một thao tác nghiên cứu được dùng trong nhiều ngành khoa học khác nhau. Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tùy thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy. Có những ngành khoa học nếu không vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tượng.

Ý nghĩa của hình tượng khỉ trong văn học dân gian Việt Nam

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

TÓM TẮT. Trong văn học nghệ thuật hay hội họa, điện ảnh của các nước trên thế giới, loài khỉ thường xuyên xuất hiện trong vai trò là nhân vật chính, là nguồn cảm hứng cho sáng tác. Hình ảnh con khỉ đã từ đời sống đi vào văn học dân gian Việt Nam và xuất hiện ở rất nhiều thể loại khác nhau, từ thành ngữ tục ngữ đến ca dao dân ca và cả truyện cổ tích, sự tích. Do đặc tính giống người về cả hình thức lẫn cảm xúc nên con khỉ thường được dân gian mang ra ví von với cả tính cách lẫn hành vi, lối sống của loài người, mỗi ví von đều chứa đựng một triết lý nhân sinh, một thông điệp, một bài học, một lời nhắn nhủ của cha ông truyền lại cho những thế hệ sau.

Lửa, sắt, nghề rèn và thanh gươm: những biểu tượng của quyền năng và sự thay đổi

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

1. Lịch sử phát triển của con người thời tiền sử chia làm ba thời kỳ: thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng và thời đại đồ sắt. Thời đại đồ sắt là thời kỳ cuối cùng trong hệ thống ba thời đại để kết thúc thời tiền sử. Thời kỳ đồ đá diễn ra vào thời con người vẫn còn là vượn người, chưa phát triển hoàn thiện; lúc đó con người sử dụng đá để làm công cụ cắt, gọt, đào bới, săn bắt thú; cùng lúc những công cụ lao động bằng xương thú, cành cây, vỏ sò đã ngày càng không phổ biến bằng công cụ bằng đá. Việc tìm ra lửa bằng cách cọ hai hòn đá vào nhau được xem là phát minh quan trọng nhất của con người trong thời đại này. Lửa đã làm thay đổi to lớn trong đời sống con người vốn mang “tính thú” trước đó; lửa là sự chuyển tiếp quan trọng từ giai đoạn mông muội sang giai đoạn văn minh với một ý nghĩa rất lớn như: nấu chín thức ăn, sưởi ấm khi trời lạnh, soi đường trong đêm tối, xua thú dữ, phát rừng làm rẫy,…- một biểu tượng vĩ đại và quyền uy tối thượng. Con người nguyên thủy tiếp xúc với lửa nhưng chỉ dựa vào cảm giác chứ chưa có một căn cứ khoa học cụ thể nào. Họ chỉ có thể tin rằng nó huyền bí chứ không thể giải thích nó. Họ đã thần bí hóa nó, điều này làm giảm tư duy lý tính của con người, cũng chính vì vậy mà lửa là một biểu tượng rất thiêng, một sức mạnh vô biên. Con người nguyên thủy không thể giải thích được lý do vì sao có sấm sét, có cháy rừng… khi những sự việc đó làm ảnh hưởng (xấu hoặc tốt) đến cuộc sống của họ. Họ tin rằng trong lửa mang một sức mạnh thần thánh, từ đó họ đâm ra tôn sùng và thờ phụng nó. Khái niệm thần lửa có lẽ cũng từ đó mà ra đời. Khi con người mang theo lửa bên mình, họ tin rằng mình sẽ được bảo vệ, sẽ được bình an. Ví như lúc trong rừng sâu chẳng hạn, lửa có thể xua thú dữ. Họ cũng tin  rằng lửa có thể xua đuổi tà ma, làm cho chúng không dám đến gần họ. Người Tây Nguyên không thể không có lửa về đêm; chỉ cần thiếu lửa ít lâu, là họ sẽ ngã bệnh. Nếu, do ngủ say họ để lửa tắt, thì bị cái lạnh của buổi bình minh đánh thức, họ sẽ trở dậy ngay để thổi cho than bùng lên hay đi xin lửa ở nhà sàn bên cạnh. Khi đi làm việc, họ mang theo mẩu củi cháy dở của mình: trong kỳ dọn rẫy, họ dùng nó để đốt cháy đám cây đã đốn ngã (trong loại đất trồng lúa này, việc dọn đất chủ yếu là bằng lửa), ngày nào cũng vậy, họ dùng lửa để đốt ống điếu của mình. Họ yêu và sợ lửa. Đấy là phương tiện duy nhất của họ để sưởi ấm và chiếu sáng và là công cụ chính để trồng trọt. Nhưng họ sợ sức mạnh quá lớn của kẻ đầy tớ nồng nhiệt này và cố làm chủ nó. Dầu tất cả các vật liệu trong nhà sàn đều hết sức dễ bắt lửa, nhưng ít khi thấy xảy ra nạn cháy vì sơ ý. Khi cần đốt rừng, ngay cả bọn trẻ con cũng có bản năng ngăn lửa và thực hiện việc đó rất hiệu quả[i].

2. Nối tiếp thời đại đồ đá là thời đại đồ đồng. Phát hiện ra đồng là một bước tiến mới trong sự phát triển của con người bởi họ đã bắt đầu bước vào thời đại của kim khí. Đồng có lịch sử sử dụng ít nhất 10.000 năm trước. Ở thời kỳ này, hình thái kinh tế xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã (thật ra nó đã bắt đầu tan rã từ cuối thời đại đá mới và tiếp tục tan rã khi giai đoạn đồng thau phát triển). Người ta đúc đồng trong các bể đúc bằng đá, những vật dụng, vũ khí bằng đồng được con người ngày nay phát hiện gồm dao găm đồng, mũi tên đồng, lưỡi cày đồng… Đồng với tính chất mềm dẻo, dễ dát mỏng, dễ uốn nên không thể sử dụng nhiều cho cuộc sống nông nghiệp. Ngày nay chúng ta thường thấy đồng được sử dụng để làm vật dụng truyền tải điện, que hàn, thành phần của hợp kim…Nhiều dẫn chứng cho thấy rằng đồng xuất hiện chỉ là một thành tựu trong quá trình khai phá của con người chứ chưa thể gọi là sự đột biến trong quá trình lao động sản xuất và làm thay đổi kinh tế, xã hội. Kế đến là thời kỳ đồ sắt. Loài người biết đến sắt rất sớm, quặng sắt phân bố rộng rãi khắp mọi nơi trên quả đất nhưng loài người phát hiện được tính chất rẻ và thông dụng của sắt chậm hơn đồng có đến 3000 năm.

3. Phát hiện ra nghề luyện sắt là một phát minh lớn, một kỳ công rực rỡ, một thành tựu vĩ đại của loài người nói chung và của các dân tộc Việt Nam nói riêng trong đó có các dân tộc ít người ở Trường Sơn-Tây Nguyên. Quặng sắt ở khắp mọi nơi, trữ lượng lại nhiều, nhưng sắt không hề xuất hiện dưới dạng nguyên chất mà là một kim loại ẩn. Riêng ở một số khu vực trong tiểu vùng Bắc Tây Nguyên, quặng sắt lại ở dạng lộ thiên (ví dụ địa bàn cư trú của nhóm Xơ Đăng Tơ-Đrăh thuộc hai huyện Kon Rẫy và Đăk Hà tỉnh Kon Tum). Trong thiên nhiên, sắt luôn hòa hợp với ôxy, thường ở dưới dạng xù xì, xấu xí, màu nâu xám, ít được chú ý đến. Mặt khác, sắt là một kim loại khó nấu chảy. Đồng nóng chảy ở khoảng 1084ᵒC, đồng thau khoảng 700-900ᵒC, nhưng với độ nóng chảy ở 1530ᵒC của sắt, nếu không có sự hoàn thiện của kỹ thuật luyện kim thì không thể nào đạt được. Thời đại đồ sắt được bắt đầu tính đến trong lịch sử khi mà loài người đã biết rèn sắt để chế tạo các loại công cụ, vũ khí. Không phải ngay từ đầu người xưa đã biết nấu chảy sắt mà họ lấy sắt từ trạng thái bột xốp và dùng nó để làm nguyên liệu chế tạo hiện vật thông qua quá trình rèn. Phương pháp này được gọi là phương pháp thổi sống. Sắt là một kim loại mềm; muốn có được những công cụ sắc, bén, cứng như dao, kiếm, gươm, phải biết tiến hành hỗn hợp sắt và than trong quá trình luyện sắt và rèn sắt. Với phương pháp thổi sống, người xưa chỉ cần khoảng 900ᵒC là đủ. Lúc đầu tiên, khi mới phát sinh thuật luyện sắt, lò còn rất nhỏ, cấu tạo vô cùng đơn giản. Nói chung, lò thổi sống thường được xây bằng đá, trát hoặc đấp bằng bùn, có lỗ thông gió và thổi gió vào. Quặng sắt sau khi được sàng lọc, đập nhỏ, rửa sạch, sẽ được đem trộn với than củi, xếp theo từng lớp. Dụng cụ để thổi gió mỗi nơi một khác, nhưng nói chung gió được đưa vào lò theo những ống bằng đất sét. Cũng có nơi người xưa không thổi gió vào, mà cứ để cho nó cháy tự nhiên, chầm chậm, dần dần. Kỹ thuật luyện ở buổi ban đầu rất thô sơ và dựa trên nguyên tắc là khử cho hết ôxy ở trong quặng sắt để làm cho sắt hoàn nguyên. Lò nhỏ, hơi ít, nhiệt độ không cao, kỹ thuật đơn giản cho nên sắt được hoàn nguyên chỉ là sắt ở trạng thái bột xốp, lỗ trỗ như tổ ong, lẫn lộn với cứt sắt và các loại tạp chất khác đọng lại dưới đáy lò. Tuy vậy, người ta vẫn gọi chúng là những cục sắt tinh chất. Sau mỗi lần luyện sắt, phải đợi cho lò nguội hẳn mới phá lò lấy sắt ra. Những cục sắt tinh này cần phải được nung đỏ, đập rèn nhiều lần để thành ra những thỏi sắt chín có hình dáng nhất định. Sắt chín mềm hơn sắt sống nhưng có tính co giãn lớn hơn nên rất dễ rèn. Đó là nguyên liệu cơ bản để chế tạo công cụ, vũ khí. Những người thợ rèn sẽ tiếp tục gia công thêm công đoạn tôi thép như sau: nông cụ hay vũ khí được nung nóng lên nhiệt độ cao (khoảng trên 730 độ C – 800 độ C với đa số thép làm dao), ở nhiệt độ cao này, sẽ có biến đổi về cấu trúc bên trong khối thép, toàn bộ khối vật liệu được nung nóng sẽ có cấu trúc đồng nhất và mềm dẻo mang tên là Austenite (gọi theo tên nhà khoa học Austen), người thợ rèn sẽ giữ khối thép trong lò than một lúc đủ lâu để toàn bộ khối thép chuyển biến hết về cấu trúc bên trong, khi nhúng cả khối thép đang nóng đỏ như vậy vào nước lạnh, do nhiệt độ giảm đột ngột, bên trong khối thép sẽ chuyển sang cấu trúc có tên Martensite, là cấu trúc gồm các hình kim, có độ cứng rất cao; vì lý do đó, dao thép sau khi “nung đỏ – bỏ nướcsẽ có độ cứng cao hơn rất nhiều so với bình thường và dĩ nhiên là sắc bén hơn. Đến đây, quá trình luyện sắt xem như kết thúc. Kỹ thuật luyện sắt như thế thật là thô sơ, nhưng lúc đó đã là một thành tựu kiệt xuất trên con đường phát minh sáng tạo của nhân loại. Như vậy, biết sử dụng sắt để phục vụ cho mình, loài người có thể tạo ra những công cụ, vũ khí có công hiệu lớn. Engels từng cho rằng: “Cung tên đối với thời mông muội, cũng giống như thanh kiếm sắt đối với thời đại dã man và khẩu súng đối với thời đại văn minh”, ông cũng từng gọi thời đại cây kiếm sắt là “thời đại anh hùng” của các dân tộc văn minh. Việc thần thánh hóa sắt, qua truyện Thánh Gióng với việc ngài sai dân gian đúc ngựa sắt, roi sắt không phải là một hiện tượng cá biệt chỉ xảy ra ở tộc người Việt. Truyền thuyết Thánh Gióng cùng nhóm truyện kể có môtíp thanh gươm thần ở các dân tộc Tây Nguyên đã bọc lộ rõ khát vọng của người đương thời đối với một loại nguyên liệu mới và nói lên ước mơ của nhân dân các dân tộc thời ấy với việc sử dụng sắt. Nó phản ánh những nhận thức của người đương thời đối với những ưu điểm của sắt.    

4. Trong các nghề chế luyện kim loại, nghề thợ rèn giàu ý nghĩa hơn cả, vừa do tầm quan trọng của nghề này, vừa do những biểu tượng đối nghịch mà nó chứa đựng. Nghề rèn có khía cạnh sáng tạo vũ trụ và sáng tạo nói chung; khía cạnh ma quỷ, hiểm độc và cuối cùng khía cạnh khai tâm thụ pháp… Trong một số nền văn minh, người thợ rèn đóng vai trò quan trọng: là người nắm được những bí mật của trời, họ có thể gọi được mưa, chữa được bệnh[ii]. Và trong nhiều trường hợp, có thể ghi nhận rằng quyền năng của thợ rèn đến từ công cụ của anh ta, đến từ những tư tưởng ẩn trong ống thổi lò rèn, đến từ lửa, đến từ sức mạnh linh thiêng của sắt, đến từ những đồ trang sức mà anh ta rèn cho các thầy cúng; hoặc từ nguồn gốc linh thiêng của kỹ thuật rèn, từ sự mới mẻ của nghể này vì kỹ thuật bí ẩn của anh ta là do truyền từ đời này sang đời khác, hay đơn giản hơn là sự thụ đắc những kỹ thuật này. Còn với Dambo Jacques Dournes, ông cho rằng: Trong các kỹ thuật, có một ngành cao quý hơn cả, dành riêng cho một lớp người ưu tú được tách riêng ra, đó là người thợ rèn. Lửa và sắt là các nguyên tố mà sức mạnh của chúng làm nên sự cao quý. Trong hầu hết các nền văn minh, người thợ rèn là người anh hùng khai sáng, nếu anh ta không phải là người sáng tạo ra mọi vật và toàn thể. Các truyền thuyết Tây Nguyên liên quan đến nguồn gốc của lửa và của lò rèn rất nhiều và giàu ý nghĩa… Truyền thuyết về sắt, trong nguyên gốc của nó, gắn chặt với các truyền thuyết về những người thợ rèn đầu tiên[iii]. Xưa kia, trong huyền thoại Tây Nguyên, từ rèn đồng nghĩa với từ sáng tạo. Các vị á thần buổi khởi nguyên, những người tổ chức nên thế giới, đã rèn ra mọi thứ: “Bung cầm một chiếc búa nhỏ (bằng đá) và rèn ra quả đất; ông cầm một chiếc búa ngắn và rèn ra trời[iv]. Trong xã hội truyền thống của tộc người Xơ Đăng, ở nhóm Xơ Đăng Tơ-đrăh hiện đang sinh sống tại các xã Đăk Ui, Ngok Réo, Đăk Kôi, Đăk Tơ Lung, Ngok Wang trên địa bàn các huyện Kon Rẫy và Đăk Hà tỉnh Kon Tum - nơi có nhiều quặng sắt lộ thiên với hàm lượng sắt rất cao, những người thợ rèn đã chế tạo ra một loại lò rèn bễ hơi bằng da rất độc đáo, sử dụng rất có hiệu quả, có thể rèn nung nóng từ quặng ra thép, đánh các công cụ lao động và dụng cụ phục vụ gia đình. Để nung được quặng và rèn sản phẩm, người Tơ Đrăh dựng lò rèn có bễ hơi được làm từ da con mang (người dân gọi là Tơ Niam Pi Pu), ống bễ bằng gỗ (tê tê), ống dẫn hơi bằng nứa (rơ vang), ống dẫn hơi chịu lửa dẫn ra lò (rơ chông) và lò nung (kloh tơ niam). Để đun được quặng sắt, người Tơ Đrăh phải lên rừng tìm cây loăng rlinh để làm than. Theo cụ A Xe ở làng Wang Tố, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, chỉ loại than từ cây này, lửa lò rèn Tơ Niam Pi Pu mới đủ độ nóng để nung chảy quặng sắt tự nhiên. Khi nung quặng, tài năng của người thợ rèn chính (bơ ngai tha) được thể hiện chứng minh qua việc kết hợp hai loại quặng cát và quặng cục làm ra sắt thỏi chất lượng cao, chắc bền và không bị mẻ, gãy khi sử dụng. Khi đã có những thỏi sắt ưng ý, theo truyền thống thợ rèn nhóm Tơ Đrăh không được phép sử dụng than loăng rlinh nữa mà chỉ sử dụng những loại cây khác để đốt cho nhiệt độ thấp hơn.

Quá trình rèn sắt thành gươm (thần) là một chuỗi nối tiếp: 

đá/quặng sắt → thanh sắt → lò rèn → thanh gươm → hiến sinh→ quyền năng ma thuật

Có thể nói thanh gươm là đỉnh cao của quá trình rèn sắt, thể hiện sự tài hoa, tinh tế của người thợ, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Việc xuất hiện thanh gươm là một bước tiến vĩ đại và tất yếu trong lịch sử phát triển của loài người. Gươm hay kiếm[v] (tiếng Khơ-Me gọi là khan, tiếng Gia Rai gọi là ddau) là một loại vũ khí được cấu tạo từ một thanh kim loại được mài bén dùng để đâm, chém trong việc tác chiến. Gươm có cán để cầm, có vỏ để bao bọc, có quai để đeo. Gươm dài hơn dao, cũng mỏng hơn và dẹp hơn dao. Gươm được sử dụng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh thời tiền sử cho đến tận thời kỳ cận hiện đại ở Việt Nam. Ngày nay, việc sử dụng gươm không còn phổ biến như xưa nhưng nó vẫn là một biểu tượng của quyền lực, sự uy nghiêm và linh thiêng.   

Rèn gươm kiếm không chỉ đơn thuần là một công việc, việc rèn phải làm sao cho thân, tâm hợp nhất làm một. Người thợ phải có tâm với nghề, không chỉ rèn kiếm gươm tốt mà phải rèn cho đẹp, như vậy mới đúng nghĩa của thanh kiếm, thanh gươm. Rèn kiếm không như rèn các dụng cụ lao động thông thường, nó không được cẩu thả, phải đảm bảo đủ độ sắc và độ đẹp. Lưỡi kiếm là phần quan trọng nhất của thanh kiếm, tượng trưng cho sự hùng dũng, cứng cỏi, khí tiết, quý phái nên nó phải được chăm chút nhiều nhất. Quy trình chọn vật liệu, quy trình rèn là không thể chia sẻ cho bất kỳ ai cả, đó là thước đo sự khéo léo, tài hoa, danh vọng của người thợ rèn. Như vậy, mặc nhiên rằng thép (vật liệu) có tốt thì mới có thể rèn được gươm tốt. Những “vật liệu” trong các truyền thuyết về gươm thần đều là tốt cả, nó có nguồn gốc thần kỳ, là vật mà “thần” đã ban cho con người để rèn kiếm. Trong truyện Lưỡi gươm chàng Y Thí, thỏi sắt do cô gái uống nước gốc cây sinh ra một lượt với Y Thí, Y Thí đem thỏi sắt ấy rèn gươm giết vua Lào, vua Chàm. Trong truyện Đăm Thí, Đăm Thí giậm chân lên tảng đá trắng biến thành hồ nơi tận đáy có thỏi thép quý, chàng đem luyện thành gươm quý rồi giết sạch số Mơtao gian ác. Hay trong truyện Gươm ông Tú cũng có chi tiết tương tự: Cụ bà Hbia Dat đi làm rẫy khát nước uống nước hốc cây sinh con trai chóng lớn có sức khỏe lạ thường. Trên núi có trận động đất, đất sập tạo hồ nước sâu, chàng trai lặn xuống nhặt thanh sắt nhờ thợ rèn rèn hết cả núi than mới được gươm tốt, thợ mộc làm bao gươm và cán gươm. Motif dân tộc học gươm đâm vào bụng cô gái, phụ nữ mang thai hay máu một người nhỏ xuống thanh gươm rồi người đó chết bị hút hồn vào thanh gươm là một chi tiết mang tính chất thần kỳ của nghi lễ hiến sinh (linh thiêng hóa / thần thánh hóa sắt quí) biến dạng đã đi vào type truyện thần bí này. Có gươm thiêng được trời ban tặng rồi người anh hùng, chàng trai khỏe sẽ mang gươm đi diệt sạch giặc khắp nơi cứu nguy cho cộng đồng dân làng … Ở một khía cạnh khác, có thể ghi nhận một kỳ công thật vất vả và kiên nhẫn của người thợ rèn đúc nên một thanh bảo kiếm, đó là việc anh ta phải nấu loãng kim loại và đổ vào khuôn, chờ nó nguội lại thành thanh thép; thanh thép này sẽ được nung nóng đỏ cho mềm ra và được đập bằng búa cho mỏng xuống, rồi gấp lại thành hai và đập cho mỏng xuống; xong rồi lại được nung cháy đỏ, đập mỏng ra, gấp lại làm đôi, đập mỏng; rổi lại được nung đỏ, đập mỏng, gấp làm đôi; cứ như thế khoảng 30 lần; lúc này thanh kiếm không phải chỉ là một khối thép mà là 2-lũy-thừa-30 lớp thép mỏng vô cùng.

 

Tóm lại, thanh gươm là biểu tượng thể hiện sự kỳ công của con người, là đỉnh điểm của sự sáng tạo trong thời đại đồ sắt. Nó thể hiện một nấc thang / giai đoạn của sự văn minh trong lịch sử phát triển của loài người, giúp con người thoát khỏi thời sơ sử còn mông muội, thơ ngây, là bằng chứng của sự phân hóa và tiến bộ xã hội. Và nếu ta bóc tách được những màn hư cấu thần kỳ bao trùm nhiều câu chuyện truyền thuyết về thanh gươm thần ta sẽ có được phần nội dung lịch sử chân thật của các thể chế xã hội tiền giai cấp, tiền quốc gia của các tộc người man dã sơ khai.



[i] Dambo (Jacques Dournes) (2003), Miền đất huyền ảo, mục “Lửa, sắt và người thợ rèn”, Nxb. Hội Nhà văn, H, tr. 127-128.

[ii] Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Phạm Vĩnh Cư… dịch, Nxb. Đà Nẵng, tr. 903.

[iii] Dambo (Jacques Dournes) (2003), sđd, tr. 124-125.

[iv] Dambo (Jacques Dournes) (2003), sđd, tr. 130-131.

[v] Quyền lực của thanh kiếm có hai mặt: nó tiêu hủy, nhưng có thể tiêu hủy cả sự bất công, sự độc ác, sự ngu dốt và vì vậy, có tác dụng tích cực; và nó xây dựng, nó kiến lập và duy trì hòa bình và công lý. Tất cả các biểu tượng đó đều thích hợp với thanh kiếm khi đó là biểu hiện của vua chúa. (Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), sđd, tr. 489).

Thành viên trực tuyến

Đang có 219 khách và không thành viên đang online

Thông tin truy cập

35788267
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
2675
5393
35788267

IP của bạn: 54.197.159.173
27-03-2017 09:40

Sách đang bán tại Khoa Văn học

Liên hệ: cô Thùy Nương, SĐT: 0908505486

Giá: 350.000 đ(1 bộ - 2 tập)

Giá: 270.000đ

Giá: 270.000đ

Giá: 240.000đ

Giá: 160.000đ

Giá: 180.000đ

Giá: 90.000đ

Giá: 98.000đ

Giá: 85.000đ

Giá: 190.000đ

Giá:140.000đ

Giá: 50.000đ

Giá: 130.000đ

Giá: 98.000đ

Giá: 120.000đ

Không còn hàng