Xuân nhật tức sự là một bài thơ hay, được các thi tuyển xưa chép vào phần thơ của Huyền Quang (1), do đó được nhiều người dẫn và bình luận (2). Có điều trong thơ văn chữ Hán của nước ta, đặc biệt trong thơ văn chữ Hán của các nhà sư Việt Nam có lẫn rất nhiều bài thơ của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong số 40 bài thơ do Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến Văn Tiểu Lục và nói là của Thiền sư Hương Hải, thì có đến 32 bài là của tác giả Trung Quốc đời Tống (3) mà ta có thể tìm lại trong các sách Trung Quốc hiện còn. Trường hợp Chân Nguyên cũng thế (4). Thậm chí những tác giả sống gần thời với ta như Viên Thành (1879-1928) cũng có những bài thơ chữ Hán của Trung Quốc chép trong thi tập của mình, mà những người sau do thiếu cẩn thận đã cho là của chính Viên Thành (5). Vậy Xuân nhật tức sự có ở trong trường hợp nhầm lẫn, gán ghép đó không?

Nguyễn Kim Sơn[1]

Từ then chốt: Phật tính; tam giáo; bất nhị; hòa quang đồng trần; lạc đạo, nhập thế. ( 佛性; 三 教; 不二; 和光 同 尘; 乐道; 入 世)

Tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông là tư tưởng Thiền nhập thế. Đây cũng là đặc điểm chung của tư tưởng các vị tiền bối của ông  như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung.  Điều này đã được học giới cơ bản thống nhất công nhận. Tinh thần nhập thế đó thể hiện rõ ràng trong cả hành trạng, ứng xử, các lời thuyết giảng, thảo luận và trong thơ văn của Trần Nhân Tông. Điều này cũng  từng được nhiều người nói tới và đề cập trong các công trình nghiên cứu. Người  viết bài này tán thành với các nhận định về khuynh hướng nhập thế trong tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là, hầu như chưa có công trình nào tập trung lý giải một cách tường tận về nguồn gốc tư tưởng, những lý do thực tiễn, những căn nguyên hay nói theo cách của Phật học là những duyên khởi của tinh thần nhập thế  trong tư tưởng Trần Nhân Tông. Cũng có một vài ý kiến động chạm tới vấn đề này, thì  lại quá nhấn mạnh tới yếu tố tinh thần thời đại, khí thế dân tộc và cho đó là căn nguyên của tinh thần nhập thế. Vấn đề hầu còn bỏ ngỏ đó là đối tượng và hứng thú cho người viết thực hiện sự thảo luận nhỏ này.

Tạp chí Xưa - Nay số 208 tháng 3 năm 2004 có đăng bài Về những bài thơ của Trần Thiện Chánh của Quang Hùng. Trong bài viết, tác giả có giới thiệu nguyên văn ba bài thơ của Tuần phủ Ninh Bình Trần Thiện Chánh gửi cho ba bà vợ: một ở Gia Định, một ở Nha Trang và một ở Huế. Theo tác giả, bài thơ Gởi bà ở Nha Trang : “Vì không có bài nào khác để đối chiếu, lại không có cả chữ Hán nguyên bản để dò lại cách phát âm và tự dạng nên đành tạm chấp nhận… Cho nên, chúng tôi đành phải “đoán mò” để dịch nghĩa bài thơ trên (anh Vũ Đức Sao Biển, đoán và dịch nghĩa)…”. Tôi đã đọc khá kỹ bài Gởi bà ở Nha Trang của Trần Thiện Chánh mà Vũ Đức Sao Biển đã đoán định và dịch nghĩa, thì quả thật thấy nhiều chỗ bất ổn, không thông nghĩa. Tôi đang có ý định thử đính chính lại những chữ bất ổn trong bài thơ trên, với mong muốn giúp mình hiểu đúng một tác phẩm của tiền nhân, nhưng rồi công việc bề bộn, chưa thực hiện được. Do vậy, khi được đọc bài Về bài thơ gởi vợ thứ ba của Trần Thiện Chánh của tác giả Cao Tự Thanh đăng trên Tạp chí Xưa - Nay số 210, tháng 4-2004, trong đó có “Giới thiệu bản phục hồi bước đầu và bản dịch bài thơ nói trên”, tôi thật sự thích thú.

Điển cố đóng vai trò khá quan trọng trong văn học Việt Nam và Trung Hoa thời kỳ trung đại. Dùng điển cố, người sáng tác xưa không chỉ vận dụng nó như một phương tiện diễn đạt mà còn thể hiện vốn kiến thức dồi dào về lịch sử, văn học, xã hội, văn hóa, kinh nghiệm sống của người xưa. Tuy không còn đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tác như xưa, nhưng nhìn lại nền văn học quá khứ, điển cố thực sự chiếm lĩnh một vai trò và thể hiện một chức năng mạnh mẽ trong sáng tác. Có giai đoạn, điển cố là phương tiện hàng đầu và hữu hiệu cho người cầm viết, từ tác giả của những bài thơ, bài văn, đến nhà ngoại giao, chính khách, thậm chí kẻ đi học cũng tự trang bị cho mình vốn kiến thức trong mười năm đèn sách và thể hiện điển cố trong bài thi.

 

Ai là tác giả mở đầu cho văn học Hán Nôm Gia Định? Bài “Hiếu trung hoài cô vịnh” của Võ Trường Toản có gì đặc biệt? Văn chương Thiên chúa giáo trong văn chương Hán Nôm Gia Định có gì lạ? “Tự hình” Hán Nôm là gì? Vì sao Lục Vân Tiên được nhân dân Nam Bộ ưa thích? Đó là những câu hỏi mà những người quan tâm đến văn học Hán Nôm Gia Định đặt ra và có thể tìm thấy lời giải đáp trong Văn học Hán Nôm ở Gia Định – Sài Gòn của hai tác giả Nguyễn Khuê và Cao Tự Thanh (NXB Văn hóa Văn nghệ, TP.HCM, 2011). Tập sách nằm trong bộ sách 100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài Gòn – TP.Hồ Chí Minh (NXB Văn hóa Văn nghệ, Cao Tự Thanh, Hoàng Mai chủ biên). Ông Nguyễn Khuê là giáo sư Hán Nôm của Đại học Văn Khoa Sài Gòn, nay là Trường ĐH KHXH& NV – ĐHQG TP.HCM, đã nghỉ hưu. Ông Cao Tự Thanh là nhà nghiên cứu tự do. Hai ông là những nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn học Hán Nôm Nam Bộ - một lĩnh vực rất cần thiết, rất thú vị nhưng cũng rất hiếm chuyên gia. Đọc Văn học Hán Nôm ở Gia Định – Sài Gòn người đọc cảm nhận đằng sau những câu hỏi đáp có vẻ rất dễ đọc kia là cả một quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm cẩn từ những tư liệu gốc. Có thể nói tập sách như một cẩm nang hay một “tiểu giáo trình” về văn học cổ điển Nam Bộ, có giá trị không chỉ cho độc giả rộng rãi mà còn cho cả những nhà nghiên cứu.

 

 

 

 

Tổng bình:

近日劉勰《文心》,鍾嶸《詩評》,異議蜂起,高談不息。

(盧照鄰《南陽公集序》)

 

Gần đây, Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Thi bình (tức Thi phẩm) của Chung Vinh ra đời, nghị bình nổi lên, tranh luận không dứt.

(Lư Chiếu Lân, Nam Dương công tập tự)

 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dương là tác giả, dịch giả của hàng chục công trình có giá trị. Thập niên 60-70 người ta đã biết đến công trình dịch thuật nổi tiếng của ông: Đại cương triết học sử Trung Quốc (tác giả: Phùng Hữu Lan, Ban Tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh xb.1968), Khuất Nguyên, cuộc đời và tác phẩm (Trường Đại học Văn khoa SG xb, 1971)…, nhưng công trình có giá trị hơn cả là Thử giải quyết vấn đề dịch giả chinh phụ ngâm (NXB. Đại học Huế 1964). Sau 45 năm theo đuổi vấn đề này, lại nhận được nhiều tài liệu quý do GS.Hoàng Xuân Hãn, học giả Nguyễn Văn Xuân gửi tặng, TS.Nguyễn Văn Dương trở lại vấn đề này. Ông đã tiến hành bổ sung, sửa chữa, cập nhật hoá thông tin, cho tái bản công trình trên (NXB.Văn hoá thông tin, 2008). Trong sách có in phụ lục hầu hết các bản nôm quan trọng của Chinh phụ ngâm: bản Đoàn Thị Điểm, bản Nguyễn Khản, bản Phan Huy Ích…Qua công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc này, vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm là Phan Huy Ích, theo tôi, đã có lời giải đáp thoả đáng.

Lời dẫn

Đại Nam Quốc sử diễn ca là một trong các bộ sử ca của lịch sử sử học Việt Nam mà cũng là của văn học sử cổ cận đại Việt Nam. Bộ sử ca này nguyên là một tác phẩm văn chương được trước tác và khắc in vào những năm giữa thế kỉ thứ XIX (1860, 1870, 1874) ở trong nước và nước ngoài (Trung Quốc).

1. Từ mười năm nay chúng ta đã có được văn bản Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446) với đầy đủ nguyên bản chữ Hán gồm 31 thiên truyện và phần phiên âm, dịch nghĩa, chú giải(1). Nói riêng mối quan hệ văn - sử ở tác phẩm Nam Ông mộng lục vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn thảo: Tương quan giữa Nam Ông mộng lục với bộ sử chính thống Đại Việt sử ký toàn thư(2) - Tương quan giữa Nam Ông mộng lục với các nguồn thư tịch khác dưới thời trung đại - Cấu trúc văn bản, nội dung và hình thức nghệ thuật của mối quan hệ văn/ sử trong Nam Ông mộng lục

1- Vài dòng tiểu sử

Giáo Sư Bửu Cầm (1920- ): Là một học giả, giáo sư Đại học Văn khoa, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1920 tại Huế, tằng tôn của thi hào Tuy Lí Vương.

Thuở nhỏ ông sống và học tại Huế, xuất thân là viên chức bộ Lễ ở Huế từ năm 1943-1945. Từ năm 1950 là giáo sư trường Quốc học Huế, năm 1954 làm trưởng phòng Tu thư Viện Văn hóa Trung Việt.

Đào Tấn (1845-1907) là tác giả có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam thời Trung đại. Sáng tác của ông, theo các tư liệu hiện còn, có thể phân làm ba mảng, gồm: tuồng, thơ từ. Dễ nhận thấy với Đào Tấn, tuồng là thể loại được dụng công nhiều nhất và cũng chính thể loại này đã khiến cho tên tuổi của ông trở thành bất hủ. Chính vì vậy, nhắc đến Đào Tấn, người ta sẽ nghĩ ngay đến thể loại tuồng. Tuy nhiên, theo các tư liệu đã công bố cho đến thời điểm này, Đào Tấn không chỉ để lại các tác phẩm tuồng, thơ, mà còn để lại một từ tập mang tên là Mộng Mai từ lục (từ đây viết tắt là MMTL), gồm 60 bài từ, trong đó có không ít bài đạt đến trình độ nghệ thuật trác tuyệt.

          Công dư tiệp ký (CDTK) của Vũ Phương Đề có vị trí như là tác phẩm “nối mạch” cho dòng văn xuôi tự sự Việt Nam sau hơn hai thế kỷ dường như bị quên lãng (Hiện nay ta chưa biết đích xác Nguyễn Dữ hoàn thành tác phẩm Truyền kỳ mạn lục vào thời điểm nào. Nhưng hiển nhiên nó phải ra đời trước năm 1547, khi Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tác phẩm. Nếu tính từ năm 1547 đến năm 1755, khi Vũ Phương Đề đề tựa cho tác phẩm CDTK của mình thì cách nhau đến 208 năm. Trong khoảng thời gian này hiện ta chỉ thấy một tác phẩm là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm –ra đời vào đầu thế kỷ XVIII. Tác phẩm này không những mở đầu mà còn có tác dụng thúc đẩy dòng văn học này phát triển, nở rộ, đạt đến những thành tựu rực rỡ trong giai đoạn cuối của văn học trung đại Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, CDTK đã được dư luận chú ý, độc giả đón nhận. Và kể từ đó nó đã được người sau tục biên, tục bổ, bổ di làm cho tác phẩm ngày càng dày lên và cũng phức tạp thêm. Hơn thế nữa, người ta còn trích lục, sao chép nó thành những tập sách khác với những tên mới.

 

          Cùng với những tác phẩm như Việt điện u linh (VĐUL), Lĩnh nam chích quái (LNCQ),…CDTK đã góp phần đặt nền móng cho văn xuôi tự sự Việt Nam ở các giai đoạn tiếp sau. Điểm đặc sắc riêng của CDTK là nó không những mở ra thể loại tiệp ký (ghi nhanh) mà còn góp vào dòng văn học này một thể tài mới mẻ: loại truyện nhân vật được kể dưới màu sắc truyền thuyết, giai thoại dân gian lý thú và sinh động.

 

          Để góp phần ghi nhận công lao của tác giả CDTK, trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu thêm đôi điều về thân thế, sự nghiệp của Vũ Phương Đề với một số thông tin mới, đồng thời điểm qua những giá trị cốt lõi của tác phẩm này.

 

          1.Về tiểu sử của Vũ Phương Đề, từ trước đến nay chúng ta chỉ biết sơ lược qua một vài tài liệu đăng khoa lục, lịch sử và một số công trình nghiên cứu có đề cập đến tác phẩm CDTK.

 

          Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam thì Vũ Phương Đề đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời Lê Ý Tông. Làm quan đến chức Đông các học sĩ (1).

 

          Lược truyện các tác gia Việt Nam giớit hiệu: “Vũ Phương Đề, từ Thuần Phủ, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An (Bình Giang, tỉnh Hải Dương cũ, nay thuộc tỉnh Hải Hưng) là con của Vũ Phương Nhạc. Ông sinh năm 1697 và mất năm nào không rõ.

 

          Những thông tin như trên, chúng ta cũng thấy đề ngay sau lời tựa của tác phẩm CDTK kèm với chức quan (có thể là cao nhất) trên bước đường hoạn lộ của ông: “Tứ Bính Thìn khoa Tiến sĩ, Đông các hiệu thư, thự Sơn Nam xứ Tham chính, Vũ Thuần Phủ tự”. (Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), Đông các hiệu thư, kiêm Tham chính xứ Sơn Nam, Vũ Thuần Phủ viết tựa).

 

          Gần đây, Nguyễn Đăng Na trong tạp chí Hán Nôm, số 1-1989 (2) và trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1 (3) cũng đã cung cấp thêm một số chi tiết mới về Vũ Phương Đề. Nhưng nhìn chung tiểu sử của ông được giới thiệu hãy còn sơ lược. May thay, hiện tại chúng ta hảy còn lưu giữ được mấy bộ gia phả viết khá công phu về họ Vũ ở Đường An. Và trong cuốn Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích do Vũ Phương Lan, Vũ Thế Nho biên tập, chúng ta có thêm được 3 trang ghi về thân thế, sự nghiệp tác giả CDTK (4).

 

          Với những dòng ghi chép về Vũ Phương Đề trong cuốn gia phả này, và tham khảo, đối chiếu thêm một số nguồn tài liệu khác, chúng tôi sơ bộ dựng lại tiểu sử Vũ Phương Đề, như sau:

 

          Vũ Phương Đề, tự là Thuần Phủ (theo gia phả, ông còn có một tên tự nữa là Trạch Hiên). Ông sinh ra trong một dòng họ có truyền thống hiếu học và có tiếng trên đường khoa hoạn của làng Mộ Trạch, Đường An – mảnh đất tương truyền là “Tiến sĩ sào” (tổ Tiến sĩ). Ông nội của Vũ Phương Điền là Vũ Quốc Trân, cũng là người xuất thân khoa hoạn. Cha ông là Vũ Phương Nhạc (1673-1745), từng giữ chức Đông các hiệu thư dưới thời Lê Ý Tông. Mẹ ông là bà Vũ Thị Đại, con gái của Vũ Đăng Hiển (người đã được Vũ Phương Đề viết về thân thế sự nghiệp trong truyện Mộ Trạch luỹ trúng ở CDTK). Bà Đại, là vợ thứ hai của ông Vũ Phương Nhạc.

 

          Theo gia phả thì Vũ Phương Đề sinh vào giờ Thìn, ngày mồng 9, tháng 10, năm Mậu Dần –1698 (các tài liệu giới thiệu về Vũ Phương Đề từ trước đến nay thường ghi ông sinh năm 1697). Riêng các nhà khoa bảng Việt Nam ghi là ông sinh năm 1698. Có lẽ các nhà nghiên cứu căn cứ vào số tuổi năm của Vũ Phương Đề đỗ Đồng tiến sĩ để truy ngược năm sinh của ông, nhưng không lưu ý rằng người xưa chỉ tính tuổi âm, nghĩa là khi sinh ra đã tính 1tuổi. Chẳng hạn, khi ghi ông đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), năm 39 tuổi thì thực tế ông mới 38 tuổi. Có lẽ vì thế mà có sự chênh lệch này. Ở đây chung tôi xin căn cứ theo gia phả). Năm 16 tuổi, ông thi Hương trúng Tam trường khoa Giáp Ngọ (1714), Năm Canh Tý (1720), ông 22 tuổi, lĩnh Hương tiến. Năm sau thi Hội (khoa Bảo Thái 2), ông trúng Tam trường, và sau đó được giữ chức Quốc tử giám Lễ kinh học chính giám tập. Năm At Tỵ (1725), Vũ Phương Đề nhận chức Tri huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Khoa Bính Thìn (1736), niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (Lê Ý Tông) ông đỗ Đồng tiến sĩ. Sau đó nhậm chức Lại khoa cấp sự, Kỳ thi Hương khoa Mậu Ngọ (1738), Vũ Phương Đề được cử làm Đề điệu trường Nghệ An.

 

          Khoảng thời gian từ năm 1741-1744 trong gia phả không thấy ghi Vũ Phương Đề làm gì, nhưng theo Việt sử thông giám cương mục thì tháng 3, năm Tân Dậu (1741), ông được cử làm Hiệp đồng đạo Đông Triều Hải Dương. Việt sử thông giám cương mục ghi như sau: “Vì Hải Dương đã được bình định, nên chia làm bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức tuần phủ để chiếut heo địa phận vỗ về dân chúng. Bổ dụng Nhữ Đình Toản, Vũ Khâm Lân, Phạm Đình Trọng và Vũ Phương Đề đều giữ chức Hiệp đồng (5). Và vào tháng 5, năm Giáp Tý (1744), Hoàng Ngũ Phúc bao vây căn cứ Đồ Sơn thì Nguyễn Hữu Cầu phá vây tiến lên Kinh Bắc. “Trấn thủ Trần Đình Cẩm tiến quân từ Thiết Sơn đến Trai Thị, bị giặc đánh bại, tất cả quân lính đều tan vỡ. Đình Cẩm lui giữ Thị Cầu, giặc nhân thế thắng đuổi đánh, Đình Cẩm lại bị thua, giặc đuổi thao, bèn chiếm được trấn thành Kinh Bắc, tung lửa đốt phá doanh trại. Đình Cẩm cùng đốc đồng Vũ Phương Đề bỏ ấn tín chạy. Nửa đêm tin báo đến Kinh, trong Kinh thành nhốn nháo kinh sợ” (6). Những dòng ghi chép trên cho chúng ta biết đại lược là: từ tháng 3 năm 1741, Vũ Phương Đề giữ chức Hiệp Đồng đạo Đông Triều bà khoảng những năm 1744, ông làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc. Theo Nguyễn Đăng Na thì sau khi để mất trấn thành Kinh Bắc, Vũ Phương Đề bị cách chức. Không biết ông bị cách chức bao lâu, nhưng trong gia phả lại ghi:

 

          Năm Đinh Mão (1747), Vũ Phương Đề được thăng Đông các hiệut hư. Năm Canh Ngọ (1750), lại được thăng chức Tham chính xứ Sơn Nam và tại chức 7 năm. Năm Kỷ Mão (1759), ông lại được thăng Đông các học sĩ, kiêm Kinh Bắc Tham chính.

 

          Vũ Phương Đề mất ngày 26 tháng 4 năm Tân Tụ (1761) tại nhiệm sở, thọ 63 tuổi (Các tài liệu từ trước đến nay đều để trống năm mất của Vũ Phương Đề. Chúng tôi cho đây là một thông tin mới đáng lưu ý). Sau khi mất ông được truy tặng Hàn Lâm viện thị độc, gia tặng Đông các đại học sĩ, Xuân Trạch hầu.

 

          Nguyễn Đăng Na khi giới thiệu về CDTK có đặt vấn đề rằng: “Có lẽ CDTK được sáng tác trong thời gian mất chức này (tức năm 1744). Về sau, số phận của Vũ Phương Đề ra sao, không rõ” (7). Chúng tôi nghĩ, những thông tin trên của gia phả có thể bổ sung thêm khoảng thời gian còn “không rõ” trong cuộc đời của tác giả CDKT. Chưa chắc những gì ghi trong cuốn gia phả mà chúng tôi khai thác là chính xác, nhưng dù sao đây cũng là một cuốn gia phả được biên soạn khá nghiêm túc về một dòng họ đáng gọi là “cự tộc” trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam. Gia phả ghi rằng, năm 1747 Vũ Phương Đề được thăng Đông các hiệu thư, và năm 1750 ông lại được thăng Sơn Nam Tham chính và tại chức 7 năm, có thể hoàn toàn xác thực. Bởi như chúng ta đều biết, khi đề tựa cho CDTK (1755), họ Vũ có ghi rõ hai chức vụ mà mình đang giữ này. Hơn nữa, nếu đọc kỹ CDTK ta vẫn thấy có một vài chi tiết cho thấy khoảng thời gian nói trên Vũ Phương Đề vẫn đang tại chức. Chẳng hạn, ờ cuối truyện Bộ đầu linh từ ký, họ Vũ viết rằng:

 

          “Năm Giáp Tuất (1754), ta phụng mệnh đến trông coi việc đắp đê ở làng ấy. Đền ở nagy cạnh đê, ta vào thăm thì thấy tượng thần cũng y nguyên…”

 

          Hoặc ở truyện Xà tuyền ký, tác giả cũng để lộ một chi tiết như thế:

 

          “Năm Giáp Tuất (1754), ta phụng mệnh đi đón sứ giả [của Tàu] qua đấy, cũng có vào đền làm lễ. Nhân đó hỏi chuyện người trong ấp, người ta đã thuật lại đầu đuôi sự tích cho nghe, nên ghi chép đại lược ra đây”.

 

          Vậy, chúng ta có thể tin rằng, vào khoảng những năm 1754, 1755 Vũ Phương Đề vẫn đang tại chức, đang viết và sắp hoàn thành sách CDTK.

 

          2. Như ở trên chúng tôi đã nói, CDTK là tác phẩm có vai trò “nối mạch”, “hồi sinh” cho dòng văn xuôi tự sự Việt Nam sau hơn hai thế kỷ cơ hồ bị gián đoạn. Hơn nữa, nó còn là “tác phẩm mở đầu cho lối “ghi nhanh” –tiệp ký trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam” (8). Sau CDTK, dòng văn học này nở rộ chưa từng thấy. Có thể kể ra đây một số tác phẩm tiêu biểu như: Sơn cư tạp thuật, Kiến văn lục, Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tuỳ bút, Mẫn Hiên thuyết loại, Đại Nam kỳ truyện, Thính văn di lục…”. Khảo sát những tác phẩm trên, ngoài thể truyền kỳ truyền thống, ta bắt gặp nhiều khái niệm mới về thể loại, tức là về hình thức thể hiện như ký sự, tiệp ký, ký văn, tuỳ bút, tạp thuật, ngẫu lục, chí… Dĩ nhiên vào thời kỳ ấy các tác giả hẳn là chưa hình dung thật chính xác và cụ thể nội hàm của từng khái niệm, thậm chí có khi dùng hai khái niệm về thể loại nhưng không có gì khác nhau về bút pháp thể hiện. Ví dụ: Phạm Đình Hổ viết Vũ trung tùy bút rồi ông và Nguyễn An lại viết Tang thương ngẫu lục. Cả hai khái niệm tùy bút và ngẫu lục mà hai ông sử dụng chỉ muốn nói một điều là “họ đã dùng ngòi bút sao lục, ghi chép một cách ngẫu nhiên, tuỳ hứng, tự do chứ không có trước một ý đồ nào cả” (9). Có thể nói, xét về phương thức sáng tác, trên đại thể là phát triển theo lối viết của CDTK. Thực chất đây là những giai thoại, những câu chuyện lạ lưu truyền trong dân gian. Những câu chuyện này được các tác giả ghi lại  dưới hình thức “nghe sao ghi vậy” (dĩ nhiên là có sự gia công gọt giũa và cả khảo cứu). Rất nhiều thiên truyện các tác giả đã “thực thà” thể hiện tính chất “sưu tầm truyện dân gian” ấy. Chẳng hạn, ở truyện Xà tuyền ký, Vũ Phương Đề viết: “Năm Giáp Tuất, ta phụng mệnh đi đón sứ giả của Tàu qua đây, cũng có vào đền làm lễ. Nhân đó hỏi chuyện người trong ấp, người ta đã thuật lại đầu đuôi sự tích cho nghe, nên ghi chép đại lược ra đây”. Hoặc cuối truyện Ông Lê Thì Hiến, Nguyễn An cũng chua thêm: “Hai thuyết trên chưa rõ thuyết nào đúng. Vậy cứ chép cả ra đây” (10). Rất có thể đấy là những lời “đưa đẩy” của người viết, nhưng dù sao tính chất ghi chuyện truyền miện, đồn đại trong dân gian vẫn thể hiện rõ ràng qua cách viết của các tác giả. So với loại chí quái, truyền kỳ thì loại ký sự như thế này đã ít hoang đường, hư huyễn, mà đã đậm đà tính “thời sự” hơn, độ xác thực nhiều hơn, và đặc biệt có khi độ xác thực khá cao, chẳng kém những thiên ký sự hiện đại. Điều này ta có thể thấy rõ ở một số thiên trong Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng kinh ký sự và Hoàng Lê nhất thống chí.

 

          Chúng tôi xin quay trở lại với CDTK. Với cách nhìn hôm nay, đứng ở góc độ phương thức sáng tác mà xét, có thể gọi CDTK là một công trình sưu tầm, ghi chép truyện dân gian. Chẳng cần tìm đâu xa xôi, giở trang đầu tiên của CDTK ta đã thấy tác giả bộc bạch “thực chất công việc” của mình: “Phủ này ngày thường rất thích nói, cho nên trong lúc việc công rảnh rỗi bèn đem những điều mình biết sẵn và tìm hiểu thêm các bậc nghe rộng biết nhiều, hễ được chuyện gì cũng cứ sự thực ghi lại rồi xếp thành thiên, nhan đề là “Công dư tiệp ký” (Lời tựa CDTK). Nhưng ở đây tác phẩm không chỉ giới hạn trong khuôn khổ những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích đậm sắc thái hoang đường như LNCQ nữa, mà đã mở rộng ra, ghi chép khá nhiều những giai thoại dân gian, dã sử về các dòng họ và danh nhân lịch sử Việt Nam. Những mẩu truyện danh nhân thường đi kèm với những giai thoại văn học lý thú và sinh động. Đây là một điểm khá mới mẻ của CDTK so với các tác phẩm trước nó như VĐUL, LNCQ. Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà các tập truyện sao lục lại CDTK sau này (như Việt tuấn giai đàm, Lịch đ5I danh thần sự trạng…) phần lớn đều sao chép lại những truyện ký danh nhân đậm đà chất giai thoại ấy. Chúng tôi nghĩ rằng, những thiên truyện sinh động, đậm chất giai thoại này chính là linh hồn của CDTK. Chúng ta hãy đưa những thiên truyện này trở lại môi trường xã hội trước đây, khi mà hướng đi và ước mơ của một đấng “nam nhi chi chí” thường là: học hành –thi cử- đỗ đạt- làm quan, giúp vua “tề gia trị quốc”, có như thế chúng ta mới hiểu rõ hơn vì sao những câu chuyện về ông Cống, ông Nghè ấy đã cuốn hút, làm say sưa bao lớp độc giả. Đây chính là vấn đề môi trường văn hoá và tâm lý thời đại –cái mà chúng ta dễ dàng hụt hẫng nếu không lưu tâm đến khi tìm hiểu hay thưởng thức một tác phẩm của thời quá khứ.

 

          Cũng cần nói thêm, ở VĐUL, LNCQ, khi viết về các vị thần (những câu chuyện mang tính chất thần phả) thì những vị thần đó phải là những bậc “thông minh chính trực… không phải là hạng dâm thần, tà ma quỷ quái…” (Lời tựa VĐUL của Lý Tế Xuyên). Nhưng đến CDTK thì hình như tác giả không còn kén chọn quá “khắt khe” như thế nữa, và đã “cởi mở” hơn khi ghi chép một số câu chuyện về thần thánh. Ơ đây có những vị không những không được liệt vào tự điển, không được “thông minh chính trực” mà còn là “hạng dâm thần, tà ma quỷ quái” nữa. Trong CDTK ta bắt gặp một vị thần chuyên làm khổ dân chúng bằng cách phá đê, gây lụt lội, đến khi nào dân đen dựng cho các miếu thờ tự mới chịu yên (Kim Tông thuỷ thần ký); một vị thần quên cả bố mẹ, coi Ngọc hoàng Thượng đế chỉ “bé bằng hạt tiêu” như Cường Bạo Đại Vương, đã thế, khi chết rồi còn hoạnh hoẹ dân chúng, gây ôn tác dịch  cho súc loại và con người, đòi được một các đền mới chịu nghỉ (Cường Bạo Đại Vương ký). Không những thế, ở đây ta còn bắt gặp những thần thánh linh thiêng, chẳng biết linh thiêng tới đâu mà lại bị một gã lưu manh nhãi nhèp lừa cho thất điên bát đảo (Thanh Hoa linh từ ký). Bên cạnh những thần thánh uy nghiêm, những anh hùng dân tộc kỳ vĩ, ở CDTK ta đã thấy xuất hiện những con người bình thường, thế nhưng họ đã có những hành động yêu nước, mưu trí, dũng cảm phi thường. Đấy là những anh hùng vô danh như cô gái làm nghề xướng ca trong Đào nương ký, là người đàn ông không tên tuổi trong Hạ Bì dị nhân ký… Những trang sữ chính thống đã bỏ quên họ, nhưng “nghìn năm bia miệng” vẫn khắc sâu hình ảnh anh hùng cao đẹp của họ. Vũ Phương Đề là một trong những người đầu tiên đã đưa những con người bình dị nhưng không kém khí phách anh hùng ấy vào trang viết của nhà nho. Như chúng ta đều biết, ngọn bút của nhà nho dùng để “khuyến thiện, trừng ác” chứ nào phải để mua vui, họ Vũ cũng không nằm ngoài tư tưởng đó. Và tất cả chúng ta đều phải đồng ý với nhau rằng “ngay từ đầu, chiều hướng Nho hoá đã chi phối việc ghi chép truyện cổ một cách khó cưỡng, làm cho nhiều câu chuyện vốn rất ly kỳ bị đơn giản hoá, hoặc mỹ hoá, hợp lý hoá, theo kiểu sách vở nhà nho” (11). Tất nhiên, Vũ Phương Đề cũng không thoát khỏi chiều hướng đó. Nhưng nếu thử đối sánh một số câu chuyện mang tính thần phả ở CDTK với VĐUL thì ta thấy họ Vũ viết hồn nhiên và thoải mái hơn họ Lý nhiều. Đọc một số truyện như Đế Thích ký (phụ Trương Ba), Kim Tông thuỷ thần ký, Cường Bạo Đại Vương ký… ta thấy dường như dân gian kể thế nào thì tác giả chép lại như thế ấy. Có lẽ vì thế mà chúng đậm đà phong vị dân gian. Có thể nói, họ Vũ chưa “cải hoá” những “huyền thoại kỳ lạ chưa được giải mã, thành một loạt lý lịch “trong sạch”, “đẹp đẽ” nhưng cũng hết sức tẻ ngắt và nhàm chán” (12) như một số nhà nho khác đã làm. Giữ được màu sắc của huyền thoại, giai thoại dân gian, đấy là nét son đáng chú ý trên những trang viết của CDTK.

 

          Vì vậy, những câu chuyện này không những được người ta hứng thú truyền chép rộng rãi ở thời trung đại mà còn được các nhà sưu tầm, biên soạn truyện cổ diễn dịch lại bằng cả chữ Nôm (Truyện CDTK (AB.481), Vũ Xuân Tiên dịch 36/44 truyện của CDTK tiền biên; Nam Hải dị nhân liệt truyện diễn âm (AB.472), Phan Kế Bính chọn dịch Nôm 5 truyện trong CDTK tiền biên), chữ Quốc ngữ ở thời cận hiện đại. Độc giả ngày nay vẫn cảm thấy hết sức thú vị khi đọc những giai thoại về Lê Nại, Phạm Trấn, Đỗ Uông, Lương Hữu Khánh… được tuyển dịch trong cuốn Giai thoại văn học Việt Nam (13), và cũng chẳng kém phần thích thú khi đọc những truyện như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Sự tích hồ Ba Bể, Giáp Hải, Cường Bạo Đại vương… trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (14).

 

          Vũ Phương Đề sinh ra và lớn lên từ một dòng họ nổi tiếng trải bao đời kế thế đăng khoa trên một vùng đất có truyền thống hiếu học và vang danh trên trường khoa hoạn, một vùng đất xứng đáng với bốn chữ “địa linh nhân kiệt”, vùng đất mà chỉ riêng huyện Đường An, tính đến năm 1851 đã có đến 108 vị đỗ đại khoa. Trong đó, riêng làng Mộ Trạch của Vũ Phương Đề đã có đến 39 vị, và trong 39 vị này đã có 30 người họ Vũ (15). Thật chẳng ngoa tí nào khi người ta gọi đó là “tổ Tiến sĩ” (Tiến sĩ sào). Và CDTK ra đời cũng chính từ niềm tự hào ấy. Vũ Phương Đề sống vào thời buổi phong kiến suy tàn, đất nước một vua hai chúa, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, cửa Khổng sân Trình đầy rẫy những hạng “sinh đồ ba quan”; ánh hào quang của một thời thịnh trị đang lùi dần vào quá vãng. Vì thế, những giai thoại về những ông Nghè, ông Cống ấy không những “ngụ nhiều điều khuyến giới, ngõ hầu để xem trong lúc thư nhàn” (Lời tựa CDTK của Vũ Phương Đề) mà còn thể hiện những đồng vọng của quá khứ, “bởi vì quá khứ luôn phục sinh, quay trở lại và trở thành nội dung thực tại của hiện tại” (16). Đấy không những là niềm tự hào về một dòng tộc vang danh, một vùng đất thần thiêng mà còn là niềm tự hào về “địa linh nhân kiệt” của một đất nước. Từ VĐUL, LNCQ, TKML đến CDTK ta luôn thấy hiện diện niềm tự hào ấy. Có thể nói, đấy là niềm cảm hứng chủ đạo, quán xuyến các tác giả trong mạch chảy của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Niềm tự hào ấy không những bàng bạc trên những trang viết của các tác giả, hơn nữa còn hun đúc ngọn lửa nhiệt tình, lòng tự hào về quê hương đất nước cho những thế hệ độc giả nốit iếp sau. Quả vậy, một trong những người đọc sau đó đã thốt lên rằng: “Nước Việt ta lập quốc, sơn kỳ thuỷ tú, địa linh nhân kiệt, so với các nước trong toàn cầu, thực là anh vĩ đặc biệt, cố nhiên là không chịu nhường ai rồi […]. Cứ xem trong các sách Công dư tiệp ký, Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh nam chích quái, Tang thương ngẫu lục thì có thể thấy rõ” (Lời bạt sách Trùng bổ VĐUL Toàn biên của Tam Thanh Quán đạo nhân). Có lẽ cũng xuất phát từ niềm tự hào đó, mà VĐUL, LNCQ và CDTK đã được các thế hệ tục biên, tục bổ, bổ di… trải dài qua các thời đại. Không những thế, chúng còn tạo ra một loạt những tập sách trích lục, sao chép lại với những tên sách mới. Điều khá lý thú là khi khảo sát những thiên chuyện trong tập sách này chúng ta thấy có một sự “hỗn dung”, “giao thoa” khá đậm đà giữa LNCQ và CDTK. Ở đây chúng tôi muốn nói đến hiện tượng người trích lục đã sao chép lẫn lộn một cách “vô tư” các thiên truyện của LNCQ và CDTK trong cùng một tập sách. Chúng ta có thể thấy điều này qua các sách Việt tuấn giai đàm (A.3006), LNCQ (A.1752), CDTK (HV.74)… Qua đó có thể thấy rằng, CDTK đã bổ sung một mảng đề tài mà LNCQ còn thiếu vắng –đấy là những truyện viết về các “nhân kiệt” chưa được “thần thánh hoá”, hãy còn hết sức phàm trần, gần gũi với các thế hệ độc giả. Ở một mức độ nào đấy có thể gọi đây là những thiên ký sự “người thật, việc thật” sinh động, hấp dẫn, vừa cung cấp thêm tư liệu về đời tư của những người nổi tiếng, vừa góp phần củng cố thêm lòng tự hào “địa linh nhân kiệt” cho dân tộc. Đấy là cái đặc biệt, là thế mạnh, là linh hồn của CDTK.

 

          Có lẽ vì tính hấp dẫn ấy của CDTK mà theo đó Trần Quý Nha đã viết thêm Tục CDTK, và sau đó không ít người đã sao chép lại những truyện trong CDTK ở những quyển sách khác. Riêng về văn bản, hiện tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học, Thư viện Quốc gia Hà Nội còn lưu giữ đến 13 dị bản này của CDTK. Việc khảo sát, nhận định những dị bản này của CDTK là một vấn đề khoa học không kém lý thú.

 

 

 

CHÚ THÍCH:
(1)    Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Hữu Mùi: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, NXB Văn học, Hà Nội, 1993.
(2)    Nguyễn Đăng Na: Tục Công dư tiệp ký: tác giả và tác phẩm, Tạp chí Hán Nôm, 1/1989, tr.48-50.
(3)    (7) (8) Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1, NXB Giáo dục, 1997.
(4)    Vũ Phương Lan: Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích (ký hiệu: A.3132)
(5)    Việt sử thông giám cương mục, Tập 18, NXB Sử học, Hà Nội, 1960.
(6)    (9) Hoàng Hữu Yên: Tuyển tập truyện Việt Nam thế kỷ X-XIX, NXB ĐHTHCN, Hà Nội, 1987.
(10) Phạm Đình Hổ, Nguyễn An :Tang thương ngẫu lục –Ngô Văn Triện dịch, Trần Nghĩa giới thiệu (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Tập II, NXB Thế giới, Hà Nội 1997).
(11) (12) (14) Nguyễn Đổng Chi: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập V, NXB Văn học, 1993.
(13) Hoàng Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch: Giai thoại văn học Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988.
(15) Vũ Băng Tú: Về một bài văn bia của Tiến sĩ Vũ Tông Phan mới được phát hiện, Tạp chí Hán Nôm 4/1997, tr. 74-82.
(16) GURÊVICH. AJA: Những phạm trù văn hoá trung cổ –Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, 1996.

          Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam từ xa xưa đã có sự tiếp xúc giao lưu với văn hoá Hán. Có thể thấy rõ dấu ấn của sự tiếp xúc giao lưu này trên nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ và chữ viết, dấu ấn này lại càng đậm nét, thể hiện ra ở lớp từ Hán Việt rất phong phú trong tiếng Việt. Sự vận dụng chữ Hán và dựa trên chữ Hán để tạo ra chữ Nôm đã đem lại cho Việt Nam một nền “văn minh chữ viết” khá độc đáo mà chứng tích cụ thể là kho tàng di sản văn hoá thành văn rất đồ sộ bao gồm gần 17.000 cuốn sách và khoảng 30.000 đơn vị văn bản tư liệu, biên soạn và ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm thuộc đủ mọi loaị thể, lưu trữ và bảo tồn những thành quả sáng tạo văn hoá của ông cha chúng ta trên các lĩnh vực: văn học, sử học, triết học, dân tộc học, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, quân sự học, nghệ thuật học, ngôn ngữ học,...

Dien co          Trong văn học, một trong những biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến nhất là hình thức so sánh. So sánh là lấy phẩm chất của một cái này để làm nổi rõ đặc điểm của một cái khác. Tiến lên một bước, người ta không dùng hình thức so sánh, mà dùng hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Thông thường, trong so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, người ta thường lấy những hiện tượng thiên nhiên để làm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người. Về mặt nào đó, điển cố cũng có phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Nhưng có điều khác biệt là, điển cố như chất liệu dùng trong những hình thức ẩn dụ, hoán dụ không phải lấy trong thiên nhiên, mà lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ xa xưa.

 

Ngọc lang quy玉郎歸(còn có quan điểm cho rằng nên đọc là Vương lang quy王郎歸, hoặc Nguyễn lang quy阮郎歸) của thiền sư Khuông Việt cho đến nay vẫn được coi là một trong những điểm nóng gây tranh luận trong giới nghiên cứu văn học tại Việt Nam và trên thế giới.

Thượng đế sinh ra muôn loài . Chỉ có loài người Ngài ban cho họ tiếng nói . Tiếng nói để giúp họ hiểu nhau. Lời nói gió bay , chỉ có chữ viết mới khiến cho tiếng nói được truyền đi mọi lúc mọi nơi, bất chấp không gian và thời gian . Nước Việt và Do Thái là hai quốc gia thông minh nhưng bị mất nước lần lượt là 1000 năm và hai ngàn năm. Tại sao hướng đi của hai dân tộc này càng lúc càng ly tâm . Một bên tốt hơn . Một bên " như Xê .! . Đau! . Người Do Thái đã tìm ra đáp số và họ đã giải quyết được tốt đẹp . Họ có chữ viết trong khi ta vay mượn, cho mãi đến năm 1916 chúng ta mới tạm thống nhất bằng thứ chữ quốc ngữ này . Lời chào mỗi ngày của người Do thái , " hẹn gặp tại JEUSALEM " với lòng quyết tâm . Người Việt chào mỗi ngày " anh/chị khỏe không ? " . Lời chào này có nghĩa là anh chị có " ổn "không. Ổn về sức khỏe , ổn về vật chất, ổn về tinh thần. Đất nước này còn long đong lắm về mặt tinh thần . Rằng có một cái gì đó không " khỏe " - Việt Nam khỏe không ? - không khỏe chút nào! . Một trong các lý do khiến Việt Nam không khỏe là -ngôn ngữ. !. Trong đó có hai âm Mít đặc đầy ma lực mà nay trên thế giới này không có một từ nào của bất cứ quốc gia nào có nghĩa tương đương . Vậy mà trong Từ điển Tiếng Việt của quốc gia ghi rằng nó là một từ Thông tục . Thông tục!..Tại sao nó lại là thông tục. Sự gán ghép này do chính các nhà làm từ điển " áp đặt lên " , quả thật đây là một tắc trách , do người lại không am tường độ đa nghĩa, độ sâu của nó, cho nên thuận tay phán bừa một cách VÔ TRÁCH NHIỆM chăng?

I-Mít đặc là gì ? - Anh từ đâu đến ngôn ngữ quê hương tôi ?

I--Cấu tạo

Theo cách lý giải thông thường thì Mít đặc gồm hai từ "mít" và "đặc" có nghĩa riêng biệt kết hợp lại với nhau . Mít ==> theo từ điển Tiến Đức năm 1931 . MÍT là kín lắm ,không hở . Nghĩa bóng là ngu tối, không hiểu,không biết cái gì . Ví dụ: hỏi đâu mít đó ( trang 345 ) . Sau này các Từ điển , Việt Nam Tân từ điển của Thanh Nghị SG 1952 ,Tự điển Việt Nam của Khai Trí SG ,1971 hay Tự điển Việt Ngữ Hoàng Phê 2003 sau 75 cũng đều định nghĩa như thế .

Mít có nghĩa trên do từ sụ biến âm từ mít hay không ?

Mít có liên thông với Mịt và Mật từ chữ Hán hay không hay không ? . -Tự điển Tiến Đức đã định nghĩa Mịt là tối lắm và không đề cập đến nghĩa bóng. Lưu ý rằng Mít của Việt Nam là âm ,đa nghĩa , mật của Tàu tuy cùng một âm , nhưng mật trong "ba la mật " có hai ký tự khác nhau . Một từ có nghĩa là mật ngọt ,có bộ trùng ,và mật là kín có bộ Miên .

Đặc là gì? ==>Đăc là đông lại, đọng lại, cứng lại,

Đặc là một từ hậu tố ( suffix) -hàm ý tăng cường độ cho từ đi trước nó . Mít đặc là "mít" hoàn toàn, mít 100% , Việt Nam Tân từ điển của Thanh Nghị đã định nghĩa ignorer complètement. Khẩu ngữ Quảng Nam có câu " nhìn tề , -Người đâu mà đôngđặc ". Có nghĩa là người ở đâu mà đông quá ,đông đen .

II- từ mít có từ bao giờ?

Chúng ta cần phân biệt Âm và chữ . Âm có trước chữ viết. Mít là âm Việt có từ thời rất xa xưa . Khi mà cây Mít theo các tăng sĩ người Ấn thả thuyền theo dòng hải lưu đến Giao châu truyền bá đạo Phật . Từ này có thể xuất hiện đồng thời với âm Bụt . Bụt là từ thu gọn của từ Buddha ( hai âm ).Mít là từ thu gọn của từ paramita ( 4 âm ) . Từ này vừa chỉ cây mít ,vừa là một thuật ngữ Phật giáo mà người Tàu phiên âm là ba la mật đa ( đủ 4 âm ) - người Việt gọi là Mít - người Tàu không gọi Mật là cây mít .Họ gọi đủ ba âm . Tàu gọi cây mít là 菠 蘿 蜜 "bō luó mì" / âm hán Việt là "ba la mật" nhưng ,mật ở đây là có nghĩa là ngọt ,như mật ngọt như đừơng , 蜜 bộ trùng trùng 虫,trong khi Mật là bí mật ,là đông đúc thì mật là 密, bộ miên 宀 . Vậy nó không hề liên quan nhau . Việt là Việt, Hán là Hán, Tàu là Tàu . Mít là mít . Mật là mật .

Trong ngôn ngữ Việt , mít xuất hiện dưới hình thức chữ nôm khá lâu . Thời vua Minh Mạng lệnh truyền trồng cây mít trên khắp đất nước . Vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 vua Minh Mạng ban chiếu có đoạn "Chiếu sai các thành trấn, thành phủ và đường quan đều trồng cây mít, cách 5 thước trồng một cây. Đê sông lớn, đê sông nhỏ (d)ều trồng cây liễu; các vườn tược bỏ hoang đều phải trồng đay gai". Và cửu đỉnh ở Đại Nội HUẾ ́ có khắc cây mít. HUẾ ,Thừa thiên và Quảng Nam có lẽ là hai nơi hưởng úng nhiệt liệt nhất. Nhà nhà đều trồng mít do bởi đất đai và thổ nhưỡng tại hai nơi này khắc nghiệt ,và mít là cây dễ sống , chịu hạn tốt và không kén đất, kể cả những chỗ đất đai cằn cỗi. . Từ đây từ Mít được nhắc nhở trong từng bửa cơm gia đình . "Mít đẹt và mắc địt " xuất hiện trong Khẩu ngữ Quảng Nam ,từ đó có âm "Mít đặc" do việc gom hai từ thành một . Tại Quảng Nam âm mít xuất hiện khá đều đặn, họ có câu ca dao

"Ai về nhắn với bạn nguồn , 
Mít non chở xuống cá chuồn chở lên "

Còn Mít đặc thì sao? . Mãi đến khi Quôc văn giáo khoa thư viêt năm 1935 do Nhà cầm quyền ĐÔNG PHÁP giao cho cụ TRẦN TRỌNG KIM viết ,thì hai từ Mít đặc xuất hiện trong Quốc văn Giáo khoa thư,trở thành bài học thuộc lòng cho trẻ .

Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài 
Cũng thành vô dụng cũng hòai ngọc đi 
Con người ta có khác gì 
Học hành qúy giá ngu si hư đời 
Những anh mít đặc thôi thời 
Ai còn mua chuộc đón mời làm chi!

Ngữ cảnh trong bài học thuộc lòng này là gì ?. Mít đặc có thể là dốt nát do vì lười biếng không chịu học. Anh ta không phải là loại NGU ĐẦN mà anh có thể là người sáng dạ đàng khác. Hai là cũng có thể là anh chỉ biết mỗi thứ chữ Nho,thứ chữ Hán lúc chợ về chiều , nay không chịu học chữ quốc ngữ, anh ta ,"không thức thời ". Anh cũng là một người ngu vậy !.

Điểm đặc biệt cần để ý là từ Mít đặc lại không được nhiều người Nam Bộ thường xuyên xử dụng, một vài nơi ."Bọn trẻ hay nói " lêu lêu cái đồ mít đặc" ,chủ yếu bọn trẻ dùng mít đặc vì âm nói lái đầy thú vị với trẻ ,sau đó là tiếng cười dòn và rượt chạy " , theo LẠC NGUYỄN người Sóc Trăng . Ngoài ra người miền Nam không khai thác và suy nghĩ nhiều về âm đầy "ma thuật" này. Tự điển Phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái không có . Từ điển đồ sộ có tên là "Từ Ngữ Nam Bộ" -của tiến sĩ giảng dạy Huỳnh Công Tín mới đây cũng không thấy có. Có lẽ cây mít không chịu đất ngập nước ở đồng bằng Nam bộ chăng? . Một khi trái mít không phải là thứ cây trái của nhà nghèo thì âm và từ mít không thường xuyên xuất hiện trong ngôn ngữ giao tế hằng ngày của người Nam bộ chăng?, âu cũng là điều dễ hiểu. Nhiều nơi ở Nam bộ đất thấp , nước ngập mít khó sống, nhà vườn không trồng . Người Đàng Trong ngoài mít ráo ,mít mật ,mít nghệ , họ còn thích ăn mít ướt, bởi chính "mít ước" khiến họ ăn được nhiều và thấy ngon .Từ đó từ "mít ướt" cũng trở thành một từ trong kho tàng ngôn ngữ của họ . "mít ướt <==> mít ước " là một danh từ chỉ người mau nước mắt. Nhiều người Việt ,trẻ có già có khi nghĩ đến "Chuyện gì đó ,mà mình thầm ước ao nay chưa đến , họ rơi nước mắt-"Mít ướt ==> mít ước ==> Mít đã là từ tình cảm trong tâm trí người Việt, điều này khiến cho ai đó lấy HÁN làm TRUNG ( chữ của anh Nguyễn Cung Thông ) -không có đất sống.

Trong cảnh cùng khổ, trên đe dưới búa,thời tiết và thổ nhưỡng khắc nghiệt, người Đàng Trong thường mau rơi nước mắt khi thấy trong chén cơm của mỗi thành viên trong gia đình mình, chiều nay không có gì ăn . Họ "mít ướt ==> mít ước" , Người Quảng Nam nói riêng và người đàn ông thuộc sắc dân Lạc Việt nói chung, ngó vậy mà Họ đều mau rơi nước mắt. Họ dễ bị " dụ " bởi hai từ yêu nước. "?" . Hiểu ra thì mới hay mình đã NGU "?" . Chết cho quê hương "? Hay ! "., Chết cho đồng bào mình sống "?hay !" . Trẻ thơ Việt Nam nay đang "được" học bài "Quê hương" trong SGK , với câu cuối vô cùng tình cảm, dạy điều khôn dại ... " là chùm khế ngọt " thơ của ĐTQ . Họ đâu biết rằng, khế ăn một ai lát thì không sao, dùng vài lát để át mùi tanh của cá biển, khử mùi đắng của các ion Ca2+ , Mg 2+ vị tanh của Fe 3+ , ...tồn tại trong muối hạt muối rang của các xứ quê nghèo Trung eo ; thế nhưng, " cho ta trèo hái mỗi ngày , TRẺ tử vong là chắc! . Bởi người lớn không dạy cho trẻ biết trong khế có chứa 1% Oxalic acid trong 100 gam nước cốt ( theo giáo sư Võ Quang Yến , Paris ) . Ngoài ra Khế còn chứa một độc tố dữ dội khác là "neurotoxin, có thể gây ói mửa, rối loạn tâm thần, hôn mê, động kinh hay thậm chí là tử vong. Độc tố này cũng tìm thấy trong một số loài rắn hay nhện..." theo trang web "tokhoe.com". Vậy mình chọn nên chọn Mít để yêu quê hương hay là chọn khế hở các Bạn hiền?

"Mít và mít đặc" và Mít ướt không phải là từ xa lạ với người miền Nam yêu thương nhưng quả thật là từ họ rất ít khi dùng đến khi giao tiếp hay suy nghĩ về nó. Họ chỉ dùng để châm chọc nhau lúc nhỏ .Dù gì thì gì thì từ mít vẫn là từ tình cảm trong tâm trí họ . 
  

Và người Tàu thì sao? .Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông cho rằng, người Tàu, phương Bắc không có âm MÍT, nếu có chỉ là âm ngoại nhập vào ngôn ngữ của họ mà thôi, bởi Cây Mít không chịu được nhiệt độ lạnh, chính các ..." điều kiện môi trường này loại trừ Trung Quốc là một nguồn của loài mít, do đó không thể nào có cơ sở liên hệ bất cứ hiện tượng ngữ âm nào giữa tiếng Hán/TQ với loài mít! Ngoại trừ tiếng Hán/TQ nhập cảng tiếng nước ngoài vào ngôn ngữ mình " ,Nguyễn Cung Thông. Theo ngu ý, có thể nhà ngôn ngữ học người Tàu tên là Vương Lực, vào năm 1942 có qua Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội làm việc chừng một năm; tại đây ông đã tìm lại cội nguồn tiếng nói của dân tộc ông . Ông cho là người Bắc là nơi còn ghi dấu " ngôn ngữ Tàu từ thời xưa , từ đời Ðường, mà sau này người Tàu Bắc kinh không còn ai dùng nữa" . Việc này cũng tương tự như người Việt chúng ta tìm về ngôn ngữ người MƯỜNG để tìm lại tiếng Việt xưa . Chính từ công trình của Vương Lực mà chúng ta cần giác từ các bài viết về từ nguyên học của các "nhà tự phong mình là nhà từ nguyên học ", bởi họ là "nhà từ nguyên học đường phố " đa phần là các anh Tàu sặc mùi Ðại Hán viết , Nhà Ngôn ngữ Ðông Phương trường lớp Nguyễn Cung Thông tặng cho họ " mỹ danh " này .

III Xét về thuộc tính của âm "ít" trong MÍT

Trong Âm mít , nếu ta để ý đến việc phân âm , cấu tạo từ khi đánh vần . Mờ (M) + ít sắc mít .Trong đó có phần tạo âm là ÍT . Thuộc tính của âm "it" là gì? . Đa phần các từ có cấu tạo "Phụ âm + ít " đều chỉ sự nhỏ nhoi, chật hẹp . Từ sẽ mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn. Sự sinh động dãn nở vắng bóng . Bưng bít , vung vít , mít ,khít rịt , tíu tít ( quắn lấy nhau trong không gian hẹp) ,ghịt ,vít đầu xuống vv . Âm "ít " chỉ thuôc tính tiêu cực .

Mít đã để lại trong ngôn ngữ Việt Nam một lời nhắc nhở " buòn phiền " cho toàn dân tộc này. Rằng Bạn hiền " phải lận lưng cho đến lúc chết ,rằng DÂN TỘC NÀY hãy " trưởng thành lên " , để từ này mất hẳn trong ngôn ngữ Việt . Trước 75 tại Miền Nam Việt Nam có từ Mẽo ,từ gọi người Mỹ một cách xách mé ,nay đã mất hẳn , do Người Mỹ không hề xấu xa ,mọi sự bêu rếu đều vô nghĩa . Thế nhưng câu Khẩu ngữ mà mình phải nghe " _Lại một anh MÍT!" . Anh Mít là một anh "annamite " ,Người Việt đã bị người Pháp dè bỉu . Từ Annam đã xấu xa do Tàu đặt cho,sau khi người Việt mình mất nước 1000 năm , nay người Tây thêm âm "íte" vào sau 100 năm đô hộ . Hai lần vong quóc sử!. Lần trước 1000 năm , rước lấy tên AN NAM - mà Tàu đọc trài trại, nghe như là Ố NHÂN , bọn người xấu xa! . Nay đến phiên người Pháp thêm cho nó một suffix là "ITE" nữa .Vậy mà nay đến phiên các nhà ngữ học , các nhà ngôn ngữ học lại làm thinh cho " người ta bêu rếu dân tộc mình bằng cách phân tích từ nguyên đầy chất xỏ lá " .Xin đọc phần sau -Nhà từ nguyên học lừng lấy trong nước ANCHI*.

Với Tây , "Kẻ xâm luợc Tàu - hỗ lốn - gọi chúng tôi là An Nam, các học giả thực dân chỉ thêm một tiếp vĩ từ (suffixe)  "ite".  Theo văn học Pháp thế kỉ XVIII thì "ite" và "iens" là để chỉ những dân tộc lạc hậu, yếu kém, hoặc môt vùng nhỏ, ví d : Les Indiens, les Cambodgienes, les Moscovites;... Sao các ông không gọi chúngtôi là Vietnamais cũng như Francais, Anglais, Japonais;... Bà và ông thấy thế nào?" ,trích lại từ một blogger .

IV - Vài tạp nghĩ

Trong Từ Điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Việt ngữ này được xem như từ điển của người trong nước sau 75 , xếp từ Mít đặc vào nhóm từ thông tục .Thông tục là gì ? tại trang 953

Thông tục là 1- phù hợp với trình độ của quần chúng đông đảo ,quàn chúng dễ hiểu ,dễ tiếp thu .2- Quá thông thường ,tự nhiên ,thuộc từ ngữ chỉ quen dùng trong lớp người gọi là kém văn hóa (kém văn hóaLaiquangnam tô đậm ) . Điều này chỉ rằng đây là từ mà giới " có học thức không dùng " . quả thật ta không thấy nó được dùng trong ngôn ngữ trang trọng, không xuất hiện trong cac văn bản "nghiêm túc " của giới học giả hay trong văn bản của người được gọi là " trí thức " . Thật đáng tiếc.

`Chúng ta thử đọc và nghe các câu thoại dưới đây . Đây là mẫu đối thoại giũa hai người tạm gọi là A và B về sự hiểu biết .

Ví dụ: thứ nhất

1-A : Này B , 2 cộng bới 2 là mấy con ?

B- là năm

A-Đồ ngu ! , đồ "mít đặc *"

2- Ví dụ: thứ hai

1-A: - Này B , ngày nay theo anh chế độ chính trị nào là tốt nhất cho Việt Nam

B- Theo tôi là chế độ độc tài, phong kiến cha truyền con nối. Bởi người lãnh đạo quốc gia cần phải có gien di truyền

A- "mít đặc**! "

3- Ví dụ: thứ ba

1-A: này B , niết bàn ( Nirvana) là gì Bạn hiền.

B- Chuyện này tôi "Mít đặc*** "

Qua ba mấu đối thoaị đó , Chúng tôi lần lượt phân tích lại. Cả ba tình huống đều dùng ký tự tạm ghi là " Mít đặc" .Như Bạn hiền đã thấy , ứng với với ba tình huống khác nhau laiquangnam có ghi với dâu sao * khác nhau

1-Tại Ví dụ thứ nhất, từ " đồ ngu ! ", Mít đặc* có thể thay bằng Đần, ngốc ngếch.Trong trường hợp này khẩu ngữ của Quảng Nam dùng đúng là "mít đẹt ". ĐẸT , ET thay vì ẶC là mít đặc* . Từ này được dùng trong giới người thân trong gia đình trong nhà . Họ nói vói con cháu mình bằng thứ ngôn ngữ của người trưởng thượng, có chút ngậm ngùi, bất lực,cảm thương .

Vậy Mít đẹt là gì? . Mít là loại cây trái ta đã biết . Đẹt là không lớn lên nổi . Thứ này còn gọi là "Dái mít" lớn bằng cở ngón tay cái . Không lớn thêm . Người ta hái và ăn non , nó có vị chát đặc biệt, ăn non còn hơn là để nó tự rụng

2- Tại Ví dụ thứ hai , từ " Mít đặc** " "không thể thay bằng "Đần" , "ngốc ngếch" được bởi đây, là câu hỏi dành cho một người có ăn học tử tế . Nó liên quan đến thể chế quốc gia . Khi mình ở một trình độ nào đó thì câu hỏi này mới được đặt ra . Trong trường hợp này, khẩu ngữ của Quảng Nam là "mắc địt " . Từ mắc địt này được dùng khi người thân trong nhà nghe con cháu mình nói lời khó nghe, rất chướng tai. Người bình thường nào đó ,không quá đần đều cũng cảm thấy chướng tai như họ . Câu khẩu ngữ thường dùng của người Quảng Nam là " Mi nói Tau nghe muốn mắc địt! " . Tại sao lại mắc địt? , bởi khi nghe xong , trong bụng người nghe liền cảm thấy lình bình ,khó tiêu hóa, Họ chỉ mong được địt /tức đánh rấm ( BẮC ) một cái thì cái bụng mình mới nhẹ được . Ngữ cảnh của nó là , người phát ngôn dùng nó ở trạng thái chê bai, đầy chất miệt thị . Lời này được tặng cho viên chức , cho giáo sư tiến sĩ mà nói lời khó nghe , trái với lương tâm và công lý thương tình . Bạn hiền, bạn vào Facebook sẽ gặp hàng ngày các vị này .

Trong ngôn ngữ của người phát ngôn, âm " mắc địt " có chút gì trưởng thượng, đầy chất miệt thị khinh thường . Vậy cái ngu của B trong trường hợp này là cái ngu của một anh có được ăn học , không thể dùng từ ngu ,đần ,ngốc , dại ,khờ thay cho từ "Mít đặc **" được

3-Tại ví dụ thứ ba, từ " Mít đặc " không hàm ý mĩa, bởi ở đây không ai mĩa ai . Tự thân ngừoi phát ngôn nhận mình " không biết hoàn toàn " về điều mà A vừa hỏi . Có thể B biết Niết bàn là gì , nhưng biết một cách mơ hồ , không đủ để A thoải mãn nếu như B chịu khó trả lời cho A. Trong trường hợp này từ " MÍT " lại càng khòng dính dáng gì với định nghĩa mà từ điển Tín Đưc đã ghi. Nó không liên quan gì đến Mít ==> mịt ==> Mật ( Hán ) .Lần này nó liên quan đến một từ từ Phạn ngữ , thuật ngữ Phật giáo .

Bạn hiền cùng laiquangnam đọc lại đoạn này trên Chim Việt Cành Nam năm xưa ,bài do Thầy Minh Chí viết .

" Tôi muốn nói từ mít. Các tăng sĩ Nam Ấn Ðộ, vào đầu kỷ nguyên, khi đạo Phật đại thừa đã hưng khởi, thường hay đi truyền giáo nơi xa, đến đâu họ thường đem hạt giống cây trồng theo, khi họ đến Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa họ có đem theo hạt giống loại cây mà không hiểu sao họ gọi là cây Paramita. Paramita, Hán dịch âm Ba la mật chỉ cho đức hạnh bồ tát, mà bồ tát, như chúng ta biết, là nhân vật tiêu biểu của Phật giáo đại thừa, tức Phật giáo Bắc truyền. Một hình thức Phật giáo rất năng động, sáng tạo, đầy nhiệt tình truyền giáo, hưng khởi vào những thế kỷ đầu công nguyên. Paramita có nghĩa là đức hạnh hoàn thiện. Hán dịch âm đầy đủ là Ba la mật đa. Có thể là các tăng sĩ Ấn Ðộ thời ấy gọi cây đó là Paramita để tự nhắc nhủ mình về hạnh bồ tát chăng, về hạnh nguyện của các vị bồ tát không ngại đường xa gian khổ đi khắp nơi, cùng trời cuối đất để truyền bá giáo lý của Phật đà chăng? Từ đó về sau, người dân miền Nam Trung Quốc cũng theo các tăng sĩ truyền giáo Ấn Ðộ, gọi đó là cây Ba la mật (họ bỏ âm đa, theo thói quen). Còn người Việt ta thì bỏ cả những âm đầu và cuối, chỉ gọi là cây mít (Paramita: giản âm hóa thành cây mít). Cây mít thường trồng nhiều xung quanh chùa, gỗ mít được xem là gỗ thiêng, chỉ dùng làm mõ, làm bàn thờ v.v...

Nhưng tôi xin phép hỏi các nhà ngôn ngữ học có mặt ở đây, vì sao người Việt ta lại có từ mít đặc, để chỉ người dốt, hỏi gì cũng không biết: mít đặc. Phải chăng đây là một trường hợp biến nghĩa, thường gặp trong ngôn ngữ. Một từ ngữ bác học, sau khi đã xâm nhập vào dân gian, thì hay bị biến nghĩa. Cũng như từ thiên binh, chỉ cho binh đội nhà trời của nước Trung Quốc ngày xưa. Vua Trung Quốc gọi là thiên tử, triều đình của vua Trung Quốc gọi là thiên triều, còn binh đội của vua Trung Quốc gọi là thiên binh, là quân đội nhà trời, đáng lẽ người dân Việt Nam phải kính nể, khiếp sợ. Ấy thế mà người dân Việt Nam lại nói: chuyện thiên binh, như một chuyện khôi hài, láo khoác, không có thật, không đáng sợ. Có thể đây là trường hợp cũng giống như từ mít đặcnói trên chăng? Paramita, là hoàn thiện, siêu việt lại dám dùng trong trường hợp mít đặc, để chỉ sự dốt nát không biết gì hết."

Mít lần này là mít trong từ cây mít ==> paramita .Cũng do thói quen tinh gọn , nuốt âm thuòng ngày của người Việt . Như âm BỤT vốn là Buddha , hai âm còn một âm .Gọn nhẹ. Một âm nếu đã đủ thì tại sao lại không dùng một âm cho ngắn ngọn ! . "Mít đặc " ,có âm "mít" là một âm gọn trong từ thuộc từ Phạn ngữ là paramita . Đặc là làm đông cúng lại . Mít đặc từ đó thành hình và tặng độ lớn ,độ dãn cho từ Mít đặc vốn có từ trước trong Khẩu ngữ Quảng Nam. Lần này có nghĩa là , cho dù ông là người, một bậc thức giả, cho dù ông đã thông hiểu sâu về Tánh Không, về dòng Bát nhã Ba la mật đa ,thế nhưng với cái đầu "Mít đặc", ông không chịu xả bỏ "cái đã có trong đầu mình" để đón nhận một minh triết mới hơn, tốt hơn , thì đó là một cái đầu không " ngu"là gì ! . Một cái đầu NGU của một anh dại chữ . Ngu vì ngoan cố và cố chấp. Họ đã lọt vào vùng U minh khác. Hoàng Phong là một tiến sĩ khoa học nay sống tại Pháp đã viết : "vô minh" trong tiếng Phạn gọi là Avidya và tiếng Pa-li là Avijja, nghĩa từ chương của chữ này là sự "thiếu hiểu biết", thế nhưng cũng có thể hiểu đấy là một sự "nhầm lẫn". "Thiếu hiểu biết" không có nghĩa là thiếu sự hiểu biết mang lại từ sự học hỏi từ chương trong sách vở, hay sự thiếu hiểu biết mang tính cách thông thái của một nhà bác học. Vô minh là một cách "nhìn sai" hay "hiểu sai" của bất cứ ai cho dù họ là một người học vấn uyên bác hay một người thất học .

Sự lầm lẫn này có thể từ một hình thức thấp là liên hệ đến những biến cố và sự kiện thường tình trong đời sống cho đến một hình thức cao là liên hệ đến một sự quán thấy lệch lạc, không nhận biết được bản chất đích thật của chính mình và của mọi sự vật, không quán thấy được ảo giác của mọi hiện tượng đang biến động chung quanh mình và những xung năng trong tâm thức mình" . Hoàng Phong

Vậy trong trường hợp này Mít đặc không thể dùng bất cứ từ nào khác ,cho dù tiếng Hán ,tiếng của người Phương Tây * ? có thể thay thế được .

*Quả thật tôi không biết trong thuật ngữ Phương Tây /ANH PHÁP MỸ có từ nào nào tương đường với từ Mít đặc như trường hợp này của Việt ngữ hay không. Nhưng tôi nghĩ rằng tiếng Tàu không hề có một từ có thể thay thế nó. Trong Việt ngữ , cụm Khẩu ngữ hằng ngày là "dại chữ " . Từ dại chữ này được áp đặt cho người biết chữ Hán nhưng không thông về Việt ngữ mà nói chuyện từ nguyên .

"Ai đó" đã giảng Gần ( tiếng Việt ) phát xuất từ âm Cận của Tàu, bởi vì sự biến âm C <=> G trong khoa ngôn ngữ học . Tôi nghĩ không đúng, bởi Gần là một từ cơ bản của người Việt. Nó là từ sinh tồn, bởi ước độ khoảng cách thì GẦN và XA cùng xuất hiện cùng lúc ; Tàu thì Cận Viễn. Cận và Gần có thể có bà con xa gần ,có thể vì từ thuở hồng hoang rất xa xôi ,họ có cùng cội nguồn . Ví dụ dễ hiểu , giả định việc này xảy ra; sau 75 tại miền Nam Việt Nam có hai chiếc thuyền cùng thả ra biển. Họ trôi dạt vào hai hải đảo xa xôi ,không còn liên lạc với nhau được. 10 ngàn năm sau dó ,"Ai đó" khảo sát ngôn ngữ về hai sắc dân này , họ gặp vài âm trùng nhau một cách kỳ lạ, thế nhưng vào lúc này hai sắc dân đã có các thuôc tính hoàn khác nhau . Ta,người Giao châu ,Lạc Việt và Tàu thuộc dòng Nam Việt hay Mân Việt cũng thế . Không thể nói ai đã chịu ảnh huỏng của ai .Một ví dụ khác , "Ai đó" cho rằng Bố trong Bố Cái Đại Vương liên quan đến âm Phụ của Tàu Hán là một liên tưởng TRẬT , do bởi Bố và Phụ là từ cơ bản của dân tộc Việt và Tầu .Bố /Bu là cập từ chỉ song thân của Việt . Phụ Mẫu cũng là từ chỉ song thân của Tàu . Âm có trước , chữ viết có sau, sự nhập nhằng do cách tìm từ nguyên qua ngôn ngữ kiểu như giáo sư Nguyễn Tài Cẩn chỉ đúng với các từ Hán Việt thật sự , nay còn tồn tại trong ngôn ngữ của ta. Lý luận này không đúng lắm với các nhóm từ cơ bân của người Việt .

Kết luân

Vậy từ nguyên của từ Mít Đặc là gì ?

Có hai giả thiết

1-Một là, mít đẹt .Đó là một âm Quảng Nam , chỉ sự Ngu ,Đần do thiểu năng trong một thể trạng không phát triển cho nên, Ngu bẩm sinh ,khó khai hóa

2-Hai là, từ khẩu ngữ Quảng Nam "MẮC ĐỊT" . Do âm thô tục quá , và rõ quá , không thích nghi trong đối thoại trong một xã hội cần lịch sự hơn . Từ mang tính chất miệt thị rõ quá cho nên phải "nói lái" thành MÍT ĐẶC lại cho dễ nghe hơn ,lúc này thì âm và ngũ nghĩa MÍT đã khá rõ ràng . Dần dần theo luật LUẬT DARMESTETER về Ngôn ngữ Sinh hóa mà tăng dần độ " thâm và kỳ ảo " mà nay trên thế giới này không có một từ nào có thể tương đương với nó .

3- Ba là, từ một thuật ngữ Phật giáo về dòng BÁT NHÃ. Từ Paramita ==> âm mít là từ thu gọn của một từ Phạn ngữ gồm 4 âm, gom còn một từ MÍT .Sau đó ,từ Mít được gia cố bằng một hậu tố (suffĩx) - vốn là một tính từ "đặc" . Từ Mít đặc nay có nghĩa KHÔNG BIẾT 100% . Không biết không phải vì dại ,vì ngu ,vì đần mà vì DẠI CHỮ và vì cố chấp . Đây là cái NGU của một anh DẠI CHỮ. Và điều quan trọng cuối cùng nó chả liên quan gì đến Hán ngữ như MẬT hay Độn ,hay Đần gì cả .

Vậy,Ta không thể dùng cách giải Từ Nguyên Học thuộc từ trường phái Ngôn ngữ học lúc ban sơ , đặt trên nguyên lý " Cận âm" ,hoặc do nói đớt , nói ngọng , nói nặng hoặc do khi phát âm các phụ âm gần nhau do vùng bật môi ,vv ...theo giản đồ hình V ngược , mà "Kẻ lưu manh dấu mặt "nhất quán cho rằng ngôn từ Việt là Đứa Con Lai của Tàu. Bọn họ đã dựa trên công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã dùng khi viêt về mối liên hệ ngôn ngữ Hoa Việt như một công cụ tuyệt đối đúng, bởi cách lý giải đó xuất hiện trong giai đoạn đầu về khoa từ nguyên học . Nay là thế kỷ 21 đã có những lý thuyết khả tín hơn nhiều .

Như vậy cho dù trong kho Việt ngữ xưa kia đã có các từ chỉ sự Ngu là " Ngu ,ngốc ,ngớ ,đần ,khờ ,dại , khạo , thộn, độn , chậm tiêu , con bò , bí rị , đực mặt ,đồ điên,u mê ,cà chớn... ". Thế nhưng từ Mít đặc vẫn là từ có thể thay cho các từ trên mà không sai lệch ngũ cảnh mà không có hiện tượng ngược lại .

SAIGON cuối tháng 9 . 
Lòng đầy nhớ thương .

Laiquangnam


=====o0o0o00===========

Phần chú thích và tham khảo

1-Minh Chi,Bàn về sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa Việt Nam

http://chimviet.free.fr/dantochoc/chung/chp0054.htm

2-Tiêu chí nghiên cứu từ nguyên học tiếng việt - Tạp chí khoa học Cần Thơ

https://sj.ctu.edu.vn/ql/docgia/download/baibao-4875/21-tran%20thanh%20ai.pdf

3- http://thuvienhoasen.org/a13717/khai-niem-vo-minh-trong-phat-giao#cmm_item_383698

4-Không phân biệt được các từ gốc Hán đã Việt hoá và các từ "thuần Hán" 

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4143&rb=06

5-Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt-Nam Tự-Điển, Trung-Bắc Tân-Văn, 1931.

6-Từ điển tiếng Việt hay Từ điển Hoàng Phê, NXB DANANG , năm 2003)

7-https://khoahocnet.com/2013/11/25/bui-xuan-dang-vietnam-hay-annamite/

8-https://thongism.wordpress.com/toi-la-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-vi%E1%BB%87t-nam/vietnamais-va-annamite/

9- không quên Vi-WIKIPEDIA và GOOGLE SEARCH .

10 - luật LUẬT DARMESTETER về Ngôn ngữ Sinh hóa

NGÔN NGỮ SINH HÓA , LUẬT DARMESTETER :

......" NGÔN NGỮ SINH HÓA là sự biến nghĩa theo thời đại, theo tác giả, theo vị trí lời văn....."

Định luật Darmesteter : "Ngôn ngữ có sinh hóa như một sinh vật. Nếu một sinh vật trải qua 3 thời kỳ ấu trĩ, trưởng thành, lão suy thì ngôn ngữ cũng có 3 thời kỳ : thô sơ với một vài nghĩa, phong phú với nhiều nghĩa tế nhị và cuối cùng mất hẳn nghĩa sâu xa chính yếu." trích nguồn từ Giáo sư Thạch Trung Giả

II - Phần đọc thêm

Mít đặc là gì ? .Do nhà TỪ NGUYÊN HỌC AN CHI viết

Khi bạn gỏ GOOGLE SEARCH "Anchi, ông là ai?"

Bạn sẽ gặp các bài viết ngợi ca này ,

http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/an-chi-lam-rung-dong-nen-hoc-thuat.html

2- AN CHI - NHÀ NGHIÊN CỨU - Thư viện 
http://nhavantphcm.com.vn/an-chi-nha-nghien-cuu-thu-vien.html

3- Học giả An Chi 82 năm vẫn... rong chơi 
http://thanhnien.vn/van-hoa/hoc-gia-an-chi-82-nam-van-rong-choi-753033.html

Tuy nhiên với các bạn đã là bạn đọc của Chim Việt Cành Nam hay www.art2all.net thì không mấy xa lạ với nhà Từ nguyên học này, Các Bạn tôi, nếu đã chưa đọc thì nay xin đọc

1-Laiquangnam , tai sao goi Họ la người Tàu 
www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_taisaogoiholanguoitau.htm

2- bạn gõ " Đêm đêm Hàn Thực,ngày ngày Nguyên Tiêu,( Kiều,942 )"

3-hay khi bạn gỏ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan mới đây.

Từ bài đọc thêm này bạn sẽ hiểu tại sao nhà ngôn ngữ học trường lớp NGUYỄN CUNG THÔNG tặng cho Anchi nick name "nhà Từ Nguyên Học đường phố " .

--o0o0o—

Trong tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số 580 trang 47, mục Truyện Đông Truỵện Tây, ANCHI, nhà từ nguyên học lừng lấy trong nước hiện nay đã trả lời câu hỏi của một bạn đọc như sau, laiquangnam sao lục

20171013

 Nguồn: Chim Việt Cành Nam

Thông tin truy cập

37437473
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
7251
7328
37437473

Thành viên trực tuyến

Đang có 389 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929