(Huỳnh Minh Đức, In trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN)

 

(Nguồn: Google) 

Việt Nam là nước văn hiến. Trong nền giáo dục xưa, ông cha chúng ta đã bằng tấc lòng vàng để lại câu “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Câu nói này do ai nói, có từ lúc nào chúng ta không thể biết, chỉ biết rằng hiện nay, thời của thập niên cuối thế kỷ 20, trên báo chí cũng như trên các vách của lớp học Việt Nam đều treo đầy khẩu hiệu trên. Nhưng, tình hình học trò mất đạo đức, học trò đánh thầy, con đánh cha mẹ, luân lý gia đình, xã hội xuống dốc và đang thách thức khẩu hiệu này với thời gian…

 (Bửu Cầm, In trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa Văn học và Ngôn ngữ)

I. Nguồn gốc Kinh Thi

Kinh Thi là một bộ sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa. Ngày xưa, Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần và ra lệnh cho quan Thái sư hiến dâng ca dao để xem phong tục của dân. Thiên Nghệ văn chí trong Hán thư có chép: "Cổ hữu thái thi chi quan, vương giả sở dĩ quan phong tục, tri đắc thất." (nghĩa là: Xưa có chức quan phụ trách việc đi nhặt ca dao; bậc vương giả lấy đó mà xem xét phong tục, biết được sự đắc thất về chính trị).

(Nguyễn Văn Hoài,  Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4 - 2015)

1. Về việc phân loại truyện thơ Nôm

Kho tàng truyện thơ Nôm Việt Nam hết sức phong phú về số lượng tác phẩm và cũng khá phồn tạp về mặt chủng loại. Trong chuyên luận Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi pháp thể loại, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch thống kê được 120 tác phẩm truyện thơ Nôm(1). Đây chỉ là con số tương đối, bởi một số tác phẩm vẫn còn lưu giữ trong dân gian hoặc lưu trữ trong các thư viện trong nước, ngoài nước mà tác giả chưa tiếp cận được, và trong đó vẫn còn lẫn vào một số tác phẩm là diễn ca hoặc tuồng(2).

Nguyễn Cư Trinh 阮居貞 (1716-1767) tự là Nghi, hiệu là Đạm Am, danh tướng và cũng là danh sĩ thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) và Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Với tài năng về chính trị, quân sự, Nguyễn Cư Trinh đã lập công lớn trong việc: ổn định nội chính, củng cố quốc phòng, trừ nội loạn, dẹp ngoại xâm, khai cương mở cõi. Sau khi mất, Nguyễn Cư Trinh được truy tặng Tá lý công thần, Vinh Lộc Đại phu, thụy Văn Định. Đến đời Minh Mạng, ông lại được truy tặng Khai quốc công thần, Hiệp biện Đại học sĩ, truy phong tước Tân Minh hầu, đổi tên thụy là Văn Khác, được tòng tự ở Thái miếu(1).

          Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam từ xa xưa đã có sự tiếp xúc giao lưu với văn hoá Hán. Có thể thấy rõ dấu ấn của sự tiếp xúc giao lưu này trên nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ và chữ viết, dấu ấn này lại càng đậm nét, thể hiện ra ở lớp từ Hán Việt rất phong phú trong tiếng Việt. Sự vận dụng chữ Hán và dựa trên chữ Hán để tạo ra chữ Nôm đã đem lại cho Việt Nam một nền “văn minh chữ viết” khá độc đáo mà chứng tích cụ thể là kho tàng di sản văn hoá thành văn rất đồ sộ bao gồm gần 17.000 cuốn sách và khoảng 30.000 đơn vị văn bản tư liệu, biên soạn và ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm thuộc đủ mọi loaị thể, lưu trữ và bảo tồn những thành quả sáng tạo văn hoá của ông cha chúng ta trên các lĩnh vực: văn học, sử học, triết học, dân tộc học, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, quân sự học, nghệ thuật học, ngôn ngữ học,...

Xuân nhật tức sự là một bài thơ hay, được các thi tuyển xưa chép vào phần thơ của Huyền Quang (1), do đó được nhiều người dẫn và bình luận (2). Có điều trong thơ văn chữ Hán của nước ta, đặc biệt trong thơ văn chữ Hán của các nhà sư Việt Nam có lẫn rất nhiều bài thơ của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong số 40 bài thơ do Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến Văn Tiểu Lục và nói là của Thiền sư Hương Hải, thì có đến 32 bài là của tác giả Trung Quốc đời Tống (3) mà ta có thể tìm lại trong các sách Trung Quốc hiện còn. Trường hợp Chân Nguyên cũng thế (4). Thậm chí những tác giả sống gần thời với ta như Viên Thành (1879-1928) cũng có những bài thơ chữ Hán của Trung Quốc chép trong thi tập của mình, mà những người sau do thiếu cẩn thận đã cho là của chính Viên Thành (5). Vậy Xuân nhật tức sự có ở trong trường hợp nhầm lẫn, gán ghép đó không?

 

Ngọc lang quy玉郎歸(còn có quan điểm cho rằng nên đọc là Vương lang quy王郎歸, hoặc Nguyễn lang quy阮郎歸) của thiền sư Khuông Việt cho đến nay vẫn được coi là một trong những điểm nóng gây tranh luận trong giới nghiên cứu văn học tại Việt Nam và trên thế giới.

Nguyễn Kim Sơn[1]

Từ then chốt: Phật tính; tam giáo; bất nhị; hòa quang đồng trần; lạc đạo, nhập thế. ( 佛性; 三 教; 不二; 和光 同 尘; 乐道; 入 世)

Tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông là tư tưởng Thiền nhập thế. Đây cũng là đặc điểm chung của tư tưởng các vị tiền bối của ông  như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung.  Điều này đã được học giới cơ bản thống nhất công nhận. Tinh thần nhập thế đó thể hiện rõ ràng trong cả hành trạng, ứng xử, các lời thuyết giảng, thảo luận và trong thơ văn của Trần Nhân Tông. Điều này cũng  từng được nhiều người nói tới và đề cập trong các công trình nghiên cứu. Người  viết bài này tán thành với các nhận định về khuynh hướng nhập thế trong tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là, hầu như chưa có công trình nào tập trung lý giải một cách tường tận về nguồn gốc tư tưởng, những lý do thực tiễn, những căn nguyên hay nói theo cách của Phật học là những duyên khởi của tinh thần nhập thế  trong tư tưởng Trần Nhân Tông. Cũng có một vài ý kiến động chạm tới vấn đề này, thì  lại quá nhấn mạnh tới yếu tố tinh thần thời đại, khí thế dân tộc và cho đó là căn nguyên của tinh thần nhập thế. Vấn đề hầu còn bỏ ngỏ đó là đối tượng và hứng thú cho người viết thực hiện sự thảo luận nhỏ này.

Tạp chí Xưa - Nay số 208 tháng 3 năm 2004 có đăng bài Về những bài thơ của Trần Thiện Chánh của Quang Hùng. Trong bài viết, tác giả có giới thiệu nguyên văn ba bài thơ của Tuần phủ Ninh Bình Trần Thiện Chánh gửi cho ba bà vợ: một ở Gia Định, một ở Nha Trang và một ở Huế. Theo tác giả, bài thơ Gởi bà ở Nha Trang : “Vì không có bài nào khác để đối chiếu, lại không có cả chữ Hán nguyên bản để dò lại cách phát âm và tự dạng nên đành tạm chấp nhận… Cho nên, chúng tôi đành phải “đoán mò” để dịch nghĩa bài thơ trên (anh Vũ Đức Sao Biển, đoán và dịch nghĩa)…”. Tôi đã đọc khá kỹ bài Gởi bà ở Nha Trang của Trần Thiện Chánh mà Vũ Đức Sao Biển đã đoán định và dịch nghĩa, thì quả thật thấy nhiều chỗ bất ổn, không thông nghĩa. Tôi đang có ý định thử đính chính lại những chữ bất ổn trong bài thơ trên, với mong muốn giúp mình hiểu đúng một tác phẩm của tiền nhân, nhưng rồi công việc bề bộn, chưa thực hiện được. Do vậy, khi được đọc bài Về bài thơ gởi vợ thứ ba của Trần Thiện Chánh của tác giả Cao Tự Thanh đăng trên Tạp chí Xưa - Nay số 210, tháng 4-2004, trong đó có “Giới thiệu bản phục hồi bước đầu và bản dịch bài thơ nói trên”, tôi thật sự thích thú.

Điển cố đóng vai trò khá quan trọng trong văn học Việt Nam và Trung Hoa thời kỳ trung đại. Dùng điển cố, người sáng tác xưa không chỉ vận dụng nó như một phương tiện diễn đạt mà còn thể hiện vốn kiến thức dồi dào về lịch sử, văn học, xã hội, văn hóa, kinh nghiệm sống của người xưa. Tuy không còn đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tác như xưa, nhưng nhìn lại nền văn học quá khứ, điển cố thực sự chiếm lĩnh một vai trò và thể hiện một chức năng mạnh mẽ trong sáng tác. Có giai đoạn, điển cố là phương tiện hàng đầu và hữu hiệu cho người cầm viết, từ tác giả của những bài thơ, bài văn, đến nhà ngoại giao, chính khách, thậm chí kẻ đi học cũng tự trang bị cho mình vốn kiến thức trong mười năm đèn sách và thể hiện điển cố trong bài thi.

 

Ai là tác giả mở đầu cho văn học Hán Nôm Gia Định? Bài “Hiếu trung hoài cô vịnh” của Võ Trường Toản có gì đặc biệt? Văn chương Thiên chúa giáo trong văn chương Hán Nôm Gia Định có gì lạ? “Tự hình” Hán Nôm là gì? Vì sao Lục Vân Tiên được nhân dân Nam Bộ ưa thích? Đó là những câu hỏi mà những người quan tâm đến văn học Hán Nôm Gia Định đặt ra và có thể tìm thấy lời giải đáp trong Văn học Hán Nôm ở Gia Định – Sài Gòn của hai tác giả Nguyễn Khuê và Cao Tự Thanh (NXB Văn hóa Văn nghệ, TP.HCM, 2011). Tập sách nằm trong bộ sách 100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài Gòn – TP.Hồ Chí Minh (NXB Văn hóa Văn nghệ, Cao Tự Thanh, Hoàng Mai chủ biên). Ông Nguyễn Khuê là giáo sư Hán Nôm của Đại học Văn Khoa Sài Gòn, nay là Trường ĐH KHXH& NV – ĐHQG TP.HCM, đã nghỉ hưu. Ông Cao Tự Thanh là nhà nghiên cứu tự do. Hai ông là những nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn học Hán Nôm Nam Bộ - một lĩnh vực rất cần thiết, rất thú vị nhưng cũng rất hiếm chuyên gia. Đọc Văn học Hán Nôm ở Gia Định – Sài Gòn người đọc cảm nhận đằng sau những câu hỏi đáp có vẻ rất dễ đọc kia là cả một quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm cẩn từ những tư liệu gốc. Có thể nói tập sách như một cẩm nang hay một “tiểu giáo trình” về văn học cổ điển Nam Bộ, có giá trị không chỉ cho độc giả rộng rãi mà còn cho cả những nhà nghiên cứu.

 

 

 

 

Tổng bình:

近日劉勰《文心》,鍾嶸《詩評》,異議蜂起,高談不息。

(盧照鄰《南陽公集序》)

 

Gần đây, Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Thi bình (tức Thi phẩm) của Chung Vinh ra đời, nghị bình nổi lên, tranh luận không dứt.

(Lư Chiếu Lân, Nam Dương công tập tự)

 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dương là tác giả, dịch giả của hàng chục công trình có giá trị. Thập niên 60-70 người ta đã biết đến công trình dịch thuật nổi tiếng của ông: Đại cương triết học sử Trung Quốc (tác giả: Phùng Hữu Lan, Ban Tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh xb.1968), Khuất Nguyên, cuộc đời và tác phẩm (Trường Đại học Văn khoa SG xb, 1971)…, nhưng công trình có giá trị hơn cả là Thử giải quyết vấn đề dịch giả chinh phụ ngâm (NXB. Đại học Huế 1964). Sau 45 năm theo đuổi vấn đề này, lại nhận được nhiều tài liệu quý do GS.Hoàng Xuân Hãn, học giả Nguyễn Văn Xuân gửi tặng, TS.Nguyễn Văn Dương trở lại vấn đề này. Ông đã tiến hành bổ sung, sửa chữa, cập nhật hoá thông tin, cho tái bản công trình trên (NXB.Văn hoá thông tin, 2008). Trong sách có in phụ lục hầu hết các bản nôm quan trọng của Chinh phụ ngâm: bản Đoàn Thị Điểm, bản Nguyễn Khản, bản Phan Huy Ích…Qua công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc này, vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm là Phan Huy Ích, theo tôi, đã có lời giải đáp thoả đáng.

Lời dẫn

Đại Nam Quốc sử diễn ca là một trong các bộ sử ca của lịch sử sử học Việt Nam mà cũng là của văn học sử cổ cận đại Việt Nam. Bộ sử ca này nguyên là một tác phẩm văn chương được trước tác và khắc in vào những năm giữa thế kỉ thứ XIX (1860, 1870, 1874) ở trong nước và nước ngoài (Trung Quốc).

1. Từ mười năm nay chúng ta đã có được văn bản Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446) với đầy đủ nguyên bản chữ Hán gồm 31 thiên truyện và phần phiên âm, dịch nghĩa, chú giải(1). Nói riêng mối quan hệ văn - sử ở tác phẩm Nam Ông mộng lục vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn thảo: Tương quan giữa Nam Ông mộng lục với bộ sử chính thống Đại Việt sử ký toàn thư(2) - Tương quan giữa Nam Ông mộng lục với các nguồn thư tịch khác dưới thời trung đại - Cấu trúc văn bản, nội dung và hình thức nghệ thuật của mối quan hệ văn/ sử trong Nam Ông mộng lục

1- Vài dòng tiểu sử

Giáo Sư Bửu Cầm (1920- ): Là một học giả, giáo sư Đại học Văn khoa, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1920 tại Huế, tằng tôn của thi hào Tuy Lí Vương.

Thuở nhỏ ông sống và học tại Huế, xuất thân là viên chức bộ Lễ ở Huế từ năm 1943-1945. Từ năm 1950 là giáo sư trường Quốc học Huế, năm 1954 làm trưởng phòng Tu thư Viện Văn hóa Trung Việt.

Đào Tấn (1845-1907) là tác giả có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam thời Trung đại. Sáng tác của ông, theo các tư liệu hiện còn, có thể phân làm ba mảng, gồm: tuồng, thơ từ. Dễ nhận thấy với Đào Tấn, tuồng là thể loại được dụng công nhiều nhất và cũng chính thể loại này đã khiến cho tên tuổi của ông trở thành bất hủ. Chính vì vậy, nhắc đến Đào Tấn, người ta sẽ nghĩ ngay đến thể loại tuồng. Tuy nhiên, theo các tư liệu đã công bố cho đến thời điểm này, Đào Tấn không chỉ để lại các tác phẩm tuồng, thơ, mà còn để lại một từ tập mang tên là Mộng Mai từ lục (từ đây viết tắt là MMTL), gồm 60 bài từ, trong đó có không ít bài đạt đến trình độ nghệ thuật trác tuyệt.

Thông tin truy cập

38244262
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
6503
7293
38244262

Thành viên trực tuyến

Đang có 430 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929