27042017Thứ 5
Mới nhấtThứ 4, 26 04 2017 9pm

Nỗi đau trong thế kỷ và ý nghĩa nhân văn trong tác phẩm Victor Hugo

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 4.00 (1 Vote)

(Thái Thu Lan, In trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN) 

Thông thường, mỗi văn nhân nghệ sĩ đều có nỗi đau đời, nỗi đau nhân thế. Nỗi đau này bắt nguồn từ tấm lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống và số phận con người qua những biến động xã hội.


Đề tài “trở về” trong ba truyện ngắn: Canh khuya của Ivan Bunin, Nhà của lính của Ernest Hemingway và Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 (Đào Ngọc Chương, In trong " Những vấn đề ngữ văn " (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN)

1.

“Trở về” là một môtíp phổ biến trong truyện kể. Nó nằm trong cấu trúc của truyện phiêu lưu với tư cách một chặng khép vòng phiêu lưu lại, và có thể để mở ra vòng phiêu lưu mới, nghĩa là nó thuộc nhóm biến cố/ tình tiết chức năng. Nó thường đề cập đến những đổi thay mà nhân vật vấp phải, đôi khi nhân vật phát biểu hoặc cảm nhận về những đổi thay này. Nó lưu ý với người đọc về một khả năng biến động sau đó hay là chỉ ra cho người đọc những khác biệt (hoặc không khác biệt) của (nhân vật và ) hiện thực trước và sau cuộc phiêu lưu của nhân vật.

Dịch là Khác: Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du đến Shakespeare của Bùi Giáng

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

index index

Dịch thuật ở Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển hết sức năng động. Không thể không ghi nhận vai trò lớn của các dịch giả, các nhà xuất bản trong nỗ lực giúp cho độc giả Việt Nam tiếp cận với những giá trị kinh điển, tinh hoa và cập nhật của tri thức nhân loại. Cùng với sự phát triển của dịch thuật, phê bình dịch thuật ở Việt Nam cũng bắt đầu định hình. Ý thức thận trọng, hoài nghi trước các dịch phẩm có lẽ là đặc điểm nổi bật của phê bình dịch thuật ở giai đoạn này. Nhưng phải chăng liệu phê bình dịch thuật chỉ có chức năng giám sát, kiểm định bản dịch? Phải chăng đó là cách duy nhất để phê bình góp phần cải thiện chất lượng dịch thuật?

Tích hợp Đông-Tây, truyền thống và hiện đại trong kịch Rabindranath Tagore

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)
(Phan Thị Thu Hiền, In trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN)

DẪN NHẬP

Rabindranath Tagore không chỉ là nhà thơ lớn đầu tiên của Châu Á giành giải thưởng Nobel với thi phẩm Gitanjali (Thơ Dâng) mà còn là nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, triết gia lừng danh, nhạc sĩ và họa sĩ kỳ tài, nhà giáo dục và nhà cải cách xã hội vĩ đại. Ông được xưng tụng như “vị thánh toàn năng”, “Leonard de Vinci của Thời đại Phục hưng Ấn Độ”, một trong “Tam vị thánh thần thời hiện đại”[1] đã tái sinh sức mạnh văn hóa truyền thống của dân tộc trong sự hòa hợp với những giá trị văn minh của Âu Mỹ nói riêng và những tinh hoa của thế giới nói chung.   

Nghiên cứu và giảng dạy Edgar Allan Poe ở Việt Nam

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 4.50 (1 Vote)

           Tóm tắt:

           Edgar Allan Poe (E.A.Poe) là tác giả tiêu biểu đầu tiên của nền văn học Mỹ được dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX. Dấu ấn của ông khá đậm nét trong sáng tác của nhiều nhà văn nhà thơ Việt Nam ở quan niệm nghệ thuật, đề tài, chủ đề, và thể loại truyện trinh thám và kinh dị.. Tuy nhiên, cho đến nay, văn học Mỹ và Edgar Allan Poe vẫn chưa có một vị trí xứng đáng trong chương trình giáo dục đai học ngành Ngữ Văn ở nước ta như các nền văn học lớn: Trung Hoa, Pháp và Nga…Trong thực tế, từ trước 1945, tác phẩm của Poe từng được giảng dạy qua các bản tiếng Pháp. Giai đoạn 1954 đến 1975, tuy không chính thức được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn nhưng E.A. Poe luôn có mặt trong các chương trình tiếng Anh. Đến nay, cả chương trình đào tạo cử nhân Ngữ văn cũng như Tiếng Anh, E.A.Poe được coi là một tác giả quan trọng không thể không đề cập đến. Độc giả của E.A.Poe từ một thiểu số độc giả truyện trinh thám đã mở rộng sang các thể loại khác với thị hiếu thẩm mỹ ngày càng cao. Thế nhưng, theo kết quả điều tra xã hội học của chúng tôi, việc nghiên cứu và giảng dạy Edgar Poe trong nhà trường vẫn còn những khoảng trống, không được đưa vào chương trình chính thức, hoàn toàn phụ thuộc vào sở thích của người dạy. Nhiều độc giả trẻ hoàn toàn tìm đến E.A.Poe đơn thuần như là nhu cầu giải trí. Điều này cũng là một bất lợi cho văn học Việt Nam trên con đường hội nhập hiện nay. Bởi, Văn học Mỹ là một nền văn học đặc biệt, một nền văn học đa sắc tộc, luôn ở mũi nhọn của nhiều cuộc cách tân cả về hình thức lẫn nội dung, tư tưởng và mỹ học. Và E.A.Poe là một hiện tượng đặc biệt chưa được tìm hiểu đầy đủ.

Yoshimasu Gozo và khả năng sáng tạo xuyên văn hóa trong thơ ca

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 (TS. La Mai Thi Gia, Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, tháng 4/2015)

1.         Yoshimasu Gozo và sự khởi hành khỏi những ràng buộc truyền thống

           Thơ ca Nhật Bản hiện đại đã trải qua hai cuộc cách mạng lớn trong suốt thế kỉ XX, cuộc cách mạng thứ nhất diễn ra vào đầu những năm 20 chủ yếu dưới sự bùng nổ của những quan niệm nghệ thuật mới mẻ từ phương Tây truyền sang Nhật, tạo nên một phong trào phá hủy các hình thức thơ ca Nhật truyền thống. Cuộc cách mạng thứ hai nổ ra vào cuối những năm 60 khi “thời đại thơ ca hậu chiến” kết thúc. Thời gian này, các nhà thơ trẻ tuổi có tài năng nổi bật của Nhật Bản như Amazawa Taijiro và Yoshimasu Gozo cùng tranh đấu hết sức quyết liệt cho những quan niệm mới về thơ ca của mình, họ ca tụng quyền lực sáng tạo của ngôn ngữ trong sáng tác thơ ca. Thơ của họ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phong cách của nhóm Beatnik “thơ ca hành động” từ nước Mĩ. [1]

Nỗi đau đậm tính nhân văn của Trương Hỗ qua một bài cung từ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 

          Hai dân tộc Việt - Trung với phương tiện đồng văn, trong quá trình sinh tồn, phát triển, trải qua nhiều nghìn năm, đã có sự tiếp xúc, biến đổi sâu sắc về văn hóa cho riêng mình. Sự tiếp biến văn hóa (Acculturation) đó cũng đồng thời tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Điều cần lưu ý là, bất kỳ một nền văn hóa nào, bên cạnh những tinh hoa với cái hay cái đẹp bao giờ cũng có mặt trái của nó. Chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, một mặt, đã tạo được những thành lũy tinh thần, vật chất để giúp tự bảo vệ trước nhiều làn sóng xâm lược đến từ nhiều phía. Nhưng mặt khác cũng đồng thời xây dựng trong lòng nó một loại thành lũy của khắc chế bất công mà tiêu biểu là chế độ gia trưởng, trong đó vai trò người phụ nữ vẫn bị xem là thứ yếu so với đàn ông.

Bối cảnh du nhập chủ nghĩa siêu thực tại Nhật Bản

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

(Lê Thuỵ Tường Vi, Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4 - 2015)

            Những học giả phương Tây khi tiếp xúc với nghệ thuật Nhật Bản hiện đại đều ngỡ ngàng về sức ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa siêu thực. Từ một trào lưu chỉ mới du nhập vào đây những năm 20 của thế kỷ trước, chỉ 10 năm sau, Nhật Bản đã có hơn 500 nghệ sĩ theo khuynh hướng siêu thực chủ nghĩa(1) và đến đầu thế kỷ XXI là gần 3.000 người(2) ở các lĩnh vực văn chương, hội hoạ, điện ảnh… Trong một công trình công bố vào năm 1999, John Solt cũng xác nhận không nơi nào trên thế giới, ngay cả tại Pháp – quê hương của chủ nghĩa siêu thực, ảnh hưởng của trào lưu này sâu sắc bằng Nhật Bản.

Văn học vô sản Nhật Bản qua một số tác phẩm tiêu biểu

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Nguyễn Thị Phương Thúy (*)

  1. Văn học vô sản Nhật Bản và những tác phẩm được dịch ở Việt Nam

Văn học vô sản (proletarian literature) hay còn gọi là văn học công nhân (working-class literature), đúng như tên gọi của nó, là dòng văn học viết về những người lao động nghèo khổ thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội, trong đó chủ yếu là những người công nhân vô sản. Những cuộc cách mạng vô sản nổ ra ở nhiều quốc gia trên thế giới vào nửa cuối thế kỷ 19 đã tạo tiền đề cho sự ra đời của dòng văn học này. Phong trào công nhân Chartism những năm 1838-1848 đã khởi xướng trào lưu thơ ca cách mạng ở Anh. Cách mạng vô sản Pháp 1871 khơi nguồn cho văn học công xã Paris với đại diện tiêu biểu là nhà thơ Eugène Pottier, tác giả bài Quốc tế ca. Về sau, những đặc điểm của dòng văn học này được hệ thống hoá thành một phương pháp sáng tác cụ thể, lấy học thuyết, tư tưởng Marx-Lenin làm điểm tựa và đặt dưới sự định hướng của đảng cộng sản, đó là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa (socialist realism). Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa từng trở thành phương pháp sáng tác phổ biến, thậm chí chủ yếu, ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam suốt một thời gian dài.

Đặc điểm "đồng sáng tác" và chủ đề "mẹ và con gái" trong một số tác phẩm văn học di dân Việt Nam tại Hoa Kỳ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)
 (Trần Lê Hoa Tranh, Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4 - 2015)

            1. Các thế hệ nhà văn nữ Việt Nam tại Hoa Kỳ

            Theo tìm hiểu và thống kê, hiện có khoảng 70 nhà văn nữ Việt Nam đang sống và sáng tác tại Mỹ. Tuy vậy, con số này chỉ là số người viết, có sách, còn số nhà văn nữ thật sự được đánh giá cao chỉ khoảng 30 người. Đội ngũ nhà văn nữ bao gồm cả ba thế hệ một, một rưỡi và hai.

Văn học Việt Nam và Nhật Bản trên con đường đi đến những giá trị toàn cầu

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Đoàn Lê Giang*

            Toàn cầu hoá nhìn từ lịch sử

Toàn cầu hoá không đến từ ước mơ về “thế giới đại đồng” như trong kinh điển của Nho gia, mà đến từ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và kỹ thuật của các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây từ thế kỷ XVI-XVII, đúng như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx và Engels đã viết năm 1848: Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục. Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản. Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó” ([1]).

Người nghe chuyện trong Nghìn lẻ một đêm và Mười ngày

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 (Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4 - 2015)

 

https://katongboyreads.files.wordpress.com/2012/05/dsc03443.jpg

             Trong tiến trình văn học thế giới, nghệ thuật tự sự luôn có những vận động và những thành tựu. Hai tác phẩm Nghìn lẻ một đêmMười ngày đã trở thành những điển hình quan trọng của văn học phương Đông và văn học phương Tây trong tiến trình đó. Thường được nêu cạnh nhau như là những đại diện cho các tác phẩm thuộc kiểu truyện khung, Nghìn lẻ một đêmMười ngày hấp dẫn người nghiên cứu văn học ở nhiều phương diện. Trong nghiên cứu về nghệ thuật tự sự của Nghìn lẻ một đêmMười ngày, kiểu truyện, kết cấu truyện lồng truyện, hành động kể chuyện, hình tượng người kể chuyện, v.v. vốn là những vấn đề hấp dẫn cần nhiều lý giải. Ở bài viết này, chúng tôi trình bày về hình tượng người nghe chuyện trong Nghìn lẻ một đêmMười ngày như một cách để tìm hiểu kỹ càng hơn về giá trị của hai tác phẩm trong nghệ thuật tự sự.

Lev Tolstoy và vấn đề phụ nữ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Lev Tolstoy bước vào văn học đầu thập niên 1850, hơn mười năm sau đã khẳng định vị trí của một nhà văn lớn với kiệt tác vĩ đại Chiến tranh và hoà bình. Thời gian chín muồi sáng tác của nhà văn (thập niên 60-70) cũng là thời kỳ trị vì của Alexandr đệ Nhị. Những cải cách được Nga hoàng tiến hành đầu thập niên 1860 có những tác động lớn đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá Nga. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản kéo theo sự tan rã của chế độ phong kiến gia trưởng, xuất hiện những giai cấp mới (tư sản, vô sản), và xuất hiện một tầng lớp được gọi tên là “trí thức bình dân” (raznochinskaya intelligentsia). Chủ yếu thông qua lớp “trí thức bình dân” này, những tư tưởng dân chủ cách mạng được phổ biến ở Nga, làm dấy lên những cuộc vận động xã hội, trong đó có phong trào giải phóng phụ nữ. Những người trí thức tiến bộ không bằng lòng với địa vị của phụ nữ trong xã hội Nga, họ cho rằng đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ cũng là một hình thức khẳng định giá trị của con người, là một phần của cuộc đấu tranh dân chủ xã hội.

Đặc điểm sáng tác của truyện thơ Thái Lan

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 (Đào Thị Diễm Trang, Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4 - 2015)

      DẪN NHẬP

           Từ khoảng thế kỷ XVII trở đi, truyện thơ trở thành thể loại văn học chủ đạo tại khu vực Đông Nam Á. Nguyễn Tấn Đắc nhận định: “Đến những thế kỷ XVII, XVIII, XIX, nền văn học viết truyền thống đạt đến đỉnh cao của nó. Ở Việt Nam xuất hiện Truyện Kiều và hàng loạt tác phẩm khác. Ở Lào có Xỉn Xay và nhiều truyện thơ. Ở Thái có Khủn Cháng Khủn Phẻng, Aphaymani. Ở Inđônexia có hàng loạt Hikayat, Sjair.”[1]. Một điều có thể dễ dàng nhận thấy là truyện thơ Thái Lan đã bắt kịp dòng chảy văn học của khu vực và phát triển mạnh qua rất nhiều thành tựu như: Ramakien, Inao, Phra Lo, Sang Thong, Chanthakhorop (Mora), Krai Thong, Nàng Kaeo mặt ngựa,  Khun Chang Khun Phaen, Phra Abhai Mani… Để có được các tác phẩm truyện thơ này, công lao của các vị vua Thái Lan thời kì Chakri là không hề nhỏ. Ý thức gầy dựng lại nền văn học của vương quốc sau cuộc binh biến với người Miến Điện năm 1767 đã khiến các vị vua Rama và lực lượng thi sĩ cung đình dốc sức sáng tạo nên các tác phẩm truyện thơ. Về phương diện nội dung, truyện thơ Thái Lan được sáng tác tựa trên ba yếu tố: thứ nhất, tiếp biến sử thi, kịch thơ, thơ Ấn Độ; thứ hai, tận dụng lại nội dung của nguồn truyện cổ bản địa; thứ ba, sử dụng các đề tài lịch sử xã hội. Bài viết này giới thiệu hai trong số các đặc điểm sáng tác của truyện thơ Thái Lan: đặc điểm của đội ngũ sáng tác và đặc điểm của nội dung sáng tác.

Giao lưu văn học Việt - Nhật qua thể loại thơ Haiku Việt

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

             Assoc. Prof. Dr. Nguyen Cong Ly

Faculty of Literature and Linguistics

University of Social Sciences and Humanities –

Vienam National University HoChiMinh city

Hình tượng nhân vật người kể chuyện trong truyện Lỗ Tấn

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 (Lương Duy Thứ, Tạp chí Văn học, số 10/2001)

 

 

 

          I.1. Trước đây, trong cuốn sách nhỏ Mấy vấn đề thi pháp Lỗ Tấn, tôi có tìm hiểu vấn đề nhân vật người kể chuyện trong truyện ngắn Lỗ Tấn. Nay xem xét lại, bổ sung thêm, mong muốn nhận được ý kiến của các đồng nghiệp để có thể sớm hoàn thiện cuốn sách Thi pháp Lỗ Tấn mà tôi ấp ủ từ lâu.

Việt Nam trong bối cảnh văn học di dân các nước Đông Á tại Hoa Kỳ

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)
-Trần Lê Hoa Tranh, TS, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH và NV Tp.HCM-

I.        VĂN HỌC DI DÂN TẠI HOA KỲ

I.1. Di dân

       Di cư hay di dân được coi là đặc trưng của loài người.Từ nguồn gốc lúc đầu là ở Châu Phi, các nhóm người đã toả đi các vùng đất khác của hành tinh này. Sự di cư thường kéo theo sự phổ biến các tư tưởng văn hoá, tập quán kỹ thuật từ vùng này sang vùng khác. Nguyên nhân di cư của các nhóm lớn dân số thường là do thừa dân số, sức ép dân số quá lớn, thiếu tài nguyên cơ bản. Ví dụ: sự di cư từ châu Âu sang châu Mỹ, Úc, New Zeland.

Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Nga hiện đại

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 (Trần Thị Phương Phương, Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học  số 4-2015)

1.                  Hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại

             Hậu hiện đại (postmodernity) là một trong những khái niệm quan trọng trong các lý thuyết hiện đại về xã hội cũng như văn hóa, văn học. Nó chỉ một giai đoạn lịch sử, bắt đầu từ cuối thời đại công nghiệp (tức từ giữa thế kỷ XX) cho đến ngày nay – tức thời đại hậu công nghiệp.[1]

Người thất chí của Hồ Biểu Chánh – một hiện tượng phóng tác, nhìn từ quan điểm loại hình lịch sử

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)
Tóm tắt: Loại hình lịch sử là sản phẩm của nghiên cứu văn học Liên xô cũ và vẫn được duy trì cho đến nay. Có thể gọi đó là "trường phái Nga" trong văn học so sánh, bên cạnh các trường phái Pháp và Mỹ. So sánh loại hình lịch sử dựa trên quan điểm triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét văn học như một phạm trù lịch sử có những mối quan hệ bên trong và bên ngoài dân tộc. Văn học nằm trong bối cảnh của dân tộc, đồng thời cũng nằm trong bối cảnh của thế giới, vì vậy có vấn đề văn học dân tộc và văn học thế giới, vấn đề tiến trình phát triển của văn học trong phạm vi dân tộc và phạm vi thế giới. Các nhà nghiên cứu loại hình học cho rằng những quy luật chung của quá trình phát triển lịch sử cho phép nói đến những hiện tượng tương đồng xuất hiện trong các nền văn học khác nhau mà không phải là kết quả của sự giao lưu trực tiếp, và từ đó có thể nói đến những quy luật phát triển trên bình diện thế giới của văn học, đến sự phân chia các hiện tượng văn học theo những loại hình lịch sử khác nhau.

Đọc lại nhân vật mở đầu Nho Lâm Ngoại Sử theo đúng cách đọc tự sự tiểu thuyết

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Tóm tắt. Ngay từ đầu hồi truyện, nhà tiểu thuyết dùng mấy chữ “uy nghi lỗi lạc” để giới thiệu nhân vật chính của thiên truyện. Thế nhưng chúng tôi cho rằng cái “uy nghi lỗi lạc” của Vương Miện ở đây không ở những là thanh khiết, cao nhã, tiết tháo mà tập trung biểu hiện ra ở chỗ Vương hơn bất cứ ai đã tỏ ra quý giá đời sống tự do của bản thân đến độ nào. Vương không cho giá trị của con người là công danh, phú quý, lập công, sáng nghiệp, trước tác truyền danh. Đối với Vương được sống cuộc sống thân ta thuộc về ta, làm lấy mà ăn, còn dư thời gian thì vẽ tranh, uống rượu, hàn huyên cùng bạn bên mình là đã tốt rồi. Cho nên nói cho trúng, Vương Miện không phải là “trốn cõi tục” mà là chỉ muốn “tránh thế quyền”. Theo quan điểm của chúng tôi, câu chuyện Vương Miện là chuyện lánh trốn chính quyền chứ không phải là chuyện ẩn dật truyền thống. Hồi truyện mở đầu tiểu thuyết này không phải là bài ca nhiệt thành đời sống ẩn dật mà là tiếng than dài cho mối quan hệ giữa chính quyền và trí thức – những kẻ thường vẫn được xem là tự giác hơn dân chúng trong ý thức về số phận mình trong buổi thay triều đổi đại, bãi bể nương dâu.

Từ khóa:uy nghi lỗi lạc” , thanh khiết, cao nhã, “trốn cõi tục”, “tránh thế quyền”, mối quan hệ giữa chính quyền và trí thức. 

Ngay từ đầu hồi truyện nhà tiểu thuyết dùng mấy chữ “uy nghi lỗi lạc” để giới thiệu nhân vật chính của thiên truyện. Thế nhưng chúng tôi cho rằng cái “uy nghi lỗi lạc” của Vương Miện ở đây không ở những là thanh khiết, cao nhã, tiết tháo (là những nét màu mà tự sự liệt truyện luôn sẵn và thích dùng) mà tập trung biểu hiện ra ở chỗ Vương hơn bất cứ ai đã tỏ ra quý giá đời sống tự do của bản thân đến độ nào. Vương không cho giá trị của con người là công danh, phú quý, lập công, sáng nghiệp, trước tác truyền danh (là những đề tài “tủ” của sử truyện). Tự sự hồi truyện mở đầu tiểu thuyết này nếu được thưởng thức đúng cách như tuồng ám thị độc giả gẫm ra rằng -  đối với Vương Miện (trong một thiên sử-kí “người thật việc thực” đây chính là “truyện chủ传主”) được sống cuộc sống thân ta thuộc về ta, làm lấy mà ăn, còn dư thời gian thì vẽ tranh, uống rượu, hàn huyên cùng bạn bên mình là đã tốt lắm rồi.

Tolstoy - Độc giả, Tolstoy - Tác giả (Trường hợp "Người tù Kavkaz")

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Năm 1891, một nhà kinh doanh xuất bản ở Petersburg tên M.M.Lederle dự định xuất bản một cuốn hướng dẫn độc giả lựa chọn sách với tiêu đề “Ý kiến của những người Nga về những cuốn sách hay nhất để đọc”, và xin ý kiến của đại văn hào Nga Lev Tolstoy, người vốn trước đó đã rất hào hứng với ý tưởng này. Trong bức thư trả lời Lederle vào ngày 25 tháng 10 năm 1891[1], Tolstoy liệt kê 46 tên sách, trong đó có Kinh Thánh của người Do Thái, các sử thi cổ đại Hy Lạp, các kinh sách của Trung Hoa (Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử), Lalitavistara (Phổ Diệu Kinh) của Phật giáo Ấn Độ, các sử thi dân gian Nga, các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ thế kỷ XVIII, XIX của Pháp (J.J.Rousseau, V.Hugo), của Nga (A.S.Pushkin, N.V.Gogol, F.I.Tyutchev, A.A.Fet), tiểu thuyết của các nữ sĩ Anh (E.Wood, G.Elliot)… như những tác phẩm gây ấn tượng rất lớn đối với nhà văn trong 5 giai đoạn từ khi ông 14 tuổi đến năm 63 tuổi. Nếu như ở thời tuổi trẻ, Tolstoy đọc chủ yếu bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh, thì giai đoạn trung niên (sau 50 tuổi), ngoài các sinh ngữ trên, nhà văn còn đọc nhiều qua các ngôn ngữ cổ. Có những tác phẩm được nhắc lại trong danh sách hai lần, như Kinh Thánh, Iliad, Odyssey bởi được đọc qua cả bản dịch tiếng Nga lẫn nguyên bản tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp (với những mức độ tác động khác nhau, khi đọc trên nguyên bản, nhà văn có ấn tượng mạnh hơn).

Thành viên trực tuyến

Đang có 497 khách và không thành viên đang online

Thông tin truy cập

36027110
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
4105
10280
36027110

IP của bạn: 107.22.114.194
27-04-2017 12:12

Sách đang bán tại Khoa Văn học

Liên hệ: cô Thùy Nương, SĐT: 0908505486

Giá: 350.000 đ(1 bộ - 2 tập)

Giá: 270.000đ

Giá: 270.000đ

Giá: 240.000đ

Giá: 160.000đ

Giá: 180.000đ

Giá: 90.000đ

Giá: 98.000đ

Giá: 85.000đ

Giá: 190.000đ

Giá:140.000đ

Giá: 50.000đ

Giá: 130.000đ

Giá: 98.000đ

Giá: 120.000đ

Không còn hàng