Văn học Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã sớm có những tiểu thuyết tâm lý xã hội và sớm đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, như Thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản với tấn bi kịch của cá nhân, Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu với vấn đề tính dục, Lâm Kiều Loan (1932) của Phan Thị Bạch Vân với vấn đề nữ quyền,... Nhưng nói chung, thế mạnh của các nhà văn Nam Bộ không phải là tiểu thuyết tâm lý, sở trường của họ vẫn là tiểu thuyết hành động. Nhà văn Ngọc Sơn bên cạnh việc viết tiểu thuyết tâm lý xã hội còn dùng bút danh Phi Long để viết tiểu thuyết trinh thám. Chất phiêu lưu mạo hiểm, nghĩa hiệp với những tình tiết gay cấn, ly kì đã làm nên sức hút cho những tiểu thuyết thế sự của Nam Đình Nguyễn Thế Phương.

PGS.TS. NGUYỄN CÔNG LÝ

Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP HCM

Tóm tắt:

Bài viết giới thiệu diện mạo thơ sứ trình trung đại Việt Nam viết về những di tích văn hoá, thắng cảnh ở Hồ Nam, Trung Quốc, mà theo thống kê chưa đầy đủ, thơ trung đại viết về đề tài này hiện có đến trăm bài. Từ diện, bài viết đi sâu vào điểm, bằng cách phân tích giới thiệu thơ của Nguyễn Trung Ngạn viết về Hồ Nam. Theo tình hình tư liệu hiện nay, có thể nói Nguyễn Trung Ngạn là nhà thơ Việt Nam đầu tiên viết về Hồ Nam, lúc ông đi sứ Trung Quốc năm 26 tuổi, hiện còn 13 bài có chép trong Giới Hiên thi tập, với ngôn ngữ bình dị, trong sáng mà tinh tế, tài hoa; lời thơ hùng hồn mạnh mẽ; chất thơ phóng khoáng với bút pháp hiện thực trữ tình.

Nguyễn Thị Phương Thuý

Khoa Văn học và Ngôn ngữ,

Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM

Lịch sử văn học, báo chí quốc ngữ nửa đầu thế kỳ XX đã quen thuộc với việc nhiều nhà văn, nhà hoạt động báo chí miền Bắc, miền Trung vào Nam gây dựng sự nghiệp và trở thành những cây bút lừng danh. Báo chí miền Nam thời đó có những tờ là nơi tụ hội của các tác giả đang sinh sống trên khắp ba miền. Trong khi đó, hiếm có nhà văn miền Nam nào lại chọn báo chí miền Bắc làm nơi góp tiếng. Có thể bởi Sài Gòn – Gia Định vốn là vùng đất mới phóng khoáng và năng động, dễ đón nhận cái mới từ phương xa nên cũng dễ chấp nhận sự khác biệt và đa dạng của những vùng miền trong nước, không chỉ trên lĩnh vực văn chương mà còn cả trong lối sống và sinh hoạt. Ngược lại Hà Nội từng là kinh kỳ ngàn năm, có niềm kiêu hãnh và khép kín riêng. Hơn nữa, trong cái nhìn của các nhà văn miền Bắc thời bấy giờ, văn chương Nam bộ không được gọi là văn chương. Họ đã từng “bỏ  quên” văn học Nam bộ ngay trong những ngày nó phát triển thịnh vượng nhất.

Sự sinh thành và phát triển của văn học quốc ngữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX gắn liền với một nền báo chí non trẻ mà sôi động. Báo chí khép lại một thời kì văn chương được sáng tác chỉ để ngâm vịnh thù tạc, sau đó cất vào những tàng kinh các để dành cho con cháu; hay có phổ biến cũng rất hạn chế bởi cách in ấn thạch bản, mộc bản rất công phu và không in được nhiều. Hầu hết các nhà văn đều trưởng thành từ cái nôi báo chí, đó là nơi nuôi dưỡng tình yêu văn chương, mài giũa ngòi bút, thể hiện quan niệm, tư tưởng và cũng là nơi tranh luận, bút chiến… Báo Sống là một trong rất nhiều những tờ báo ở Sài Gòn ngày ấy, nhưng lại là một trong không nhiều những tờ báo chuyên về văn học, tạo lập  được  một  phong  cách,  trường  phái  riêng,  giành  được  chỗ  đứng  trong  lòng độc  giả đương thời. Thế nhưng không đầy một năm tồn tại ngắn ngủi giữa hàng trăm tờ báo, trong đó nhiều tờ báo lớn có tuổi đời đến mấy mươi năm, đã khiến báo Sống dần bị lãng quên. Tìm hiểu về mảng văn học trên báo Sống là một đóng góp nhỏ vào công việc lớn hôm nay: khôi phục lại chân dung nền văn học một thời bị bỏ quên, bỏ qua.

Lâu nay đọc các ý kiến bàn về tiểu thuyết, bên cạnh những tên tuổi như Phạm Quỳnh, Nhất Linh, Vũ Bằng… chúng ta thấy các nhà nghiên cứu hay nhắc đến Trúc Hà với bài Lược khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết in trên Nam Phong tạp chí năm 1932. Bài phóng sự Hội chợ năm nay có những gì? của ông cũng được chọn in trong tuyển tập Phóng sự Việt Nam 1932-1945 do Nxb.Văn học ấn hành năm 2000. Nhưng có lẽ ít ai biết Trúc Hà lại là một nhà văn quê tận Hà Tiên, miền cực Tây Nam của đất nước, một trong Hà Tiên tứ tuyệt (gồm Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà) lừng lẫy một thời.

Trong số những nhà văn góp phần làm nên thành tựu của văn chương Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, Tân Dân Tử (1) là khuôn mặt tương đối nổi bật. Thế mạnh của ông là tiểu thuyết lịch sử. Sự nghiệp sáng tác của ông đã được các nhà nghiên cứu đánh giá cao (2).

   

1. Trong lịch sử của dân tộc ta có nhiều nhân vật được người đời tôn vinh với nhiều danh vị khác nhau mà những vinh danh đó đều rất xứng đáng cả dù chúng chưa thể hiện hết và đủ tầm vóc những gì mà người đó đã cống hiến cho đời. Trần Nhân Tông chính là một trong những danh nhân đó.

I. Việt Đông là bút danh. Ông tên thật là Lưu Thoại Khải. Hiện vẫn chưa biết năm sinh và mất, thân thế cùng quê quán của ông. Căn cứ vào tư liệu hiện còn thì Việt Đông bắt đầu viết văn từ năm 1930. Từ năm 1931 về sau, ông cùng Ellen Anh Hoa viết chung một loạt tác phẩm với độ dày mỗi cuốn 32 trang và dự định ra mắt bạn đọc mỗi tuần một cuốn. Những tác phẩm này, ông tập hợp trong bộ Việt Đông văn tập ký tên là Văn khoa học sĩ. Chi tiết trên được nhà văn ghi rõ ở trang cuối cuốn tiểu thuyết Tiếng súng lục liên, do nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, ấn hành năm 1931. Theo thông tin quảng cáo ở một số bìa sách thì rất có thể ông là chồng của nữ sĩ Ellen Anh Hoa, tức Huỳnh Thị Anh Hoa và hai người có viết chung một số tiểu thuyết như Ai người hẹn ngọc; Duyên chàng nợ thiếp; Thân gái dặm trường; Con ở chúa nhà ...

Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận dân tộc ta vốn có tinh thần dân chủ và sống phóng khoáng nên từ khi Tam giáo vào Việt Nam, cha ông ta đã biết tự mở cửa đón nhận những tinh hoa của hệ tư tưởng ấy, chọn lọc, dung hợp và biến chúng thành cái của mình, phù hợp với điều hiện và hoàn cảnh sống của mình, phục vụ cho mình.

 

Đức Tăng thống Khuông Việt Thái sư Ngô Chân Lưu sinh năm 932 [i] và tịch ngày rằm tháng 2 năm Tân Hợi (1011), là đệ tử truyền thừa của thiền sư Vân Phong (? – 957), thế hệ thứ tư dòng thiền Vô Ngôn Thông, trụ trì chùa Phật Đà, hương Cát Lợi, Thường Lạc [ii], thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế [iii]. Ngài có tướng mạo khôi ngô, chí chuộng phóng khoáng, thuở nhỏ theo nghiệp Nho, lớn lên quy y Phật, thọ Cụ túc giới [iv] với thiền sư Vân Phong ở chùa Khai Quốc. Năm 40 tuổi danh tiếng vang tới triều đình, được vua Đinh Tiên Hoàng mời về, bái làm Tăng thống, ban hiệu Khuông Việt Thái sư. Sau khi giúp các vương triều nhà Đinh (968 – 980) và nhà Tiền Lê (981 – 1009) ổn định đất nước trong buổi đầu kỷ nguyên độc lập thì thiền sư lấy cớ già yếu, từ giã triều đình, trở về núi Du Hý ở quê nhà Thường Lạc lập chùa trụ trì, rồi truyền tâm ấn cho đệ tử là Đa Bảo. Thiền sư tịch năm thứ hai niên hiệu Thuận Thiên triều Lý Thái Tổ (1011) nhằm ngày rằm tháng hai.

 1. Phan Thị Bạch Vân và Nữ lưu thư quán Gò Công:

Trong bài Xét về sự sinh hoạt của phụ nữ nước ta trên báo Phụ nữ Tân Văn  (PNTV) số 5 - 1929, Phan Khôi có viết một câu như sau: “Mới vài ba năm nay, trong xã hội ta, nhứt là trong làng ngôn luận, có nứt ra một danh từ mới mà nhiều người lấy làm chú ý, ấy là “vấn đề phụ nữ””.

Cách dùng “nứt ra một danh từ mới” rất ngộ nghĩnh của Phan Khôi cho thấy ấn tượng về sự khai sinh “vấn đề phụ nữ” vào những năm đầu thế kỷ XX. Với sự khai sinh này, lần đầu tiên, tinh thần phụ nữ từ chỗ là phát hiện của một trào lưu xã hội đến chỗ hình thành nền văn hóa tri thức mới với “thế lực phụ nữ”[1].


·I.        Đặt vấn đề

Do hoàn cảnh lịch sử, Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp và do đó cũng tiếp nhận văn minh, văn hóa phương Tây sớm hơn so với các vùng miền khác. Văn học ở Nam Kỳ vì thế cũng đi tiên phong trong việc hiện đại hóa, trong đó tiểu thuyết quốc ngữ là thể loại phát triển mạnh mẽ nhất.

Văn học Phật giáo nói chung, văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng dứt khoát phải thể hiện giáo lý nhà Phật, mà cụ thể là thể hiện vấn đề về bản thể luận, về giải thoát luận và những con đường tu chứng. Để biểu lộ nội dung trên,văn học Phật giáo phải có một nghệ thuật tương xứng. Ở bài viết này sẽ đề cập mấy nét đặc sắc về nghệ thuật của văn học Phật giáo. Khi trình bày vấn đề,chúng tôi chọn văn học Phật giáo Lý-Trần để minh họa, bởi lẽ văn học Phật giáo Lý- Trần là kết tinh của những tinh hoa văn học Phật giáo Việt Nam.

1.

Có thể nói, các khái niệm: chữ quốc ngữ, báo chí, công chúng (public) và nền văn học mới chỉ đến với Việt Nam trong giai đoạn Pháp thuộc, khi xã hội này đã bắt đầu chuyển sang mô hình hiện đại. Ở đó, việc dạy và học để biết chữ; việc in ấn, mua bán và đọc báo; việc truyền bá và thưởng thức tác phẩm văn học … đã trở thành   một nhu cầu thực sự của đông đảo của người dân và là một hoạt động phổ biến toàn xã hội.

Nhà nghiên cứu Bằng Giang trong Sài Gòn cố sự cho rằng “tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách”, nhưng “các tác giả trên không để lại một tiếng vang nào ngoại trừ Phan Thị Bạch Vân, chủ nhân Nữ lưu thơ quán ở Gò Công”[1].

Phan Mạnh Hùng

(ĐH KHXH & NV TP. HCM)

1. Tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX viết về con người và lịch sử gắn với vùng đất Thăng Long – Hà Nội có các bộ Lê triều Lý thị - 1931, Tiền Lê vận mạt - 1932, Việt Nam Lý trung hưng - 1929, Trần Hưng ĐạoViệt Nam Lê Thái Tổ -1933 của Phạm Minh Kiên (? - ?), - của Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947), Nặng gánh cang thường - 1930 của Hồ Biểu Chánh (1885-1958)(1). Đây là những bộ tiểu thuyết lấy cảm hứng từ lịch sử dân tộc và được viết bằng chữ Quốc ngữ La tinh, thể hiện tinh thần “trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” của các nhà văn xuất hiện vào giai đoạn tương đối sớm ở Nam Bộ. Nội dung các bộ tiểu thuyết này tập trung vào hai vấn đề chính là xây dựng đất nước và chống ngoại xâm của dân tộc ta từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, với các danh nhân lịch sử Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên… Thiết nghĩ, lịch sử ngàn năm của dân tộc không phải là lịch sử của riêng Thăng Long – Hà Nội, nhưng trong bao lớp thăng trầm hưng phế của các thời đại, triều đại, Thăng Long – Hà Nội luôn là tâm điểm của lịch sử, là biểu tượng của sức mạnh và sự thống nhất đất nước. Đầu thế kỷ XX, trong điều kiện đất nước bị thực dân xâm lược, các nhà văn Nam Bộ đã làm sống lại những chặng đường, sự kiện lịch sử hào hùng và cũng là một cách thể hiện tinh thần dân tộc, qua đó góp phần khơi gợi, cổ vũ các phong trào đấu tranh yêu nước đang ngày càng sục sôi của đồng bào cả nước. Lần giở lại các trang viết này, chúng ta sẽ thấy được ý thức và tình cảm của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX đối với lịch sử ngàn năm của dân tộc.

Văn học Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là một giai đoạn văn học mang tính chất giao thời, bắt đầu chịu ảnh hưởng của phương Tây nhưng đồng thời vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu đậm từ nền văn học Trung Hoa. Văn học Nam Bộ cũng không thoát khỏi tình cảnh ấy, nhưng do hoàn cảnh lịch sử, địa lý, văn học Nam Bộ cũng có những đặc điểm riêng, như ở mảng văn học dịch chẳng hạn.

Phan Mạnh Hùng (*)

TÓM TẮT

 

Phiên dịch quốc ngữ đã đóng một vai trò kiến tạo to lớn trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam cũng như các nước khác ở Châu Á đầu thế kỷ XX. Ở Nam Kỳ phong trào phiên dịch tiểu thuyết truyền thống Trung Hoa diễn ra sôi nổi. Phong trào dịch thuật ấy đã có ảnh hưởng đối với khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết lịch sử, một trong những khuynh hướng nổi bật của văn chương Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu cơ chế chuyển đổi, giao lưu và tương tác, sự ảnh hưởng của hoạt động phiên dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa và sáng tác tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong đời sống văn hóa lịch sử Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.

 

 

Hồ Biểu Chánh, nhà văn có thể xem như là Balzac của Nam Bộ, trong hồi ký Đời của tôi về văn nghệ đã cho rằng có ba tác phẩm ảnh hưởng nhiều đến việc chuyển hướng sáng tác của ông. Đó là Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Thiên Trung (tức Gilbert Trần Chánh Chiếu) và Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản(1).

         

Trong các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX, có lẽ Đông Hồ và Mộng Tuyết, đôi thi sĩ đất Hà Tiên, là hai người có nhiều tình cảm, gắn bó nhất đối với miền Bắc, với Thăng Long – Hà Nội. Có phải vì quê hương ở mảnh đất cực Tây của đất nước, giáp với biên giới xứ người, nên ý thức về tổ quốc luôn thường trực trong tâm hồn họ? Nhìn cảnh sắc Hà Tiên,  Đông Hồ như nhìn thấy một đất nước thu nhỏ: “Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi của Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hoá. Có một ít Đồ Sơn Cửa Tùng, một ít Nha Trang Long Hải” (1).

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhân cách văn hoá lớn, một nhà tư tuởng - triết học lớn, một đại thụ bao trùm bóng mát cả vườn cây văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Ông là người có khả năng “huyền cơ tham tạo hoá” (nắm được cái lẽ huyền vi của tạo hoá) như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có ngợi ca; là “một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở” như Phan Huy Chú đã xưng tụng. Văn chương của ông “không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà rất lưu loát, thanh đạm mà có nhiều vị” (…) “như gió mát trăng thanh, nghìn năm sau còn tưởng thấy” mà Vũ Khâm Lân đã nhận định trong bài Phả ký; “thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên” như Phan Huy Chú đã bình trong Văn tịch chí ở sách Lịch triều hiến chương loại chí. Ông sống gần trọn thế kỷ XVI, đã chứng kiến những cảnh tranh giành xâu xé giữa các tập đoàn phong kiến bấy giờ, hết Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn. Nếu trừ khoảng 8 năm ông ra làm quan cho nhà Mạc tại triều đình trung ương thì thời gian còn lại ông đều sống ở quê nhà (44 năm trước khi xuất chính và 44 năm sau khi cáo quan về vườn), nhờ thế mà ông có dịp gần gũi nhân dân, thấu hiểu dân tình khốn khổ trong cảnh binh đao. Đây cũng là một trong những yếu tố hình thành tư tưởng thân dân của Tuyết Giang phu tử, với tấm lòng ưu thời mẫn thế, tiên ưu hậu lạc đến già vẫn không nguôi, đúng như Vũ Khâm Lân đã viết: “Tuy ở nhà 44 năm mà không ngày nào quên đời, lòng ưu thời mến tục đều bộc lộ trong thơ” (Phả ký). Ông sống trên đất nhà Mạc, giữa thời chiến tranh tao loạn, vậy mà vẫn đứng vững như cây tùng, cây bách trong giá rét mùa đông; giữa những bão táp biến động của thời thế. Không chỉ thế mà lúc bấy giờ các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn đều nể vì, kính ngưỡng ông; họ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách phái những thủ túc thân cận đến cầu kiến ông, xin những lời mách bảo của ông về thời cuộc. Bao trùm lên cuộc đời ông, đã có nhiều câu chuyện lưu truyền trong dân gian với những giai thoại khá lý thú mà các cụ ngày trước đã từng chép lại trong các sách như Sấm Trạng Trình, Phả ký chẳng hạn. Bài viết nhỏ này sẽ đặt vấn đề bàn lại những gì mà các bậc tiên Nho đã viết xung quanh các mối quan hệ giữa Bạch Vân cư sĩ với Nguyễn Dữ và Phùng Khắc Khoan.

Thông tin truy cập

39426056
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
7122
6539
39426056

Thành viên trực tuyến

Đang có 365 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929