Chủ thể sáng tác và chủ thể tiếp nhận của tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX

(Phan Mạnh Hùng, Tạp chí ĐH Sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012)

 Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn ra sớm ở Nam Bộ, và bằng thể loại tiểu thuyết. Lựa chọn tiểu thuyết, thể loại không có bề dày trong truyền thống như thi ca, để làm thể loại mở màn và chủ lực cho quá trình đổi mới văn học là xuất phát từ cơ sở thực tế trong đời sống. Văn học Nam Bộ giai đoạn hiện đại hoá đã thừa hưởng được thành tựu của dòng văn xuôi tự sự chữ Nôm của khu vực văn chương Công giáo, sự hoàn thiện chữ Quốc ngữ, sự phát triển của báo chí, hệ thống nhà xuất bản, tầng lớp công chúng độc giả mới và những yếu tố mới thuộc hình thức thể loại được tiếp thu có ý thức của các nhà văn buổi đầu từ văn học nước ngoài, dưới sự tác động của đời sống kinh tế, văn hóa đang trên đà tư bản hóa đầu thế kỉ XX. Tiểu thuyết Nam Bộ được hình thành và phát triển trong bối cảnh nền văn học mới đang từng bước định hình, hoàn thiện về nhiều mặt, trước yêu cầu hiện đại hóa của xu thế hội nhập vào quỹ đạo văn học thế giới. Tìm hiểu tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, chúng ta không thể không đề cập đến những vấn đề quan thiết đối với tiểu thuyết như chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận.

            Những vấn đề vừa đề cập đã được quan tâm từ rất sớm và cho tới ngày nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, những vấn đề này cần được tìm hiểu kỹ dưới góc độ những vấn đề của văn học đại chúng. Văn học đại chúng (Mass literature) ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại. Văn học đại chúng có mục đích giải trí, phục vụ một lớp người bình dân, chiếm đa số trong xã hội. Văn học đại chúng, theo nghĩa rộng bao gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện tranh, thi ca bình dân, kịch bản phim truyền hình,… gắn liền với sự phát triển của các phương tiện truyền thông như báo chí, phim ảnh. Trong đó tiểu thuyết là thể loại chủ lực của văn học đại chúng.

1. Chủ thể sáng tác

Văn học Nam Bộ khởi đi từ thế hệ trí thức thứ nhất cuối thế kỷ XIX với: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản. Nhóm nhà văn này thực sự là cầu nối giữa văn học trung đại và văn học hiện đại. Họ là những người từng du học ở nước ngoài về, từng giữ những vai trò trọng yếu trong xã hội và có một điểm gặp gỡ chính là tấm lòng tha thiết đối với văn hóa, văn học nước nhà. Trương Vĩnh Ký (1837-1898), từng du học ở Pinhalu (Campuchia), Pinang (Mã Lai) với loại xuất sắc, biết nhiều ngoại ngữ, từng làm thông ngôn cho phái đoàn Phan Thanh Giản tại Pháp, trở về nước giảng dạy ở trường Hậu bổ (Collège de Administrateur Stagiaires) và trường Thông ngôn (Collège des Interprètes), thành lập tờ Gia Định báo. Trương Vĩnh Ký không những được coi là nhà thông thái của Việt Nam mà còn được thế giới khen tặng là một trong 18 nhà bác học của thế giới hồi đó. Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), từng du học ở trường đạo Pénang (Malaysia), sau khi tốt nghiệp về Sài Gòn làm Đốc phủ sứ, Giám đốc Ty phiên dịch văn án của Soái phủ Sài Gòn. Sau đó làm chủ bút tờ Gia Định báo. Trương Minh Ký (1855-1900), học trò của Trương Vĩnh Ký, từng du học ở Lycée d’Alger (Bắc Phi), về nước dạy tại trường Chasseloup Laubat, trường Thông Ngôn và trường Sĩ hoạn tại Sài Gòn. Ông làm cộng tác viên đắc lực cho tờ Gia Định báo, sau đó giữ vai trò chủ bút tờ này từ 1881 đến 1897. Nguyễn Trọng Quản (1865-1911), là học trò và con rể Trương Vĩnh Ký, từng đi du học ở Lycée d’Alger tại Algérie (1890) cùng với Diệp Văn Cương và Trương Minh Ký, về nước được bổ làm Giám đốc trường Sơ học Sài Gòn (1890-1900), là tác giả truyện Thầy Lazarô Phiền nổi tiếng. Các nhà văn thời kỳ đầu không đến với văn chương một cách trực tiếp mà gián tiếp qua vai trò một học giả, một người hoạt động văn hoá.

            Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của thế hệ thứ nhất chủ yếu là dịch thuật, biên khảo, làm báo và truyền bá chữ Quốc ngữ. Công việc của họ là một bước chuẩn bị quan trọng cho sự hình thành và phát triển của nền văn học mới. Các nhà văn chú ý tập trung vào việc phiên âm, chú giải, xuất bản các tác phẩm văn học của quá khứ, đồng thời dịch các tác phẩm văn học nước ngoài ra chữ Quốc ngữ La tinh, tiến hành thể nghiệm bằng cách sáng tác văn chương. Những việc làm của các nhà văn, nhà văn hoá này được tiến hành trong tư thế vừa kiên trì, bền bỉ, vừa ý thức cố gắng vượt thoát ra khỏi những ảnh hưởng của những lối mòn văn học vốn đã trở thành quán tính trong sáng tác và thưởng ngoạn văn chương. Trong lĩnh vực dịch thuật, phiên âm và chú giải, Trương Vĩnh Ký là người mở đầu và dẫn đầu. Ông am hiểu và có một sức bao quát sâu rộng ở nhiều lĩnh vực: Lịch sử - địa lý; ngôn ngữ học; dịch Hán văn, Pháp văn; sưu tầm phiên âm truyện nôm bình dân và văn học cổ điển Việt Nam; nghiên cứu các bộ môn khoa học xã hội khác. Đặc biệt, Trương Vĩnh Ký có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Gia Định báo (1865) - tờ báo quốc ngữ đầu tiên ghi dấu hình thành kiểu loại hình liên minh văn - báo thời cận đại ở nước ta. Huỳnh Tịnh Của, người cùng thời với Trương Vĩnh Ký, đã đứng ra chủ trì soạn thảo bộ từ điển giải nghĩa tiếng Việt đầu tiên Đại Nam quấc âm tự vị (1895) - góp phần thống nhất tiếng Việt và nâng nó lên thành thứ ngôn ngữ có khả năng biểu đạt mĩ văn. Những người đi sau, có người là học trò của Trương Vĩnh Ký như: Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản đã hợp sức, tiếp bước công việc của ông. Tác dụng của tài liệu dịch thuật, biên khảo của các nhà văn tiên phong không chỉ ở chỗ nó phổ biến kiến thức phổ thông cho mọi người, mà còn góp phần giúp chữ Quốc ngữ phát triển. Về mặt thử nghiệm sáng tác, Nguyễn Trọng Quản đã cắm cột mốc đầu tiên và đặt nền móng cho tiểu thuyết hiện đại theo lối phương Tây ở cả phương diện nội dung và hình thức: truyện Thầy Lazarô Phiền (1887). Cuốn tiểu thuyết này có ảnh hưởng đáng kể đối với các nhà văn lớp sau trong đó có Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Phạm Minh Kiên. Ngoài ra, những ghi chép tỉ mỉ, khoa học với bút lực linh hoạt của Trương Vĩnh Ký về phong tục tập quán, lịch sử văn hoá trong Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), Ghi về vương quốc Khmer (1876) đã mở đầu cho thể loại du ký sau này. Các bài văn dịch truyện ngụ ngôn của Trương Minh Ký trên Gia Định báo hay các ghi chép của Huỳnh Tịnh Của trong Chuyện giải buồn (1886) đã chứng minh cho khả năng biểu đạt thẩm mỹ của chữ Quốc ngữ La tinh, kích thích và cổ vũ các nhà văn đến sau tìm tòi, sáng tạo.

            Nhóm nhà văn du học thời kỳ đầu chủ yếu là những tín đồ Công giáo. Một vài người trong số họ rất được các giáo sĩ phương Tây yêu mến và đặt nhiều kỳ vọng. Thế nhưng, hoàn cảnh lịch sử xã hội đã đưa họ từ vị thế của một tín đồ xuất sắc, một người thông ngôn đến với văn học Quốc ngữ và đã có những người suốt đời đã gắn chặt với nó, chìm nổi cùng nó. Trương Vĩnh Ký là một ví dụ điển hình, cho đến cuối đời, trải qua bao vinh nhục của nghề thông ngôn, ông vẫn trọn tình với sách. Các nhà văn thế hệ thứ nhất cầm bút đa phần chịu ảnh hưởng từ truyền thống văn chương Công giáo với kho tàng truyện các thánh của nhiều thế kỷ trước. Mặt khác, họ là những tín đồ chân thành, ham hiểu biết và cầu thị, do vậy, văn hoá phương Tây thấm đẫm vào trái tim họ một cách tự nhiên. Điều này dẫn đến một hệ quả là họ tinh thông Tây học hơn là nho học. Dù thế, chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng giữa họ và văn hoá truyền thống có một khoảng cách. Chính vốn ngoại ngữ và sự hiểu biết về văn hoá phương Tây đã mở ra cho các nhà văn một chân trời mới, một luồng không khí mới mẻ đối với mảnh đất nơi họ sinh ra. Kiến thức khoa học, vốn ngoại ngữ đã cấp cho họ khả năng tư duy khoa học, óc quan sát, hoài nghi, phân tích, phê bình, nhờ đó góp phần thúc đẩy học thuật nước nhà phát triển trên những nền móng mới. Và điều đáng quý là những điều họ học được từ phương Tây lại được vận dụng vào nghiên cứu, phục dựng vốn văn hoá, văn học cổ điển nước nhà. Họ đứng giữa biến cố sự đứt gãy truyền thống đột ngột. Họ vừa có tâm thế vẻ vang của người lính tiên phong vừa chịu nhiều thiệt thòi ấm ức, thậm chí bị đồng bào nghi kị. Họ cho thấy mẫu hình trí thức hiện đại vì họ làm việc có phương pháp khoa học và có quan niệm về sứ mệnh trí thức, hơn một lần Nguyễn Trọng Quản hé lộ trong lời đề tặng in nơi truyện Thầy Lazaro Phiền (1887). Quan niệm khoa học thực dụng đã giúp các nhà văn lựa chọn những đề tài, lĩnh vực có kiến thức gần với đời sống của nhân dân thông qua lối diễn đạt giản dị như lời nói thường. Tất nhiên công việc của họ không ngoại trừ khả năng nằm trong âm mưu thâm thâm độc của chính quyền thuộc địa, nhưng cái được chắc chắn nhiều hơn cái mất mát, thiệt thòi. Sự tự tin, tự nhiệm là tinh thần của thế hệ trí thức mới, thể hiện qua ước mơ chân thành và cảm động, như chính Nguyễn Trọng Quản từng bộc bạch trong lời đề tặng quyển Thầy Lazarô Phiền cho các bạn đồng môn: “Các bạn còn nhớ chăng trên những lối đi ấy, miệng phì phà điếu thuốc bị cấm, chúng ta vừa sấn bước vừa thốt ra thành lời niềm mơ ước cho xứ Nam Kỳ thân yêu của chúng ta một tương lai chói rạng ánh sáng, tiến bộ và văn minh! Này các bạn! Mong rằng tác phẩm khiêm tốn mà tôi đề tặng các bạn đây là khởi điểm của sự thực hiện mơ ước ngày trước”. Các nhà văn đã cho văn học Nam Bộ nói riêng và văn học Việt Nam nói chung một sức sống và đường hướng mới. Mới từ cách chọn đề tài, chủ đề cho đến cách hành văn. Chính sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá đã giúp cho nhà văn có quan niệm mới về văn chương rồi thành lập nền văn học mới, văn học chữ Quốc ngữ La tinh, lấy văn xuôi làm thể văn chính. Nhờ những công trình dịch thuật, biên soạn của họ, văn học đã có sự phát triển phong phú về hình thức và thể loại. Đặt trong bối cảnh văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhóm nhà văn du học đã đặt những hòn đá đầu tiên và quan trọng đề xây dựng nền móng văn học mới, mà những người đến sau còn phải học tập và chịu ơn.

            Theo thời gian, sự phát triển của trường học Pháp - Việt đã sản sinh ra thế hệ những người cầm bút thứ hai: Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Bửu Đình, Biến Ngũ Nhy, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên… và định hình rõ nét diện mạo của văn học. Phần lớn các nhà văn là trí thức xuất thân trường Pháp hoặc Pháp Việt. Hồ Biểu Chánh tốt nghiệp hạng ưu trường Chasseloup Laubat, Lê Hoằng Mưu học trung học Pháp Việt ở Sài Gòn, Tân Dân Tử tốt nghiệp trường Thông ngôn Sài Gòn, Phú Đức tốt nghiệp trường Sư phạm Sài Gòn, Bửu Đình học trường quốc học Huế, Biến Ngũ Nhy học Chasseloup Laubat và sau đó học y khoa ở Hà Nội. Các tri thức mới mẻ nhà văn học được ở trường trở thành nền tảng quan trọng làm hành trang cho hành trình sáng tạo văn chương.

            Nhìn từ góc độ học vấn, chủ thể sáng tạo của tiểu thuyết Nam Bộ là những trí thức có nền tảng Tây học. Tuy nhiên, nền tảng đó là không thuần thành, bởi bên cạnh những tri thức mới họ tiếp nhận từ trường Pháp Việt là tri thức nho học và đạo lý cổ truyền thường được hấp thụ từ nhỏ. Hầu hết các nhà văn đều được học chữ Hán và trước khi đến trường Tây họ đã kịp nằm lòng một số nội dung trong đạo lý Khổng Mạnh, kịp mang vào tâm thức dăm ba câu Kiều, Lục Vân Tiên, cổ tích, ca dao rồi sẽ trở thành những mẫu gốc trong sáng tác của họ. Theo chúng tôi, kiến thức Tây học được các trí thức tiếp nhận chắc chắn ít nhiều bị chi phối bởi một màng lọc quan trọng là nho học. Cũng cần tính đến một thực tế là những tri thức nơi trường Pháp Việt, một kiểu trường học do thực dân đẻ ra, chắc chắn không theo hướng tinh hoa mà nghiêng theo hướng phổ thông, đại chúng. Hẳn nhiên, những tri thức đó đối với mặt bằng tri thức của xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ trước là vô cùng mới mẻ, hấp dẫn và tươi mới. Người trí thức Nam Bộ tiếp thu tri thức phương Tây dần hình thành tinh thần tự học, có khả năng dễ tiếp nhận và ủng hộ cái mới. Trong lĩnh vực văn chương, vì thế, họ không có xu hướng truyền tải văn học truyền thống, quan phương vào văn học hiện đại như các nhà văn trí thức khoa bảng miền Bắc cùng thời kỳ. Hệ hình văn học mới được hình thành nhờ những điều kiện thuận lợi như thế, dù chưa thật hoàn bị, nhà văn Nam Bộ đã chú ý đến công chúng và đặt vấn đề bồi dưỡng công chúng. Thế nhưng, cần bao nhiêu thời gian đủ để hình thành một cộng đồng độc giả của văn học mới? Hẳn là không dễ dàng với môi trường giáo dục mới dù đã phát triển nhưng chưa phải là phổ cập đến mức ai cũng được tham dự. Công chúng văn học hình thành nhanh chóng nhờ sự phổ cập chữ Quốc ngữ và các thiết chế văn hoá gắn liền với xã hội hiện đại như báo chí và xuất bản, nhưng từ trong sâu thẳm lý tưởng thẩm mỹ của họ vẫn thuộc hệ hình truyền thống. Một truyền thống văn chương vốn đậm yếu tố đạo lý phương Đông. Người cầm bút dẫu có trăn trở suy tư đổi mới vẫn phải lưu ý điểm này. Và do vậy, trong sáng tác của nhà văn Nam Bộ đã cho thấy sự tranh chấp giữa cái cũ và cái mới, giữa con người cá nhân và con người cộng đồng đạo lý. Cũng cần tính đến một căn nguyên từ bản thân ý thức người trí thức cầm bút, như Nguyễn Văn Trung đã chỉ ra: “Khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, một văn hóa được trình bày trong chính sách đồng hóa đe dọa mất gốc, tiêu diệt bản chất dân tộc, người miền Nam không những không thể bỏ văn hóa truyền thống dựa trên Nho học, mà còn coi nó như điểm tựa, chỗ dựa chống lại chính sách đồng hóa của người Pháp” và điều này có ảnh hưởng lớn đến văn chương, Nguyễn Văn Trung viết tiếp, “do đó đi tới chỉ tiếp thu kỹ thuật Tây phương nói chung và ở đây là kỹ thuật viết tiểu thuyết”[1].

            Cách nay hơm một trăm năm, người Pháp thực sự hiện diện nơi mảnh đất Nam Bộ không phải bằng những thông điệp hoà bình bác ái mà bằng súng ống và lưỡi lê. Sự có mặt của họ gây xáo trộn lớn và diễn ra một quá trình tái cấu trúc xã hội. Theo đó, đời sống xã hội thay đổi hết sức nhanh chóng, phong trào Âu hoá diễn ra mạnh mẽ. Trong những biến động đời sống, trí thức luôn là những người nhạy cảm và họ đã lo sợ. Nỗi sợ nguy cơ mất gốc, tha hoá ở họ chắc chắn là có thật và có cơ sở. Vùng đất mới Nam Bộ có lịch sử hình thành khoảng hai trăm năm, vừa kịp kiến tạo một cơ tầng xã hội ổn định được gắn kết bởi ý thức hệ nho giáo, đến nay phải chịu thử thách với cái ngoại lai. Người trí thức quay về với đạo lý nho giáo nhằm tìm điểm tựa để cân bằng trước nguy cơ đó. Cũng cần lưu ý, như một quy luật, Nam Bộ có khoảng cách địa lý tương đối so với trung tâm là miền Bắc do vậy xu thế bảo lưu truyền thống càng bền chặt. Dễ hiểu, tại sao khu vực miền Bắc thường chú trọng yếu tố cá nhân, văn học say sưa những vấn đề của con người cá nhân vì đó là vùng đất vốn xem nặng yếu tố thứ bậc. Và như một sự phủ định sự gò bó, hình thức cứng nhắc, chủ nghĩa cá nhân dễ phát triển và được xem trọng. Đọc Tố Tâm khiến người ta chán đạo lý. Nhưng cần thấy ở Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh say sưa nói chuyện đạo lý nhưng người ta không thấy nhạt mà ngược lại thấy thích thú.

            Nhìn từ góc độ nghề nghiệp, ít có nhà văn nào ở Nam Bộ sống đơn thuần bằng sáng tác. Người cầm bút Nam Bộ thường là công chức, nhà báo, nhà giáo. Có một thực tế không chỉ ở Nam Bộ mà là tình hình chung của nền văn học, người cầm bút viết văn là do tham gia môi trường báo chí. Mối quan hệ văn báo đã hình thành một kiểu tác giả chưa có trong lịch sử văn học trước đó: ký giả - nhà văn. Nguyễn Công Hoan đã kể lại không khí của buổi đầu gia nhập làng văn - báo như sau: “Trước kia, người viết văn ra làm báo, và trong khi làm báo, vẫn viết văn. Báo nào cũng có đăng văn chương, nên văn chương ra đời bằng con đường báo chí. Chưa có báo chí thuần tuý về văn chương, cũng chưa có nhà xuất bản in những sách văn học (…) thời đó, người ta lẫn lộn giữa nhà báo với nhà văn, cũng như nhà văn với nhà báo”[2].

            Sự hình thành một thế hệ nhà văn mới đông đảo ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX cho thấy bước chuyển biến của văn chương từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại. Trong bước chuyển mình đó, nền văn học Nam Bộ có những đặc tính của giai đoạn văn học giao thời. Những yếu tố cũ và mới đan xen tồn tại trong tác phẩm văn chương, trong quan niệm văn học và phương pháp sáng tác của nhà văn. Với thế hệ nhà văn mới này cùng với các nhà văn thế hệ tiếp theo sau văn học Nam Bộ đã chính thức bước vào giai đoạn cận đại hóa ở tư thế tiên phong và triệt để. Tính chất tiên phong thể hiện ở việc nền văn học quốc ngữ La tinh đã phủ định nền văn học cũ từ rất sớm so với văn học cả nước và triệt để ở chỗ đã xác lập được những phương diện cơ bản của nền văn học mới. Sản sinh ra một thế hệ nhà văn đi tiên phong trong quá trình cận đại hóa văn học chính là đóng góp quan trọng của văn học Nam Bộ cho tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.

2. Chủ thể tiếp nhận

            Chủ thể tiếp nhận tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX chính là người đọc giải trí. Loại hình người đọc giải trí phát triển mạnh ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX, được cấu thành bởi tầng lớp tiểu thị dân, những người buôn bán nhỏ, học sinh, các bà nội trợ, cư dân đô thị có chút học vấn và nhìn chung là bình dân.

            Vậy nguồn gốc của đặc tính “bình dân” trong văn hoá, lý tưởng thẩm mỹ của người Nam Bộ có cội nguồn và được hun đúc như thế nào?

            Trước khi người Pháp có mặt và gây nên những xáo trộn về cấu trúc xã hội và văn hoá, con người vùng đất Nam Bộ đã có một “truyền thống bình dân” được hình thành từ sự cộng hợp của những lớp người lưu dân. Nhóm lưu dân thứ nhất, theo chúng tôi là rất quan trọng, sẽ góp phần định vị toạ độ văn hoá Việt ở vùng Nam Bộ. Phần lớn họ là cư dân miền Nam Ngãi, có cuộc sống nghèo khổ và ý chí kiên cường, đầu óc “rỗng” nhưng phóng khoáng. Nói đầu óc “rỗng” là ý nói những giáo điều nho giáo chưa kịp làm xơ cứng suy nghĩ và tình cảm của nhóm người này. Khi đi họ sâu vào phương Nam, trong quá trình sinh tồn, có cơ hội tiếp xúc với văn hoá kinh thương của người Hoa, do vậy đã khiến họ có đầu óc thương mại. Nhóm thứ 2 gồm những lưu dân người Hoa vùng Quảng Đông và Phúc Kiến. Đặc tính nổi bật của nhóm này là mạnh về thương mại và hàng hải. Chính nhóm lưu dân này đã góp phần hình thành nên một số đô thị năng động, nổi bật nhất là Sài Gòn, được ngòi bút Trịnh Hoài Đức ghi lại trong Gia định thành thông chí.

            Nhìn lại Nho học Nam Bộ, từ người trí thức có tầm ảnh hưởng lớn là Võ Trường Toản cho đến thế hệ trí thức cuối cùng đã kịp hình thành nên học phong Nam Bộ. Võ trường Toản là người Minh Hương đã mang vào Nam Bộ học phong rồi sẽ trở thành truyền thống của vùng đất mới: thực dụng (học cốt để hiểu nghĩa lý), trung thành (đề cao lễ nghĩa) và vị đời (vì đời, vì nước, học không phải vì cơm áo). Học phong này được thể hiện rõ qua nhiều trí thức tiêu biểu như Ngô Nhân Tĩnh, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định (Gia Định tam gia), Nguyễn Đình Chiểu qua Bùi Hữu Nghĩa. Học phong kiểu thực dụng khiến người trí thức suy tư trên cơ sở nền tảng thực tế, và tự thân nó có xu hướng ly tâm với kiểu học vấn trường ốc trong truyền thống học thuật nho giáo.

            Sự có mặt của người Pháp ở Nam Bộ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của đô thị và việc mở rộng đất đai canh tác đã tạo ra những điền chủ lớn. Những điền chủ tuy giàu có nhưng học vấn thường không cao và từ trong bản chất vẫn mang tâm hồn, suy nghĩ của người bình dân. Trong cuộc đổi đời, họ mong con cái mình có chút học vấn nên đã xuất tiền cho con du học hoặc tham gia chương trình giáo dục Pháp Việt ở quê nhà. Từ thập niên 20 của thế kỷ XX ở Nam Bộ đã xuất hiện một lớp trí thức Tây học mang đầu óc thực tiễn và từ trong bản chất vẫn mang tinh thần bình dân và phóng khoáng, không chú trọng phát triển theo con đường cá nhân chủ nghĩa. Điều này lý giải tại sao đất Nam Bộ ít sản sinh ra những cá nhân theo đuổi chuyên sâu một chuyên ngành khoa học hay nghệ thuật. Và, như một hệ quả, trong đời sống văn học, ít xuất hiện kiểu người đọc cao cấp - nhà phê bình văn học chuyên nghiệp. Trí thức mang tư tưởng thực tiễn thường chọn lựa những vấn đề bức thiết, nóng bỏng của đời sống. Chẳng hạn, khi phong trào duy tân khởi phát, ở Nam Bộ tinh thần “Minh tân” được các trí thức tích cực hưởng ứng bằng việc làm thiết thực, cụ thể: hô hào mở rộng kinh doanh, lập hiệu buôn cạnh tranh với người Hoa, Pháp, Ấn. Việc Trần Chánh Chiếu bán hết điền sản ở Rạch Giá, lên Sài Gòn ra báo, lập hãng buôn cạnh tranh với người ngoại quốc và trở thành một nhà văn là một ví dụ điển hinh sinh động.

            Như vậy, từ những căn rễ thực tiễn và lịch sử, trong văn hoá tư tưởng của người Nam Bộ, từ dân chúng đến trí thức cao cấp đều mang tinh thần thực tiễn, bình dân, phóng khoáng. Văn chương Nam Bộ chịu ảnh hưởng của điều này: người sáng tác và độc giả phần lớn mang lý tưởng thẩm mỹ bình dân. Truyền thống văn chương Nam Bộ không thích sự cầu kỳ hoa mỹ mà ưa giản dị, gắn với số đông, với thị trường, tạo ra tính cộng đồng vị nước, vị đời. Tinh thần vị đời là điều kiện thuận lợi để văn chương đạo lý tồn tại và phát triển.

            Vậy, ở đây xuất hiện một số vấn đề cần được thảo luận: yếu tố nào góp phần làm loại hình người đọc giải trí phát triển mạnh? Vai trò của người đọc đại chúng đối với sự hình thành và phát triển của văn học, cụ thể hơn là với tiểu thuyết Nam Bộ?

            Có thể nói, tư tưởng thực tiễn, vị đời, bình dân của người dân Nam Bộ gặp môi trường đô thị đang phát triển nhanh chóng đã góp phần hình thành đời sống văn học vận động theo hướng phục vụ đại chúng. Người đọc đại chúng, bình dân chứa đựng hai khả năng đối với quá trình văn học: một mặt kích thích sự sôi động của thị trường chữ nghĩa, mặt khác có những tác động trì kéo sự tìm tòi đổi mới văn chương của người cầm bút. Kiểu người đọc đại chúng bình dân đến với văn chương không nhằm cốt truy vấn hay đắm mình vào những vấn đề triết lý siêu hình, trừu tượng về đời sống và lẽ sống, tìm kiếm những hình thức mang tính quan niệm mới mẻ mà chủ yếu là để giải trí. Kiểu người đọc giải trí có một nhu cầu, như cách hình dung của Đỗ Lai Thuý là “đọc tiêu dùng”, “đọc tiêu dùng thường chỉ theo lối đọc tuyến tính, lối đọc hoàn toàn tự nhiên nhi nhiên theo quy luật của thị giác người và bản chất của loại hình nghệ thuật thời gian”, theo đó, người đọc loại này “ưa truyện kể (récit), săn tìm những cốt truyện, ngấu nghiến những tình tiết éo le, những cảnh tượng ly kỳ, nhiều cạm bẫy”[3]. Trong tính năng động của thị trường văn chương ở Nam Bộ, từ khá sớm cõ lẽ đã hình thành một thứ “công nghệ văn chương” phục vụ đại chúng, và độc giả đại chúng đã góp phần quy định lối viết của nhà văn. Công chúng tiểu thuyết Nam Bộ, có thể dễ nhận thấy là một công chúng dư giả tiền bạc hơn công chúng ở miền Bắc và Trung, đã góp phần thúc đẩy thị trường văn chương phát triển. Nhà văn tham gia “thị trường” văn chương đại chúng phải chiều theo thị hiếu số đông, một công chúng “ưa thích những điều quen thuộc” vốn là quán tính có từ truyền thống, ít hứng thú với sự thay đổi. Những “đại gia” trong làng tiểu thuyết Nam Bộ chắc chắn đã nắm bắt được điều cốt tử này. Như Phạm Thế Ngũ đã chỉ ra đối nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, tiểu thuyết gia ăn khách số một ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX và cả về sau này: “cốt truyện tương đối giống nhau, trước sau một thế giới nhân vật, một đường hướng sáng tác, những tính cách chung về kỹ thuật và tư tưởng (…) cốt truyện tác giả có nhiều xảo nghệ dựng nên li kỳ, khít khao hấp dẫn” [4]. Bàn về “cá tính” văn học miền Nam, Võ Phiến cũng từng chạm đến yếu tính của tâm lý tiếp nhận của độc giả Nam Bộ: “Chúng ta chê Hồ Biểu Chánh cạn cợt, kể chuyện chỉ phác qua lớt phớt tâm lý các nhân vật, không chịu ngừng lại phân tích cho tử tế. Nhưng giới bình dân trong Nam lấy làm thú một phần ở chỗ động tác trong truyện biến chuyển thoăn thoắt. Cũng không phải tình cờ mà Phú Đức viết một pho truyện dài như Châu về hợp phố, nhìn vào trang nào trong đó cũng toàn những hoạt động hoa cả mắt”[5]. Trong cách hình dung của Võ Phiến, “chúng ta” tức những người đọc cao cấp như ông, dĩ nhiên ít hứng thú với kiểu văn chương phục vụ cho đại chúng của các nhà văn Nam Bộ. Thế nhưng, có một điều, không phải nhà văn Nam Bộ không có khả năng “viết văn cao cấp” mà họ đã lựa chọn và đeo đuổi một con đường trong muôn nẻo của văn chương hiện đại: phục vụ đại chúng. Trường hợp Nguyễn Văn Trung và bạn của ông, cũng là một trí thức đại học ở Sài Gòn đối với tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã phần nào cho thấy những ngộ nhận của lớp người đọc cao cấp. Nguyễn Văn Trung viết: “Chúng tôi nghiên cứu, dạy văn học trên 20 năm ở miền Nam nhưng chỉ mới đọc Hồ Biểu Chánh gần đây vì trước đây khinh chê không thèm đọc. Sau khi đọc chúng tôi muốn trắc nghiệm những cảm nghĩ của mình, sợ chủ quan chăng? Chúng tôi đưa cho một bạn đồng nghiệp gốc miền Bắc, dạy đại học lâu năm ở Sài Gòn, chưa bao giờ đọc Hồ Biểu Chánh, đề nghị đọc thử Cay đắng mùi đời rồi đề nghị chuyển cho bà xã và mấy đứa con lớn đọc luôn. Sau một tháng trở lại, ông bạn thú nhận: chả nhẽ tôi trên sáu chục tuổi rồi mà còn nói bị xúc động như muốn rớt nước mắt - thật cảm động, thật hay, hấp dẫn. Bà xã văn hoá trung bình, các con cũng vậy, đều rất thích, yêu cầu cho mượn những cuốn khác”[6].

            Kiểu người đọc đại chúng, có thể nói là ít có những đòi hỏi đổi mới văn chương, đặc biệt là về hình thức. Người đọc dạng này có vẻ “bảo thủ”, thế nhưng nó lại tiềm ẩn một khả năng, theo chúng tôi là cũng không kém quan trọng đối với bất cứ nền văn học nào trong thế giới hội nhập: lưu giữ “mẫu gốc” văn chương, những truyền thống văn hoá trong sự tranh chấp quyết liệt giữa cái dân tộc và cái ngoại lai, đặc biệt trong thời kỳ chuyển giao hiện đại hoá. Và nơi những tài năng văn chương, điều này có ý nghĩa quan trọng, là nền tảng giúp nhà văn sáng tác những tác phẩm vừa hiện đại nhưng vừa đậm đà dân tộc tính. Hồ Biểu Chánh, với tư cách là nhà văn chuyên nghiệp số một, người đọc nhiều và trực tiếp từ nguyên tác tiểu thuyết nước ngoài, không phải không có những trăn trở tìm tòi đổi mới, và chắc là thừa khả năng để đổi mới bằng con đường học tập. Nhưng, có một điểm mà chúng tôi muốn nói đến, nơi vừa là điểm mạnh làm nên tính hiện đại nhưng đồng thời là giới hạn không chỉ riêng trường hợp sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh mà là của phần đông người cầm bút cùng thời chính là sự chi phối của người đọc đại chúng. Như Hồ Biểu Chánh từng thú nhận trong hồi ký Đời của tôi về văn nghệ: “năm nọ, một nhà xuất bản tác phẩm của tôi bố cáo với công chúng rằng bộ tiểu thuyết của tôi sắp ra đời viết theo kim văn thời và bố cuộc theo thể thức mới. Tôi liền được thơ của bạn đọc tha thiết yêu cầu tôi cứ theo thể thức thuở nay mà viết, đừng đổi văn đổi sáo chi hết”[7]. Sự chi phối của thị hiếu độc giả đối với hoạt động sáng tác là một trong những dấu hiệu quan trọng xác định tính hiện đại của Hồ Biểu Chánh và các nhà văn thế hệ ông ở Nam Bộ.

            Sự tác động của độc giả đại chúng đối với văn học và thị trường văn học dễ nhận thấy ở phương diện tiếp nhận văn học dịch. Dễ thấy văn học dịch góp phần đào luyện mỹ văn nơi công chúng và nhà văn, và ở một chiều ngược lại, chính nhu cầu của công chúng và trình độ của dịch giả đã góp phần quy định bức tranh văn học dịch. Nam Bộ sớm tiếp xúc sâu sắc với văn hoá phương Tây, nơi hệ thống trường Pháp Việt sớm được kiện toàn và đào tạo được những trí thức Tây học từ rất sớm so với cả nước, nhưng nhìn vào dịch thuật dễ thấy sự ưu tiên mảng văn học Trung Hoa. Vậy tại sao lại có nhiều dịch giả Nam Bộ chọn tiểu thuyết Trung Hoa? Tại sao trong mảng văn học Trung Hoa, dịch giả Nam Bộ lại không chú trọng dịch các tiểu thuyết “ngôn tình nhu cảm” mà chỉ chú trọng đến loại truyền thống. Có thể thấy, độc giả Nam Bộ phần đông là người bình dân ít học nhưng ham hiểu biết. Sự ham hiểu biết, thích khám phá, tính cách trọng đạo nghĩa chắc chắn là có căn nguyên trong tâm thế của nhiều lưu dân mở đất buổi đầu. Chính điều kiện tự nhiên, đặc tính địa văn hóa, như nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, đã hình thành nên thói quen sáng tác và thưởng thức văn nghệ về căn bản là nói và trình diễn chứ không phải là viết [8]. Tác phẩm thể hiện rõ đặc tính này là truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Lục Vân Tiên sẽ lấp lánh và độc đáo khi được thể hiện qua điệu nói, hình thành nên cả một thể loại là Nói thơ Vân Tiên trong đời sống văn hóa Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trở lại với tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa, là những tác phẩm được sáng tác dười thời Minh Thanh, phần lớn có nguồn gốc từ văn học dân gian, là những truyện kể dạng thoại bản, về sau các tác giả bác học mới chỉnh lý cốt truyện và sáng tạo thành các văn phẩm nghệ thuật. Tiểu thuyết lịch sử thường đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa, thế thiên hành đạo, khử bạo trừ gian, trung thần thắng nịnh nay gặp mảnh đất Nam Bộ nó như được hồi sinh trở lại. Từ trong bản chất, tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa rất hợp với môi trường diễn xướng, điều này không đi ngược lại với sở thích và thẩm mỹ của phần đông độc giả Nam Bộ. Cần chú ý rằng, trước khi có phong trào dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa, các nhân vật trong các bộ tiểu thuyết trứ danh như Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Tiết Nhơn Quý đã được tiếp nhận trong hình thức của tuồng tích sân khấu, trong thơ bác học trước đó ở Nam Bộ. Nay qua chữ Quốc ngữ La tinh, nhiều bộ tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa lại được thưởng thức lại trong một tinh thần mới, hoàn cảnh lịch sử văn hóa mới. Những người trẻ tuổi biết chữ Quốc ngữ và còn chịu ảnh hưởng của Hán học thưởng thức và đọc lại cho người lớn tuổi nghe, cứ thế mà tạo ra một phong trào rộng lớn trong văn hóa đọc xứ Nam Bộ. Thêm nữa, có ý kiến cho rằng việc dịch ồ ạt truyện Tàu ở Nam Bộ là xuất phát từ ý đồ của thương nhân người Hoa ở chợ lớn. Họ muốn dùng những ảnh hưởng về văn hoá để lấy lại thị phần kinh doanh đang bị người Pháp và Ấn thâu tóm. Dầu thế chăng nữa, việc truyện Tàu khuynh đảo thị trường chữ nghĩa chắc chắn có nguyên do căn bản từ tâm lý tiếp nhận của độc giả Nam Bộ. Nếu nhìn vào việc dịch văn học phương Tây chúng ta cũng thấy chủ đề thường là đề cao đạo đức, hoặc được dịch giả “dán mác” đạo đức: Phú bần truyện diễn ca (Riche et Pauvre) do Trương Minh Ký dịch, Tiền căn báo hậu (Le Comte de Monte Christo của Alexandre Dumas) do Trần Chánh Chiếu dịch… càng khẳng định xu hướng phục vụ tâm lý người đọc đại chúng của văn học dịch.

            Sự phát triển của loại hình độc giả giải trí đã góp phần tạo ra môi trường dân chủ trong văn hoá đọc, dẫn đến tính dân chủ trong văn học, tạo ra một thuận lợi lớn cho quá trình hiện đại hoá văn học đầu thế kỳ XX. Việc hình thành một cộng đồng độc giả nữ của tiểu thuyết cũng cho thấy tính chất dân chủ của đời sống văn học. Về điểm này, so với thời kỳ trung đại, theo chúng tôi là rất mới mẻ. Một khảo sát của Nguyễn Nam cho thấy độc giả nữ không chỉ là một bộ phận quan trọng cấu thành người đọc của tiểu thuyết đầu thế kỷ XX, mà đặc biệt là bộ phận đã có những phản ứng đối với việc đọc tiểu thuyết: tự sát [9].

            Tuy nhiên, nền văn học theo hướng hiện đại ở Nam Bộ buổi đầu, bên cạnh sự lớn mạnh của cộng đồng độc giả đại chúng thì thiếu hẳn một đội ngũ phê bình chuyên nghiệp đủ mạnh để định hướng nền văn học. Phê bình văn học chủ yếu do các cây bút nghiệp dư, hoặc chính các nhà văn thực hiện, là những bài điểm sách và thường thiên về việc đọc tác phẩm dưới góc nhìn văn hoá xã hội hơn là cái nhìn về nghệ thuật. Tình trạng vừa thiếu những đỉnh cao, thiếu đội ngũ phê bình phát hiện, định hướng, văn học vùng đất mới Nam Bộ dần dần mất định hướng và  như Nguyễn Huệ Chi chỉ ra “nó không được giới viết văn cao vấp thừa nhận”[10] theo thời gian đã chìm vào quên lãng.

Kết luận

Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp đã có tác động lớn tới mọi mặt của đời sống Nam Bộ trong đó có văn học. Hoàn cảnh lịch sử xã hội đầu thế kỉ XX có những thay đổi sâu sắc, theo đó văn học cũng sang trang: chuyển từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học cận, hiện đại. Ở Nam Bộ, sớm xuất hiện những tiền đề văn học mới: chữ Quốc ngữ, quan niệm mới về văn học, các thể loại văn học mới, nhà văn và công chúng mới.

Tiểu thuyết đại chúng của nhiều nhà văn trên thế giới đã trở thành kiệt tác của nhân loại. Tiểu thuyết đại chúng Nam Bộ theo thời gian người ta vẫn ưa chuộng Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bửu Đình.

            Từ những vấn đề đặt ra và thảo luận, chúng tôi cho rằng văn học đại chúng phải trở thành đối tượng quan trọng của các nhà nghiên cứu vì hai lý do. Thứ nhất là việc một số tác phẩm văn học đại chúng đã và sẽ trở thành những tác phẩm văn học thuần túy mẫu mực. Thứ hai là không thể phủ nhận sức mạnh, tầm ảnh hưởng của các tác phẩm văn học đại chúng trong văn học mọi thời kỳ và trường hợp văn học Nam Bộ là một ví dụ điển hình. Từ thực tế không thể phủ nhận, một cuốn lịch sử văn học nghiêm túc có cần triển khai một chương viết về văn học đại chúng hay không?

PMH.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Văn Trung (1987), Những áng văn chương Quốc ngữ đầu tiên, (tài liệu in ronéo), Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tr.19.

2.      Nguyễn Công Hoan (1971), Đời viết văn của tôi, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.54.

  1. Đỗ Lai Thuý (2011), Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.254.
  2. Phạm Thế Ngũ (1997), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, (tái bản), Nxb. Đồng Tháp, tr.254.

5.      Võ Phiến (1959), “Cá tính văn học miền Nam”, Tạp chí Bách khoa, số 63, tr.26.

  1. Nguyễn Văn Trung (1987), Những áng văn chương Quốc ngữ đầu tiên, (tài liệu in ronéo), Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tr.12.
  2. Nguyễn Khuê (1974), Chân dung Hồ Biểu Chánh, Nxb. Lửa thiêng, Sài Gòn, tr.270.
  3. Nguyễn Văn Xuân (2002), Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, Nxb. Đà Năng, tr.543.
  4. Nguyễn Nam (2010), “Phụ nữ tự sát - lỗi tại tiểu thuyết? một góc nhìn về phụ nữ với văn chương - xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX (Lược trích)”, Nghiên cứu Văn học, số 7.
  5. Nguyễn Huệ Chi (2002), “Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu”, Tạp chí Văn học, số 5, tr.16.

 

 

Bài viết cùng tác giả

Thông tin truy cập

44484497
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
5901
12330
44484497

Thành viên trực tuyến

Đang có 259 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website