Nguyễn Bính, Kim Sowol và cuộc đối thoại về ký ức tập thể

 TS. Đào Lê Na

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Tp.HCM

Năm 2017, bộ phim đoạt giải Oscar phim hoạt hình xuất sắc nhất đã đem đến cho khán giả một thông điệp sâu sắc về ký ức. Tên gọi “Coco” của phim không phải là tên của nhân vật chính mà là tên gọi của bà cố Miguel, người lưu giữ ký ức cuối cùng về ông cố tổ của gia tộc cậu bé. “Coco” cũng là hình ảnh ẩn dụ về một người lưu giữ ký ức tập thể. Nếu người đó chết đi hoặc mất trí nhớ, và không còn ai trong cộng đồng thế giới người sống lưu giữ ký ức đó thì nó sẽ bị xoá bỏ. Đó là lý do tại sao Hector, cha của Coco đứng trước nguy cơ bị tan biến hoàn toàn, khi ông đã ở thế giới người chết. 

Cũng trong năm 2017, Hàn Quốc công chiếu bộ phim “Tiếng Anh là chuyện nhỏ” (I can speak) để công bố trước thế giới về một sự thật khủng khiếp khi người Nhật chiếm đóng Triều Tiên. Đó là ký ức “Nô lệ tình dục” của những người phụ nữ Triều Tiên bị ép phải phục vụ cho quân đội Nhật thời thế chiến thứ II. Những người phụ nữ này đang đứng trước nguy cơ biến mất theo quy luật sinh, lão, bệnh, tử hoặc chứng lãng quên của người già. Lịch sử có thể không đưa thông tin này vào sách hoặc nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả sự kiện. Do đó, để đoạn ký ức này được lưu lại một cách chân thực và sống động, khắc ghi đậm nét trong ký ức tập thể, kể cả những người chưa từng biết đến chiến tranh, các nhà làm phim đã sản xuất bộ phim “Tiếng Anh là chuyện nhỏ” như một diễn ngôn chính trị, xã hội dành cho cộng đồng người Hàn Quốc nói riêng và thế giới nói chung.

Những vấn đề liên quan đến ký ức cộng đồng được nhà xã hội học Émile Durkheim (1858–1917) bàn đến trong cuốn Những hình thức cơ bản của đời sống tôn giáo (Elementary Forms of the Religious Life, 1912). Tuy nhiên, phải đến năm 1925, thuật ngữ ‘ký ức tập thể’ (collective memory) mới xuất hiện lần đầu tiên trong công trình Những bộ khung xã hội của ký ức (The Social Frameworks of Memory) của Maurice Halbwachs (1877–1945), một học trò của Émile Durkheim. [1] Ký ức tập thể theo khái niệm của Halbwachs là “tập hợp thông tin được tổ chức thành ký ức của hai hay nhiều thành viên của một nhóm được chia sẻ với nhau. Ký ức tập thể có thể được chia sẻ, được tiếp tục và được kiến tạo bởi những nhóm nhỏ và lớn.”[2] Theo Halbwachs, “cá nhân sẽ không thể nhớ lâu và liền mạch khi ở bên ngoài bối cảnh nhóm của họ”.[3] Chẳng hạn, những người nước ngoài sẽ biết đến chiến tranh Việt Nam như những thông tin mà họ đọc được từ sách lịch sử, còn người Việt Nam sẽ nhớ về chiến tranh Việt Nam nhờ những câu chuyện mà họ được nghe kể từ bố mẹ và bố mẹ họ được nghe kể từ ông bà…Và do đó, ký ức về chiến tranh Việt Nam ở người Việt Nam sẽ dai dẳng hơn, chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc hơn.

Điều này cũng có nghĩa là “những thành viên trong nhóm sẽ cung cấp chất liệu cho các cá nhân, khơi gợi cá nhân nhớ lại những sự kiện đặc biệt và quên đi những cái khác”[4]. Các nhà làm phim về vua Lý Thái Tổ đã dựng nên bộ phim hoạt hình “Người con của Rồng” để khơi gợi và kiến tạo ký ức cho trẻ em Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung về huyền thoại vua Lý Thái Tổ. Rõ ràng rằng, ký ức tập thể không nhất thiết phải là những sự kiện mà các cá nhân phải trải nghiệm qua hoặc được chứng kiến trong cộng đồng bởi nó là một dòng chảy liên tục trải qua các giai đoạn lịch sử, người giữ ký ức của nhóm này sẽ truyền lại cho nhóm sau. Vì vậy, “ký ức của một xã hội kéo dài bằng ký ức của các nhóm tạo ra nó. Không có căn bệnh hay sự lãnh đạm nào khiến nó quên đi nhiều sự kiện và nhân vật quan trọng trong quá khứ. Có chăng chỉ là những nhóm giữ ký ức dần biến mất mà thôi.”[5]  

Như vậy, theo Halbwachs , ký ức tập thể sẽ rất khác với lịch sử bởi sự đa dạng và sinh động của nó. Lịch sử tập trung vào các sự kiện, thời gian, nơi chốn và thường hoàn kết khi chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Các nhà viết sử luôn tỏ ra khách quan khi cố gắng mô tả thật chi tiết các sự kiện và so sánh với lịch sử các nước khác. Lịch sử mà các sử gia muốn tạo ra là duy nhất bởi anh ta tin rằng quan điểm của mình không thuộc về bất kỳ nhóm nào, ở quá khứ lẫn hiện tại. Trong khi đó, cùng một sự kiện lịch sử có thể có nhiều ký ức tập thể của các nhóm cộng đồng khác nhau và trải dài liên tục theo thời gian.  

Mặc dù thuật ngữ ký ức tập thể đã được đề xuất từ khá lâu nhưng những vận dụng nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn mới thực sự được chú ý gần đây. Nghiên cứu ký ức tập thể sẽ tập trung vào một bộ những hình ảnh, ý tưởng, cảm giác về quá khứ trong những nguồn mà các cá nhân có thể chia sẻ. Điều này có nghĩa là sách lịch sử hay phim ảnh đều có giá trị như nhau trong việc chia sẻ ký ức. [6]

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ nghiên cứu những sáng tác của Nguyễn Bính và Kim So Wol như là những phương tiện truyền đạt ký ức tập thể trong thời kỳ thuộc địa, qua đó tìm hiểu về khái niệm căn tính dân tộc, cộng đồng tưởng tượng và không gian văn hoá mà hai nhà thơ đã tạo ra và đối thoại với nhau.

  1. 1.      Cộng đồng văn hoá tưởng tượng trong mâu thuẫn Nhà thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính và Kim Sowol là những nhà thơ sinh ra trong thời kỳ tấm bản đồ quốc gia bị đổi màu bởi cuộc xâm chiếm của các nước thực dân, phát xít. Kim Sowol sống trong thời kỳ Triều Tiên bị Nhật chiếm đóng và cho đến khi qua đời, đất nước của ông cũng chưa được giải phóng. Nguyễn Bính sinh ra trong thời Pháp thuộc và lớn lên trong thời kỳ phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương. Dù cả hai nhà thơ ở hai đất nước khác nhau nhưng hoàn cảnh có nhiều nét tương đồng.  So với Kim Sowol, Nguyễn Bính dường như may mắn hơn bởi ông được trải nghiệm những giây phút độc lập, được hít thở bầu không khí tự do trong một đất nước không còn bóng dáng thực dân. Có lẽ hoàn cảnh giống nhau mà cả hai tác giả đã có sự tương phùng, đối ứng kỳ lạ qua những trang thơ dù chưa từng hội ngộ.

Lâu nay các nhà nghiên cứu phê bình Việt Nam vẫn xem Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng ruộng, của dân gian nhưng những ký ức tập thể mà Nguyễn Bính xây dựng, kiến tạo qua các bài thơ của mình không phải không được chú ý đến. Trong thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nói về “hồn xưa của đất nước” qua thơ Nguyễn Bính. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng đã từng nhận xét về khả năng lưu giữ ký ức tập thể của Nguyễn Bính: “Nguyễn Bính vẫn đang có mặt: ông đã khắc được lời của mình vào tận ký ức văn hóa đồng bào mình”[7]. Như vậy, việc kiến tạo ký ức tập thể của Nguyễn Bính không phải là không phát huy tác dụng. Sống trong thời đại mất nước, Nguyễn Bính phải tái định nghĩa quốc gia cho riêng mình để chống lại sự đồng hoá của chủ nghĩa thực dân, nơi mà căn tính dân tộc và văn hoá đang dần bị xoá nhoà. Quốc gia của Nguyễn Bính không còn là quốc gia hiển thị trên tấm bản đồ thế giới mà là quốc gia với những căn tính, những biểu tượng văn hoá có thể được đông đảo người dân chia sẻ. Và quốc gia đó được nhà khoa học chính trị Benedict Anderson gọi tên là ‘cộng đồng văn hoá tưởng tượng’.  Đứng từ góc độ nhân học, Benedict Anderson đưa ra quan điểm quốc gia là “một cộng đồng chính trị tưởng tượng – và bị tưởng tượng vừa có giới hạn, vừa có chủ quyền. Nó được tưởng tượng bởi vì các thành viên ngay cả quốc gia nhỏ nhất cũng sẽ không bao giờ biết hầu hết các thành viên của họ, gặp họ, hoặc thậm chí nghe về họ, nhưng trong tâm trí của mỗi người đều có những hình ảnh tương thông.”[8] Như vậy, để tạo ra sự đồng cảm và khơi gợi ký ức tập thể nhằm hướng tới tạo dựng căn tính dân tộc bắt buộc Nguyễn Bính phải tìm về văn hoá dân gian và vùng nông thôn, nơi nhà thơ có thể nhận diện được ít nhiều hình ảnh Việt Nam thân thuộc.

Cộng đồng văn hoá tưởng tượng của Nguyễn Bính trước hết là sự hoài niệm về chế độ khoa cử, về những câu chuyện thời phong kiến và những vị Trạng nguyên nổi tiếng trong lịch sử lẫn trong huyền thoại dân gian. Trong ký ức của Nguyễn Bính và những người Việt Nam thời bấy giờ, hình ảnh của vua quan thời phong kiến là những gì thuộc về văn hoá dân tộc, tạo ra được sự khác biệt với văn hoá Pháp, văn hoá Nhật, những quốc gia đang chiếm giữ đất nước. Mặc dù các triều đại phong kiến Việt Nam trải dài hàng nghìn năm với những câu chuyện khác nhau nhưng Nguyễn Bính chỉ chọn lọc và kiến tạo những ký ức đẹp đẽ nhất của cung đình. Xóm Ngự Viên của Nguyễn Bính cũng có thể xem là một nước Việt Nam thu nhỏ với phong cảnh tuyệt trần và những con người thanh cao:

“Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển
Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?
Sớm Đào, trưa Lý, đêm Hồng Phấn
Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên
Cung tần mỹ nữ ngời son phấn
Theo gót nhà vua nở gót sen
Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm
Cung nữ đa tình vua thiếu niên
Một đôi công chúa đều hay chữ
Hoàng hậu nhu mì không biết ghen.”

                               (Xóm Ngự Viên)

Bức tranh cung đình qua sự chọn lọc ký ức của Nguyễn Bính không chỉ dừng lại ở những mô tả bề mặt mà còn khơi gợi những ký ức bề sâu. Không phải ngẫu nhiên mà ngoại trừ nhà vua ra, những nhân vật còn lại trong đoạn thơ trên đều là nữ. Trong đoạn thơ này, dẫu cho người đứng đầu mang tính dương thì tính âm vẫn thắng thế. Khi tính âm thắng thế, đoạn thơ gợi lên tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt, gợi lên hình ảnh những người phụ nữ với những phẩm chất tốt đẹp, gần với những biểu tượng trong ca dao Việt Nam xưa, khiến người đọc dễ có sự đồng cảm.

Thế nhưng, xóm Ngự Viên của Nguyễn Bính không dừng lại ở việc tái hiện mà ẩn trong ký ức ấy là nỗi đau của một người mất nước. Trong các loài hoa được trang hoàng cho vườn Ngự uyển, người đọc bất giác giật mình khi đọc đến từ ‘máu Đỗ Quyên’. Đỗ Quyên ở đây không đơn giản chỉ là bông hoa đỗ quyên nữa mà là một loài chim trong câu “Đỗ Quyên đề huyết” (杜鵑啼血). Chim đỗ quyên nhớ nước kêu gào đến chảy máu miệng được nhắc đến đầy chủ ý vì hình ảnh này tương ứng với khúc ca “Hậu đình hoa” mà nhà thơ viết ở đoạn sau:

Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa
Khúc “Hậu đình hoa” hát tự nhiên.

                               (Xóm Ngự Viên)

Nhà thơ Kim Sowol

Trong điển tích, điển cố, “Hậu Đình hoa” là thuật ngữ nói về sự mất nước. Nhà thơ Kim Sowol cũng chia sẻ với Nguyễn Bính về nỗi đau của chim đỗ quyên trong bài thơ cùng tên dựa theo một huyền thoại trong văn học dân gian Triều Tiên:

Bên dòng sông Chin Tu
Nơi tận cùng đất nước
Ngày xưa chị đã sống
Nhưng vì lòng ghét ghen
Dạ tâm người mẹ kế
Mà chết

Tôi gọi hoài chị tôi
Ôi, thương tâm đau đớn
Chết vì lòng ghen ghét
Chị hoá thành Đỗ quyên

(Chim đỗ quyên - bản dịch của Lê Đăng Hoan)

Theo nhà nghiên cứu Ilhwan Yoon, dòng sông Chin Tu, bối cảnh của câu chuyện dân gian về chim đỗ quyên thể hiện như một nơi bị ám ảnh bởi những tiếng khóc than buốt thấu xương và thảm thiết của những nỗi đau tinh thần.[9] Trong hoàn cảnh của đất nước thời bấy giờ và trong sự nhất quán về phong cách thơ của Kim Sowol, có thể liên tưởng nỗi đau của chim đỗ quyên là nỗi đau của những người dân mất nước. Có thể thấy ở đây, cộng đồng tưởng tượng của Kim Sowol và Nguyễn Bính có sự gặp gỡ trong ý thức chung về việc đánh thức những biểu tượng của văn hoá dân tộc.  

Bên cạnh việc đưa vào bài thơ những ký ức đẹp đẽ của quan Trạng, hình ảnh những người Trạng nguyên yêu nước cũng được lồng vào bài:

Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc
Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền?

Tống Trân, Nguyễn Hiền là hai vị trạng nguyên nổi tiếng trong huyền thoại dân gian và lịch sử mà nhiều người biết đến. Tống Trân nổi tiếng với huyền thoại Lưỡng quốc trạng nguyên và truyện thơ Nôm khuyết danh Tống Trân – Cúc Hoa. Đây là huyền thoại về một Trạng nguyên rất mực tài giỏi, đối đáp khôn khéo trước vua nước Trung Quốc và hết lòng chung tình với người vợ ở quê nhà. Còn Nguyễn Hiền là một trạng nguyên dưới thời vua Trần Thái Tông. Ông không chỉ nổi tiếng về học vấn mà còn là người có tài đánh giặc giữ nước. Đưa ra hai nhân vật trạng nguyên này, Nguyễn Bính không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi hoặc khơi gợi ký ức về học vấn của họ mà còn muốn nhắc đến những câu chuyện liên quan đến họ, về sự chung thuỷ dù đặt chân đến một đất nước khác, về tinh thần yêu nước, dũng cảm đứng lên vì đất nước dù là quan văn hay quan võ. Đó là hình ảnh đất nước với những ký ức đầy tự hào mà Nguyễn Bính muốn đánh thức cho toàn thể độc giả, một ‘đất nước” đối lập với không khí chiến tranh khắc nghiệt của Việt Nam thực sự năm 1939, thời điểm bài thơ ra đời. Đây cũng chính là lý do khiến nhà thơ phải quay quắt thốt lên:

Hôm nay có một người du khách

Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên

Sống trong chính không gian của mình nhưng nhà thơ lại tràn trề nỗi nhớ bởi sự vắng mặt của những gì đã thân thuộc, yêu thương, sự vắng mặt của “căn tính dân tộc”. Ngự Viên giờ đây chỉ còn là tên gọi, là một nơi nào đó khá xa lạ. Bài thơ vừa khơi gợi ký ức, vừa thể hiện nỗi đau của một vùng không gian đã đánh mất đi căn tính của chính nó hay nói cách khác là của một người vong quốc trên chính đất nước của mình:

Ngự viên ngày trước không còn nữa
Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên

Nếu như cộng đồng tưởng tượng của Nguyễn Bính là khơi gợi lại những ký ức trong quá khứ thì cộng đồng tưởng tượng của Kim Sowol mơ hồ hơn. Ông không vẽ ra một khung cảnh với những hình ảnh rõ rệt phản chiếu quá khứ mà ông muốn cộng đồng của mình kết nối với tổ tiên qua con đường tâm linh. Như vậy, ký ức mà Kim Sowol muốn khơi gợi ở đây chính là sự vắng mặt, như cách nói của nhà nghiên cứu Ilhwan Yoon:

Chính nơi đó tổ tiên ta nằm lại
Nơi ta tìm từng dấu vết thời gian
Tiếng hát trôi đi bao vết tích không còn
Chỉ hình bóng bơ vơ đó đây trên đồi vắng

(Mộ - bản dịch của Lê Đăng Hoan)

Trong ký ức khoa cử của Nguyễn Bính, quan Trạng không phải chỉ dành cho những người gắn bó với con chữ, nghiên mực:

Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên
Mười năm vay mượn vào kinh sử
Đã giả xong rồi nợ bút nghiên

(Xóm Ngự Viên)

mà là tước vị bình đẳng dành cho tất cả mọi người, kể cả anh lái đò vùng sông nước:

“Tước đay se võng nhuộm điều ta đi.
Tưng bừng vua mở khoa thi,
Tôi đỗ quan trạng, vinh quy về làng.
Võng anh đi trước võng nàng...
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.”

(Giấc mơ anh lái đò)

Và khi khắc hoạ giấc mơ anh lái đò, Nguyễn Bính cũng khơi gợi lại ký ức vinh quy bái tổ của các Trạng nguyên với hình ảnh rước võng và hình ảnh rước lọng:

Quan Trạng đi bốn lọng vàng
Cờ thêu tám lá qua làng Trang Nghiêm

(Quan Trạng)

Những hình ảnh này hoàn toàn đối lập với những chiếc xe kéo hoặc khiêng kiệu hoặc ngồi xe hơi của những người làm công vụ, những người có chức có quyền của thực dân Pháp trước 1945.  

Trong thơ Nguyễn Bính, quan Trạng không dừng lại ở hình tượng một nhân vật trữ tình mà đã được ông nâng lên thành biểu tượng. Với ông, quan Trạng là biểu tượng của tri thức, của học vấn uyên thâm và am hiểu văn hoá Việt. Hình ảnh quan Trạng sẽ khác với hình ảnh của các tri thức Tây học. Nâng quan Trạng lên thành biểu tượng, Nguyễn Bính cũng hướng cộng đồng tới ước mơ nâng cao tri thức, tinh thần tự bồi đắp văn hoá để chống lại chính sách “ngu để trị” của thực dân Pháp. Một đất nước mà ai cũng giỏi, ai cũng có tri thức thì chắc chắn sẽ tự thức tỉnh và tự giải phóng được bản thân khỏi sự đồng hoá văn hoá. Biểu tượng có ý nghĩa rất lớn trong ký ức tập thể. Yeat, một nhà thơ Ailen có cùng phong cách như Nguyễn Bính đã từng chia sẻ: “các biểu tượng thuộc về một phần cho ký ức và một phần cho chúng ta. Bởi vì ký ức có thể được gợi lên bằng các biểu tượng, nhà thơ có thể định hình các ý tưởng văn hóa bằng cách mô hình hóa các tác phẩm nghệ thuật trên hình ảnh và biểu tượng trong bộ nhớ lớn.”[10]Với việc lặp đi lặp lại hình ảnh quan Trạng qua các bài thơ, Nguyễn Bính đã góp thêm vào ký ức tập thể của cộng đồng văn hoá tưởng tượng một biểu tượng vững chải và nhiều ý nghĩa. Để củng cố cho biểu tượng này của mình, Nguyễn Bính đã cố tình tạo ra sự đứt gãy trong hạnh phúc lứa đôi của quan Trạng và ông rất nhất quán với luận điểm này. Tình yêu của quan Trạng luôn luôn là tình cảm bế tắc, không thể chia sẻ, tựa hồ như tình yêu và những khát khao mà nhà thơ muốn dành cho đất nước. Trong “Xóm Ngự Viên” là vị quan Trạng bắt nhầm quả tú cầu:

Lòng Trạng lâng lâng màu phú quí
Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên
Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy?
Nghiêng cả mùa xuân Trạng ngước nhìn.
Trạng bắt sai rồi, lầu rủ sáo
Có người đêm ấy khóc giăng lên

Trong “Quan Trạng”, chàng trai trở về trong một bức tranh đối lập:

Mọi người hớn hở ra xem
Chỉ duy có một cô em chạnh buồn.

Và trong “Truyện cổ tích” của ông, nhà vua cũng nhất quyết không gả con gái cho quan Trạng:

Em ạ! Ngày xưa vua nước Bướm 
Kén nhân tài, mở Điệp lang khoa. 
Vua không lấy trạng, vua thề thế 
Con bướm vàng tuyền đậu Thám hoa.

Mặc dù bên ngoài, ông khát khao xây dựng một cộng đồng văn hoá tưởng tượng, một Việt Nam thuần nhất nhưng, hơn ai hết, ông cảm nhận được sự đứt gãy, đổ vỡ, sự chia rẽ trong lòng đất nước. Có thể xem “Chân quê” như là một nỗ lực trong tuyệt vọng để chống lại sự đồng hoá văn hoá của nhà nước thực dân. Cô gái trong bài thơ này trước đây được ông vẽ ra là một cô gái Việt Nam không lẫn vào đâu được:

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Thế nhưng cô gái ấy đã thay đổi cách ăn mặc, đã trở thành con người khác đến nỗi nhà thơ buộc phải lên tiếng van lơn:

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!

(Chân quê)

Xét trong cộng đồng văn hoá tưởng tượng của Nguyễn Bính, cô gái quê ở đây không phải là cô người yêu hay một cô gái cụ thể nào đó “vừa đi tỉnh về” của nhà thơ mà là một cô gái mang đậm căn tính Việt. Cô gái ấy đã tạo ra một ký ức đẹp đẽ cho Nguyễn Bính và ông cũng muốn chia sẻ vẻ đẹp ấy với cộng đồng của mình, khơi gợi, nhắc nhở họ về hình ảnh của những cô gái quê chân quê đẹp đẽ. ‘Em’ ở đây là cô gái Việt Nam nhưng ‘em’ cũng có thể xem là nước Việt Nam, một Việt Nam sau thời gian dài va chạm với văn hoá phương Tây đã ít nhiều biến đổi, đã không còn vẻ đẹp thuần khiết và hồn hậu như xưa. Nguyễn Bính khéo léo biến hình tượng đất nước thành hình tượng ‘em’ trong bài thơ để thoải mái bày tỏ tâm tư tình cảm của mình nhưng cũng là để gợi nhắc, kiến tạo ký ức buồn thương trong cộng đồng. Hầu hết, tình cảm của nhà thơ và nhân vật em đều không có kết thúc có hậu, đều nhuốm màu chia ly dẫu cho nhân vật em luôn được thể hiện rất xinh tươi, đắm say lòng người:

Nàng đẹp, đẹp từ hai khoé mắt,
Làm mờ những ánh ngọc trân châu
Làm phai ánh nước hồ thu thắm,
Làm nhạt bao nhiêu ánh nhiệm màu.

(Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng)

Nhưng dẫu đẹp thế nào, nàng cũng không hạnh phúc:

Trước tài sắc ấy, người chồng ấy
Không cảm, không yêu, chẳng hiểu gì
Nàng biết từ đây đường hạnh phúc
Của nàng ngày một ngắn dần đi.

(Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng)

Cô gái ấy kết hôn với người không yêu, không hiểu mình, có khác gì đâu hoàn cảnh đất nước đang bị xâm lấn bởi một nền văn hoá khác, một chính quyền cai trị bắt buộc đất nước thuộc địa phải từ bỏ căn tính để theo ‘họ’. Chính vì ở trong một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, cô gái luôn mong chờ, khát khao một chàng trai nào đó đồng cảm được với mình, tới giải phóng cho mình:

Bỗng một ngày hè hoa phượng thắm,
Nở đầy trong lá phượng xanh tươi.
Trải dài thắm đỏ con đường trắng,
Nàng thấy đi trên thảm một người.

Người ấy, bụi hồng phong nếp áo
Đi theo tiếng gọi của vinh quang
Nhưng nay dừng bước trên hoa rụng,
Người thấy đâu đây một nhỡ nhàng.

(Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng)

Nhưng dường như chàng trai ấy cũng chỉ là một ảo ảnh, mang đến cho cô hy vọng trong chốc lát để rồi lại vẫn trở về, đâu vào đấy, sống một cuộc sống bi thương, bất hạnh:

Người ấy đi rồi... Nàng trở lại
Hờ hai mắt đọng một u sầu.
Buồng hương hoa héo mùa thu hắt
Qua lá mành tương đã lạt màu.

Bao nhiêu ân ái thế là thôi.
Là bấy nhiêu oan nghiệt, hỡi giời.
Nghẹt dưới bàn tay thần định mệnh,
Nàng đương dệt tấm hận muôn đời.

(Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng)

Nguyễn Bính đã sử dụng rất nhiều câu thơ để kiến tạo nên ký ức về những người con gái quê xinh đẹp, những người con gái Việt Nam với trang phục và cử chỉ dịu dàng nhưng đi kèm với đó cũng là ký ức của đau thương, mất mát.

Để tạo nên căn tính dân tộc, Nguyễn Bính cũng không quên nhắc nhở mọi người về những sinh hoạt văn hoá vùng nông thôn. Với nhà thơ, không gian nông thôn là nơi lưu giữ rất nhiều hình ảnh về nếp sinh hoạt của người dân Việt Nam, trong đó có cả nghệ thuật truyền thống. Để tôn lên vẻ đẹp của nghệ thuật truyền thông, Nguyễn Bính không ngần ngại vẽ ra một bức tranh đầy trữ tình của nghệ thuật hát chèo ám ảnh người đọc:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”

Trong bốn câu thơ này, Nguyễn Bính đã dụng công rất nhiều để làm cho hình ảnh Hội chèo trở nên nổi bật, đầy sức sống. Thế nhưng, đến đoạn thơ sau, dù cũng có hoa xoan, cũng còn mưa xuân nhưng Hội chèo trong mắt nhà thơ đã mang hình ảnh của sự tiếc nuối. Hội chèo vẫn còn đó, nhưng nó đang trình diễn trong một không gian thiếu sức sống:

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

Không gian văn hoá mà nhà thơ cố tình tạo ra ở đây là một ký ức hết sức đẹp đẽ về hát chèo. Tuy nhiên, người ta không thể bình yên thưởng thức nghệ thuật khi trong lòng nhiều bất ổn. Nguyễn Bính có cách lý giải riêng về lượng khán giả sụt giảm, về sự suy tàn của nghệ thuật hát chèo, đó là do cuộc sống của người xem không hạnh phúc. Dẫu vậy, nhà thơ luôn bày tỏ niềm hy vọng, sự thiết tha đối với loại hình văn hoá dân gian này:

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ chèo Ðặng đi ngang ngõ
Ðể mẹ em rằng hát tối nay?

Ở đây, Kim Sowol cũng có sự đồng tình với Nguyễn Bính khi đưa những sinh hoạt dân gian vào cộng đồng tưởng tượng. Nó vừa tạo ra sự tương phản với tình trạng thực sự của đất nước bên ngoài, vừa khơi dậy căn tính dân tộc từ bên trong. Những cô gái chơi trò bập bênh trong ngày xuân của Kim Sowol tưởng như đang tận hưởng niềm vui thực sự khi nhà thơ đặt trò chơi trong bối cảnh nghi lễ:  

Những cô gái ven đô chơi trò bập bênh
Trong ngày Phật đản
Chơi trò bập bênh

Thế nhưng, cũng như Nguyễn Bính, trò chơi dân gian mà Kim Sowol lựa chọn tái hiện cũng là hình ảnh ẩn dụ cho sự chông chênh, mất phương hướng:

Ngày xuân
Vui cuồng vui nhiệt
Các cô gái ven đô đang chơi trò bập bênh
Tình yêu bập bênh muôn thuở

              (Những cô gái chơi trò bập bênh)

  1. 2.      Kiến tạo ký ức chống thuộc địa

Việc tái định nghĩa quốc gia, khơi gợi những hình ảnh để tạo nên ký ức tập thể cũng là một trong những cách chống thuộc địa của nhà thơ Nguyễn Bính. Để tô đậm hơn cho ký ức đó, Nguyễn Bính rất chủ động trong việc tránh bị ảnh hưởng bởi thơ ca phương Tây. Các bài thơ của ông hầu hết đều mang âm hưởng ca dao, dân ca Việt Nam thể hiện ở việc gieo vần, sử dụng thơ lục bát và các biểu tượng thường xuất hiện trong những câu hát dân gian. Tơ, khung cửi, thoi, bươm bướm, thuyền, bến, con đò…là những hình ảnh rất quen thuộc trong văn học dân gian Việt Nam và cũng là những hình ảnh có mặt trong phần lớn thơ Nguyễn Bính. 

Ông rất hạn chế sử dụng thể thơ tự do và các yếu tố ngoại lai như các yếu tố tượng trưng, siêu thực. Bên cạnh văn học dân gian, dường như ông chỉ chấp nhận chịu ảnh hưởng ngôn ngữ và thi pháp truyện thơ Nôm, như nhà nghiên cứu Thuỵ Khuê đã nhận xét: “Thơ Nguyễn Bính kết hợp hai thể loại trên đây: thể ngâm của Cung oán và Chinh phụ và thể thoại của các truyện nôm: Hoa tiên, Kiều... Nói khác đi thơ Nguyễn Bính là tự truyện kết hợp với tiểu thuyết.”[11]

Trong nghiên cứu của mình, Thuỵ Khuê cũng chỉ ra những dấu vết của Truyện Kiều trong thơ Nguyễn Bính, như bài thơ “Lỡ bước sang ngang”:

- Em ơi! Em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

Lời van xin của nhà thơ đối với cô gái như lời Kiều nói với Thuý Vân năm nào khi trao duyên cho Kim Trọng.

Giống như Nguyễn Bính, Kim Sowol cũng sử dụng chất liệu văn hoá dân gian để đưa ra diễn ngôn của mình về căn tính dân tộc, khơi gợi ký ức tập thể về những huyền thoại xưa, đặc biệt là những huyền thoại liên quan đến việc giữ nước. Nhà thơ tái sử dụng huyền thoại dân gian là Xuân Hương và chàng Lý nhưng không phải để tôn lên câu chuyện tình yêu đôi lứa của họ mà nhắc đi nhắc lại về vùng đất mà họ đang sống:

Vâng đúng rồi chị tôi, ô, ô! người chị của tôi
Là Xuân Hương cùng anh chàng họ Lý
Đã sống nơi này

(Xuân Hương và chàng Lý)

Đoạn cuối, Kim Sowol cũng tiếp tục nhắc lại:

Vâng đúng rồi chị tôi, ô, ô! người chị của tôi
Trên đất Nam Won ngày lại qua ngày
Chị Xuân Hương trong trắng đã từng sống nơi đây

Sử dụng cấu trúc lặp lại cùng tích truyện dân gian ở đây, nhà thơ Kim rõ ràng đang tuyên bố trước thực dân về chủ quyền của vùng đất này, đồng thời cũng gợi nhắc, kiến tạo ký ức tập thể cho nhân dân về vùng đất, về sự có mặt trên vùng đất này của tổ tiên.

Trong việc kiến tạo ký ức chống thuộc địa, Nguyễn Bính đã rất chọn lọc, đưa ra rất nhiều tích truyện liên quan đến những cô gái hy sinh hạnh phúc lứa đôi để đổi lại độc lập cho Tổ quốc. Khi buộc phải miêu tả nội dung một vở chèo, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Bính lấy ngay đoạn Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên:

Phường chèo đóng Nhị độ mai
Sao em lại đứng với người đi xem?
Mấy lần tôi muốn gọi em,
Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ

Hay khi đi qua một dòng sông, hơi lạnh phả lên khiến nhà thơ thổn thức về hình ảnh nàng Chiêu Quân bị đưa đi cống Hồ:

Rưng rưng ánh nến hoen vàng
Hơi men lắng xuống tiếng đàn cao lên
Ô nàng, chẳng phải là em
Tôi nghe vó ngựa hoà Phiên rộn ràng
Ðừng em, quên đấy, thôi nàng
Ðất Hồ xa quá, nàng sang sao đành!

(Một con sông lạnh)

Và dẫu có van xin thế nào thì nàng Chiêu Quân cũng phải giã từ đất nước để lên đường:

Ðò quên cập bến, tôi say muôn đời
Chiêu Quân lên ngựa mất rồi!

Những cô gái ra đi vì đất nước, những vùng không gian thuộc chủ quyền của dân tộc Việt Nam vẫn đang ở trong sự kiểm soát của thực dân. Chính vì vậy, Nguyễn Bính muốn thông qua những bài thơ của mình, kiến tạo lại những địa danh đã quen thuộc với người dân Việt Nam theo ký ức của riêng ông. Với Nguyễn Bính, những địa danh ông đi qua đều là những nơi chốn có tên cụ thể chứ không phải những vùng không gian chung chung. Viết về những đại danh đó, ông cố gắng tạo ra cảm xúc, gợi ký ức để người đọc có thể chia sẻ được. Địa danh Thanh Hoá trong mắt nhà thơ là nơi có người con gái quay tơ, có những quán trọ, có hoa cúc nở, có lá vàng mùa thu và ngập tràn hoa cỏ may:

Đường mòn tràn ngập bông may,
Gió heo báo trước một ngày thu sang.
Dừng chân trước cửa nhà nàng,
Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau.

(Dòng dư lệ)

Riêng với Hà Nội, ký ức của nhà thơ có nhiều nỗi đau hơn. Hà Nội vẫn hiện lên với 36 phố phường như trong ký ức bao người Việt Nam nhưng Hà Nội lại phủ một màu trắng xoá của những chiếc khăn tang:

Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng đã dứt một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác....
Ô! Một người đi giữa đám tang.

(Hà nội 36 phố phường)

Và nhà thơ cũng không ngại ngần mô tả thật chi tiết đám tang của cô trinh nữ tại Hà Nội:

Tôi thấy quanh tôi và tất cả,
Kinh thành Hà Nội chít khăn sô.

(Viếng hồn trinh nữ)

Rõ ràng, với những câu thơ viết về Hà Nội, Nguyễn Bính luôn có cảm xúc rất mãnh liệt, khiến cho người đọc không khỏi ấn tượng và rùng mình. Có thể nỗi đau này xuất phát từ một Hà Nội đã mất của tác giả nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Hà Nội ngày xưa là Hà Nội 36 phố phường nhưng Hà Nội ngày nay là Hà Nội của tang tóc. Từ đây, cũng có thể nói rằng, dù khẽ khàng và kín đáo như lối viết dân gian nhưng những bài thơ của Nguyễn Bính trước năm 1945 đều khơi gợi sâu sắc những ám ảnh của con người trước chiến tranh, chia ly và chết chóc. Những người con gái chết trẻ, những chàng trai chết trẻ và đột ngột, có mặt trong phần lớn thơ Nguyễn Bính không thể không có sự ngầm ẩn của tội ác chiến tranh. Có thể so sánh với thơ Nguyễn Bính sau 1945 để thấy một tâm trạng vui tươi rạo rực khác hẳn thời trước. 

Nhà thơ Kim Sowol cũng chia sẻ với Nguyễn Bính về những địa danh mà ông muốn chiếm giữ cho riêng mình. Kim Sowol muốn gợi lên cho độc giả những ký ức đẹp đẽ nhất về những vùng không gian cụ thể mà nhiều người biết đến dẫu cho đó chỉ là một cách nhìn của riêng ông. Nhà thơ đã thành công với việc kiến tạo ký ức cho những vùng đất mà mình đã đặt chân đến. Nhà nghiên cứu Luke Kim chia sẻ rằng: bất cứ khi nào đọc bài thơ Hoa đỗ quyên của Kim Sowol, ông đều thấy hiện ra trước mắt mình những ký ức tuyệt đẹp của vùng núi Yaksan[12], nơi hoa đỗ quyên đang được phủ đầy:

Ta sẽ lang thang khắp đồi Yaksan
Khắp vùng Yong-byon gom từng bông hoa dại
Rồi khắp các đường làng, những bông hoa ta hái

(Hoa đỗ quyên)

Theo nhà nghiên cứu Luke Kim, vùng núi đồi Yaksan không chỉ nổi tiếng về hoa đỗ quyên mà còn nổi tiếng về những cây dâu tằm và vùng Yong-byon là vùng đất nổi tiếng về sản xuất lụa. Thế nhưng, trong những năm gần đây, khi Bắc Triều Tiên quyết định xây dựng nhà máy hạt nhân thì sự tươi đẹp của vùng đất ấy sẽ chỉ còn lại trong ký ức của độc giả mà thôi[13]. Chính vì vậy, nỗi buồn mà bài thơ Hoa đỗ quyên gợi lên là nỗi buồn mang tính dự báo về sự huỷ hoại, dẫu cho có một khung nền tươi đẹp thì vẫn không ngăn cản được ký ức chia phôi:

Nếu như nàng quyết dứt áo ra đi
Không còn thiết sống cùng ta nữa
Ta chẳng khóc, nhưng mà ta tàn úa.

Trong một bài thơ khác, Kim Sowol cũng thể hiện cách viết tương tự:

Đèn xanh
Đèn đỏ
Tâm hồn, tim tôi
Đèn xanh cô tịch
Đèn đỏ đơn côi

(Đêm Seoul)

Bài thơ gợi lên ký ức về địa danh Seoul nhưng dường như đó là những ánh sáng xanh đỏ mờ ảo trong ký ức buồn bã của nhà thơ. Mỗi màu đèn đại diện cho một dạng cảm thức riêng.

Có thể thấy rằng, cả hai nhà thơ luôn cố gắng định danh những vùng đất cụ thể bằng những ấn tượng, những ký ức của mình cho người đọc để thể hiện chủ quyền trên mảnh đất quê hương. Tuy nhiên, xét ở góc độ sâu xa hơn, những địa danh cụ thể của cả hai nhà thơ đều trở thành những hình ảnh ẩn dụ. Những ký ức về lãnh thổ mà Kim Sowol muốn tạo ra cho nhân dân Triều Tiên đều có sự thiêng liêng hoá và có sự giao kết với tổ tiên, với huyền thoại như sông Chin Tu, đất Nam Won... Chính vấn đề lãnh thổ làm ông đau đớn vì bị giam giữ, kiềm hãm. Mượn địa danh núi Xam Xu Cap, ông thể hiện tâm trạng của một người dân bị mất tự do:

Núi Xam Xu Cap là gì nhỉ
Mà tôi về không thể ra đi
Không về, tôi quyết không về nữa
(Ha ha) Giá được là chim để bay đi

Và từ đó, vấn đề lãnh thổ được ông đẩy lên đến tư tưởng giải lãnh thổ. Khi con người ta không còn bị giam giữ trong một lãnh thổ nào cụ thể, con người sẽ được tự do:

Núi ngăn
Ta quay đường vòng
Đá ngăn
Vượt đá, ta không ngại ngần

(Mưa đêm)

Ông ước mình biến thành giọt mưa đêm để vượt qua mọi rào cản, mọi vùng lãnh thổ:

Hẳn là
Như giọt mưa đêm
Lang thang vô định
Rơi trên cõi đời

  1. 3.      Kết luận

Lịch sử đi qua để lại dấu ấn trên các sự kiện và nó được kiến tạo cho những điểm nhìn chung nhất nhưng ký ức sẽ luôn luôn hiện diện trong cộng đồng với nhiều điểm nhìn khác nhau và có sự nối tiếp từ giai đoạn này đến giai đoạn khác. Ký ức tập thể giúp mỗi cá nhân định vị được bản thân họ là ai trong cộng đồng. Đất nước còn hay mất không hẳn chỉ đơn giản là sự hiển thị của nó trên bản đồ mà nằm ở việc gìn giữ ký ức tập thể của cộng đồng để tạo nên căn tính cho cộng đồng đó. Nguyễn Bính và Kim Sowol tuy ở hai đất nước khác nhau nhưng bằng sự nhạy cảm của tâm hồn thi sĩ và bằng tình yêu quê hương đất nước tha thiết, cả hai đều cố gắng tạo dựng cho cộng đồng mình những ký ức tập thể để thức tỉnh mỗi cá nhân trong vai trò tự giữ gìn căn tính dân tộc cho riêng mình. Cộng đồng văn hoá tưởng tượng mà hai nhà thơ cố gắng tạo ra thực sự đã mang đến nhiều ý nghĩa khi soi chiếu khái niệm ‘đất nước’ dưới thời thực dân. Đó là đất nước của riêng hai nhà thơ, vượt qua mọi sự đồng hoá, xâm lược và mọi cuộc chiến tranh phi nghĩa.

ĐLN

Tài liệu tham khảo

  1. Anderson, B. R. O. G. (1991). Imagined communities: Reflections on the origin and spread of nationalism. London: Verso
  2. Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương (2007), Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội
  3. Hoài Thanh, Hoài Chân (2015), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội
  4. Ilhwan Yoon, (2012), “Folklore and Nationalism in Yeats and Sowol: Nation as an “Imagined” and “Melancholy” Community”, The Yeats Journal of Korea
  5. Jeffrey K. Olick, (1991), Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition
  6. Luke I. C. Kim, (2012), Beyond the Battle Line:The Korean War and My Life, Xlibris
  7. Maurice Halbwachs, The Collective Memory Reader, Oxford University Press, 2011
  8. Kim Sowol (2004), Hoa Chin-tal-le, NXB Văn học
  9. Hoàng Xuân, (2003), Nguyễn Bính - thơ và đời, NXB Văn học
  10. Weinberg, H. (2014). The paradox of Internet groups: Alone in the presence of virtual others.
  11. http://thuykhue.free.fr/stt/n/NguyenBinh.html

       Nguồn : Viện Văn học – Đại học Văn Lang (2018), Trăm năm Nguyễn Bính – Truyền thống và hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, TP. Hồ Chí Minh, tr. 133 – 152.

 

 


[1] Jeffrey K. Olick, Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition, Tr.7-8

[2] Haim Weinberg, The Paradox of Internet Groups: Alone in the Presence of Virtual Others, tr. 143

[3] Jeffrey K. Olick, Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition, Tr.7-8

[4] Jeffrey K. Olick, Collective Memory, International Encyclopedia of The Social Sciences, 2nd edition, Tr.7-8

[5] Maurice Halbwachs, The Collective Memory Reader, Oxford University Press, 2011, tr. 144

[6]  Iwona Irwin Zarecka, Frames of Remembrance: The Dynamics of Collective Memory

[7] Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm, Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương tuyển chọn và giới thiệu, tái bản lần 3, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, trang 251.

[8]Anderson, B. R. O. G. (1991). Imagined communities: Reflections on the origin and spread of nationalism. London: Verso, Tr. 5,6,7

[9] Ilhwan Yoon, (2012), “Folklore and Nationalism in Yeats and Sowol: Nation as an “Imagined” and “Melancholy” Community”, The Yeats Journal of Korea, tr. 16

[10] Ilhwan Yoon, (2012), “Folklore and Nationalism in Yeats and Sowol: Nation as an “Imagined” and “Melancholy” Community”, The Yeats Journal of Korea, tr. 9

[11] http://thuykhue.free.fr/stt/n/NguyenBinh.html

[12] Luke I. C. Kim, (2012), Beyond the Battle Line:The Korean War and My Life, Xlibris

[13] Luke I. C. Kim, (2012), Beyond the Battle Line:The Korean War and My Life, Xlibris

Thông tin truy cập

39777788
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
297
7152
39777788

Thành viên trực tuyến

Đang có 183 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929