Tin tức - Hoạt động

Toạ đàm khoa học quốc tế: Ngôn ngữ của âm thanh trong phim tự sự dưới góc độ tín hiệu học chức năng hệ thống

In bài này

K.VH&NNH - Chiều 26.01.2026, tại phòng C103 (cơ sở Sài Gòn, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM), Khoa Văn học và Ngôn ngữ học tổ chức Tọa đàm khoa học quốc tế “Ngôn ngữ của âm thanh trong phim tự sự dưới góc độ tín hiệu học chức năng hệ thống”, thu hút gần 150 học giả, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học, dự bị tiến sĩ và sinh viên tham dự. 

20260128 1

Tham dự chương trình có PGS.TS. Đặng Ngọc Lệ – Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh; TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh – nguyên Trưởng Khoa Ngôn ngữ học (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM); PGS.TS. Phan Mạnh Hùng – Trưởng Khoa Văn học và Ngôn ngữ học; TS. Lê Ngọc Phương – Phó Trưởng Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, cùng đại diện giảng viên và người học quan tâm đến hướng nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học – tín hiệu học – điện ảnh. Tọa đàm do TS. Đào Lê Na – Phó Trưởng Khoa Văn học và Ngôn ngữ học – đảm nhiệm điều phối.

Diễn giả của tọa đàm là TS. Thu Ngô (Ngô Thị Bích Thu) – giảng viên Trường Đại học New South Wales (Sydney, Úc), cô có nhiều đóng góp trong lĩnh vực Ngôn ngữ học Chức năng Hệ thống (SFL). Năm 2023, TS. Thu Ngô được trao Giải thưởng M.A.K. Halliday với công trình Modelling Paralanguage from the perspective of Systemic Functional Semiotics (đồng chủ biên cùng Susan Hood, J.R. Martin, Clare Painter, Bradley Smith, Michele Zappavigna).

20260128.jpg

Tại tọa đàm, TS. Thu Ngô trình bày tham luận The language of sounds in narrative films: A systemic functional semiotics perspective, mở rộng cách tiếp cận nghiên cứu theo hướng xem âm thanh như một hệ thống tạo nghĩa.

Tham luận đặc biệt nhấn mạnh một vấn đề xuất phát từ thực tiễn giáo dục tại Úc: phim được giảng dạy như một loại văn bản, tuy nhiên giáo viên phổ thông thường thiếu bộ công cụ/ siêu ngôn ngữ để mô tả và hướng dẫn học sinh phân tích lớp nghĩa của âm thanh trong phim, nhất là khi không có nền tảng âm nhạc học. Từ đó, diễn giả gợi mở các vấn đề nghiên cứu:

- Âm thanh trong phim góp phần tạo nên các hiệu ứng văn chương như thế nào?

- Dạy học về âm thanh như một yếu tố tham gia kiến tạo các hiệu ứng văn chương;

- Xây dựng siêu ngôn ngữ (metalanguage) để giáo viên và học sinh có thể nói về âm thanh (đặc biệt là âm nhạc) mà không cần hiểu biết chuyên sâu.

Ở bình diện phương pháp, diễn giả cũng gợi nhắc ba thao tác cốt lõi mà các nhà tín hiệu học thường thực hiện: (1) thu thập, ghi chép và hệ thống hóa nguồn lực ký hiệu; (2) khảo sát cách nguồn lực ấy được sử dụng trong bối cảnh cụ thể và cách con người nói về chúng; (3) đóng góp vào việc phát hiện, phát triển nguồn lực ký hiệu mới cũng như các cách sử dụng mới của nguồn lực hiện có (van Leeuwen, 2005, tr. 3).

Trên cơ sở hướng tiếp cận kết hợp giữa tín hiệu học chức năng hệ thống và nghiên cứu văn học, tham luận triển khai ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm, đồng thời đưa ra những gợi ý trả lời mang tính định hướng:

(1) Trong phim tự sự, có thể quan sát những loại âm thanh nào?

Tham luận đề xuất việc hệ thống hóa và phân loại âm thanh điện ảnh như bước nền tảng trong phân tích phim tự sự. Theo đó, âm thanh có thể được nhận diện theo nhiều tiêu chí: nguồn âm (lời thoại, âm nhạc, hiệu ứng âm thanh); tính chất âm nhạc (giọng hát có/không có lời, nhạc khí); mối quan hệ với thế giới tự sự (nội tại/ngoại tại; xuất hiện trong/ngoài khung hình); và vị thế trong cấu trúc thính giác (tiền cảnh, trung cảnh, hậu cảnh). Cách phân loại này cho thấy âm thanh trong phim được tổ chức như một hệ thống nguồn lực ký hiệu, có thể quan sát, mô tả và phân tích một cách có phương pháp. Tiếp đó, diễn giả triển khai khái niệm khả năng tạo nghĩa (affordances) của âm thanh điện ảnh, xem âm thanh như một văn bản âm thanh (sound text), có thể mô tả qua các tham số như nhịp điệu, cường độ, giai điệu, âm sắc và tổ chức âm thanh.

(2) Trong ngữ cảnh của bộ phim, các loại âm thanh ấy có thể kiến tạo những kiểu nghĩa nào?

TS. Thu Ngô chuyển sang nội dung mô hình hóa chức năng liên nhân của âm thanh trong phim, tập trung lý giải cách âm nhạc và hiệu ứng âm thanh tham gia kiến tạo ý nghĩa liên nhân trong ngữ cảnh phim, tức cơ chế âm thanh tác động đến người xem, tổ chức cảm xúc và định hướng thái độ trong quá trình tiếp nhận. Từ khung lý thuyết này, diễn giả gợi mở khả năng tiếp cận âm thanh phim từ các hệ thống ngữ nghĩa diễn ngôn trong SFL để minh họa hướng mô hình hóa các lớp nghĩa do âm nhạc và hiệu ứng âm thanh kiến tạo. Diễn giả đồng thời điểm lại một số nhận định trong nghiên cứu âm thanh điện ảnh, nhấn mạnh sự phân công chức năng tương đối: lời thoại thiên về dẫn dắt thông tin theo hướng lý trí, âm nhạc nâng đỡ và khuếch đại cảm xúc, còn hiệu ứng âm thanh góp phần tổ chức thông tin và hiệu quả hiện thực của cảnh phim. Trên cơ sở đó, tham luận hệ thống hóa các chức năng thường gặp của nhạc phim (đặc biệt là nhạc nội/ngoại truyện): tạo hiệu ứng kịch tính (căng thẳng, hồi hộp), phối hợp với tiếng động để tăng mức độ ám gợi, hoặc tạo hiệu ứng hài thông qua tương phản giữa tâm trạng do âm nhạc kiến tạo với hình ảnh.

(3) Âm thanh đóng góp ra sao vào việc biểu hiện các khái niệm và giá trị “văn chương” của phim như văn bản tự sự, trong tương tác với các nguồn lực điện ảnh khác?

Theo hướng này, âm thanh được xem như nguồn lực hỗ trợ khắc họa nhân vật, thúc đẩy tương tác, hành động cốt truyện, kiến tạo không gian, đồng thời tạo lập các thủ pháp tự sự như hồi hộp, căng thẳng, bất ngờ hay hài hước.

Ở phần thảo luận, người tham dự tập trung đặt câu hỏi về lý do nghiên cứu âm thanh trong phim thường gặp khó khăn, cũng như cách phân biệt giữa Ngôn ngữ học Chức năng Hệ thống và Tín hiệu học Chức năng Hệ thống khi mở rộng đối tượng phân tích từ ngôn ngữ sang các nguồn tạo nghĩa khác. Từ các băn khoăn đó, TS. Thu Ngô làm rõ thêm một số tiêu chí quan sát và hướng thao tác trong phân tích âm thanh phim, như nhận diện quan hệ âm nhạc – cảm xúc (gợi ý dấu hiệu như hợp âm trưởng/hợp âm thứ; nhịp điệu mạnh/nhịp điệu nhẹ), phân biệt liên nhân nội ngôn/ngoại ngôn, xác định nền – tiêu điểm, mô tả tính chất âm thanh, và khả năng đo lường khách quan một số tham số bằng công cụ PRAAT.

20260128 2

20260128 3

Đại diện Ban tổ chức, PGS.TS. Phan Mạnh Hùng nhấn mạnh ý nghĩa của tọa đàm trong việc mở rộng nghiên cứu sang các hệ thống ký hiệu đa phương thức, qua đó bổ sung cơ sở lý luận và phương pháp cho hướng phân tích văn bản phim trong đào tạo và nghiên cứu hiện nay. PGS.TS. Phan Mạnh Hùng đồng thời liên hệ đến mô hình giáo dục khai phóng tại Úc với tinh thần liên ngành, coi trọng năng lực đọc–hiểu các văn bản đa phương thức và phát triển tư duy phản biện, từ đó gợi mở khả năng vận dụng các khung tiếp cận mới vào giảng dạy và học tập trong bối cảnh giáo dục đại học. Trên tinh thần đó, đại diện Ban tổ chức bày tỏ mong muốn tiếp tục trao đổi, mở rộng kết nối và hợp tác học thuật với TS. Thu Ngô trong các hoạt động khoa học thời gian tới.

20260128 4

Tọa đàm khép lại trong không khí trao đổi sôi nổi, cởi mở và giàu tính liên ngành, mở ra nhiều hướng kết nối giữa các nhóm nghiên cứu, giảng viên và người học quan tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ học – tín hiệu học – điện ảnh. Khoa Văn học và Ngôn ngữ học trân trọng cảm ơn TS. Thu Ngô và quý đại biểu, khách mời cùng toàn thể người tham dự đã đóng góp vào thành công của chương trình, qua đó tiếp thêm động lực để Khoa tiếp tục tổ chức các hoạt động học thuật chuyên sâu, cập nhật xu hướng và tăng cường giao lưu quốc tế trong thời gian tới.

Trúc Hà

Ảnh: Khánh Duy