
Câu ca dao xưa còn nhắc lại:
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
Trước kia, dân các nơi muốn về Gia Định làm ăn hay thăm thú thường đi men theo đường biển vào cửa Cần Giờ, đến ngả ba sông Nhà Bè rồi rẽ phải vào sông Sài Gòn mới đến được Gia Định. Là con đường thủy huyết mạch cả về chính trị lẫn kinh tế, nên sông Sài Gòn có vai trò, vị trí quan trọng và đã để lại dấu ấn văn hóa cho Sài Gòn-Gia Định xưa và Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Như vậy, tìm hiểu một số dấu ấn văn hóa của sông Sài Gòn là dịp để chúng ta hiểu hơn về giá trị của sông với vùng đất Sài Gòn mến yêu.
Sông Sài Gòn khởi nguồn từ vùng Hớn Quản (tỉnh Bình Phước) rồi chảy vào Hồ Dầu Tiếng (tỉnh Tây Ninh) và qua tỉnh Bình Dương vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến mũi Đèn Đỏ thuộc huyện Nhà Bè thì nhập với sông Đồng Nai thành sông Nhà Bè. Ra tới mũi Nhà Bè lại tách làm hai nhánh là sông Lòng Tàu và Soài Rạp rồi đổ ra biển Đông qua cửa Cần Giờ, Soài Rạp. Sông dài 256 km, diện tích lưu vực trên 5.000m, lưu lượng trung bình vào khoảng 54m3/s, cung cấp nước cho trên 10 triệu dân ở hai tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh. Sông này khi chảy qua địa phận Thành phố Hồ Chí Minh dài 80 km, bề rộng thay đổi từ 225 đến 370m, sâu 20m. Xưa kia, sông còn có tên gọi khác là sông Bến Nghé (Ngưu Chử Giang), trước đó có tên khác là sông Tân Bình (Tân Bình Giang) (1). Trịnh Hoài Đức, trong sách Gia Định Thành Thông Chí, ghi chép rõ: “Ở phủ Tân Bình, trước thành Gia Định, tục gọi là sông Bến Nghé, rộng 142 tầm, sâu 10 tầm, khi nước lên sâu 13 thước ta…” (2). Ngoài ra, sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết thêm: “ Sông Ngưu Chử (Bến Nghé) ở cách huyện Bình Dương 5 dặm về phía Bắc, có tên nữa là sông Tân Bình, phát nguyên từ thác lớn Bưng Đàm, chảy về phía Đông qua trụ sở Tầm Vông, đến sông Băng Bọt qua sông Bình Đồng, đến bến đò trước tỉnh thành, rồi chuyển về phía Bắc, xuống phía Đông vào ngã ba Nhà Bè, hợp với sông Phúc Bình, lại chảy chừng 142 dặm, đổ ra biển Cần Giờ….” (3). Sách này ghi tiếp: “Năm Mậu Thân, đầu đời trung hưng, thu phục Gia Định, nước sông trong, năm Gia Long thứ 16 nước sông lại trong, năm Minh Mệnh thứ 2 và thứ 6, nước sông lại 2 lần trong, người ta cho thế là điềm thái bình. Năm thứ 17 đúc cửu đỉnh, đúc hình tượng sông vào Cao đỉnh, năm Tự Đức thứ 3 ghi vào điển thờ”(4). Đối với triều đình nhà Nguyễn, sông Sài Gòn không những có vai trò chiến lược đối với vùng đất Gia Định, mà còn mang ý nghĩa quan trọng- nhắc đến công lao của các chúa Nguyễn trong việc mở cõi phương Nam và nhiều lần gắn với điềm lành, được thiêng hóa. Vì thế, sông được khắc hình lên cửu đỉnh, ghi vào điển thờ.
Một đặc điểm cơ bản của đô thị Việt Nam là gắn liền với sông ngòi. Sông nước có nhiều ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội và cả văn hóa ở các đô thị Việt Nam. Chính vì thế, các dòng sông đã tạo nên dấu ấn văn hóa cho các đô thị Việt Nam. Hay nói cách khác, sông nước đã góp phần hình thành một số nét văn hóa mang tính tiêu biểu, đồng thời còn tác động và chi phối sâu sắc đến một số thành tố của văn hóa các đô thị Việt Nam, trong đó có Sài Gòn-Gia Định-Thành phố Hồ Chí Minh. Con sông Sài Gòn đã để lại một số dấu ấn văn hóa mang tính tiêu biểu như sau:
1. Sông Sài Gòn- một cơ sở cho quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa
Sài Gòn, ngay từ buổi đầu thành lập, đã nhanh chóng trở thành một đô thị sầm uất. Có nhiều tàu thuyền từ các địa phương và nhiều quốc gia khác, theo sông Sài Gòn, tìm đến đây để trao đổi hàng hóa, buôn bán, chủ yếu là lúa gạo và nông sản. Trịnh Hoài Đức đã ghi lại cảnh nhộn nhịp ấy :“Những tàu buôn và ghe thuyền sông biển trong và ngoài nước ra vào không ngớt, trông thấy đầu tàu nối liền, đuôi cột buồm chi chít, đủ biết đó là nơi đô hội” (5). Vì vậy, nhiều người nước ngoài đã có mặt, buôn bán và sinh sống xen kẻ với dân bản xứ :” Gia Định ở về phía Nam nước Việt, khi mới khai thác, thì có lưu dân nước ta cùng người Đường. Người Tây Dương, Cao Miên, Đồ Bà,những người nước ấy đến sinh sống chung nhau rất đông mà y phục đồ dùng đều theo kiểu của dân tộc họ” (6). Đặc biệt, sau khi thành Gia Định thất thủ, năm 1860, người Pháp cho xây dựng cảng Sài Gòn bên bờ con sông và biến đây trở thành một đô thị theo kiểu kiến trúc Pháp, đầu mối của các tuyến hàng hải từ Đông sang Tây. Từ đó, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Ai cũng biết giao lưu kinh tế đi song song với giao lưu văn hóa (7). Vì vậy, sông Sài Gòn góp phần đưa nhiều luồng văn hóa cả Đông lẫn Tây đến thành phố này, để đây nhanh chóng trở thành nơi đi đầu của cả nước trong việc giao lưu hội nhập văn hóa với khu vực và quốc tế ở Việt Nam, xưa cũng như nay. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã khẳng định: “Một trăm năm giao thoa văn hóa Đông Tây trên đất nước này chủ yếu là ở đô thị (Sài Gòn-Chợ Lớn đi trước, sau là Hà Nội, Huế,…)” (8). Đây là một dấu ấn văn hóa nổi bật của sông đối với vùng đất Sài Gòn – Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh (9).
2. Sông Sài Gòn đã đi vào một số tác phẩm văn học viết:
Hình ảnh sông Sài Gòn đã đi vào những sáng tác văn học. Trương Vĩnh Ký ghi chép lại bài Gia Định phong cảnh vịnh, trong đó có những dòng nhắc đến cảnh sinh hoạt văn hóa trên bến dưới thuyền thuở xưa:
“Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ
Giọng con đò, giọng con rỗi
Trên tàu voi ca khủng khỉnh
Tiếng thằng mục, tiếng thằng nài”(10)
Ở một đoạn khác là quang cảnh tàu thuyền tấp nập:
“ Đồn tiếng Nam Châu thì đã phải
Ghe đen mũi, ghe vàng mũi vào ra coi lòa nước
Người phương Đông qua lại bán buôn
Tàu xanh mang, tàu đỏ mang, hàng hóa chất ngất trời” (11)
Khi Pháp vừa đặt gót giày xâm lược, con sông đã chứng kiến cảnh bi thương, điêu tàn của vùng đất trù phú. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu- người con của đất Nam kỳ Lục tỉnh đau đớn, nghẹn ngào:
_ “ Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen!
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phương con đỏ”(12)
_ “ Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây” (13)
Bài phú Gia Định thất thủ vịnh cũng ghi lại hình ảnh trên:
“Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt Bến Trâu.
Dây thép giăng chớp nháng đất nghìn trùng, ngã xiêu thành Phụng” (14)
Ngay buổi đầu chống giặc, Nguyễn Tư Giản, trong bài thơ tiễn Nguyễn Thông về Bình Thuận, đã dùng hình tượng sông để nói lên khát vọng quang phục của mình:
“ Bao giờ Bến Nghé lại trong
Cho dòng sông Nhị vang lừng khải ca?
Cưỡi thuyền lên tận ngân hà
Biển xanh ra ngắm, trăng ngà sáng soi” (15)
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Xuân Miễn đã nhắc đến dòng sông Sài Gòn:
“ Bạn đã từng nghe An Phú Đông
Một làng nho nhỏ ở ven sông
Một năm chinh chiến! Ôi chinh chiến
Sông nước Sài Gòn nhuộm máu hồng” (16)
Ngoài ra, con sông từng chứng kiến cảnh náo nhiệt, sầm uất một thời của “Hòn ngọc viễn đông” qua bài Kim Gia Định phong cảnh vịnh:
“ Dưới sông tàu lửa đậu liền,
Từ đồn Giao Khẩu sấp lên Bà Nghè.
Thông lưu các nước bốn bề,
Có tàu Đông Việt, có ghe Bắc Kì.
Bán buôn vật nọ hàng kia,
Lao xao thương khách xiết gì là đông.
Chiếc qua chiếc lại đầy sông,
Mù mù khói tỏa, đùng đùng máy kêu.
Những tàu đồng dát sắt neo,
Càng nhìn tận mắt càng xiêu cả hồn.
Sợ chi nghịch thủy nghịch phong,
Dầu lòng chạy ngược dầu lòng chạy xuôi” (17)
Qua đây, con sông không chỉ là hình ảnh của nơi thanh bình, đô hội, mà còn là khung cảnh tang thương của vùng đất anh dũng, kiên cường trước tàu đồng, đại bác của kẻ thù xâm lược. Nhưng hơn hết, các sĩ phu yêu nước đã dùng biểu tượng sông Bến Nghé (Sài Gòn) gắn liền với khát vọng một ngày đất nước sạch bóng quân thù, bờ cõi được thu phục, nhà nhà an cư lạc nghiệp. Theo dòng thời gian, dòng sông Sài Gòn đã giữ lại những hình ảnh và khoảnh khắc thật khó quên của lịch sử. Nó còn là một biểu tượng văn hóa mang nhiều thông điệp của tiền nhân muốn gửi gắm.
3. Sông Sài Gòn với văn học dân gian
Sông Sài Gòn còn xuất hiện trong ca dao dân ca thật sinh động và thú vị (18). Trước cảnh dòng sông mờ khói, cuộc chiến chống giặc lan rộng, người dân Gia Định lúc ấy đã thể hiện hào khí ngút trời:
“ Sông Bến Nghé tàu phun khói mịt
Chợ Bến Thành súng bắn nổ vang
Cả tiếng kêu các tổng, các làng
Đứng lên đuổi bọn xâm loàn về Tây”
Mặt khác, nhiều nam thanh nữ tú giả đò mượn dòng sông để nói chuyện tình cảm của họ:
_“ Sông Sài Gòn, sông bao nhiêu nước
Chợ cũ Sài Gòn, kẻ tục người thanh
Mấy ai mà đặng như anh
Dù cho xao xuyến cũng chơn thành với em”
Thậm chí ai đó lấy cớ để trách móc:
_“ Sông Sài Gòn, cầu Bình Lợi
Tôi tưởng mình là chồng, tôi là vợ, tôi chờ tôi đợi hết hơi
Không dè anh kiếm chuyện nói chơi qua đường”
Sông Sài Gòn có hệ thống kênh, rạch chằng chịt như: Rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé, rạch Phú Xuân, kênh Tham Lương, kênh Tẻ, kênh Đôi,…Nhưng quan trọng nhất là rạch Bến Nghé gắn liền với vùng Chợ Lớn của người Hoa. Hai bên rạch có các bến neo đậu cho ghe từ miền Tây vận chuyển hàng hóa lên Sài Gòn: Bến Chương Dương, bến Vân Đồn, bến Hàm Tử, bến Bình Đông, bến Trần Văn Kiểu. Vì vậy, rạch Bến Nghé là khởi đầu của tuyến đường thủy nối Sài Gòn với Đồng bằng Sông Cửu Long. Và hoạt động giao thương theo nhịp triều lên xuống hằng ngày là môi trường lý tưởng để ra đời văn học dân gian của dân thương hồ-một nét văn hóa đặc sắc trên sông nước Sài Gòn nói riêng và Nam bộ nói chung. Đó là hoạt động buôn bán, chuyên chở hàng hóa:
_“ Đạo nào vui cho bằng đạo đi buôn
Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông”
_ “ Anh đi ghe gạo Gò Công
Về vàm Bao Ngược gió giông đứt buồm”
Chuyện buôn bán trên sông nước thật không dễ dàng, có nhiều trắc trở:
_ “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”
_ “ Một mình vừa chống vừa chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen”
_ “ Đừng ham hốt bạc ghe chài
Cột đòn cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi”
Giữa sông nước mênh mông, đôi lúc người ta cần sự giúp đỡ lẫn nhau của ghe bạn:
_“ Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khuất bóng bần bờ bụi tối tăm”
Đi lại và làm ăn với nhiều nơi cũng là cơ hội để nối nhịp cầu giao duyên đôi lứa giữa những chàng trai của đất Sài Gòn- Gia Định đô hội với các cô gái duyên dáng nơi miền đồng bằng sông nước:
_ “ Em ngồi trước mũi ghe lê
Gió xô, sóng dập anh ngồi kề một bên”
_ “ Ghe lui khỏi bến còn dằm
Người thương xa bến chỗ nằm còn đây”
_ “ Ghe anh đỏ mũi trảng lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em”
_” Ghe anh lui về Gia Định
Em nhớ anh, em thọ bịnh liền
Không tin anh hỏi lại xóm giềng đều hay”
_” Này em Tám ơi! Chợ Sài Gòn cất mới
Ghe tàu lui tới tứ diện rất xinh
Thấy em đẹp dáng tốt hình
Chẳng hay em có chung tình đâu chưa?”
Họ tỏ tình với nhau qua câu hò đối đáp rất mộc mạc, thẳng thắn và không quanh co, rào đón:
1. Đối: “ Đèn treo cột đáy
Nước chảy đèn rung
Anh thương em thảm thiết vô cùng
Biết cha với mẹ bằng lòng hay không?”
2. Đáp: “Đèn treo cột đáy
Nước chảy đèn rung
Cái dĩa bông múc nước không đầy
Lòng tôi thương quân tử, cha mẹ rầy cũng thương”
Rồi, trong số họ cũng có người thất vọng tràn trề khi ghe vừa quay lại chốn cũ:
_“ Chèo ghe tới bến cắm sào
Nghe em có chỗ, anh lộn nhào xuống sông”
Họ cố vượt qua nỗi buồn để tiếp tục công việc mưu sinh hàng ngày:
_ “ Ghe Sài Gòn quay mũi
Tàu Gia Định xúp lê
Giã cô em ở lại lấy chồng
Thuyền anh ra cửa như rồng phun mây”
_ “ Chợ Sài Gòn cẩn đá
Chợ Rạch Giá cẩn xi mon
Giã em ở lại vuông tròn
Anh về Gia Định không còn tới lui”
Nhiều khi vội vã cho kịp chuyến, một chàng trai nào đó đã làm cho cô gái phiền trách:
_ “ Cầu Bình Điền xe lửa chạy nghiêng triền
Anh gặp em dưới thủy trên thuyền
Lời phân chưa cạn sao anh liền chia tay?”
Đặc biệt, ngày nay con đò Thủ Thiêm không còn thoăn thoắt qua lại nối hai bờ sông Sài Gòn, nhưng nó mãi đi vào lòng người qua câu ca dao nổi tiếng:
“Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”
Tóm lại, qua bao thăng trầm lịch sử, sông Sài Gòn ngày đêm vẫn lặng lẽ trôi bên thành phố ồn ào, nhộn nhịp và đông đúc. Dòng sông đã vun bồi, nuôi dưỡng và để lại những dấu ấn văn hóa cho vùng đất Sài Gòn-Gia Định- Thành phố Hồ Chí Minh.Vì vậy, con sông là một phần không thể thiếu được của Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay trên đường hội nhập với văn hóa khu vực và quốc tế.
Chú thích
(1): Tổng hợp tài liệu từ các nguồn:
_ Thạch Phương-Lê Trung Hoa (chủ biên), Từ điển Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh (tái bản có bổ sung), Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 2001, trang 19.
_ Các trang web: www.nguoisaigon.vn, www.vi.wikipedia.org, www.thoangsaigon.com
(2): Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành Thông Chí (bản dịch của Lý Việt Dũng), Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, 2006, trang 42.
(3): Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí (tập 5,bản dịch Viện Sử học, tái bản lần 2), Huế, Nxb.Thuận Hóa, 2006, trang 249.
(4): Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí (tập 5,bản dịch Viện Sử học, tái bản lần 2), Huế, Nxb.Thuận Hóa, 2006, trang 249-250.
(5): Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành Thông Chí (bản dịch của Lý Việt Dũng), Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, 2006, trang 41.
(6): Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành Thông Chí (bản dịch của Lý Việt Dũng), Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, 2006, trang 181.
(7): Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Hà Nội, Nxb.Văn học, 2003, trang 510.
(8): Trần Quốc Vượng, Việt Nam-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh 100 năm giao thoa văn hóa Đông Tây-Nam Bắc. Trích trong: Nhiều Tác giả, Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ XX những vấn đề lịch sử-văn hóa, Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 2000, trang 202-203.
(9): Xin xem thêm cụ thể vấn đề này qua bài viết Dương Hoàng Lộc, Giao lưu và hội nhập văn hóa ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh (từ quá khứ đến hiện tại), trong: Nhiều Tác giả, Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm tiếp bước truyền thống Cách mạng tháng 8(1945-2005), Tp.HCM, Nxb. Tổng hợp TP.HCM, 2005.
(9): Trương Vĩnh Ký (ghi chép)- Nguyễn Đình Đầu (giới thiệu), Gia Định phong cảnh vịnh, Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 1997, trang 19.
(10): Trương Vĩnh Ký (ghi chép)- Nguyễn Đình Đầu (giới thiệu), Gia Định phong cảnh vịnh, Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 1997, trang 25,26.
(11): 2 câu này trích trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.
(12): 2 câu này trích trong bài thơ Chạy Tây của Nguyễn Đình Chiểu.
(13): Trương Vĩnh Ký (ghi chép)- Nguyễn Đình Đầu (giới thiệu): Gia Định phong cảnh vịnh, Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 1997, trang 43.
(14): Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc. Trích trong: Đoàn Lê Giang, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 2001, trang 42.
(15): Trần Văn Giàu-Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập I1: Văn học-Báo chí-Giáo dục), Tp.HCM, Nxb.Tp.HCM, 1998, trang 409.
(16): Trương Vĩnh Ký (ghi chép)- Nguyễn Đình Đầu (giới thiệu), Gia Định phong cảnh vịnh, Tp.HCM, Nxb.Trẻ, 1997, trang 65-66.
(17): Các câu ca dao này được trích từ : Trần Văn Giàu-Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập I1: Văn học-Báo chí-Giáo dục), Tp.HCM, Nxb.TpHCM, 1998, trang 9-71. Ngoài ra, còn có một số câu do tác giả sưu tầm được.
(Nguồn: Bài Tham gia Hội thảo Thông báo văn hoá 2010, Viện Nghiên cứu Văn hoá (Viện KHXH Việt Nam) tổ chức vào 11/2010, Hà Nội)