Đọc chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á của PGS.TS. Đoàn Lê Giang

1. Hình thành từ thế kỉ XIX, văn học so sánh phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều trường phái và thu hút nhiều học giả trên thế giới. Tại Việt Nam, thực tiễn tiếp biến văn hóa – giao lưu văn học đa dạng suốt chiều dài lịch sử càng trở thành điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu văn học so sánh. Từ lâu, văn học trung đại Việt Nam đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước quan tâm nghiên cứu và được đặt vào bối cảnh văn hóa – văn học vùng Đông Á (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản,; còn được gọi là “khu vực văn hóa chữ Hán”). Nghiên cứu của họ đều thể hiện nỗ lực “đi giữa muôn dòng”[1] văn học Đông Á thời kì trung đại để quan sát, tìm hiểu văn học trung đại Việt Nam trong sự sinh thành, vận động, từ đó có những đánh giá, luận giải sòng phẳng, xác đáng. Cho đến nay, đây vẫn là một hướng nghiên cứu nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các thể loại, tác giả, tác phẩm cụ thể,... Những công trình mang tính tổng quan, tổng thể còn hạn chế về số lượng, dung lượng và nằm tản mạn trong nhiều tư liệu, không thật sự thuận tiện cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn học trung đại Việt Nam từ viễn cảnh/góc nhìn (perspectives) này.

2. Chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á của PGS. Đoàn Lê Giang là một tư liệu hữu ích và phần nào khắc phục tình trạng trên. Cần mẫn đào sâu, vun bồi, mở rộng lĩnh vực nghiên cứu này trong suốt hơn 30 năm, nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang đã đóng góp nhiều bài viết nghiên cứu văn học trung đại Đông Á từ góc nhìn so sánh trên các tạp chí, hội thảo (trong đó có nhiều hội thảo do chính ông chủ trì tại Khoa Văn học – Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á là công trình tập hợp những bài viết đó, không phải dưới dạng những nghiên cứu rời rạc, mà được cấu trúc lại theo một bộ khung khá chặt chẽ, mạch lạc. Chuyên luận vừa trao cho người đọc một “bảng lược đồ”[2] để có cái nhìn tổng thể về văn học Đông Á thời kì trung đại, lại vừa cung cấp “những mảnh ghép”[3] là những nghiên cứu trường hợp cụ thể để minh họa sâu sắc hơn cho những “động hình” của văn học Đông Á thời kì này. Cấu trúc “lược đồ” – “mảnh ghép” được triển khai chặt chẽ và xuyên suốt. Chuyên luận được chia thành bốn chương: chương 1 trình bày “Một số vấn đề chung về văn hóa, văn học trung đại Đông Á” đóng vai trò như bảng lược đồ tổng quan, minh định các vấn đề khái niệm, phân kì và các đặc điểm mang tính lí luận của văn học Đông Á thời kì trung đại; ba chương sau lần lượt tiếp cận “Văn học Việt Nam – Đông Á” theo “những mảnh ghép” tương ứng với diễn trình lịch đại là “Tiền kì trung đại”, “Trung kì trung đại” và “Hậu kì trung đại”. Đầu mỗi chương đều có phần viết về “Những vấn đề chung” tái hiện cái nhìn tổng quan về văn học trung đại Đông Á trong từng giai đoạn, trước khi triển khai thành những mảnh ghép về các tác giả, tác phẩm, thể loại... cụ thể phía sau. Một cấu trúc chặt chẽ, bài bản, đi từ khái quát tới cụ thể như trên, khiến Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á không chỉ là tài liệu tham khảo phù hợp với các nhà nghiên cứu, mà còn là “cẩm nang” hữu ích cho việc dạy và học văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn so sánh nói riêng, văn học so sánh nói chung ở bậc Đại học và Sau Đại học.

3. Mỗi bài viết trong chuyên luận là một mảnh ghép dẫn dắt độc giả khám phá những vùng đất khác nhau trên lược đồ văn học Đông Á trung đại. Có những bài viết nhìn nhận tác giả, tác phẩm và thể loại văn học trung đại mỗi quốc gia Đông Á như những “giao điểm”, “giao lộ” của các dòng chảy văn học, như “Abe No Nakamaro trong quan hệ Nhật – Trung – Việt”, “Thể loại truyện truyền kì trong văn học Đông Á”... Một số bài viết đính chính những ngộ nhận về tác quyền tác phẩm nhờ những thông tin đầy đủ hơn từ văn học Đông Á trung đại như “Trở lại vấn đề tác giả và văn bản bài thơ Xuân nhật tức sự, Truyện Kiều…”. Nhiều bài viết đề xuất những điểm đồng dị trong văn hóa, văn học của các quốc gia Đông Á thời kì trung đại, cho thấy khả năng quan sát, khái quát hóa sắc sảo của người viết, đồng thời cũng gợi mở thêm những vấn đề thảo luận như vấn đề thần đạo của người Nhật và “thần đạo” (?) của người Việt, sự khác biệt căn bản trong Nho giáo - kẻ sĩ người Việt và người Nhật thời kì trung đại, xu hướng thoát li và gắn bó với chính trị của văn học Việt Nam và Nhật Bản thời trung đại,... Các nghiên cứu so sánh được triển khai cả theo hướng so sánh loại hình và hướng liên hệ - ảnh hưởng. Trên hành trình đối sánh ấy, người đọc hiểu thêm về văn học – văn hóa các quốc gia khác thuộc “khu vực văn hóa chữ Hán”, mặt khác cũng là một cách để hiểu hơn nền văn học – văn hóa của nước mình.

Đối với việc nghiên cứu văn học so sánh, tư liệu đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Người quan tâm tới văn học trung đại Việt Nam nói riêng và văn học trung đại Đông Á nói chung có thể tìm thấy trong chuyên luận này nhiều bài viết tổng thuật, tóm lược, trích dịch tư liệu tác phẩm hữu quan như: những ghi chép của người các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc về Việt Nam và những ghi chép của người Việt về các nước phương Đông, một số thiên trong Cổ sự kí về huyền thoại lập quốc của Nhật Bản, thơ kasa của Chong Cheol, bài tựa và một số thiên truyện trong Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari, cốt truyện Kim Ngư truyện của K. Bakin, nội dung cơ bản của Ngoại phiên thông thư, các sách địa lí thế giới bằng Hán văn... Những bài viết này được triển khai với văn phong cô đọng, hàm súc, cung cấp thông tin về tư liệu một cách chi tiết, có thể gợi mở những nghiên cứu ở quy mô lớn hơn về giá trị đa diện của các hiện tượng (tác giả, tác phẩm, khuynh hướng, thể loại…).

4. Cố nhiên, văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á phong phú và sinh động hơn giới hạn dung lượng của bất kì công trình nghiên cứu nào. Những nghiên cứu tổng quan về bức tranh văn học – văn hóa Đông Á trung đại dẫu tường tận đến đâu cũng vẫn là một bản “lược đồ”, không thể bao phủ tất cả các “câu chuyện”. Mặc dù đặt vấn đề nghiên cứu khu vực văn hóa Đông Á, nhưng tác giả Đoàn Lê Giang dường như dành sự ưu tiên lớn hơn cho Nhật Bản, thể hiện trong cách phân kì, dung lượng và số lượng nghiên cứu về văn học – văn hóa của quốc gia này thời trung đại. Điều này có lẽ xuất phát từ việc tác giả có nền tảng, sự quan tâm và trải nghiệm sâu sắc hơn với văn học trung đại Việt Nam và Nhật Bản, do đó khi tiến hành nghiên cứu hay tổng thuật, phần viết về văn học – văn hóa Nhật Bản cũng có phần tường tận hơn. Song thiết nghĩ, hẳn sẽ còn thú vị hơn nữa nếu chuyên luận dành thêm dung lượng cho việc đối chiếu những vấn đề văn học – văn hóa Việt Nam với văn học – văn hóa Korea thời kì trung đại.

Chuyên luận dành chương 1 để khái quát những vấn đề chung về văn hóa, văn học trung đại Đông Á, sau đó ở đầu mỗi chương 2, 3, 4 lại tiếp tục có một phần “Những vấn đề chung”. Các bài đề dẫn này hẳn nhằm thực hiện những mục tiêu khác nhau, nhưng những nội dung trùng lặp vẫn không thể tránh khỏi. Chuyên luận tập hợp các bài kỉ yếu của tác giả, nên một số vấn đề lại được tách thành hai bài riêng biệt và nội dung cũng có phần chồng lấn nhất định. Trong khi đó, một số bài viết có vấn đề nghiên cứu thú vị lại chưa có dung lượng đủ nhiều để đi sâu, như trường hợp các nghiên cứu về Kim Ngư truyện. Có lẽ, với những thông tin mới và thú vị về tác phẩm đã được các bài viết đặt ra, độc giả sẽ trông chờ tác giả có những nghiên cứu cụ thể hơn nữa thay vì chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tư liệu. Tuy nhiên, thiết nghĩ, chính đó lại là những khoảng trống, gợi dẫn, mời gọi những nghiên cứu văn học Đông Á trung đại từ góc độ so sánh trong tương lai.

Theo đó, chuyên luận đề xuất nhiều nhận định thú vị, gợi mở về tiếp biến văn học, văn hóa Việt Nam – Đông Á, trong đó có những khái niệm, vấn đề còn khoảng trống cho việc thảo luận. Chẳng hạn, trong bài “Những vấn đề chung” của chương 1, chuyên luận vẫn dùng thuật ngữ “thơ Hàn luật” để chỉ thơ thất ngôn xen lục ngôn, song thuật ngữ này đã được một số học giả cho rằng cần cân nhắc lại. Bài “Nho giáo Nhật Bản và Nho giáo Việt Nam” kế thừa quan điểm của Tsuboi Yoshiharu khi cho rằng Nho sĩ Nhật Bản thiên về “Trung”, Nho sĩ Việt Nam thiên về “Nghĩa”, nhấn mạnh “tình nghĩa” như là “linh hồn đời sống tình cảm của người Việt”. Tư tưởng này tiếp tục được duy trì khi tác giả nhận định “đặc chất của trữ tình Nhật Bản là mono no aware, của Trung Quốc là “phong cốt” thì ở Việt Nam là “tình nghĩa”” (tr.92) trong bài “So sánh quan niệm văn học cổ điển Việt Nam và Nhật Bản”. Hẳn sẽ thuyết phục hơn nếu những dẫn chứng được tác giả trích dẫn từ sử liệu và căn cứ cụ thể, với một lối viết khách quan, tránh tạo cảm giác đang đánh giá từ góc nhìn “bản chất luận” (essentialism)...

Hai bài viết về truyện truyền kì Đông Á thời kì trung đại ở chương 3 với dung lượng dày dặn (15 – 20 trang) cho thấy sự trăn trở của tác giả đối với thể loại văn học còn nhiều vấn đề phức tạp ngay từ khái niệm này. Việc tác giả nhìn nhận chữ “” như là “một quan niệm văn học, một phương pháp sáng tác” thay vì đánh đồng với các yếu tố “kì ảo, kì dị” giúp giải quyết thực tế về việc có nhiều truyện truyền kì ngay từ đời Đường vắng bóng yếu tố kì ảo, thần linh (tr.219). Tuy nhiên, nếu đã vậy, liệu có nên đặt cái “” trong đối sánh với cái “thực” (tr.231)? Bởi từ “” vốn chỉ mang nghĩa là “lạ, ít gặp”, chưa hẳn đã “không có thực”. Vậy nên ngay từ đầu, “” vốn đã không hề đối lập với “thực”. Nên chăng đặt yếu tố đó trong sự đối sánh với “thường” (cái thường gặp, phổ biến)?

Nhìn chung, chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á của Đoàn Lê Giang là một công trình có ý nghĩa khoa học, vừa mang tính hàn lâm, vừa mang tính thực tiễn sư phạm. Công trình là một tài liệu tham khảo hữu ích, một công cụ tra cứu thuận lợi cho các sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như những độc giả quan tâm đến nền văn học, văn hóa thời kì trung đại. Giống những tác phẩm được tác giả nghiên cứu suốt 30 năm qua, chuyên luận này cũng là một điểm hội tụ để nghiên cứu giữa muôn dòng chảy của văn học Đông Á trung đại. Từ điểm hợp lưu này, các nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam khác trong bối cảnh văn hóa Đông Á sẽ còn tiếp tục được thực hiện trong tương lai.

Trịnh Thùy Dương

TS. - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.; Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..

Nguồn: Tạp chí , số 7.2026, trang 110-113.

 


[1] Mượn tứ từ tựa đề tiểu luận Đi giữa đôi dòng của Phạm Tú Châu. Xem: Phạm Tú Châu, Đi giữa đôi dòng (NXB. Khoa học xã hội, 1999).

[2] Đoàn Lê Giang, Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á (NXB. Đại học Sư phạm, 2025): 419 trang (NXB. Trình Bày, 1967).

[3] Mượn tứ từ tựa đề công trình Văn học Việt Nam từ những mảnh ghép của Trần Đình Sử. Xem: Trần Đình Sử, Văn học Việt Nam từ những mảnh ghép (NXB. Đại học Sư phạm, 2023).

Thông tin truy cập

76002110
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
13333
22354
76002110

Đang có 663 khách và không thành viên đang online

Danh mục website