Cao Ba Quat

 

Lâu nay viết về Cao Bá Quát người ta thường ghi năm sinh của ông là 1808, hoặc 1809 và thường có dấu chấm hỏi đi kèm. Đối với năm mất của Cao Bá Quát, ta cũng gặp tình hình tương tự, dù năm mất của ông có phần dễ xác định hơn, có người ghi 1854, có người ghi 1855, thậm chí có người ghi 1850 hoặc 1857, và đôi khi cũng đánh dấu hỏi kèm theo[1].

Năm sinh của Cao Bá Quát được ghi 1808, được nhiều người chú ý và có sức thuyết phục hơn cả, là dựa vào kết quả nghiên cứu của Chu Thiên và của Tảo Trang:

- Chu Thiên căn cứ vào bài Cảm tác, được ông coi là của Cao Bá Quát, trong đó có câu:

Tự Đức tứ niên thư ký lạp,

Nguyên tiêu tứ ngũ biệt kinh đô.

Nghĩa là:             “Năm Tự Đức thứ tư (= 1851), thư gửi đi tháng chạp,

Rằm tháng giêng (= 1852), tuổi 45 từ biệt kinh đô”.

Năm 1852, tác giả 45 tuổi (ta), tính ra năm sinh của Cao Bá Quát là 1808(1).

- Tảo Trang căn cứ vào bài Thiên cư thuyết được xác định là của Cao Bá Quát viết năm Nhâm thìn (1832), trong đó có đoạn: “Với tuổi của tôi, mới hai kỷ mà đã thấy núi sông thành quách cũ thay đổi ba lần…” (Dĩ dư niên phủ nhị kỷ, nhi sơn hà thành quách chi cựu, tam duyệt kỳ biến cải ...). Cuối bài Thiên cư thuyết có ghi: “Tháng mạnh thu, năm Nhâm thìn (1832)”, tính ra Cao Bá Quát sinh năm 1808(2). Ở đây, chính Tảo Trang ngờ rằng bài Cảm tác không phải là thơ của Cao Bá Quát nhưng kết luận của ông từ bài Thiên cư thuyết lại hoàn toàn trùng với kết luận của Chu Thiên.

Gần đây khi khảo sát thơ chữ Hán Cao Bá Quát còn ghi chép lại đến ngày nay, chúng tôi nhận ra bài Tặng Di Xuân cũng cho phép kết luận Cao Bá Quát sinh năm 1808. Đây là bài thơ đáng tin cậy vì có mặt trong các tập thơ Cao Bá Quát hiện lưu ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi, ký hiệu A. 1494, tr. 55; Cao Chu Thần thi tập, ký hiệu VHv. 1434/1, tr. 45; Cúc Đường thi loại, ký hiệu VHv. 1433, tr. 18b; Chu Thần thi tập, ký hiệu A. 2762, tr. 19b; Cao Chu Thần thi tập, ký hiệu A. 299, phần sau: Chu Thần Cao ngâm tập, tr. 11b. Bốn câu đầu của bài thơ như sau:

Thất niên tương thức tối tương thân,

Hành chỉ tâm kỳ cửu hứa chân.

Đồng tuế khước vi đồng bệnh khách,

Nại nhàn câu thị nại quy nhân.

Dịch nghĩa:                    Bảy năm quen nhau rồi rất thân nhau,

Mọi việc động tĩnh đều lấy chân tâm mà hẹn ước.

Bạn cùng tuổi lại vừa là khách cùng bệnh,

Người thích cảnh nhàn đều là người thích về vườn.

Chữ đồng tuế trong câu 3 có nghĩa là “thi đỗ cùng khoa” hoặc “sinh cùng năm”. Khảo sát thì thấy Cao Bá Quát và Di Xuân (tên tự của Diệp Xuân Huyên) là sinh cùng năm chứ không phải đỗ cùng khoa. Theo Quốc triều đăng khoa lục(3) thì Di Xuân sinh năm Mậu thìn (1808), đỗ Cử nhân khoa Mậu tý (1828), đỗ Phó bảng khoa Mậu tuất, Minh Mạng thứ 19 (1838), năm 31 tuổi, còn Cao Bá Quát chỉ đỗ Cử nhân năm 1831. Như vậy, Cao Bá Quát cùng sinh năm Mậu thìn (1808) với Di Xuân.

Với những căn cứ trên, có thể khẳng định Cao Bá Quát sinh năm 1808.

Về năm mất của Cao Bá Quát, theo tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn - sách Đại Nam thực lục chính biên - có ghi Cao Bá Quát chết trận vào tháng 12 năm Giáp dần(4). Thời điểm này tương ứng với tháng 1 năm 1855 (Dương lịch). Có người ghi năm mất của Cao Bá Quát là 1854, hoặc cuối 1854, có lẽ do không chú ý năm Âm lịch (Giáp dần) còn gồm cả tháng 1 năm Dương lịch (1855) sau đó. Sách Đại Nam thực lục chính biên còn ghi Cao Bá Quát bị chết trận; viên suất đội Đinh Thế Quang có công bắn chết Cao Bá Quát nên được thăng cai đội(5). Theo Chu Thiên, việc Cao Bá Quát bị chết trận còn được xác định căn cứ vào một bài văn chép trong Tùng viên thi tập của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805-1880) là người đồng thời với Cao Bá Quát, trong đó có câu “…Lê Duy Cự… máu nhơ xe cũi; Cao Bá Quát… hồn rụng đạn bay”(6) và trong quyển Tùng song di vận ở bộ Ngô gia văn phái, ký hiệu A. 117, của Thanh Xuyên cư sĩ Cường phủ công (tức Ngô Thì Giai, 1818-1881, cháu Ngô Thì Nhậm) có chép một bài thơ nói về cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát, nhan đề Cao Bá Quát tử trận(7). Gần đây, trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam, nhóm soạn giả gồm Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1998) cũng viết: “Đầu năm 1855, … Trong cuộc chiến đấu ác liệt Cao Bá Quát trúng đạn chết”(8)..

Vậy cũng có thể khẳng định Cao Bá Quát mất vào tháng 1 năm 1855 (tháng Chạp năm Giáp dần, Tự Đức thứ 7).

N.N.Q.

---o0o---

Chú thích:

1. Chu Thiên (1963), “Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương”, in trong Thông báo khoa học, tập 1 - Sử học (của Trường Đại học Tổng hợp), Nxb. Giáo dục, tr. 67-82.

2. Tảo Trang (1963), Góp thêm tài liệu về năm sinh và chỗ ở của Cao Bá Quát, tạp chí Văn học, Hà Nội, số 5, tháng 11, tr. 65-70.

3. Quốc triều đăng khoa lục (1974), bản dịch của Trúc Viên Lê Mạnh Liêu, Trung tâm Học liệu, Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên in lần thứ hai, Sài Gòn, tr. 63.

4, 5. Quốc sử quán Triều Nguyễn (chữ Hán), Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch (1973), Đại Nam thực lục chính biên, tập XXVIII, Đệ tứ kỷ I –Tự Đức năm thứ 7-11 (1854-1858), Nxb. KHXH, Hà Nội, tr. 85.

6. Chu Thiên (1963), tài liệu đã dẫn, tr. 69.

7. Chu Thiên (1964), Một bài thơ nói về việc Cao Bá Quát tử trận, tạp chí Văn học, Hà Nội, số 12, tr. 93-94.

8. Trương Hữu Quýnh (chủ biên) (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I (từ thời nguyên thuỷ đến 1858), Nxb. Giáo dục, tr. 460.

-----------------------------



[1] Chỉ riêng sách giáo khoa Văn học 11 - Tập một, phần Văn học Việt Nam của Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn Đình Chú và Trần Hữu Tá chủ biên, Nxb. Giáo dục ấn hành gần đây cũng có sự thay đổi, điều chỉnh, cho thấy biểu hiện chưa ổn định về tư liệu. Bản in năm 2000, 2001 của sách này, trang 19, chú năm sinh năm mất của Cao Bá Quát là 1808 - 1855; thì bản in các năm 2002, 2003, 2004 cũng sách này, trang 19, chú lại là 1809 - 1854.

Ly Hoan Thuc TramLý Hoàn Thục Trâm, sinh năm 1971 tại Vĩnh Long. Học chuyên ngành Văn học, Khoa Ngữ văn và Báo chí, khoá 1989 - 1993. Thạc sĩ Ngữ văn. Công tác tại Phòng Đào tạo trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM. Hiện đang là NCS chuyên ngành Văn học so sánh tại Hoa Kỳ.

Nhà phê bình Hoài Thanh đã viết về Đông Hồ với những lời thật dễ thương:

“Từ nay, Đông Hồ sẽ chỉ ca tình yêu và tuổi trẻ. Ngòi bút của thi nhân riêng âu yếm những nỗi lòng của người thiếu nữ, khi bình yên lặng lẽ, khi phơi phới yêu đương. “Cô gái xuân” của Đông Hồ thỏ thẻ những lời đều dễ thương, những lời tuồng như lả lơi mà vẫn trong sạch. Ta thấy trong lời nàng cả cái êm dịu, cả cái mơn trớn, vuốt ve của tình ái. Nghe nàng nói lòng nào không xiêu. Nhất là khi nàng kể cảnh ái ân trên bãi biển ta khó có thể không cùng nàng mơ tưởng đến những cảnh ấy. Đông Hồ là người thứ nhất đã đưa vào thi ca Việt Nam bát ngát của tình yêu dưới trăng thanh trong tiếng sóng.”

           
Nếu tiểu thuyết Việt Nam những năm 60 – chủ yếu là những tác phẩm viết về chiến tranh -  đã phần nào đáp ứng được sự mong mỏi của số đông bạn đọc; thì những tác phẩm văn xuôi của những năm 70 chính là nối tiếp dòng chảy của những năm 60.  Cùng với các tác giả Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Phan Tứ, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hồ Phương, Đào Vũ, Thu Bồn, Lê Văn Thảo, Chu Lai, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy… ; cây bút Nguyễn Minh Châu đã thực sự nhập cuộc, dấn thân. Với những trăn trở “những thế hệ về sau sẽ lần lượt đến soi mình xuống cái khúc lịch sử của những người đương thời chúng ta để tìm ra những bài học quý báu cho họ” [03; tr. 41], “người  viết trẻ bên cánh rừng già” đó đã tâm niệm: “người viết trước hết nên thành thực với mình tức là thành thực với người đọc. Những chủ đề lớn lao bao giờ cũng đòi hỏi một sự trình diện giản dị và cô đúc” [03; tr. 41].  Và “Dấu chân người lính” ra đời chính là sự “thành thực với mình - với người đọc” như chính bản thân tác giả Nguyễn Minh Châu vậy.
Là tác phẩm gắn bó với  một chuyến đi, từ năm 1969 đến năm 1972, “Dấu chân người lính” mới ra mắt bạn đọc. Đi với các đơn vị chủ lực, xuống tận đại đội chiến đấu, nghe chuyện của các chiến sĩ, các cán bộ lãnh đạo, dự tổng kết chiến dịch v.v. Hiện thực cuộc chiến đuợc ghi lại trong tác phẩm hầu như nguyên vẹn, trung thành. Nguyễn Minh Châu đã gắn ngòi bút của mình vào mảng đề tài được coi là sôi động nhất trong nền văn học cách mạng Việt Nam: đề tài chiến tranh và quân đội. “Dấu chân người lính” đã làm sống lại những chặng đường hành quân và cuộc chiến đấu anh dũng của những người lính Trung đoàn 5. Từ những ngày đầu chuẩn bị chiến dịch cho đến những chặng đường hành quân gian khổ và cuối cùng là cuộc tổng tấn công khép chặt vòng vây ở thung lũng Khe Sanh, những người lính trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã trải dài bước chân họ trên khắp chiến trường. Sau cuộc đổ quân của lữ đoàn Kỵ binh bay nhằm mục đích giải vây của quân lực “Việt Nam cộng hoà” thất bại, quân Mỹ lâm vào thế bí và đang đứng trước nguy cơ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Trung đoàn 5 sau một thời gian củng cố vaa2 bổ sung quân lại tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu. Bao dấu chân của chính uỷ Kinh,  của Khuê, Lữ, Thái Văn , Cận … để lại trên bước đường hành quân cũng là bao nhiêu ngày những người lính phải đối mặt giữa sự sống và cái chết, cái cao cả – thấp hèn, lý tưởng chiến đấu và hiện thực cuộc sống khắc nghiệt. Bút pháp trữ tình, giàu lý tưởng được phát huy đến mức tối đa nên vẻ đẹp khác nhau của các thế hệ cầm súng được tác giả khắc hoạ một cách đậm nét. Đó là những người lính – người chiến sĩ cầm súng – mà nét đẹp của họ đã trở thành hình tượng trung tâm của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung, của Nguyễn Minh Châu nói riêng.
Bài viết này thử tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người dưới góc độ thi pháp học.
1. Vài nét về “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong tác phẩm văn học:
Là một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người hướng chúng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn học. Vì “văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể” [19; tr. 23]. Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng. Quan niệm nghệ thuật này thể hiện một cách nhìn, một cách tiếp cận, cách lý giải về con người . Chính vì “nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể ra, miêu tả ra nhân vật và nhân vật bao giờ cũng hiện ra theo cách hình dung, cảm nhận của tác giả” [20; tr. 28], nên  “quan niệm nghệ thuật về con người sẽ trở thành hình thức chủ nghĩa thuần túy nếu như nó không phục vụ làm cho những chủ đề xã hội, triết lý càng thêm sâu sắc và có ý vị đậm đà” [20; tr. 41].  Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền với cá tính sáng tạo của nhà văn, gắn liền với sự vận động của lịch sử.
Từ quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam đến quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học chống Mỹ là một bước đi dài. Nếu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cổ điển Việt Nam là con người vũ trụ, con người của chí khí, của tấm lòng, “con người thứ bậc” ( Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng. Một tiếng kêu vang lạnh cả trời. Ngôn hoài - Dương Không Lộ); thì con người trong văn học kháng chiến chống Pháp là con người tập thể. Đó là những con người trong sáng, vô tư, hy sinh vì lý tưởng. Họ sẵn sàng từ giã gia đình để dấn thân vào cuộc kháng chiến của dân tộc. Đó cũng chính là con người tập thể – chuyển hoá. Vì con người trong văn học kháng chiến chống Pháp được miêu tả như những đám đông “Lũ chúng tôi. Bọn người tứ xứ. Gặp nhau hồi chưa biết chữ. Quen nhau từ buổi một hai” (Nhớ – Hồng Nguyên), nên “tâm lý con người trong văn học kháng chiến là tâm lý tập thể, con người sẵn sàng làm theo yêu cầu chung, yêu cầu chung thành cảm xúc riêng của mình [19; tr. 34].  Bước sang những năm 60 - 70, hiện thực cuộc kháng chiến thời chống Mỹ đã quy định đề tài trung tâm và các nhân vật trung tâm của nền tiểu thuyết hiện đại. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học xuất hiện khác hơn, mới lạ hơn: con người xả thân. Con người trong văn học chống Mỹ ý thức rất rõ về sự xả thân vì sứ mệnh lịch sử của mình.
2.  Quan niệm nghệ thuật về con người -  nhân vật người chiến sĩ - trong “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu:
2.1 Nhân vật là con người – xã hội  được nhà văn tiếp cận theo khuynh hướng sử thi:
“Con ngươi trong tiểu thuyết sử thi là những con người mang trong mình kích thước lớn lao của lịch sử, tiêu biểu cho vẻ đẹp của dân tộc và cộng đồng. Đó là những con người mang trong mình lý tưởng cao đẹp, sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của tổ quốc” [10; tr. 65].
Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vì độc lập tự do, vì sự sống còn của dân tộc Việt Nam là hiện thực lịch sử nổi bật. Hiện thực cách mạng đó vừa là nguồn cảm hứng vô tận của người cầm bút, vừa là điều kiện thuận lợi cho văn học nẩy sinh và phát triển. Nói theo Nguyễn Minh Châu, hiện thực sinh động ấy ví như  “cây khộp và cây phong lan như cái phần trần trụi cực nhục và cái phần thanh nhàn của người đời và cuộc đời, nó cũng là cái phần hiện thực nghiêm ngặt và chất lãng mạn của văn học” [03; tr. 39]. Chính vì nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 là một nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu; một nền văn học hướng về đại chúng, trước hết là công nông binh; một nền văn học chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nên nhân vật người chiến sĩ  trong “Dấu chân người lính”  được nhà văn tiếp cận theo khuynh hướng sử thi rõ nét nhất. Sống giữa những ngày chống Mỹ, nối tiếp truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam; cái nền hiện thực của cuộc kháng chiến đã là cơ sở để những người chiến sĩ – con người – xã hội  xuất hiện một cách giản dị mà đẹp đẽ, hùng tráng. Người chiến sĩ  trong “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu là những nhân vật trung tâm nhân danh cộng đồng. Đó là những con người “gắn bó số phận mình với số phận đất nước và kết tinh những phẩm chất cao quý của cộng đồng”, là “những nhân vật trước hết đại diện cho giai cấp, cho dân tộc và thời đại, chứ không phải đại diện cho cá nhân mình” [14; tr. 194]. Được  tiếp cận theo khuynh hướng sử thi, hình ảnh người lính Trung đoàn 5 cũng là hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam.
“Mang âm hưởng anh hùng được quy định bởi bản chất của toàn bộ nền văn học đương thời là tập trung miêu tả cái “anh hùng”” [21; tr. 120], không khí sống động những ngày hành quân của Trung đoàn 5 được Nguyễn Minh Châu tái hiện bằng giọng văn đâm chất anh hùng ca: “Các ngả đường ngập những lính, đâu đâu cũng nghe những tiếng hát, tiếng ồn ào của đám đông, đâu đâu trong rừng cũng sực lên hơi người, đâu đâu cũng gặp những bếp than cháy dở (…). Bất cứ một người nào đi trên con đường này cũng phải tự hỏi: Ai là người đầu tiên tới đây dựng lên cái bếp lửa sơ sài bên con đường rừng? Bàn tay người lính nào đã dùng mìn bẫy đá, cầm dao phát cây? Và người cán bộ tham mưu nào đã từng mang một chiếc địa bàn và một mảnh bản đồ, đứng chon von trên đỉnh núi để ngắm hướng cho việc mở đường?” [05; tr. 16 - 17]. Con đường mòn xuyên qua Trường Sơn trong những ngày mưa dầm và giá rét đã là con đường của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ, con đường huyền thoại. Một bếp lửa sơ sài dựng vội bên con đường rừng, bàn tay người lính bẫy đá, phát cây, một cán bộ tìm hướng mở đường… tất cả tạo nên một bức tranh hoành tráng để người lính xuất hiện đẹp một cách rực rỡ, hào hùng.
Chân dung người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” không chỉ đơn thuần là chân dung của từng con người - cá nhân. Chân dung của họ được dựng lên “trên nền của cảnh chiến trường, nơi giáp mặt với kẻ thù, bom đạn, cái chết. Đó là những chân dung tập thể, nhiều khuôn mặt của nhiều thế hệ, mang dáng vẻ và ý chí thời đại đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” [16; tr. 105]. Phải tiếp cận nhân vật người chiến sĩ như những con người – xã hội  theo khuynh hướng sử thi, Nguyễn Minh Châu mới vẽ lên được chân dung rất “lính” của họ. Đó là thế hệ những người lính đã kinh qua cuộc kháng chiến chống Pháp, dạn dày kinh nghiệm như chính uỷ Kinh, như trung đoàn trưởng Nhẫn. Cuộc đời binh nghiệp của chính uỷ Kinh hầu như gắn liền với những trận đánh, những chặng đường hành quân. Mọi gánh vác lo toan trong ngôi nhà gỗ, bên bờ con sông rất đẹp của miền Trung , Kinh đều phó thác cả lên đôi vai người vợ. Con trai ông – Lữ – trốn nhà đi bộ đội, khép lại quãng đời học trò ở tuổi mười sáu từ một buổi chào cờ cuối cùng trên sân trường. Với quan niệm “phải từ giã hết, phải ném vào lửa hết, phải ném vào lửa bằng hết, tất cả mọi thứ sách vở và bản thân những thằng học trò như mình cũng cần phải được ném vào lửa” [05; tr. 84 - 85], Lữ đã “lăn lóc khắp các tuyến đường, các bến phà, đã từng góp bàn tay làm nhiều con đường, từng đi cứu kho, cứu người, gỡ bom nổ chậm, từng đi nuôi lợn, nuôi bò, đi dạy văn hoá…” [05; tr. 85] để  “tự tìm lấy một niềm tin bền vững và chắc chắn hơn từ trong cuộc đời”. Hình ảnh đẹp của người chiến sĩ trong“Dấu chân người lính” còn là bác Đảo – “một chiến sĩ tình nguyện quốc tế” ngoài bốn mươi tuổi,  một tiểu đội trưởng nấu ăn chăm chỉ và chu đáo nổi tiếng trong Trung đoàn.  Trải qua nhiều lần bị bom mìn, nhiều lần bị máy bay B52 oanh tạc trúng bếp nấu ăn, quần áo, đồ đạc cháy sạch, nhưng con người “thấp bé, đầu hói bóng” ấy không bao giờ chịu mất chiếc xà-cột bên mình. Chỉ vì trong đó luôn cất giữ mấy gói muối, mì chính và một chiếc kéo dùng để cắt tóc cho anh em… Nhìn vào công việc tỉ mỉ, chu đáo của một tổ trưởng nấu ăn ngoài mặt trận, không ai có thể nghĩ đó là kẻ đã “từng sống gần nửa đời người ở các vùng thị trấn đô hội nước ngoài, đã từng mặc “xà-rông” đi lễ ở các ngôi chùa, làm nghề đánh cá trên sông Mê-kông, đã từng cắt tóc, chùi xe đạp và sống cùng khu phố ngoại ô với những người làm xiếc, viết đơn thuê, những người làm nghề nhổ răng vỉa hè và bán thuốc lá cuốn”[05; tr. 193-194].
Nhân vật người chiến sĩ của Nguyễn Minh Châu đẹp từ ý nghĩ đến hành động. Giữa những ngày hành quân, khi nhận được tin ở nhà bị bom dội, mẹ bị thương nặng và một đứa em năm tuổi chết, tiểu đội trưởng trinh sát  đầy nghị lực và sắc sảo Khuê nén nỗi đau cá nhân, cùng đồng đội tập trung hết tinh thần vào các buổi diễn tập. Lượng – đại đội trưởng đại đội trinh sát của Trung đoàn 5, canh cánh trong lòng một tình yêu với  người phụ nữ Vân Kiều, nhưng vẫn cương quyết cắt đứt mối quan hệ tình cảm đó để giữ cho hình ảnh anh cán bộ Giải phóng quân đẹp mãi trong lòng mọi người. Đó còn là hình ảnh của Cận, của Moan,  Hoạt…, những chiến sĩ trẻ trong tổ điện báo ngày đêm bám trụ kiên cường trên cao điểm 475. Trong “Dấu chân người lính”, chân dung người lính lần lượt xuất hiện, bình dị, đời thường mà anh dũng. Ngoại trừ chính uỷ Kinh và bác Đảo, đa số chiến sĩ đều có tuổi đời từ mười tám đến hai mươi ba, hai mươi lăm… Các thế hệ người lính ấy đã sát cánh bên nhau, trở thành đồng chí, đồng đội của nhau, cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Là một cuộc chiến toàn dân, toàn diện, âm hưởng hào hùng của một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” bàng bạc trên mỗi chặng đường hành quân : “Đông đúc quá! Không ai có tài nào mà phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết đây là đường rừng hay là quảng trường, là rừng cây hay là rừng người và rừng súng đạn. Người ta chỉ biết đông đúc và chật chội, là hơi nóng của hơi thở và mùi mồ hôi người, là tiếng nói ồn ào của cuộc sống, là đàn ong cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc, là cơn giận dữ của đất nước lại một lần cầm lấy súng. Người ta cũng không thể phân biệt hiện tại hay khung cảnh lịch sử, hay là tương lai đang bước ra đây từ đôi bàn chân của người lính?” [05; tr. 51-52]. Chính cái “không khí mới mẻ, náo nức của những ngày đầu sôi sục chống Mỹ – cái không khí vừa bề bộn quyết liệt, vừa trang nghiêm đầy đức tin của một thời kỳ không thể nào quên trong cuộc đời mỗi con người” [17; tr. 114] đó đã làm đẹp thêm chân dung người lính, hun đúc thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng của một thế hệ anh hùng, một dân tộc anh hùng. Tổ quốc còn hay mất? Độc lập, tự do hay nô lệ, ngục tù? Người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” không còn mang tiếng nói của những số phận cá nhân mà đại diện cho tiếng nói của cả một cộng đồng dân tộc trước thử thách quyết liệt. Tiếng nói ấy dù âm thầm, lặng lẽ nhưng lại có một sức sống mãnh liệt, bất khuất, kiên cường: “Không thể nào tả hết những khuôn mặt chiến sĩ, những khuôn mặt chỉ huy, những khuôn mặt của tầng tầng lớp lớp người đang nối tiếp nhau hiện ra từ trên dốc, từ dưới suối, từ khắp các ngõ ngách của rừng. Khuôn mặt nào cũng đẫm mồ hôi và bừng bừng như say. Phần đông là những khuôn mặt còn trẻ măng cả. Nhìn bất cứ người nào cũng có thể đoán được khuôn mặt dòng dõi của bố mẹ, của người em, người anh, người chị ở nhà hoặc cũng ở một nơi nào đó. Tất cả đều đang bước đi. Các cặp mắt tất cả đang nhìn. Trong tất cả mọi người giữa dòng thác hôm nay, ai sẽ trở nên nhà chép sử sách, ai sẽ cầm bút viết văn, sẽ mô tả làm sống trở lại khung cảnh này ?” [05; tr. 52]. Bằng những lời văn trang trọng, mỹ lệ, chân dung người  chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” chính là sự nối tiếp truyền thống hào hùng của bước chân Quang Trung thần tốc mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1788, của người nghĩa sĩ công đồn Cần Giuộc những ngày đầu chống Pháp năm 1861 và là sự kết tinh cao quý chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam của thế hệ chiến sĩ Điện Biên năm 1954.
Tiếp cận nhân vật theo khuynh hướng sử thi, người  chiến sĩ  - những nhân vật điển hình trong “Dấu chân người lính” - “thực chất là những nhân vật sử thi  luôn cao hơn cuộc sống một nấc và “có sức mạnh vẫy gọi con người vươn tới cái cần có trong cuộc chiến đấu”” [23; tr. 79].
2.2. Nhân vật là con người – xả thân  được nhà văn xây dựng qua bút pháp trữ tình, hướng ngoại:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ đến hồi quyết liệt. Trung đoàn 5 bước vào một giai đoạn chiến đấu mới: chiến dịch bao vây. Các đại đội thuộc Trung đoàn 5 đều được huy động vào chiến dịch vận tải “lót ổ”, phối hợp các đơn vị chiến đấu tiêu diệt khu vực phòng thủ rắn nhất của tuyến đường 9 cắt đôi hai nước Việt - Lào. Hiện thực anh hùng của cuộc chiến hiện lên trên mỗi trang viết càng lúc càng đậm nét. Cái anh hùng cao cả trong cuộc sống được tái hiện lại trong “Dấu chân người lính” trở thành cái cao cả nghệ thuật. Và chân dung người chiến sĩ được xây dựng theo phương thức “phóng đại” – phóng đại cái đẹp để đẹp hơn. Họ chính là những con người – xả thân  được nhà văn xây dựng qua bút pháp trữ tình, hướng ngoại.
Địch rót vào Khe Sanh sáu ngàn tên lính thuỷ đánh bộ, có khi con số ấy tăng lên đến bốn vạn rưỡi. Là một thung lũng ngang dọc mỗi bề khoảng chừng mười cây số, trang bị hiện đại với hệ thống phòng ngự vững chắc, hình thành một hình tam giác khép kín, Khe Sanh đã trở thành một cứ điểm quan trọng; là cái “yết hầu” trong chiến dịch “Scotland” (chiến dịch giải vây cho lữ đoàn “Ngựa bay”). Trong cái bối cảnh ấy, đời sống nội tâm của người lính ít được miêu tả sâu sắc. Hiện thực cuộc kháng chiến đang cuốn họ về phía trước. Gặp con vội vã trên chặng đường hành quân, chính uỷ Kinh và con trai cũng không có những giây phút riêng tư dành cho tình cảm cha con, gia đình. Phần lớn thời gian của Kinh đều dành cho chiến dịch. Xuyên suốt tác phẩm, người đọc thấy một chính uỷ Kinh chỉ để tâm nghĩ đến vợ và các con trai một đôi lần. Trong tâm hồn người lính già dặn trận mạc ấy, những suy nghĩ hướng ngoại là dòng mạch chủ yếu: “Chưa bao giờ Kinh thấy đội hình một đại đội xuất kích đi chiến đấu lại dài đông đúc như thế. Cũng chưa lần nào đứng trước hàng quân trước giờ nổ súng, Kinh lại thấy vững tâm như lần này. Trước mặt ông, thực sự là một khối thuốc nổ.” [05; tr. 170]. Tình thương con của Kinh đối với Lữ cũng bao hàm trong tình thương của một người cha - người đồng chí với đồng đội của mình. (“Kinh lại thấy thương con vô hạn, xen lẫn một niềm tự hào ngấm ngầm, nhưng vẫn không khỏi lo lắng, một nỗi lo mơ hồ và gần như bất lực”. “Giữa lúc gần như tất cả trí óc Kinh đã bị hút về phía địch thì thật kỳ lạ, làm sao giữa trái tim của ông chợt nảy nở một mối tình yêu thương im lìm và sâu xa của người cha bao trùm lên hết tất cả” [05; tr. 98]). Ngay cả sau này, khi được tin con trai hy sinh, người chiến sĩ – con người xả thân ấy “vẫn không thay đổi sắc mặt”. Ông chỉ cất tiếng hỏi bằng “cái giọng hơi khàn” với người chiến sĩ cần vụ. Với cách mô tả từ bên ngoài, Nguyễn Minh Châu không để cho người đọc thấy được cơn bão táp trong tâm hồn người lính chiến dày dạn ấy. Và mãi sau này, khi nghe văn công hát , Kinh mới khóc vì thương nhớ con: “… một giọt nước mắt long lanh trên cặp mắt đồng chí chính uỷ. Giọt nước mắt đọng rất lâu rồi rơi xuống ống tay áo quân phục đầy nếp gấp đặt ngang trước bụng ông. Đó là giọt nước mắt đầu tiên kể từ ngày Kinh nhận tin con trai mất. Cho đến hôm nay, trong khi ngồi nghe cô văn công hát, tiếng hát khiến ông chợt nhớ đến con trai mình và ông đã lỡ để rơi một giọt nước mắt” [05; tr. 311]. Những trạng thái tâm lý của Kinh chỉ được miêu tả như những âm thanh đơn lẻ, hoà vào âm vọng tiếng hát “Anh vẫn hành quân” của cô văn công và nhanh chóng chìm lẫn trong dàn đồng ca hùng tráng của cuộc chiến đấu của dân tộc. Bút pháp trữ tình hướng ngoại của Nguyễn Minh Châu khi xây dựng nhân vật chiến sĩ – con người xả thân cũng thể hiện  rõ qua hình ảnh Thái Văn – một nhà thơ tình nguyện đi theo đơn vị pháo binh sông Cầu để tiếp cận thực tế. Vào bộ đội từ lúc mới bắt đầu học chữ; những nhà thơ – người chiến sĩ như Thái Văn cũng đã là những nguyên mẫu con người - xả thân. Dù mỗi thế hệ người lính bước vào cuộc chiến đấu với một dáng cầm súng khác nhau; nhưng Thái Văn vẫn thấy  “có cái gì khác trong vẻ đẹp của lớp người cầm súng trước đây và lớp người hôm nay? Ngày xưa, những người lính nông dân cầm khẩu súng để chiến đấu cho Tổ quốc, đồng thời cho mảnh vườn và mái nhà của mình (…) vậy thì trong cuộc trường chinh hôm nay họ đang chiến đấu cho cái gì? Họ từ bỏ cái trái hạnh phúc đã ửng hồng trong vườn nhà mình để cầm súng đi chiến đấu cho mục đích gì ?” [05; tr. 220 - 221].  Mục đích chiến đấu ấy chính là độc lập, tự do. Họ đã “xả thân” chỉ bằng lưỡi lê và lựu đạn, lăn xả vào những đám lính Mỹ để giải vây cho Lữ và bảo vệ chiếc đài vô tuyến điện. Cái chết của họ nhẹ tựa lông hồng, mang âm hưởng hào hùng của tinh thần “nhất khứ bất phục phản”.
Mang những đặc điểm của con người - xả thân, nhân vật người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” đã “thể hiện thế giới tinh thần phong phú và vẻ đẹp lý tưởng của người anh hùng, mối quan hệ giữa cái bình thường và cái vĩ đại, giữa người anh hùng và tập thể quần chúng anh hùng, giữa anh hùng ca và tình ca, cuối cùng là những đặc điểm về khí phách, tầm vóc và dáng đứng của người anh hùng cách mạng Việt Nam” [09; tr. 109]. Đọc nhật ký của Lữ, chúng ta không hề gặp những suy nghĩ riêng tư trong tâm hồn một chàng trai tuổi mười chín:
“Đứng ở đây nhìn rộng sang cả hai bên bờ Nam và bờ Bắc chỉ thấy nhức mắt một vùng bãi hố bom đỏ loét trên chỏm đồi, trên sườn đồi, trên dải đất đầy những đá và cây sát mép nước. Hình như số phận những con sông đều gắn chặt với số phận đất nước và tất cả các con sông đều hết sức nhạy cảm với chiến tranh ? Tôi khoác súng đứng bên này nhìn sang bên kia  mấy phút trước khi xắn quần lội qua. Tôi cảm thấy da mặt cứ nổi gay lên, tim như phồng to choán cả lồng ngực, một nửa người tôi là máu chảy, nửa là lửa cháy! Hình như tất cả tình yêu có trong cuộc đời chỉ đựng đầy trong một trái tim mười chín tuổi của tôi. Tôi đứng đây và tự nhiên nước mắt cứ trào ra. Bên kia, một nửa phần đất nước, một nửa mái  nhà của mỗi mái nhà bên này đang cháy, một nửa trái tim của từng trái tim người Việt Nam bên này ngày nào gót giày của hàng chục vạn quân Mỹ cùng giẫm lên một lần” [05; tr. 222 – 223].
Tình yêu của Lữ dành cho bố mẹ cũng là tình yêu dành cho đất nước, quê hương:
 “Những người cha dù có tinh thần trách nhiệm đến đâu cũng không thể làm thay được tất cả mọi việc cho đời con cái mình. Làm sao có thể như thế được? Những người cha của lứa tuổi chúng tôi đã làm nên một sự nghiệp hết sức lớn lao là giành lại đất nước và giữ vững đất nước, và vạch cho chúng tôi con đường phải đi tiếp theo, một con đường đầy hy sinh nhưng hết sức vinh quang. Chúng tôi đã chịu ơn lớp người  sinh ra mình và chúng tôi thấy cần phải xứng đáng là những đưa con (…). Con yêu mẹ như yêu vẻ đẹp dòng sông trước nhà ta, từ lúc còn bé con đã thấy. Con yêu bố như yêu dãy núi Hồng sau nhà, chỉ khi được mẹ bế cao trên tay và mẹ chỉ lên cao con mới nhìn thấy !” [05; tr. 228 – 229].
 Những trang nhật ký của Lữ thể hiện một tính cách nhân vật mang tính hướng ngoại, tự biểu hiện hơn là tự ý thức. Khi gặp Nghim – người chiến sĩ dân tộc ít người – những dòng nhật ký của Lữ viết về Nghim cũng là những suy nghĩ về cái bản A - lâu  bên bờ sông A-si xinh đẹp của Nghim bị bọn Mỹ – ngụy tàn sát, đốt phá. Và mong ước của Lữ “giá có cách gì giới thiệu cho các đơn vị hành quân qua trạm K. lịch sử  của cái trạm khách này, để cho tự bản thân câu chuyện sẽ nói lên ý nghĩa của cuộc chiến đấu của chúng ta hôm nay ở đây” [06; tr. 62] cũng không phải là những mong ước riêng tư cho cá nhân, vì cá nhân; mà là nỗi ước mong mọi người sẽ biết được cuộc chiến anh hùng của dân tộc Việt Nam. Ngay cả khi máy bay B52 oanh tạc cao điểm 475, trong những lúc dời hầm để bảo vệ đài quan sát pháo binh sông Cầu, sau những loạt bom đến tức thở, các chiến sĩ tổ trinh sát vẫn nghe tiếng Lữ đọc thơ sang sảng. Lữ không thể im lặng, hoàn toàn anh không thể nín lặng được bởi vì “không lúc nào bằng lúc ấy, mặt đất cần phải có tiếng nói, cần có tiếng người cất lên. Điều đó như một phản ứng của ý thức và của nhu cầu bản năng của anh và của tất cả mọi người, thấy cần phải nói lên tiếng nói mãnh liệt của sự sống, cần nói lên lời tuyên ngôn của những người chiến sĩ không có một thứ bom đạn nào của Mỹ có thể khuất phục được họ” [06; tr. 93].
2.3. Nhân vật người chiến sĩ được tác giả miêu tả tâm lý theo quy luật đồng nhất một chiều:
Là con người – xã hội nhân danh cộng đồng, là những con người - xả thân chiến đấu hết mình vì lý tưởng, nhân vật người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” hầu như không hề có “sự sống đích thực của các Bản ngã” [23; tr. 79]. Nói như Bakhtin, tác giả chưa đi tới tận cùng tâm hồn con người, chưa giúp người đọc nắm bắt “con người bên trong con người” của nhân vật.
Sau một cuộc chiến đấu, trong hàng ngũ bộ đội của Kinh đã có “nhiều mái đầu quấn băng trắng, những cánh tay, những mảng lưng và những khuôn ngực để trần, những vòng băng cá nhân quấn quanh người đã thấm ướt máu”,  nhưng những chiến sĩ thương binh ấy vẫn thét vang khẩu hiệu diệt địch. Từng loạt tiếng thét, tiếng hô “xin thề” nổ ra như những loạt súng. Những cánh tay quấn băng nâng những khẩu súng trường và tiểu liên , những khẩu súng máy quá đầu. Tiếng thét diệt giặc vang lên giữa những tiếng cười. “Tiếng thét phát ra từ những trái tim đang bốc lửa. Tiếng thét đông đặc, phẫn nộ, rùng rùng khép kín như một hàng ngũ xiết chặt” [05; tr. 168 – 169]. Điều này phù hợp quy luật tâm lý một chiều của nhân vật. Vì trong những năm tháng chống Mỹ, đứng trên quan điểm lịch sử thì “cái cao cả – anh hùng và lý tưởng đã bao trùm cái vốn có của thời đại” [09; tr. 120]. Không bàn đến “đã có lúc có người phê phán lối viết làm cho cái cao cả , lý tưởng lấn át cái vốn có” xung quanh vấn đề xây dựng nhân vật người chiến sĩ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh [09; tr. 120], cũng không bàn đến đặc điểm thứ hai của người chiến sĩ ngoài mặt trận như tác giả Triệu Bôn nhận xét qua “Vài nét về nhân vật người chiến sĩ” (Đặc điểm thứ nhất là cuộc sống của họ biến động rất dữ dội và không bao giờ ngừng. Đặc điểm thứ hai là tâm trạng của họ luôn luôn tự mâu thuẫn. Đặc điểm thứ ba, sức sống thật kỳ diệu của họ) [01; tr. 121]; cùng với những tác phẩm tiểu thuyết khác trong giai đoạn 1945 – 1975, “Dấu chân người lính” là một “mô hình nghệ thuật đặc thù ra đời trong một giai đoạn lịch sử cụ thể” [10; tr. 66]; nên hầu như những người chiến sĩ – nhân vật chính diện trong tác phẩm – thường được bao bọc trong một bầu không khí “vô trùng”. Và vì thế, sự hoà hợp, thống nhất giữa “cái tôi” và “cái ta” chung của dân tộc, cộng đồng là điều tất yếu.
Được miêu tả tâm lý theo quy luật đồng nhất  một chiều, nhân vật người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu luôn “đồng nhất với chính nó”. Giữa những trận đánh ác liệt, các chiến sĩ trinh sát và điện đài trên cao điểm 475 luôn thể hiện một tinh thần lạc quan cách mạng. Những chiến sĩ với khuôn mặt “mới mười tám, mười chín, râu đã mọc đen bên mép. Khuôn mặt nào cũng dày cộm vì đất bột bám, vì thuốc đạn ám, những cặp mi mắt trên rất dày, mi dưới đỏ, tròng mắt lờ đờ đùng đục hoặc có vằn đỏ. Thuốc đạn, đất, trộn với mồ hôi lâu ngày đã biến thành một màu xam xám, xỉn xỉn bám trên chân tóc, trên lông mày, trong hai hốc mũi và trên những bộ quân phục sờn rách, dày và cứng như da thuộc” [06; tr. 103]; thế mà họ vẫn háo hức lắng nghe tiếng hát của các đồng chí văn công “biểu diễn” trong máy. Từ những khuôn mặt gầy võ, hố mắt trũng sâu, tóc tai đỏ quạch màu đất ; giữa các đợt dội bom của giặc; trong hầm sâu; tiếng sáo của Sĩ vẫn cất lên, dìu dặt, mơ hồ, bổng trầm, tha thiết. Và trong những ngày gần cuối của chiến dịch, chỉ trong vòng hơn một giờ đồng hồ, chín chiến sĩ  tiểu đội trinh sát: Cận, Moan, Lữ, Sĩ, Hoạt… đã liên tục bẻ gãy năm đợt tấn công của địch ở cứ điểm đồi 475. Chiến công của họ đã góp một phần không nhỏ cho chiến thắng Khe Sanh.
Chứng kiến cảnh những máy bay phản lực Mỹ dội bom lên xóm làng mình, Lữ và ba người bạn thân đã chấm dứt quãng đời đi học bằng một đêm đốt hết sách vở mà không hề trù trừ, do dự. Rời ghế nhà trường, bắt đầu cuộc sống mới, hành trang mang theo là tất cả những kiến thức “sách vở” và sự ngây thơ của tuổi học trò, đến khi trở thành một chiến sĩ thông tin liên lạc, đối với Lữ ; quãng đời đó ghi dấu sự trưởng thành lớn nhất trong cuộc đời anh: Lữ đã lớn lên từ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giữ nước của dân tộc. Sự sống của Lữ không hề có cái gì là riêng. Lúc phát hiện giặc đang bí mật đổ quân xuống sườn núi bên đất Lào và quyết bắt sống Lữ cho bằng được, Lữ chỉ kịp xoay chiếc máy ôm gọn trước ngực và nghĩ: “sống chết cũng phải giữ cho được cái đài để kiên lạc !” [05; tr. 258]. Trong những ngày chốt ở cao điểm 475, được Khuê giác ngộ vào hàng ngũ của Đảng, người chiến sĩ trẻ ấy đã cảm thấy một niềm vui phấn chấn tràn ngập tâm hồn , khiến “một giọt nước mắt vỡ từ bên khoé mắt” và Lữ đã cảm thấy hết niềm hạnh phúc của một người “có khi chỉ vì được đứng bên cạnh một người khác, được dẫn dắt bởi bàn tay một người khác” [06; tr. 153]. Và khi đã trải qua các giai đoạn thông thường của một người con trai đã từng được thử thách và lăn lộn rất nhiều, bắt đầu quan sát bản thân bằng con mắt khe khắt, trong con người của Lữ đã dần dần hình thành một quan niệm về cuộc sống hết sức nghiêm ngặt: “chưa bao giờ anh biết yêu quý và trân trọng những người dồng đội chung quanh như hiện nay. Cái điều mới nảy sinh là anh đã có được một niềm tin vào phẩm giá tuyệt đỉnh của những con người, đó là những người đồng đội rất mực bình thường vẫn sống chung đụng với anh hằng ngày. Cũng chưa bao giờ cuộc đời hiện ra trước mắt anh đẹp như hôm nay, mặc dầu hôm nay anh đang phải chịu đói khát, đang đứng trên một mảnh đất ác liệt chưa từng thấy” [06; tr. 217 - 218]. Tình yêu của anh với Hiền cũng là một tình yêu rất lính. Lữ đã nghĩ đến ngày chiến thắng, anh sẽ “cầm tay cô đi qua ba mỏm đồi 475 để xuống thung lũng ở dưới kia. Hai người sẽ đi qua từng tấc đất chi chít hầm hố và giao thông hào, từng tấc đất mới được giải phóng mà những người đồng đội dũng cảm trẻ trung đã gửi lại biết bao mồ hôi và máu, đồng thời cả những hoài bão và lý tưởng, cả tiếng hát và niềm hy vọng” [06; tr. 224]. Chính vì được miêu tả theo quy luật “đồng nhất một chiều”, nên sự hy sinh của các chiến sĩ trinh sát ở Đồi không tên là những biểu hiện đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời chống Mỹ. Hành động hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Đồi không tên là những biểu hiện đồng nhất của “hạt ngọc” lấp lánh hào quang lý tưởng: “Sử sách về sau sẽ ghi tên Quả Đồi không tên, gần một chục chiến sĩ trẻ tuổi, tất cả đều là đoàn viên thanh niên do một đồng chí đảng viên chỉ huy, họ đã đem ngực mình dựng thành chiến lũy cản mười đợt tấn công điên cuồng của địch. Họ chiến đấu đến người cuối cùng, không có một tên lính Mỹ nào bước nổi qua cái mảnh đất của Tổ quốc họ đứng cầm súng và ngã xuống, trong ngày hôm nay” [06; tr. 271]. Và hành động quyết định gọi pháo bắn vào giặc – vào chính mình – của Lữ là hành động phù hợp với tâm lý, với quy luật: “Lữ giang hai cánh tay ôm chặt lấy cái đài như sợ chúng có thể ùa vào cướp ngay trên tay anh. Anh ôm nó trong ngực, lúc này anh quý nó hơn là tính mạng. Anh vừa quyết định một việc vô cùng hệ trọng đối với anh, và quyết định hết sức nhẹ nhõm: Anh gọi bắn ! Anh gọi rất hấp tấp, không kịp dùng ký hiệu mật mã - “Chúng bay hãy cầu chúa đi !”. Trong lòng anh chợt rưng rưng một nỗi mừng rỡ” [06; tr. 266]. “Người chiến sĩ điện thanh ấy trước khi hy sinh còn ngẩng cao đầu lên một lần cuối cùng: Trên nền trời cao, rất cao và xanh, lá cờ đỏ mỗi lúc mỗi thắm tươi đang bay, lá cờ mỗi lúc càng tiến dần đến trước mặt. Rồi anh nhắm mắt hẳn. Những món tóc rất xanh rối bù dính bết máu phủ kín cả vầng trán lấm tấm mồ hôi đã trắng nhợt. Dường như từ trong ngực anh, chiếc đài vẫn đang nói sang sảng” [06; tr. 267 - 268].
3. Người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính”  của Nguyễn Minh Châu với nhân vật người lính Việt Nam trong “Hình bóng của vũ khí” của Hwang Seok Young (Hàn Quốc):
Nếu trong “Dấu chân người lính”  của Nguyễn Minh Châu, hiện thực cách mạng thời chống Mỹ giàu chất huyền thoại là cái nền để tác giả xây dựng nhân vật của mình; các nhân vật đã sống, cống hiến và hy sinh cả cuộc đời mình vì cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam; thì những người lính – người chiến sĩ Việt Nam - trong “Hình bóng của vũ khí” của Hwang Seok Young (Hàn Quốc) cũng chiến đấu hết mình vì lý tưởng, vì độc lập, tự do của dân tộc. Dù không trực tiếp cầm súng ra chiến trường diệt giặc như Lữ, Moan, Cận… trong “Dấu chân người lính”, nhưng nhân vật chính - Phạm Minh – trong “Hình bóng của vũ khí” cũng là một hình ảnh đẹp về người lính “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”. Đang là sinh viên Y khoa năm thứ hai một trường đại học ở Huế, Phạm Minh từ bỏ tất cả để vào bộ đội. Được tổ chức phân công phụ trách công tác quân nhu cho đơn vị ở tuyến Quảng Nam, Đà Nẵng, Hội An, Phạm Minh buộc phải thường xuyên giao dịch với người của “phía bên kia”. Anh phải nguỵ trang dưới lớp vỏ một kẻ buôn bán, xem đồng tiền là trên hết. Để  hoàn thành nhiệm vụ, anh đã hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình; chịu những ánh mắt khinh rẻ của người thân, bè bạn; mang tiếng là kẻ phản bội Tổ quốc. Nhận nhiệm vụ vô vàn khó khăn, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, nhưng Minh vẫn tin vào lý tưởng, vào con đường mình đã chọn: “Trên con đường cách mạng, thì chỉ có hai con đường mà thôi: bị giết do bàn tay của kẻ thù hoặc là thắng lợi. Cái chết chỉ là của cá nhân, còn chiến thắng là của tất cả mọi người. Cái khả năng bị giết chết lớn hơn gấp vạn lần so với thắng lợi trước mắt. Nhưng nếu không có lòng tin vào thắng lợi thì không thể tiếp tục đấu tranh toàn diện được” [24; tr. 103]. Chiến đấu hết mình vì lý tưởng, Phạm Minh tâm niệm: “một người chiến sĩ giải phóng không phải biến thành một người chiến đấu kỹ thuật mà phải làm hồi sinh lại người cách mạng mới bằng cả cái “tâm” và “thân” hoàn toàn mới” [24; tr. 102]. Cuối cùng, Phạm Minh bị phát hiện và đã hy sinh khi chạm trán với những người lính Hàn Quốc và nguỵ quân trong một cuộc vây ráp… Là những người lính có lý tưởng, Lữ, Moan, Cận, Phạm Minh… đã cống hiến quãng đời đẹp nhất của tuổi trẻ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc. Bằng cái nhìn hiện thực của một nhà văn tiến bộ từng tham chiến ở Việt Nam, Hwang Seok Young đã xây dựng hình ảnh đẹp đẽ về người lính Việt Nam qua nhân vật Phạm Minh. Dù chiến đấu ở mỗi trận tuyến khác nhau, nhưng nhân vật người chiến sĩ trong “Dấu chân người lính”  của Nguyễn Minh Châu và nhân vật người lính Việt Nam trong “Hình bóng của vũ khí” của Hwang Seok Young đều giống nhau ở điểm: là những con người – xả thân, hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình, đặt “cái tôi” vào trong “cái ta” chung của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Điều đó càng được khẳng định qua lời nói của An Young Kyu – một người lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam: “Lính “Việt cộng” thì khác biệt với những loại lính khác. Nếu những loại lính khác ( lính Mỹ; lính Hàn Quốc tham chiến Việt Nam và nguỵ quân – Ha Jae Hong )  cái đầu và trái tim của họ “chênh” nhau; thì cái đầu và trái tim của lính “việt cộng”  không phải là “chênh” nhau, mà lại luôn thống nhất với nhau” [25; tr. 284]. Đó chính là sự thống nhất giữa lý tưởng và hành động trong trái tim, tâm hồn của từng người lính yêu nước chân chính.
Sự so sánh nhân vật người lính ở hai tác phẩm nói trên dù có phần khập khiễng; nhưng cũng cho chúng ta thấy được nét đẹp tâm hồn của những anh bộ đội Cụ Hồ.
4. Kết luận:
Lúc còn sống, Nguyễn Minh Châu đã từng tâm đắc với nhà văn Nga Simonov: “Viết về chiến tranh không phải chỉ làm rung động những người từng đi qua mà còn phải làm rung động cả những thế hệ không hề trải chiến tranh” [07; tr. 28]. Nằm trong dòng văn học chống Mỹ, rõ ràng “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu đã “nghiêng về vẻ đẹp hào hùng và tươi tắn của cả cộng đồng, nghiêng về những sự kiện vĩ đại, những người anh hùng và được thể hiện với bút pháp trữ tình đậm đà, giàu chất thơ. Ở đó, cảm hứng trữ  tình hoà nhập giao thoa nhuần nhị với cảm hứng anh hùng” [07; tr. 29]. Khuyến khích những tìm tòi và đổi mới về nghệ thuật để phản ánh thực tế biến động mạnh mẽ của cuộc chiến đấu, đó là ấn tượng để lại trong lòng người đọc qua “Dấu chân người lính”.
Trong một đất nước mà “trên ba mươi năm qua, số phận của nhân dân gắn với số phận của dân tộc như hai mặt của một tờ giấy” [13; tr.118], trong một giai đoạn lịch sư” mà “em bé cũng quên mình là em bé để làm một người lớn; ông già cũng ghép thành đơn vị bắn máy bay; và đàn bà cũng ghép mình thành đại đội, tiểu đoàn để đi vào Trường Sơn và làm tất cả mọi công việc đàn ông; trong một giai đoạn mà con ong, con voi cũng giết giặc, cũng đi đánh giặc; rừng cây, núi đá cũng đánh giặc; khí hậu, thời tiết cũng đánh giặc; nhà cửa, xóm làng, thành phố cũng trở thành thành lũy, ổ chiến đấu, pháo đài; những mối quan hệ xưa cũ như tình mẹ con, tình vợ chồng, tình yêu lứa đôi… cũng đều được huy động vào công việc đánh giặc một cách triệt để” [04; tr. 113];  thì hình ảnh những con người đặt cả cuộc đời vào việc đánh giặc giữ nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội là những hình ảnh đẹp một cách rực rỡ. Nguyễn Minh Châu đã luôn trăn trở “làm sao kết hợp được tính vĩnh hằng của văn học chân chính với yêu cầu cụ thể trước mắt của cách mạng, của công chúng” [12; tr. 116] và “Dấu chân người lính” ra đời là kết quả của sự “không có nhiều băn khoăn và chọn lựa, không có sự trái ngược giữa cái riêng và cái chung, giữa cái mất và cái được, giữa tài năng của nghệ sĩ và những nhiệm vụ chính trị được giao phó” [11; tr. 99 - 100]. “Dấu chân người lính” chính là một quá trình trong đó tác giả tự khám phá những hiểu biết của mình về người lính và viết về người lính bằng một sự nhận thức trung thực, chân thành. Giữa hiện thực xô bồ của hàng nghìn vạn người lính vào một chiến dịch lớn, nhà văn đã “dựng được những nhân vật người lính thuộc nhiều kiểu loại khác nhau, có tính cách, có số phận, không ai hoàn thiện, nhưng nhiều người thật đáng yêu, đáng nhớ, lưu luyến mãi trong tình cảm người đọc” [22; tr. 140].
Tình  yêu đất nước, quê hương, yêu dân tộc và lý tưởng chiến đấu của các chiến sĩ trong “Dấu chân người lính” của  Nguyễn Minh Châu nói riêng, những tác phẩm văn học thời đánh Mỹ nói chung đã là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, cổ vũ cho tuổi trẻ Việt Nam lên đường chống Mỹ trong những năm tháng chiến tranh. Và ngày hôm nay, trong một giai đoạn cách mạng mới, người chiến sĩ Việt Nam vẫn tiếp tục lên đường trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận để bảo vệ cho màu cờ vẻ vang của dân tộc.
Anh vẫn hành quân !

Tài liệu tham khảo
01.    Triệu Bôn, 1982, Vài nét về nhân vật người chiến sĩ trong Mấy nét chung quanh mảng văn học viết về chiến tranh 35 năm qua, Văn nghệ quân đội, số 02 / 09/ 1945 – 02 / 09/1980.
02.    Nguyễn Minh Châu, 1980, Nhà văn – nhân vật – bạn đọc trong Mấy nét chung quanh mảng văn học viết về chiến tranh 35 năm qua, Văn nghệ quân đội, số 02 / 09/ 1945 – 02 / 09/1980.
03.    Nguyễn Minh Châu, 1982, Người viết trẻ và cánh rừng già trong Chiến trường sống và viết,  NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam.
04.    Nguyễn Minh Châu, 1982, Bên lề tiểu thuyết , Văn nghệ quân đội, số 01 - 1984.
05.    Nguyễn Minh Châu, 1999, Dấu chân người lính, NXB Trẻ, tập I.
06.    Nguyễn Minh Châu, 1999, Dấu chân người lính, NXB Trẻ, tập II.
07.    Nguyễn Minh Châu toàn tập , 2001, NXB Văn học, Tập I.
08.    Nguyễn Văn Dân, 1994, Những vấn đề lý luận của văn học so sánh, Luận án P. Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn Hà Nội, TTKHXH & NV QG.
09.    Phan Cự Đệ, 1984, Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng, Văn nghệ quân đội, số 09 - 1984.
10.    Hoàng Mạnh Hùng, 2003, Các sắc thái giọng điệu trong tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 – 1975, Tạp chí Văn học, số 03 - 2003.
11.    Nguyễn Khải, 1984, Văn xuôi trước yêu cầu của cuộc sống, Báo cáo bổ sung tại Đại Hội lần III Hội Nhà văn Việt Nam, Văn nghệ quân đội, số 01- 1984.
12.    Tôn Phương Lan, 1984, Nhà văn Nguyễn Minh Châu, Văn nghệ quân đội, số 10 - 1984.
13.    Phong Lê, 1984, Văn học Việt Nam và đề tài chiến tranh, Văn nghệ quân đội, số 08 - 1984.
14.    Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), 1996, Văn học lớp 12, tập I, Ban KHXH, NXB Giáo Dục.
15.    Vương Trí Nhàn, 1982, Chung quanh một số tác phẩm viết về chiến tranh ra đời hôm nay trong Chiến trường sống và viết,  NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam.
16.    Đặng Quốc Nhật, 1990, Mấy ý kiến về đề tài chiến tranh và sự chi phối của nó trong Văn học Việt Nam hiện đại, Văn nghệ quân đội, số 12 – 1990.
17.    Lê Thành Nghị, 1984, Vài khía cạnh của một chặng đường văn xuôi về đề tài chiến tranh cách mạng, Văn nghệ quân đội, số 12 – 1984.
18.    Lê Sơn, 1984, Góp mặt trao đổi về đề tài chiến tranh trong văn học,  Văn nghệ quân đội, số 03 – 1984.
19.    Trần Đình Sử, 1993, Giáo trình Thi pháp học, Trường ĐHSP Tp. HCM.
20.    Trần Đình Sử, 1993, Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại, Bộ GD & ĐT- Vụ Giáo Viên , Hà Nội.
21.    Bùi Văn Thắng, 1985, Mấy suy nghĩ xung quanh vấn đề xây dựng nhân vật người chiến sĩ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh 1945- 1985, Văn nghệ quân đội, số 10 – 1985.
22.    Ngô Thảo, 1984, Tuổi trẻ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Văn nghệ quân đội, số 07 – 1984.
23.    Trịnh Thu Tuyết, 1999, Nguyễn Minh Châu với nghệ thuật xây dựng truyện ngắn, Tạp chí Văn học 01 – 1999.
24.    Hwang Seok Young, 1992, Hình bóng của vũ khí, tập I, NXB Sáng tác và phê bình, Seoul.
25.    Hwang Seok Young, 1992, Hình bóng của vũ khí, tập II, NXB Sáng tác và phê bình,  Seoul.

Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp có tác động lớn đối với xã hội Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Cùng với việc thay đổi diện mạo văn hoá xã hội là sự thay đổi diện mạo của nền văn học. Những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX, nền văn học dân tộc chứng kiến sự tan rã của nhiều quan niệm văn học trung đại. Tuy thế, một quan niệm văn học cho thời kỳ cận hiện đại vẫn chưa được xác lập một cách vững chắc. Văn học đang dò dẫm tìm lối đi trước những ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn học Phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, và một nền văn học không mấy xa lạ là văn học Trung Quốc. Song song với sự đổ vỡ của nền văn học cũ về nội dung, hình thức, thể loại, văn tự, là sự hình thành một quan niệm văn học mới. Tuyên ngôn của nền văn học mới, một chừng mực nào đó được phát biểu trong lời tựa cuốn tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên xuất hiện ở Nam Kỳ, Truyện thầy Lazarô Phiền, đã nói lên quan niệm nghệ thuật mới mẻ rất khác với tiểu thuyết trung đại về cuộc sống, xã hội và con người. “Đã biết rằng dân ta chẳng thiếu chi thơ văn phú truyện nói về những đấng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao trí cả rồi đó, mà những đấng thuộc về đời xưa, nay chẳng còn nữa. Bởi vì đó tôi mới dám bày đặt một chuyện đời nay là sự thường có trước mắt ta luôn như vậy sẽ có nhiều người lấy lòng vui mà đọc, kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì cho đặng giải buồn một giây”(1)

                                            
1. Quá trình phát triển của tư tưởng nhân loại, xét về lịch sử, giống như dòng sông cuồn cuộn chảy. Và trong sự “vận hành” ấy, có những cái rơi rớt lại nhưng có cái vẫn còn theo mãi cho đến khi “dòng sông tư tưởng” ấy hòa mình vào “đại dương tư tưởng” mênh mông.
Trong buổi bình minh của lịch sử, con người cổ xưa đã biết sáng tác những “huyền thoại” bằng tư duy “mơ hồ, không tách bạch, không phân hóa” của mình để giải thích một số hiện tượng tự nhiên. Cho đến bây giờ, với sự xuất hiện những “kỹ thuật văn chương” hiện đại, tư tưởng huyền thoại ấy tưởng không còn được nhắc đến nữa nhưng thực sự, nó đã “phục sinh” lại với mức độ đáng kinh ngạc bắt đầu từ châu Mỹ La tinh vào những năm 60 của thế kỷ XX. Những sáng tác này tạo thành trào lưu văn học theo “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Các nhà văn của trào lưu này thường mượn những truyền thuyết dân gian xưa để tạo ra các huyền thoại mới. Các tác phẩm vừa có những cảnh tượng ly kỳ hư ảo, vừa có những chi tiết và hoàn cảnh hiện thực, gây cho người đọc cảm giác về những hiện tượng nghịch lý” (trang 53).
Nhắc đến phương thức “huyền thoại hóa” không thể không kể đến các sáng tác của Kapca. Trong những tác phẩm của mình, ông miêu tả tình trạng mâu thuẫn không thể giải quyết nổi giữa cá nhân và xã hội cũng như những mâu thuẫn bên trong tâm hồn nhân vật. Nhà văn coi bản chất của thế giới và con người như là một cái gì “phi lý, quái dị, không nhận thức được”. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Vụ án, Kapca đã xây dựng những biểu tượng nghệ thuật. Ông không miêu tả những sự việc có thật mà chú ý miêu tả những cái không cụ thể (khu phố, giới công thương…). Ngay cả nhân vật của tác phẩm cũng không được miêu tả cụ thể. Đó là một con người tên K., tự nhiên bị kết án. K. không hiểu bị kết án tội gì, ông tìm đến những vị chức trách tìm cách biện minh cho mình nhưng không ai biết, không ai giải đáp. K. chết như một con chó. Đời thật phi lý.
Thật ra, các chi tiết, sự việc trong tác phẩm không có cái gì quái dị hay hoang đường nhưng lại mang tính biểu trưng cao (biểu trưng là nét cơ bản của huyền thoại). Chính sự không hòa hợp giữa con người với cuộc đời, với xã hội mới là cái “vô lý và quái dị”. Điều này cũng được thể hiện qua truyện ngắn Hóa thân. Nhân vật trong tác phẩm hóa thành con gián, cắt đứt quan hệ với gia đình, với thế giới bên ngoài. Xamxa tự vật lộn với chính bản thân mình, muốn tiếp xúc với ngoại cảnh nhưng không được. Đây chính là bi kịch. Qua tác phẩm, Kapca cho thấy sự vô lý của cuộc sống: cá nhân con người không thể hòa hợp với gia đình, với thế giới xung quanh để cuối cùng biến thành con vật.
Một tác phẩm cũng sử dụng khá thành công phương thức“huyền thoại hóa” là Trăm năm cô đơn của Macket. Trong tác phẩm, nhà văn đã đưa vào nhiều thực tại để mô tả và đẩy những cái có trong hiện thực thành những cái “phi hiện thực”, thậm chí trở thành cái quái dị. Chẳng hạn, trong tác phẩm có chi tiết Rémédiod- người đẹp đang tồn tại giữa trần thế lại không thuộc về cõi thế tục mà nàng đang sống nên cuối cùng Rémédiod bay lên trời. Hoặc có nhiều chi tiết không thực nhưng do nhà văn căn cứ vào cảm quan của mình mà sáng tạo ra: những trận mưa lụt, mưa hoa, cái đuôi lợn của con người, vụ thảm sát 3000 người ở Côlômbia…
Qua cái có thực và cái không có thực, qua số phận của từng con người, tác giả Trăm năm cô đơn muốn thể hiện một hiện thực: đó là sự tù đọng, trì trệ của xã hội Mỹ-Latinh thời bấy giờ cũng như kêu gọi con người đoàn kết để thoát khỏi sự trì trệ ấy.
Tóm lại, sự bùng nổ của văn xuôi Mỹ- Latinh trong đời sống văn học thế giới những năm 60 đã khẳng định được vị trí của “kiểu sáng tác huyền thoại” trong văn học hiện đại. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: “Trong văn học thế giới suốt từ đầu đến cuối thế kỷ này, kiểu sáng tác huyền thoại vẫn luôn luôn sống động, thu hút nỗ lực của nhiều tác giả lớn”11 Lại Nguyên Ân – Văn học, huyền thoại, huyền thoại văn học – Tạp chí văn học số 3/ 1992, tr.58.
2. Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại chưa sử dụng phương thức “huyền thoại hóa” một cách phổ biến, một số tác phẩm chỉ mới manh nha viết theo phương thức này. Tuy chưa xuất hiện đậm nét song chúng ta vẫn coi đây là một phương diện cách tân nghệ thuật đáng chú ý, góp phần làm phong phú thêm phương diện thể hiện hiện thực, thể hiện số phận con người và tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm.
2.1 Trong Lời nguyền hai trăm năm, để thể hiện sự trừng phạt ghê gớm của số phận, sự sòng phẳng đến lạnh lùng của cuộc sống đối với con người, nhà văn Khôi Vũ đã sử dụng khá linh hoạt thủ pháp này. Nhờ thủ pháp “huyền thoại, huyền ảo” kết hợp với thủ pháp “đồng hiện”, tác giả đã hòa trộn những bức xúc, những xô xát quyết liệt của cuộc sống hôm nay với cái huyền bí, mờ ảo của lịch sử hai trăm năm trước thành một dòng chảy không ngừng. Hai năm năm nghiệt ngã một lời nguyền- lời nguyền phải làm điều ác tâm mới có nguời “nối dõi tông đường”, dòng họ Lê bốn đời liền phải sống trong lo âu, phải làm điều thất đức. Người duy nhất của dòng họ Lê đời thứ năm lại quyết tâm “hóa giải” lời nguyền. Để cưỡng lại sự nghiệt ngã của cuộc đời, Hai Thìn đã đấu tranh không chỉ chống lại những ràng buộc, những chèn ép của cuộc sống hiện tại mà còn phải gạt bỏ những ám ảnh của quá khứ.
Trong tác phẩm, nhà văn đã xây dựng được hai tuyến nhân vật  đối ngược nhau. Một bên là những người luôn tin vào điều thiện, quyết chống lại cái ác (Hai Thìn, ông Bảy, Lài…). Một bên là những con người không có nhân cách, mù quáng, dã tâm- những con người “trước sau cũng bị quẳng vào sọt rác của lịch sử” (Năm Mộc, Sáu Khế, Năm Hường…).
Cuộc sống là một chuỗi những cuộc săn tìm cái đẹp. Con người sống luôn hướng đến cái thiện - mỹ, chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng ấy bất hạnh còn đến với con người. Qua tác phẩm, nhà văn muốn kêu gọi con người phải quyết liệt chống lại cái ác. Cuộc sống tốt đẹp không ở đâu xa, ở ngay trên mảnh đất mà mình đang sống; làm những điều tốt đẹp, đem lại hạnh phúc cho mọi người cũng có nghĩa là chúng ta đem lại hạnh phúc cho chính mình.
Lời nguyền hai trăm năm được xây dựng trên nhiều yếu tố không thực, hư ảo. Đó là lời nguyên ác độc và ghê rợn. Nhưng niềm tin vào cuộc sống, vào những điều tốt đẹp mà tác phẩm đem lại cho con người là hoàn toàn có thật. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà khi bàn về chức năng của văn học, tác giả Huỳnh Như Phương đã khẳng định: “Nghĩ rằng văn học có thể làm cho trên thế gian này cái thiện thắng cái ác, đó là một ảo tưởng. Nhưng văn học có thể góp phần giữ cái thiện ở thế cân bằng với cái ác, làm cho cái thiện không bị chao đảo, ngả  nghiêng, mất tự tin vào chính mình”11 Huỳnh Như Phương- Văn học trên con đường dân chủ hóa-Tạp chí văn học số 4/1991, tr.14- 17.
.
2.2. Một dạng sáng tác sử dụng phương thức “huyền thoại hóa” mà chúng ta gặp trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại là các nhà văn mượn điển tích hoặc tạo ra những “huyền tích” riêng cho tác phẩm của mình. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Thiên sứ, tác giả Phạm Thị Hoài đã sáng tạo ra nhân vật cô bé Hoài với những chi tiết kỳ lạ. Sau khi  vô tình đặt chân vào “vườn cấm của papa” (tủ sách gia đình), cô bé Hoài nhận thấy mình “đã lãnh trọn tội tổ tông” và vĩnh viễn “không bao giờ còn trinh trắng nữa” nên có một hành vi “dị thường”: quyết định “đình tăng trưởng” ở tuổi mười bốn. Vì “không muốn trở thành người lớn”, bé Hoài đã “trút kinh nguyệt một lần cho mãi mãi, vắt bỏ, cạn kiệt, tẩy sạch mọi khả năng thành một người đàn bà như những người đàn bà, một kẻ trưởng thành như tất cả những kẻ trưởng thành trên thế gian ” khi đến tắm ở vòi nước công cộng (tr. 98). Và như thế, sau “lễ rửa tội năm tiếng đồng hồ” ấy, cô bé Hoài vẫn ở tuổi mười bốn (một mét hai mươi nhăm, ba mươi kg, đuôi sam) trong khi chị Hằng- người chị sinh trước chưa đầy một phút xinh đẹp như một nàng tiên cá. Cô bé ấy đã “đình tăng trưởng”- giữ nguyên tuổi mười bốn để không hòa nhập vào thế giới người lớn, để quan sát cuộc sống xung quanh theo kiểu của mình. Rồi cũng hết sức kỳ lạ, mười lăm năm sau, bé Hoài, đã “trút bỏ hình hài chú vịt con xấu xí”, “hóa thân” thành “một người đàn bà 29 tuổi lộng lẫy, giống chị Hằng như hai giọt nước” (tr.164). Đó là khi cô bé Hoài bắt gặp chàng trai của đời mình- người mà cô đã “ôm riết lấy bậu cửa sổ, thu mình chờ đợi đến quên cả giọng nói” suốt mười lăm năm.
Theo tác giả Lại Nguyên Ân thì nhà văn Phạm Thị Hoài đã mượn điển tích từ tiểu thuyết Cái trống thiếc của nhà văn Gunther Grass (Điều này cũng được tác giả  chú thích ở lời đề từ cuốn tiểu thuyết Thiên sứ: “Cuốn sách bắt đầu từ một điển tích của nhà văn G.G…” ). Vì trong cuốn Cái trống thiếc có câu chuyện một cậu bé chủ ý ngã vào cái trống và mang tật để luôn luôn là đứa trẻ lên bảy để quan sát và phản ứng với thế giới xung quanh11 Lại Nguyên Ân- Sống với văn học cùng thời- NXB Văn học, H. 1998, tr.285.
.
Ngoài ra, trong tác phẩm, chúng ta còn gặp rất nhiều chi tiết khác cũng được “huyền thoại hoá”. Đọc Thiên sứ, nhân vật để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc là bé Hon - “thiên sứ pha lê” mặc dù nhân vật chỉ xuất hiện rất ngắn ngủi (4/164 trang sách). Đây là kiểu nhân vật mà từ khi còn trong bụng mẹ đến khi sinh ra và mất đi đều gắn với những điều kỳ lạ, hoang đường. Chẳng hạn, khi lọt lòng mẹ, con bé “không chịu cất tiếng khóc mà mỉm cười làm thân với đủ mười ba nữ hộ sinh đứng quanh bàn đẻ. Thế là cả mười ba, lúc đầu ngơ ngác, sau bật khóc như một dàn đồng ca…”. Trong khi đó, nó lại “mỉm cười với bố khiến ông ngã phịch xuống một chiếc ghế” (tr. 93). Những ngày tháng sống trong gia đình, bé Hon đem lại cho mọi người biết bao điều kỳ lạ: miệng lúc nào cũng cười khiến cho “thế giới vụt sáng trong và hiền lành, mang bộ mặt hài đồng như trong nôi” (tr. 94). Rồi cuộc sống vốn không quen với những điều lạ mà bé Hon đem lại. “Cỗ máy tâm lý” phức tạp của con người không chịu đựng nổi những nụ cười mê hồn, những cái “thơm nào” hào phóng của “thiên sứ pha lê” nên tất cả bắt đầu “rò gỉ” và bé Hon đã ra đi “mang theo bí mật về sự có mặt lạ lùng của nó” ở trên đời này (tr. 96). Sau khi chết, bé Hon cũng để lại những điều kỳ lạ. Tác giả miêu tả đoạn bốc mộ bé Hon như sau: “Lúc mở ra, quan tài trống không, thơm tho sạch sẽ, đọng duy nhất nụ cười làm thân với muôn vật của Thiên sứ pha lê bị trục xuất” (tr.96).
Bên cạnh bé Hon, còn có những chi tiết khác cũng được “huyền hoặc hóa” như  chi tiết “hai trăm chín mươi chín phò mã” tranh đua trong lễ cầu hôn của chị Hằng. Họ “túa khắp các ngả phố, kẻ tấn công chùa chiền, kẻ lao từ Intershop ra các nhà vệ sinh công cộng, kẻ lê gót bến tàu bến xe, kẻ cày nát từng ngọn cỏ, chọc thủng từng ghế đá bốn mươi chín công viên lớn nhỏ trong thành phố….” (tr.121). Cuối cùng, chỉ còn lại “mười vận động viên khôn ngoan và hùng mạnh” bước vào vòng hai: dâng lễ vật. Chất “huyền hoặc” còn thể hiện ở các kiểu “lễ vật” mà đám “phò mã” đem dâng: nào là hoa và rau thơm, nào anatomie parfaite của lương tâm con người, nào đàn gà khổng lồ công kênh rổ trứng tròn xoe đánh số từ một đến hết cùng với “lũ lợn thật, lợn đất, lợn giấy”, rồi quả cầu “đúc bằng vàng nguyên chất, khắc nổi những ngả đường mầu nhiệm tỏa khắp thế giới văn minh” vv và vv… Mỗi người tùy theo tính chất nghề nghiệp mà chọn lễ vật xứng đáng để dâng tặng “nàng Mỵ Nương kiêu hãnh”.
Còn rất nhiều tình tiết khác trong tác phẩm được miêu tả một cách huyền ảo với nhiều sắc thái khác nhau. Đặc biệt, tất cả những chi tiết ấy đem lại cho người đọc cảm giác vừa lạ vừa quen. Lạ ở cách viết, ở giọng văn hài hước, mỉa mai. Quen vì tác giả luôn chú ý miêu tả mọi việc một cách cặn kẽ, tỏ ra rất chân thực. Mặc dù biết những điều ấy không thể xảy ra trong cuộc sống hiện tại nhưng người đọc vẫn có cảm giác như gặp ở đâu đấy những “mô hình người” lập dị; những cảnh hỗn độn, nhố nhăng; những yếu tố “dị thường” của văn hóa thời “mở cửa”…Qua cái thực tại được “ giai thoại hoá”, “huyền thoại hoá” ấy, tác phẩm muốn phản ánh hiện thực xã hội mà nhân vật đang sống. Phải chăng, xã hội vốn luôn tồn tại những điều thực và ảo. Những điều ấy nhiều khi lẫn lộn, chúng ta rất khó phân biệt. Đặc biệt, qua những chi tiết kỳ lạ trong cuộc đời, trong tính cách của nhân vật bé Hoài, nhà văn muốn nói đến nhiều vấn đề của xã hội lúc bấy giờ như trạng thái văn hóa, vấn đề nhân cách, tri thức… của con người. Trong xã hội ấy xuất hiện bao kẻ xu thời, cuồng tín, chạy theo đời sống tiện nghi, chạy theo vật chất, quyền lực…Thật khó tìm thấy trong tác phẩm nhân vật nào có sự hoàn thiện về nhân cách (trừ bé Hon - thiên sứ pha lê). Bởi vậy, nhân vật bé Hoài có sự phản ứng trước thực trạng văn hoá, xã hội ấy và có khát vọng thoát khỏi trạng thái văn hóa nghèo nàn, khuôn mẫu để vươn tới một xã hội có nền văn hóa rộng lớn hơn, tốt đẹp hơn. Và muốn có được điều đó, nhân vật phải tự mình nhận thức, tự mình hoàn thiện chính mình. Có thể xem chi tiết “ hoá thân” kỳ diệu của bé Hoài vào tuổi hai mươi chín là kết quả tuyệt vời của quá trình tự nhận thức ấy của con người.
2.3. Đặc biệt, trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã sử dụng phương thức này một cách độc đáo. Có người cho rằng, tiểu thuyết của Bảo Ninh là “một giấc mơ dài, một huyền thoại của thời đại”. Bởi nó được “hình thành trong bóng đêm, trong cơn say, trong điên khùng và hoảng loạn, từ vô thức, man rợ, từ nỗi buồn tình yêu và nỗi buồn chiến tranh”11 Đỗ Đức Hiểu - Đổi mới phê bình văn học - NXB Khoa học – Xã hội, NXB Mũi Cà Mau 1994, tr.174.

Đọc Nỗi buồn chiến tranh, cảm giác đầu tiên của chúng ta là rùng rợn, hãi sợ, đau xót và đôi lúc như nghẹt thở. Quả thật, cảm giác ấy xuất hiện trong người đọc ngay từ những trang đầu tiên của tác phẩm. Trước hết, cảm giác ấy bắt đầu từ những giấc mơ khủng khiếp chứa đựng những cái không bình thường. Cùng với những giấc mơ ấy là những đêm tối âm u, tù mù, hư ảo; những trận mưa xối xả trong đêm, những tiếng hú ghê rợn từ cõi âm vọng về…
Theo nguyên tắc sáng tác của “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”, Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh cũng “biến hiện thực thành hoang đường” mà không đánh mất tính chân thực”.22, 3 Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi- Từ điển thuật ngữ văn học- NXB Giáo dục 1992, tr.53.
 Và để gây “hiệu quả hoang đường”, để bộc lộ được những giằng xé, trăn trở, những cắn rứt trong lương tâm nhân vật, tác giả đã sử dụng nhiều chi tiết không thực “phóng đại, liên tưởng, người và hồn ma bất phân, trật tự thời gian bị xáo trộn, thực và ảo hòa quyện nhau”3. Ta gặp trong tác phẩm bao nhiêu điều kỳ dị, nhất là khi tác giả vẽ lại những cảnh vật lưu lại dấu ấn cho mình trong chiến tranh. Từ loài “hoa hồng ma” quỷ quái làm say lòng người, giúp con người “tự chế ra cái ảo giác tùy sở thích” (tr.14), từ con đom đóm to quá cỡ đến các loại măng đỏ “như những tảng thịt ròng ròng máu” (tr.7)…,tất cả đều xa lạ và đáng sợ. Rồi những truyền thuyết man rợ, nguyên thủy về cuộc chiến tranh “những lời đồn đại, những sấm truyền và những lời tiên tri” (tr.15). Còn bao nhiêu điều kinh dị khác lẫn khuất trong tác phẩm. Chẳng hạn, người lính đã nhìn thấy tận mắt “vô khối sự hão huyền”. Đó là “những quái vật lông lá có cả cánh lẫn vú với cái đuôi kỳ nhông kéo lê lết và họ ngửi thấy mùi tanh máu từ chúng, nghe thấy chúng gào rú và ca hát trong kia truông Gọi Hồn” (tr.15). Rồi xuất hiện trong tác phẩm những “toán lính da đen không đầu chơi trò rước đèn ở ven rừng”. Ghê rợn hơn là “những tiếng hú mang dại thường cất lên vào những buổi tinh mơ mờ mịt mưa giăng” (tr.15). Chưa hết, người lính còn nghe thấy những “tiếng cười cuồng loạn nức nở” của loài quỷ rừng- tiếng cười ám ảnh con người đến bao nhiêu năm bên bờ sông Sa Thầy. Rồi họ còn thấy “những linh hồn lồm xồm lông lá…, râu tóc quá dài, cởi trần truồng ngồi trên một thân cây…tay cầm lựu đạn” (tr.101); những “bóng ma rách bươm, uyển chuyển và huyền bí, lướt ngang luồng ánh sáng rồi mất hút đi với mái tóc đen dài xõa bay” (tr.104). Kinh khủng hơn nữa là có khi “một con vượn bị bắn chết hóa ra là một người đàn bà da xùi lở” (tr.9)vv…
Có lúc hồn ma chỉ là những ám ảnh bên ngoài, có lúc hồn ma ấy được con người đối thoại, trò chuyện như đồng đội, đồng chí của mình: “Anh là ai? Hãy ra với chúng tôi. Chúng tôi là bạn. Chúng tôi tìm anh, chúng tôi đã tìm anh bấy lâu nay, khắp nơi” (tr.103). Hồn ma vốn vô cảm, vô hồn nhưng với người lính lại thân thiết biết bao nhiêu. Bởi chúng cũng từng là những con người biết cầm súng, biết yêu thương.
Tất cả những điều ấy đều xa lạ và kỳ quái với con người. Những bóng ma, bóng quỷ, những con quái vật kỳ dị trong tác phẩm chúng ta đã từng gặp đâu đó trong những truyện thần thoại hay những truyện cổ tích thần kỳ. Nhưng trong Nỗi buồn chiến tranh, tác giả sáng tác những huyền thoại ấy xuất phát từ tâm hồn bấn loạn, từ những bóng đêm âm u của tiềm thức, từ những cảm giác của con người bị ám ảnh bởi chiến tranh. Những huyền thoại ấy vừa gợi nhớ thế giới huyền bí xa xưa vừa gắn chặt với những kỷ niệm đau thương của chiến tranh nên càng gây cảm giác hãi sợ, kinh hoàng.
Phóng đại, khoa trương cũng là hình thức gây hiệu quả hoang đường. Không chỉ đưa người đọc vào một thế giới toàn hồn ma, bóng quỷ ẩn hiện, nhà văn còn chú ý miêu tả những cái chết ghê sợ và kỳ lạ. Đời người lính phải chứng kiến biết bao cái chết nhưng với Kiên, những cái chết ấy sao thảm thương, đau đớn quá! Có những người chết mà không được một nấm mồ, chết mà không còn nguyên vẹn thân xác để hồn mãi lang thang: “hồn bơi ra khỏi xác biến thành con ma cà rồng đi hút máu người” (tr.26). Có những người chết trở thành “đống giẻ nát nhừ vắt mình trên bờ công sự” (tr.90). Bao nhiêu cái chết dồn dập về trong tâm trí anh. Trận Plây-Cần năm 1972 “thây người la liệt”, “máu tới bụng chân, lội lõm bõm” (tr.23). Cứ thế, những cái chết chồng chéo lên nhau hoảng loạn, kinh hoàng. Cho đến khi Kiên viết lại cuốn tiểu thuyết chiến tranh của đời mình thì không khí của truyện là “bầu không khí của những khu rừng tăm tối, ngùn ngụt tử khí và lam chướng, mờ mịt bóng yêu tà. Những di vật và những bộ xương mũn nát được vớt lên từ đáy những rừng cây ấy” (tr.93).
Ngoài phóng đại khoa trương, tác giả còn sử dụng những hình tượng, những biểu tượng để phản ánh hiện thực một cách “huyền ảo”, hoang đường. Đọc Nỗi buồn chiến tranh, chúng ta có cảm giác mưa và bóng đêm lấp trùm, đè nặng lên từng trang tiểu thuyết. Ta gặp trong tác phẩm vô vàn những trận mưa kỳ lạ: “mưa dầm”, “mưa xối xả”, “mưa núi non nhạt nhòa”, mưa ngút trời”, “mưa ê ẩm”, “mưa lê thê”, “mưa to”, “khắp nơi lằng nhằng sấm chớp”, “mưa nặng nề xối dội”, “mưa ngày”, “mưa đêm”, và “cuộc chiến có vẻ như bị vùi lấp trong biển mênh mông mù mịt mù mưa” (tr.16). Theo  Đỗ Đức Hiểu, tác giả đã “sáng tạo một vũ trụ mới của cuộc chiến, vũ trụ chìm trong mưa và mưa là biểu tượng khủng khiếp của chiến tranh”11  Đổi mới phê bình văn học- Sđd, tr.275.
Cùng với mưa - “biểu tượng của chiến tranh” là bóng đêm. Vô vàn những đêm là đêm trong tác phẩm. Đêm với bao nhiêu điều kỳ dị hư vô: “đêm hoang vu”, “đêm ác mộng”, “đêm của tâm hồn”, “đêm đen”, “đêm âm u”, “đêm rét mướt”, “đêm thác loạn”, “đêm kỳ ảo”, “đêm trường”, “đêm thức trắng”, “đêm hương hoa”…
Phải chăng, mưa là “biểu tượng của chiến tranh” còn đêm là biểu tượng cho đời sống tâm hồn của nhân vật Kiên? Đi ra khỏi cuộc chiến tranh, Kiên sống những tháng ngày u buồn của thời hậu chiến. Anh luôn bị ám ảnh bởi quá khứ - cái quá khứ mà anh đã gởi tất cả sức xuân, niềm vui và nỗi đau của mình vào đó. Với Kiên, tương lai là một cái gì đó xa mờ và tăm tối…Vì thế, bóng đêm đã trở thành nỗi ám ảnh đối với anh. Có biết bao điều quái lạ xảy ra trong những đêm đen như thế. Tiếng hát của những người đã chết huyền bí, thì thào như hoàn toàn hư, hoàn toàn thực từ cõi mông lung gọi về “xót xa, bi tráng như nhắc nhở những con người còn sống đừng quên năm tháng vinh quang khổ đau bất tận”(tr.94) cũng cất lên khi “bóng đêm vùi kín rừng cây”. Có những cái không thể có lại được viết ra như thực trong cái vô biên của tâm hồn để trở thành huyền thoại. Đó là câu chuyện về một người lính khi chết được bó trong một tấm tăng nằm lại trên đèo, xương cốt hóa mùn cả nhưng cây đàn guitare của anh vẫn còn nguyên vẹn. Và đêm đêm, người ta lại nghe thấy tiếng hát của con người vô danh ấy vang vọng mãi trong lòng rừng…”.
Mưa và bóng đêm khủng khiếp và hồn hoang, ảo giác, hồn ma, những cơn mộng du… tạo cho tác phẩm một hiện thực “huyền ảo, mơ hồ”. Và chính những cái không thực mang màu sắc huyền hoặc, mờ ảo ấy đã phản ánh rất thực đời sống tâm hồn nhân vật- những con người bị ám ảnh bởi năm tháng chiến tranh.
Viết về tình yêu giữa Kiên và Phương, nhà văn cũng xây dựng nhiều yếu tố kỳ lạ. Nhân vật Phương hết sức kỳ quái: đẹp kỳ quái, yêu thương kỳ quái và tính cách cũng rất kỳ quái. Trong văn học, chưa có người phụ nữ nào được miêu tả như Phương: “đẹp mê dại và bất kham, hấp dẫn đến lịm người, đẹp một sắc đẹp kỳ ảo và khôn lường, đẹp một cách đau lòng, đẹp như thể một sắc đẹp bị chấn thương, như thể một sắc đẹp lâm nguy, mấp mé bên bờ vực” (tr.275). Cuộc đời Phương và tình yêu của Phương là một huyền thoại không dứt, mênh mông và huyền ảo. Phương vừa có thực, vừa như không có thực. Nàng xuất hiện giữa cuộc đời Kiên như một điềm báo không lành để rồi mãi mãi ám ảnh không dứt trong Kiên.
Ngoài ra, xây dựng nhân vật “người đàn bà câm” lầm lũi, lặng thinh nhưng bùng cháy một sức sống mãnh liệt, một nghị lực phi thường cũng là một bút pháp nghệ thuật độc đáo của Bảo Ninh. Cuộc đời của người đàn bà câm ấy cũng là một huyền thoại. Có người cho rằng đó là “sự tái sinh từ các truyền thuyết xa xưa của nhân loại, từ “mẫu cổ xưa” thần giữ của”11 Đỗ Đức Hiểu- Những nhịp mạnh của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”- Tạp chí Tác phẩm mới, số 1/1992.
. Người đàn bà ấy chỉ là bóng ma âm thầm cô độc, một thế giới đóng kín nhưng lại là người duy nhất chứng kiến cuốn tiểu thuyết của Kiên – cuốn tiểu thuyết ra đời trong cơn say, trong điên cuồng, hỗn loạn. Có thể nói, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là cuốn tiểu thuyết “huyền thoại” được kết tinh từ những nỗi buồn.
Thể hiện tất cả những cái ấy, ngòi bút của Bảo Ninh vừa tả thực, rất “tỉnh táo”, vừa dùng bút pháp “huyền thoại”, huyền bí mơ hồ. Sở dĩ như vậy vì nhân vật trong tác phẩm luôn sống trong “vô thức”, tiềm thức, đan xen với “ý thức”. Đó là con người “được sống sót” và bị ám ảnh bởi những năm tháng chiến tranh, ám ảnh bởi một thời kỳ lịch sử khốc liệt mà mình là một “chứng nhân”. Tâm lý của Kiên là tâm lý của người mà cảm xúc bị nén chặt trong vô thức “tìm cách nhoi ra” 22 Chữ dùng của Phrơt  vùng ý thức nên không bị biến dạng đi. Bởi vậy, hiện thực có hiện ra trong Kiên qua “vô thức” hay “hữu thức” cũng không còn nguyên vẹn mà bị tách rời, chắp nối, hoà quyện, không phân biệt được đâu là thực, đâu là không thực. Mặt khác, chiến tranh được dựng lại (chứ không phải được miêu tả lại) qua hồi ức, qua giấc mơ, qua ảo giác, qua những “hồi tưởng đen” nên bị chi phối bởi những ám ảnh, những nỗi sợ hãi khiến cho hiện thực trở nên không thực nữa.
Thực ra, chính những chi tiết hoàn toàn không thực ấy lại nói được những điều rất thực: tình người trong chiến tranh và những mất mát đau thương mà chiến tranh để lại. Quả thật, người đọc nhận ra trong thế giới toàn hồn ma bóng quỷ ghê rợn ấy cái tâm “sáng rực” của con người. Không dễ dàng tìm thấy được ở những nơi khác (kể cả cuộc sống hòa bình) cái tình người chân chất mà sâu nặng như trong chiến tranh- yêu thương lắm và cũng đau buồn lắm. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhà văn nổi tiếng Đốtxtôiepxki đã ví cuộc sống thời bình là nơi “quỷ vật lộn với thần” còn “chiến trường là trái tim con người”.

3. Chúng ta đã biết, chân lý là mục đích cuối cùng mà khoa học tìm đến. Nhưng trên bước đường tìm đến chân lý, con người phải trải qua nhiều chặng đường vất vả, gian nan. Trong đó có thể có những điều nhận thức đúng, có thể có những điều chưa đúng, có thể có những ước mơ, những ảo tưởng… Tồn tại những cái đó, rõ ràng “tư duy huyền thoại” vẫn còn. Vì thế, trong văn học, đặc biệt là dòng văn học hiện thực thế kỷ XX, xuất hiện nhiều khuynh hướng nghệ thuật trong đó có khuynh hướng sáng tác huyền thoại. Với phương thức “huyền thoại hóa”, các nhà văn tiếp cận, lý giải được những hiện tượng phức tạp về ý thức, cả trong vô thức, tiềm thức của con người.
Có thể nói, phương thức “huyền thoại hóa” giúp nghệ thuật vượt lên trên mâu thuẫn giữa cái vô thường và tính chất trường tồn của thời gian, giúp con người lý giải được những điều mà bình thường không lý giải được, trong đó, có lý giải đời sống nội tâm của chính con người …
                         
 
Tài liệu tham khảo:
1. Lại Nguyên Ân- Sống với văn học cùng thời - NXB Văn học, H.1998.
2. Lại Nguyên Ân- Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại – Tạp chí Văn học số 3/1992, tr. 58-61.
3. Đặng Anh Đào- Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại- NXB Giáo dục. 1995
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi- Từ điển thuật ngữ văn học- NXB Giáo dục, 1992.
5. Đỗ Đức Hiểu- Đổi mới phê bình văn học- NXB Khoa học Xã hội, NXB Mũi Cà Mau. 1994
6. Đỗ Đức Hiểu- Những nhịp mạnh của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”- Tạp chí Tác phẩm mới, số 1/1992.
7. Phạm Thị Hoài – Thiên sứ - NXB Trẻ Tp.HCM.1989.
8. Bảo Ninh- Nỗi buồn chiến tranh- NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 1991
9. Hoàng Trinh – Phương Tây văn học và con người – NXB Hội nhà văn, Hà Nội. 1999.
10. Phùng Văn Tửu- Tiểu thuyết Pháp hiện đại- Những tìm tòi đổi mới- NXB Khoa học Xã hội, NXB Mũi Cà Mau. 1990.
11. Phùng Văn Tửu- Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI - NXB Thủ pháp. Hồ Chí Minh. 2001.
12. Khôi Vũ- Lời nguyền hai trăm năm - NXB Thanh Niên, H.1987

Là một trong số những nhà thơ làm thơ từ khi đất nước còn trong những năm tháng chiến tranh cho đến khi hòan tòan độc lập và chuyển mình thay đổi cùng thời cuộc, Nguyễn Duy luôn luôn trăn trở và luôn tìm cách đổi mới giọng điệu để thích hợp với hòan cảnh. Vốn từng “ca hát quá nhiều về tiềm lực”, lúc cần thiết phải thay đổi, Nguyễn Duy sẵn sàng trở thành người vận động mọi người “đánh thức tiềm lực”, sẵn sàng làm những “câu thơ tuẫn tiết” khi không còn “rưng rưng”, không thể “tình tang phiêu lưu”.

1. Trong các tác gia văn xuôi vùng đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, Bình Nguyên Lộc là nhà văn có số lượng tác phẩm đã viết và đã xuất bản thuộc vào hạng nhiều nhất. Các sáng tác của ông ít nhiều đã có ảnh hưởng tích cực đến đời sống sáng tác và con người Nam Bộ trước đây cũng như bây giờ.

 (Trích luận văn thạc sĩ)

Mở đầu

1. Chủ nghĩa siêu thực là sản phẩm của môi trường thẩm mỹ hiện đại, trong đó, tác phẩm không còn thẳng tắp, một chiều, không còn du dương, dễ nghe như trước, mà dung chứa sự phức tạp, đa chiều của một nhân loại bị đấu tranh sinh tồn ám ảnh. Người nghệ sĩ tìm đến sáng tạo nghệ thuật như là tìm một nơi trú ẩn trước đời sống hiện thực, trước sự tàn phá của trí tuệ và logic truyền thống. Vì vậy, muốn nắm bắt được tác phẩm siêu thực nói riêng, chủ nghĩa hiện đại nói chung, nên hiểu, nên quen với môi trường thẩm mỹ hiện đại.

Xuan DungNguyễn Thị Xuân Dung sinh năm 1985, sinh viên lớp  Cử nhân tài năng chuyên ngành Văn học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, khóa 2003 – 2007. Hiện đang học Cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Công tác tại Đại học Văn Lang.

 

 

Chiến tranh tàn phá về vật chất, gây nên những mất mát đau thương trên thân thể, trong tâm hồn, nhưng trước hết và trên hết, nó đã làm ức chế, tước đoạt những nhu cầu tự nhiên nhất của bản năng con người.

 

l

              Rất tiếc do binh lửa, thiên tai nên quyển luận thuyết triết lý Thiền tông chỉ nam không còn. Hiện chỉ còn lại bài Tựa của sách mà người đời sau khắc in chung trong Khoá hư lục của cùng tác giả. Không hiểu tại sao trong cuốn sử Phật giáo viết bằng tiếng Pháp Le Bouddhisme en Annam des origines au XIIIe siècle của Trần Văn Giáp và sau đó ít lâu trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử lược (1942) của Mật Thể đều khẳng định “sách còn truyền đến ngày nay”. Việc sách còn hay mất không thuộc phạm vi bài viết này (dù cho đến nay vẫn chưa tìm thấy). Có điều, tài liệu cũ cho biết người xưa đã đánh giá rất cao “Ôi! Tâm của các Đức Phật ở cả trong này, sao không in thành sách để chỉ dạy cho hậu thế” như lời của Trúc Lâm đại sa môn mà tác giả sách có ghi lại trong bài Tựa; hay như Mật Thể đã xem nó là “báu vật trong vườn Thiền Việt Nam” (Việt Nam Phật giáo sử lược).

Nguyen TraiXưa nay người ta nói nhiều về thơ Nôm của Nguyễn Trãi, nổi bật vẫn là hình ảnh mùa xuân hiện ra thật phong phú, tươi trẻ và sống động. Nếu trong thơ Nôm Nguyễn Trãi “mùa xuân được cảm nhận như là biểu tượng của vẻ đẹp hoàn mỹ, hoàn chỉnh, phổ biến” thì còn một mùa xuân suy tư và ẩn ức, có vẻ già cỗi hơn, riêng tư hơn, chất chứa những nỗi niềm sâu lắng bàng bạc trong dòng thơ chữ Hán của ông.

Hoang Hung

1. “Người thơ phong vận như thơ ấy” - hành trình thơ và đời Hoàng Hưng

Ròng rã suốt một năm đi dọc sông Dương Tử để quên đi bệnh tật và lo âu, Cao Hành Kiện đã hoàn tất Linh Sơn, kiệt tác đưa ông đến giải thưởng Nobel danh giá. Trước đó gần ba trăm năm, lang thang trên con đường sâu thẳm tìm kiếm vẻ đẹp tinh thần Nhật Bản, Basho trở thành hành giả - thi nhân, người mà đến nay vẫn được xem là biểu tượng cho sức sống kỳ diệu của thơ Haiku, của hồn thiền Nhật Bản.

Trong kỷ nguyên nội dung số, thói quen đọc đang trải qua một cuộc “tiến hóa” về hình thức.

Trong bối cảnh công nghệ số phát triển nhanh chóng, thói quen đọc của con người, đặc biệt là giới trẻ, cũng đang có sự chuyển dịch rõ rệt. Từ việc đọc sâu, đọc có suy ngẫm, nhiều người dần nghiêng về cách tiếp nhận thông tin ngắn gọn, nhanh chóng và mang tính giải trí nhiều hơn. Xu hướng này không chỉ ảnh hưởng đến cách thức tiếp nhận thông tin mà còn đặt ra thách thức trong việc nuôi dưỡng thói quen học tập bền vững và chiều sâu nhận thức ở người trẻ.

Nhân dịp Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 5 năm 2026, câu chuyện gìn giữ và phát triển văn hóa đọc trong kỷ nguyên số tiếp tục được đặt ra, kéo theo không ít trăn trở và suy ngẫm.

Nội dung số là “con dao hai lưỡi” với văn hóa đọc

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hà Văn Minh – Trưởng khoa, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho biết, thói quen đọc của số đông, đặc biệt là giới trẻ, đã thay đổi rõ rệt trong vài chục năm qua, cùng với những biến chuyển mạnh mẽ của đời sống hiện đại.

487991889-1211052407698200-1443711021332879087-n.jpg

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hà Văn Minh – Trưởng khoa, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Nếu như trước đây, việc đọc gắn với nhu cầu tự học, tích lũy tri thức và bồi dưỡng đời sống tinh thần, thì hiện nay, trong bối cảnh công nghệ số phát triển nhanh chóng, thói quen này đang có xu hướng bị phân mảnh, gián đoạn và lệch khỏi quỹ đạo truyền thống. Sự bùng nổ của mạng xã hội, thiết bị di động và các nền tảng nội dung ngắn đã góp phần làm gia tăng tốc độ tiếp nhận thông tin, nhưng đồng thời cũng làm suy giảm khả năng tập trung và chiều sâu trong hoạt động đọc.

"Theo tôi, biểu hiện của sự thay đổi này thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, nhu cầu đọc không còn mang tính tự thân rõ rệt, mà phần nào bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài như xu hướng, thuật toán và môi trường truyền thông số.

Thứ hai, nội dung được lựa chọn để đọc cũng có sự dịch chuyển đáng kể, từ các tri thức chuyên sâu, có tính hệ thống, giàu chiều sâu suy ngẫm sang những thông tin ngắn, nhanh, mang tính thời sự hoặc giải trí. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng tri thức được tiếp nhận, mà còn tác động đến cách hình thành hệ thống tư duy và năng lực phản biện của người đọc.

Bên cạnh đó, cách đọc và thái độ đọc cũng có sự thay đổi rõ rệt. Thói quen đọc sâu, đọc có suy ngẫm dần nhường chỗ cho kiểu đọc lướt, đọc để nắm bắt thông tin nhanh. Người đọc dễ bị cuốn vào dòng chảy liên tục của thông tin, thiếu thời gian dừng lại để chiêm nghiệm, phân tích hay liên hệ. Không gian và thời gian đọc cũng không còn ổn định như trước, mà trở nên linh hoạt, thậm chí bị “xé nhỏ” theo từng khoảnh khắc rảnh rỗi trong ngày, gắn liền với thiết bị số hơn là những không gian tĩnh lặng truyền thống” – thầy Minh chia sẻ.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Mạnh Hùng – Trưởng khoa, Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) bày tỏ, một bộ phận người trẻ hiện nay vẫn duy trì những đặc điểm tương đồng với các thế hệ trước, như yêu thích sách giấy, thường xuyên mua, sưu tầm và đọc sách in.

Tuy nhiên, thói quen đọc của giới trẻ cũng đang có nhiều thay đổi đáng chú ý. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và truyền thông đại chúng bùng nổ, người trẻ ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với môi trường đa phương tiện. Nhờ đó, họ có thể đọc hoặc nghe nội dung trực tuyến thông qua các nền tảng số. Không dừng lại ở việc tiếp nhận, người trẻ còn tham gia vào các hoạt động tương tác, như bày tỏ quan điểm cá nhân, bình luận, chia sẻ và đánh giá nội dung đã đọc.

Theo thầy, việc đọc thông tin ngắn, nhanh, trên thực tế có nhiều lợi ích, giúp người trẻ tiếp cận tri thức nhanh, nắm được khái quát các chủ đề phức tạp, đa dạng, phù hợp với nhịp sống hiện đại, gấp gáp.

Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy xây dựng nền tảng tri thức của bản thân dựa trên việc đọc thông tin nhanh, ngắn trên mạng xã hội, xem đây là phương thức duy nhất để tiếp thu thông tin, thì về lâu dài, điều này tạo ra thói quen phản xạ đọc lướt, thiếu kiên nhẫn cho việc đọc dài, đọc sâu, từ đó thiếu khả năng suy tư, phản biện một cách thận trọng và toàn diện.

20260704 3

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Mạnh Hùng – Trưởng khoa, Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

Giảng viên trẻ của Bộ môn Ngữ văn – Khoa học xã hội, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Hạ Long, Thạc sĩ Nguyễn Khánh Huyền cho rằng, trong kỷ nguyên nội dung số, thói quen đọc không mất đi mà đang trải qua một cuộc “tiến hóa” về hình thức.

“Thứ nhất là chữ viết không còn là độc tôn; thói quen đọc hiện nay là đọc đa phương tiện, kết hợp giữa văn bản, hình ảnh, video và âm thanh (như podcast hoặc sách nói).

Thứ hai là giữa tác giả và người đọc có tính tương tác hai chiều, chúng ta có thể vừa đọc, vừa bình luận, chia sẻ và thảo luận ngay trên các nền tảng số, biến việc đọc trở thành một hoạt động cộng đồng.

Cuối cùng, tôi nhận thấy nhiều người trẻ hiện nay có xu hướng chuyển từ đọc tuyến tính sang đọc lướt, tức là họ đọc để tìm từ khóa và ý chính, điều này giúp họ xử lý lượng thông tin khổng lồ trong thời gian ngắn” – cô Huyền chia sẻ.

Dù vậy, khi não bộ dần quen với việc thỏa mãn nhanh chóng thì dễ dẫn đến việc ngại đọc những văn bản dài, phức tạp hoặc đòi hỏi sự chiêm nghiệm sâu sắc. Khả năng tập trung cũng sẽ bị suy giảm đáng kể. Để không bị “nông hoá”, việc đọc cũng cần xây dựng chiến lược cụ thể.

aef346a2-b049-402b-b86b-342fd03c6afe.jpg

Thạc sĩ Nguyễn Khánh Huyền – giảng viên Bộ môn Ngữ văn – Khoa học xã hội, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Hạ Long. Ảnh: NVCC.

Giảng viên trở thành người truyền cảm hứng

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Mạnh Hùng, công nghệ số là một phần của đời sống hiện nay. Thay vì tránh né, từ chối các mặt hạn chế, rủi ro của công nghệ số, chúng ta có thể tận dụng lợi thế của công nghệ số để duy trì và phát triển văn hóa đọc.

“Trước hết, chúng ta cần phát triển thư viện số, các nền tảng chia sẻ tài liệu, các cộng đồng đọc trực tuyến. Việc tạo ra hệ sinh thái đọc đa dạng giúp người đọc tự do và thoải mái trong việc đọc. Bên cạnh đó, có thể tận dụng công nghệ số là nơi trao đổi, thảo luận về việc đọc. Các bài phân tích, điểm sách, các diễn đàn online nên được tạo ra để người trẻ có thể đọc, viết, thảo luận, bày tỏ ý kiến, cảm xúc của mình trên tinh thần cầu thị, chia sẻ một cách tích cực.

Trong giảng dạy ở nhà trường, thầy cô cũng có thể tận dụng công nghệ số để tích hợp việc dạy, trao đổi với người học. Thầy cô đồng hành, hướng dẫn học sinh, sinh viên cách đọc và phương pháp đọc phù hợp. Như vậy, công nghệ số có những mặt tích cực và lợi ích trong rèn luyện thói quen đọc, nâng cao năng lực đọc cho người trẻ hiện nay” – thầy Hùng cho hay.

Theo thầy Hùng, nhiều trường học đã thường xuyên tổ chức các hoạt động để duy trì và lan tỏa văn hóa đọc cho học sinh, sinh viên. Để phát triển văn hóa đọc, nhà trường cần đầu tư nguồn tài liệu phong phú, thường xuyên cập nhật, đổi mới, không gian đọc cần được chú ý yên tĩnh, thân thiện, mang đến cảm xúc cho người trẻ.

Các khoa/ bộ môn, các đơn vị trực thuộc cũng có thể thiết kế các tủ sách chuyên ngành riêng, tủ sách này có các sách được trao tặng hoặc cho mượn luân phiên nhằm cổ vũ người trẻ đọc mà không tốn nhiều chi phí. Đặc biệt, nhiều tài liệu cần được số hóa, thuận tiện cho việc đọc trực tuyến.

Các câu lạc bộ đội, nhóm cũng là nơi mà nhà trường nên khuyến khích để duy trì và lan tỏa văn hóa đọc. Các hoạt động có thể tổ chức như ngày hội đọc sách, giới thiệu sách nên được ưu tiên tổ chức hàng năm nhằm khuyến khích người trẻ tiếp cận sách giấy, sách số.

“Theo tôi, điều quan trọng là không nên bắt ép đọc sách, mà hình thành một thói quen, một cảm hứng đọc không thể thiếu được ở người trẻ. Một trong những điều ấy là giáo viên, giảng viên hãy trở thành một người yêu thích đọc và truyền cảm hứng đọc đến người trẻ” – thầy bày tỏ.

497512556-1228967182571444-5386618608454522293-n.jpg

Hội sách HNUE diễn ra tại khuôn viên Trung tâm sách Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Ảnh: Website nhà trường.

Với tư cách là một người giảng dạy các học phần về Văn học và Báo chí - Truyền thông, cô Huyền khẳng định giảng viên đóng vai trò là người truyền cảm hứng và dẫn dắt văn hóa đọc.

Do đó, thầy cô có thể linh hoạt triển khai một số hoạt động nhằm thúc đẩy văn hóa đọc trong sinh viên. Chẳng hạn như xây dựng các Reading Challenge (thử thách đọc) thông qua việc hình thành các nhóm đọc sách theo chủ đề trên mạng xã hội hoặc hệ thống học tập trực tuyến; mỗi tuần, sinh viên chia sẻ một đoạn tâm đắc hoặc thực hiện bài đánh giá dưới dạng blog hay video ngắn.

Bên cạnh đó, có thể tổ chức các giờ đọc tự do theo hướng sáng tạo, thay vì áp đặt danh mục cứng nhắc, cho phép sinh viên tự lựa chọn cuốn sách yêu thích, từ truyện tranh đến tạp chí chuyên ngành và trình bày lại theo cách riêng của mình. Việc tận dụng sự giao thoa giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác cũng là một hướng đi đáng cân nhắc, thông qua các buổi xem kịch sân khấu, phim chuyển thể, sau đó thảo luận về sự khác biệt so với nguyên tác.

Ngoài ra, cần khuyến khích sinh viên chuyển thể nội dung sách thành các sản phẩm số như infographic, podcast hoặc kịch bản video. Quá trình này buộc người học phải đọc kỹ, hiểu sâu văn bản, từ đó mới có thể sáng tạo ra những sản phẩm có chất lượng và tính hệ thống.

Dù xã hội có thay đổi ra sao, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hà Văn Minh nhận định: “Đọc sâu, đọc sáng tạo vẫn là phương thức quan trọng để đào luyện trí tuệ, tư duy; đào luyện đạo đức, tâm hồn. Qua đó, chúng ta được thanh lọc về mọi mặt, chúng ta tự tái tạo và sản sinh được những năng lượng mới, tích cực”.

Từ góc độ này, thầy nhấn mạnh sự cần thiết phải có những nghiên cứu liên ngành để đánh giá toàn diện tác động của sự thay đổi thói quen đọc, từ phương diện sinh học, thần kinh đến tâm lý và đạo đức. Đồng thời, việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế là rất quan trọng, bởi nhiều quốc gia đã sớm đối diện với tình trạng tương tự và có những giải pháp đáng lưu ý trong việc duy trì văn hóa đọc trong kỷ nguyên số.

Trên cơ sở tiếp cận vấn đề một cách khoa học, dựa trên các bằng chứng thực chứng, xã hội mới có thể xây dựng được những chính sách, giải pháp phù hợp nhằm cân bằng giữa lợi ích của công nghệ và việc bảo tồn, phát triển năng lực đọc sâu – một nền tảng quan trọng của giáo dục và phát triển con người bền vững.

Trần Trang
Nguồn: Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ngày 20.4.2026.

1. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), thuở nhỏ tên An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, người gốc Trung Quốc, một trong ba nhà thơ nổi tiếng của đất Gia Định. Ông cùng Nhữ Sơn Ngô Nhân Tĩnh, Tri Chỉ Lê Quang Định được đời tôn vinh là Gia Định tam gia. Tác phẩm của Trịnh Hoài Đức hiện nay còn Gia Định thành thông chí Cấn Trai thi tập cùng một số bài văn bia chép trong Đại Nam anh nhã tiền biên.

Ngày 16.5.2026, nắng sưởi ấm khoảng sân nhỏ và len lỏi vào khán phòng, nơi hành trình “Đồng hành cùng chiến binh K” lần thứ 17 lại tiếp tục dệt nên những thanh âm dịu dàng của yêu thương và hy vọng. Không gian bỗng chốc trở nên gần gũi như một mái nhà, nơi những lo toan thường nhật tạm lùi xa, nhường chỗ cho nụ cười, âm nhạc và cả những cái nắm tay siết chặt.

PGS.TS. Huỳnh Quang Khánh, Trưởng Khoa Tuyến vú trao tặng cuốn “Sổ tay nơ hồng và Hành trình hy vọng”đến tủ sách của Phòng Công tác xã hội

Mở đầu cho buổi sáng bình yên là món quà tinh thần đầy trân quý - những cuốn “Sổ tay nơ hồng và Hành trình hy vọng” do PGS.TS. Huỳnh Quang Khánh, Trưởng Khoa Tuyến vú đại diện Ban Biên tập trao tặng đến tủ sách của Phòng Công tác xã hội. Từng trang sách như gửi gắm một lời nhắn nhủ ân cần, tiếp thêm sức mạnh cho chiến binh trên chặng đường phía trước.

Chiến binh đã có giờ phút vui tươi với những nụ cười giòn giã

Nghệ sĩ Ngọc Hiếu - Giảng viên Nhạc viện chuyên về nhạc cụ dân tộc biểu diễn dàn- T’Rưng

Và rồi, không khí chợt bừng lên những nhịp điệu rộn ràng qua trò chơi gắn kết của chị Vân từ Câu lạc bộ Nhịp sống yêu thương, xóa nhòa đi những ngại ngùng ban đầu bằng tiếng cười giòn giã.

Không khí vui tươi tiếp tục được nối dài khi âm thanh của đàn T’rưng vang lên. Cùng nghệ sĩ Ngọc Hiếu -Giảng viên Nhạc viện chuyên về nhạc cụ dân tộc, các chiến binh đã hào hứng hòa âm bằng các loại nhạc cụ của núi rừng Tây Nguyên. Tiếng nhạc trong trẻo, vui tươi khiến cả khán phòng thêm rộn ràng.

Các chiến binh đã hào hứng hòa âm bằng các loại nhạc cụ của núi rừng Tây Nguyên

Chương trình lắng lại khi ThS. Lê Thị Kim Loan – Giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM dẫn dắt mọi người vào thế giới của tác phẩm “Người đàn ông mang tên Ove”. Qua lời kể truyền cảm, câu chuyện về một trái tim khô khan học cách sưởi ấm thế giới đã chạm đến những góc sâu kín nhất trong tâm hồn. Cô nhẹ nhàng gửi gắm một điều rất đẹp: tình cảm giữa con người với nhau luôn bắt đầu từ sự quan tâm, sẻ chia và những hành động chân thành. Một con người tưởng chừng khô khan, cô độc lại mang trong mình trái tim rất ấm áp.

Những giai điệu chữa lành cứ thế tiếp nối, từ lời ca “Vào hạ” rực rỡ nắng hồng của ca sĩ Phương Thảo đến những nốt nhạc trầm sâu của ca sĩ Thành Nhân qua bài hát “Cảm ơn người đã thức cùng tôi”. Câu hát “Cảm ơn đôi tay dù nhiều vết thương còn đợi ôm tôi cuối đường…” vang lên khiến nhiều ánh mắt nhòe đi vì xúc động. Có những yêu thương không cần nói thành lời nhưng đủ để nâng đỡ nhau đi qua những tháng ngày mỏi mệt.

20260526 3

ThS. Lê Thị Kim Loan – Giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM dẫn dắt mọi người vào thế giới của tác phẩm “Người đàn ông mang tên Ove”

Sau những giây phút thả lỏng cơ thể và tìm lại sự cân bằng trong từng hơi thở cùng huấn luyện viên yoga Lý Thùy Yến Phương, khán phòng lại một lần nữa rung lên những nhịp đập đồng điệu.Chiến binh Đ.T.N.T (1997, Vĩnh Long, khoa Tuyến vú) và M.T.N (1962, Đắk Lắk, Khoa Hóa xạ trị) đã cùng hòa giọng trong khúc hát “Chuyện ba mùa mưa” ngọt ngào, như một lời cảm ơn mộc mạc gửi đến chương trình.

ThS. Lê Minh Hiển – Trưởng Phòng Công tác xã hội trao hoa và Thư cảm ơn đến Huấn luyện viên yoga Yến PhươngT

Trong không khí ấm áp đầy sẻ chia, yêu thương còn hiện hữu qua những tấm lòng hảo tâm gửi trao nguồn viện phí thiết thực, giúp sưởi ấm và san sẻ bớt phần nào gánh nặng trên vai những hoàn cảnh khó khăn và những phần quà nhỏ động viên tinh thần chiến binh.

Ca sĩ Phương Thảo và Thành Nhân với ca khúc Thương quá Việt Nam

Cô L.T.B (1965, Vĩnh Long, khoa Tuyến vú) xúc động chia sẻ: “Chiều nay cô xuất viện rồi mà may quá còn được tham gia chương trình. Vui quá chừng luôn, cô thấy ai cũng dễ thương, chương trình vừa vui vừa ý nghĩa”.

Chiến binh M.T.N (1962, Đắk Lắk, Khoa Hóa xạ trị) với khúc hát “Chuyện ba mùa mưa”

Chiến binh Đ.T.N.T (1997, Vĩnh Long, khoa Tuyến vú) với  khúc hát “Chuyện ba mùa mưa”

Thân nhân người bệnh N.T.M (1987, An Giang, khoa Ngoại thần kinh) nhận phần quà viện phía do nhà hảo tâm trao tặng

ĐD. Nguyễn Thị Thiên Nga thay mặt TS. BS. Ngô Quốc Hưng (khoa Tạo hình thẩm mỹ) trao quà đến các chiến binh tham dự chương trình

BS. Nguyễn Hoàng Việt – Khoa Tuyến vú trao tặng “Sổ tay nơ hồng và Hành trình hy vọng” đến các chiến binh

Nhà hảo tâm gửi tặng quà đến các chiến binh tham dự chương trình

ThS. Lê Minh Hiển – Trưởng Phòng CTXH trao Thư cảm ơn đến gia đình anh Nguyễn Anh Tuấn đã gửi tặng 35 phần quà dinh dưỡng dành cho các chiến binh và anh Đào Hữu Nhật đã giúp đỡ viện phí cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn.

Điều đẹp nhất của “Đồng hành cùng chiến binh K” không phải âm nhạc, sách hay những món quà… mà là cảm giác được lắng nghe, được yêu thương để mỗi chiến binh hiểu rằng trên hành trình này, mình không đơn độc.

Bệnh viện Chợ Rẫy

I. Hiện nay chúng ta chưa biết gì nhiều hơn về văn học viết Việt Nam trước thế kỷ thứ X (trước thời Lý Trần) ([1]) ngoài vài tác giả, tác phẩm mà cố GS. Nguyễn Đổng Chi, PGS. Trần Nghĩa, PGS. PTS. Nguyễn Đăng Na, học giả Lê Mạnh Thát đã giới thiệu ([2]).

20260215 8

Việt Nam bị phong kiến Trung Quốc đô hộ hơn một ngàn năm. Mặc dù với thân phận là người dân bị đô hộ ở đất nước bị lệ thuộc, nhưng có nhiều trí thức từng đỗ đạt và làm quan cho các triều đại Trung Quốc.

Những trí thức này đã có một ý thức dân tộc rất cao và một bản lĩnh khí phách tuyệt vời. Khi có cơ hội, họ sẵn sàng đấu tranh với các hoàng đế Trung Quốc để đòi quyền được đối xử bình đẳng. Đây là vấn đề hoàn toàn mới, chưa có nhà nghiên cứu nào ở trong và ngoài nước tìm hiểu. Trên cơ sở những tư liệu ghi chép trong các bộ cổ sử và sách xưa của Trung Quốc và Việt Nam, bài viết này sẽ đi sâu bàn thêm để khẳng định bản lĩnh và khí phách của các trí thức Việt Nam trước triều đình Trung Quốc ở những thế kỷ trước và sau Công nguyên.

Dẫn nhập

Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế (141 TCN-87 TCN) nhà Tây Hán thôn tính nước Nam Việt của nhà Triệu, trong đó có Lạc Việt và Âu Việt, từ đây tộc Việt bị nhà Hán đô hộ. Công cuộc đô hộ này của các triều đại Trung Quốc kéo dài hơn một ngàn năm. Trong thời gian đằng đẵng ấy đã có nhiều nhân sĩ trí thức người Việt thi đỗ và làm quan dưới các triều đại phong kiến ở Trung Quốc. Tuy là quan chức nhưng các nhân sĩ người Việt vốn xuất thân là dân bị trị, lại bị người Hán coi thường là “Nam man”, nên họ luôn đấu tranh đòi quyền bình đẳng, yêu cầu triều đình phong kiến Trung Quốc đối xử ngang hàng như các quan lại gốc Hán, với một khí phách và bản lĩnh kiên cường, lời lẽ đấu tranh thấu tình đạt lý, được các triều đại Trung Quốc chấp thuận theo đề nghị. Việc này đã được các sử gia Trung Quốc ghi chép trong các bộ cổ sử như Sử ký của Tư Mã Thiên, Tiền Hán thư của Ban Cố, và trong bộ sử Việt Nam như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử gia triều Lê.

Trên cơ sở tư liệu trong các bộ cổ sử và sách xưa, bài viết này sẽ bàn sâu thêm về bản lĩnh và khí phách của các nhân sĩ trí thức người Việt trong công cuộc đấu tranh chống Hán hóa và đòi quyền bình đẳng tại triều đình phong kiến Trung Quốc.

Tấm gương trí thức tinh hoa đầu tiên được bài viết này giới thiệu là Lữ Gia (191 TCN-110 TCN). Quê ông ở huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Ông là bậc lão thần, từng giữ chức Thừa tướng dưới ba đời vua nhà Triệu: Minh Vương Triệu Anh Tề (124-113 TCN), Ai Vương Triệu Hưng (112 TCN), Thuật Dương Vương Triệu Kiến Đức (112-111 TCN) và là người có uy tín lớn của nước Nam Việt lúc bấy giờ, được dân chúng tin cậy. Sử ký của Tư Mã Thiên và Tiền Hán thư của Ban Cố đã cho biết thông tin về ông với những uy đức như sau: “Thừa tướng Lữ Gia tuổi đã lớn, làm Thừa tướng qua ba triều vương, trong tông tộc có đến hơn bảy mươi người làm quan trưởng lại, con trai đều lấy con gái nhà vương, con gái đều gả cho con trai và anh em trong tôn thất nhà vương, lại có quan hệ thông gia với Tần vương ở Thương Ngô, là nhân vật trọng yếu ở trong nước, được người Việt rất tin cậy, nhiều kẻ làm tai mắt cho, được lòng người hơn quốc vương (Sử ký. Nam Việt liệt truyện. Tiền Hán thư. Tây Nam di, Lưỡng Việt, Triều Tiên truyện)/相呂嘉年長矣,相三王,宗族官貴為長吏七十餘人,男盡尚王女,女盡嫁王子弟宗室,及蒼梧秦王有連。其居國中甚重,粵人信之,多為耳目者,得眾心愈於王。 (司馬遷:《史記.南越列傳》卷一百一十三(上海:中華書局,1959),頁2972。); (班固:《 前漢書.西南夷兩粵朝鮮傳)卷95, 影印光緒31刻本(1905),頁13b 。)

Minh Vương Triệu Anh Tề vốn đã có con lớn với người vợ gốc Việt, sinh ra Triệu Kiến Đức, nhưng sau khi ông sang Hàm Đan, Trung Quốc gặp Cù Thị thì mê đắm bà, sinh ra Triệu Hưng, khi lên ngôi ông phong Cù Thị làm hậu. Năm 113 TCN, Minh Vương mất, Triệu Hưng lên nối ngôi. Cù Hậu trước khi lấy Anh Tề, bà đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý. Vua Vũ Đế nhà Hán thấy Triệu Ai Vương còn ít tuổi, có mẹ là người Hán nên sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Triệu Ai Vương cùng Cù thái hậu vào chầu như các chư hầu nhà Hán, lại sai quan Gián nghị đại phu là Chung Quân tuyên dụ, cùng Dũng sĩ là Ngụy Thần giúp việc, còn Vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả. Lần này Thiếu Quý đến, Cù hậu lại tư thông, người trong nước bất bình, Cù hậu lo sợ nên muốn dựa vào uy lực của nhà Hán, nhờ sứ giả dâng thư xin nội thuộc và theo lệ cứ ba năm một lần vào chầu. Vua Hán bằng lòng. Nhưng Thừa tướng Lữ Gia không chấp nhận, dù ông đã nhiều lần dâng thư khuyên can Cù hậu và Triệu Ai Vương, nhưng họ không nghe ông. Để giữ vững độc lập tự chủ, Lữ Gia đã tổ chức binh biến vào năm 112 TCN. Trước khi tổ chức binh biến, Lữ Gia đã tuyên bố lời hịch để triều đình và nhân dân cùng tỏ tường. Lời hịch đã được Tư Mã Thiên và Ban Cố đều chép như sau: “Vương còn nhỏ tuổi. Thái hậu là người Trung Quốc, lại dâm loạn với sứ giả, chuyên tâm muốn nội phụ, đem hết những đồ quý giá của tiên vương dâng hiến cho Thiên tử để dua nịnh. Nhiều kẻ tùy tòng, đi đến Trường An, bèn bị bắt bán cho người làm đầy tớ. Chỉ cốt cái lợi một lúc của mình, mà không trông đến xã tắc của họ Triệu, lo tính mưu kế muôn đời vậy. (Sử ký, Nam Việt liệt truyện. Tiền Hán thư. Tây Nam di, Lưỡng Việt, Triều Tiên truyện)/王年少。太後,中國人也,又與使者亂,專欲內屬,盡持先王寶器入獻天子以自媚,多從人,行至長安,虜賣以為僮仆。取自脫一時之利,無顧趙氏社稷,為萬世慮計之意。. (司馬遷:《史記.南越列傳》第九冊(上海:中華書局,1959),頁2972。); (班固:《前漢書.西南夷兩粵朝鮮傳)卷95-96, 影印光緒31刻本(1905),頁13a 。)

Sau đó, Thừa tướng cùng em đem quân đánh giết Ai Vương, Cù hậu và sứ giả, rồi lập Triệu Kiến Đức Thuật Dương Vương lên ngôi. Viện binh của nhà Hán do Hàn Thiên Thu kéo sang đã bị quân Việt tiêu diệt, rồi ông cho quân binh trấn giữ những nơi hiểm yếu: “Bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu và sứ giả nhà Hán. Sai người báo với Tần vương ở Thương Ngô và các quận huyện. Lập trưởng nam của Minh vương, con của người vợ Việt, là Thuật Dương hầu Kiến Đức lên làm vương. Quân của Hàn Thiên Thu tiến vào, phá mấy ấp nhỏ. Sau đó, quân Việt bèn mở đường lấy lương thảo, còn cách Phiên Ngung bốn mươi dặm, thì quân Việt mới đem quân đánh bọn Thiên Thu, diệt bọn Thiên Thu. (Lữ Gia) sai người gói ghém phù tiết của sứ giả nhà Hán đưa đến biên ải, lựa lời khéo dối mà tạ tội, đồng thời phát binh trấn giữ những nơi hiểm yếu. /乃與其弟將卒攻殺太后、王,盡殺漢使者。遣人告蒼梧秦王及其諸郡縣,立明王長男粵妻子術陽侯建德為王。而韓千秋兵之入也,破數小邑。其後粵直開道給食,未至番禺四十里,粵以兵擊千秋等,滅之。使人函封漢使節置塞上,好為謾辭謝罪,發兵守要害處。(司馬遷:《史記.南越列傳》第九冊(上海:中華書局,1959),頁2972。); (班固:《前漢書.西南夷兩粵朝鮮傳)卷95-96,影印光緒31刻本(1905),頁13a 。) Nghe tin Hàn Thiên Thu bị giết, vua Hán sai Lộ Bác Đức, Dương Bộc cùng các tướng lĩnh khác kéo vài chục ngàn quân sang xâm lược Nam Việt. Dù quân ta chống trả quyết liệt, nhưng lực yếu, cuối cùng năm 111 TCN vua nhà Triệu cùng Thừa tướng bị giặc bắt rồi bị giết. Các xứ ở Nam Việt xin hàng. Nhà Hán dưới thời Hán Vũ Đế trị vì 54 năm đã là một quốc gia hùng mạnh, phát triển mọi mặt đều đạt đến đỉnh cao. Xuất phát từ tinh thần độc lập dân tộc, Thừa tướng Lữ Gia đã lãnh đạo dân binh chống lại ý đồ đô hộ của hoàng đế nước lớn đã là một sự dũng cảm, thể hiện một bản lĩnh, khí phách kiên cường.

Chính vì vậy mà các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đã hết lời ca ngợi ông. Để tưởng nhớ công ơn của Thừa tướng, nhân dân ta đã xây lăng mộ lập đền thờ ông ở xã Đặng Lễ huyện Ân Thi, Hưng Yên là nơi gia đình ông từng cư ngụ sau khi rời khỏi Thanh Hóa; nhân dân còn lập đền thờ ở xã Quang Yên huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc và một số đền thờ khác ở Vụ Bản, Nam Định. Tên của ông còn được đặt tên đường ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Lạt.

Tấm gương trí thức thứ hai là danh sĩ Trương Trọng. Ông là nhân sĩ người Việt đầu tiên đã dũng cảm biện bác với vua nhà Hán Minh Đế (57-75). Trong sách Bách Việt tiên hiền chí quyển 2, Âu Đại Nhậm đã cho biết sơ lược thông tin về Trương Trọng và lời biện bác của ông tâu lên khi trả lời những câu hỏi của vua Hán Minh Đế 漢明帝 (còn gọi là Hán Hiến Tông 漢顯宗), vị hoàng đế thứ hai của nhà Đông Hán. Điều mà chúng tôi muốn lưu ý ở đây theo sử sách thì Hán Minh Đế là một ông vua tài giỏi, có nhiều công lao, nhưng thi hành chính sách thống trị hà khắc, vậy mà những câu trả lời của Trương Trọng đã không làm cho nhà vua phật ý, trái lại còn thích thú, ngợi khen và ban thưởng. Trong sách Bách Việt tiên hiền chí quyển 2, Minh Thuận Đức Âu Đại Nhậm Trinh Bá (Âu Đại Nhậm, tự là Trinh Bá, người ở Thuận Đức, đời nhà Minh) đã viết: “Trương Trọng, tự Trọng Đốc, người Hợp Phố, là danh sĩ đất Lĩnh Nam. Thứ sử đề cử ông làm tòng sự đất Nhật Nam, đến Lạc Dương yết kiến vua Hán, Hán Minh Đế thấy ông thấp bé, hỏi ông rằng: “Viên quan nhỏ bé của quận nào vậy?” Trương Trọng phản kháng đáp rằng: “Thần là Kế lại Nhật Nam, không phải viên quan nhỏ bé. Bệ hạ muốn dùng người có tài cán hay muốn đo xương cân thịt?” Vua thích lời đáp ấy. Tiệc mừng Tết Nguyên đán, vua hỏi rằng: “Quận Nhật Nam nhìn về hướng Bắc mới thấy mặt trời, phải vậy không?” Trọng đáp rằng: “Có quận Vân Trung, Kim Thành, không hẳn sự thực đều là “trong mây”, “thành vàng”. Mặt trời ở quận Nhật Nam cũng mọc từ đằng Đông. Còn về khí hậu thì ấm áp, mặt trời chiếu rọi trên cao, quan dân cư trú, tùy theo tâm trạng sở thích mà lựa chọn phương hướng Đông Tây Nam Bắc và phía sau lưng cho phù hợp. Còn như tên gọi Nhật Nam, là do khu vực này thiên về phía Nam vậy”. Vua càng khen về ông, ban cho lụa là, vàng bạc. Từ đó, ông đều hiến kế mỗi khi được triệu kiến, và mỗi lần đều được ban thưởng. /張重,字仲篤,合浦人。篤學善言,為嶺表望士。刺史推擇,為日南都從事。上計入洛,明帝訝其麽麼,問之曰:「何郡小吏? 」重抗聲對曰:「臣、日南計吏,非小吏也!陛下欲得其才邪? 抑將稱骨度肉也。」帝善其對。正旦大會,帝問曰:「日南郡北向視日耶?」重對曰:「郡有雲中,金城,不必皆有其實。日南日亦俱出於東爾。至於風氣暄暖,日影仰當,官民居止,隨情面向,東西南北,回背無定,所謂日域在南者也。」帝益善之,賜以金帛。自此,上計召對,皆有賞焉。(歐大任:《百越先賢志》卷二, 文津閣《四庫全書影印》,頁51-52。)

Tấm gương trí thức tinh hoa thứ ba là Thứ sử Lý Tiến với lời tấu sớ tâu lên vua Hán Hiến Đế cùng cuộc biểu tình nhỏ của Bốc Long và Lý Cầm tại sân điện của triều đình nhà Hán. Hán Hiến Đế ở ngôi 31 năm (189-220), là vị hoàng đế thứ 14 của nhà Đông Hán và cũng là hoàng đế cuối cùng của nhà Hán, bởi sau đó ông bị Tào Phi ép nhường ngôi để lập ra nhà Tào Ngụy thời Tam Quốc.

Lý Tiến bấy giờ đang giữ chức quan Thứ sử, năm 200, ông dâng tấu sớ lên vua với nội dung “khắp cả thiên hạ đều là bầy tôi của vua, các quan của triều đình đều là người ở Trung Châu, triều đình chưa từng khuyến khích người ở xa”. Vua nhà Hán chấp thuận mới cho những người là hiếu liêm, mậu tài ở Giao Châu làm Trưởng lại trong châu, chứ không nhận những người ở Trung Châu. Một lần khác, Lý Tiến tiếp tục dâng sớ tâu “Người được cử làm hiếu liêm xin cho được như bác sĩ ở mười hai châu, căn cứ theo nhân tài mà đối xử”. Nhưng lần này Hữu ty của triều đình can ngăn nên nhà vua không chấp thuận lời tâu ấy của ông.

Bấy giờ, nhân ngày hội các nước đến triều kiến tại triều đình nhà Hán, một số quan lại người Việt là Bốc Long và Lý Cầm cùng 5, 6 người khác là lính túc vệ đã quỳ trước ở sân điện, hô to rằng: “Ơn vua ban không đều”. Hữu ty hỏi nguyên nhân, Lý Cầm trả lời: “Nam Việt ở xa không được trời che, đất chở, cho nên mưa ngọt không xuống, gió mát không đến”. Hiến Đế liền hạ chiếu an ủi, lấy một người mậu tài làm Hạ Dương lệnh, một người hiếu liêm làm Lục Hợp lệnh.

Vậy là cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng của các quan lại người nước Nam trước triều đình nhà Hán ở Trung Quốc bước đầu được thắng lợi, được vua nhà Hán chấp thuận lời tâu. Cuộc đấu tranh này đã thể hiện dũng khí và bản lĩnh tuyệt vời của trí thức nước Nam. Đại Việt sử ký toàn thư ở phần Ngoại kỷ, mục Sĩ Vương kỷ đã chép như sau: Năm Canh Thìn thứ 14 (năm 200), thứ sử Lý Tiến dâng tấu lên Hán Hiến Đế: Khắp cả thiên hạ đều là bề tôi của vua. Nay Kiến An năm thứ 5 làm quan ở triều đình đều là sĩ phu ở Trung Châu cả, chưa từng khuyến khích người xa”. Lời lẽ thống thiết, viện dẫn nhiều dẫn chứng. Vua Hán cho những người được đề cử hiếu liêm, mậu tài của Giao Châu làm Trưởng lại trong châu, không nhận những người ở Trung Châu. Lý Tiến lại dâng sớ nói: “Người được cử làm hiếu liêm xin cho được như bác sĩ ở mười hai châu, căn cứ theo nhân tài mà đối xử”. Tuy nhiên lần này Hữu ty của triều đình lại viện cớ người phương xa không thật thà, hay bắt bẻ, chê bai triều đình nên không chấp thuận. Lúc bấy giờ, niên hiệu Chính Nguyên, nhân ngày hội các nước đến triều kiến, người Việt ta là Lý Cầm (Lý Cầm người Giao Châu) cùng đồng hương là Bốc Long khoảng 5, 6 người là lính túc vệ, đến quỳ ở sân điện, hô rằng: “Ơn vua ban không đều”. Hữu ty hỏi nguyên nhân, Lý Cầm trả lời: “Nam Việt ở xa không được trời che, đất chở, cho nên mưa ngọt không xuống, gió mát không đến”. Lời lẽ khẩn thiết đau đớn. Hiến Đế liền hạ chiếu an ủi, lấy một người mậu tài làm Hạ Dương lệnh, một người hiếu liêm làm Lục Hợp lệnh. Sau Lý Cầm làm quan đến Tư Lệ hiệu úy, Trương Trọng làm quan đến Kim Thành thái uý. Nhân tài nước Việt và người Hán cùng được tuyển dụng, Lý Cầm, Lý Tiến có công lao mở đầu việc ấy. (Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê. Đại Việt sử ký toàn thư, mục Sĩ Vương kỷ. Tập 1. Bản dịch. NXB Khoa học Xã Hội. Hà Nội. 1967. Tr 96-102) /庚辰十四年 (漢獻帝協建安五年)。刺史李進上言於漢帝曰:「率土之濱,莫非王臣。今建安五年登仕朝廷,皆中州之士,未嘗獎勸遠人。」辭意感切,多所援引。漢帝詔我州之有孝廉、茂才,許除補屬州長吏,不得任中州。進覆上疏曰:「所舉孝廉,請與十二州博士以人才專對。」而有司恐遠人虛誕,毀折中朝,不許。時我越人李琴 (琴交州人)宿衛在台,遂邀鄉人卜龍等五六人,當正元萬國朝會之日,俯伏殿庭曰:「皇恩不均。」有司問其故。琴曰:「南越遷遠,不為皇天所覆,後土所載。故甘雨不降,涼風不飛。」辭意懇苦。詔慰勞之,以我茂才一人為夏陽令,孝廉一人為六合令。後李琴仕至司隸校尉,張重為金城太守。則我越人才得與漢人同選者,李琴、李進有以開之也。(陳荊和編校《大越史記全書·士王紀》(日本:東京大學東洋文化研究所發行,昭和五十九年(1984年),頁130-131。)

Tiếp theo ở thế kỷ thứ V có tấm gương trí thức tên là Tinh Thiều. Thời nước ta bị nhà Lương đô hộ bởi triều đại Lương Vũ Đế (sinh 464, mất 549), trị vì 48 năm (502-549), Tinh Thiều một danh sĩ từ Giao Chỉ sang nhà Lương để cầu chức quan. Thượng thư Bộ Lại nhà Lương là Sái Tỗn thấy họ Tinh không phải là họ lớn, chưa có ai hiển đạt nên chỉ cho một chức quan nhỏ, chức Quảng Dương môn lang. Ông cảm thấy nhục, không nhận, về lại quê nhà, đi theo Lý Bí khởi nghĩa giành lại độc lập tự chủ. Khi Lý Nam Đế thành lập nhà nước Vạn Xuân (năm 544) thì Tinh Thiều được cử đứng đầu ban Văn, Đại tướng Phạm Tu đứng đầu ban Võ. Hiện không thấy tư liệu nào ghi chép tường minh về Tinh Thiều. Trong Đại Việt sửtoànthư, kỷ Lý Nam Đế có nhắc đến “Tinh Thiều là người giỏi văn chương”. Còn trong Dung Trai tùy bút, tác giả Hồng Mại ở Trung Quốc có cho biết thông tin sơ lược về Tinh Thiều như sau: “Tinh Thiều: Thời Nam triều Lương Võ đế, có người Giao Chỉ tên Tinh Thiều, giỏi văn chương, tài năng phi phàm, ông đến bộ lại cầu chức quan, quan Thượng thư bộ lại là Sái Tỗn thấy họ Tinh trước nay chưa có ai hiển đạt, chỉ cho chức Quảng Dương môn lang (lính giữ cổng thành Quảng Dương). Thiều thấy nhục nhã, quay về cố hương, mưu đồ nổi loạn. Phàm dựa vào danh vọng gia tộc cao thấp để quyết định cấp bậc tuyển cử là tệ pháp từ thời Đông Tấn, Lưu Tống, Sái Tỗn chọn người hiền như thế, không thể bỏ đi lề thói cũ, tại sao? (/并韶: 梁武帝時,有交趾人并韶者,富於詞藻,詣選求官,而吏部尚書蔡撙以并姓無前賢,除廣陽門郎。韶恥之,遂還鄉里謀作亂。夫用門地族望為選舉低昂,乃晉、宋以來弊法,蔡撙賢者也,不能免俗,何哉? ) . (洪邁:《容齋隨筆》(台北:大立出版社,1981年),頁213。)

Hành động từ chối chức quan, chê chức quan nhỏ, thấp của Tinh Thiều đã thể hiện khí tiết của trí thức nhân sĩ Việt Nam lúc bấy giờ, thật đáng khâm phục và nêu gương.

Riêng về tài năng văn chương của người Việt trong thời gian nước ta bị phương Bắc đô hộ thì có vài nhân sĩ đã làm cho người phương Bắc nể trọng mà theo thông tin trong sử sách, có thể nhắc đến vài tên tuổi như Phùng Đái Tri, Tiến sĩ Khương Công Phụ. Vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân, trị vì 626-649) đã khen thơ của Phùng Đái Tri là “không thua nhường Trung Quốc” (bất tốn Hoa hạ). Bài phú Bạch vân chiếu xuân hải白雲照春海賦 của Khương Công Phụ姜公輔 với lời lẽ tao nhã, thoát sáo đã khiến cho người đời Đường xưng phục, ca ngợi.

Kết luận

Tóm lại, trên đây là một vài thông tin về các nhân sĩ trí thức người Việt đã được các bộ cổ sử và sách xưa ở Trung Quốc và Việt Nam có ghi lại. Những thông tin đó đã thể hiện rõ bản lĩnh, khí phách của những tinh hoa – những tấm gương ưu tú, tiêu biểu cho trí thức Việt Nam, dù lúc bấy giờ đất nước ta đang bị các triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ, thì bản lĩnh khí phách ấy càng ngời sáng và tuyệt vời hơn. Thật là “nhân tài đời nào cũng có” như lời người xưa đã dạy, quả là không sai. Bản lĩnh, khí phách cùng tinh thần bất khuất ấy của giới trí thức như trên đã nêu chính là căn tính của người Việt. Cho nên dù đang là thân phận dân nô lệ những những trí thức ấy khi có cơ hội đã vùng dậy đấu tranh, kể cả chiến đấu để giành lại độc lập tự chủ cho đất nước.

Nguyễn Công Lý, Nguyễn Công Thanh Dung

Nguyễn Công Lý, PGS.TS.GVCC Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.Hồ Chí Minh.

Nguyễn Công Thanh Dung, ThS.GV Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.Hồ Chí Minh.

Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ 347

____________

Tài liệu tham khảo

司馬遷:《史記.南越列傳》卷一百一十三(上海:中華書局,1959),頁2972。

班固:《 漢書.西南夷兩粵朝鮮傳)卷95,影印光緒31刻本(1905),頁13b 。

歐大任:《百越先賢志》卷二, 文津閣《四庫全書影印》,頁51-52。

洪邁:《容齋隨筆》(台北:大立出版社,1981年),頁213。 

大越史記全書 · 士王紀. (Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê. Đại Việt sửtoànthưmục Sĩ Vương kỷ. Tập 1. Bản dịch. NXB Khoa học Xã Hội. Hà Nội. 1967. Tr 96-102).

陳荊和編校《大越史記全書 · 士王紀》(日本:東京大學東洋文化研究所發行,昭和五十九年(1984年),頁130-131.

 

I. “ĐẠC NGỰA BÒ VÀNG” LÀ CHUYỆN CÓ THẬT VÀ DIỄN RA Ở NGAY KINH ĐÔ

Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ được nhà soạn tuồng, nhà thơ Đào Tấn yêu quý đặt cho biệt danh  là “Hoàng Độc Thi Nhân” (nhà thơ cưỡi bò vàng). Người đời vẫn truyền tụng giai thoại cụ Thượng Trứ sau khi về hưu, đi đâu cũng thường cưỡi con bò cái vàng, đeo nhạc ngựa, sau đít bò có đeo cái mo cau, ai hỏi thì cụ kêu là để “che miệng thế gian”. Trong bài thơ nổi tiếng làm sau khi về hưu của Cụ là Bài ca ngất ngưởng cũng có nhắc đến chuyện cưỡi bò:

Phóng viên Phan Bách (SBS Radio Australia) có cuộc ‘mạn đàm dã chiến’ (không soạn trước) với người viết về đề tài nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp, đặc biệt là cho năm nay, Bính Ngọ 2026. Sau đây là các điểm chính được ghi lại rất tóm tắt từ buổi phỏng vấn dã chiến này:

1. Người Việt không cần đến trường học mà vẫn biết năm Mão Mẹo có biểu tượng là con mèo (khẩu ngữ, dễ nhớ), cũng như Sửu - tlu - tru - trâu, Mùi - Vị - *mdê, Dậu - *rga - gà, Tý - *chút - chuột, Thân - *khân - *khôn - khọn (khỉ), Ngọ - *ngu(a) - ngựa,... Không như ở Trung Quốc, tên 12 con giáp thường đi kèm theo là tên con vật để cho biết sự liên hệ: Sửu - ngưu 丑牛 (ngưu là bò), Mùi dương 未羊, Dậu kê 酉雞, Tý thử 子鼠, Thân - hầu 申猴, Ngọ - mã 午馬,v.v. Đây có phải là ngẫu nhiên trùng hợp, một cách nhớ dùng cận âm hay có một nguyên nhân nào khác hơn? Có phải người Việt đã dùng tên 12 con giáp để tạo ra tên của 12 con vật như Mão trở thành mèo, Hợi trở thành cúi (heo),... Nói cách khác quá trình biến hóa từ trừu tượng (hệ thống gọi tên thời gian) thành cụ thể (tên con vật): Mão > mèo, Hợi > cúi (heo) …? Rất khó giải thích như vậy vì khuynh hướng tiến hóa thường là từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng - cho nên tên con vật có trước và sau đó mới gắn với tên hệ thống tính thời gian hay chiêm tinh, nghĩa là mèo > Mão, cúi > *hui > Hợi - cũng như sự quan sát thiên thể (cụ thể) dẫn đến hệ thống 12 zodiac signs (12 cung Hoàng đạo, dùng để tiên đoán vận mệnh con người) của Tây phương chẳng hạn. Tại sao tên gọi 12 con giáp của Việt Nam lại gần gũi với tên 12 con vật như vậy? Một cách giải thích là người Việt (cổ) từng liên hệ mật thiết đến 12 con giáp trong môi trường nông nghiệp/lúa nước hay còn có thể là ‘tác giả’ của cách gọi tên này. Nói cách khác, các từ Hán Việt (HV) Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ,... chỉ là một cách kí âm của một tiếng nước ngoài[i] (tiếng Việt cổ), dẫn đến sự ngộ nhận là Trung Hoa là nơi phát xuất tên 12 con giáp này, sau bao ngàn năm và từ Tây sang Đông,... Truy nguyên chữ Ngọ 午 trong Giáp văn, Kim văn và các chữ Triện thì thấy có dạng (tượng hình) cái chày (td. 杵 xử), và một dạng âm cổ phục nguyên là *ŋaːʔ - hoàn toàn không dính líu gì đến ngựa - không kể đến tương quan âm thanh nga ngọ ngựa bảo lưu bởi tiếng Việt.

2. Để chứng minh nguồn gốc từ phương Bắc (Trung Hoa), một số tác giả cho rằng Ngọ là từ ngự HV 御 (td. An Chi[ii]), nghĩa là dây cương kiềm chế ngựa, mở rộng nghĩa để cho ra dạng ngựa? Thật ra, vốn từ HV có nhiều cách dùng chỉ dây cương như (1) cương 韁 bộ cách hay (2) cương 繮 bộ mịch hợp với chữ cương (cường) hài thanh (3) đích 靮 bộ cách (4) khống 鞚 bộ cách (5) 轡 bộ xa (6) ngự 御 bộ xích, v.v. Tại sao chỉ có chữ ngự mới mở rộng nghĩa và dùng là ngựa? Tiếng Anh thuộc ngữ hệ Ấn Âu cũng có các danh từ như harness (dây ghìm, dây cương, áo giáp,...) và rein (dây cương) - khi dùng làm động từ thì mang nghĩa mở rộng là kiểm soát/tận dụng chứ không mở rộng nghĩa[iii] để chỉ con ngựa (horse, tiếng La Tinh là equus),... Nếu nhìn các quá trình mở rộng nghĩa của danh từ trong ngôn ngữ con người như đã nói bên trên, ta thường thấy là từ giai đoạn cụ thể tiến tới giai đoạn trừu tượng, từ chi tiết đến tổng quát (tự nhiên) : thí dụ như hãi 駭 viết bằng bộ mã hợp với chữ Hợi hài thanh chỉ dáng (hình ảnh cụ thể) con ngựa sợ (hãi) - nếu lý luận là từ chữ hãi (sợ hãi, trạng thái tinh thần, trừu tượng - như kinh 驚 ) ta sản xuất ra chữ ‘hãi’ ‘kinh’ là con ngựa (cụ thể, vật chất) thì e rằng không hợp với tiến trình tự nhiên cho lắm[iv]! Đây là một cái bẫy thường gặp trong lý luận về nguồn gốc: giai đoạn nào có trước - trứng hay trứng gà? (chicken or egg argument).

3. Thật ra, âm *ngo(u) đã từng chỉ con ngựa trong vốn từ Hán cổ: chữ hiếm *ngo(u) 䮏 có cấu trúc là bộ mã 馬 (chỉ nghĩa là ngựa) hợp với chữ ngô 吾 (biểu âm, thành phần hài thanh) từng có nghĩa là con ngựa. Chữ *ngo(u) này đọc theo phiên thiết 訛湖切,音吾 ngoa hồ thiết, âm ngô - mã danh 馬名, tên một loài ngựa - tên ngựa, một con ngựa hay một bầy ngựa (Tập Vận, Loại Thiên, Tứ Thanh Thiên Hải, Tự Vị, Chánh Tự Thông, Từ điển Khang Hy). Học giả Trung Quốc thời trước rất chịu khó ghi chép lại các hành trình, dữ kiện ngôn ngữ (td. Huyền Trang với Tây Vực Kí, Nghĩa Tịnh,...) như chữ *ngo(u) ở trên, dù không phải là tiếng mẹ đẻ. Cũng như trường hợp chữ hiếm *dak 淂 (đắc > dak, nác) nghĩa là nước[v] (thủy HV) từng xuất hiện trong Ngọc Thiên (tác giả Cổ Dã Vương 519-581) và chép lại trong Kim Thạch Văn Tự Biện Dị, Tập Vận, Quảng Vận, Long Kham Thủ Giám, Tứ Thanh Thiên Hải, Tự Vị,... Các chữ hiếm như *ngo(u), *dak như trên, kí âm tiếng nước ngoài, dĩ nhiên thường chịu chung số phận là bị đào thải từ từ trong ngôn ngữ bản địa (Trung Hoa). Tuy nhiên, các dữ kiện này lại rất quý giá cho quá trình khôi phục âm cổ, truy nguyên (td. Tây Vực Kí đóng góp không nhỏ trong quá trình khai quật và truy nguyên cho các nhà khảo cổ Ấn Độ).

4. Trong một thời gian rất giới hạn của buổi trò chuyện về nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp, đặc biệt là cho năm 2026 hay năm ngựa (Ngọ), không thể bàn sâu về các dữ kiện ngôn ngữ lịch sử liên hệ; các bạn quan tâm có thể tìm hiểu thêm chi tiết qua loạt bài viết "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp", phần 13 chủ đề "Ngọ ngũ ngựa" cùng tác giả (Nguyễn Cung Thông) đăng trên mạng Đại Học Quốc Gia Hà Nội[vi] hay website Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, trang báo xuân Tiền Phong[vii] năm 2009, v.v. Một điều khá thú vị mà người viết (NCT) đã nêu ra nhiều lần, và nên nhắc lại ở đây là trong từ điển Việt Bồ La (1651), trang 287 chi Mão được ghi thêm là mèo ~ hora felis - tiếng La Tinh nghĩa là giờ (con) mèo. Các tài liệu như Vân Đài Loại Ngữ của học giả Lê Quý Đôn (1726-1784), Dictionarium Latino-Anamiticum của Taberd (1838) đều ghi biểu tượng Mão là con thỏ! Điều này cho thấy sự khác biệt giữa văn hóa bác học hay 'Hán học/Nho học' rất lệ thuộc vào Trung Hoa, so với văn hóa dân gian (khẩu ngữ) của đại chúng. Giả sử như cuốn Vân Đài Loại Ngữ được dùng làm ‘sách giáo khoa’ thì mèo có thể hoàn toàn biến mất trong 12 con giáp[viii], điều này sẽ làm cho việc tìm nguồn gốc của tên 12 con giáp Việt Nam trở nên khó khăn vô cùng; nhớ rằng chi Mão có biểu tượng là thỏ chứ không phải là mèo trong văn hóa Nhật Bản, Hàn, Thái Lan, Cambodia, Myanmar,... Đây là một dữ kiện cho thấy khả năng rất cao là hệ thống 12 con giáp của các nước này[ix] có nguồn gốc từ phương Bắc (Trung Hoa). Thật là đáng suy ngẫm câu ca dao sau đây - truyền lại từ các thế hệ trước (td. ghi lại trong cuốn Nam Quốc Phương Ngôn Tục Ngữ Bị Lục):

Trăm năm bia đá thì mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Một sự kiện đáng ghi lại ở đây là trong vòng hai thập niên qua, ngày Tết Á Châu ở Úc đã đổi từ Chinese New Year (Tết Trung Quốc) thành Lunar New Year (Tết theo Âm lịch); Chinese Zodiac (12 con giáp Trung Quốc) song hành với Vietnamese Zodiac[x] (12 con giáp Việt Nam) phản ánh sự thay đổi tư duy về nguồn gốc của 12 con giáp và ngày Tết của Á Châu.

 20260201

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam[xi] (Hà Nội) lưu trữ tượng mèo trong 12 cổ vật trưng bày.

Nguyễn Cung Thông

Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne - địa chỉ This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 


[i] Tham khảo loạt bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp"

[ii] Bài viết "Chữ Ngọ, từ sợi dây cương đến con ngựa" của tác giả An Chi, đăng trên Kiến Thức Ngày Nay - số 413 xuân Nhâm Ngọ 2003. Người viết vẫn chưa tìm thấy chữ hiếm 午卩 ngựa mà cụ An Chi đã trích trong bài! Có lẽ cụ An Chi dựa vào giải thích của Paul Schneider trong "Dictionnaire historique des idéogrammes vietnamiens" Université de Nice-Sophia Antipolis (1992). Học giả Schneider đề nghị ngựa có gốc là Ngọ, lại trích từ tài liệu Grammata Serica Recensa của Bernhard Karlgren (1957).

[iii] Danh từ tiếng Pháp harnais và rêne cũng có những cách dùng tương tự: tenir les rênes de l'État ~ cai trị (vực) nước, không thấy mở rộng nghĩa để chỉ con ngựa, v.v.

[iv] Thí dụ vài trường hợp về cách dùng ẩn dụ (phép ẩn dụ - metaphor) dựa vào tính chất cụ thể (loài vật) để chỉ tính chất trừu tượng (tính tình con người) như đầu trâu mặt ngựa, lòng lang dạ thú, khẩu phật tâm xà, hang hùm bộng/nọc/miệng rắn (chỉ nơi cực kỳ nguy hiểm), v.v.

[v] Tham khảo thêm chi tiết bài viết cùng tác giả (Nguyễn Cung Thông) “Lẫn lộn (‘ngọng’) n – l qua lăng kính tiếng Việt từ TK 17 và mở rộng” đăng trong Tạp Chí Khoa Học Đại Học Đông Á Tập 4 Số 4 (2025), v.v.

[vi] Tham khảo trang này https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/chuong-trinh-de-tai-du-an/nguon-goc-viet-nam-cua-ten- 12-con-giap-ngo-ngu-ngua-872.html, v.v.

[vii] Tham khảo trang này chẳng hạn https://tienphong.vn/nguoi-tim-nguon-ten-12-con-giap-post151678.tpo, v.v.

[viii] Các tài liệu tiếng La Tinh Taberd, 1838), hay tiếng Pháp vào thời Nguyễn cũng ghi con thỏ cho chi Mão như  “Grammaire annamite à l’usage des Français de l’Annam et du Tonkin” (Vallot, 1905), "Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites: Notes d'ethnographie religieuse" (Gustave Dumoutier, 1891), “Annuaire de l'Indochine Française 1892. II. Partie: Annam – Tonkin”, v.v.

[ix] Các nước Nhật Bản, Hàn, Thái Lan, Cambodia, Myanmar hầu như 'chấp nhận' khả năng 12 con giáp nhập từ Trung Hoa vào những thời văn học cực thịnh hay qua giao lưu tôn giáo (đạo Phật): td. Nhật Bản chính thức dùng 12 con giáp vào năm 604 SCN, Hàn quốc vào triều đại Silla chẳng hạn. Các nước này không thấy 'đặt vấn đề' về nguồn gốc tên gọi 12 con giáp như trọng tâm của loạt bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp".

[x] Từ đầu thập niên 1970 cho đến gần đây, người Úc (hay Mỹ, Anh) thường chỉ nói đến Chinese zodiac, Chinese New Year trong các hoạt động văn hóa, kinh tế,... Đây cũng là trải nghiệm của chính người viết (NCT).

[xi] Tham khảo bài viết Trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam” trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia VN https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/4002/68895/trung-bay-chuyen-dje-linh-vat-viet-nam.html#:~:text=Tr%C6%B0ng%20b%C3%A0y%20chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81%20%E2%80%9CLinh,t%C3%A0ng%20L%E1%BB%8Bch%20s%E1%BB%AD%20qu%E1%BB%91c%20gia

Thông tin truy cập

74810501
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
15478
20957
74810501

Đang có 1047 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website