Phạm Thị Hoa

(Thạc sĩ, GV trường THPT Lê Minh Xuân)

 

  1. 2.4 Đề cao Truyện Kiều về phương diện văn hóa (quốc ngữ, quốc học, quốc hồn - Nhóm Nam phong tạp chí)

Với khát vọng xây dựng một nền quốc học như một sự chuẩn bị cho sự nghiệp văn hóa dân tộc, Phạm Quỳnh đã xướng lên một phong trào đọc Kiều và vịnh Kiều như một sự phô diễn sức mạnh tinh thần của dân tộc. Phong trào được đánh dấu bằng bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh tại buổi lễ kỉ niệm Nguyễn Du nhân ngày mất của nhà thi hào do Ban Văn học của Hội Khai Trí Tiến Đức mà Phạm Quỳnh làm Tổng Thư kí, tổ chức tại Hà Nội năm 1924.

Mở đầu Phạm Quỳnh nói lý do buổi lễ là nhân ngày giỗ cụ Tiên Điền Nguyễn tiên sinh, Ban Văn học của Hội Khai Trí “đặt một cuộc kỉ niệm để cho nhân dân nhớ lại công nghiệp một người đã gây cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hỏa” rất quý báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi”.

Phạm Quỳnh nêu địa vị, vai trò của Truyện Kiều đối với vận mệnh nước nhà: “Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống nòi Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này”. Phạm Quỳnh ca ngợi Truyện Kiều “vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc”, là “một thiên văn khế tuyệt bút”, là quốc hoa, quốc túy, quốc hồn của ta, để ta  có thể “ngạo nghễ với non sông, tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!...” [39, 1802]. Theo Phạm Quỳnh, việc cụ Tiên Điền xuất thế, cụ Tiên Điền viết Kiều, Truyện Kiều được lưu truyền đến ngày nay đó là “phúc duyên” cho nước nhà. Mà so ra thế giới, văn chương Tàu, văn chương Pháp Truyện Kiều cũng lại không có gì sánh bằng.

Kết thúc bài diễn thuyết, Phạm Quỳnh một lần nữa nhấn mạnh ý nghĩa cuộc kỉ niệm Nguyễn Du là để bày tỏ lòng biết ơn thành thực của quốc dân đối với vị quốc sĩ nước nhà. Hơn thế, đây cũng là dịp chiêu hồn quốc sĩ về chứng nhân cho lời thề của đồng nhân. Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nức còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc bộ này một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí của tiên sinh, ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây” [39, 1804]

Cuộc lễ kỷ niệm Nguyễn Du và tán dương Truyện Kiều này không phải là ngẫu nhiên. Nó là đỉnh điểm của phong trào viết về kiệt tác văn chương của dân tộc trên Nam phong tạp chí của ông chủ bút Phạm Quỳnh và nhiều tác giả khác như : Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Triệu Luật … phong trào này nằm trong chủ trương của Phạm Quỳnh muốn thực hiện một cái chủ nghĩa quốc gia về văn hóa và giáo dục để đối lại sự xâm nhập văn hóa từ Pháp quốc. Phạm Quỳnh là người học Pháp, làm việc cho Pháp nên ông biết cái xu thế không thể cưỡng lại là phải du nhập văn hóa Âu, phải tiến theo nền văn hóa ấy. Ông nhận thấy đó là một lẽ tất yếu. Trong bài diễn thuyết của mình, Phạm Quỳnh đã lấy văn chương Pháp làm tiêu chí và nhấn mạnh tính chất “phổ thông” của Kiều. Sử dụng văn học Pháp làm chuẩn mực đánh giá Truyện Kiều, ông muốn đưa tác phẩm thoát khỏi khuôn khổ trung đại và vượt ra ngoài những ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc: “Nhưng mà ngay trong văn chương nước Pháp, tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như văn chương Truyện Kiều, vì Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự phổ thông. Phàm đại văn chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng lưu học thức mới thưởng giám được, kẻ bình dân không biết tới” [39, 1804] hay “Cứ thực thì Truyện Kiều thấm đẫm cái tinh thần của văn hóa Tàu, dẫu là dung hòa những tài liệu văn chương Tàu, mà có cái đặc sắc mà văn chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự kết cấu… xét về cách kết cấu thì văn chương Pháp lại sở trường hơn hẳn”. [39, 1803]

   Phạm Quỳnh đã vận dụng thao tác, phương pháp phân tích văn học phương Tây một cách sáng rõ, mạch lạc. Ông sử dụng lối phân tích khách quan để tiếp nhận Truyện Kiều. Trong bài nghiên cứu Truyện Kiều trên Nam phong tạp chí, Phạm Quỳnh đã nhận xét: “Văn chương Truyện Kiều quả là một nền văn chương tuyệt bút, có lẽ văn Tàu cũng không được mấy chỗ hay bằng… lời văn rất luyện, ý tứ rất sâu, lời văn luyện cho đến nỗi tưởng không ai có tài nào đặt hơn được nữa, và trong câu không thể nào dịch đi một chữ, đổi lại một tiếng, giọng hồn nhiên như trong ống thiên lại mà ra, ý tứ sâu cho đến nỗi càng đọc càng cảm, càng nghĩ càng thấm, lời lời trầm trọng như mang nặng một gánh tình, thiết tha như kêu oan nỗi sầu khổ, có cái cảm khái vô cùng. Chỗ nào lời văn cung là in với nghĩa truyện, ý tứ hợp với cảnh người, lời ý nào cũng hợp với nhân tình thế cổ, khiến cho nhiều câu trong Truyện Kiều đã thành những lời cách ngôn thiên cổ, dẫu người thường cũng biết dùng trong khi nói chuyện như dùng tục ngữ phương ngôn vậy.” [88] Truyện Kiều không chỉ có sức hấp dẫn mà nó còn có sức ảnh hưởng rất lớn đến người dân Việt Nam từ nội dung đến nghệ thuật, đấy chính là “phổ thông” của Truyện Kiều mà Phạm Quỳnh đã chỉ ra. Ngoài ra ông còn chỉ ra cái khéo trong văn chương Truyện Kiều: “Cái khéo trong văn chương Truyện Kiều thời còn nhiều lắm không sao nói cho hết được, những cái khéo ấy không phải là cái tiểu xảo ở sự xếp câu hiệp vần, đẩy đưa đệm lót, mà phần nhiều ở ý tứ thâm trầm, cảm tình vô hạn.” [88]

   Đứng trên góc độ ngôn ngữ, Phạm Quỳnh đã đánh giá sự thành công của nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều như cách ông nhận xét về hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân: “Cách tả chị em Thúy Kiều như hai bức tranh khác nhau, rất ý vị. Vẽ người đến thế đã là khéo lắm, nhưng đó là cái lối vẽ chính thức, còn lối vẽ phá bút, chỉ một vài câu dăm ba chữ mà hình dung ra cả được nhân cách một người, như đánh dấu đến thiên cổ không bao giờ sai được” [88]

   Có thể thấy, khi bàn về nội dung, nghệ thuật Truyện Kiều, Phạm Quỳnh đã thể hiện một trí tuệ sắc sảo. Ông đánh giá Truyện Kiều trên cả hai phương diện văn chương và nghệ thuật. Ông đã khẳng định quan điểm: cần phải đánh giá văn chương bằng chính những tiêu chí nội tại của văn chương, Phạm Quỳnh đã khẳng định giá trị của Truyện Kiều trong di sản văn chương thế giới bằng những tiêu chí thuần túy văn chương như nghệ thuật kết cấu.

   Có thể thấy với việc đề cao Truyện Kiều, Phạm Quỳnh đã thể hiện niềm tự hào với tiếng Việt và là lời cổ vũ mạnh mẽ cho nền văn chương quốc âm mà ông đang ra sức củng cố: “Lạ thay, tiếng Việt ta nhiều người chê là nghèo nàn non nớt, thế mà Truyện Kiều thời rõ là một án văn chương lão luyện, tưởng có thể sánh với những hạn kiệt tác trong văn chương mà không thẹn vậy” [88]

   Đặt trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ XX, nền văn hóa Việt Nam đang có bước chuyển từ văn hóa phương Đông truyền thống sang nền văn hóa hiện đại với ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa phương Tây vấn đề “nền cựu học” được đưa ra bàn luận. Nền quốc học phải được xây dựng trên những nền tảng nào? Tiếng Việt có ý nghĩa gì đối với nền quốc học, nơi mà truyền thống văn hóa vốn nặng về Hán văn, hiện tại đang bị đè bẹp bởi Pháp văn? Thế là nhiều người, nhất là trí thức tân học nghĩ đến vai trò của Truyện Kiều, nghĩ đến tiếng Việt của Truyện Kiều trong đó có Phạm Quỳnh. Trên tờ Nam phong, Phạm Quỳnh ra sức cổ động cho “Chủ nghĩa quốc gia”. Theo ông, muốn xây dựng quốc gia phải bắt đầu từ đấu tranh xây dựng văn hóa, việc này cần thiết hơn đấu tranh chính trị. Ông cho rằng để xây dựng quốc gia, phải bảo tồn, phát triển tiếng Việt. Để phục vụ “Chủ nghĩa quốc gia” một cách hữu hiệu, Phạm Quỳnh còn hô hào xây dựng một nền văn học mới, xây dựng “quốc học”, phát triển “quốc văn”, vận động mọi người cùng học tiếng Việt. Đối với ông, văn chương có vai trò quan trọng trong việc thể hiện “căn tính” dân tộc chính vì vậy việc bình luận, tán dương giá trị Truyện Kiều thực chất là hành động cổ vũ cho “nền quốc học” mà ông đang ra sức xây dựng. Trên tạp chí Nam phong số 164 năm 1931 trong bài “quốc học, quốc văn” Phạm Quỳnh cho rằng: “Quốc học là bản thể, quốc văn là hình chất, quốc học là cứu cánh, quốc văn là phương tiện” không dừng lại ở những lời cổ động, Phạm Quỳnh đã hết lời tán dương Truyện Kiều, coi nó là “Quốc hồn, quốc túy, quốc hoa”, Truyện Kiều là vẻ đẹp, là những tinh thần đặc trưng của một dân tộc. Dễ hiểu vì sao Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều, ông cho rằng chính Truyện Kiều, đã đánh dấu sự trưởng thành của Quốc âm vì nó đã “trước bạ”với non sông đất nước này.

   Bên cạnh quan điểm văn chương thể hiện căn tính của dân tộc thì Phạm Quỳnh đưa ra quan điểm văn chương gắn liền với ngôn ngữ. Sự sáng tạo trong văn chương đánh dấu sự thuần thục, trưởng thành của ngôn ngữ dân tộc. Bởi thế Phạm Quỳnh đã viết về công lao của Nguyễn Du: “Nhắc lại cho Quốc dân nhớ công nghiệp một người đã gây dựng cho Quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hoa” rất quý báu, đời đời vẻ vang cho cả giống nòi” [39, 1801]

   Từ đó ta có thể thấy rằng một tác phẩm văn chương kiệt tác là tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc, đánh dấu việc dân tộc đó khẳng định căn tính của mình như một dân tộc độc lập. Đó là cơ sở để ông cho rằng : “Truyện Kiều là cái “Văn tự” của giống nòi Việt Nam ta “trước bạ”với non sông đất nước này”. Thậm chí Phạm Quỳnh còn đẩy vấn đề xa đến mức cho rằng khi chưa co một tác phẩm văn chương như Truyện Kiều thì dân tộc “Chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho quyền sở hữu chính đáng” [39, 1802]. Đó cũng là cơ sở ông đưa ra tuyên ngôn : “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” [39, 1802].

Sau bài viết của Phạm Quỳnh, trên Nam phong tạp chí xuất hiện hàng loạt những cây bút tiếp tục ca ngợi Truyện Kiều và cổ vũ cho nền quốc âm như: Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam… Trên Nam phong tạp chí số 81 năm 1924, trong bài Văn chương Truyện Kiều, Vũ Đình Long đã ca ngợi: “Truyện Kiều đáng là một nền văn chương bất hủ, một là vì cái giá trị văn chương, hai là vì cái giá trị luân lý vậy.” [19, 75] Nguyễn Tường Tam trong Mấy lời bình luận về văn chương Truyện Kiều lại cho rằng mỗi lần nghe thấy Truyện Kiều như thấy “cái hồn của quốc dân”, với ông Truyện Kiều chính là hồn dân tộc: “Ở chốn thôn quê, đêm sáng trăng, nghe tiếng võng đưa trong một chiếc nhà tranh với tiếng ru con bằng những câu thơ Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta…” dễ ai ai nghe đến cũng có một cảm giác giống nhau, cảm giác chung cho cả một quốc dân vậy.” [19, 102]

Đặt trong bối cảnh nền Hán văn của đất nước ta lúc này đã trở nên lỗi thời, thực dân Pháp lại đang gia sức truyền bá Pháp văn với âm mưu nô dịch, đồng hóa người Việt, thiết nghĩ việc đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh và các cây viết trên Nam phong tạp chí không chỉ đơn thuần khẳng định Truyện Kiều là một giá trị cổ điển của dân tộc, mà Truyện Kiều đã trở thành phương tiện để các ông cổ vũ cho nền quốc âm. Coi Truyện Kiều là mẫu mực của tiếng Việt, Phạm Quỳnh và các cây viết trên Nam phong tạp chí còn khẳng định vai trò quan trọng của Truyện Kiều đối với sự tồn vong của dân tộc. Tuy những ý kiến của Phạm Quỳnh và nhóm Nam phong tạp chí đưa ra gây nên sự phản đối mạnh mẽ với một số nhà trí sĩ, những người có lập trường tư tưởng chính trị trái ngược với ông như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Nhưng chúng ta không thể phủ nhận công lao của Phạm Quỳnh đối với việc xây dựng cho nền quốc âm của nước nhà cũng như không thể phủ nhận giá trị của Truyện Kiều trong đời sống tâm hồn của dân tộc.   

  1. 2.5 Phê bình Truyện Kiều của các nhà Tây học (Phê bình Giáo khoa)
  2. 2.5.1 Lý thuyết về Phê bình Giáo khoa và Phê bình Giáo khoa ở Việt Nam

Trong thời gian giao điểm giữa hai thế kỉ XIX và XX, Phê bình Giáo khoa đã ra đời giữa một nền lý luận phê bình Pháp năng động, luôn luôn đòi hỏi sự nâng cao không ngừng để tìm kiếm những giá trị mới phù hợp với sự phát triển của thời đại. Phê bình Giáo khoa lúc ấy đáp ứng một cách thoải mái nhu cầu thực tế “phục hưng đại học”, đuổi kịp sự phát triển của báo chí, hòa mình vào dòng chảy chung của những tiến bộ khoa học kĩ thuật và khoa học xã hội nhân văn. Người đặt nền móng cho khuynh hướng phê bình tiến bộ này là Gustave Lanson – một giáo sư nhiều năm có kinh nghiệm đứng trên bục giảng ở các trường trung học, đại học trong hơn bốn mươi thập niên. Phê bình Giáo khoa gắn liền với khát vọng cải cách giáo dục của Lanson, phổ biến và lan rộng khắp các không gian học thuật ở phương Tây từ những năm cuối cùng của thế kỉ XIX đến những năm ba mươi của thế kỉ XX. Người ta nhắc đến tên Gustave Lanson như người tiên phong và thành công nhất với Phê bình Giáo khoa bởi tư tưởng của ông đã “gặp được vận hội của thời đại” với nhu cầu định vị một con đường lý thuyết đúng đắn để nghiên cứu văn học có một hướng đi hiện đại phù hợp với chương trình giảng dạy văn học trong nhà trường, đáp ứng được nguyện vọng của người học và mở ra tầm nhìn phát triển lâu dài cho ngành học.

Phê bình Giáo khoa xem tác phẩm văn học như một hiện tượng mang tính hoàn cảnh để phân tích và tìm hiểu. Khuynh hướng phê bình này nghiên cứu văn học trong các mối quan hệ với chính bản thân văn học, đề cao tính ngữ cảnh của văn bản tác phẩm bởi vì “(1) Không hề có thế hệ (chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận) hồn nhiên; (2) Văn học là kết tinh trong cấu tạo của đời sống một thời đại, không thể cô lập và trừu tượng hóa; (3) Đọc văn học không thể chỉ xem xét cái thế nào (le comment) mà không xem xét cái tại sao (le pourquoi).” [95]

Bằng những trải nghiệm đặc biệt trên giảng đường, Gustave Lanson đã giúp cho người học rèn luyện được một văn hóa nghiên cứu văn học đích thực thông qua việc đọc tác phẩm cùng với ngữ cảnh của chúng, góp phần giải phóng văn chương ra khỏi những áp chế của tu từ học. Nghiên cứu văn bản tác phẩm trong ngữ cảnh của nó chúng ta sẽ nhìn nhận được toàn cảnh và chi tiết vẻ đẹp vốn có của nó, đồng thời cũng lý giải được cái hay của chính nó. Lanson tuy đã vay mượn lịch sử vào trong phê bình văn học nhưng không quên đảm bảo tính đặc thù của đối tượng, đồng thời liên đới với tính xã hội. Tiếp nhận văn bản trong sự kết hợp cả tính khách quan và chủ quan trong định hướng xem văn học không phải là đối tượng để nhận thức mà là sự thưởng thức. Lanson đề cao trải nghiệm trực tiếp nhưng chống đối lại quan niệm giam mình trong tác phẩm. Ông ủng hộ việc sử dụng những công cụ bên ngoài để bổ trợ cho việc phê bình phân tích tác phẩm văn chương. “Lanson đề xuất ba điểm nhìn cho nghiên cứu văn học: (1) Xác lập căn cứ đánh giá các hiện tượng văn học (cả trong biểu hiện khẳng định và phủ định); (2) Định vị tác phẩm trong lịch sử, phá vỡ ảo tưởng rất đơn giản rằng chúng ta có thể đọc các văn bản của quá khứ như là chúng ta ở trong thời của nó (chú ý tính lịch sử và tính văn chương); (3) Xác định mối quan hệ giữa tác phẩm với thời điểm và với xã hội mà nó được sinh ra, ngoài văn bản, tìm các nguyên nhân sự xuất hiện của chúng. Như vậy phê bình Giáo khoa có một mối quan tâm kép: việc làm ra tác phẩm và các điều kiện xã hội của việc làm ra tác phẩm, vừa chú ý tính khái quát và tính đặc thù. Lanson cho rằng, khi tiến hành công việc, nhà phê bình cần chú ý phân biệt việc đưa ra các tư liệu được thừa nhận và việc đưa ra các giả thuyết, phân biệt sự uyên bác của phán đoán và sự thật của các ý tưởng chủ quan. Bên cạnh đó, ông yêu cầu nhà nghiên cứu phải xem tác phẩm như là nghệ thuật sống động hơn là tư liệu lưu trữ.”  [95]

Phê bình Giáo khoa đến với các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và nhanh chóng trở nên phổ biến bởi tính ứng dụng của nó. Một số nhà phê bình nổi tiếng đã áp dụng khuynh hướng này Trần Thanh Mại, Kiều Thanh Quế, Lê Thanh, Dương Quảng Hàm,v.v. Ở Việt Nam, khuynh hướng phê bình này đã giúp cho những bạn đọc “không chuyên” muốn tiến đến con đường chuyên nghiệp (học sinh, sinh viên, người tập tành nghiên cứu,...) có thể dùng những công cụ bổ trợ đắc lực mà đơn giản để tìm hiểu văn chương như ngữ cảnh, hoàn cảnh, thời đại, lịch sử, xã hội,... Phê bình Giáo khoa ở Việt Nam chủ trương đặt tác giả, tác phẩm văn học vào trong văn học bên cạnh việc “cố gắng tìm những chi tiết trong đời sống tác giả, những biến cố trong cuộc đời tác giả, hoặc những hoàn cảnh sống với những người, vật chung quanh tác giả, đã liên quan thế nào đến những ý tưởng, những khung cảnh hay những trình tự tác giả mô tả trong tác phẩm” [60, 129]. Khuynh hướng phê bình đến từ phương Tây nàyđã được các nhà lý luận phê bình Tây học của Việt Nam đón nhận và sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn chương. Với những ưu điểm của mình, phê bình giáo khoa đã tìm cho nó một chỗ đứng vững chắc trong địa hạt lý luận phê bình nước ta trong những năm đầu thế kỉ XX. Phê bình Giáo khoa ở Việt Nam thường chú trọng khai thác những yếu tố có liên quan đến cuộc đời của tác giả (gia đình, quê hương, hoàn cảnh xã hội,...) trong quá trình để đi tìm hiểu nội dung của tác phẩm, đồng thời vẫn trân trọng những trải nghiệm thực tế từ cảm quan của riêng người đọc.

  1. 2.5.2 Tiếp nhận Truyện Kiều theo khuynh hướng phê bình Giáo khoa nửa đầu thế kỉ XX

Trên cơ sở vận dụng những lý thuyết của Phê bình Giáo khoa, đầu thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam cũng đã đi vào tìm hiểu các khía cạnh khác nhau về tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Có thể nói, Phê bình Giáo khoa đã đưa ra một trình tự khá khoa học giúp cho việc tiếp nhận Truyện Kiều được toàn diện và sâu sắc hơn. Một số công trình của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm,... viết về Truyện Kiều theo khuynh hướng Phê bình Giáo khoa đã trở thành những tư liệu quý giá, đóng góp đáng ghi nhận vào hành trình tiếp nhận một tác phẩm văn chương giá trị của dân tộc.

Trong bài viết Nguồn gốc của Truyện Kiều của Nguyễn Du, Dương Quảng Hàm đã trình bày rất nhiều tư liệu về truy nguyên về sự ra đời của Truyện Kiều. Ông cho rằng: “Nguồn gốc của tác phẩm là các tài liệu (sách vở, giấy tờ v.v..) mà tác giả đã kê cứu và căn cứ vào đó để viết thành tác phẩm của mình. Đối với việc văn  học phê bình, có tìm được nguồn gốc một tác phẩm mới định rõ được rằng trong tác phẩm ấy, phần nào là phần tác giả mượn của người trước, phần nào là phần tác giả đã sáng tạo ra, rồi mới định được cái giá trị, cái đặc sắc của tác phẩm ấy.” [39, 567] Về nguồn gốc của Truyện Kiều, Dương Quảng Hàm đặt vấn đề: “Trước giờ ai cũng biết rằng Nguyễn Du tiên sinh đã theo một cuốn tiểu thuyết Tàu để soạn cuốn truyện Kim Vân Kiều. Chính tác giả, ngay đầu quyển truyện (câu 7-8), cũng đã cho ta biết rằng tác giả đã đọc một cuốn Phong tình cổ lục trước khi viết Truyện Kiều:

Cảo thơm lần giở trước đèn

Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

[...] Vậy cuốn tiểu thuyết Tàu, theo đấy cụ Nguyễn Du đã viết cuốn truyện Nôm, nhan là gì và do ai làm ra? Vấn đề này đến nay vẫn chưa giải quyết và mỗi nhà có một ý kiến khác.” [39, 567]

Sau đó nhà nghiên cứu đưa ra sáu ý kiến và bốn bản khảo chứng rồi lần lượt dùng lý luận và bằng chứng để phân tích và truy nguyên vấn đề nguồn gốc Truyện Kiều. Cuối cùng, Dương Quảng Hàm đưa ra kết luận chính: “Tóm lại, nguồn gốc Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du là một quyển tiểu thuyết Tàu nhan là Kim Vân Kiều truyện do một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân soạn ra vào cuối thế kỉ thứ XVI hoặc đầu thế kỉ thứ XVII do Kim Thánh Phán (1627-1662) bình luận. Quyển tiểu thuyết ấy đã xuất bản ở bên Tàu. Ý hẳn cụ Nguyễn Du, khi sang sứ bên Tàu năm 1813, đem về bên nước ta, rồi người ta theo đó mà chép ra nhiều bản. Sau khi Nguyễn Du đã soạn quyển Truyện Kiều Nôm, một nhà nho ẩn danh nước ta mới dịch quyển truyện Nôm ra Hán văn, tức là quyển Kim Vân Kiều lục đã khắc in nhiều lần ở Hà Nội (1876, 1888, 1896).” [39, 576] Như vậy, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm đã dày công sưu tầm và tập hợp các nguồn ý kiến lẫn dẫn chứng để tìm ra được kết luận sau cùng về nguồn gốc của Truyện Kiều mà cho đến nay quan điểm của ông vẫn được chúng ta tin tưởng sử dụng trong việc tiếp nhận tác phẩm này của Nguyễn Du. Bài viết của Dương Quảng Hàm giúp người tiếp nhận phân biệt được hai tác phẩm Kim Vân Kiều truyệnKim Vân Kiều lục, có cái nhìn khách quan về nguồn cảm hứng giúp Nguyễn Du tạo nên tác phẩm giá trị Truyện Kiều, đồng thời khẳng định mạnh mẽ những sáng tạo văn chương quý báu của đại thi hào dân tộc.

Nhà nghiên cứu Hoài Thanh có một bài viết khá công phu về thời đại Nguyễn Du và con người Nguyễn Du, trong đó có đề cập đến những ảnh hưởng của hoàn cảnh Nguyễn Du đối với sáng tác Truyện Kiều. Hoài Thanh cho rằng Nguyễn Du phải chịu sự giằng co giữa hai khuynh hướng, sự mâu thuẫn gay gắt từ trong tâm hồn và đồng thời phải gánh chịu nỗi khổ của tầng lớp mình – ấy là nỗi khổ “Trong nhiệm vụ lịch sử của nho sĩ, nhiệm vụ bảo vệ chính quyền phong kiến tập trung, và cái xu thế tan rã của chính quyền ấy trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ.[...] Họ vốn ở trong phe thống trị phong kiến nhưng trong tình trạng hỗn độn của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ thì đồng thời họ cũng là nạn nhân của chế độ.” [39, 20] Từ những am hiểu về thời đại và căn cứ vào các sáng tác của Nguyễn Du, Hoài Thanh cho rằng: “Do những nỗi khổ của mình và tầng lớp mình, Nguyễn Du đã cảm thông được một phần nỗi khổ chung của những con người bị chà đạp dưới một chế độ ngày càng thêm mục nát./ Cố nhiên cũng chỉ cảm thông được một phần thôi. [...] Nhưng cảm thông được một phần cũng đã quý rồi. Nhất là lại nói được mối cảm của mình và do đó nói hộ cho tất cả mọi nạn nhân của chế độ. Những người xuất thân trong giai cấp phong kiến như Nguyễn Du, tuy không bị chế độ chà đạp một cách tàn nhẫn như những người cùng khổ nhưng thường lại hay cảm thấy sự chà đạp kia một cách thấm thía hơn.” [39, 21] Hoài Thanh nhận thấy rõ ràng một dấu ấn sâu sắc của thời đại hiển hiện rõ nét trên từng câu chữ của Truyện Kiều: “[...] trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vẽ ra được một hình ảnh của cái xã hội ô uế, đã dựng lên được một nhân vật anh hùng, nó là giấc mộng thoát ly của những con người muốn vươn mình ra ngoài cái khuôn phong kiến và một nhân vật thân thế long đong, nó là tiếng oán hờn, tiếng kêu thương của những con người bị đày đọa, bị giày vò trong cái khuôn phong kiến.” [39, 21] Từ một xã hội thực, đến một xã hội được phản ánh lại trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thực sự nung nấu nỗi khổ, niềm đau, sự câm phẫn và giọt nước mắt thành những từ ngữ tinh tế phát xuất từ một tâm hồn tài hoa. Hiểu được thời đại Nguyễn Du, mới hiểu được xã hội trong Truyện Kiều và thái độ của Nguyễn Du với chính cái xã hội ấy. Hoài Thanh nhấn mạnh: Nguyễn Du thâu tóm xã hội phong kiến đương thời trong hình ảnh nhà chứa – gom góp sự xấu xa, nhơ nhuốc, bẩn chật, vùi dập con người đến tận cùng của khổ đau. Hoài Thanh đặt vấn đề: “Vậy xã hội phong kiến trong con mắt của Nguyễn Du như thế nào? Cái điều mà bất cứ ai cũng có thể nhận thấy ngay sau khi nghe qua câu chuyện nàng Kiều là những nhà chứa. Thật là đầy rẫy. Thúy Kiều vừa ra khỏi nhà cha mẹ là đã rơi vào nhà chứa Tú Bà, Mã Giám Sinh, vừa ra khỏi nhà Thúc Sinh là rơi vào nhà chứa Bạc Bà, Bạc Hạnh. Hình như cứ ra khỏi nhà là rơi vào nhà chứa đĩ. Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, cả cái xã hội ghê tởm đó sống nhơ nhuốc dưới ngòi bút Nguyễn Du. Nguyễn Du đã dựng nên nói với những nét thật là sắc.” [39, 1002]

Tuy nhiên, Hoài Thanh cũng làm một động thái ngược lại: từ chiều kích của Truyện Kiều mà mở rộng đến chiều kích con người và thời đại Nguyễn Du. Hoài Thanh phân bua thay cho cụ Nguyễn: “Đối với một kẻ sát nhân thì giết nó đi. Đối với một trật tự xã hội sát nhân thì đạp đổ nó đi. [...] Sống trong thời đại Nguyễn Du, trong tầng lớp Nguyễn Du không thể nắm được cái chân lý đơn giản ấy. [...] Nguyễn Du đã dựng nên cái hình ảnh của xã hội mục nát đến tận xương. Nguyễn Du thông cảm với nỗi khổ vô cùng của con người bị chà đạp trong cái xã hội mục nát ấy. Nguyễn Du mơ ước được sống mạnh mẽ, sống phóng túng, được đập phá tan tành như Từ Hải.Nhưng Nguyễn Du không thấy đập phá như thế rồi đi đến đâu.Cái trạng thái nhất thời, Nguyễn Du tin là vĩnh viễn. Cho nên Nguyễn Du cố tiêu diệt cái mộng Từ Hải ở trong mình để sống cuộc sống tầm thường của những người Nguyễn Du cho là lương thiện.” [39, 1009] Với vấn đề Nguyễn Du – thời đại và Truyện Kiều, Hoài Thanh làm công việc nối kết giữa quá khứ – tác phẩm – hiện tại, kết luận rằng: “Nguyễn Du đối với ta vẫn là một kỹ sư tâm hồn. Nguyễn Du vẫn có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây. [...] Truyện Kiều chứa chan những mối tình thắm thiết, Truyện Kiều, một sức sống bị gò lại, bị dằn xuống và vì thế từng khao khát sống đầy đủ, sống say sưa, Truyện Kiều ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống.” [39, 1760] Như vậy, chất trải nghiệm trong tiếp nhận văn chương vẫn được Hoài Thanh chú trọng theo quan niệm của Phê bình Giáo khoa. Tất cả những mối quan hệ giữa ngữ cảnh và tác phẩm được Hoài Thanh đặt trong dung môi văn chương đã bổ trợ giải thích và khẳng định giá trị cho nhau. Thao tác lập luận mà Hoài Thanh thực hiện đúng với khuynh hướng của Phê bình Giáo khoa trong những năm đầu phát triển: nối kếtvăn bản và văn cảnh, đọc nội quan và ngoại quan trong phê bình văn học. Hoài Thanh làm công việc nghiên cứu tác phẩm văn học – Truyện Kiều trong ngữ cảnhthời đại ra đời và hoàn cảnh tác giả của nó. Văn cảnh (tiểu sử tác giả, ngôn ngữ văn hóa đương thời, lịch sử, xã hội,...) cùng bao quanh văn bản Truyện Kiều như là một hạt nhân khiến cho việc tìm hiểu và tiếp nhận trở nên nhuần nhị thấu suốt. Từ việc nghiên cứu ngữ cảnh, Hoài Thanh cũng có thêm nhiều bài nghiên cứu về vấn đề phản ánh hiện thực trong Truyện Kiều, hay các nhân vật nổi tiếng trong Truyện Kiều như Thúy Kiều, Từ Hải,... như “Xã hội phong kiến trong Truyện Kiều”, “Nhân vật Thúy Kiều”, “Nhân vật Từ Hải”, “Truyện Kiều đối với các lớp người và qua các thời đại”,... theo phong cách phê bình Tây học hiện đại.

2.6. Phê bình Truyện Kiều từ góc nhìn phân tâm học.

Những năm 40 của thế kỷ XX, nhiều lý thuyết phê bình văn học thịnh hành ở phương tây cũng dội đến Việt Nam. Có lẽ, người tích cực nhất trong việc vận dụng các lý thuyết mới vào nghiên cứu Truyện Kiều là Nguyễn Bách Khoa. Vào cuối thế kỉ XIX, bác sĩ tâm thần học người Áo Sigmund Freud đã đưa ra thuyết Phân tâm học, học thuyết được coi là triết học của tâm lí, mà điểm nổi bật là sự phát hiện ra cái vô thức và tuyệt đối hóa vai trò của nó đối với con người. Trên cơ sở của chủ nghĩa Freud cũng xuất hiện những khuynh hướng phân tâm học trong phê bình văn học ở nước ta. Nguyễn Bách Khoa là người tiên phong áp dụng chủ nghĩa Freud vào trong phê bình văn học của mình.

Nguyễn Bách Khoa đã áp dụng phân tâm học Freud để đọc tâm lý nhân vật Thúy Kiều. Phân tâm học cho rằng ẩn ức tình dục luôn là kết quả của sự chèn ép của ý thức đạo đức xã hội, chính ý thức đạo đức ấy đã đầy bản năng dục vọng xuống tiềm thức. Dựa vào việc miêu tả tâm lý, tình cảm của Thúy Kiều sau khi thăm mả Đạm Tiên và gặp gỡ Kim Trọng, Nguyễn Bách Khoa cho rằng ý thức đạo đức Nho giáo đã đẩy Nguyễn Du đến chỗ hành xử không hợp quy luật khi miêu tả đời sống tâm nội tâm của Kiều : "Tôi nghĩ rằng thi sĩ Nguyễn Du đã dụng ý gạt bỏ một phần dài của giấc chiêm bao đêm hôm ấy trong cơn thiu thiu của nàng Kiều [...]. Chiêm bao vốn là sự sinh hoạt của trí tưởng tượng kéo dài từ lúc ta tỉnh sang lúc ta ngủ. Trước khi thiu thiu, trí tưởng tượng của Kiều hầu như chỉ hoạt động xung quanh Kim Trọng, chung quanh tình yêu mê ly, chung quanh cuộc trăm năm mai hậu, nhiều hơn là chung quanh hình ảnh của Đạm Tiên. Theo đúng quy luật phân tâm học, đêm ấy Kiều phải nằm mơ thấy ân ái, thấy trăng thanh gió mát, thấy cành lồng bóng sân, thấy "giọt sương gieo nặng cành xuân la đà". Thấy chàng công tử mặc áo nhuộm mầu da trời đi hài xanh, dắt con ngựa bạch. Không có lý gì Kiều chỉ mê thấy có Đạm Tiên. Nguyễn Du đã cố ý gạt bỏ cái ảo ảnh của chàng Kim và chỉ cho hiện ra người ca nhi họ Đạm một là để chiều theo xu hướng luân lý nho của ông, của đẳng cấp ông, của triều đại thống nhất đầu triều Nguyễn, hai là để làm nổi bật lên từ đầu chuyện mối linh cảm của Kiều về sự lưu lạc sau này " [19, 255]. Nguyễn Bách Khoa cũng phê phán Nguyễn Du đã để cho Kiều từ chối tình yêu sắc dục của Kim Trọng trong cái đêm mà cả nhà đi ăn tiệc bên ngoại chưa về, coi đó là đạo đức - chữ dùng của Nguyễn Bách Khoa là "lương tâm hương nguyện": "Cái lương tâm bịa đặt ấy, trong hình ảnh trăng hoa này, thật có như một âm thanh lỗi nhịp trong cuộc hòa nhạc đang bổng chìm đúng tiết tấu. Nguyễn Du đã gảy sai một tiếng đàn chỉ vì ông không đủ can đảm theo âm nhạc đang rung động, cố tình đánh sai một cung đàn để có thời giờ sửa lại cái tóc bù, cái áo lệnh cho được chỉnh tề, kẻo thính giả nghe cười là không đúng đắn [...]. Tất cả Truyện Kiều là sự sai cung lỗi nhịp dụng tâm ấy. Suốt trong cuộc đời Kiều, ở cảnh ngộ nào, Nguyễn Du cũng cố gắn cho nàng cái lương tâm giả trá kia, chỉ cốt để thiên hạ xem nàng là hiếu nghĩa trung trinh". [19, 261]

Áp dụng một cách máy móc chủ nghĩa Freud, Nguyễn Bách Khoa phán xét Truyện Kiều và Nguyễn Du bằng một cái nhìn máy móc. Ông cho rằng Nguyễn Du là người có “cơ thể ốm yếu và thần kinh hốt hoảng”, một con người đa sầu, đa cảm, năng khiếu ảo giác, thần kinh rối loạn. Ông cho rằng Nguyễn Du là một người có căn tạng đa cảm quá độ, điều đó làm cho ông hay lo sợ, hoảng hốt. Việc Nguyễn Du quay về ở ẩn là nguyễn nhân của “thói mơ mộng hoài cổ, ưa chiêm bao, tin thần bí”. Nguyễn Bách Khoa cho rằng sinh lực, lòng ham sống và khí phách cá nhân của Nguyễn Du là di truyền huyết thống và địa phương tính tạo nên, bị ý thức hệ nho giáo của đẳng cấp nho sĩ mà ông là một thành viên dồn ép vào tiềm thức. Vì thế, giữa ý thức hệ và tiềm thức luôn xung đột nhau và làm nên "tấn bi kịch của tâm hồn" tức cũng là tâm sự sầu thảm của Nguyễn Du. Nguyên nhân những vấn đề đó ở Nguyễn Du chính là do sụ xung đột giữa ý thức hệ với tiềm thức. Nguyễn Bách Khoa đã nhìn thấy trong huyết thống của Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng sâu sa: "cái khí tiết hiên ngang không chịu khuất phục" của vùng Nghệ  - Tĩnh, chính cái khí tiết đó đã khiến cho anh em Nguyễn Du đủ sức can đảm, lòng trung hiếu để khởi binh Cần Vương chống lại Tây Sơn, mong khôi phục Lê triều cho trọn đạo quân thần. Nhưng lại bị chen vào một huyết thống địa phương tính của mẹ. Mẹ Nguyễn Du là người Bắc Ninh, đất "phong tình diễm lệ", "đất của ái tình". Sự giao hòa đó đã cấu tạo nên một cơ thể lạ lùng, một bộ thần kinh lạ lùng, một trái tim lạ lùng: thi sĩ Nguyễn Du, "Một con người lúc nào cũng thấy lẩn quất bên mình cái bất lực của đẳng cấp, cái khí phách tàn tạ của cha, cái phong tình ưu du của mẹ". Đoạn trường tân thanh chính là biểu hiện của cá tính và đẳng cấp của tác giả - một con người đa sầu đa cảm, nặng khiếu ảo giác, thần kinh hệ rối loạn... Nguyễn Bách Khoa kết luận Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh. Bệnh của ông thuộc về thứ bệnh không có thương tổn về khí quan.

Dựa vào phản ứng tâm lý, tình cảm của nhân vật Thúy Kiều khi đứng trước mộ Đạm Tiên, hoặc khi gặp gỡ và tự tình với Kim Trọng, Nguyễn Bách Khoa kết luận: Kiều mắc bệnh uỷ hoàng.

Nguyễn Bách Khoa đã phủ nhận hầu như hoàn toàn giá trị Truyện Kiều khi cho rằng: “Yếu tố cơ bản làm nên Truyện Kiều là một ấn tượng đậm đà về sự bị thua” [19, 288] nên khi nhìn tác phẩm âm điệu của lối thơ lục bát cấu tạo nên Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa “nhận thấy ngày càng cốt cách ốm yếu của nó do một thời kỳ lịch sử dân tộc đẻ ra” [19, 299], “Điệu lục bát hợp với Nguyễn Du là bởi nó đủ điều kiện về âm điệu để biểu hiện chất thơ của tâm hồn thi sĩ và phô diễn chất sầu, chất đêm, chất trăng, chất tuyệt vọng của Truyện Kiều” [19, 301] Nguyễn Bách Khoa lý giải rằng chất thơ hào hùng và trữ tình say đắm trong Truyện Kiều có được là do cá tính Nguyễn Du được cấu tạo nên bởi hai yếu tố thuộc huyết thống là trí cương cường của người Nghệ Tĩnh (từ cha) và tinh thần mẫu hệ của văn hóa Bắc Ninh (từ mẹ).

Phê bình khoa học của Nguyễn Bách Khoa bị phản ứng dữ dội từ các nhà phê bình theo lối truyền thống, Hoài Thanh phản bác lại quan điểm Nguyễn Du là con bệnh thần kinh: “Ông dẫn ra một mớ tên các nhà bác học phương tây, cùng một mớ tên các thứ bệnh, rồi ông quả quyết rằng Nguyễn Du là con bệnh thần kinh về loại constitution hypérémotive. Đến khi xét tâm tính nàng Kiều ông thấy nàng mắc phải thứ bệnh ông gọi là bệnh ủy hoàng. Tôi không được thông thái như ông về y khoa nên chẳng thể biết Nguyễn Du quả có bệnh thần kinh hay không, nhưng xem xong bộ sách nghiên cứu của ông, tôi thấy mình cũng có biệt tài về nghề... lang băm" [19, 404]. Nguyễn Bách Khoa lên án “Điệu thơ lục bát chỉ là sản phẩm của một trạng thái nô lệ của dân tộc trong giai đoạn lịch sử (thời Bắc thuộc)  âm điệu lục bát tiến đến chỗ tuyệt diệu là một âm điệu báo tin sự diệt vong vậy” [19, 299]

Ta thấy cách tiếp nhận Truyện Kiều theo hướng khoa học của Nguyễn Bách Khoa có những ưu điểm và hạn chế sau: Nguyễn Bách Khoa đã ý thức được phải từ bỏ việc tiếp nhận Truyện Kiều theo lối mòn mà cả trăm năm nay các nhà nho đã dùng nó để tiếp nhận Truyện Kiều. Thứ hai là ông đã bổ sung hướng tiếp cận khác đối với văn bản đó là thao tác Phân tâm học để đọc văn học và bình phẩm văn chương theo lối chủ quan để hướng tới thế giới khách quan trong phê bình văn học. Nhưng bên cạnh đó, ta thấy Nguyễn Bách Khoa mắc phải một số sai lầm đó là quá cứng nhắc trong việc sử dụng lý thuyết phương Tây, ông dùng nó như một công cụ, một bộ "đồ nghề" để làm việc với các hiện tượng văn học Việt Nam, không thấy những giới hạn của phân tâm học Freud khi tuyệt đối hóa vô thức, phủ nhận vai trò của ý thức đối với hành động của con người. Những cách đọc của Nguyễn Bách Khoa rõ ràng là sự hiện đại hóa văn học trung đại. Nhưng ông quên rằng không thể lấy suy nghĩ, hành động của con người ở thời đại sau áp đặt bắt con người ở thời đại trước phải suy nghĩ, hành động như thế. Có người đã ví cách làm này giống như bắt một thiếu nữ ở thế kỉ XVIII giống hệt như người thiếu nữ thế kỷ XX về phương diện văn hóa, tâm lý mà quên mất rằng môi trường văn hóa của xã hội nho giáo nam quyền đã tạo áp lực mạnh mẽ đến cách nghĩ và cách hành xử của người xưa.

Tiểu kết

Truyện Kiều từ khi ra đời đến năm 1945 đã được nhiều thế hệ độc giả tiếp nhận với nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Mỗi độc giả lại mang đến cho Truyện Kiều một cái nhìn hết sức độc đáo. Tuy nhiên giai đoạn này do sự quy định của hoàn cảnh lịch sử nên cách đánh giá Truyện Kiều còn nặng về lối phê bình cũ, phê bình cổ điển. Một số tác giả vẫn dựa trên quan niệm đạo đức của nhà Nho hay theo quan niệm của Phật giáo, một số người lại nặng về lối phê bình bình điểm, đi tìm cái hay của Truyện Kiều trong từng hình ảnh, câu chữ. Bên cạnh đó, thời kỳ này ta thấy bắt đầu xuất hiện những học giả đã bước đầu vận dụng phương pháp khoa học vào nghiên cứu Truyện Kiều như Nguyễn Bách Khoa và một số trí thức Tây học đương thời. Chính việc tiếp nhận Truyện Kiều ở giai đoạn này đã làm phong phú thêm đời sống tiếp nhận văn học ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.

 

Đỗ Thị Thương(*)

Là học thuyết được bắt nguồn từ y học do một bác sĩ người Áo gốc Do Thái S. Freud sáng lập. Phân tâm học không chỉ được ứng dụng trong y học mà còn được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật. Vận dụng phân tâm học người ta có thể tìm thấy được những vấn đề trong tâm lý sáng tác của nhà văn, bởi nhà văn thường dùng văn chương để bộc lộ những tâm tư, tình cảm, những khát vọng không thể có được của mình trong đời sống xã hội vì bị ngăn cấm hoặc do thời cuộc, số phận không cho phép họ thực hiện những điều đó. Và khi ấy, nhà văn đã dùng văn chương của mình để thực hiện những khát vọng đó một cách có ý thức hoặc vô thức. Điểm nổi bật của thuyết phân tâm học đó chính là sự phát hiện ra “vô thức”. Cốt lõi của “vô thức” đó là bản năng tính dục chi phối toàn thể sinh hoạt của con người. Và đối với nhà văn, khi sáng tác văn chương đó chính là lúc mà những ẩn ức trong vô thức của họ được thăng hoa.

           Ở Việt Nam, khi nhắc đến phê bình phân tâm học người ta sẽ nhớ ngay đến hai nhà phê bình đầu tiên dùng phân tâm học của Freud trong văn học đó là  Nguyễn Văn Hanh và Trương Tửu. Năm 1936, Nguyễn Văn Hanh đã ứng dụng lý thuyết phân tâm học để tìm hiểu về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương với cuốn Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài. Cho đến năm 1940, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu) trong Kinh thi  Việt Nam cũng đã áp dụng Freud vào việc phân tích không chỉ thơ Hồ Xuân Hương mà còn có cả cái tục trong văn chương bình dân Việt Nam. Sau đó, năm 1942, Trương Tửu với bút danh Nguyễn Bách Khoa ông đã vận dụng thuyết phân tâm học để tìm hiểu về Truyện Kiều với cuốn“Văn chương truyện Kiều”. Do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, sau năm 1954, phân tâm học ở miền Bắc dường như đã không còn giữ được vị trí của nó trong đời sống phê bình. Thế nhưng, ở miền Nam giai đoạn này do sự tiếp xúc với những làn gió tư tưởng phương Tây một cách ồ ạt cùng với lối sống tiêu thụ và rộng mở, tự do hơn nên phân tâm học cũng giống như các học thuyết phương Tây khác đã tìm được chỗ đứng cho mình không chỉ trong các lĩnh vực của đời sống mà còn có cả văn học nghệ thuật, lý luận phê bình. Phân tâm học đã được giới thiệu và nghiên cứu một cách rộng rãi trên sách báo. Không chỉ có những tác phẩm được dịch từ nguyên tác của Freud như Phân tâm học nhập môn (Nguyễn Xuân Hiếu dịch, Sài Gòn, 1969), Nghiên cứu phân tâm học (Vũ Đình Lưu dịch, An Tiêm, 1967),… mà còn có những bài viết, những công trình biên khảo, dịch thuật về phân tâm học được giới thiệu rộng khắp như cuốn Lược khảo văn học tập 3 (1968) của Nguyễn Văn Trung, Mười khôn mặt văn nghệ hôm nay của Tạ Tỵ (Lá Bối xuất bản, 1972), Vũ trụ thơ của Đặng Tiến (Giao Điểm xuất bản, 1972), … Trên cơ sở đó, một số bài viết vận dụng lý thuyết phân tâm học đã được đăng trên các báo như: “Nguồn thơ tượng trưng của Lý Thương Ẩn” (Tạp chí Văn nghệ số 24, 1963) của Lam Giang; “Tìm hiểu Hồ Xuân Hương hay một vài nhận định về tâm lý học, phân tâm học và văn học” (Bách Khoa số 168/1964) của Nguyễn Mạnh Côn và Hoàng Vũ; “Đoạn trường tân thanh hay là cuộc đời kì quái của Nguyễn Du như được chiếu hắt lên trong tác phẩm của ông” (Nghiên cứu văn học, số 7 & 8/1971) của Thanh Lãng; Ý niệm bạc mệnh trong đời thúy Kiều của Đàm Quang Thiện (1965).

          Vận dụng phê bình phân tâm học, các nhà phê bình văn học ở miền Nam cho rằng Truyện Kiều là những ẩn ức đã bị dồn nén trong đời Nguyễn Du. Vì vậy, người ta đã nghiên cứu về Truyện Kiều dựa trên hai bình diện mới đó là: phân tích sự vận động của vô thức hoặc trong tâm lý Nguyễn Du (Thanh Lãng, Nguyễn Đình Giang) hay trong tâm lý của Thúy Kiều (Đàm Quang Thiện). Trước đó, Trương Tửu với bút danh Nguyễn Bách Khoa đã từng vận dụng hai khuynh hướng này để tìm hiểu về cuộc đời của Nguyễn Du và Thúy Kiều. Trong bài viết của mình, Nguyễn Bách Khoa bằng việc vận dụng những thuyết lý về tâm phân học, di truyền học đã đưa ra những cái nhìn mới mẻ trong việc tìm hiểu về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Tuy nhiên, cái nhìn của Nguyễn Bách Khoa đã đi quá xa cho đến lúc ông nói bảo rằng “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh” [77, 236]. Và ông còn cho rằng Nguyễn Du là người “cảm xúc quá độ”. “Đó là một thể cách của trạng thái mất thăng bằng về tinh thần, nhận thấy ở sự thái quá hỗn loạn của cảm xúc, ở sự bất lực không điều hòa được tính cách hang hổ, mãnh liệt, bền lâu của những phản động của thần kinh hệ đối với những rung động của ngoại giới ùa vào. Kết quả thông thường là thiếu cái khiếu thích ứng vào những trường hợp đột ngột, những cảnh ngộ bất ngờ, những hoàn cảnh mới lạ” [77, 237]. Chính vì căn tạng suy nhược ấy mà Nguyễn Du lúc nào cũng mang tâm trạng lo lắng hãi hùng, còn trí tưởng tượng thì bị kích thích thái quá phải làm việc cấp bách nên sẽ luôn bị sáo loạn, tạo nên những cảnh tượng ghê gớm phù hợp với sự lo sợ kia. Không chỉ có thế, khi nhận xét về nàng Kiều trong Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Bách Khoa cho rằng Thúy Kiều của Nguyễn Du mắc bệnh ủy hoàng, bởi ở nàng luôn mang những cảm xúc: buồn não, lo sợ, hoảng hốt, dễ khóc, dâm đãng, trâng tráo,.. đó chính là những dấu hiệu của căn bệnh ủy hoàng. Và theo tác giả của bài viết thì căn bệnh đó là “bệnh của người con gái đến thời kỳ xuân tình phát động mà hoặc vì thân thể và thần kinh hệ yếu quá, không đủ lực chịu đựng sức tiến triển của cơ quan sinh dục, hoặc là bị lễ giáo kiềm chế tính dâm đãng không thực hiện được, nên đâm ra người gầy, mắt như có nước trong con người, xanh vàng cả mặt và tay chân. Ở con bệnh, chất máu đỏ bị úa đi, sự tuần hoàn thiếu đều đặn, cơ quan tiêu hóa chậm hoạt động, cơ quan sinh dục luôn náo động trong thời kỳ phát triển” [77, 294].

          “Bệnh ủy hoàng có ảnh hưởng lớn đến tính khí của thiếu nữ. Nó sinh ra chứng u uất (hystérie), làm cho con người khi vui quá độ, khi buồn quá mực, hay hờn dỗi khóc lóc, đêm ngủ thường giật mình tức ngực, mộng mị thì chỉ thấy gặp toàn những cảnh thương tâm, rùng rợn. Nó khiến con bệnh luôn luôn bị những cảnh ái ân ám ảnh và luôn hứng tình, chỉ khao khát vỗ về của người đàn ông. Nó gây ra, ở thiếu nữ, tính đam mê liều lĩnh trong lúc yêu đương và tính hoảng sợ lo lắng trong khi hành động” [77, 294].

          Ngay trong bài viết “Thử tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều theo một phương pháp mới” (Đại học số 8) của mình, Nguyễn Đình Giang đã vận dụng phương pháp tính tình khoa trong việc nghiên cứu tính tình của Nguyễn Du thông qua các nhân vật truyện Kiều.

          Nguyễn Đình Giang cho rằng mỗi nhân vị mang trong mình ba con người tâm lý khác nhau: 1. Một con người hoàn toàn “thỏa mãn” vì khát vọng đã thực hiện trong đời sống rồi; 2. Một con người chỉ sống toàn bằng “ước vọng” trong mộng tưởng vì hoàn cảnh thân xác, trí tuệ, tình cảm hay xã hội không cho phép thực hiện những ý tình của mình ra ngoài được; 3. Một con người sống trong xung đột mâu thuẫn giữa “lý tưởng” và đời sống thực tại. Lý tưởng thì cao xa, xác thịt thì yếu đuối. Cái tôi này tôn thờ sự Thiện, cái tôi kia chạy theo những quyến rũ của đường ác. Và mỗi người trong chúng ta có thể sống trong ba con người ấy bằng nhiều cách: có thể bằng trí tưởng tượng, bằng sự đồng tình đồng cảm với người khác trên đời hay trong các nghệ thuật do người đời sáng tạo và đối với những người làm văn chương thì họ sẽ thể hiện sự sống đó trong tác phẩm của mình. Và theo quan niệm của tác giả, văn chương chính là một cách sống để có thể bù trừ cho phần tâm lý đã bị dồn nén, những khát vọng mà hoàn cảnh bên ngoài không cho phép thực hiện điều đó. Đó là một lối giải thoát và bù trừ tâm lý mà nhà phân tâm học Freud đã từng nói. Và đó là lý do mà người nghệ sĩ gửi gắm tất cả nỗi lòng vào văn chương vì “trong văn chương chẳng những người ta gửi gắm những ước vọng không thực hiện được mong giải thoát tâm hồn; nhưng lại còn muốn tạo nên những nhân vật có những đức tính bù trừ cho điểm thiếu sót thực tế của mình” [110, 89]. Tất cả những gì nhà văn gửi gắm vào trong văn chương đều được xem đó là những lời tâm sự , đó là một cách sống bù trừ của phần tâm lý bị dồn ép hay bị bất lực không thực hiện nổi những  khát vọng của mình trong tư tưởng, tình cảm Cho nên “văn chương lệ thuộc mật thiết tới đời sống của nhà văn. Mà đời sống của nhà văn lại lệ thuộc mật thiết vào TÍNH TÌNH của mỗi người” [110, 114 - 115].

          Theo nhận xét của Nguyễn Đình Giang thì Nguyễn Du thuộc loại người đa sầu đa cảm bởi sự chi phối của ba động lực căn bản đó là: sự cảm động, sự thiếu nghị lực hoạt động và sự trường cảm, tính tình đó đã được Nguyễn Du biểu lộ qua các nhân vật trong Truyện Kiều. Và chúng ta có thể dựa trên tính tình của tác giả như chiếc chìa khóa để có thể mở cánh cửa tìm hiểu vì sao Nguyễn Du lại chọn Đoạn trường tân thanh để giải thích cho quan niệm hồng nhan bạc mệnh, số kiếp, nghiệp quả, tài mệnh tương đố là những quan niệm tràn ngập trong truyện trên hoặc để giải thích những lẫn lộn mâu thuẫn ở nơi Nguyễn Du, chẳng hay sự lẫn lộn quan niệm Phật, Nho, Đạo trong truyện hay sự mâu thuẫn giữa những thái độ cứng rắn bảo vệ trung, hiếu, tiết, nghĩa và những hành động yếu đuối, bạc nhược ủy mị của Kiều.

          Nhận định về tính tình của Nguyễn Du nói riêng hay những người đa sầu đa cảm nói chung, Nguyễn Đình Giang cho ta thấy được những người đa sầu đa cảm thường thích sống ẩn dật và trầm tư, những người như thế này thường hay chú ý nhiều đến những cái thất bại và buồn khổ của đời mình. Tự mình nhìn lại chặng đường đời của mình, họ chỉ thấy toàn những nỗi buồn mà niềm vui có đáng là bao. Vì vậy mà họ luôn mang trong mình tư tưởng bi quan, yếm thế. Cuộc đời với họ chỉ là những ảo ảnh, là bãi bể nương dâu. Danh lợi, sắc tài cũng chỉ như bóng câu qua cửa sổ mà thôi. Chính vì mang tư tưởng như vậy cho nên họ coi số phận của họ và những người đồng loại chỉ là một kiếp bạc mệnh. Phải chăng cũng giống Nguyễn Du, Ôn Như Hầu trong Cung oán ngâm khúc đã cất lên tiếng nói bi thương về kiếp người đau khổ ấy:

Thảo nào khi mới chôn nhau,

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.

          Và vì mang trong mình cái nhìn về kiếp người bạc mệnh và cho rằng nó chỉ là do một đấng thần linh trên cao sắp đặt cho nên họ thường hay tìm cho một niềm tin cũng giống như bao người khác để dựa dẫm dù đó là ông Trời, là Thiên mệnh, là Nghiệp quả luân hồi đi chăng nữa thì đó cũng chính là nơi để họ có thể dựa vào, tin tưởng vào rằng số mệnh của mình là sức mạnh vô hình mà đấng bề trên đè nặng trên số kiếp của họ. Do đó, mà tư tưởng bi quan của những con người đa sầu đa cảm thường dẫn dắt họ quay trở về với ý tưởng tôn giáo với những niềm tin tưởng mơ hồ về số kiếp, về định mệnh. Và cũng theo Nguyễn Đình Giang, không phải vì hoàn cảnh xã hội hay giáo dục gia đình đã tạo nên bản tính này của con người mà ở chính họ bẩm tính đã có sẵn. Để rồi khi gặp hoàn cảnh xã hội thì họ chỉ chú trọng đến phương diện bạc nhược thất bại chán chường của nó, họ sống và hòa mình vào nó rồi sau đó cất lên tiếng thở than. Tiếng thở than ấy không chỉ cất lên thay cho cái xã hội mà còn là tiếng than cho chính thân phận thất bại, sầu muộn của chính họ. Và ở những con người đa sầu đa cảm, họ luôn có ý thức giữ gìn những giao phong tập tục của người xưa, nhưng nó chỉ là trong ý tưởng cho nên họ rất dễ sa ngã và yếu đuối. Chính vì vậy mà trong hướng nhìn của Nguyễn Đình Giang đã có sự cởi mở hơn so với Nguyễn Bách Khoa trong sự việc Thúy Kiều qua nhà Kim Trọng. Ông Nguyễn Bách Khoa thì cho rằng Thúy Kiều không có biết đến e dè và coi những lời Thúy Kiều nói là giả tạo vì theo ông: “Sức mạnh của lương tâm Kiều là không có thực. Nó là một vật mà Nguyễn Du bắt Kiều phải có… để truyện thỏa mãn được cái xu hướng thống nhất trật tự của một thời kỳ lịch sử, cho Thúy Kiều hành vi trái với luân lý tự nhiên của tâm tình nàng” [29, 158]. Còn trong hướng nhìn của Nguyễn Đình Giang, thái độ đó của Thúy Kiều là phù hợp với tính đa sầu đa cảm của Nguyễn Du và Kiều bởi lúc ấy trong lòng nàng Kiều vẫn tôn trọng nền luân lý cũ tuy nhiên nàng lại không thể chống trả lại được tình yêu quá bồng bột ấy. Nhưng, khi chàng Kim có chiều lả lơi thì cũng là lúc ý thức Thúy Kiều hiển hiện rõ rệt nhất cái luân lý kia. Cho nên nàng mới buông những lời trách móc Kim Trọng.

          Và đến đây, theo lý thuyết của các nhà tính tình khoa chúng ta có thể hiểu rõ được những đặc điểm của tính đa sầu đa cảm đó là: “Nhậy cảm, đa cảm, dễ vui buồn, dễ kích thích, dễ hứng chí, ưa sầu muộn, thích sống trầm tư mặc tưởng riêng tây, sống kín đáo, khép nép, sống áy náy lo âu, ưa nhớ về dĩ vãng, xao suyến ở tương lai, đã do dự, dễ nản lòng thối chí, bám vào thói quen, ưa sống bằng tình cảm thân mật, thích thở than rên rỉ, không bằng lòng số phận mình, có cảm tưởng người đời không hiểu mình, yếm thế bi quan, coi đời là phù vân ô trọc, thích an nhàn trầm lặng, hay tỏ lòng thương hại số phận kẻ khác, thủy chung trong tình lý tưởng, sống tiết kiệm và hay tỏ lòng nhân từ thương xót, tính khí u sầu ôm ấp tôn trọng thói quen, tập quán, luân lý kỷ luật, nhưng lại hay yếu đuối sa ngã, có quan niệm khuất phục định mệnh, đời sống tôn giáo thiên về tình cảm ưu tư. Sự chán nản, lo âu áy náy thắc mắc, sợ hãi nhiều khi đưa tới trạng thái hốt hoảng thác loạn và các chứng bệnh thần kinh. Trong văn thơ hay có mầu than thở, yếm thế mà chịu đựng nhẫn nhục hay phẫn uất trước số kiếp thân phận” [110, 114-115].

          Dựa trên những lý thuyết về tính tình khoa, Nguyễn Đình Giang đã tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du qua Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Đình Giang đã phân chia các nhân vật trong Đoạn trường tân thanh làm hai vai chính: một vai đại diện bộc lộ hết tâm tình, hoài bão mà Nguyễn Du ôm ấp, tôn trọng, kể cả những điều đã sống thực lẫn những điều chỉ khát khao mộng tưởng; một vai đối thoại và bộc lộ những điều mà Nguyễn Du phủ nhận, từ chối. Nguyễn Đình Giang đã căn cứ vào những lý thuyết của tính tình khoa và cho rằng Truyện Kiều là biểu lộ tính đa sầu đa cảm của Nguyễn Du bởi trong con người Nguyễn Du là sự chất chứa của sự nhạy cảm. Sự nhạy cảm đó khiến cho Nguyễn Du dễ dàng xúc động, cảm thương cho số phận của những con người bạc mệnh như nàng Tiểu Thanh trong Độc tiểu Thanh ký, Văn tế thập loại chúng sinh, Tương đàm điếu Tam Lư Đại Phu, và nhất là Đoạn trường tân thanh trong đó Thúy Kiều, Kim Trọng là hai nhân vật bộc lộ đặc điểm đó mãnh liệt nhất. Ở Thúy Kiều, nhạy cảm khiến cho nàng dễ đau lòng, rơi lệ trước số phận của kiếp người bạc phận như nàng Đạm Tiên rồi sau đó lại lo nghĩ vẩn vơ cho thân phận của mình. Điều đó thể hiện rõ trong thơ văn của ông cũng như thái độ thiếu kiên quyết trước việc ra làm quan với nhà Nguyễn. Và theo như Nguyễn Bách Khoa nhận định, tất cả Truyện Kiều “chỉ là một sinh hoạt cằn cỗi và sáo loạn, một tư tưởng hèn nhát và ủy mị, một tâm lý tùy thời và ích kỷ” [110, 243].

          Cuối cùng, sự đa sầu đa cảm của Nguyễn Du còn thể hiện rõ trong tính trường cảm. Bởi trong tâm tưởng của Nguyễn Du luôn có sự tiếc nuối tôn thờ nhà Lê. Đối với những người trường cảm hoạt động thì họ sẽ biến những nhớ nhung ấy đến với sự thành công. Còn đối với những người thiếu nghị lực thì nó sẽ biến những nhớ tiếc ấy thành những mơ mộng sầu cảm trong tâm trạng thất bại, chán nản và viết nên những lời thơ bi ai sầu oán. Chính những điều đó dẫn đến những bi quan, yếm thế, tin tưởng vào Định mệnh của Nguyễn Du. Tác giả chỉ biết tới những đau thương oan khổ của cuộc đời mà không thấy được những điều lạc quan và rồi sau đó vin vào những niềm tin về Định mệnh, Nghiệp quả để dựa dẫm, lý giải cho những khổ đau trong cuộc đời.

          Có lẽ chính vì vậy mà chúng ta vẫn thường bắt gặp trong Đoạn trường tân thanh những thân phận con người bi đát và đau thương:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

          Ngay từ mở đầu của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cố ý trình bày về thân phận đau thương của mọi kẻ “trong cõi người ta”. Và trong kiếp nhân sinh ấy, ai có được cái này thì sẽ mất cái kia, không bao giờ được trọn vẹn ca hai. Sự khổ không phải do trời hay sự thất bại của đẳng cấp mà do thân phận làm người mà ra. Và nguyên do của sự bi đát đó chính là ông Trời, bởi:

Cho hay muôn sự tại trời

………………….

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

          Ông trời chính là người đại diện cho một sức mạnh từ trên cao xanh, ông là người cầm cân nảy mực bằng số tiền định, bằng sổ đoạn trường. Cho nên mỗi người đều có một số phận đã được định sẵn. Tuy nhiên, ông trời không tiền định và ghi tên vào sổ đoạn trường mà số phận của mỗi người là do những hành vi tội phúc của mỗi người để lại:

Mới hay tiền định chẳng nhầm,

Đã tin điều trước ắt nhằm điều sau.

Hay do những tội phúc của kiếp này mà gây nên:

-         Nàng rằng: lồng lộng trời cao.

Hại nhân, nhân hại sự nào hại ta.

-         Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.

-         Cho hay muôn sự tại trời,

Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta”.

-         Mấy người bạc ác tinh ma,

Mình làm mình chịu kêu mà ai thương”.

          Hoặc là do công tội ở kiếp trước:

-         Kiếp này trả nợ chưa xong,

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau”.

-         Kiếp xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”.

           Cho nên trách nhiệm ở đây không thể đổ lỗi cho đâng tạo hóa được mà tất cả đều do con người mà ra bởi:

-    … mình làm mình chịu…

-    Có trời mà cũng có ta…”

-    Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…”

          Và nàng Kiều sau mười lăm năm luân lạc trong cõi hồng trần đầy đau khổ để trả nợ cho cái nhân ở kiếp trước thì cuối cùng nàng cũng được đoàn tụ với gia đình. Có lẽ những trung, trinh, hiếu, nghĩa của ở người con gái này đã thấu đến trời xanh mà đoạn trường mới được rút tên ra:

Sư rằng: “Song chẳng hề chi”

Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.

Xét trong tội trang Thúy Kiều,

Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.

Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,

Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!

Hại một người cứu muôn người,

Biết điều khinh trọng, biết lời phải chăng.

Thuở công đức ấy ai bằng,

Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.

Khi nên trời cũng chiều người,

Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.

            Có lẽ vốn là người nhạy cảm cho nên không chỉ Nguyễn Du mà ngay cả nàng Kiều của ông cũng hay nghĩ về thân phận con người và số kiếp trước cái sức mạnh bao la huyền bí đè lên thân phận con người trong đó có cả mình.

          Nguyễn Đình Giang cũng cho rằng: “Người đa sầu đa cảm vốn bị kích động bởi mọi ảnh hưởng tín ngưỡng luân lý ngoại lai. Vì ít nghị lực hoạt động nên họ sẽ vui lòng dựa dẫm vào những tín ngưỡng luân lý sẵn có ấy. Lại trường cảm cho nên họ càng trung thành với những thứ ấy mà không muốn thay thế. Nhưng họ lãnh nhận một cách khác hẳn những người hoạt động. Những người hoạt động đứng trước một hệ thống luân lý sẽ suy luận rồi lựa chọn một cách cương quyết toàn thể hệ thống. Đằng này, những người đa sầu đa cảm ít hoạt động sẽ do dự, và rút cục lựa chọn nguyên những yếu tố hợp với tính bi quan yếm thế của họ: chính Nguyễn Du đứng trước các quan niệm Phật, Lão, Nho cũng làm sự lựa chọn thành hệ thống theo cái luân lý đã trình bày trên kia hợp với cái sở thích của ông. Và ta đã thấy hệ thống tuyển hợp đó vừa đúng quan niệm bi quan yếm thế vừa giải quyết nổi xung đột trong tính tình ông: một đằng tôn trọng tập quán luân lý cổ truyền, một đằng yếu đuối sa ngã vì đa cảm… Thì chỉ có một cách cắt nghĩa: định mệnh, tiền định. Định mệnh đã cho con người một số phận đa cảm yếu đuối nhu nhược. Nhưng trong con người vẫn có một sức mạnh luân lý cưỡng lại các sa ngã yếu đuối kia. Sức mạnh ấy chỉ ở chỗ “tâm thành” “ở tại lòng ta”. Nhờ cái tâm thành cái thiện căn ấy, con người lay chuyển được lòng trời đổ được số mệnh của mình. Đó là khát vọng của những con người đa cảm mà yếu đuối, không có hoạt động không biến cải được số phận mình trong trường đời, thì đặt hy vọng vào sự quả báo mai sau. Cho nên nhân sinh quan của Nguyễn Du thống nhất và dung hòa được hai đặc điểm tương phản:

“Định mệnh và tự do”

          Vẫn có định mệnh của trời, mà vẫn có cả sự tự do của tâm thành con người. Nhân định vẫn có thể thắng Thiên, vì Thiên chỉ xếp đặt định mệnh theo tội phúc hành vi tự do của con người” [110, 121 – 122].

          Và trong nhân sinh quan của Nguyễn Du, số phận của mỗi người trong cuộc đời trần ai kia đều đã được tiền định. Con người nói chung đều là những số kiếp mỏng manh giữa cuộc đời hồng trần ô trọc. Còn số phận hồng nhan kia cũng là do ông trời dựa vào tiền kiếp của mỗi người mà sắp đặt. Sinh ra là kiếp hồng nhan, là những người chân yếu tay mềm thế nên số phận của những người phụ nữ càng mỏng manh và đày đọa hơn nữa. Phải chăng kiếp trước họ đã gây nên tội để cho:

-         Phận hồng nhan có mong manh…

-         Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Hoặc:

-    Hồng nhan tự thuở xưa,

                      Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu.

-         Đã cho lấy chữ hồng nhan,

Làm cho cho hại, cho tàn cho cân.

          Trời kia dành cho thân phận hồng nhan nhưng lại bắt họ phải chịu số kiếp long đong cả một kiếp người. Tất cả phải chăng cũng chỉ vì “Kiếp xưa đã vụng đường tu”. Cho nên kiếp này mới chịu những đau khổ như vậy.

          Bẩm sinh ở Nguyễn Du đã là người nhạy cảm. Cho nên, chính những hiện trạng về gia phong và xã hội càng tạo điều kiện cho sự day dứt về thân phận con người trong Nguyễn Du càng thấm thía thêm mà thôi. Cho nên, suốt cuộc đời của ông lúc nào cũng mang trong lòng một mối cảm động thương tâm về mọi thân phận con người. Và vì vậy, Nguyễn Du mới có thể dễ dàng xúc cảm trước những thi phẩm khác của người. Đó là một mối thương cảm đối với tất cả những thân phận làm người trong xã hội chứ không phải chỉ trước sự thất bại của đời mình, đẳng cấp mình hay của thời đại mình. Cho đến khi đọc Kim Vân Kiều thì Nguyễn Du dường như đã tìm được một kiểu mẫu sống động và thấm thía nhất về thân phận làm người phù hợp trong nhân sinh quan của chính mình. Nàng Kiều vốn là một cô tiểu thư khuê các sinh ra trong một gia đình gia giáo. Bản thân nàng là một người con gái nết na, thùy mị. Cho đến khi gặp được Kim Trong, nàng cũng đã muốn được “kết tóc xe tơ đến già” cũng với chàng. Thế mà, gia biến xảy đến, nàng phải hy sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu, nàng bán mình chuộc cha rồi ba chìm bảy nổi trong kiếp giang hồ lênh đênh. Qua hình ảnh của Kiều, Nguyễn Du đã tìm cho mình một hình mẫu lý tưởng. Ông muốn đem cuộc đời của nàng để giải thích cho thân phận con người, trong đó có cả thân phận của chính tác giả theo nhân sinh quan mà mình đã nung nấu từ rất lâu. Thân phận của Kiều đại diện cho những người tài sắc vẹn toàn nhưng lại gặp những truân chuyên trắc trở trong cuộc đời. Lẽ ra những người như vậy sẽ được cho mình hạnh phúc vẹn tròn. Ấy vậy mà, ông trời lại mang đến cho nàng những tai ương dồn dập bất ngờ đến với cuộc đời của nàng. Cuộc đời Nguyễn Du và cuộc đời của những người khác nữa cũng đã minh chứng cho cái ý niệm ấy của ông. Và nguyên nhân mà con người hồng nhan ấy phải chịu những cảnh đau thương đó là do tiền kiếp: “Kiếp xưa đã vụng đường tu” cho nên kiếp này trời đã sắp xếp cho kiếp hồng nhan mang sẵn trong mình tính đa tình đa cảm, nhu nhược, rồi còn bị ma đưa lối quỷ đưa đường dẫn đến những đoạn đường đau thương, tai họa chất chồng, hết nạn nọ đến nạn kia. Tuy nhiên, ông trời vẫn cho Thúy Kiều những tự do bên trong “cái tâm thành” của con người mình để có thể phản kháng trước những cảnh đời ô trọc đọa đày. Cuối cùng nàng cũng được rút tên ra khỏi cuốn sổ đoạn trường kia và được đoàn tụ với gia đình sao cho phù hợp với những khát vọng, thỏa mãn được những xung đột của tính tình ông.

          Cũng trong bài viết của mình Nguyễn Đình Giang đã nhận xét rằng, ban đầu Nguyễn Du chỉ là bắt gặp được một thân phận đại diện cho mọi thân phận. Thế nhưng, khi xây dựng Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã hướng mọi sự việc xảy ra trong câu chuyện ấy theo nhân sinh quan của chính mình. Cho nên, Truyện Kiều là lời tâm sự biểu lộ ba con người của Nguyễn Du:Một con người sống thực trong thân thế, tính tình Nguyễn Du. Một con người sống bằng khát vọng. Một con người thỏa mãn những xung đột nội tâm….”[110, 124 – 125].

          Nguyễn Du mang một tâm hồn nhạy cảm trong sự tôn trọng luân lý trên những giá trị đạo đức của con người. Sự nhạy cảm ấy thể hiện trong tính tình của Thú Kiều, Kim Trọng và Từ Hải. Còn sự nhu nhược thì lại được thể hiện rõ hơn qua Thúy Kiều và Thúc Sinh. Và Nguyễn Đình Giang còn cho rằng, nếu như Thúy Kiều không quá yếu đuối thì có lẽ nàng sẽ có cách giải quyết hay hơn, không phải hốt hoảng khi cơn gia biến xảy ra mà “Rẽ ra cho thiếp bán mình chuộc cha”. Và nếu như nàng không nhu nhược thì đã không thể bị mắc lừa Sở Khanh và Tú Bà hay sau đó là rơi vào tay của Hoạn Thư, Bạc Bà,… Ở đây, tác giả bài viết chỉ muốn chứng minh rằng nếu như Nguyễn Du không phải là đa sầu đa cảm mà là một người có nghị lực hoạt động thì chắc chắn câu chuyện sẽ có bố cục và tình tiết khác hơn. Cho nên, câu chuyện của Nguyễn Du mới có thể bám sát cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng chính vì tính đa sầu đa cảm nhu nhược thất bại yếm thế nên mới có tâm trạng nhẫn nhục và khuất phục định mệnh và đầu hàng số phận:

-         Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Thử xem con tạo xoay vần đến đâu”.

-         Nàng rằng: “Mưa gió dập dìu,

Liều thân thì cũng phải liều thế thôi”.

-         Phận bèo bao quản nước sa,

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh”.

          Chính vì con người cam chịu chấp nhận đầu hàng định mệnh cho nên cứ mãi quẩn quanh trong vòng tròn của bạc mệnh. Giống như lời sư Tam Hợp đã từng nói:

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.

          Tiếp theo đó là con người khát vọng ở Nguyễn Du, khát vọng ấy được thể hiện trọn vẹn trong hình ảnh của người anh hùng Từ Hải. Bởi ở những con người đa sầu đa cảm, nhu nhược bất lực trước cuộc sống thì họ sống càng mạnh mẽ và mãnh liệt trong khát vọng của mình. Cho nên họ đành thỏa mãn chính mình trong cái hình tượng do mình xây dựng lên. Và Từ Hải của Nguyễn Du cũng vậy, chàng là tất cả những gì mà Nguyễn tiên sinh không thể thực hiện được trong cuộc sống đời thường của chính mình với tính cách ngang tàng, phi thường:“Chọc trời khuấy nước mặc dầu. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Không chỉ có thế, khát vọng của những con người đa sầu đa cảm còn là một sự hạnh phúc trọn vẹn trong an bình. Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Du đã để cho Kiều được sum họp với gia đình, tái hợp với chàng Kim sau mười lăm năm gió bụi của cuộc đời.

          Cuối cùng đó là con người xung đột ở Nguyễn Du được thể hiện trong toàn bộ triết lý và luân lý của truyện. Tính đa sầu đa cảm vốn sống thường xuyên trong sự xung đột giữa việc một lòng trung thành với lý tưởng và  một sự yếu đuối nhu nhược của tình cảm con người trước những hoàn cảnh mãnh liệt của đời sống. Chúng ta có thể thấy được điều này qua những tâm sự của Nguyễn Du trong thơ văn của ông. Mang nặng tấm lòng trung nghĩa với nhà Lê nhưng do những biến cố của xã hội khiến cho vật đổi sao dời, trong tình thế bắt buộc, ông đành làm trái với lý tưởng mà ra làm quan với nhà Nguyễn khiến cho bao người đã nói ông sao không học theo tấm gương trung nghĩa của Di, Tề. Để rồi khi đi theo nhà Nguyễn, ông luôn mang nặng sự nhớ tiếc trong tâm hồn. Và sự lỗi đạo đó đã được Nguyễn Du biện minh cho chính mình bằng thuyết số mệnh trong nhân sinh quan của chính mình. Và Truyện Kiều chính là lời bào chữa ấy của Nguyễn Du: “Kiều mắc điều tình ái (yếu đuối) nhưng khỏi điều tà dâm (tâm thành mà giữ lòng trong sạch trong tâm hồn). Kiều bao phen sa đọa lạc loài, chỉ vì yếu đuối (sang nhà Kim Trọng trái luân lý đương thời) nhưng vẫn ý thức đến “thói nhà băng tuyết phỉ phong” (trách Kim Trọng sàm sỡ). Và trong suốt thời gian luân lạc, vẫn giữ những điều tiết nghĩa trung trinh. Tôi không có ý phê bình các hành vi của Kiều có đúng vẫn giữ được Hiếu nghĩa trung trinh hay không. Tôi chỉ có ý chứng minh cái ý thức luân lý ấy là hợp lý trong tâm trạng những người tính đa sầu đa cảm như Kiều và Nguyễn Du, không có chi giả tạo như ông Khoa bảo. Chính cái ý thức luân lý ở giữa những hành vi yếu đuối làm đặc điểm của tính đa sầu đa cảm. Và cũng chính vì thế mà đưa họ đến quan niệm yếm thế định mệnh”. ….”[110, 126 – 127].

            Có lẽ chính bởi cái nhân sinh quan ấy nó đã bộc lộ được cái khía cạnh bi đát về thân phận con người nói chung, cho nên bất kỳ ai cũng cảm thấy hình ảnh của mình trong thân phận cô Kiều. Đã làm người ai cũng cảm thấy cái bất lực bi đát của thân phận nhân loại. Những người hoạt động có lúc quên được khía cạnh bi đát bất lực, huyền bí của đời người trong công việc của họ, nhưng tới khi có ai nhắc bảo cho họ, chắc họ phải nhớ tới và ý thức được sự bi đát của thân phận mình. Đọc Truyện Kiều mọi người sẽ tìm thấy hình ảnh bi đát ấy như Nguyễn Văn Trung đã viết: “Chúng ta thích Truyện Kiều vì ai cũng bắt gặp mình ít nhiều trong cuộc phiêu lưu của Kiều, nghĩa là trong thân phận làm người có những lúc lo lắng băn khoăn trước một tương lai mờ mịt, có những chán nản, uất ức trước cái vô lý của cuộc đời, có những lúc tin tưởng hy vọng muốn bám víu lấy cuộc sống tuy đôi khi chỉ là những hy vọng mỏng manh, hay là ảo vọng” [110, 128].

          Cũng vận dụng những lý thuyết của phân tâm học vào việc tìm hiểu tác phẩm, Đàm Quang Thiện trong cuốn Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều đã vận dụng những lý thuyết của phân tâm học để tìm hiểu về tâm lý của Thúy Kiều với ý niệm bạc mệnh trong cuộc đời của nàng. Ngay từ phần mở đầu của cuốn sách, Đàm Quang Thiện đã dẫn luận những lý thuyết về di truyền học “người ta sinh ra với một “tiên thiên” di truyền, cấu tạo, ngay từ lúc người ta mới thành hình, bởi một nửa số nhiễm sắc thể (chromosmes) mà những sinh ( genes) mang những tính cách di truyền của người cha, và một nửa số nhiễm sắc thể mà những sinh mang những tính cách di truyền của người mẹ, hòa hợp với nhau, để người con có đầy đủ và quân phân những tính cách di truyền của cả cha lẫn mẹ” [64, 5]. Trên cơ sở đó tác giả cuốn sách cũng nhận xét ngay bản thân Kiều cũng mang một tiên thiên rất nặng về tình cảm bởi Vương ông và Vương bà đều là những người nhiều tình cảm. Và cái “tiên thiên” ấy sẽ không chịu sự chi phối của bất cứ hoàn cảnh xã hội nào mà nó sẽ là mảnh đất màu mỡ, thuận lợi cho cái mầm “bạc mệnh” trong cuộc đời Thúy Kiều được nảy nở và phát triển mạnh mẽ.

          Vậy thì cái hạt giống “bạc mệnh” của Thúy Kiều do đâu mà có? Và theo sự lý giải của ông, mầm “bạc mệnh” của Thúy Kiều được gieo bởi tay của một người tướng sĩ. Khi Thúy Kiều hãy còn thơ ngây, ông bà họ Vương đã mời đến nhà một ông thầy tướng sĩ để xem về vận mệnh cho con cái. Và theo ông tác giả bài viết, có lẽ ông thầy số này phải là người có danh tiếng lắm cho nên lời ông đoán về số mạng của Thúy Kiều:

Anh hoa phát tiết ra ngoài,

Lời rằng bạc mênh cũng là lời chung.

 Mới có thể khiến cho nàng Kiều tin răm rắp như thế được để rồi nó đã ăn sâu vào trong vô thức của Kiều, đã ám ảnh tất cả những việc làm và tư tưởng của nàng. Khiến cho Thúy Kiều chỉ tâm tâm niệm điều ấy để cho nó từ hữu thức mà đi vào vô thức. Và theo nhận định của Đàm Quang Thiện: “Dòng sông cuộc đời của Vương Thúy Kiều, vừa thoát ra khỏi nguồn “năm hãy thơ ngây”, thì một người tướng sĩ ném ngay vào giữa lòng sông ấy tảng đá “bạc mệnh”. Tảng đá này ngăn, không cho dòng sông ấy chảy qua những cánh đồng có hoa thơm cỏ lạ, khiến cho đời nàng vui tươi; mà hướng dòng sông ấy chảy qua những nghĩa địa, những nơi bùn lầy nước đọng, những bãi sa trường khiến cho cuộc đời nàng thê thảm, đen tối, hãi hùng” [ 64, 5].

          Ý niệm “bạc mệnh” ấy đã thấm sâu vào trong vô thức của Kiều, có lẽ cũng vì vậy mà Kiều đã sáng tác cho mình một bản đàn gọi là “Bạc Mệnh” khiến cho người nghe cảm thấy như “ngậm đắng nuốt cay thế nào”. Nhưng cái ý niệm ấy vẫn còn là mông lung vẫn còn “trừu tượng,  không rõ rệt cho đến khi nàng đi chơi tết thanh minh và viếng mộ Đạm Tiên thì ý niệm ấy đã được “chính xác hóa”, “cụ thể hóa” rõ ràng và dường như đã trở thành “niềm tin tưởng tuyệt đối”. Và “thế là cái ám ảnh bạc mệnh của Thúy Kiều đã trở thành sự thật trong một giấc chiêm bao, nghĩa là đã ăn sâu vào vô thức của Thúy Kiều, đã đồng hóa với vô thức của nàng, đó là điều kiện ắt và đủ để “mộng” thành “thực”, đó là một hiện tượng tâm lý  - ảnh hưởng của những mặc cảm trong vô thức đến những hành vi hữu thức trong đời sống – mà các nhà tâm lý học Tây phương đã khám phá ra từ hậu bán thể kỷ 19” [64, 35]. Và cũng bắt đầu từ đây, nó đã trở thành định mệnh trong cuộc đời của Kiều, bản thân nàng đã ý thức được sức mạnh của nó và cũng đã bao lần cố gắng thoát ra khỏi nó nhưng dường như là vô vọng bởi vô thức bao giờ cũng chiến thắng được hữu thức.

          Dựa trên cơ sở lý thuyết về phân tâm học của nhà tinh thần bệnh học nước Áo là S. Freud đã chia linh hồn của con người ta gồm có ba phần: Bản ngã thì chứa đựng trong nó tất cả những bản năng được tạo nên bởi sự di truyền. Còn Cá ngã là ý thức tâm lý của mỗi người khiến cho họ có thể hiểu được chính mình và hoàn cảnh nơi mình đang sống. Cuối cùng là Thượng ngã, là cái mà người ta vẫn gọi giản đơn đó là lương tâm.Và mỗi lần Bản ngã đưa ra một ước vọng không phù hợp với chuẩn mực xã hội thì sẽ bị cái gọi là thượng ngã ở trên đẩy lùi. Sự đẩy lùi này có thể được áp dụng cho tất cả những thứ có liên quan đến ước vọng. Có thể những hình ảnh bị đẩy lùi, có liên quan đến một khuynh hướng, một thúc đẩy nào đó, họp thành một thứ “tinh đoàn”. Số “tinh đoàn” này có thể được gia tăng bằng những hình ảnh đã bị đẩy lùi từ trước và làm thành mặc cảm. Từ cơ sở lý thuyết đó, Đàm Quang Thiện đã cho rằng Thúy Kiều đã mang trên mình hạt giống của mặc cảm bạc mệnh, nó được nảy mầm từ khi có lời tiên đoán của vị tướng sĩ và được nuôi dưỡng bởi bản tính đa sầu đa cảm của Thúy Kiều.

          Tuy nhiên, trong quá trình khai thác cái mặc cảm ở Thúy Kiều, Đàm Quang Thiện đã có những đánh giá mang tính phiến diện như con sông Tiền Đường trong tác phẩm. Ông cho rằng: “Vì muốn tạo ra một “tiền định” cho Thúy Kiều, mà Vô thức của nàng đã liên tưởng từ “tiền định” đến “Tiền đường”; vì muốn tạo ra một tiền đồ đã được vạch sẵn bởi “nghiệp má đào, kiếp liễu bồ” của nàng, mà Vô thức của nàng đã chọn sông Tiền Đường, vì “Tiền” trong Tiền Đường đồng âm dị nghĩa với “tiền” trong danh từ trỏ lý do đoạn trường của nàng là “kim tiền”, lại “Đường” trong “Tiền Đường”, đồng nghĩa dị âm với “đồ trong danh từ trỏ đối tượng mà vô thức của nàng đang tạo ra, là “tiền đồ”, “đường” cũng có nghĩa là môt đường đi (đường đi là bờ đê như “đồ” vậy” [64, 101].

          Như đã nói ở những phần trên, vận dụng lý thuyết của phân tâm học chúng ta có thể đi tìm hiểu được quá trình sáng tạo của nhà văn không chỉ ở hữu thức mà còn ở cả vô thức. Trên cơ sở đó, trong cuốn Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng đã dành riêng một phần cho việc đi tìm hiểu những dự phóng tạo nên thăng hoa trong sáng tạo của Nguyễn Du khi trình bày về tâm lý các nhân vật trong truyện hay đó chính là tâm lý của Nguyễn Du. Từ đó, Thanh Lãng thấy được rằng, qua nhân vật Kim Trọng đó là: “Cái Kim Trọng rất đàn bà, si mê, liều lĩnh đó là dự phóng của một Nguyễn Du tiềm thức, một Nguyễn Du ở bề sâu, một Nguyễn Du giấu kín, một Nguyễn Du đã từng si mê cô lái đò Nhật mà sau này trong thơ chữ Hán có lẽ Nguyễn Du gọi là cô Cầm, người mà Nguyễn Du đã dành cho một chỗ hầu như cao nhất trong đời tình cảm của ông” [36, 731 – 732]. Hay khi tác giả cho rằng qua hình ảnh của nhân vật Từ Hải đó chính là một dự phóng giấc mơ kiêu hùng của Nguyễn Du: “Thực ra Từ Hải chỉ là điều mơ ước bị giấu kín, bị dồn ép mãi tận đáy tâm thức của Nguyễn Du, chứ cái Nguyễn Du hữu thức là một Nguyễn Du vô vi, ít nói, hầu như câm lặng, chẳng muốn can thiệp, đứng ở ngoài… Từ Hải là một dự phóng vọt ra dưới sức dồn ép quá độ” [36, 732 – 733]. Thế nhưng, Thanh Lãng cũng cho chúng ta thấy những mâu thuẫn đối lập về hình ảnh Nguyễn Du giữa thơ chữ Hán và Đoạn trường tân thanh. Trái ngược với một Nguyễn Du với thể xác bệnh hoạn, già, tóc bạc, tan rữa, rã rời, chết trong Thơ chữ Hán thì trong Đoạn trường tân thanh lại là dự phóng về một nàng Kiều luôn trẻ trung, mạnh khỏe dù cho nàng bị đánh đập, chịu những đau khổ triền miên trong tâm hồn. Đó là một Thúy Kiều dự phóng tất cả Nguyễn Du, nhưng không dự phóng toàn vẹn mà đó chỉ là dự phóng với nhiều sửa chữa, trá hình với hình ảnh của: “Một Kiều trẻ đẹp, không bao giờ đau, không bao giờ suy giảm tài, sắc, và hầu bất tử sau bao nhiêu lần tự tử, là dự phóng một Nguyễn Du phản kháng, tự tiềm thức, đối với mối lo sợ già, lo sợ tóc bạc, lo sợ bệnh hoạn, lo sợ chết” [36, 735].

          Với phân tâm học, các tác giả đã dẫn dắt người đọc đi khai phá được tâm lý sáng tạo của Nguyễn Du, đã phần nào khám phá được cái phần vô thức của tác giả để lại trong tác phẩm của mình. Đồng thời đã khám phá được qua việc xây dựng tâm lý nhân vật Thúy Kiều, thiên tài Nguyễn Du đã khơi sâu vào trong cả vô thức của nhân vật, cái nội tâm sâu kín của con người. Và nếu như các tác giả cho rằng vô thức của Thúy Kiều chính là bóng ma Đạm Tiên thì đó cũng chính là tiếng kêu đau đớn của Nguyễn Du về thân phận con người. Do đó, các tác giả của chúng ta dù đã mở ra những hướng đi mới nhưng vẫn thiếu xót ở chỗ chỉ tập trung vào phần vô thức mà quên đi cái hữu thức đang còn hiện hữu kia.

 


* Thạc sĩ, Trường Trung học Lê Quý Đôn

PV:  Với tư cách một ngành khoa học, lý luận văn học của nước ta có từ bao giờ, thưa GS?

Giáo sư Trần Đình Sử:

Lí luận văn học hiểu như các quan niệm, niềm tin về văn học thì chúng ta đã có từ thời Lí, Trần, Lê, Nguyễn, thể hiện qua các bài phát biểu, các lời Tựa, Bạt viết cho các tuyển tập thơ văn. Quan niệm thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo từ rất lâu đã ăn sâu vào trong tâm thức của các nhà nho Việt Nam thời trung đại. Tuy nhiên, lí luận văn học hiểu như một ngành khoa học, nhân văn thì phải đến đầu thế kỉ XX chúng ta mới có. Đó là thời điểm viết các cuốn văn học sử đầu tiên, như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi... Muốn viết chúng phải có lí thuyết về lịch sử văn học, tác gia, tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ… Lí luận văn học cũng xuất hiện trong các công trình phê bình văn học như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, các công trình nghiên cứu của Trần Thanh Mại, Nguyễn Bách Khoa…

 

Nguyễn Đông Triều(*)

(VH) Ngày 5/5/2017 vừa qua, Trường Đại học KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM đã tổ chức đánh giá cấp trường luận án “Thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam” của NCS Nguyễn Đông Triều. Luận án do TS. Nguyễn Ngọc Quận và PGS.TS Nguyễn Tá Nhí hướng dẫn. Hội đồng chấm luận án đã nhất trí thông qua luận án với 7/7 phiếu xuất sắc. Website Văn học xin giới thiệu Mục lục và một phần của Luận án.

1. GIỚI THIỆU CÁC CHƯƠNG MỤC CỦA LUẬN ÁN

Chương 1. Tổng quan về văn tế và văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

1.1. Nguồn gốc, vai trò của lễ tế và văn tế của Trung Quốc.

1.2. Các dạng văn tế chủ yếu của Trung Quốc (chúc văn, cáo văn, tế văn).

1.3. Diện mạo của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Cách phân loại văn tế; Các trường hợp sáng tác văn tế; Đặc trưng thể loại của văn tế; Trữ lượng của văn tế và nguồn văn liệu dùng cho luận án).

Chương 2. Nội dung chủ yếu của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

2.1. Khẳng định các giá trị đạo đức luân lý chuẩn mực và tính chính danh về đạo đức luân lý ở bản thân tác giả.

2.2. Ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân và tinh thần vì nhân dân (Ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân giai đoạn chống ngoại xâm; Thể hiện tinh thần tôn quân giai đoạn sau nội chiến và sau cuộc chống nội loạn; Ca ngợi tinh thần vì nhân dân).

2.3. Thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả (Thể hiện tinh thần nhân đạo dành cho tướng sĩ hi sinh; Thể hiện tinh thần nhân đạo dành cho nạn dân; Thể hiện tinh thần nhân đạo dành cho cô hồn u uất).

2.4. Thể hiện ý nghĩa trào phúng sâu sắc (Thể hiện tiếng cười hài hước; Thể hiện tiếng cười phê phán, đả kích).

Chương 3. Hình thức nghệ thuật của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

3.1. Hệ thống văn thể của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Phú; Văn xuôi; Thơ; Tạp thể).

3.2. Ngôn ngữ của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Cách dùng từ và cách đặt câu; Điển cố và cách vận dụng điển cố; Cách vay mượn văn liệu và quan niệm dân gian Việt Nam).

3.3. Giọng điệu của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (Giọng trang nghiêm; Giọng tâm tình thân thiết; Giọng tự hào; Giọng bi ai oán thán; Giọng căm phẫn; Giọng hào hùng bi tráng; Giọng trào phúng).

3.4. Cách miêu tả tâm trạng qua thời gian và không gian của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.

Phụ lục: Danh mục tác giả tác phẩm văn tế; Một số tác phẩm văn tế do tác giả luận án phiên dịch.

2. ĐOẠN TRÍCH (THUỘC CHƯƠNG 2)

SỰ THỂ HIỆN HAI GIỀNG MỐI CHỒNG - VỢ, CHA MẸ - CON CÁI TRONG VĂN TẾ

Một trang trong Thời văn tạp biên (sưu tập nhiều văn tế)

[…] Mục đích đầu tiên của văn tế là tiếc thương, ca ngợi người đã qua đời. Thông qua đó, tác giả còn muốn đưa đến nhiu thông điệp có ý nghĩa to lớn hơn cho người còn sống. Người đã mất, nhưng ngôn hành, đức độ, công huân của họ còn mãi trên đời, xứng đáng là tấm gương cho người đương thời và hậu thế noi theo. Vì vậy, ca ngợi người đã khuất cũng chính là khẳng định, ca ngợi những đức tính tốt đẹp của họ, đồng thời khuyên nhủ người sống học tập những đức tính tốt đẹp ấy.

Những thông điệp này thường được tác giả gián tiếp gửi gắm qua lời ca ngợi và lòng ngưỡng vọng, cũng có khi được trực tiếp nêu ra trong tác phẩm. Trong bài văn tế bạn là Nguyễn Phùng Hiên, Phạm Nguyễn Du từng đau đáu: “Sao quân tử lại không may như thế? Âu cái vận của đạo Nho đã suy dần. Thực có liên quan đến đạo đời! Chứ đâu phải vì tôi quá xót bạn thân!”(1) Một tác giả khác trong Đông Ngạc Tham tụng quan thành phần tế văn cũng cho rằng người hin tài không được trọng dụng là điu bất hạnh của đạo: “Tấm thân thần tử giữa chốn triu đình phải lui v ẩn nơi thâm sơn cùng cốc, khiến cho sự nghiệp tế thế kinh bang không được sáng tỏ đương thời, mà đời sau cũng không thể nghe thấy. Đó không những là điu bất hạnh của Phu tử mà còn là điu bất hạnh của đạo ta.”(2) Các tác giả cho rằng mỗi người hin tài là một tài sản vô giá của quốc gia, người hiền tài mất đi là sự mất mát to lớn của đạo đời. Có thể thấy, trong văn tế, khẳng định và giáo dục đạo đời là một trong những nội dung rất được quan tâm, cũng là nội dung có tính nhân văn hướng đến đối tượng người sống rõ ràng nhất của thể loại văn tế.

Đạo đời được thể hiện rõ ràng nhất qua đạo đức và luân lý, hai yếu tố chi phối mọi hoạt động của con người trong xã hội. Hai khái niệm này thường được hiểu là những quy phạm, sự đánh giá tốt xấu v cá nhân hay tập thể, những việc làm hợp với quy phạm chung và nỗ lực đạt tới những quy phạm đó. Đây là hai khái niệm cùng phạm trù nhưng nội hàm không hoàn toàn đồng nhất. Theo tư tưởng Nho giáo, đạo đức chú trọng quá trình và kết quả tự thân thực hiện của cá nhân, chủ yếu liên quan đến các yếu tố cấu thành tư cách con người như “chính tâm”, “thành ý”, “tu thân”; Luân lý chú trọng quan hệ xã hội và quy phạm xã hội, chủ yếu liên quan đến các biểu hiện v phẩm hạnh như “t gia”, “trị quốc”, “bình thiên hạ”. Ở Việt Nam cũng giống như Trung Quốc, tất cả quan niệm về đạo đức luân lý đu đứng trên lập trường tư tưởng giáo dục truyn thống Nho giáo.

Trong văn tế, hai khái niệm đạo đức và luân lý được thể hiện rất rõ ở cả hai loại quan hệ: cá nhân với nhau, cá nhân với xã hội. Thông qua đó, chúng ta rút ra được những bài học v đạo đức, luân lý trong văn tế, và có thể nhận biết phần nào quan niệm, nhân cách, lối sống của tác giả. Trong đoạn trích ngắn này, chúng tôi sẽ nói về các giá trị luân lý chuẩn mực trong văn tế, thể hiện ở hai giềng mối chồng - vợ, cha mẹ - con cái.

Theo Trung dung, trong thiên hạ có 5 ging mối: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Ngoài ra, văn tế còn nói đến giềng mối thầy trò, cũng là một ging mối quan trọng trong xã hội khoa cử thời xưa.

Đại học minh hoạ các ging mối đó bằng đức tính của Văn vương nhà Chu, đại diện cho đức tính mà mỗi người cần đạt tới: Làm vua đạt đến đức nhân, làm tôi tỏ rõ đức kính (Văn vương là vua nước chư hầu của nhà Thương), làm con giữ tròn đức hiếu, làm cha rất mực hin từ, kết giao hết lòng thủ tín. Mạnh Tử - Đằng Văn công thượng” phát huy ý của Đại học rõ ràng hơn: “Giữa cha con có tình thân ái, giữa vua tôi có mối danh nghĩa, giữa vợ chồng có sự phân biệt, giữa anh em có thứ tự, giữa bạn bè có chữ tín.” Đây là những ging mối quan trọng xây dựng nên một gia đình, một xã hội, một chế độ, một quốc gia.

Hai ging mối chúng tôi xét ở đây gồm:

1. Ging mối chồng - vợ

Gia đình là một phần của xã hội, chồng vợ thuận hoà thì gia đình yên ấm, xã hội phồn vinh. Chồng vợ phải yêu thương, tôn trọng nhau, che chở cho nhau mới được hạnh phúc lâu dài. Mỗi phía đu có nghĩa vụ cần phải làm đđạt được mục đích trên, tức là bổn phận của chồng đối với vợ và những gì vợ phải có trong việc đối xử với chồng.

Xét ở ging mối này, văn tế phần lớn nói v bổn phận của người vợ. Trong văn tế, ging mối chồng - vợ được nhìn nhận từ nhiu mối quan hệ khác nhau. Ở quan hệ thân thiết có chồng nói v vợ; con nói v mẹ; cháu nói v bà; em cháu nói v chị, cô, dì… Ở quan hệ xã hội có học trò nói v vợ thầy; b tôi nói v vợ vua chúa… Dù nhìn từ mối quan hệ nào, bổn phận người vợ luôn được đ cao.

Bổn phận đầu tiên là trọn đạo thờ chồng. Vợ phải kính trọng, phục tùng chồng, thủ tiết với chồng, lo cho chồng ăn học, chồng không thành đạt trên đường công danh sự nghiệp cũng không được phụ rẫy. Phan Huy Ích ca ngợi đạo thờ chồng của Lê Ngọc Hân: “Gìn sách trước đã sáng gương t mị.” (Văn tế Lê Ngọc Hân)(3) Đời Hán, chồng bà Mạnh Quang là Lương Hồng rất khách khí với vợ, mỗi bữa cơm vợ phải bưng mâm ngang mày (t mi) mời chồng ăn để tỏ lòng cung kính. Tác giả mượn tích xưa ca ngợi Lê Ngọc Hân đáng sánh với tấm gương bà Mạnh Quang thờ chồng. Ngoài ra, trong văn tế, đạo thờ chồng thể hiện qua nhiu việc làm khác nhau, từ những việc làm nhỏ nhặt hằng ngày thể hiện sự quan tâm chu đáo của người vợ (khi Phạm Nguyễn Du vào Thái học, vợ ông là Nguyễn Thị Đoan Hương ở nhà chuẩn bị “đủ cả gỏi với thịt” để chiu đón ông v), đến tình cảm cảm động hơn của bà vợ thứ của Ngô Thì Sĩ lúc lâm chung dành cho chồng (khi bà bệnh nặng hấp hối, Ngô Thì Nhậm hỏi muốn trối lại điu gì, thì bà nói ngoài việc nhớ chồng ra, không có lời gì khác).

Khi chồng sa cơ thất thế, không thành công trên đường công danh sự nghiệp, vợ phải là người đồng cam cộng khổ, chung tay chống đỡ gia đình. Bà Nguyễn Thị Tồn (vợ Bùi Hữu Nghĩa) được biết đến là người vợ có sự chia sẻ gian truân với chồng thật là cảm động: “Trường khoa mục qua nong chí cả, ít nhiều đà rỡ mặt với non sông; Nhà hàn vi bậu dốc tay nâng, may mắn đặng cất đầu cùng bạn tác. Công danh lỡ vì mang bệnh quỷ, em chẳng phải vợ Mãi Thần ngày trước, thời chưa nên làm thói dể duôi; Khó hèn cam nào dám trách trời, bậu chẳng như vợ Tô Tần thuở nọ, vận chưa đạt mà đem lòng khinh bạc. Phận khó khăn yếu đuối, vóc liễu bồ dầu dãi nắng mưa; Con nhỏ dại thơ ngây, tay chủ quỹ không rời thước tấc.”(4)đủ tam tòng tứ đức, trọn đạo với chồng, tròn trách nhiệm với gia đình, không khinh bạc khi chồng chưa thi đỗ. Hoàn cảnh hai bên “đu không cha mẹ” càng khiến hai vợ chồng đồng cảm, thấu hiểu, khắng khít nhau hơn. Khi Bùi Hữu Nghĩa thi đỗ ra làm quan, bà ở nhà một mình gánh vác việc gia đình, vừa làm mẹ vừa làm cha nuôi dạy con thơ cho chồng yên tâm làm việc nước. Những tưởng cuộc sống như thế đã bớt đi lận đận, nào ngờ tai hoạ xảy đến. Bùi Hữu Nghĩa khi làm quan tại phủ Trà Vang (nay là Trà Vinh), do tính kiêu hãnh, chính trực, bị quan trên ghét, ông Bùi mất chức và bị tù. Bà Tồn vượt đường xa lên tới kinh đô gặp vua Tự Đức kêu oan. Ông Bùi sau đó được tha, nhưng bà Tồn v đến nửa đường thì bị bệnh chết. Cái chết của vợ trong hoàn cảnh đó là nỗi đau xót lớn nhất trong lòng ông. Tuy trong bài văn tế vợ, Bùi Hữu Nghĩa không nói đến việc này nhưng nội dung của nó thể hiện rõ thái độ trân trọng và lòng xót thương vợ. Chỉ cần qua sự việc ấy cũng đủ thấy rõ đạo tòng phu của bà.

Văn tế còn nói đến nhiu bổn phận khác của người vợ trong gia đình đối với cha mẹ chồng, vợ cả của chồng, con riêng của chồng... Trong đó, nhiệm vụ quan trọng nhất là nuôi dạy con cái nên người, cả khi con đã làm quan cũng chỉ dạy cho con điu hay lẽ phải: “Con xuất sĩ mấy lời dạy bảo: Bổng vua thiếu, mẹ cho nhiu ít, đừng tham lam để tiếng cười chê.” (Văn tế mẹ)(5)

Mặc dù văn tế ca ngợi rất nhiu luân lý tốt đẹp của người làm vợ, nhưng hầu như chỉ nhấn mạnh nghĩa vụ chứ không nói đến “quyn hạn”. Đây là điu thiếu sót của văn tế. Nhờ đó, Văn tế Nguyễn Bích Châu của Trần Duệ Tông (1372-1377) và Văn tế Đoàn Thị Điểm của Nguyễn Kiu (1694-1771) nổi bật lên là hai tác phẩm tiên phong v phương diện “quyn hạn” của người làm vợ. Nguyễn Bích Châu (?-1377) có một vị trí trang trọng trong bài văn tế của Trần Duệ Tông: “Cải chánh lòng vua chừ, Phàn Cơ nước Sở; Giữ đúng đạo vợ chừ, Tương Phi bến Ngu.” (Văn tế Nguyễn Bích Châu)(6) Đoàn Thị Điểm (1705-1746) cũng có vị trí như vậy trong mắt Nguyễn Kiều: “Cư xử có lỡ lầm, ai người ngăn bảo? Thơ muốn làm cùng ai bình phẩm? Sách muốn xem cùng ai bạn bầy? Mùa thu có trăng cùng ai chơi? Mùa xuân có cảnh cùng ai ngắm?” (Văn tế Đoàn Thị Điểm)(7)

Theo luân lý Nho giáo v ging mối vợ chồng, vợ không được quyn bình đẳng mà phải hoàn toàn phục tùng chồng, chồng là người chủ gia đình có quyn quyết định mọi việc. Tuy nhiên, bên cạnh những bổn phận chung của người vợ như các bài văn tế khác ca ngợi, Nguyễn Bích Châu và Đoàn Thị Điểm toả ra một điểm sáng với ý thức răn sửa khi chồng phạm lỡ lầm, nhất là Nguyễn Bích Châu đối với chồng là một vị vua.

Câu hỏi của Nguyễn Kiu “cư xử có lỡ lầm, ai người ngăn bảo” cho thấy trước kia ông vốn đã từng được vợ “ngăn bảo” như thế. Trước sự răn sửa của vợ, người chồng chẳng những không tỏ vẻ khó chịu mà còn xem mình là người may mắn khi có được người vợ như thế. Đối với Nguyễn Kiu, vợ ông còn là người bạn tri âm cùng xướng hoạ thơ văn, cùng dạo chơi, sẻ chia sở đắc. Bài văn tế ngoài ngợi ca, tiếc nhớ người vợ đã qua đời còn thể hiện tinh thần bình đẳng, tiến bộ v vị trí, vai trò của người phụ nữ.

Theo chúng tôi, riêng tác giả Văn tế Nguyễn Bích Châuđiu cần xem lại. Văn bản bài văn tế được tìm thấy duy nhất trong Truyn kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm. Truyn kỳ tân phả không phải là một bộ sử hay tuyển tập văn thơ mà là một tập truyện truyn kỳ “được thể hiện dưới màu sắc hoang đường, quái đản”(8), nội dung của nó mang nhiu yếu tố hư cấu, không hoàn toàn là sự thật lịch sử. Vả lại, Trần Duệ Tông sống vào thế kỷ XIV, trước Đoàn Thị Điểm gần 4 thế kỷ, tại sao bài này không được chép vào tập thơ văn nào mà phải đợi đến nữ sĩ họ Đoàn ghi chép lại? Vì vậy, rất có thể khi viết Truyn kỳ tân phả, Đoàn Thị Điểm đã giả thác lời Trần Duệ Tông viết bài văn tế này tỏ lòng tiếc thương, ca ngợi Nguyễn Bích Châu. Nếu đúng vậy thì đây là tác phẩm thuộc trường hợp “nghĩ chế”, tác giả không phải Trần Duệ Tông mà là Đoàn Thị Điểm. Hơn nữa, sự việc liên quan đến Nguyễn Bích Châu, nếu có thật, là một sự kiện lớn, sách sử chắc chắn phải ghi chép, nhưng ngoài Truyn kỳ tân phả, không có bộ sử nào chép v bà, cho nên thậm chí chưa chắc bà là một nhân vật lịch sử(?).

V phía các ông chồng, có được người vợ hin thục đảm đang như thế phải biết thương yêu, quý trọng vợ, phải gắng lập thân để vợ con được vẻ vang. Không ít ông chồng thành danh đu nhờ công lao của vợ gánh vác việc nhà, báo hiếu mẹ cha, nuôi dạy con cái, tần tảo việc ruộng nương, trăm ngh buôn bán lo tin ăn học. Các ông chồng tác giả văn tế ít nhiu đu yêu vợ thương con, có trách nhiệm với gia đình. Khi vợ chẳng may mất sớm, nhiu người bày tỏ lòng xót thương bằng những bài văn tế rất lâm ly cảm động, Tế Lê phu nhân Chất Khanh văn của Nguyễn Cao có lẽ là bài văn tế vợ đặc sắc nhất, với những câu thể hiện tình cảm vợ chồng và lòng xót thương sâu sắc: “Tháng trước, ta nghe tang bà thím với nhà thân gia, nay lại nghe tang khanh, chưa thể về ngay làng cũ, khóc khanh trước mộ, cúng ở giường thờ, trong đó có điều đại bất đắc dĩ, dám đâu bày tỏ cùng ai! Than ôi! Khanh lâm bệnh, ta không kịp chăm thuốc men, khanh nhập quan, ta không kịp lo khâm liệm, lại không kịp nói lời vĩnh quyết lúc phân ly. Tình chẳng thể nguôi, xa xôi nghìn dặm, luống những đọc văn than thở, gạt lệ ngậm ngùi. Này thời, này cảnh, trăm mối bời bời.(9) Thậm chí như Phạm Nguyễn Du cho rằng vì mình là người bạc mệnh, khiến cho vợ ông trở thành “số đoản”, tức là ông tự nhận tội v cái chết của vợ.

Trong văn tế, hình ảnh, vai trò của người vợ nói riêng và người phụ nữ nói chung trong xã hội xưa được chú ý, trân trọng hơn so với thực tế. Nhưng xét cho cùng, những đức tính được ca ngợi ở đây vẫn nghiêng v khuynh hướng phục tùng, phục vụ nam giới, chưa có nhiu bước đột phá trong việc giải phóng thân phận người phụ nữ, ít nhất như thái độ trân trọng của Nguyễn Kiu dành cho Đoàn Thị Điểm (và Đoàn Thị Điểm(?) dành cho Nguyễn Bích Châu), mà thậm chí còn bảo lưu tư tưởng cổ hủ, như lời khen ngợi của Phan Huy Ích dành cho Lê Ngọc Hân. Tuy nhiên, có thể cảm thông cho các tác giả, vì điều này chịu sự chi phối của hệ tư tưởng, ý thức hệ phong kiến và quan niệm chung của thời đại.

2. Ging mối cha mẹ - con cái

Khổng giáo đ ra ging mối cha - con là “phụ từ tử hiếu”. Vai trò của người cha trong gia đình rất quan trọng vì đấy là tấm gương cho con cháu noi theo. Trong văn tế, ging mối cha - con của Nho giáo được thể hiện thành ging mối cha mẹ - con cái, trong đó bổn phận “chỉ ư hiếu” của con đối với cha mẹ rất được đ cao, cho dù là đấng anh hùng đầu đội trời chân đạp đất vẫn là những người con rất mực hiếu thảo. Chữ hiếu được xem là rường cột của mọi đức hạnh, đạo làm con không gì hơn chữ hiếu. Luận ngữ - “Vi chính” nói, đạo làm con đối với cha mẹ, phụng sự khi còn sống, chôn cất đúng lễ khi mãn phần, nghiêm trang khi cúng tế; làm con giữ đạo hiếu là không nên làm điu trái ngược. Thiên “Học nhi” nói, hiếu và đễ là gốc của lòng nhân. Từ đó thấy rằng hiếu hạnh là đạo thường của trời đất, thánh hin rất coi trọng, là đạo lý căn bản trong cách đối nhân xử thế của mỗi con người.

Biểu hiện cụ thể nhất của chữ hiếu là phụng dưỡng, tôn kính cha mẹ. Bổn phận làm con không chỉ phải lo cho cha mẹ ăn no mặc ấm mà còn phải tôn kính. Đào Phan Duân tỏ rõ tấm lòng hiếu dưỡng của mình: “Khi nghinh dưỡng bôi thương vũ khúc, cũng theo đòi múa áo giỡn sân; Lúc hạ diên hiến quả cung hoa, đâu đã có miếng ngon vật lạ.” (Văn tế mẹ)(10) Làm vui lòng mẹ giống như Lão Lai Tử mặc áo hoa múa hát, mừng thọ mẹ có trái hiến có hoa dâng, nhưng như thế vẫn chưa thoả lòng hiếu của mình dành cho mẹ. Đối với người con chí hiếu, công ơn cha mẹ trả đến trọn đời không hết được. Đến khi cha mẹ qua đời, cảm giác nuối tiếc, ân hận vẫn mãi khôn nguôi. Chúng tử tế mẫu văn của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ điều đó: “Đội mũ mẫn than thân là gái, lấy chi đền chín chữ cù lao; Chống gậy vông tủi phận là trai, lấy chi trả một câu võng cực.”(11)

Chữ hiếu không chỉ được người làm con tự nhận thức thực hiện mà còn được nhìn nhận, khen ngợi từ phía cha mẹ. Một người mẹ kể lại đức tính của con gái: “Thảo với cha, lành với mẹ, như bát nước ỷ không xao.” (Văn mẹ tế con gái)(12) Có thể thấy, trong văn tế, chữ hiếu được thể hiện từ cả hai phía: người làm con tự nhận thấy bổn phận của mình; cha mẹ nhìn nhận và khen ngợi bổn phận của con.

Bổn phận làm trai vừa phải vẹn chữ trung, vừa phải tròn chữ hiếu. Lắm lúc không phải ai cũng có thể chu toàn nợ nước tình nhà. Khi không được cận kề báo hiếu cha mẹ, nhiu người tự nhận đấy là một đại tội. Ngô Thì Nhậm bày tỏ nỗi ân hận trong Bôn tang cáo văn (văn tế cha)(13) thật là thống thiết. Ngô Thì Sĩ mất khi Ngô Thì Nhậm bận việc quan ở kinh đô. Trong bài văn tế, Ngô Thì Nhậm thể hiện nỗi day dứt khôn nguôi vì khi cha còn sống, mình phận làm con không cận k chăm sóc sớm hôm, khi cha qua đời không được trông thấy mặt, giọt nước mắt suông không thể gột hết tội lỗi này. Ngô Thì Nhậm khóc thương cha, cũng là tự nhận tội với cha. Bản thân là một nhà Nho thấm nhuần đạo lý thánh hin, lại là một vị “dân chi phụ mẫu” giúp vua gánh vác việc dạy dân, nhưng trọng trách đầu tiên người làm con phải hoàn thành đối với cha mẹ là đạo dưỡng sinh, tác giả tự thấy mình chưa làm được. Tâm trạng dằn vặt, hối lỗi không lúc nào nguôi. Theo ông, mặc dù do bận việc quốc gia nhưng không tròn đạo làm con là tội lỗi không thể tha thứ được.

Tấm gương hiếu hạnh đáng thương, đáng nể phục nhất có thể nói là Hầu Tạo và Nguỵ Khắc Kiu. Hầu Tạo tên là Nguyễn Hữu Tạo, là lãnh tụ phong trào nông dân khởi nghĩa trừ tham quan ô lại, cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo thời Nguyễn sơ. Lê Văn Duyệt bắt mẹ ông rồi giả lời mẹ viết thư dụ ông, nói rằng nếu ra hàng sẽ được tha tội cho v quê phụng dưỡng mẹ già. Tưởng thật, ông ra hàng thì bị bắt xử tử. Mẹ ông sau đó cũng tự tử(14). Nguỵ Khắc Kiu là cháu nội Nguỵ Khắc Tuần (1799-1854, danh sĩ đời Minh Mạng). Ông hoạt động chống Pháp đời vua Hàm Nghi. Năm 1885, khi Hàm Nghi xuất bôn với Tôn Thất Thuyết, ông được phong Phó sứ sơn phòng Quảng Trị, sau đó theo vua sang biên giới Lào. Đến khi Hàm Nghi bị bắt (1888), ông vào rừng hoạt động cùng nhóm văn thân cung cấp vũ khí cho phong trào Cần vương. Ông là người con chí hiếu, khi hay tin mẹ bệnh nặng, tuy biết nguy hiểm nhưng ông vẫn bí mật v thăm. Dọc đường bị tay sai phục kích bắt được. Hoàng Cao Khải lấy tình thân dụ ông ra làm quan, nhưng ông một mực từ chối. Ông bị quản thúc cho đến chết.

Văn tế Hầu Tạo ca ngợi lòng hiếu thảo của Nguyễn Hữu Tạo: “Đạo hiếu ngùi ngùi; Lòng nhân thăm thẳm. Vàng vua Hán dễ tìm ra Quý Bố, những Nam Hồ Bắc Việt thiếu chi mà; Ngọc chàng Từ sang gửi lại Tào quân, vì địa nghĩa thiên kinh là trọng lắm.”(15) Dù biết việc mình đang làm là vì chính nghĩa, nhưng chữ hiếu cũng là một đại nghĩa. Ông ra hàng hoàn toàn không phải vì quan tước bổng lộc, mà chỉ với ước nguyện đơn giản là cứu mẹ đưa v mái lu tranh chăm lo phụng dưỡng. Ước nguyện ấy đã bị quan triu tước bỏ cùng với cái chết thảm thương của hai người từ hiếu. Tuy không được ca ngợi như Nguỵ Khắc Kiu “sống vì vua, thác là vì mẹ, hiếu trung đà hai chữ vẹn toàn” (Văn tế Nguỵ Khắc Kiu)(16) nhưng Hầu Tạo cũng đã thể hiện trọn vẹn chữ hiếu của kẻ làm con.

Chữ hiếu trong văn tếđiểm đặc biệt rất đáng lưu ý, đó là “lấy trung làm hiếu”. Người tiêu biểu cho quan niệm này là Bùi Viện (1841-1878) (trong Văn tế lão mẫu, Bùi Viện nói nhầm thành “lấy hiếu làm trung”)(17). Bùi Viện là chí sĩ triều Tự Đức, từng hai lần phụng mệnh sang Mỹ vận động bang giao. Ông là người con chí hiếu, trên đường đi vận động lần thứ hai trở về, đến Hoành Tân (Nhật) thì được tin mẹ qua đời, ông làm bài văn tế vô cùng thống thiết, trong đó có lời bày giãi: “Ngày xuất cáo chưa kịp lời thưa nói, những là tưởng dưới nhà trên nước, khắc xương chép dạ, biết đâu mà gửi dạ can tràng; Bước viễn du không kịp tính gần xa, những là toan lấy hiếu làm trung, nhắm mắt đưa chân, phận nào có tưởng gì vui vẻ.” (Văn tế lão mẫu)(18) Nhiều tác giả là mệnh quan triu đình nhậm chức nơi xa, đi công cán nước ngoài hoặc lo dẹp loạn can qua không vuông tròn hiếu đạo. Không phải họ xao nhãng đạo làm con mà vì trách nhiệm thần tử nặng n, đành bỏ tư tình thực thi công vụ, ngõ hầu không làm xấu hổ song thân, đó cũng là một cách báo đn ơn dưỡng dục.

Quan niệm “lấy trung làm hiếu” của Bùi Viện phần nào giống với quan niệm “chuyển hiếu thành trung” của Hoàng Diệu. Văn viếng Hoàng Diệuđoạn nói rất cụ thể v việc chuyển hiếu thành trung: “Mọi người đu bảo ông hi sinh là giữ vẹn lòng trung. Nhưng mấy ai hiểu được rằng, lòng trung của ông bắt nguồn từ chữ hiếu. Xem tờ tạ biểu gần đây của ông, thấy có câu: Không trung với vua là không tròn chữ hiếu.” (19) Trước đó, mẹ Hoàng Diệu (1828-1882) được vua ban tứ một số ngân lụa và ba cây quế, ông viết tờ tạ biểu dâng vua, câu cuối nói rằng: “Không trung với vua là không tròn chữ hiếu, dám đâu để mẹ phải mang lòng hổ thẹn. Việc gì hữu ích cho quốc gia thì chẳng từ nan. Chỉ là một chút đáp đn những gì nhà vua ban tứ.”(20) Qua đó thấy rằng, Hoàng Diệu đã chuyển chữ hiếu thành lòng trung, tận tâm tận lực với quốc gia đến khi tử tiết, vừa đđáp đn ơn vua vừa để mẹ không phải mang lòng hổ thẹn, đó cũng là cách giữ tròn chữ hiếu.

Chữ hiếu trong văn tế được thể hiện khá phong phú, cụ thể. Ngoài phụng dưỡng cha mẹ ruột, người làm rể làm dâu cũng phải kính hiếu cha mẹ vợ, cha mẹ chồng theo quan niệm tứ thân phụ mẫu. Chữ hiếu còn thể hiện qua nhiu cách thức khác nhau như nhớ lại hành vi, cử chỉ, lời giáo huấn thường ngày; ca ngợi đức độ, tài năng, tính cách; thái độ trang nghiêm, kính cẩn khi đứng tế; ước nguyện người quá cố được siêu thăng v cõi an lạc… Trong đó “lấy trung làm hiếu” như là một “giải pháp” cho những người con chí hiếu vì bận việc quốc gia không thể vẹn toàn đạo phụng dưỡng. Nhớ lại Ngô Thì Nhậm, nếu ông sớm nhận ra đạo lý này chắc sẽ đỡ phần nào cảm giác tội lỗi với cha. […]

Chú thích

(1) Phạm Nguyễn Du, Tế Hữu đốc thị Nguyễn Phùng Hiên, xem: Nguyễn Huy Mỹ, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Huy Quýnh cuộc đời và thơ văn, NXB. Lao Động - TT Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, HN, 2012, tr.224.

(2) Thiêm đô quan ở La Khê, Đông Ngạc Tham tụng quan thành phần tế văn (Nguyễn Đông Triều dịch), xem: Dụ tế huân thần 諭祭勲臣, Lập Trai Phạm Quý Thích, Quế Đường Lê Quý Đôn, VHN, KH: A.547, tr.11b.

(3) Phan Huy Ích, Văn tế Lê Ngọc Hân, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Văn tế cổ và kim, NXB. Văn hoá - Viện Văn học, 1960, tr.45.

(4) Bùi Hữu Nghĩa, Văn tế vợ, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, sđd., tr.62.

(5) Đào Phan Duân, Văn tế mẹ, xem: Lộc Xuyên Đặng Quý Địch (sưu tầm, chú giải), Văn tế ở Bình Định, NXB. Văn hoá Dân tộc, HN, 2008, tr.83.

(6) Trần Duệ Tông(?), Nguyễn Bích Châu tế văn (Nguyễn Đông Triều dịch), xem: Hội đồng biên soạn Tổng tập văn học Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam, NXB. KHXH, HN, tập 3B, 1994, tr.358.

(7) Nguyễn Kiều, Văn tế Đoàn Thị Điểm, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, sđd., tr.11.

(8) Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ biên), Từ điển văn học (Bộ mới), NXB. Thế giới, HN, 2004, tr.1833.

(9) Nguyễn Cao, Tế Lê phu nhân Chất Khanh văn, xem: Phan Văn Các, “Bài văn tế vợ của Nguyễn Cao”, Tạp chí Hán Nôm, số 1, VHN, HN, 1987, tr.69.

(10) Đào Phan Duân, Văn tế mẹ, sđd., tr.83.

(11) Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế mẹ, xem: Cao Tự Thanh, “Thêm một số thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu”, Tạp chí Hán Nôm, số 2, VHN, HN, 1988, tr.67.

(12) Khuyết danh, Văn mẹ tế con gái, xem: Lê Sum, Việt âm văn uyển, Imprimerie J. Việt, Sài Gòn, 1919, tr.98.

(13) Ngô Thì Nhậm, Bôn tang cáo văn, xem: Lâm Giang, Nguyễn Công Việt, Ngô Thì Nhậm toàn tập (tập 2), NXB. KHXH, Hà Nội, 2004, tr.519.

(14) Theo Phong Châu và Nguyễn Văn Phú (sđd.), Hầu Tạo tên là Nguyễn Hữu Tạo (tr.59). Theo một thông tin khác trên http//:ditichlichsuvanhoa.com/dttc/MO-VA-NHA-THO-LE-HAU-TAO-a171 về một nhân vật có tên Lê Hầu Tạo với chi tiết tương tự: Lê Hầu Tạo là người khởi xướng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân tiêu biểu ở Nghệ Tĩnh nửa đầu thế kỷ XIX chống lại chế độ bóc lột hà khắc của triều Nguyễn. Mộ và nhà thờ ông được công nhận di tích lịch sử năm 1995. Nguyễn Hữu Tạo cũng là Lê Hầu Tạo chăng?

(15) Khuyết danh, Văn tế Hầu Tạo, xem: Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, sđd., tr.58.

(16) Khuyết danh, Văn tế Nguỵ Khắc Kiều, xem: Đinh Văn Minh, “Họ Nguỵ ở Xuân Viên và bài văn Nôm của tám giáp tế Nguỵ Khắc Kiều”, Thông báo Hán Nôm học 1997, VHN, 1997, tr.384.

(17) Bùi Viện, Văn tế lão mẫu, xem: Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB. Văn học, HN, tái bản 1998, tr.514.

(18) Bùi Viện, Văn tế lão mẫu, sđd., tr. 514.

(19) Khuyết danh, Tỉnh quan vãn cố Đốc đường Hoàng tướng công trướng văn (Nguyễn Đông Triều dịch), xem: Danh công biểu tuyển 名公表選, VHN, KH: A.582, tr.137b.

(20) Khuyết danh, Tỉnh quan vãn cố Đốc đường Hoàng tướng công trướng văn (Nguyễn Đông Triều dịch), sđd., tr.138a.

 


* TS,- Khoa Văn học, Trường ĐH KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM

 (VH-NN) – Khóa luận “Ngôn ngữ quảng cáo nhìn từ góc độ phân tích diễn ngôn” của SV Vũ Nguyễn Nam Khuê (SV chuyên ngành Văn học hệ Cử nhân tài năng khóa 2010-2014, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) do TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh hướng dẫn, đã được bảo vệ tại Trường ĐH KHXH và Nhân văn tháng 6 năm 2014 vừa qua. Khóa luận được Hội đồng đánh giá loại giỏi với số điểm tuyệt đối (10 điểm). VH-NN xin giới thiệu một phần của Chương 3 và Mục lục của khóa luận.

Lời giới thiệu:

Ngày 15 tháng 4 năm 2017, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM đã tổ chức bảo vệ luận văn thạc sĩ cho HVCH Nguyễn Thị Bích Đào, đề tài luận văn là: “Tìm hiểu thơ chữ Hán của Nguyễn Hàm Ninh”. Luận văn do PGS.TS Đoàn Lê Giang hướng dẫn. Luận văn đã có những đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu cuộc đời, văn bản, giá trị thơ văn Nguyễn Hàm Ninh – một nhà thơ quan trọng trong văn học Việt Nam thế kỷ XIX . Học viên đã dịch thuật nhiều tư liệu về tiểu sử và thơ chữ Hán của Nguyễn Hàm Ninh, cũng như đã có một số bài viết trên tạp chí khoa học về tác giả này. Hội đồng nhất trí thông qua luận văn với số điểm 9.37, đạt loại xuất sắc. Website Khoa Văn học xin giới thiệu một phần của luận văn.

(VH-NN) – Khóa luận “Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt” của SV Trương Thị Thanh Nhã (SV chuyên ngành Văn học hệ Cử nhân tài năng khóa 2010-2014, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) do PGS. TS Nguyễn Công Đức hướng dẫn, đã được bảo vệ tại Trường ĐH KHXH và Nhân văn tháng 6 năm 2014 vừa qua. Khóa luận được Hội đồng đánh giá loại giỏi với số điểm tuyệt đối (10 điểm). VH-NN xin giới thiệu Chương 3 và Mục lục của khóa luận.

Mục tiêu chính của Đông Dương tạp chí như được nói đến trong chương trình [1] của tờ báo đó là quảng bá và phổ cập khoa học và kĩ thuật phương Tây đến người Việt. Đây cũng chính là mục tiêu của tầng lớp trí thức của các nước vùng Viễn Đông theo tấm gương duy tân thành công của của Nhật Bản. Họ đều thấy được sự cần thiết phải nắm lấy chiếc chìa khóa khoa học phương Tây để mau chóng đưa dân tộc mình bước vào cánh cửa văn minh, tiến bộ.

(VH-NN) – Khóa luận TÌM HIỂU THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT TỪ ĐIỂN QUA TỪ ĐIỂN MÃ KIỀU CỦA HÀN THIẾU CÔNG (SO SÁNH VỚI TỪ ĐIỂN KHAZAR CỦA MILORAD PAVIĆ) của SV Thái Cao Trí Cường (SV chuyên ngành Văn học hệ Cử nhân tài năng khóa 2010-2014, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) do TS Trần Lê Hoa Tranh hướng dẫn, đã được bảo vệ tại Trường ĐH KHXH và Nhân văn tháng 6 năm 2014 vừa qua. Khóa luận được Hội đồng đánh giá loại giỏi với số điểm tuyệt đối (10 điểm) . VH-NN xin giới thiệu Chương 3 và Mục lục của khóa luận.

Tóm tắt

Yên Hy Ba, nhà văn tỉnh Bình Thuận, sáng tác trong giai đoạn cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra khốc liệt. Dù ông sáng tác khi còn rất trẻ, nhưng khi đọc lại những trang truyện ngắn của Yên Hy Ba, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và xúc động chia sẻ với ông về cái nhìn cuộc sống, về tình yêu quê hương, đất nước, về khát khao hòa bình, tự do của nhân loại.

(VH-NN) – Khóa luận NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÁC PHẨM KHI TÔI NẰM CHẾT CỦA WILLIAM FAULKNER của SV Lăng Đức Lợi (SV chuyên ngành Văn học hệ Cử nhân tài năng khóa 2010-2014, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) do PGS.TS Đào Ngọc Chương hướng dẫn, đã được bảo vệ tại Trường ĐH KHXH và Nhân văn tháng 6 năm 2014 vừa qua. Khóa luận được Hội đồng đánh giá loại giỏi với số điểm 9,5 điểm. VH-NN xin giới thiệu Chương 3 và Mục lục của khóa luận.

(Tóm tắt) Thiên Giang - Trần Kim Bảng là chiến sĩ - nhà văn - nhà giáo và cũng là chứng nhân lịch sử của thế kỷ XX. Ông đã dùng văn chương như vũ khí để đấu tranh trong cuộc chiến đấu chung của toàn dân. Những sáng tác, nghiên cứu và dịch thuật của ông có những tiến bộ nhất định, tạo nên hiệu ứng tích cực trong đời sống xã hội bấy giờ. (Đỗ Thị Thanh Nhàn)

(VH-NN)  “Cuộc vận động đổi mới văn hóa Việt Nam đầu TK.XX qua Đông Dương tạp chí” là công trình nghiên cứu khoa học sinh viên do sinh viên Ngô Thị Thanh Loan (sinh viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ hệ Cử nhân tài năng khó 2007-2011) thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Đoàn Lê Giang, được Giải Ba Cấp Bộ năm 2010. VH-NN xin giới thiệu Mục 3.2 Đổi mới phong tục.

Thông tin truy cập

36949277
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
1136
7538
36949277

Thành viên trực tuyến

Đang có 265 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929