Lời giới thiệu

TS. Nguyễn Khắc Hóa

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nghĩ về văn chương đất phương Nam là công trình nghiên cứu văn học thứ chín của PGS. TS, giảng viên cao cấp Lê Tiến Dũng. Cuốn sách tập hợp hơn ba mươi bài nghiên cứu tiểu luận phê bình về văn học của các tác giả ở vùng đất phương Nam. Đất phương Nam trong cách nghĩ của Lê Tiến Dũng ở công trình này không chỉ là vùng đất Nam Bộ hôm nay, mà nó bao gồm cả một dải đất dài từ sông Bến Hải cho đến tận cùng đất mũi Cà Mau. Đó cũng là cách nghĩ rất quen thuộc của con người Việt nam trước 1975, thời đất nước ta còn bị chia cắt làm hai miền bởi vĩ tuyến 17. Cuốn sách này là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu, suy tư lâu dài của ông trong suốt cả chặng đường gần bốn mươi năm giảng dạy và nghiên cứu văn học. Nó định hình khá rõ nét phong cách của một nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã từng được khẳng định trên văn đàn Việt Nam đương đại nhiều năm nay. Cảm hứng nghiên cứu, phê bình của Lê Tiến Dũng ở cuốn sách này có thể tạm chia làm hai phần. Phần một bao gồm những bài viết về các nhà thơ nhà văn từ Phan Văn Trị cho đến các tác giả hiện đại ở đất phương Nam ngày nay. Phần hai gồm sáu bài nghiên cứu về ca dao gắn với các dịa danh du lịch nổi tiếng của đất phương Nam.

Cảm hứng nghiên cứu phê bình ở tập sách này đặt sắc nhất vẫn là ở phần một, gồm hai mươi sáu bài viết về các nhà văn, nhà thơ đất phương Nam. Trong số đó, có hai tác giả được Lê Tiến Dũng giành nhiều tâm huyết và công sức để khám phá và phát hiện vẽ đẹp độc đáo ở tác phẩm của họ. Đó là Tố Hữu và Xuân Diệu. Những bài viết về hai tác giả này, có thể gọi là những bài nghiên cứu công phu nhất, thành công nhất của tập sách.

 Dường như hình tượng Hồ Chí Minh trong thơ Việt Nam hiện đại từ lâu đã có sức ám ảnh, cuốn hút ngòi bút phê bình của Lê Tiến Dũng. Từ cuốn sách Cụ Hồ ở giữa lòng dân (viết chung) được lãnh giải thưởng trong dịp tổng kết đợt “Học tập tấm gương, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, cho đến các bài viết về hình tượng Bác Hồ trong thơ Tố Hữu, thơ Thanh Hải và trong thơ Viễn Phương đã thể hiện rất rõ sự ngưỡng mộ và lòng mến yêu Bác của nhà nghiên cứu qua những hình tượng thơ ấy. Đến với những trang viết này, cảm xúc và ngôn từ của Lê Tiến Dũng như cũng được nâng lên ngang tầm với cảm xúc của bài thơ, để rồi chúng hòa điệu trong nhau, cùng nhau cất lên tiếng nói thiêng liêng và cao cả về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mặt trời rực sáng đem đến sự sống, đem đến ánh sáng tươi đẹp cho trái đất. Nếu mặt trời trong câu thơ thứ nhất là một hình ảnh thực, là một vật thể không thể thiếu của vũ trụ, thì mặt trời trong câu thơ thứ hai lại là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo. Bác như một vầng thái dương sáng ngời, chiếu dọi ánh sáng cách mạng và tâm hồn để vực dậy sự sống tươi đẹp cho những con người đắm chìm trong bóng đêm nô lệ. Vì thế, Bác là một mặt trời luôn ngời sáng, sưởi ấm cho linh hồn của những người con Việt Nam”. Đó là một đoạn bình giảng về hai câu thơ của Viễn Phương trong bài Viếng lăng Bác:

 Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

( Trích Viễn Phương với hình tượng Bác Hồ trong thơ)

Là một thầy giáo khá nổi tiếng của chuyên ngành lý luận văn học, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thế mạnh của ông không chỉ được thể hiện ở những bài viết về lý luận văn học, mà ấn tượng sâu sắc nhất còn ở những lối bình thơ văn. Ông nắm bắt tinh, nhạy cảm, rất nhanh và rất chính xác thần thái của nhưng áng văn hay, những câu thơ kiệt xuất. Bình giảng hai câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu trong bài Giục giã:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Ông viết: “Đây là hai câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu. Không phải là hai câu thơ của sự hưởng lạc, sống gấp như có người đã nhận xét, mà là hai câu thơ của lòng ham sống, say sống giữa đời với độ nồng nàn. Cái chói chang của sự sống cũng giống như cái chói chang của ánh sáng thà bùng lên huy hoàng mà tắt, còn hơn cái le lói của trăm năm” (Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu)

Quả thật ở phương diện này Lê Tiến Dũng thật sự là một nhà phê bình, nhà giáo rất có tài trong rung cảm, thẩm thấu để phát hiện cái hay, cái đẹp của văn chương. Tôi cho rằng đó là một phẩm đầu tiên, hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành bại của một cây bút làm nghề nghiên cứu, phê bình văn học.

Đọc nhiều lần trên ba mươi bài viết trong tập sách này tôi nhận thấy năng lực cảm thụ, phân tích bình giảng văn chương của Lê Tiến Dũng quả thật tinh tế và tài hoa. Cái tài ấy là nhờ tác giả có đôi mắt tinh đời, trái tim nhạy cảm và tâm lòng nhân hậu rất dễ rung cảm trước cái đẹp của văn chương. Điều này đã làm cho tập sách có một giá trị đích thực của nghiên cứu phê bình văn học trong hoàn cảnh hiện nay. Từ chân dung các nhà văn, nhà thơ cho đến những bài viết về ca dao của nhiều xứ sở, cuốn sách của Lê Tiến Dũng đã thể hiện được một cách nghĩ, một tầm suy nghĩ khá mới mẻ và sâu sắc về con người và văn chương ở vùng đất phương Nam của đất nước ta.

Nhân dịp cuốn sách ra đời, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

                                                                            TP Hồ Chí Minh 30/05/ 2017

                                                                                               N.K.H.

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay, những bộ phim cải biên từ tác phẩm văn học vẫn liên tục được trình chiếu với những cấu trúc tự sự mới lạ, những kỹ xảo chất lượng cao và sự sáng tạo không ngừng của đạo diễn. Phim cải biên luôn chứng tỏ được sức hút của nó trong lòng những khán giả say văn chương mê điện ảnh. Vì vậy, dù có nhiều ý kiến khen chê, dù bị đánh giá là trung thành hay không trung thành với tác phẩm văn chương thì phim cải biên vẫn tiếp tục dòng chảy của nó để cho hành trình liên văn bản không bị gián đoạn khi đi qua những loại hình nghệ thuật khác nhau và đến với từng đối tượng tiếp nhận khác nhau.

Mặc dù phim cải biên đã tự mình chinh phục được những đỉnh cao trong nghệ thuật điện ảnh nhưng cơ sở lý luận, các lý thuyết cải biên từ văn học đến điện ảnh vẫn chưa nhất quán và còn nhiều tranh luận. Tại Việt Nam, tài liệu nghiên cứu về lý thuyết cải biên một cách có hệ thống và chuyên biệt hầu như vắng bóng. Những vấn đề cải biên học chỉ được đưa ra xen kẽ trong các công trình nghiên cứu tác phẩm cải biên cụ thể hoặc trong một số bài báo khoa học và bài tham luận tại các hội thảo. Trong khi đó, các tài liệu về cải biên học ở nước ngoài được dịch và giới thiệu trong nước với một mức độ khan hiếm. Ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu văn học cũng như nghiên cứu nghệ thuật đều xem vấn đề cải biên là một phương pháp thuần túy chứ không phải một lý thuyết nghiên cứu. Do đó, khi nghiên cứu việc cải biên một tác phẩm văn học sang một loại hình khác, nhất là điện ảnh, đa số các nhà nghiên cứu đều dùng phương pháp so sánh để cho thấy sự giống và khác nhau của tác phẩm cải biên và tác phẩm nguồn, tranh luận về tính trung thành với nguyên tác, từ đó bình giá tác phẩm cải biên chứ ít nhìn nhận về tính độc lập tương đối của tác phẩm cải biên hay thế mạnh của từng tác phẩm trong loại hình của nó.

Các bài báo, các bài điểm phim gần đây cũng chỉ nhìn vào các bộ phim cải biên ở góc độ trung thành hay biến đổi so với văn bản nguồn chứ không thấy được những sự dịch chuyển ký hiệu từ loại hình này sang loại hình khác, sự thay đổi bối cảnh từ tác phẩm cải biên này đến tác phẩm cải biên khác và sự tiếp nhận của tác giả điện ảnh với tư cách là một độc giả. Một vấn đề nữa là đối với tác phẩm văn học có nhiều tác phẩm điện ảnh cải biên thì người nghiên cứu chỉ lựa chọn duy nhất một tác phẩm mà không có sự so sánh đối chiếu để tìm hiểu xem các tác phẩm điện ảnh cải biên đó có sự tương quan với nhau như thế nào và bản nào được xem là cải biên, bản nào được xem là làm lại từ tác phẩm cải biên đó.

Ngày nay, trong bối cảnh mới của thế giới, cải biên học (adaptation studies) đã có những sự phát triển trên cơ sở lý luận liên văn bản, phiên dịch học, giải cấu trúc, văn hóa học. Nhờ những lý thuyết này cộng với sự phát triển mạnh mẽ của điện ảnh, cải biên học từ văn học đến điện ảnh đã được khảo nghiệm và hệ thống hóa thành lý thuyết. Lý thuyết cải biên giúp các nhà nghiên cứu có được cái nhìn đúng và thận trọng hơn khi đánh giá tác phẩm cải biên đồng thời giúp cho những người làm phim có những lựa chọn thích hợp khi muốn cải biên một tác phẩm văn học nào đó. Trong điện ảnh, có rất nhiều tác phẩm cải biên thành công và để lại nhiều ấn tượng tốt cho khán giả như: “Bố Già” (The Godfather), “Nhà tù Shawshank” (The Shawshank Redemption), “Forrest Gump”, “Hồ sơ điệp viên Bourne” (The Bourne Identity), “Cuốn theo chiều gió” (Gone with the Wind), “Bệnh nhân người Anh” (The English Patient),... Cũng có những tác giả điện ảnh nổi tiếng nhờ vào việc cải biên tác phẩm văn học như: Hitchcock, Kurosawa Akira, Stanley Kubrich. Tuy nhiên, chuyên luận về những “tác giả điện ảnh” cũng như thành tựu cải biên của họ đến nay vẫn chưa được chú ý nhiều.

Khi nghiên cứu cải biên học, chúng tôi muốn thông qua trường hợp Kurosawa khảo nghiệm lại những vấn đề trọng yếu của cải biên, ví như vai trò của văn bản nguồn trong cải biên, nghịch lý của tính trung thành trong cải biên hay mối quan hệ giữa tác giả và đạo diễn trong cải biên, tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại đến việc cải biên. Trong lịch sử điện ảnh thế giới, đạo diễn trứ danh Nhật Bản Kurosawa Akira được xem là bậc thầy của những tác phẩm điện ảnh cải biên. Do vậy, khảo sát các tác phẩm cải biên của ông bằng lý thuyết cải biên hứa hẹn sẽ đem đến một cái nhìn mới về sự sáng tạo của Kurosawa nói riêng và làm phong phú thêm cho lý luận cải biên nói chung. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến cách thức chuyển thể của Kurosawa Akira trong điện ảnh thế giới và những yếu tố giúp ông thành công trong việc cải biên tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên của người viết với đạo diễn Kurosawa Akira là những tháng ngày học ở Dự án điện ảnh K6 năm 2010-2011 tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Từ ám ảnh ban đầu về “Những giấc mơ” trong tập phim ngắn “Dreams” của ông, người viết đã tìm về nhiều bộ phim khác nhau thuộc nhiều giai đoạn khác nhau của đạo diễn và nhận thấy ở Kurosawa Akira có một dạng ngôn ngữ điện ảnh hấp dẫn kỳ lạ, mời gọi khán giả tìm hiểu, khai phá. Mặt khác, hầu hết các bộ phim của ông sử dụng chất liệu văn chương nhưng giữa tác phẩm văn chương làm chất liệu và phim Kurosawa luôn có một cuộc đối thoại ngầm mang tính tri âm và sáng tạo của đạo diễn với nhà văn. Kurosawa cải biên rất nhiều các thể loại văn học như: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản văn học. Sự thành công của phim Kurosawa đôi lúc làm khán giả lãng quên chất liệu có trước bởi cuộc chuyển vị ngoạn mục từ văn học sang điện ảnh. Do đó, có thể xem việc cải biên của Kurosawa là một trong những trường hợp tiêu biểu nhất để đặt vào cải biên học trong bối cảnh hậu hiện đại. Từ những lý do đã nêu trên, xin phép được giới thiệu tới bạn đọc tác phẩm: Chân trời của hình ảnh (Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa Akira).

Đây là một công trình nghiên cứu, mà qua đó chúng tôi muốn nhìn nhận cải biên học trong sự phức hợp của các lý thuyết: liên văn bản, giải kiến tạo, văn hóa học và phiên dịch học. Cải biên là một bộ phận của liên văn bản. Liên văn bản cho thấy sự dịch chuyển các ký hiệu từ văn bản nguồn là tác phẩm văn học đến văn bản đích là tác phẩm điện ảnh. Ngoài ra, xem xét cải biên từ góc nhìn liên văn bản sẽ thấy được hành trình xuyên suốt của các văn bản kể cả văn bản nguồn lẫn văn bản đích bởi tất cả các văn bản đều hấp thụ, biến đổi và trở thành từ các văn bản khác. Bộ phim cũng chỉ là kết quả của tiến trình liên văn bản, thể hiện một cách đọc của nhà làm phim và bên trong nó không chỉ có liên văn bản từ tác phẩm văn học nguồn mà còn rất nhiều văn bản khác thông qua ngôn ngữ, hành động nhân vật, thông qua diễn xuất của diễn viên cũng như các hiện tượng văn hóa, xã hội. Từ góc nhìn giải kiến tạo, tác phẩm điện ảnh cải biên sẽ được trả lại vị trí của chính nó, tức là mối quan hệ thứ bậc của tác phẩm nguồn và tác phẩm phái sinh, văn bản trước và văn bản sau sẽ bị xóa nhòa, thay vào đó là mối quan hệ đồng đẳng của các loại hình nghệ thuật, của sân chơi liên văn bản. Từ góc nhìn văn hóa học sẽ cho thấy hệ tư tưởng mang tính thống trị xã hội tác động đến quan điểm của những nhà làm phim. Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng giúp người nghiên cứu nhìn nhận nguyên nhân, mục đích và bối cảnh xã hội của cải biên và sẽ kiến giải được tại sao có những bộ phim cải biên từ cùng một tác phẩm văn chương nhưng lại có sự thay đổi rất lớn. Từ góc nhìn của phiên dịch học, việc cải biên tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh được xem là một kiểu dịch liên ký hiệu, do đó tính tương đương cũng được xem xét trong quá trình nghiên cứu cải biên. Tuy nhiên, tính tương đương này là tính tương đương giữa cái hồn cốt, cái tinh túy, cái đề tài cốt lõi của tác phẩm văn học so với tác phẩm cải biên chứ không phải tương đương về những chi tiết, logic về mặt cốt truyện hay cấu trúc tự sự.

Thứ hai, công trình sử dụng thuật ngữ “cải biên” để dịch thuật ngữ “adaptation” trong tiếng Anh, định danh những tác phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu có trước là văn học và các loại hình nghệ thuật khác. Đây là cách dùng từ do nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đề xuất ở trang 33 của bài viết: “Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo – liên văn bản trong văn chương và điện ảnh”, Tạp chí Văn học, số tháng 12/2006. Trước đây, khi phiên dịch thuật ngữ “adaptation” sang tiếng Việt, các dịch giả dùng từ “chuyển thể”. Tuy nhiên, đối với động từ “adapt” cũng mang hàm ý như danh từ “adaptation”, các dịch giả lại dùng từ “mô phỏng”, “dựa theo”, “cải tác”. Do đó, để sử dụng một thuật ngữ dịch thuật đồng nhất, công trình này sẽ dùng từ “cải biên” với hàm nghĩa lý thuyết, thể loại lẫn hàm nghĩa phương pháp, thao tác. Ngoài ra, cải biên học không chỉ được ứng dụng trong các tác phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu văn học mà còn ứng dụng nghiên cứu các tác phẩm sân khấu “biến đoạn” và thậm chí là trong cùng một loại hình nghệ thuật như các tác phẩm văn học Việt Nam cải biên từ các tác phẩm văn học nước ngoài. Bên cạnh đó, những bộ phim làm lại (remake), những bộ phim dựa trên chuyện có thật cũng được xem là cải biên. Vì vậy, nếu dịch là “chuyển thể” sẽ không phù hợp khi mở rộng phạm vi nghiên cứu. Cũng trong nghiên cứu này, lần đầu tiên, lý thuyết cải biên được giới thiệu và đề cập một cách toàn diện từ mối quan hệ của văn học và điện ảnh, từ tác giả cải biên, tác phẩm cải biên và người đọc, người xem. Bên cạnh đó, những bài nghiên cứu mới về lý thuyết cải biên cũng được giới thiệu một cách có hệ thống trong công trình.

Thứ ba, công trình này nghiên cứu về Kurosawa Akira bằng lý thuyết cải biên một cách triệt để thông qua những thể loại tiêu biểu được cải biên là: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Ở Việt Nam, có ít nhất hai công trình nghiên cứu về Kurosawa Akira ở bậc đại học và sau đại học nhưng là nghiên cứu về sự nghiệp của Kurosawa Akira một cách chung chung chứ không đi sâu vào cải biên học. Như vậy, với những vấn đề được nêu lên ở trên, chúng tôi tin rằng, công trình sẽ đóng góp một cách nhìn nhận mới đối với việc nghiên cứu các tác phẩm điện ảnh cải biên, giúp các tác phẩm cải biên được quan tâm một cách xác đáng chính từ bản thân nó chứ không phải từ sự giống nhau và khác nhau so với tác phẩm văn học. Đồng thời, công trình này hy vọng cũng sẽ giúp các nhà biên kịch có thể có những phương pháp phù hợp trong việc cải biên những tác phẩm văn học thành điện ảnh và giúp các nhà làm phim có thể học tập được phương thức cải biên của đạo diễn bậc thầy Nhật Bản Kurosawa Akira thông qua các nghiên cứu cụ thể.

Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà nghiên cứu: thầy Trần Luân Kim, thầy Trương Đăng Dung, thầy Trần Nho Thìn, thầy Lâm Quang Vinh, cô Phan Thị Bích Hà, cô Phan Thị Thu Hiền, thầy Lê Giang, cô Nguyễn Thị Thanh Xuân, cô Trần Lê Hoa Tranh, cô Trần Yến Chi, cô Nguyễn Vũ Quỳnh Như, cô Phan Bích Thuỷ đã góp ý, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Văn Nam Sơn, thầy Phan Nhật Chiêu, anh Trần Tiễn Cao Đăng, anh Phan Đăng Di, anh Phan Gia Nhật Linh là những người đã truyền cảm hứng cho tôi trên con đường học thuật và điện ảnh. Xin đặc biệt gửi lời tri ân đến thầy Nguyễn Nam, người đã giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều tri thức mới, cô Trần Thị Phương Phương, người đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm cho tôi trong quá trình nghiên cứu. Cuối cùng, xin gửi lời chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị đồng nghiệp và bạn bè vì luôn ở bên tôi, động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành công trình này. Công trình rất mong tiếp tục nhận được nhiều ý kiến đóng góp và chia sẻ từ bạn đọc.  

Sách Theo dấu người xưa của hai tác giả Phan Mạnh Hùng - Nguyễn Đông Triều vừa được NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành trong quý III năm 2017. Sau cuốn Tìm trong di sản văn hóa phương Nam (2016), Theo dấu người xưa tiếp tục mạch cảm hứng khai thác, trình bày những giá trị văn hóa trong lịch sử của vùng đất Nam Bộ.

Tác phẩm có bề dày gần 400 trang, tập hợp tất cả 27 bài khảo cứu của hai tác giả về di tích văn hoá – lịch sử và văn học Nam Bộ từ thời kỳ lịch sử cận đại cho đến giữa thế kỷ XX. Các bài viết đều đầy ắp những tư liệu, thông tin, hình ảnh về di tích, cảnh vật, con người… mà hai tác giả đã miệt mài, cất công lặn lội nhiều năm tháng trên khắp vùng đất “Nam Kỳ lục tỉnh” này để ghi chép, sưu tầm.

Có thể nói trong sách hầu như chia hai phần khá rõ rệt:

 Phần trước, chủ yếu do tác giả Nguyễn Đông Triều chấp bút. Các bài viết đã dựa trên cơ sở khảo sát thực tế, thu thập tư liệu ở nhiều địa phương Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Cách viết công phu, dựa trên nguồn tư liệu phong phú và chính xác, có giá trị về các nhân vật, di tích lịch sử - văn hoá (đền, chùa, miếu…) có liên quan đến lĩnh vực Hán Nôm (gia phả, câu đối, hoành phi, thơ văn…), tiêu biểu như các bài: Tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn và khu mộ cổ ở Sa Đéc (Đồng Tháp), Văn tế Nôm Nam Bộ qua Gia lễ tập thành, Dụ tế huân thần một tập sách hay về loại văn tế, Di sản Hán Nôm Nhị Phủ hội quán, Chùa cổ Vĩnh Phước An (Bạc Liêu) một di tích cần được bảo tồn, Chùa Ngọc Hoàng một di tích độc đáo ở thành phố Hồ Chí Minh…

Có thể nói những bài viết của Nguyễn Đông Triều đã cung cấp cho người đọc hiện nay, đại đa số không biết chữ Hán - Nôm, nhiều kiến thức bổ ích, những hiểu biết về các di tích lịch sử, di sản văn hoá của cha ông để lại trong quá trình đi khai mở vùng đất phương Nam.

 Phần sau, là các bài phần lớn do Phan Mạnh Hùng thực hiện, gồm những bài viết chủ yếu về văn học vùng đất Nam Bộ từ khoảng nửa cuối thế kỷ XIX đến những thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, tiểu biểu như các bài: Bài văn khóc thầy của các nhà văn Quốc ngữ tiên phong, Tuý Kiều ánTuý Kiều phú ở Nam Bộ, Kiều Thanh Quế nhà phê bình văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX, Giới thiệu về Nam Bộ trên Nam Kỳ tuần báoĐại Việt tập chí, Tân Dân Tử và những bộ tiểu thuyết lừng danh về Gia Long, Cuộc bút chiến năm 1923 xung quanh tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu

Những bài viết dựa trên nguồn tư liệu sách báo bằng chữ quốc ngữ nguyên bản gốc rất phong phú và có giá trị mà tác giả đã tốn nhiều công sức sưu tầm từ nơi lưu trữ của các thư viện lớn, nhỏ, hoặc tủ sách những gia đình trí thức nho học, Tây học còn cất giữ được ở khắp các địa phương Nam Bộ. Trên cơ sở tư liệu sách báo cũ đã dày công tìm kiếm, tác giả Phan Mạnh Hùng đã phục dựng một số chân dung nhà văn, những sự kiện văn học hoặc những tác phẩm văn chương có giá trị nhưng do sự biến động qua những giai đoạn lịch sử nên bị lãng quên theo thời gian.

Sách Theo dấu người xưa là một tác phẩm khảo cứu văn hoá khá dày dặn về số lượng và chất lượng. Cuốn sách đã góp phần quan trọng trong việc sưu tầm, bảo quản và phục dựng lại giá trị văn hoá của vùng đất mới Nam Bộ mà cha ông nhiều thế hệ trước đã đổ bao nhiêu mồ hôi, công sức để tạo dựng nên ở nơi này. Vì vậy cuốn sách chứa đựng nhiều tư liệu giá trị về nhiều lĩnh vực như văn hoá, văn học, sử học, thư tịch học, khảo cổ học…

Với những giá trị như vậy, cuốn sách rất hữu ích đối với nhiều thành phần bạn đọc trong xã hội: người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học, lịch sử; hướng dẫn viên du lịch; sinh viên những ngành xã hội ở các trường đại học, cao đẳng; những người yêu thích văn học, lịch sử vùng đất Nam Bộ…

Cao Văn Thức

Nguồn: Xưa & Nay, số 485, 7-2017                                                              

Đọc Mãi đừng xa tôi (Never let me go) của Kazuo Ishiguro, nhà văn Anh gốc Nhật, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nxb Văn học và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 2008.

Tác phẩm là một cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng, lấy bối cảnh nước Anh cuối thế kỷ hai mươi. “Giả tưởng”, nhưng câu chuyện vẫn thật đến nhói lòng bởi tác giả tưởng tượng rất tinh tế khi tạo dựng từng chi tiết, khi miêu tả từng cảm xúc của nhân vật. Câu chuyện kể về Hailsham, một ngôi trường nội trú chuyên nuôi dạy những đứa trẻ vốn là bản sao vô tính để phục vụ cho mục đích y học. Số phận những đứa trẻ này đã được định đoạt: khi đến tuổi trưởng thành, họ chỉ có mội một nhiệm vụ là hiến nội tạng cho những người bị bệnh cho đến khi nào chết thì thôi.  

Mấy chương đầu đọc khá chán, bởi lối kể chuyện nhẫn nha đến sốt ruột của Kazuo Ishiguro và vì cứ tưởng đó là những chuyện của bọn học trò nội trú bình thường. Nhưng đọc hết rồi mới thấm thía, đến độ phải đọc lại từ đầu để có thể hiểu rõ, nắm bắt được câu chuyện. Có những chi tiết ban đầu đọc thấy cũng bình thường, như chi tiết một lần Kathy nhắm mắt ôm gối khiêu vũ theo âm hưởng của bài bát Mãi đừng xa tôi cùng với đoạn điệp khúc “Con yêu, mãi đừng xa mẹ”. Sau khi đọc xong sách, sau khi biết Kathy chỉ là một bản sao sinh sản vô tính chỉ có nhiệm vụ hiến tạng chứ không sinh sản, không có con được, mới thấy tác giả xây dựng chi tiết đó tài tình làm sao.

Những Kathy, Tommy, Ruth,… đã được sinh hoạt, học tập như những con người bình thường khác; đã lớn lên và gắn bó với Hailsham. Trong ký ức của họ, thế giới khép kín đó như là một quê hương yêu dấu không thể nào nguôi quên. Biết mình sinh ra và được nuôi dưỡng chỉ để làm người hiến tạng, biết mình không hề có tương lai, nên Hailsham của quá khứ với nhiều kỷ niệm ngọt ngào là hạnh phúc, là nguồn an ủi duy nhất trong cuộc sống đã được lập trình sẵn của họ. Do vẫn là “người”, họ vẫn không nguôi  khát khao được làm người bình thường, khát khao được sáng tạo, được yêu thương, nhất là khi nghe mơ hồ đâu đó nếu yêu nhau thật sự họ sẽ được hoãn lại việc hiến tạng.  Nhưng rốt cuộc Ruth không qua khỏi sau lần hiến thứ hai, Tommy, sau một thời gian ngắn ngủi hạnh phúc cùng Kathy, đến lần hiến thứ tư cũng ra đi. Chỉ còn lại một mình Kathy tiếp tục công việc của người chăm sóc, tiếp tục đi trên những con đường tối tăm, heo hút trước khi  rồi cũng sẽ “xong hẳn” như Ruth, như Tommy.

Được Time Magazine xếp vào danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 tới năm 2005, Mãi đừng xa tôi là một cuốn sách buồn, làm người đọc u uất không ít nhưng cũng gợi nhiều cảm xúc, nhiều suy nghĩ về thân phận làm người.

20170724. sach trong cuoc doi

Mấy năm nay, đời sống văn hóa ở TP HCM chứng kiến một tình hình dường như mâu thuẫn này: Trong khi dư luận xã hội chưa hết than phiền về sự sa sút của văn hóa đọc thì ngày càng có nhiều cơ sở làm sách được thành lập và từng bước khẳng định thương hiệu qua những sản phẩm có chất lượng tốt cả về nội dung lẫn hình thức.

Đóng góp vào sự khởi sắc đó có tiếng nói của những cây bút tích cực quảng bá cho văn hóa đọc mà tôi thường không bỏ lỡ những bài viết của họ: Phan Trọng Hiền (Biên Hà), Dương Thành Truyền (Duyên Trường), Trần Vương Thuấn (Thục Linh), Nguyễn Minh Hải (Trúc Giang)… Tuy không phải là những nhà phê bình chuyên nghiệp, bên cạnh công việc chính ở các cơ quan văn hóa, họ vẫn dành thời gian dõi theo sự ra đời và đường đi của những cuốn sách để cổ vũ cho một đời sống văn hóa có chiều sâu.

Cuốn "Sách trong cuộc đời" (NXB Văn hóa - Văn nghệ TP HCM, quý II/2017), tập hợp những bài viết của Nguyễn Minh Hải về cùng chủ đề trên các báo ở TP HCM 15 năm qua, là kết quả của hoạt động âm thầm mà bền bỉ đó.

Có thể nói, đây là những câu chuyện của một người yêu sách cất lên tiếng nói chân thành và thẳng thắn của mình về một số hiện tượng trong sáng tác, xuất bản và tiếp nhận văn học. Trước hết là những câu chuyện có ý nghĩa mà tác giả rút ra từ việc cảm thụ một số tác phẩm của Nam Cao, Mạnh Phú Tư, Sơn Nam, Nguyễn Huy Thiệp, An Chi…; hay quan sát những sinh hoạt thường ngày như tặng sách, mua bán sách cũ, quảng cáo sách mới, đưa sách về nông thôn…

Tôi thật sự thú vị khi đọc những trang tác giả kể những kỷ niệm về "gène đọc sách" được truyền lại từ người cha, về tập sách "gia bảo" của một người bạn, về lá thư tình cờ tìm thấy trong một cuốn sách cũ. Là nhà báo, Nguyễn Minh Hải cũng đồng thời mang tố chất của nhà giáo dục khi anh nhiều lần quan tâm đến việc chọn sách, hướng dẫn cách đọc và xây dựng thói quen đọc sách cho thiếu nhi. Tinh thần công dân của tác giả còn thể hiện rõ qua mối ưu tư đối với việc sách giáo khoa lịch sử chưa đề cập một số sự kiện quan trọng (nạn đói năm Ất Dậu 1945, việc Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1974 và tấn công Trường Sa năm 1988, cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược năm 1979 ở biên giới phía Bắc…). Điều đó cho thấy ý thức trách nhiệm của một ngòi bút trước hiện tình đất nước và các thế hệ tương lai.

Đọc bài "Một cuốn sách còn nợ", tôi hết sức xúc động và cảm ơn tác giả đã nhắc đến món nợ đối với nhà văn Nguyễn Nguyên mà nhà báo Nguyễn Trọng Chức và tôi luôn canh cánh bên lòng. Mong sao Nguyễn Minh Hải - vốn đã bỏ nhiều công sức sưu tầm, tìm hiểu về hoạt động báo chí và văn học của Nguyễn Nguyên - sẽ cùng gia đình nhà văn, với sự góp sức của các đồng nghiệp, trả được món nợ tinh thần đó.

"Sách trong cuộc đời" là một đề tài quen thuộc nhưng không dễ gì khai thác hết những khía cạnh phong phú, đa chiều của nó. Đây là những suy nghĩ trung thực và tâm tình giản dị của một người chịu ơn từ sách. Tất nhiên, tác giả còn thời gian dài rộng để suy ngẫm về việc đọc sách từ điểm nhìn của ngày hôm nay, chẳng hạn có nên "tận tín ư thư" hay không, làm sao tiếp thu có chọn lọc những bài học đạo đức của "nhị thập tứ hiếu" cho phù hợp với thời đại, lý giải thế nào cho thỏa đáng những hiện tượng "đốt sách", "ăn cắp sách" mà không gây ngộ nhận…

Có thể nói, "Sách trong cuộc đời" góp phần hâm nóng niềm khát khao nơi bạn đọc luôn mong muốn vươn tới những giá trị văn hóa.

Huỳnh Như Phương

Nguồn: http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/nhung-cau-chuyen-cua-mot-nguoi-yeu-sach-2017071521212166.htm

“Thời gian trốn ở đâu?”, câu hỏi hồn nhiên của một bé thơ đặt ra cho ông ngoại, đụng chạm đến nỗi ám ảnh “đi tìm thời gian đã mất” của cả một đời người.

       Câu trả lời đầy hình ảnh của ông ngoại (Thời gian sớm đó rồi khuya/ Từ tao nôi đến mộ bia đời người/ Thời gian: chiếc lá đấy thôi/ Từ xanh thắm đến vàng phơi lối về…) gợi ý cho cháu rút ra một “đáp án”: Thời gian trốn giữa bốn bề không gian.

       “Đáp án” nẩy sinh tự phát đó nói lên một định luật sâu xa: thời gian tựa hồ hòa nhập vào không gian và chảy theo chiều kích của không gian; ngược lại không gian cũng mang nhịp điệu và tiết tấu của thời gian. Đâu phải ngẫu nhiên mà M. Bakhtin, một học giả nổi tiếng người Nga, đã đề xuất thuật ngữ không-thời gian (khronotop) như một cách bện chặt không thể tách rời hai phạm trù này.

       Nhưng Thời gian trốn ở đâu? của Nguyễn Thái Dương không phải là tập thơ triết lý. Câu hỏi truy tìm thời gian ở đây được liên hệ trong một phối cảnh rất “đời thường”: nỗi buồn tuổi tác của ông ngoại được hóa giải trong một kết hợp hai chiều: dõi theo Kiwi và Bòn Bon từng ngày lớn lên, đầy tháng, thôi nôi, vào mẫu giáo rồi lên lớp Một; đồng thời, làm thơ cho hai cháu, ông như quay lại nhìn tuổi thơ của mình. “Những lần ít ỏi gần gụi nhau, nụ cười ấy, ánh mắt kia, cử chỉ nọ… của Kiwi và Bòn Bon cứ gieo mầm rồi đâm chồi nẩy lá trong nỗi nhớ thương của ông”: nhớ thương hai cháu, ông làm thơ; và làm thơ cũng là cách ông nhớ thương tuổi thơ của mình.

        Mới ngày nào, ông cũng hồn nhiên đặt những câu hỏi vì sao như hai cháu. Mới ngày nào ông cũng vừa nôn nao vừa sợ sệt nắm tay bà cố đến trường. Mới ngày nào ông hồi hộp chờ mong tiếng khóc chào đời của con. Mới ngày nào ông nghẹn lời vì hạnh phúc tiễn con gái về nhà chồng… Hành trình đã qua của ông cũng sẽ là hành trình tương lai của cháu. Tập thơ này lưu giữ cho hai cháu mà cũng là lưu giữ cho ông ngoại những niềm vui do tuổi thơ ban tặng.

        Nhà văn Tô Hoài có lần bảo rằng viết cho tuổi thơ phải cố gắng đạt ít nhất hai điều: nghịch và đẹp. Tập thơ này đáp ứng hai yêu cầu đó. Tuổi thơ mà không nghịch thì đâu là tuổi thơ. Viết cho tuổi thơ mà nghiêm nghị thì sẽ mất vui, như viết cho “ông cụ non”. Phải có cái nhìn tinh nghịch mới thấy niềm vui ngày “hoàng thượng đi khai trường”: Người đâu, chuẩn bị… cơm sườn/ Trẫm xơi rồi trẫm tới trường Mầm Non. Ông “học tập” cháu cái nhìn tinh nghịch đó khi cháu đọc truyện tranh, khi trái banh của Misa và Thỏ Trắng méo xệch, khi sách bút lêu lêu cô chủ còn mê nghỉ Tết…

        Và cái nghịch không tách rời cái đẹp. Vẻ đẹp của những giọt sương (Sương từng giọt một long lanh/ Giọt tranh cành lộc, giọt giành nhụy mai). Vẻ đẹp của tấm áo bà ngoại cắt may cho cháu (Nâng niu cất giữ từ hồi/Kìa vuông vải nhỏ thơm hơi tháng ngày). Vẻ đẹp của dáng đi và tiếng rao của một bà mẹ nghèo (Mẹ giọng khản vai trầy/ Từ tiếng rao, đôi gióng/ Dù hẻm gầy nắng bỏng/ Dù đường lầy buốt mưa).

        Cái đẹp, dưới mắt nhìn tuổi thơ, đôi khi vẫn buồn. Nỗi buồn nhẹ nhàng khi Kiwi chia tay thỏ trắng, gấu bông… một thuở Mầm Non để lên lớp Một, còn Bòn Bon thì ở lại. Nỗi buồn pha chút xót xa khi thấu hiểu người bạn cùng lứa tuổi trên sân ga: Con tàu chuẩn bị rời ga/ Vé số em cầm chân mỏi/ Lời rao khản giọng chờ mua/ Kiếm chút tiền cơm đắp đổi…

        Nguyễn Thái Dương cả đời viết văn, làm báo cho tuổi thơ, tuổi trẻ. Thơ anh luôn giữ được nét trong sáng, nhân hậu và ân tình. Đó là suối nguồn sẽ còn tiếp tục chảy trong thơ anh, tưới mát những dòng chữ và tưới mát tâm hồn người đọc.

 

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

*Bài tựa tập thơ Thời gian trốn ở đâu? của Nguyễn Thái Dương, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2015.

Văn chương Sài Gòn: nền văn chương thất lạc!

Sẽ có người hỏi “Ủa! Sài Gòn cũng có văn chương nữa sao?”. Xin nhỏ nhẻ mà thưa “Dạ, có!”. “Nó gồm có những thứ gì?”. “Dạ, có đủ! Tiểu thuyết ngắn dài, truyện thơ, thơ, phú, tiểu phẩm, tuồng, cải lương...”. “Nó có từ hồi nào?”. “Dạ, có từ hồi người Việt biết chữ quốc ngữ ít lâu”.

Khiêm tốn mà nói như vậy!

Đã là người Việt, đã là người Sài Gòn thì đều biết chữ quốc ngữ được phổ biến đầu tiên ở Sài Gòn, ở Nam kỳ nay gọi là Nam bộ. Và văn bản bằng chữ quốc ngữ đầu tiên chính là tờ Gia Định Báo, xuất bản tại Sài Gòn, số ra đầu tiên ngày 15.4.1865. Và chúng ta cũng đã thống nhứt với nhau rằng “báo chí quốc ngữ là cái nôi của văn học Việt Nam”.

Ai cũng nói, cũng biết như vậy, song lâu nay, việc tìm hiểu tận nguồn gốc của văn học quốc ngữ Việt Nam một cách minh bạch thì... ít người làm!

Vì sao tôi chọn cái mốc từ 1881 đến 1924?

Từ tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo, năm 1866 Trương Vĩnh Ký cho ra đời tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên. Đó là “Chuyện đời xưa" nhằm "lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”. Tiếp đó là những sáng tác văn xuôi quốc ngữ thuộc nhiều thể loại báo chí. Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử báo chí Sài Gòn, tôi phát hiện ra một điều đáng chú ý. Đó là sự thay đổi đột ngột của mục Thứ vụ trên Gia Định Báo vào ngày 01.12.1881. Trước đó, mục Thứ vụ là mục viết những thông báo linh tinh của chánh quyền từ những văn bản thúc thuế cho đến việc rao bán đấu giá những mặt hàng dành cho quân đội, chánh quyền.

Tới ngày 01.12.1881, trong mục này bỗng xuất hiện ba bài viết văn xuôi ngắn chiếm nửa trang báo khổ A3, không có tên tác giả, gồm: "Cách thế cứu người chết ngột", "Tên chăn bò" và "Thằng ăn trộm với con heo. "Cách thế cứu người chết ngột" (đúng ra là chết ngộp) là một bài khoa học thường thức. Còn hai bài kia là truyện. Phải chăng đây là những truyện đầu tiên được đăng trên báo quốc ngữ? Nhưng tác giả là ai? Sau đó, khi được đọc cuốn "Phansa diễn ra quấc ngữ" của ông Trương Minh Ký in năm 1884 và tái bản năm 1886, tôi phát hiện trong đó có đăng hai truyện nầy, "Thằng ăn trộm với con heo" mang số 110, còn "Tên chăn bò" thì mang số 119. "Phansa diễn ra quấc ngữ" là những truyện “chuyển thơ ngụ ngôn La Fontain thành văn xuôi” của ông Trương Minh Ký. Với tôi, dù là chuyển thể từ thơ, nhưng đây là những truyện đầu tiên, viết bằng văn xuôi, in trên báo quốc ngữ Sài Gòn. Vì vậy tôi chọn thời điểm 1881 làm cái mốc bắt đầu cho văn chương Sài Gòn.

Sau một thời gian, văn chương Sài Gòn đã bứt phá khỏi "cái khung" nửa trang báo khổ A 3 để chiếm lĩnh nguyên trang báo Nam Kỳ, trong tổng số 8 trang nội dung. Thời điểm đó, tại Sài Gòn, đã xuất hiện khá đông tác giả, dịch giả mà những sáng tác, bản dịch đủ mọi đề tài và thể loại của họ nhanh chóng được đăng tải thường xuyên trên báo chí. Như truyện "Một ngàn lẻ một đêm", năm 1895 được xuất bản bằng tiếng Pháp thì ba năm sau, tức năm 1898, đã được dịch và đăng trên báo Nam Kỳ. Đáng kể nhất là quyển "Thầy Lazaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản, xuất bản năm 1887, được nhiều người xem là "tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên" của Việt Nam.

Qua đầu thế kỷ XX, lực lượng viết càng đông hơn. Tiểu thuyết đủ loại ngày càng chiếm một phần quan trọng trên các trang báo. Năm 1902, báo Nông Cổ Mín Đàm ở Sài Gòn đã tổ chức cuộc thi văn học đầu tiên của lịch sử Văn học Việt Nam với tên gọi "Quảng văn thi cuộc.  Chỉ trong ba tháng tổ chức, cuộc thi đã thu hút được 49 tác giả khắp lục tỉnh, mà trong số nầy, về sau trở thành những người có tên tuổi trong làng viết lách Việt như Nguyễn Hữu Hạnh (sau năm 1905 trở đi là chủ bút tờ Nhựt Báo Tỉnh), Nguyễn Dư Hoài (thơ ký tòa án Bến Tre, người viết tiểu thuyết feuilleton đầu tiên), Lương Khắc Ninh (chủ bút tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn), Trần Phong Sắc (nhà dịch thuật nổi tiếng đầu thế kỷ XX), Nguyễn Viên Kiều (nhà báo), Tống Hữu Định (người góp phần mở đường cho cải lương miền Nam), Đặng Lễ Nghi (người sáng tác nhiều truyện thơ)...

Còn về cái mốc chấm dứt vào năm 1924?

Quyết định chọn năm 1924 làm cái mốc tạm dừng chơn của văn chương Sài Gòn, tôi mong mọi người biết rằng, trước khi "Tố Tâm" – tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ra đời năm 1925, thì trước đó bốn mươi năm, Sài Gòn đã có rất nhiều truyện, tiểu thuyết, dài ngắn khác nhau rồi.

Trong quãng thời gian ấy, đã có nhiều tác giả, dịch giả, sáng tác và dịch thuật rất nhiều tác phẩm, đủ các thể loại đăng trên các tờ báo ở Sài Gòn và ở Nam Kỳ, hình thành nên một thứ tạm gọi là “văn chương Sài Gòn” đủ sức khơi dậy và nuôi lớn nền văn học phong phú, đẹp đẽ như ngày nay. Thế nhưng, gia tài văn chương chữ quốc ngữ quý giá ấy “bỗng dưng biến mất" trong lịch sử văn học nước nhà từ giữa thế kỷ XX.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đã từng viết “Miền Nam vốn có một một địa vị về văn nghệ và có ảnh hưởng sâu rộng trong quảng đại quần chúng lan tràn đến cả miền Trung lẫn miền Bắc. Miền Nam đã gây phong trào tiền phong về mọi phương diện văn nghệ: báo, tạp chí, truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, đặc biệt là tiểu thuyết Trung Hoa, truyện phóng tác tiểu thuyết Tây, phong trào xuất bản rộng lớn các loại thơ bình dân và rất phồn thịnh… Văn nghệ miền Nam phải có quyền được các học giả nghiên cứu sâu rộng. Bộ văn học sử của Dương Quảng Hàm cũng như các bộ phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan đều phiến diện. Việc giảng dạy trong các nhà trường không thể tiếp tục như cũ. Không thể quá nặng về văn học miền Bắc mà lầm tưởng là văn học Việt Nam, vì văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII trở lui chính là văn học hai miền, mà từ 1862 đến 1932 thì miền Nam đã vọt lên vai tiền phong, hướng dẫn cả mọi phương diện phát triển văn học quốc ngữ, mà còn đào tạo những nhà văn nhà báo cho cả hai miền sau môt cách trực tiếp hoặc gián tiếp… Định lại giá trị văn học miền Nam chính là trở về sự thật, chính là biết tỏ lòng yêu quí và lo lắng cho đời sống tinh thần của dân miền Nam mà trong hoàn cảnh hiện tại, đó là lực lượng chủ yếu của mọi thăng trầm!” (Khi lưu dân trở lại, Thời Mới xuất bản, Sài Gòn 1969).

Ông Xuân cũng từng thắc mắc “Không gì vô lý và đau xót bằng khi một học sinh đệ nhị (lớp 11 hiện nay) học Đông Dương tạp chí mà không học Phụ Nữ Tân Văn. Nói về mọi phương diện, tạp chí sau nầy đã vượt xa tạp chí trước về biên khảo, dịch thuật, bút chiến, phê bình tiểu thuyết”. Hay “lại không gì mỉa mai hơn là học Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, cả Hoàng Ngọc Phách nữa, những nhà văn mà chính phê bình gia có tiếng là Vũ Ngọc Phan nhìn nhận là kém hơn Hồ Biểu Chánh”!


***

Vậy thì văn chương Sài Gòn ra sao? Xin thưa, đó là một nền văn chương dành cho mọi người. Văn chương Sài Gòn, ai cũng đọc được, từ quan lớn, quan nhỏ, bà lớn, bà nhỏ, cô tiểu thư, cho đến chị bán tàu hũ, bán chuối chưng, bán cá... ngoài chợ, tất nhiên là phải biết chữ.

Vì viết cho mọi người nên văn chương Sài Gòn viết bằng tiếng nói thường dùng, với nguyên liệu chính là cuộc sống thường ngày. Đó là chuyện thời sự mới diễn ra tháng rồi, là chuyện tình của cô Tám, cô Chín, là chuyện của người nghèo, người giàu và cả người "chưa giàu"... Đã là văn chương thì phải được “nâng lên”, được hư cấu, thêm mắm dặm muối như người đầu bếp lành nghề nấu ăn. Nên ai đọc đều thấy có mình trong đó, đều cảm thương cho số phận nhân vật, đều tin rằng cuộc sống khó khăn nhưng vượt qua được. Thậm chí có độc giả còn nghĩ rằng, nhân vật là có thiệt và đang đồng hành cùng họ.

Vì gần cuộc sống, vì dành cho mọi người, vì là truyện đăng báo, nên văn chương Sài Gòn không cầu kỳ, không chải chuốt, không bóng bẩy, không làm dáng mà bình dị, nhẹ nhàng, thô ráp, văn gần với tiếng nói. Văn chương Sài Gòn là văn chương viết từng kỳ, viết để in liền nên mỗi kỳ phải hấp dẫn người đọc. Có nhà văn, mỗi ngày tới ngồi ở tòa soạn báo viết liền một mạch rồi đưa cho ấn công đem vô xếp chữ. Do đó, có khi chữ nghĩa không được biên tập, sửa chữa cho gọn gàng, câu cú nhiều lúc lộn xộn. Đó cũng là phong cách của nhiều nhà văn Sài Gòn kéo dài cho tới năm 1975.

Văn chương Sài Gòn bắt đầu là những truyện rất ngắn, nội dung đơn giản, tình tiết cũng giản dị. Lần lần truyện mới dài ra, dài ra, nhiều tình tiết hơn, nhiều éo le, gút mắc hơn và đến thế kỷ XX mới thực sự có những cuốn tiểu thuyết đồ sộ. Đọc lại các truyện thuở bình minh của văn học quốc ngữ, từ những tập "Chuyện đời xưa" của Trương Vĩnh Ký, "Chuyện giải buồn" của Huỳnh Tịnh Của cho chí truyện "Phansa diễn ra quấc ngữ" của Trương Minh Ký đều na ná nhau ở chỗ rất ngắn, nội dung mỏng, đọc dễ hiểu. Đến "Thầy Lazaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản thì mới dài, và độ dài nầy so với tiểu thuyết ngày nay chỉ là một truyện vừa! Có lẽ thời kỳ đầu, người biết quốc ngữ không nhiều, các vị viết nhằm mục đích cho người học chữ luyện chữ, tập đọc chớ chưa nhằm để “thưởng thức” như ngày nay. Thứ nữa, thuở xưa, người viết cũng không nhằm mục đích kiếm sống nên chẳng cần phải kéo dài lê thê ngày nầy qua ngày khác! Cũng còn có một lý do đặc biệt quan trọng nữa là văn học Sài Gòn "sống nhờ" báo chí, nên hoàn toàn phụ thuộc vào chủ trương xuất bản của từng tờ báo.

Có thể hình dung, văn chương Sài Gòn xưa là món rau ghém, món ăn phụ trên mâm cơm báo chí. Chỉ là món ăn phụ để người đọc báo khỏi ngán. Mà cũng ngán thiệt! Tin tức trên báo gần như chỉ có những món tin xe cán chó chó cán xe, giết người, cướp giựt... Rồi phần nghị luận thì lê thê nặng nề, khô khan (tương tự món khô chiên, món thịt kho quẹt mặn đắng, ăn ít thì ngon nhưng ăn nhiều thì uống nước no bụng)... May có món tiểu thuyết khiến "bữa ăn" báo chí dễ nuốt. Dần dà, văn chương thành món trọng yếu của nhiều người đọc báo. Và cũng từ đó, văn chương có chỗ đứng nhứt định rồi lớn lên thành một dòng văn học riêng, phản ánh một cách trung thực cuộc sống, xã hội đương thời. Chính với nội dung, phong cách và cách viết ấy, văn chương Sài Gòn tạo ra một dòng văn học riêng, không đâu có, khó bắt chước, trải qua cả trăm năm vẫn ẩn chứa sức hút vô cùng mạnh mẽ, đáng được ghi nhận trong văn học sử của nước nhà.
Cũng vì lẽ đó mà tôi đã cất công ghi lại những tiểu thuyết của những người đi trước sưu tầm được. Có thể thân nhân của các tác giả vẫn còn đâu đây nhưng do tôi không may mắn được gặp nên xin được tha thứ nếu có điều chi thất thố.

Phần lớn những tiểu thuyết và truyện ngắn in trong sách nầy đều chép từ các tờ báo xưa. Một số tác phẩm nổi tiếng nhưng không đưa vào sách nầy như "Nghĩa Hiệp kỳ duyên" của Nguyễn Chánh Sắt, hay bản dịch "Tam quốc chí" đầu tiên của Canavaggio vì đã quá quen thuộc và in ấn nhiều. Lần này, trong tập 1, xin được chọn một số tác phẩm mới chưa in lại hoặc in rất ít để phục vụ bạn đọc. Ngoài nhiều truyện của tác giả Trương Minh Ký (có khi dùng bút hiệu Mai Nham), chúng tôi in lại hai ấn phẩm nổi tiếng, có vị trí vô cùng quan trọng trong văn chương quốc ngữ. Đó là: "Kiếp phong trần" của Trương Vĩnh Ký và "Thầy Lazaro phiền" của Nguyễn Trọng Quản.

Ngoài ra, chúng tôi còn chọn lọc đăng những tác phẩm có giá trị trong nghiên cứu như "Ai làm được", tác phẩm đầu tay của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu – Nguyễn Kim Đính, Phan Yên ngoại sử, tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản, cùng một số tác phẩm văn xuôi của nhiều tác giả, trong đó có những tác giả chúng tôi cũng chưa biết rõ. Riêng tiểu thuyết "Hà Hương Phong Nguyệt" của Lê Hoằng Mưu thì chép theo cuốn sách do nhà in Nguyễn Văn Viết in năm 1915. Nội dung các truyện được sắp xếp theo theo trình tự thời gian xuất bản của tài liệu sưu tầm được, riêng bài "Văn chương quốc ngữ" (1924) được dùng làm bài  mở đầu là để độc giả dễ nắm bắt những vấn đề trọng tâm của văn chương quốc ngữ thời kỳ này.

Tôi cũng mạn phép được “dịch” vài chữ người xưa hay dùng để độc giả ngày nay dễ theo dõi, còn lại đều giữ nguyên theo bản gốc. Những chữ không đúng với chính tả hiện hành, chúng tôi sẽ điều chỉnh trong ngoặc [ ] cho lần xuất hiện đầu tiên, các lần sau giữ nguyên như bản gốc để bạn đọc tiện nghiên cứu, tham khảo về văn chương quốc ngữ Nam bộ. Trong phần tác giả, chúng tôi cố gắng cung cấp thêm một số thông tin tiểu sử để bạn đọc tiện tra cứu, và mong được bạn đọc bổ túc thêm thông tin về những tác giả mà chúng tôi chưa biết, để lần tái bản sau ấn phẩm được hoàn thiện hơn.

Rất mong được bạn đọc góp ý.

TRẦN NHẬT VY

Nguồn: VĂN CHƯƠNG SÀI GÒN 1881-1924 - Văn xuôi I - NXB Văn hóa Văn nghệ, 2017

        Bạn đang cầm trên tay một trong tám cuốn sách thuộc Tủ sách Tuổi Hoa mà Nhà xuất bản Phương Đông và Phương Nam Book liên kết tái bản đợt đầu tiên. Thời gian qua đã có những nỗ lực đáng quý nhằm giới thiệu lại Tủ sách này với độc giả thiếu nhi. Lần này, những người làm xuất bản, sau khi liên hệ với các tác giả hay người đại diện, đã đưa vào kế hoạch ấn hành có chọn lọc Tủ sách Tuổi Hoa nhằm đáp ứng nhu cầu đọc sách ngày càng đa dạng.

         Khởi nguồn của Tủ sách Tuổi Hoa là tờ báo Tuổi Hoa ra mắt tháng 6-1962, lúc đầu là nguyệt san, sau thành bán nguyệt san, hoạt động gần tròn 13 năm, cho đến số cuối cùng 233. Tòa soạn báo đặt tại 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn, do Chân Tín làm chủ nhiệm, Nguyễn Trường Sơn làm chủ bút. Với tiêu ngữ “Vui – Trẻ - Đẹp – Xây dựng”, báo Tuổi Hoa dành phần lớn số trang cho sáng tác văn học thiếu nhi, gồm thơ, truyện ngắn, truyện dài, truyện tranh… cùng với  những bài phổ biến kiến thức khoa học, ngợi ca gương danh nhân…

          Trên nền những thành quả sáng tác đó, năm năm sau (1967), Tủ sách Tuổi Hoa được nhà văn Nguyễn Trường Sơn sáng lập. Ngoài những truyện dài đăng báo, Tủ sách tạo được một nguồn bản thảo dồi dào để in thành ba loại: Hoa Xanh ký hiệu cho những tác phẩm viết về tình cảm gia đình, tình bạn, sinh hoạt học đường với những nhân vật hồn nhiên, trong sáng; Hoa Đỏ - những tác phẩm có cốt truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám hấp dẫn, đáp ứng tính hiếu kỳ của tuổi thiếu niên; Hoa Tím – viết về những xao xuyến, bâng khuâng của tuổi trăng tròn nhiều mơ mộng. Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng tám năm, Tủ sách Tuổi Hoa đã ấn hành gần 120 đầu sách, bao gồm sáng tác văn xuôi và một số truyện phóng tác, thuộc ba loại nói trên.

         Uy tín của Tủ sách này có được là nhờ sự cộng tác của những nhà văn quan tâm đến thiếu nhi thời đó như Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh, Minh Quân, Bửu Kế, Nguyễn Trường Sơn (tức Hà Châu), Bích Thủy, Hoàng Đăng Cấp, Quyên Di, Trinh Chí, Nhật Lệ Giang… Đáng quý hơn nữa, qua hoạt động của Báo Tuổi Hoa và Tủ sách Tuổi Hoa, nhiều cây bút mới được phát hiện và tự khẳng định như những nhà văn chuyên tâm viết cho thiếu nhi: Nguyễn Thái Hải (tức Khôi Vũ sau này), Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Kim Hài, Thùy An, Nam Quân, Tôn Nữ Thu Dung…

        50 năm trôi qua, những tác giả viết sách Tuổi Hoa ngày trước, nay kẻ còn người mất, có lẽ không hình dung được tâm thế của lớp độc giả thiếu nhi bây giờ ra sao khi đọc những thiên truyện của một thời đã xa. Các bạn đang ở nông thôn hay thành phố, trong nước hay ngoài nước, còn được đi học hay phải bươn chải tìm kế mưu sinh? Các bạn có lạ lẫm với tuổi thơ ngày ấy, với khung cảnh nhà trường, bóng dáng chiến tranh và điều kiện sống không giống bây giờ?

        Nhưng thiếu nhi thời nào cũng có những điểm chung: tình yêu quê hương và thiên nhiên, tình bạn chân thành, lòng hướng thiện, khát vọng sống, niềm tin vào tương lai… Đậm đà tình yêu tiếng Việt, những trang văn Tuổi Hoa bồi đắp cho tâm hồn chúng ta dưỡng chất tinh thần để một mai vững bước trên đường đời, luôn giữ sự hài hòa giữa tình cảm và lý trí, quan sát và tưởng tượng, óc phán đoán và năng lực phân tích. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều trang lưu bút trên mạng điện tử vẫn nhắc đến sách báo Tuổi Hoa với cảm tình sâu nặng. Là người đọc sách Tuổi Hoa từ khi còn đi học ở một vùng quê miền Trung, tôi có thể tự tin mà nói với các bạn rằng những cuốn sách này là một phần kỷ niệm thời niên thiếu của tôi, khiến bây giờ gặp lại lòng thấy hân hoan như gặp những người thân yêu thời thơ dại mà mình từng sẻ chia, tin cậy.

        Đời người như đời cây, trước khi cho quả, là lúc kết nụ, nở hoa, tỏa hương khoe sắc. Muốn lưu giữ những kỷ niệm đẹp một thời không quay lại, bạn hãy làm quen với tủ sách này để có thể cảm nhận những bông hoa thời niên thiếu đang nở giữa lòng mình.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

* Bài tựa viết cho Tủ sách Tuổi Hoa do NXB Phương Đông - Phương Nam Book tái bản, TP HCM, 2017.

 

NVTPHCM- Tuyển tập thơ văn trẻ Trên đôi cánh thanh xuân do Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh phối hợp Saigon Books và NXB Văn Học thực hiện bằng kinh phí xã hội hoá. Đây là món quà có ý nghĩa chào mừng Hội nghị Những người viết văn trẻ TP. Hồ Chí Minh lần thứ IV. Xin trân trọng giới thiệu lời tựa sách…

20170830. Van hoc Nga

Ảnh: 4 tác phẩm văn học Nga được ra mắt lần này gồm Đầu xanh tuổi trẻ, Nỗi khổ vì trí tuệ, Kinh nghiệm tình ái, Đôi cánh.

Nằm trong khuôn khổ dự án xuất bản với sự bảo trợ của tổng thống Nga, 4 tác phẩm văn học kinh điển lẫn đương đại được ra mắt lần này là cầu nối lịch sử - văn hóa Việt - Nga.

Phát biểu tại buổi lễ ra mắt 4 tác phẩm tại Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga vừa qua, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam Konstantin Vasilievich Vnukov cho biết dự án tủ sách của Tổng thống Liên bang Nga tặng bạn đọc Việt Nam đã sắp đi tròn 5 năm đầu tiên, kể từ năm 2012. Đây là dự án mang tầm quan trọng đặc biệt về văn hóa và mối quan hệ giao lưu giữa nhân dân hai dân tộc.

4 tác phẩm ra mắt đợt này gồm: Tác phẩm văn xuôi Nga hiện đại Đôi cánh của Christina Stark, tiểu thuyết Đầu xanh tuổi trẻ của Fiodor Dostoevsky, vở kịch bằng thơ Khổ vì trí tuệ của Alexandr Griboedov và tập truyện ngắn Nga đương đại Kinh nghiệm tình ái.

Theo dịch giả Hoàng Thúy Toàn, đại diện Quỹ Hỗ trợ quảng bá văn học Nga - Văn học Việt Nam, trong 4 tác phẩm trên, tiểu thuyết Đầu xanh tuổi trẻ của F.Dostoevski ra mắt lần này kết thúc bộ tuyển tập 10 tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Việt của văn hào Nga vĩ đại. Đây là tác giả có sức ảnh hưởng lớn đến thế hệ nhà văn xây dựng nền văn xuôi đương đại Việt Nam vào thế kỷ 20.

Tại Lễ ra mắt sách, nhấn mạnh văn hoá Nga luôn có sức sống lâu dài trong trái tim bạn đọc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam tới các nhà văn Nga. Ông cũng cho rằng lịch sử đã chứng minh văn học Nga là một trong những di sản quý báu nhất của nhân loại.

Hoạt động dịch các tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn Nga sang tiếng Việt là việc làm góp phần tiếp nối và phát triển dòng chảy giao lưu văn hoá giữa Việt Nam – Liên bang Nga và tình hữu nghị giữa hai dân tộc.

Nguồn: Zing.vn, ngày 27.8.2017

       Với nhan đề 22 tản mạn, cuốn sách đầu tiên trong bộ sách ba tập của Võ Chân Cửu về văn chương miền Nam đã góp phần biến “tản mạn” vốn là một tính từ thành một danh từ, và vốn là một thể báo chí – gần với nhàn đàm, tạp bút – trở thành một biến thể của phê bình văn học.

       Trong tập hợp những bài tản mạn của Võ Chân Cửu, có thể thấy sự hiện diện và cộng sinh của bình thơ, tiểu luận, tùy bút, tư liệu văn học… khiến cho mỗi cuốn sách là một hợp thể, và cả bộ sách là một hợp thể lớn hơn, giúp ta hình dung được bối cảnh của văn học miền Nam thời chiến cũng như tâm thế của những nhà văn cầm bút trong bối cảnh đó.

       Nói “hợp thể” là một cách nói để dễ nhận diện, chứ thật ra bộ sách này không phải là một hệ thống có chủ đích nhất quán, cho nên ta không nhất thiết phải đọc nó như một thiên khảo luận có trật tự lớp lang, mà có thể - và rất nên – đọc như một cuốn sách với những đoản thiên rời, đọc ngẫu hứng, không cần theo trình tự trước sau, vì tác giả có vẻ như cũng ngẫu hứng mà viết ra. Giống như ta ngồi bên ô cửa toa tàu mà nhìn phong cảnh hiện ra trước mắt: có lúc tàu chạy nhanh chỉ kịp thấy cánh đồng và dòng sông vừa lướt qua, có lúc tàu leo dốc chầm chậm cho ta chiêm ngưỡng từng bụi cây ngọn cỏ của vạt rừng dưới chân đèo. Nhưng tất cả hòa kết trong tâm trí ta một cảnh tượng văn chương bỗng thức dậy sau những giấc ngủ dài tưởng đã phôi pha cùng năm tháng.

        Giới sáng tác văn học ở miền Nam thời chiến mỗi người mỗi vẻ, những phân loại khái quát về khuynh hướng chỉ có ý nghĩa tương đối, có khi dễ thành phiến diện. Mỗi tờ báo quy tụ một nhóm nhà văn gần nhau về cảnh ngộ sinh hoạt tinh thần nhưng không hẳn cùng chia sẻ hoàn toàn một quan niệm văn chương hay lý tưởng xã hội. Chính điều đó gây khó cho người nghiên cứu về sau, đồng thời cũng là thử thách gợi hứng thú cho họ. Nó cho thấy yếu tố dân chủ của một đời sống văn học nhiều phân hóa.

        Nói về thế hệ cùng thời với Võ Chân Cửu, cách phân loại vừa quen thuộc vừa dễ dãi được một số người chấp nhận lâu nay: khuynh hướng “dấn thân” và khuynh hướng “viễn mơ”. Nhưng ranh giới giữa hai khuynh hướng đó đâu dễ phân định. Chỉ cần đặt câu hỏi: dấn thân về đâu mới là dấn thân đích thực? Và người ta có thể dấn thân mà không cần viễn mơ? Thậm chí, người dấn thân có thể cũng là người mơ tưởng hão huyền nhất!

        Dù sao, trong văn cảnh miền Nam thời đó, Võ Chân Cửu dễ được xếp vào nhà thơ “viễn mơ”, căn cứ vào thi hứng, thi tứ và cả nhan đề tác phẩm của ông: Tinh sương, Đại mộng, Tà huy, Bóng trăng ngàn, Đường vô núi, Sáng thinh không, Ngã tư vầng trăng, Quẩy đá qua đồng, Chùa cổ bên sông… Con đường “viễn mơ” đó bao đời nay đã là một dòng lớn của thi ca Việt Nam. Đâu phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Lương Vỵ nhớ đến thơ Thiền đời Lý – Trần khi đọc Một ngày bộ hành của Võ Chân Cửu: Sớm về phía mây tụ/ Chiều đến nơi mây tan/ Phải nơi này chốn cũ/ Trên mặt đất còn hoang/ Trời rộng đau gió hú/ Ôi hư không tràn lan.

         Thật là dễ hiểu, trong ba tập sách “tản mạn” này, Võ Chân Cửu nhớ nhiều đến những bạn văn một thời cùng ông lao đao lận đận đuổi theo những giấc mộng  dài giữa những cảnh đời thực dữ dội của chiến tranh. Ta có thể gặp ở đây những số phận long đong của Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định…; những dự phóng văn chương dang dở của các tập san Trước Mặt ở Quảng Ngãi, Nhân Sinh ở Nha Trang, Khai Phá ở Châu Đốc, Văn Chương ở Sài Gòn… Long đong, dang dở, nhưng họ để lại cho đời những tác phẩm văn chương trọn vẹn, trong đó có những bài thơ hay ít người biết mà Võ Chân Cửu không ngần ngại chép lại nguyên văn cho bạn đọc thưởng thức, chẳng hạn những bài thơ của Lưu Vân, Nguyễn Tôn Nhan, Phan Nhự Thức…

          Không dừng lại ở vai trò người chứng hay người cung cấp tư liệu về một thời văn học, nhưng Võ Chân Cửu cũng không đi quá xa trong những bình luận và đánh giá về các hiện tượng. Ông chỉ miêu tả những gì hiện ra trước ý thức văn nghệ của ông. Phần còn lại ông dành cho bạn đọc tự rút ra kết luận của mình. Chẳng phải vì ông sợ trách nhiệm mà có lẽ vì ông tin rằng bạn đọc có thước đo thẩm mỹ công minh của riêng họ. Đôi khi, ông cũng bộc lộ thiên kiến nghệ thuật  “có phần cực đoan”, như Chu Ngạn Thư nhạy bén nhận ra trong lời tựa “Cùng theo dấu nhà thơ”.

          Đặt tên cho cuốn sách thứ ba - mà tác giả nói là cuốn cuối cùng trong bộ sách về văn chương miền Nam – là Vén mây, ý hẳn Võ Chân Cửu muốn gợi ra hình ảnh “vén mây… nẩy trăng”. Nói theo Milan Kundera, sáng tác văn chương là một cách vén màn, những bức màn của ảo tượng và ma thuật, cho người đời nhìn thấy thực tướng của thế giới từng bị che phủ, như mặt trăng khuất sau làn mây. Dù sao, hành động “vén mây” đó cũng chỉ mở ra một cái nhìn trắc diện về đời sống văn chương, vốn cần đến nỗ lực của nhiều người để có thể xóa đi phần nào tấm màn đan dệt bởi thiên kiến và ngộ nhận trong sự giải thích và phán xét.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

 

 


 [*] Nhân đọc 22 tản mạn, Theo dấu nhà thơ, Vén mây của Võ Chân Cửu, NXB Hội Nhà văn – Phương Nam Book, 2013-2017.

20170821. Nguoi cua 1 thoi

        Trong những trang cuối cùng của cuốn sách này, giữa những dòng suy tường miên man về thế sự, hai tác giả Lê Công Cơ và Nguyễn Đông Nhật bỗng viết một câu văn đầy chất thơ: “Đôi khi, anh muốn đặt những bước chân nhẹ trên những con đường cũ của những năm tháng đã xa”.

Tận cùng của một thứ chỉ là sự thay thế, bằng một thứ khác. Khởi nguyên của một ý tưởng, chỉ là sự biến dạng, từ những thứ có sẵn. Cảm giác bất chợt nhưng nối tiếp này, lại có khi đọc Thơ Trắng của La Mai Thi Gia. Trắng có thể là một hoài niệm, cũng có thể là một thứ lập ngôn ưu ái, cho một cái nhìn sâu hun hút tình của những bài thơ. Của những ngôn từ tỉ tê, dằn vặt. Những cảm xúc nối tiếp, những mời gọi không rời của người đàn bà.

Hai bộ sách Văn học Hàn Quốc và Văn học Hàn Quốc trong phối cảnh Đông Á đã ra mắt chiều 12/8 tại Hà Nội. Đây là một trong những sự kiện kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc.

Lễ ra mắt sách được tổ chức chiều 12/8 tại Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc (49 Nguyễn Du, Hà Nội), do ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM phối hợp cùng Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam tổ chức. Đây là một sự kiện trong chuỗi các sự kiện trong năm 2017 kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc (22/12/1992 - 22/12/2017).

Với vai trò chủ biên, PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền đã tập hợp đội ngũ 26 tác giả, dịch giả bao gồm những nhà nghiên cứu văn học châu Á có uy tín, những người dịch văn học Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản có kinh nghiệm ở Việt Nam (Hà Nội, Huế, TP. HCM, Đà Lạt), Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ thực hiện hai bộ sách trong 5 năm (2012-2017).

Bộ sách Văn học Hàn Quốc giới thiệu những thành tựu quan trọng, làm nổi bật những đặc điểm của văn học Hàn Quốc qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu từ khởi thủy đến đương đại.

Bộ sách thứ hai bao gồm 6 tuyển tập giới thiệu Văn học Hàn Quốc trong phối cảnh Đông Á theo các đề tài, thể loại, loại hình tác giả độc đáo nhằm giới thiệu văn học 4 nước Trung Quốc - Hàn Quốc - Việt Nam - Nhật Bản.

Thông qua việc so sánh, tương chiếu, bộ sách mong muốn soi sáng những đặc điểm chung khu vực đồng thời những đặc điểm riêng của văn học từng nước, trong đó, có sự độc đáo của văn học Hàn Quốc.

Phát biểu tại sự kiện, GS. TS Mai Ngọc Chừ, Chủ tịch Hội Hàn Quốc học cho biết, sách văn học Hàn Quốc trước đây cũng đã được giới thiệu ở Việt Nam, tuy nhiên đó chỉ là một cuốn sách hoặc một tập thơ, cuốn tiểu thuyết… Lần này có một bộ sách với tầm cỡ lớn, đây là tin vui đối với ngành Hàn Quốc học nói riêng và cho những người yêu văn hoá Hàn Quốc nói chung.

“Chúng tôi thấy rất vui mừng về bộ tài sản quý này. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng so với phim ảnh, văn học Hàn Quốc đến sau. Đây mới chỉ là những cố gắng bước đầu trong việc khám phá nền văn học đồ sộ của Hàn Quốc" - GS. TS Mai Ngọc Chừ khẳng định.

Tham tán Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam bà Kim Hye Jin, cũng chia sẻ, hai bộ sách này có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc. Thông qua những câu chuyện văn học dân gian của hai nước có thể thấy rất nhiều nét tương đồng.

“Kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc và trong thời gian qua đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Khi nhắc đến Hàn Quốc ở Việt Nam sẽ không chỉ dừng lại ở phim ảnh mà còn cả văn học Hàn Quốc. Tôi cũng hy vọng sẽ có nhiều tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu tại Hàn Quốc" - bà Kim Hye Jin nhấn mạnh.

Ảnh (D.H): Các diễn giả có mặt tại buổi ra mắt chia sẻ về bộ sách văn học Hàn Quốc.

Nguồn: http://www.phunuvietnam.vn/goc-tam-hon/lan-dau-ra-mat-bo-sach-van-hoc-han-quoc-tai-viet-nam-post31346.html

Nếu tôi không nhầm, Tạ Anh Thư mới chỉ làm thơ một hai năm trở lại đây. Một ngày nọ như mọi ngày, dạo chơi qua facebook, nơi có hàng ngàn hàng vạn người làm thơ đăng tải các tác phẩm của mình, tôi bỗng dừng lại trước một giọng thơ thật lạ, mềm mại và trong trẻo, và cái tên tác giả cũng chưa từng nghe bao giờ. Bài thơ tôi đọc lần đầu tiên ấy mang tên Chàng: Hỡi chàng trai/Hãy thả tình yêu của mình bay đi cùng ngọn gió/Nếu tình chàng chưa biết dành cho ai/Hãy để dành cho em - ngọn cỏ/Trăm năm rồi em đứng đó/Vẫn cô đơn đợi chàng/Sao mọc rồi lại lặn/Sương đọng rồi lại tan/Em bên kia thung lũng/Cách chàng vạn bước chân/Nhưng nếu chàng yên lặng/Sẽ thấy em thật gần/Tình yêu của ngọn cỏ/Chẳng đòi hỏi thề nguyền/Chỉ cần chàng cúi xuốngMột buổi chiều nghiêng nghiêng. Thơ tình người Việt viết về cỏ cũng nhiều: Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh (Nguyễn Bính), Cỏ mềm thơm mãi dấu chân em (Nguyễn Đình Thi), Em hồn nhiên như cỏ/Lớn lên dưới mặt trời (Nguyễn Nhật Ánh)..., nhưng đến Tạ Anh Thư, chị đã cấp thêm một ý nghĩa mới cho cỏ: sự dâng hiến nguyên khôi tinh khiết đến tận cùng không cần điều kiện.

Thơ tình Tạ Anh Thư dễ gieo vào lòng người ta một nỗi bâng khuâng mơ hồ, khói sương bảng lảng, người viết thật khéo biết tạo dư âm và một chiều sâu cho tác phẩm bởi khi đã đọc xong dòng cuối, người đọc vẫn cảm thấy như còn chút gì ẩn khuất, kín nhiệm, chưa dễ thấu tỏ. Và thế là lại cần đọc lại lần nữa, thật chậm, từ đầu: Mùa hè đã qua lâu rồi/Sao nắng vẫn vàng như nghệ/Tôi không biết/Giữa mình và chiếc ghế/Kẻ nào đã đợi /Lâu hơn. (Đợi)

Thơ của Thư có nhiều giọng điệu. Ngoài chất lãng mạn trong sáng mà tôi cứ ngỡ như đến từ một phương trời khác, có cả những bài mang phong vị cổ kính, xưa cũ như một hoài niệm về quá khứ vàng son: Kìa bao dấu người quen kẻ lạ/Vai mang mang giấc mộng cơ đồ/Bóng liễu rủ tịch dương thành cổ/Có ai còn ôm giấc mộng kinh đô? (...)Người đêm qua ai mộng kinh thành/Cho ta gửi mênh mang gió bụi (Kinh đô).

Khi những hoài niệm dành cho ái tình, tôi đọc được đây đó có cả những nhục cảm, nồng nàn đắm đuối được vùi sâu nhờ những uyển chuyển khéo léo của chữ nghĩa. Nhà thơ như một người kể lại câu chuyện của mình, chậm rãi, da diết, khắc khoải. Và chắc hẳn nhiều người đã và đang yêu sẽ thấy thi sĩ dường như nói hộ lòng mình: Anh đếm những mầm hoang mọc lên trong lồng ngực/chẳng còn đủ sức/cho một tiếng thở dài/rồi sớm mai/tất cả sẽ biến thành kí ức/những điều hôm nay từng rất thực /hơi ấm của em, vết son đỏ trên drap trải giường/thôi thì/anh cũng là người em từng nói: rất thương. (Bão)

Nhiều bài thơ mang dáng dấp của một câu chuyện như: Người lạ, Người đàn ông và cây đàn trên phố, Chỉ trăng non thấy buồn, Mùa hè, Mục đồng, Quán rượu...Cái tài của Tạ Anh Thư là luôn biết tạo điểm nhấn vào những câu kết thúc tác phẩm, cái tứ và những ý nghĩa sâu xa của bài thơ luôn được dồn vào phần cuối: Thôi hãy để tiếng lũ quạ/Thay tôi kể lại chuyện đời (Hỏi), Mà thật lạ kì/em biết không/có những con người/đang ước mình/được hoá thành /viên sỏi (Viên sỏi), Ta cất một ngàn lời người hứa/Những hôm nao người hay đến thăm nhà/Rồi mong đợi, tim ta từ đó/Chẳng bao giờ còn biết hát ca (Mong đợi)

Có những bài thơ mà tư tưởng triết lý của nó ta đã gặp đâu đó trong các danh ngôn, ngạn ngữ hoặc những điển tích nổi tiếng. Nhưng Tạ Anh Thư vẫn là người có công khi tìm được một cách dẫn dắt mềm mại và nhuần nhị, khiến ta cảm thấy câu chuyện trở nên thật gần gũi, thân quen như đời sống hàng ngày ta bắt gặp. Nhưng cũng có những bài thơ thật độc đáo về cấu tứ, thực sự là một sáng tạo riêng của Tạ Anh Thư. Điển hình trong số đó là bài Cho anh mượn son môi của em. Từ khởi ý là một bài thơ tình, tác giả đã khéo léo chuyển tứ sang một vấn đề khác hẳn, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đó là niềm cảm thông và chia sẻ với những số phận, những mảnh đời còn gặp nhiều khó khăn quanh ta: Cho anh mượn son môi của em/để anh tô hồng hết những nụ cười anh gặp trên đường/nụ cười chị lao công méo xệch nhận lương/nụ cười anh ba gác nhọc nhằn ghi - đông treo con cá/Cho anh mượn son môi của em/nụ cười thằng bé đánh giày đói lả/nhặt được ổ bánh mì/ai đó để lại trên bàn, chẳng mấy khi/Cho anh mượn son môi của em đi/anh tô lại tất cả những đôi má hồng đã bạc/cơn mưa đêm qua tan tác/cô gái bán hoa vắng khách ngủ vùi/Anh muốn mượn son môi của em/cho tất cả những nụ cười /lâu rồi/đã vắng niềm vui.

Một trong những thành công nữa của Thư là hầu hết các bài thơ đều rất giàu nhạc điệu, cách gieo vần cũng rất tự nhiên. Nếu như lối gieo vần truyền thống chú trọng chủ yếu vào vần bằng, thì Tạ Anh Thư đã làm được một việc ngược lại: các vần trắc bỗng trở nên ngọt ngào, dễ thương, xoắn luyến quấn quýt với nhau như những lứa đôi tình tự: Sân ga hoàng hôn/Người thiếu phụ lặng lẽ buồn/Chiếc khăn san che mặt/Tôi đã thấy đôi dòng nước mắt/Lăn trên gò má kiêu kì (Sân ga hoàng hôn), Có lẽ tôi phải nhắc nàng/Rằng mùi hương rất riêng/Chiếc áo hôm nọ nàng bỏ lại/Gió cứ đòi mà tôi thì tiếc mãi (Nhắc), Bóng của ai/phải chăng/của cô gái sáng nay/miệt mài/đan tay vào mái tóc/khi nước mắt/không còn/để khóc (Bóng).

Nếu như người ta vẫn gọi thơ là Nàng Thơ, ví thơ như một người con gái thì thơ của Tạ Anh Thư giống như một thiếu nữ đa cảm đa tình, nàng hay lui tới những khung cảnh thiên nhiên diễm mộng hoặc ngồi một mình lặng lẽ ở những nơi im vắng, nhìn không gian thay đổi theo từng mùa, nghe thời gian chảy trôi qua kẽ tay, nàng mang tình yêu nguyên trinh dâng hiến và đợi chờ nhung nhớ hoàng tử của lòng mình. Vậy thì làm sao người đọc có thể không mủi lòng cho được: Ngày đang phai trên môi em/Chàng hỡi sao chưa chịu tới/Tóc em gió cuốn rối bời/Công viên ngày tàn em đợi/Con nhện giăng tơ che lối/Con ong đã dẫn sai đường/Bồ câu tin thư đến muộn/Hay chàng đã chẳng còn thương?/Chiều buông cỏ cây giăng sương/Công viên một mình em đợi/Chàng ơi sao chưa chịu tới/Hay chàng đã chẳng còn thương? (Ngày đang phai trên môi em)

Cám ơn Tạ Anh Thư đã mang thơ đến cho đời. Người làm thơ bộc bạch giãi bày qua từng con chữ, lấy chữ để soi hồn mình. Và mỗi độc giả khi đọc thơ của Thư cũng giống như đứng trước một tấm gương soi, nhất định sẽ trông thấy những - điều - có - thật: Chiếc gương chẳng thấy/giọng nói em ngọt ngào/và tóc em từng mượt ra sao/Thế nên/em hãy soi vào/mắt anh/chiếc gương/trung thực nhất (Gương).

                                                       Hà Nội, ngày 11 tháng 4 năm 2017

Đỗ Anh Vũ – Viện Ngôn ngữ

Ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại Viện Văn học, đã diễn ra buổi ra mắt sách Thơ mới – Những chuyện chưa bao giờ cũ (Người đương thời Thơ mới bàn về các tác gia Thơ mới) của PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn. Cuốn sách dày 590 trang, được Nhà xuất bản Văn học và Công ti cổ phần zGroup - Nhãn sách Bão liên kết ấn hành. Tới dự buổi ra mắt sách có GS.TS. Trần Đình Sử, Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Yên, PGS.TS. Trịnh Bá Đĩnh, PGS.TS. Lưu Khánh Thơ, PGS.TS. Lê Dục Tú, PGS.TS. Vũ Thanh, PGS. TS. Trần Văn Toàn, PGS.TS. Phạm Xuân Thạch, TS. Phùng Ngọc Kiên, TS. Hoàng Tố Mai, TS. Phạm Thu Hương, TS. Cao Kim Lan, TS. Đỗ Hải Ninh, TS. Lê Hương Thuỷ, TS. Phạm Văn Ánh, TS. Đoàn Ánh Dương, TS. Trần Thiện Khanh, các vị quan khách, độc giả quan tâm đến Thơ mới cùng các đơn vị thông tấn, báo chí,…

Thơ mới - Những chuyện chưa bao giờ cũ là một cuốn sưu khảo công phu, cẩn trọng về mặt tư liệu. Tuy nhiên, cuốn sách này, như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, nó còn tạo nên những chuyển động ở phía tương lai. Chẳng hạn, từ đây, những nghiên cứu mới về Thơ mới được triển khai. Bên cạnh đó, việc tái nhận thức các thành tựu nghiên cứu đã có về Thơ mới cũng được đặt ra. Một vấn đề, theo tôi là rất quan trọng, từ không khí phê bình, sinh hoạt thơ ca thời Thơ mới, liên hệ đến câu chuyện của đương đại, chúng ta nhận thức được rằng, để có những thành tựu rực rỡ, “Một thời đại trong thơ ca” (Hoài Thanh) như thế, cần xây dựng có một môi trường tự do, dân chủ trong sáng tác, phê bình, tranh luận. Những ý kiến bàn luận của người đương thời Thơ mới về Thơ mới đã nhắc nhở các nhà thơ, các nhà phê bình, quản lý văn hoá hôm nay về một thái độ, một tinh thần hướng đến không gian văn hoá, văn nghệ sinh động, phong phú, đa dạng. Cuốn sách của Nguyễn Hữu Sơn, bởi thế, mang cái tên với những ý tưởng vượt lên trên giới hạn của một sưu khảo: Thơ mới – Những chuyện chưa bao giờ cũ (Người đương thời Thơ mới bàn về các tác gia Thơ mới). 

Phục dựng không khí sinh hoạt của Thơ mới giữa lòng thời đại là một khía cạnh quan trọng mà cuốn sách mang lại. Hơn thế nữa, cuốn sách mở về đương đại và tương lai trong một nỗ lực hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn tri thức, tư liệu của chúng ta hôm nay về Thơ mới. Với những người nghiên cứu, phê bình, và cả những nhà thơ đương đại, cuốn sách là một tư liệu quý, một kinh nghiệm hay cần tham khảo. Trong một chia sẻ tại buổi ra mắt sách, PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn cho biết ông đang ấp ủ những công trình khác liên quan đến Thơ mới. Hi vọng, như ông nói, vào dịp 90 năm phong trào Thơ mới (2022), 100 năm Thơ mới (2032), ông sẽ tiếp tục có những công trình bề thế về thời đại thi ca rực rõ này. 

Nguồn: http://baovannghe.com.vn/ra-mat-sach-tho-moi-nhung-chuyen-chua-bao-gio-cu-16867.html

Đã xuất bản

1. Những mái lều ẩn cư trong văn chương Đông Á (2013)

In màu, 176 trang, khổ 13,5 x 13,5.

Ngôi nhà là một trong những năng lực tích hợp vĩ đại nhất cho những suy tư, những hồi ức cũng như những giấc mộng của loài người (…). Không nhà, người ta sẽ là một sinh vật xiêu tán, bơ vơ. Ngôi nhà bảo vệ người ta trước mọi dông tố của trời đất và mọi bão táp cuộc đời. Ngôi nhà là thân thể và linh hồn của con người”.

(Gaston Bachelard)

***

Chúng tôi tuyển chọn trong sách này bốn tác phẩm về mái lều ẩn cư của bốn tác gia danh tiếng: Bạch Cư Dị (772 - 846, Trung Quốc), Kamo no Chomei (1155 - 1216, Nhật Bản), Lee Hwang (1501 - 1570, Korea), Nguyễn Hàng (thế kỷ XVI, Việt Nam). Bạn đọc có thể cảm nhận một truyền thống chung của văn chương thảo am Đông Á đã được tiếp nối và phát triển, sáng tạo độc đáo qua từng tác gia, từng nền văn học dân tộc.

(Phan Thị Thu Hiền)


2. Những kỳ nữ trong thơ ca Đông Á (2014)

In màu, 156 trang, khổ 13,5 x 13,5.

 

Sách này như một bộ tranh tứ bình thể hiện chân dung bốn kỳ nữ lừng danh trong văn chương Đông Á qua những đường nét, màu sắc thơ ca của chính họ: Tiết Đào (768 - 831, Trung Quốc), Ono no Komachi (825 - 900, Nhật Bản), Hwang Jin Yi (1506 – 1544, Korea), Hồ Xuân Hương (cuối tk XVIII - đầu tk XIX, Việt Nam).

***

Được say đắm do Nhan sắc, Yêu đương, họ là Đàn bà.

          Tài và Tình nâng họ thành Giai nhân tri âm tri kỷ với bậc Tài tử.

          Mọi truân chuyên kiếp Hồng nhan không làm gục ngã được họ, chỉ khiến họ trở về với bản chất cùng kiệt cũng là năng lực nguyên sơ của Nữ tính, bé nhỏ mà lớn lao, yếu đuối và mạnh mẽ, ngây thơ và minh triết, tận hiến, nỗ lực hết mình cho hạnh phúc và những giá trị nhân bản. 

          Không chịu tuân theo chuẩn mực và định kiến thế gian, họ trở thành Nàng tiên thắp sáng chiều kích huyền diệu của một xã hội, một cuộc sống xứng đáng với Con Người mà người nữ bình thường trong đời thường nhật không từng biết, không từng tưởng tới.

(Phan Thị Thu Hiền)


3. Huyền thoại lập quốc của các nước Đông Á (2014)

In màu, 168 trang, khổ 13,5 x 13,5, giá: 90.000 VND.

Huyền thoại lập quốc không chỉ tiết lộ không gian văn hóa, chủ thể văn hóa, thời gian văn hóa khởi nguồn một quốc gia mà còn cho thấy chân dung tinh thần dân tộc, sự tự ý thức của dân tộc.

***

Những huyền thoại lập quốc nổi tiếng trong cuốn sách này: Truyện Bàn Cổ (Trung Quốc), Truyện Dangun (Korea), Truyện hai vị thần Izanagi - Izanami và truyện nữ thần Amaterasu (Nhật Bản) Truyện Họ Hồng Bàng Việt Nam có thể cho thấy những điểm chung căn bản trong ý thức văn hóa - lịch sử của bốn nước Đông Á đồng thời phần nào làm nổi bật nét bản sắc riêng của từng dân tộc.

(Phan Thị Thu Hiền)

4. Thi tăng Đông Á (2017)

In màu, 344 trang, khổ 13,5 x 13,5, giá: 90.000 VND

Chính như Nghiêm Vũ viết trong Thương Lang thi thoại: “Thiền đạo duy tại diệu ngộ, Thi đạo dã tại diệu ngộ” (đạo Thiền cốt ở chỗ “diệu ngộ”, đạo của thơ cũng ở chỗ “diệu ngộ”). Điểm gặp gỡ và tương thông giữa Thiền và Thi là ở chỗ “ngộ”. Thơ từ khi thẩm thấu Thiền lý thì linh tính càng rõ hơn, Thiền từ khi có Thi ý thì ngày càng uyên áo hơn”.

(Mạnh Chiêu Nghị)

***

Cuốn sách này lựa chọn giới thiệu bốn thi tăng - danh tăng thuộc hàng tiêu biểu nhất trong văn học bốn nước: Hàn Sơn của Trung Quốc (691 - 793), Hye Sim (Tuệ Thầm, 1178 - 1234) của Korea, Huyền Quang (1254 - 1334) của Việt Nam, Ikkyuu (Nhất Hưu, 1394 - 1481) của Nhật Bản. Dẫu những xứ sở, những thời đại khác nhau, những cá tính, giọng điệu khác nhau, sáng tác của các thi tăng - danh tăng này đều thấm đẫm mỹ cảm thi ca và thiền vị giác ngộ, thanh lọc tâm hồn người đọc, thức tỉnh nơi mỗi người khao khát đạt đến sự tự tại vô ngại, trở về với thế giới nguyên sơ, với bản tâm thuần khiết của chính mình.

(Phan Thị Thu Hiền)

5. Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á (2017)

In màu, 296 trang, khổ 13,5 x 13,5, giá: 90.000 VND

Nó là ngôi sao quái dị nhưng mỹ lệ, nó sáng ngời và óng ánh như ngọc quý, nó kiều diễm như chân tay trắng nõn của mỹ nhân, nó có đường vân hoa diệu xảo như gấm dệt, có sắc xanh quánh của xương cổ xưa. Ngoài ra, nó còn có sự tĩnh lặng của đêm khuya, độ sâu thẳm của vực nước, lời than thở cảm khái nghẹn ngào…”

          Lời xưng tụng trên đây của học giả người Nhật Murakami Tomoyuki đối với Tiễn Đăng tân thoại (của Cù Hựu, Trung Quốc), về cơ bản, có thể dành cho cả Kim Ngao tân thoại (của Kim Si Seup, Korea), Truyền kỳ mạn lục (của Nguyễn Dữ, Việt Nam), Vũ nguyệt vật ngữ (của Ueda Akinari, Nhật Bản), mà nhất là những chuyện tình ma nữ trong các tác phẩm này. 

***

Cái kỳ ảo, dù chỉ là những mảnh vụn hay “dư ba” trong một câu chuyện, nó không thể chỉ được coi là bút pháp. Bởi mỗi chi tiết kỳ ảo đã là một đơn vị ngữ nghĩa tạo ra phản ứng đặc trưng của nhân vật lan toả tới người đọc: cảm giác mơ hồ, bất định trước sự đột nhập của một hiện tượng siêu nhiên.

(Đặng Anh Đào)

6. Thượng Hải – Tokyo – Hà Nội – Seoul trong văn chương Đông Á đầu thế kỷ XX (2017)

In màu, 366 trang, khổ 13,5 x 13,5, giá: 95.000 VND.

 

Văn chương sáng tạo nên những thực tại tưởng tượng về đô thị và đến lượt mình, biến chuyển của đô thị lại đổi thay những văn bản văn chương (…) Chủ nghĩa hiện thực lãng mạn và hài hước cho chúng ta nhìn sâu vào đô thị thương nghiệp, chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện đại khám phá đô thị công nghiệp, trong khi chủ nghĩa hậu hiện đại biểu hiện đô thị hậu hiện đại. Đô thị và văn chương có những lịch sử không thể tách rời.

(Richard Lehan)

***

          Không chỉ là văn chương, cuốn sách này dành cho những ai quan tâm đến ý nghĩa và bí ẩn của cuộc sống đô thị hiện đại phương Đông có thể đã được khải lộ qua hình ảnh Thượng Hải – Tokyo – Hà Nội – Seoul những năm đầu thế kỷ XX.

(Phan Thị Thu Hiền)

 

Sắp xuất bản

- Những hoàng đế - thi nhân Đông Á

- Đoản thi Đông Á

- Những chuyện tình văn nhân – ca nữ Đông Á

- Sân khấu mặt nạ ở Đông Á


Thi tăng Đông Á

LỜI NÓI ĐẦU

          Những nhà sư sáng tác thơ ca…

          Theo nghĩa rộng như vậy, thi tăng đầu tiên chính là Đức Phật - Sakya Muni. Trong những câu chuyện, những lời thuyết pháp của mình, Người thường xen vào hoặc cuối cùng đúc kết những thi kệ (gatha). Tuy mục đích chủ yếu không phải thơ mà là Chánh Pháp nhưng vẻ đẹp tư tưởng, cảm xúc, hình tượng, ngôn từ những thi kệ của Bậc Đại sư Giác ngộ vẫn chan chứa giá trị văn chương.         

          Khi mở rộng ảnh hưởng tới các nước châu Á, nhất là khu vực Bắc tông nơi Phật giáo tùy duyên mà hòa nhập, tiếp biến sâu xa với nền văn hóa nghệ thuật bản địa, truyền thống các nhà sư làm thơ tiếp tục hình thành và phát triển. Các nhà sư Đông Á phần nhiều sáng tác thơ chữ Hán, bên cạnh đó cũng dùng các thể thơ ca dân tộc như gasa, sijo (Korea), waka, haiku (Nhật Bản), thơ Nôm (Việt Nam)… Dần dà ngày càng nhiều những thi nhân - tăng sĩ có tên tuổi trong lịch sử văn học của các dân tộc. 

          Trung Quốc xưa kia đã có những tuyển tập đồ sộ tập hợp sáng tác của các thi tăng mà chỉ riêng đời Đường (618 - 907) và đời Tống (960 - 1279) đã hơn 600 vị[1].

          Korea thì căn cứ những tuyển tập gần đây do nhà sư Rodam Jeongan (Lộ Đàm Chánh Nhãn) biên soạn, các thi tăng tiêu biểu mà tác phẩm còn lại đến ngày nay, ít nhất cũng là 133 vị [Thời Tam Quốc và Silla thống nhất (57 TCN - 935): 35 vị; Thời Goryeo (918 - 1392): 34 vị; Thời Joseon (1392 - 1910): 64 vị][2].

          Ở Việt Nam, theo thống kê của Nguyễn Công Lý, số lượng thi tăng trong văn học cổ trung đại khoảng 100 vị [Trước khi nước nhà giành độc lập, tự chủ (từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ X): 25 vị; Thời Lý - Trần (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV): 44 vị); Thời Lê - Nguyễn (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX): 30 vị]. Tác giả văn học Phật giáo đời Lý chủ yếu là nhà sư (tỷ lệ 80%), còn đời Trần thì ít hơn (tỷ lệ 13%).

          Đối với Nhật Bản, trong phạm vi tư liệu chúng tôi bao quát được, chưa có số lượng cụ thể các vị thi tăng qua các thời đại. Chỉ biết rằng họ khá đông đảo và xuất hiện từ khá sớm. Từ giữa thế kỷ thứ VIII, tuyển tập Hán thi Kaifuusô (懐風藻, 751) đã có sự góp mặt của dòng thơ Phạn môn (梵門詩) với các nhà sư Dôyuu (Đạo Dung, ? - ?),  Dôji (ĐạoTừ, ? - 744), Benshô (Biện Chính,? - ?). Về sau, khá nhiều “thiền gia - thi sĩ" có  thi tập riêng như Ikkyuu (Nhất Hưu, 1394 - 1481), Saigyô (Tây Hành, 1118 - 1190), Guchuu Shuukyuu (Ngu Trung Chu Cập, 1323 - 1409), Gensei (Nguyên Chính, 1623 - 1668), Ryôkan (Lương Khoan, 1758 - 1831)…

          Gia tài thơ ca của các vị thi tăng qua bao thế kỷ đã đóng góp lớn lao cho văn học Phật giáo nói riêng, văn học cổ điển nói chung của các nước Đông Á.

          Có hạt giống từ Ấn Độ, tuy nhiên, chỉ đến Đông Á, Thiền tông mới thực sự nảy nở thành cái cây xanh tốt và rực rỡ trái hoa. Đến mức trong ngôn từ thông thường, nói “cửa thiền”, “hương thiền”… là nói chung Phật giáo. Các thiền sư chiếm tỷ lệ đáng kể trong đội ngũ thi tăng Đông Á mà ngay cả các tăng sĩ Tịnh Độ thì sáng tác thơ ca vẫn dễ dàng thẩm nhập vị thiền.      

          Quan hệ giữa thơ ca và thiền gắn bó theo những cách thức sâu sắc, nhuần nhuyễn, thậm chí, tương thông, chuyển hóa, hợp nhất, đồng nhất cùng nhau.     

  “Chính như Nghiêm Vũ viết trong Thương Lang thi thoại: “Thiền đạo duy tại diệu ngộ, Thi đạo dã tại diệu ngộ” (đạo Thiền cốt ở chỗ “diệu ngộ”, đạo của thơ cũng ở chỗ “diệu ngộ”). Điểm gặp gỡ và tương thông giữa Thiền và Thi là ở chỗ “ngộ”. Thơ từ khi thẩm thấu Thiền lý thì linh tính càng rõ hơn, Thiền từ khi có Thi ý thì ngày càng uyên áo hơn[3].        

          “Bình thường tâm thị đạo” nên bất cứ vật gì, sự gì trong vũ trụ, trong cuộc đời thường nhật đều có thể là đề tài cho các thi tăng cảm hứng, quán chiếu, suy tưởng trầm tư, chiêm nghiệm. Tương thông giữa thơ và thiền, ở ý nghĩa cốt lõi nhất, là niềm vui của khoảnh khắc bừng ngộ ánh sáng mới mẻ thức nhận đồng thời thực hiện toàn mãn bản chất như như trong vạn vật và trong chính tâm ta.

  Thơ với ý nghĩa như vậy không phải thơ trong những tiêu chí, quy cách thông thường. Thi tăng Hàn Sơn (Trung Quốc) từng láy lại hàm ý dí dỏm của Lão Tử: “… Hạ ngu văn đạo đại tiếu chi; bất tiếu bất túc dĩ vi đạo” [Kẻ hạ ngu nghe đạo, ha ha chê cười; không bị (kẻ ngu) chê cười, không đáng được gọi là đạo] khi gửi gắm quan niệm thi ca của mình:

                                       Độc ngã thi         

Hạ ngu độc ngã thi,

Bất giải khước xuy tiếu.

Trung dung độc ngã thi,

Tư lượng vân thậm yếu.

Thượng hiền độc ngã thi,

Bả trước mãn diện tiếu.

(…)

Kẻ ngu đọc thơ tôi,

Không hiểu lại chế nhạo.

Người thường đọc thơ tôi,

Nghĩ suy nói khó hiểu.

Bậc trí đọc thơ tôi,

Gương mặt ngời rạng rỡ[4].

          Thiền sư Ryokan (Nhật Bản) tự xem như đồ đệ của Hàn Sơn, khẳng định thơ mình thuộc loại “phi thơ” (Ngã thi thị phi thi) và nhấn mạnh rằng sứ mệnh của thơ là phải tỏ bày cho được tâm trong vạn vật:                                     

Phỉ nhiên kỳ mạc chương,

Gia chi dĩ tân kỳ.

Bất tả tâm trung vật,

Tuy đa phục hà vi.

Văn nhã làm mẫu mực,

Thêm thắt cho tân kỳ.

Bản tâm chẳng tỏ được,

Viết nhiều hỏi ích chi[5].

          Với các thi tăng vĩ đại, rốt cuộc, thơ ca đích thực trở thành con đường tu tâm kiến tính. Họ không chỉ để lại thơ ca trong lịch sử văn chương, họ còn mở những nẻo đường tâm linh.

          Cuốn sách này lựa chọn giới thiệu bốn thi tăng - danh tăng thuộc hàng tiêu biểu nhất trong văn học bốn nước: Hàn Sơn của Trung Quốc (691 - 793), Hye Sim (Tuệ Thầm, 1178 - 1234) của Korea, Huyền Quang (1254 - 1334) của Việt Nam, Ikkyuu (Nhất Hưu, 1394 - 1481) của Nhật Bản. Dẫu những xứ sở, những thời đại khác nhau, những cá tính, giọng điệu khác nhau, sáng tác của các thi tăng - danh tăng này đều thấm đẫm mỹ cảm thi ca và thiền vị giác ngộ, thanh lọc tâm hồn người đọc, thức tỉnh nơi mỗi người khao khát đạt đến sự tự tại vô ngại, trở về với thế giới nguyên sơ, với bản tâm thuần khiết của chính mình.

          Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc. Xin trân trọng cảm ơn các nhà nghiên cứu, các dịch giả mà chúng tôi tham khảo và trích tuyển bản dịch.

          Mặc dù đã rất cố gắng, công trình của chúng tôi hẳn là khó tránh khỏi những điểm bất toàn, kính mong được quý vị học giả cùng quý bạn đọc chỉ giáo.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017

Thay mặt các tác giả, dịch giả

Phan Thị Thu Hiền


MỤC LỤC

Lời mở

Phan Thị Thu Hiền

***

          Hàn Sơn (691 – 793)

Nguyễn Thị Bích Hải viết Tiểu dẫn, tuyển chọn và dịch

     Tuệ Thầm (1178 – 1234)

Phan Thị Thu Hiền viết Tiểu dẫn

Nguyễn Thị Bích Hải dịch

     Huyền Quang (1254 – 1334)

     Nguyễn Công Lý viết Tiểu dẫn

     Nguyễn Công Lý tuyển chọn (thơ do Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ, Đinh Văn Chấp, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Trung Thông, Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch dịch)

     Nhất Hưu (1394 – 1481)

     Nguyễn Nam Trân viết Tiểu luận và dịch.

     ***

Giới thiệu tóm tắt các tác giả của sách này

 


Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á

LỜI NÓI ĐẦU

          Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu), Kim Ngao tân thoại (Kim Si Seup), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Vũ nguyệt vật ngữ (Ueda Akinari) là những tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ trong văn học cổ điển của Trung Quốc, Korea, Việt Nam, Nhật Bản. Cuốn sách này tập trung chỉ vào những chuyện tình ma nữ mang tính cách đại diện và điển hình, mong muốn mở ra một hành trình thú vị đọc bốn tác phẩm từ góc nhìn loại hình và trong quan hệ văn học - văn hóa của khu vực Đông Á.  

          Như chính tên gọi của thể loại, truyền kỳ sử dụng yếu tố “kỳ”. Trong bài viết “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào giới thuyết hai tiền đề quan trọng của cái kỳ ảo bao gồm (a) Yếu tố siêu nhiên và (b) Một phản ứng lưỡng lự giữa cái thực và cái huyền hoặc của nhân vật và độc giả. Theo bà, “Cái kỳ ảo, dù chỉ là những mảnh vụn hay “dư ba” trong một câu chuyện, nó không thể chỉ được coi là bút pháp. Bởi mỗi chi tiết kỳ ảo đã là một đơn vị ngữ nghĩa tạo ra phản ứng đặc trưng của nhân vật lan toả tới người đọc: cảm giác mơ hồ, bất định trước sự đột nhập của một hiện tượng siêu nhiên.” [6]    Chính phản ứng lưỡng lự của nhân vật trước sự thâm nhập hiện tượng siêu nhiên vào thế giới trần tục, thường nhật tiếp tục lan tỏa tới những tưởng tượng, những ám thị, những diễn giải “lạ hóa” của độc giả tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc của văn chương kỳ ảo nói chung, truyện truyền kỳ nói riêng.  

          Hiện tượng siêu nhiên trong các chuyện tình ma nữ dựa trên sự tham gia của ma nữ vào quan hệ yêu đương với những người nam sống nơi dương thế. Type truyện này chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cả bốn tác phẩm. Tiễn đăng tân thoại gồm 21 truyện thì có đến 5 chuyện tình ma nữ – chiếm 23,8% (Ái Khanh truyện // Kim phượng thoa ký,  Mẫu đơn đăng ký, Đằng Mục túy du Tụ Cảnh viên ký, Lục y nhân truyện). Trong Kim Ngao tân thoại bản còn đến ngày nay gồm 5 truyện thì có 2 chuyện tình ma nữ – chiếm 40% (Lý Sinh khuy tường truyện // Vạn Phúc tự hu bồ ký). Với Truyền kỳ mạn lục, ta có 4 trong số 20 truyện – chiếm 20% (Khoái Châu nghĩa phụ truyện, Lệ Nương truyện // Mộc miên thụ truyện, Xương Giang yêu quái lục), còn Vũ nguyệt vật ngữ, 2 trong số 9 truyện thuộc đề tài này – chiếm 22,2 % (// Ngôi nhà trong đám cỏ tranh, Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu). Tỷ lệ chuyện tình ma nữ cao nhất trong Kim Ngao tân thoại (Korea), và khá tương đương nhau ở ba tác phẩm còn lại.       

          Trong type chuyện tình ma nữ, tiếp tục có thể nhận diện hai dạng thức cơ bản: (1) hồn ma người vợ tiếp tục quan hệ với người chồng còn sống, (2) hồn ma trinh nữ quyến rũ người nam còn sống. Trong danh sách liệt kê phía trên, ở mỗi tác phẩm, các chuyện dạng thức (1) được viết trước và ngăn cách bởi dấu // so với các chuyện dạng thức (2). Theo đó, số lượng chuyện của dạng thức (1) và dạng thức (2) ở Tiễn đăng tân thoại1/4; Kim Ngao tân thoại1/1; Truyền kỳ mạn lục2/2; Vũ nguyệt vật ngữ2/0. Một cách tương đối, ở Tiễn đăng tân thoại (Trung Quốc) chủ yếu là dạng thức (2) trong khi Vũ nguyệt vật ngữ (Nhật Bản) chỉ có dạng thức (1), Kim Ngao tân thoạiTruyền kỳ mạn lục thì quan tâm cả hai dạng thức đồng đều. 

          Những câu chuyện dạng thức (1) kể về đôi lứa, hầu hết xứng hợp nhau, hoặc được cha mẹ hai bên tác hợp hoặc tự do đến với nhau nhưng sau cũng được mẹ cha đồng ý. Hôn nhân hạnh phúc không bao lâu, người vợ sớm phải chịu cảnh đơn thân chiếc bóng do chồng đi làm quan (hoặc theo cha đi làm quan) ở địa phương khác, chồng buôn bán xa nhà, chồng chơi bời lêu lổng, chồng trăng hoa bội nghĩa… và nhất là vì chiến tranh, loạn lạc. Người vợ mất, có khi vì sầu khổ phát bệnh, nhưng nhiều hơn là trong hoàn cảnh bị quan chức ép uổng, bị giặc cưỡng hiếp, bị chồng gán nợ, đã kiên quyết giữ gìn tiết hạnh, thà chết chứ không chịu nhơ nhuốc. Người chồng tiếc thương (hoặc hối hận) được gặp lại “vợ” (có khi do ân phúc của một đấng siêu nhiên cảm động trước đức hạnh của nàng), biết là nàng đã mất nhưng vẫn cùng nhau ân ái mặn nồng trước khi hồn nàng mãi mãi trở về cõi âm. [Chỉ riêng truyện “Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu” (Nhật Bản) là một ngoại lệ, người chồng phản bội, trước sau không hối hận đã bị hồn ma người vợ trả thù một cách khốc liệt]. Qua sự tiếp tục motif đoàn tụ - ly tán từ thế giới thực sang thế giới phi thực, những câu chuyện dạng thức (1) làm nổi bật chủ đề về hạnh phúc gia đình và thân phận những người phụ nữ (tài sắc, đức hạnh) trong một xã hội loạn lạc, quan lại đè nén, thể chế gia trưởng áp chế, bủa vây…  

          Những câu chuyện dạng thức (2) kể về hồn ma người nữ lúc sinh thời chưa từng được nếm trải ái ân, tình cờ gặp được (hoặc cố ý mồi chài) người nam trẻ tuổi, còn độc thân hay mới góa vợ, đang buồn chán, cô đơn. Chàng được người ngoài mách bảo hoặc chính bản thân cũng ngờ ngợ nàng là ma nữ nhưng vẫn mê mải hoặc vẫn bị cuốn theo cuộc tình, không thể cưỡng lại. Có chuyện kết thúc khi hồn ma tan biến, chàng thương xót lo an táng chu đáo cho nàng, sau đó, không gắn bó cùng ai, lạnh lòng với việc thi cử, xuất gia tu hành, lên núi hái thuốc, bệnh mà mất hoặc đi đâu không rõ... Có chuyện kết thúc với việc chính người nam cũng chết, thành ma và đôi nam nữ tác yêu tác quái, cuối cùng bị đạo nhân tiêu diệt, khống chế. Qua sự hợp nhất lứa đôi giữa kẻ ở thế giới phi thực cùng người ở thế giới thực, những câu chuyện dạng thức (2) có chủ đề tương đối phức tạp với sự phân vân nhất định giữa cực này của thái độ phê phán, cảnh báo kẻ đam mê sắc dục và cực kia của tiếng nói thông cảm, đặt vấn đề về thân phận tình yêu cùng những ao ước nhân bản của con người trong một xã hội mà hệ tư tưởng khắc kỷ thống lĩnh nặng nề.

          Chủ đề nổi bật trong phần lớn các câu chuyện ma nữ ở cả hai dạng thức là khát khao gắn kết của những lứa đôi chịu cảnh ngộ biệt ly cũng như khát khao gắn kết giữa trai đơn gái chiếc. Có khi ma nữ và cũng có khi người nam đóng vai trò chủ động, tuy nhiên, ở những chừng mực và cách thức khác nhau, họ đã chia sẻ niềm đắm say tột cùng để đạt đến thăng hoa viên mãn trong một ái dục siêu vượt trên quyền lực vô cùng tối tăm, nghiệt ngã của cái chết, của cách biệt âm dương. Họ được cùng nhau một vài năm hay chỉ một vài ngày, thậm chí chỉ một đêm, nhưng để đánh đổi hạnh phúc hòa nhập ngắn ngủi đó, người nữ dám vi phạm những quy tắc, luật lệ của cõi âm, người nam có thể gạt bỏ mọi bổn phận xã hội, làm ngơ mọi thiệt thòi, hiểm nguy, thậm chí dám hy sinh cả sinh mệnh bản thân mình. Kết thúc các câu chuyện đều bi kịch: hoặc lứa đôi vĩnh quyết chia lìa, hoặc cả hai phải chết.  

           Hầu hết các tác phẩm làm ngơ những motif không - thời gian đặc thù của chuyện ma (đêm mưa gió dông bão, rừng hoang, động sâu, vực thẳm, mê cung, …) cũng như không cần đến những tạo hình quen thuộc về ma nữ Á Đông (áo trắng, tóc dài phủ kín khuôn mặt, những vận động kỳ quái…). Khí quyển của các câu chuyện, trái lại, mơ hồ huyền hoặc, liên tục chồng chập nhập nhòa và giằng giật phân xẻ giữa thế giới phi thực và thế giới thực, giữa cõi mộng ước và nơi chốn bị nguyền rủa, lầu các với gò hoang, mỹ nữ nồng nàn và thây ma lạnh lẽo, tiếng khóc cùng tiếng đàn ca, yến tiệc và giỗ chạp, kỷ vật tình yêu cùng vật tùy táng, … Nối kết hai thế giới sâu sắc nhất và ám ảnh nhất là những motif thể hiện ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo về Nghiệp báo – Luân hồi cũng như dấu ấn của những tín ngưỡng, phong tục, kiêng kỵ dân gian (về hồn ma vướng lụy trần; hồn ma trinh nữ vất vưởng lang thang, không được thờ cúng bên nhà mình lại chưa thuộc về gia đình nhà chồng nào cả; hồn ma nữ qua ân ái rút sinh lực từ người nam còn sống…). 

          Ngay cả điểm nhìn và giọng điệu các tác giả cũng đầy phức cảm. Một cách hiển ngôn, trong lời tựa, Cù Hựu tuyên ngôn quan điểm sáng tác “khuyến thiện trừng ác, ai cùng điếu khuất” (khuyên làm điều thiện, răn đừng làm điều ác, thương xót kẻ cùng quẫn, oan khuất); và bình luận cuối mỗi truyện, Nguyễn Dữ bộc bạch chủ trương “ngụ ý khuyến giới”, mong độc giả “xem thấy yêu nữ mê hoặc người, sẽ biết răn sợ trước sắc đẹp”… Tuy nhiên, một cách hàm ngôn, qua thế giới hình tượng, hòa vào lời nhân vật, các nhà văn thông tuệ, tài hoa, ôm ấp chí nguyện cao cả mà bị bỏ phí này đã không chỉ giáo huấn đạo đức Nho gia mà còn kín đáo gửi gắm những nỗi phẫn hận cùng niềm xót xa, cho bi kịch cá nhân đồng thời “cảm thời thương sự”, đớn đau về thể chế, về thời đại. Những lời thơ ma nữ, vì vậy mà khó có thể xác quyết từ nơi nào bỗng rưng rưng nhòa lệ “cảm hoài” của văn nhân. 

Giữ tròn trinh trắng trải bao niên,

Vẻ ngọc vùi chôn chốn cửu tuyền.

                                      (Kim Si Seup)

          Nói cho cùng, chính những ký thác ẩn mật ấy góp phần quan trọng làm nên cái mông lung, huyền bí “dĩ huyễn độ chân” trong những chuyện tình ma nữ của các tác phẩm truyền kỳ. Ở đó, đêm như giếng cổ, như hồ sâu, thao thức những ngôi sao xa ngái… 

          “Nó là ngôi sao quái dị nhưng mỹ lệ, nó sáng ngời và óng ánh như ngọc quý, nó kiều diễm như chân tay trắng nõn của mỹ nhân, nó có đường vân hoa diệu xảo như gấm dệt, có sắc xanh quánh của xương cổ xưa. Ngoài ra, nó còn có sự tĩnh lặng của đêm khuya, độ sâu thẳm của vực nước, lời than thở cảm khái nghẹn ngào[7]

          Lời tri kỷ trên đây của học giả người Nhật Murakami Tomoyuki (Thôn Thượng Tri Hành, 村上 知行, 1899 - 1976) đối với Tiễn Đăng tân thoại, về cơ bản, có thể dành cho cả Kim Ngao tân thoại, Truyền kỳ mạn lục, Vũ nguyệt vật ngữ, mà nhất là những chuyện tình ma nữ trong các tác phẩm này. 

          Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc. Xin trân trọng cảm ơn các nhà nghiên cứu, các dịch giả mà chúng tôi tham khảo và trích tuyển bản dịch.

          Mặc dù đã rất cố gắng, công trình của chúng tôi hẳn là khó tránh khỏi những điểm bất toàn, kính mong được quý vị học giả cùng quý bạn đọc chỉ giáo.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017

Thay mặt các tác giả, dịch giả

Phan Thị Thu Hiền

 


MỤC LỤC

Lời nói đầu

Phan Thị Thu Hiền

  1. 1.     Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1341-1427) (Trung Quốc)

Nguyễn Thị Diệu Linh viết Tiểu dẫn

Phạm Tú Châu dịch

     - Ái Khanh truyện (Chuyện nàng Ái Khanh)

     - Mẫu đơn đăng ký (Cây đèn mẫu đơn)

  1. 2.     Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (1435-1493 (Korea)

Lý Xuân Chung viết Tiểu dẫn

Jeon Hye Kyung (Toàn Huệ Khanh) và Lý Xuân Chung dịch

     - Vạn Phúc tự hu bồ ký (Chuyện chơi Hu bồ trong chùa Vạn Phúc)

     - Lý sinh khuy tường truyện (Chuyện Lý sinh ngó trộm qua tường)

  1. 3.     Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) (Việt Nam)

Nguyễn Hữu Sơn viết Tiểu dẫn

Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch

     - Khoái Châu nghĩa phụ truyện (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu)

     - Mộc miên thụ truyện (Chuyện cây gạo)

  1. 4.     Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari (1734-1809) (Nhật Bản)

Đoàn Lê Giang viết Tiểu dẫn và dịch

     - Asagi gayado” (Ngôi nhà trong đám cỏ tranh)

     - Kibitsu no kama (Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu)

5. Suy nghĩ thêm về Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari và thử so sánh với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

Đoàn Lê Giang

* Giới thiệu vắn tắt các tác giả của sách này.


Thượng Hải – Tokyo – Hà Nội – Seoul trong văn chương Đông Á đầu thế kỷ XX

LỜI NÓI ĐẦU

          Quan hệ của văn chương với đô thị cổ xưa và sâu sắc hơn người ta tưởng. Chỉ riêng thời hiện đại, Phương Tây đã có không ít công trình nghiên cứu cũng như các hợp tuyển liên quan đề tài. Không thể kể hết các nhà văn lớn - Daniel Defoe, Charles Dickens, William Wordsworth, Thomas Stearns Eliot, Emile Zola, Bram Stoker, Rider Haggard, Joseph Conrad, James Joyce, Theodore Dreiser, Francis Scott Fitzgerald, Raymond Chandler,... - qua những sáng tác bất hủ, từng lưu dấu thành phố của họ, rực sáng hay tối tăm, ngọt ngào hay cay đắng, trong lòng bao thế hệ cư dân thành phố, và cả bao thế hệ độc giả từ những xứ sở xa lạ chỉ sống với thành phố qua trang sách. Richard Lehan từng tổng kết rất chí lý.  

                   Văn chương sáng tạo nên những thực tại tưởng tượng về đô thị và đến lượt mình, biến chuyển của đô thị lại đổi thay những văn bản văn chương (…) Chủ nghĩa hiện thực lãng mạn và hài hước cho chúng ta nhìn sâu vào đô thị thương nghiệp, chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện đại khám phá đô thị công nghiệp, trong khi chủ nghĩa hậu hiện đại biểu hiện đô thị hậu hiện đại. Đô thị và văn chương có những lịch sử không thể tách rời.”[8].

          Đó là văn chương với đô thị hiện đại phương Tây.

          Thế còn phương Đông nói chung, các nước Đông Á nói riêng?

          Cuốn sách này giới thiệu bốn thành phố nổi tiếng ở bốn nước Trung Quốc – Nhật Bản – Việt Nam – Korea qua những sáng tác văn xuôi tiêu biểu đầu thế kỷ XX. Thượng Hải – Tokyo – Hà Nội – Seoul, mỗi thành phố với cá tính riêng, độc đáo đồng thời lại chia sẻ những đặc điểm chung mang bản sắc của khu vực Đông Á đang chuyển mình sang hiện đại, có phần khác biệt với phương Tây cùng thời.  

          Ở phương Tây, những đô thị cận đại ra đời trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản, được hậu thuẫn bởi cách mạng công nghiệp, đã hình thành, phát triển và thay thế chủ nghĩa phong kiến suy tàn. Trong khi đó, ở Đông Á, ngoại trừ Nhật Bản đang cải cách mạnh mẽ, chủ động “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, tiến vượt phương Tây”, đối với ba nước còn lại, ảnh hưởng văn minh phương Tây và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều theo bước những thế lực thực dân. Đó là Thượng Hải với những tô giới (từ năm 1846) và khu định cư quốc tế (của Anh, Pháp, Mỹ - được thành lập tháng 12 năm 1863, đến tháng 12 năm 1941 bị Nhật chiếm đóng). Đó là Hà Nội dưới ách thực dân Pháp (1884 – 1945) và Seoul dưới ách thực dân Nhật (1910 – 1945). Ánh sáng “khai hóa” đổi đời diễn ra cùng với sự vong thân: Seoul lúc đó bị Nhật đổi tên từ Hanseong thành Gyeongseong, Hà Nội trở thành “Tiểu Paris của phương Đông”, Thượng Hải trở nên nổi tiếng với những biệt danh “Nữ hoàng phương Đông” và “Gái điếm châu Á”…   

          Tướng quân Tokugawa Ieyasu rồi Thiên Hoàng Meiji, khoảng hơn hai thế kỷ, đã dùng tài năng lỗi lạc của họ phù phép biến bản doanh Edo của chính quyền Mạc phủ thành Tokyo, một trong những thành phố lớn nhất và phát triển nhanh nhất thế giới, biểu tượng cho Nhật Bản “đi sau về trước” ở phương Đông. Trong khi đó,  những gì “công nghiệp”, “hiện đại” ở ba thành phố kia hầu như chỉ mang tính “nhập khẩu” và cục bộ. Một Thượng Hải bỗng chốc thành hải cảng sầm uất buôn bán với nước ngoài vẫn không cách xa những làng chài hẻo lánh từng là hình ảnh của nó trước đấy chưa đầy trăm năm. Hà Nội và Seoul, một mặt hiện rõ đứt gãy giữa khu vực phục vụ chính quyền thực dân quy tụ những công trình đô thị hiện đại thoáng đạt, tiện nghi, thẩm mỹ, sang trọng với phần còn lại cổ kính của kinh đô theo truyền thống phong kiến phương Đông, mặt khác, lại liên tục tiếp nối khoảng xưa cũ này tới những vùng nông thôn còn lạc hậu, nghèo nàn lân cận.

          Dòng người từ nông thôn đổ về thành phố làm dân số đô thị tăng vọt. Và không chỉ dân nhập cư mà ngay cả những cư dân gốc của thành phố xưa cũng phải gấp rút tập tành để sống sót, thích ứng, hưởng thụ cuộc sống đô thị hiện đại, về cơ bản, vẫn còn xa lạ với họ. Sự phức tạp của thành phố hiện ra qua mức độ đa dạng càng lúc càng tăng trong đám đông đô thị ngày đêm lưu chuyển, tụ tập qua những nẻo phố phường - đường xá, vỉa hè, quảng trường, xe hơi, tàu điện, những cửa tiệm, quán xá, vũ trường, những con phố kỹ nữ, ngõ hẻm, gầm cầu, những xóm nghèo ngoại ô… Tất cả thành những khách bộ hành (flâneur) trên đường mưu sinh hoặc / và kiếm phương cách hiện thực hóa giấc mơ khẳng định, nâng cao bản ngã. Rất nhiều gặp gỡ, tiếp xúc nhưng đôi khi tiền bạc và cạnh tranh vị kỷ có thể biến quan hệ nhân sinh thành những trao đổi giao dịch sòng phẳng, cấp thời; hoặc đơn giản chỉ là nhịp điệu gấp gáp của đô thị có thể khiến người ta dễ dàng trôi qua, vuột mất nhau. Kể cả những người tìm kiếm được cho mình cơ hội, vận may nơi đô thị, kể cả những người hăm hở tham gia các “lễ hội dân gian hiện đại” của nó, khuôn mặt dường như cũng vẫn phảng phất đâu đó nét mệt mỏi, ưu tư. Không hiếm kẻ đơn độc, với những bước lang thang vô định, vô mục đích cho đến khi mệt mỏi ngã vào nơi trú ngụ nào đó, như tổ kén chật chội mà vẫn bất an và vẫn không đúng nghĩa không gian của riêng mình, không gian của chính mình.         

          May mắn, thành phố vẫn tiếp tục giữ vai trò trung tâm tri thức, nghệ thuật. May mắn, dòng người nơi đô thị có những khách bộ hành trở thành nhà văn của nền văn học mới (“thơ Mới”, “tiểu thuyết mới”). Họ trải nghiệm, cảm hứng, suy tư không chỉ khung cảnh mặt tiền phồn hoa, không chỉ đầu não duy lý của văn minh đô thị mà lắng nhịp đập sâu thẳm trong trái tim nó, đồng cảm sẻ chia với những thân phận cùng cực lầm than, lặn vào những chiều kích ẩn giấu nơi “đáy phố”, nghe rì rầm dòng sông văn hóa - lịch sử thâm trầm vẫn miên viễn chảy trôi, thao thức không nguôi trước tiếng gọi của thiên nhiên vĩnh cửu bị những kiến trúc nhân tạo khuất lấp… Và nhất là trăn trở về con người, những nguồn năng lượng cá nhân, những nguồn năng lượng tinh thần tuôn chảy vào thành phố sẽ biến chuyển, sẽ được vun bồi ra sao?

          Trong số đó, Lưu Niệt Âu, Trương Ái Linh (Trung Quốc), Akutagawa Ryuunosuke, Nagai Kafuu, Yokomitsu Riichi (Nhật Bản), Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam (Việt Nam), Park Tae Won, Lee Sang (Korea) đã cống hiến những cá tính văn chương đa dạng, cả hiện thực, lãng mạn lẫn siêu thực. Đô thị qua sáng tác của họ hiện ra như xứ sở địa đàng lại như nơi chốn hàm chứa hiểm họa, càng văn minh càng hoang dã, trật tự lẫn xô bồ, nhân bản và phi luân… Ngòi bút của họ ý thức tính tất yếu, tính cần thiết của chiều thời gian tiến hóa, đồng thời man mác hoài nhớ (nostalgia), quy hồi về những giá trị cổ xưa lâu bền có lẽ đang dần hao khuyết. Không hẹn mà gặp gỡ, họ chia sẻ mộng ước, âu lo, niềm hy vọng về mối hòa điệu giữa những nhu cầu của con người, mối hòa điệu con người với con người, con người với tự nhiên có thể đảm bảo cho hạnh phúc nhân loại nơi đô thị.   

          Cuốn sách này gom giữ những bức chân dung thành phố mang sự nhạy cảm đô thị, tâm huyết đô thị, lương tri đô thị của họ.           

          Không chỉ là văn chương, cuốn sách này dành cho những ai quan tâm đến ý nghĩa và bí ẩn của cuộc sống đô thị hiện đại phương Đông có thể đã được khải lộ qua hình ảnh Thượng Hải – Tokyo – Hà Nội – Seoul những năm đầu thế kỷ XX.

          Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc.

          Mặc dù đã rất cố gắng, công trình của chúng tôi hẳn là khó tránh khỏi những điểm bất toàn, kính mong được quý vị học giả cùng quý bạn đọc chỉ giáo.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017

Thay mặt các tác giả, dịch giả

Phan Thị Thu Hiền

 

 

 

MỤC LỤC

Lời nói đầu

      Thượng Hải

      Lưu Niệt Âu và giấc mộng mang tên “Thượng Hải”

               - Trò chơi

                - Hai kẻ vô cảm với thời gian

      Trương Ái Linh – Người tình của Thượng Hải

               - Giới nghiêm

Tokyo

      Akutagawa Ryuunosuke và dòng sông thành phố tuổi hoa niên

               - Nước dòng sông Cái

      Nagai Kafuu với những xóm nghèo ven đô

               - Truyện lạ bờ Đông

          Yokomitsu Riichi cùng sự hư ảo của phố phường

               -  Đáy phố            

Hà Nội

      Vũ Trọng Phụng: Hà Nội hoa lệ và lầm than

               -  Chống nạng lên đường

                -  Cơm thầy cơm cô

           Thạch Lam: Hà Nội – Chất thơ từ sự chồng xếp thời gian

               - Hà Nội băm sáu phố phường

Seoul (Gyeongseong)

      Park Tae Won, tiểu thuyết gia đi bộ của Gyeongseong

               -  Một ngày của nhà văn Gubo

      Lee Sang từ những nẻo đường mệt mỏi

               -  Mùa thu đi dạo

                -  Đôi cánh

Cảm thức đô thị trong thơ cận đại Đông Á: Gyeongseong và Hà Nội những năm 1930-1940       

Giới thiệu vắn tắt về các tác giả, dịch giả của sách này.

 

 


[1] Dẫn theo Nguyễn Thị Bích Hải, bài viết về Hàn Sơn in trong cùng cuốn sách này.

[2] Nhà sư Rodam Jeongan (Lộ Đàm Chánh Nhãn) tốt nghiệp Đại học Tăng già Haein (Hải Ấn tự) ở Gangwon và tốt nghiệp Đại học Tăng già Trung ương, hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Phật giáo Hàn Quốc ở Seoul, Tổng biên tập tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Phật giáo. Ba tuyển tập thi tăng do ông biên soạn và chú giải bao gồm: (1) Thi tăng của Hàn Quốc: thời Goryeo. NXB. Goun, 2006; (2) Thi tăng của Hàn Quốc: thời Tam Quốc. NXB. Văn hóa nghệ thuật Phật giáo, 2007; Thi tăng của Hàn Quốc: thời Joseon. NXB. Tào Khê tông, 2014.

[3]Mạnh Chiêu Nghị: “Thiền và thơ chữ Hán ở Korea, Nhật Bản, Việt Nam”. Lưu Hồng Sơn dịch.

[4]Nguyễn Thị Bích Hải dịch.

[5]Nguyễn Nam Trân dịch.

[6] TC Sông Hương số 210 – 08/2006.

[7] Dẫn theo Trần Ích Nguyên (Phạm Tú Châu, Trần Băng Thanh, Nguyễn Thị Ngân dịch) 2000: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục. NXB Văn học.

[8] Richard Lehan 1997: The City in Literature: An Intellectual and Cultural History. University of California Press. p. xv, p. 289.

Trong thời buổi thơ ca là một mặt hàng “xa xỉ” trong đời sống văn hóa người Việt, thơ ca không còn chỗ trống để trưng bày trên kệ sách ở các nhà sách, thơ được từ chối khéo đến lạnh lùng, tàn nhẫn: “Kệ tôi không còn chỗ trống cho thơ” thì tập thơ  "Tôi là một kẻ khác”- Thơ giao lời kể và thơ tượng quẻ , tác giả Nhật Chiêu, NXB VH-VN 2015  như  một thiên thạch rơi xuống bầu thơ Việt Nam.

Nó vừa đương đại, vừa hoang sơ đến lạ.

            1. Hợp tuyển văn học dân gian Hàn Quốc

            Chủ biên: Phan Thị Thu Hiền

            Các dịch giả:  Cho Myeong Sook, Vương Thị Hoa Hồng, Trần Thị Bích Phượng, Phan Thị Thu Hiền, Trần Hải Yến, Nguyễn Thị Hiền, Vũ Thị Thanh Tâm, Lê Hiền Anh, Nguyễn Trung Hiệp,Nguyễn Xuân Thùy Linh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

            NXB. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh 2017.

            Sách bìa cứng, 544 trang, khổ 15,5 x 23.

            Giá: 160.000 VND.

 “Hàn Quốc là đất nước có truyền thống văn chương phong phú và văn chương đóng một vai trò quan trọng trong xã hội. Hơn 6.000 tuyển tập của các nhà văn từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX còn lại đến ngày nay, mặc dù đã qua bao cuộc chiến tranh cùng thảm họa thiên nhiên. Hàn Quốc cũng có truyền thống văn học truyền khẩu phong phú những huyền thoại và những khúc dân ca. Trong xã hội Hàn Quốc đương đại, bất chấp sự phát triển điện ảnh và truyền hình, phần đông người Hàn vẫn quan tâm, hứng thú nồng nhiệt với văn chương. Nhận thức điều đó thật sự quan trọng nếu chúng ta muốn có hiểu biết toàn diện, quân bình về những giá trị văn học cũng như con người và văn hóa xứ Hàn.”

Kim Hunggyu

***

Đây là lần đầu tiên một hợp tuyển công phu về văn học dân gian Korea được xuất bản ở Việt Nam. Nhóm soạn giả có kinh nghiệm nghiên cứu và dịch thuật đã tuyển chọn, giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu, hấp dẫn trong kho tàng truyện kể dân gian, tục ngữ, thơ ca dân gian, sân khấu dân gian Korea. Độc giả có thể tìm thấy ở đây nhiều gần gũi, tương đồng sâu sắc về truyền thống giữa hai dân tộc Việt và Hàn đồng thời khám phá những nét riêng độc đáo, thú vị phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như tâm hồn, khát vọng bao đời của con người trên bán đảo Hàn.

PGS. Chu Xuân Diên

Khoa Văn học

Trường ĐHKHXH&NV- ĐH Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

2. Hợp tuyển văn học cổ điển Hàn Quốc

            Chủ biên: Phan Thị Thu Hiền

            Các dịch giả: Jeon Hye Kyung, Bae Yang Soo, Nguyễn Thị Bích Hải, Trần Thị Bích Phượng, Phan Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hiền, Lý Xuân Chung, Đoàn Lê Giang, Vũ Thị Thanh Tâm, Nguyễn Trung Hiệp.

            NXB. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh 2017.

            Sách bìa cứng, 656 trang, khổ 15,5 x 23.

            Giá: 190.000 VND.

Hàn Quốc là đất nước có truyền thống văn chương phong phú và văn chương đóng một vai trò quan trọng trong xã hội. Hơn 6.000 tuyển tập của các nhà văn từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX còn lại đến ngày nay, mặc dù đã qua bao cuộc chiến tranh cùng thảm họa thiên nhiên. Hàn Quốc cũng có truyền thống văn học truyền khẩu phong phú những huyền thoại và những khúc dân ca. Trong xã hội Hàn Quốc đương đại, bất chấp sự phát triển điện ảnh và truyền hình, phần đông người Hàn vẫn quan tâm, hứng thú nồng nhiệt với văn chương. Nhận thức điều đó thật sự quan trọng nếu chúng ta muốn có hiểu biết toàn diện, quân bình về những giá trị văn học cũng như con người và văn hóa xứ Hàn.”

Kim Hunggyu

***

Được các nhà nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc thực hiện với tính chuyên nghiệp rất cao, hợp tuyển này là công trình công phu nhất, dày dặn nhất từ trước đến nay ở nước ta, giới thiệu những gương mặt văn học sáng giá nhất, những tác phẩm tinh hoa nhất của văn học cổ điển Korea. Công trình đưa văn học Hàn đến gần hơn với những ai quan tâm, yêu mến văn hóa của xứ sở này. 

PGS.TS. Đoàn Lê Giang

Trưởng Khoa Văn học

Trường ĐHKHXH&NV - ĐH Quốc gia Tp. HCM

3. Giáo trình Văn học Hàn Quốc

            Tác giả: Phan Thị Thu Hiền (chủ biên) – Nguyễn Thị Hiền

            NXB. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh 2017.

            Sách 512 trang, khổ 15,5 x 23.

            Giá: 150.000 VND.   

  “본 저서는 베트남의 한국문학 전공자와 지역문학 전공자가 편찬한 베트남 내 최초의 한국문학 교재로서 상고시대부터 현대에 이르기까지 한국에서 발생한 문학작품을 거시적인 안목으로 훌륭하게 서술하고 있습니다. 그러므로 본 교재가 베트남 내 한국학과 한국어 교육의 수준을 한 단계 높이고, 더 나아가 한국과 베트남 양국의 우호 증진과 상호협력에 크게 기여할 것이라 확신합니다”.

호치민시 한국어교육원장 김태형

Quyển sách này là giáo trình Văn học Hàn Quốc đầu tiên tại Việt Nam do hai học giả là chuyên gia nghiên cứu văn học Hàn Quốc và văn học khu vực biên soạn. Là một công trình xuất sắc, được biên soạn công phu, cuốn giáo trình giới thiệu một cách bao quát văn học Hàn Quốc từ khởi thủy cho đến hiện đại. Với ý nghĩa đó, giáo trình này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ Hàn và Hàn Quốc học tại Việt Nam, xa hơn nữa là góp phần to lớn vào sự hợp tác song phương và tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc.                                            

                                    Kim Tae-hyung

            Viện trưởng Viện Giáo dục Ngôn ngữ Hàn Quốc tại TP Hồ Chí Minh

***

Giáo trình Văn học Hàn Quốc của hai tác giả Phan Thị Thu Hiền và Nguyễn Thị Hiền được biên soạn hết sức công phu, cẩn trọng, thể hiện quan điểm lịch sử, tinh thần của văn học so sánh, làm nổi bật những thành tựu, đóng góp cơ bản của văn học Hàn trong phối cảnh khu vực. 

Đây là một ấn phẩm hết sức bổ ích không chỉ với tư cách là một giáo trình phục vụ giảng dạy đại học, mà còn là một cuốn sách hay giới thiệu về văn hoá, văn học Korea cho công chúng độc giả, bổ sung và nâng cấp “làn sóng văn hóa Hàn” ở Việt Nam.

PGS.TS. Trần Thị Phương Phương

Trưởng BM Văn học nước ngoài, Khoa Văn học

 Trường ĐHKHXH&NV- ĐH Quốc gia Tp HCM  

4. Dạo bước vườn văn Hàn Quốc

            Tác giả: Phan Thị Thu Hiền

            NXB. Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh 2017.

            Sách 520 trang, khổ 15,5 x 23.

            Giá: 140.000 VND.

Quan điểm chung cho rằng có thể hiểu được hành xử truyền thống, thế giới quan, cảm thức thẩm mỹ và cái nhìn cảm xúc của một cộng đồng thông qua văn chương mà họ sáng tạo và phát triển là đặc biệt thích hợp với văn chương Hàn Quốc (…). Do vậy, tìm hiểu văn chương Hàn Quốc trở thành một hành trình bổ ích giúp chúng ta khám phá những giấc mộng và nỗi lo âu, vinh quang và thất bại, niềm vui và nỗi buồn của người Hàn qua các thời đại

Kim Hunggyu

***

Một đại tiệc văn chương với rất nhiều sơn hào hải vị, cùng không ít món bình đạm, thanh tao.

 Cuốn sách này chắc chắn mang đến cho bạn đọc những xúc cảm ngọt ngào, những suy tư sâu sắc và cả những ngạc nhiên thú vị về nền văn học đậm đà bản sắc của xứ Hàn”.

PGS.TS. Nguyễn Đình Phức

Trưởng Khoa Ngữ văn Trung Quốc

Trường ĐHKHXH&NV - ĐH Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

5. Văn học cổ điển Hàn Quốc – Tiến trình và bản sắc (Chuyên khảo)

            Tác giả: Phan Thị Thu Hiền

            NXB. Khoa học Xã hội 2017.

            Sách 484 trang, khổ 15,5 x 23.

"한국 고전문학 - 발전과정과 정체성"은 한국문학의 중요한 단계에 대해 전면적이고 정제된 시각으로 신중하면서도 공을 많이 쏟은 전문 연구서이다.

학제간 연구방법으로 문화학- 문학으로의 접근 방향을 선택한 것은 큰 장점이며, 집필자는 어렵고 복잡한 많은 문제를 분석하고, 능숙하게 설명하고 있으며, 그 중에서도 한국 고전문학의 정체성과 발전과정에 관해 한국 학계에서 논쟁을 일으키고 있는 문제들에게 대해서 잘 설명하고 있다.

이 책은 집필자의 해박한 지식과 모범적인 글쓰기로 인해 아주 흥미를 끈다”.

Đây là một chuyên khảo công phu và cẩn trọng thể hiện cái nhìn toàn diện, tinh tế về một giai đoạn quan trọng của văn học Korea.

Sự lựa chọn hướng tiếp cận văn hóa học - văn học cùng một số phương pháp liên ngành là ưu thế để nhà nghiên cứu phân tích và diễn giải thấu đáo nhiều vấn đề khó và phức tạp, trong đó, có những vấn đề từng gây tranh luận trong học giới Hàn Quốc về tiến trình và bản sắc của văn học cổ điển Korea. Công trình hấp dẫn còn bởi một văn phong chuẩn mực, trong sáng và rất uyển chuyển của tác giả.

GS. TS. Bae Yang Soo

Trưởng Khoa Tiếng Việt

Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Quốc gia Busan, Hàn Quốc

***

Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia thuộc khu vực văn minh Đông Á nhưng sự giao lưu về văn hóa và văn học chưa tương xứng với giao lưu về kinh tế, thương mại, du lịch… Thật nghịch lý khi nhiều người dân của hai nước chỉ mới hiểu nhau qua lăng kính của hai cuộc chiến tranh chia đôi lãnh thổ ở hai vĩ tuyến 17 và 38. Những năm gần đây nền văn học hai dân tộc này từng bước kết nối để thông hiểu nhau từ hiện đại và dần đi sâu về truyền thống. Chuyên khảo Văn học cổ điển Hàn Quốc – tiến trình và bản sắc của PGS. TS. Phan Thị Thu Hiền là một đóng góp đáng trân trọng vào việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Hàn trong bối cảnh giao lưu và hợp tác ngày càng phát triển, từ chỗ đứng của một nhà văn hóa học vừa coi trọng căn cước dân tộc, vừa đề cao giá trị của “cái khác” mà ta cần tiếp thu, học hỏi.

GS. TS. Huỳnh Như Phương

Khoa Văn học

Trường ĐHKHXH&NV - Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

 Tựa Thơ trắng của La Mai Thi Gia được lấy từ cảm hứng ý tưởng của nữ sĩ người Pháp Hélène Cixous (bà sinh ra ở Algeria năm 1937). “Dòng chữ trắng” (L’Encre Banche, The white ink) là dụng ngữ nỗi tiếng của bà trong bài viết rất có giá trị mang tên Tiếng cười của Medusa (Le Rire de la méduse) ấn hành năm 1975, 1976. Trong bài viết này bà nói: “Bao giờ cũng thế, bên trong người phụ nữ luôn luôn là một chút tốt lành của dòng sữa mẹ. Nàng viết bằng chữ trắng”.

Page 1 of 4

Thông tin truy cập

37752630
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
7677
9912
37752630

Thành viên trực tuyến

Đang có 509 khách và không thành viên đang online