LỜI NÓI ĐẦU

Năm 2017 đã qua đi, mang theo một năm bận rộn của các giảng viên, các nhà nghiên cứu ở các chi hội cơ sở của Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP.Hồ Chí Minh. Một năm hội thào, nghiên cứu, giảng dạy….Đó là hội thảo về giảng dạy và nghiên cứu văn học ở khoa Ngữ văn (Trường Đại học Sư phạm TP.HCM); Hội thảo về nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ ở Quảng Ngãi, Hội thảo về giao lưu văn hóa phương Đông ở khoa Văn học, trường Đại học KHXH và NV (ĐHQG TP.HCM). Năm nay cũng là năm mà chương trình, sách giáo khoa ngữ văn mới được triển khai biên soạn và chuẩn bị áp dụng, một chương trình mà các thầy cô vừa mong đợi vừa có chút e dè, lo lắng. Trong bối cảnh ấy, niên san Bình luận văn học của Hội NC&GD VH hợp tác với trường Đại học Sài Gòn ra đời và đang đến tay bạn đọc.

Mục “Tiêu điểm” năm nay dành cho 3 sự kiện lớn: thứ nhất, chuẩn bị cho chương trình giáo dục phổ thông mới (bài Tiếp thu lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới của PGS.TS.Bùi Mạnh Hùng); thứ hai, kỷ niệm 105 ngày sinh nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ (với báo cáo đề dẫn của PGS.TS. Đoàn Lê Giang và một tham luận có tính khái quát cao của PGS.TS. Nguyễn Thành Thi); thứ ba, kỷ niệm 130 năm ngày ra đời của cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học quốc ngữ Việt Nam (bài viết của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân). Mục “Chân dung nhân vật” năm nay dành để kỷ niệm sinh nhật thứ 80 của GS. Nguyễn Lộc, nguyên Phó Chủ tịch Hội NC&GD VH TP.HCM (bài Giáo sư Nguyễn Lộc với những thành tựu nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam và về Nguyễn Du và Truyện Kiều của PGS.TS. Nguyễn Công Lý).

Các chuyên mục thường xuyên Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và văn học nước ngoài, Văn học - Nhà trường, Nhìn ra thế giới dành « đất » để cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh công bố những công bố nghiên cứu mới nhất của mình. Trong số các vị ấy, có nhiều vị là nhà nghiên cứu có tên tuổi, những chuyên gia trong lĩnh vực hẹp của mình : TS. Thích Phước Đạt, TS. Thích Hạnh Tuệ,  PGS.TS. Trần Thị Phương Phương, PGS.TS. Phạm Thị Phương, PGS.TS. Đinh Phan Cẩm Vân, PGS.TS. Trần Lê Hoa Tranh, TS.Phan Thu Vân, TS. Lê Thị Diệu Hà, TS. Phan Mạnh Hùng, TS. Nguyễn Đức Thăng, nhà nghiên cứu Chu Dĩnh (Trung Quốc)… Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu đã dành bài viết có chất lượng cao nhất cho niên san của Hội.

Tập san hoàn thành, Ban biên tập trân trọng cảm ơn Giáo sư Chủ tịch hội – thầy Trần Hữu Tá, mặc dù sức khỏe không tốt lắm, thầy vẫn cho ý kiến chỉ đạo, theo dõi, khuyến khích Ban biên tập làm tốt niên san. Trân trọng cám ơn các giảng viên của khoa Văn học (ĐHKHXH và NV TP.HCM): PGS.TS.Trần Thị Phương Phương, ThS. Đào Thị Diễm Trang, ThS.Nguyễn Thị Phương Thúy đã biên tập phần tiếng Anh; PGS.TS.Trần Lê Hoa Tranh, TS. Phan Mạnh Hùng, ThS.Hồ Khánh Vân, ThS.Lê Thanh- Vy đã biên tập phần tiếng Việt. Trân trọng cám ơn Ban biên tập Tạp chí Đại học Sài Gòn đã đọc duyệt lần cuối, NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM đã giúp đưa niên san đến tay bạn đọc.

Ban Biên tập xin gửi lời chúc sức khỏe và chúc mừng năm mới đến toàn thể quý vị Hội viên của Hội, độc giả niên san và bạn bè gần xa: năm mới sức khỏe, hạnh phúc và sáng tạo.

                                                                

BAN BIÊN TẬP

 

MỤC LỤC

BÌNH LUẬN VĂN HỌC – NIÊN SAN 2017

Lời nói đầu / Foreword ................................................................................................... 7

TIÊU ĐIỂM/ ARTICLES IN FOCUS

  1. Bùi Mạnh Hùng .................. Tiếp thu lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới

..................................................... The intussusception of theories and the international experiences in constructing the new generation education program.. 9

  1. Đoàn Lê Giang ................... Nguyễn Vỹ - nhà báo, nhà thơ, nhà văn của quê hương núi Ấn sông Trà

..................................................... Nguyen Vy – a journalist, poet, writer of An moutain and Tra river       14

  1. Nguyễn Thành Thi.............. Nguyễn Vỹ qua những bài thơ mang đậm sắc thái chính luận

..................................................... Nguyen Vy through the poems embued with political identity   20

  1. Lại Nguyên Ân ................... 130 năm xuất bản truyện Thầy Lazarô Phiền

..................................................... On the occasion of 130 years of publishing “Mr.Lazaro Phien” story     29

CHÂN DUNG NHÂN VẬT/ PERSONALITY PORTRAITS

  1. Nguyễn Công Lý................. Giáo sư Nguyễn Lộc với những thành tựu nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam và về Nguyễn Du và Truyện Kiều*

..................................................... Professor Nguyen Loc with the achievements in Vietnam traditional literature research and Nguyen Du –  Kieu story research. 33

VĂN HỌC VIỆT NAM/ VIETNAMESE LITERATURE

  1. Thích Phước Đạt ................ Giá trị tư tưởng Thiền học bài Phật tâm ca của Tuệ Trung Thượng sĩ

                                                      Zen values in Buhdda Mind Mantra by Tue Trung
Thuong Si.................................................................. 41

  1. Thích Hạnh Tuệ.................. Mấy suy nghĩ về những tuyệt tác văn học Thiền

                                               ...... Some thought about Zen literary masterpieces......... 51

  1. Lê Thị Diệu Hà ................... Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh ở vùng Nam Bộ - diện mạo và giá trị

Legends about Nguyen Anh in Southern Vietnam:
description and evaluation........................................ 60

  1. Lê Thị Thanh Vy................ Tính “phù phiếm” của nghệ thuật: từ ca hát dân gian đến nghệ thuật sắp đặt - trình diễn đương đại

The “uncertainty” of arts: from folk songs to
contemporary installation-perfomance arts............... 71

  1. Nguyễn Văn Triều ............. Tiếng thơ Minh tân của chí sĩ Nguyễn Quang Diêu

                                                      Poetic career of the Minh Tan scholar Nguyen Quang Dieu 79

  1. Phạm Thị Tố Thy................ Truyện thơ cải biên văn học phương Tây ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX – tiếp cận từ lí thuyết dịch văn hóa

                                                      Adaptation of Western stories into verse novels in Cochinchina from the late nintheenth to the early twentieth century................. 87

  1. Phan Mạnh Hùng ............... Những ảnh hưởng của tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa đến tiểu thuyết lịch sử ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

                                                      Influence of Chinese historical novels on Cochinchinese historical novels during the early twentieth century.......................... 100

  1. Lê Thị Kim Út..................... Thơ ca trong tiểu thuyết lịch sử: trường hợp các sáng tác của Tân Dân Tử

..................................................... Poetry in historical novels: a case study of novels by Tan Dan Tu          110

  1. Nguyễn Thị Quỳnh Như..... Xu hướng trữ tình hóa truyện ngắn trong
    Chân trời cũ của Hồ Dzếnh

                                                      The lyricalization of short story: a case study of Chan troi cu by Ho Dzenh................................................................................. 117

  1. Nguyễn Thị Phương Thuý: Tính xã hội của truyện đăng trên báo chí ở Sài Gòn giai đoạn 1945-1954

..................................................... Social characteristics of fictional stories published in newspapers and magazinesin Saigon from 1945 to 1954.................. 127

  1. Nguyễn Đức Thăng ........... Cảm thức hiện sinh trong thơ Bùi Giáng

Existentialist perspective in Bui Giang’s poetry...... 138

  1. Nguyễn Thành Trung ....... Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và yếu tố huyền ảo trong một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Magical realism and magic in a few contemporary Vietnamese novels    148

  1. Hồ Khánh Vân ................... Ý thức kháng cự chế độ nam quyền trong tiểu thuyết của Dạ Ngân (Việt Nam) và Thiết Ngưng (Trung Quốc) từ góc nhìn phê bình nữ quyền

Feminist counsciousness against patriarchy in novels by Da Ngan and Tie Ning from the feminist literary criticism................. 158

LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

LITERARY THEORY AND FOREIGN LITERATURES

  1. Trần Thị Phương Phương: Sự ra đời của văn học so sánh trong thời đại lãng mạn và những bước khởi đầu của nó

The Birth of Comparative Literature in the Romantic Era and the First Stage of Its Developmen................................................... 168

  1. Phạm Thị Phương ............. “Các bạn tôi ở trên ấy” như là thể loại essay

My Friends Who Are Up There as an Pattern of Essay Form 179

  1. Trần Lê Hoa Tranh ........... Việc nghiên cứu Hồng lâu mộng ở Hoa Kỳ

Studies of Hong Lou Meng in the USA.................. 191

  1. Phan Thu Vân..................... Từ “song quản tề hạ” đến “đa quản tề hạ” trong Hồng lâu mộng

From “Shuang Guan Qi Xia” to “Duo Guan Qi Xia” in Hong Lou Meng................................................................................. 200

  1. Hoàng Ngọc Cương............ Danh thần Trương Đăng Quế với việc tiếp nhận danh tác Hồng lâu mộng ở Việt Nam

Famous Statesman Truong Dang Que and the Issue of Hong Lou Meng Reception in Vietnam.............................................. 212

  1. Lê Đắc Tường .................... Phương pháp phê bình thơ của Phan Huy Chú

Phan Huy Chu’s Literary Critical Method.............. 224

  1. Trần Viết Thiện ................. Sức sống của thể thơ lục bát trong thơ ca Việt Nam hiện đại

Vitality of Luc Bat Form in Modern Vietnamese Poetry (A Study of The 20th Century Vietnamese Poetry Collection............. 236

  1. Đinh Phan Cẩm Vân ......... Sự hình thành trào lưu thơ ca lãng mạn Việt Nam  và Trung Quốc đầu thế kỷ XX

Formation of the movement of romantic poetry In Vietnam and China in the early 20th century..................................................... 244

  1. Nguyễn Vũ Quỳnh Như..... Tuế thời ký (saijiki歳時記) - bách khoa toàn thư thơ haiku Nhật Bản

Sajiki – an encyclopedia of japanese haiku............. 251

VĂN HỌC – NHÀ TRƯỜNG/ LITERATURE IN SCHOOL

  1. Nguyễn Phước Bảo Khôi - Phùng Thị Vân Anh: Một số ý kiến về việc dạy học văn bản thông tin

Some suggestions for teaching the informative text 256

  1. Nguyễn Thị Quốc Minh ..... Biện pháp xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh trung học phổ thông

Measures of building and applying the questionary system for development of reading capabilities In teaching literary works in highschool   264

NHÌN RA THẾ GIỚI/ REACHING THE WORLD

  1. Chu Dĩnh/ Hồ Ngọc Minh dịch: Khảo thuật về Thái Sơn và giao lưu văn hóa
    Việt Nam

Research on mountain Tai and the cultural exchanges of Vietnam          276

ĐỌC SÁCH VÀ THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

BOOK REVIEW AND NEWS ................................................................................... 293

 

Quả đúng như vậy, có thể xem Tác phẩm và thể loại văn học của tác giả Huỳnh Như Phương, vừa xuất bản trong những ngày cuối năm 2017, là một cuốn “từ điển” tinh gọn và đáng giá, giúp độc giả có cơ hội phân biệt hoặc hiểu biết kỹ lưỡng hơn các khái niệm và thể loại văn học nghệ thuật (nhất là những thể loại, khái niệm “na ná” nhau như bút ký - tùy bút, ký sự - du ký, hồi ký - tiểu sử tự thuật, thi pháp - phong cách, câu chuyện - chuyện kể - cốt truyện...).

Gọi là “từ điển”, bởi trước hết, cuốn sách 277 trang này đã định nghĩa, khái quát và diễn giải vô cùng sáng rõ, chân xác hầu hết các thể loại và đặc trưng của sáng tác văn học nghệ thuật.

Bảy chương sách cung cấp cho người đọc những kiến thức hết sức quan trọng và dễ hiểu về mối quan hệ giữa thi pháp học với việc nghiên cứu tác phẩm văn học; cấu trúc và loại hình văn bản văn học; văn xuôi hư cấu; văn xuôi phi hư cấu; thơ trữ tình; kịch bản văn học. Đặc biệt, chương 7 của sách vô cùng thú vị khi bàn về sự giao thoa, tích hợp giữa các loại hình và thể loại văn học vốn có mối quan hệ gần gũi như: cáo, chiếu và hịch; phú và văn tế; thư và luận; truyện truyền kỳ, truyện thơ và kịch thơ; truyện ký, tự truyện, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết tư liệu và tiểu thuyết triết lý. Giá như sách có thêm phần lý thuyết chuyển thể (từ tác phẩm văn học sang tác phẩm sân khấu, điện ảnh) thì sẽ trọn vẹn hơn.

Cuốn sách còn là một sự đối chiếu, so sánh các tư liệu lý luận của Nga, Pháp, Anh và Việt Nam vô cùng tỉ mỉ, công phu để từ đó đưa ra các khái niệm, đánh giá cô đọng, khúc chiết và hợp lý nhất. Sách đồng thời cập nhật các khuynh hướng và thông tin về thể loại, trào lưu mới mẻ mà các đầu sách lý luận trước đây chưa có.

Bên cạnh đó, tác giả còn mạnh dạn đưa ra những quan niệm về công việc sáng tạo, hé mở những góc nhìn thấu đáo, xứng đáng là cơ sở để những cuộc tranh luận văn học và ngôn ngữ gần đây tham khảo. Chẳng hạn trong mục Hình tượng con người (tr.41), tác giả viết “... không thể nhầm lẫn nhân vật văn xuôi hư cấu với con người sống thực. Có trường hợp người ta đi tìm gốc tích của nhân vật, bổ sung thời gian vắng mặt trong sách của nhân vật (chẳng hạn, đi tìm quê hương bản quán của Chí Phèo, Chí Phèo làm gì trong thời gian ở tù,...). Điều đó không phù hợp, vì vấn đề nhân vật trước hết là vấn đề ngôn ngữ, nó không tồn tại bên ngoài các con chữ, nó là một “thực thể trên giấy”...”. Ở thể loại du ký (tr.115), sau phần định nghĩa là những nhận xét ngắn gọn và đáng ngẫm: con người thời Phục hưng “du hành không phải để du hành mà là để mở rộng nhãn giới, kiến văn của mình, để cọ xát chân lý với thực tế và đào sâu suy tưởng, đồng thời để nhận ra giới hạn của chính con người”, “nhân rộng sự hiểu biết của con người về thế giới và về chính bản thân mình”, “tìm cách nối liền và kéo gần lại những trung tâm kinh tế và chính trị”... Không dễ dàng có được tư duy tinh anh và xúc cảm thấm thía trong đánh giá như vậy nếu người viết không sở hữu một sở đọc rộng lớn và cảm thức văn chương hiếm có.

Không chỉ giúp bạn đọc “vỡ ra” nhiều vấn đề quan trọng của lý luận văn học vốn còn hàn lâm với đại chúng, tác giả còn vô cùng tinh tế khi đưa ra những ví dụ minh họa vừa quen vừa lạ, vừa cũ vừa mới, cả trong nước lẫn ngoài nước, phù hợp với trình độ tiếp nhận đa dạng của người đọc. Điều này cũng không khó để lý giải vì Giáo sư Huỳnh Như Phương là một trong các chuyên gia lý luận văn học hàng đầu của Sài Gòn, có thâm niên nghiên cứu, giảng dạy gần bốn mươi năm với rất nhiều công trình, bài viết có giá trị trong việc thiết lập nền tảng cho ngành Lý luận văn học tại Việt Nam.

Từ trước đến nay, Việt Nam đã có khá nhiều đầu sách lý luận văn học giới thiệu và định nghĩa các trào lưu, trường phái, thể loại tác phẩm như: Từ điển văn học, Lý luận văn học, Thi pháp hiện đại... Song, đặc điểm chung của các đầu sách này là khá cồng kềnh, dàn trải hoặc chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề nhất định như thi pháp học, tự sự học, tu từ học, thi luật, nghệ thuật văn xuôi hoặc đi sâu vào giới thiệu tác giả, tác phẩm. Do đó, điều tuyệt vời ở Tác phẩm và thể loại văn học là: giá trị như một từ điển nhiều công năng nhưng gọn nhẹ như một cuốn truyện vừa, có thể mang xách đi bất cứ nơi đâu.

Cùng với Lý luận văn học (nhập môn) đã ra mắt vào năm 2014, Tác phẩm và thể loại văn học của tác giả Huỳnh Như Phương thật sự cần thiết cho tủ sách của người nghiên cứu, sáng tác, giảng dạy, viết báo, học văn chương hoặc đơn thuần là những độc giả cần một hình dung súc tích, dễ hiểu về các lý thuyết và loại thể văn học nghệ thuật. 

Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn, mục Tủ sách doanh nhân, số 2, ngày 11/01/2018.

20170821. Nguoi cua 1 thoi

        Trong những trang cuối cùng của cuốn sách này, giữa những dòng suy tường miên man về thế sự, hai tác giả Lê Công Cơ và Nguyễn Đông Nhật bỗng viết một câu văn đầy chất thơ: “Đôi khi, anh muốn đặt những bước chân nhẹ trên những con đường cũ của những năm tháng đã xa”.

Mùa mưa Sài Gòn năm nay, Trương Gia Hòa cho xuất bản liền hai cuốn tản văn. Hôm ra mắt Đêm nay con có mơ không?** ở Đường Sách, trời đang mưa lớn bỗng ngớt hạt khi bạn bè đến chia vui cùng tác giả, người vừa bình an đứng dậy và tiếp tục cầm bút sau một cơn đau dài.

Sài Gòn thềm xưa nắng rụng (NXB Văn hóa Văn nghệ - Phương Nam Book, TP HCM, tháng 11-2017) không tách khỏi mạch văn của Gia Hòa: tiếng nói hòa ái trong khát khao một gia đình hạnh phúc ấm êm, một tương giao thuận thảo với xóm giềng, thân bằng quyến thuộc. Chị đã gieo trồng mầm thiện trong cuộc đời lắm khi bạc ác này qua những trang văn về những bông huệ trắng của bà nội “thơm suốt thời hương khói thần tiên”, về những chiếc lá tràm khuynh diệp kỳ diệu lót dưới đáy hòm trước chuyến hành trình vĩnh cửu của ông nội, về khu vườn hoa khế hoa cau như có tiên nữ xuống xức dầu thơm, về những bông lựu vừa đậu trái trong bồn cây ở chung cư, về những cái vỏ nghêu xếp trên khoảng sân trước “thềm nhà nắng rụng”… Công cha, nghĩa mẹ, tình vợ chồng, bè bạn bao giờ cũng sâu sắc, linh động dưới ngòi bút Trương Gia Hòa.

Cuốn sách này không chỉ kể chuyện nhà chuyện cửa, chuyện “tuổi thơ dặm dài”, chuyện tivi, facebook và iPad, mà còn có tiếng vang vọng và ánh xạ của thời thế. Bởi tác giả không chỉ là một nhà thơ hiền dịu mà còn là một nhà báo có nhãn quan xã hội. Biết bao là đồng cảm khi Gia Hòa cùng ăn bữa cơm từ thiện với những người nghèo ở bệnh viện Ung bướu, dự lễ cúng kỳ yên với đồng bào Quảng Nam ở Bảy Hiền, hay dõi theo nhịp quang gánh của người đàn bà mòn dép chai vai trên những ngõ hẻm Sài Gòn. Nhà báo nghiêm khắc này cũng dành sẵn những bình luận tinh quái cho những kẻ trang hoàng chỗ ngồi để phô trương quyền thế, những nhà giàu mới nổi học làm sang với cái tủ sách chưng toàn tạp chí thời trang, những kẻ lắm đất đai mà không có nổi một “vườn hạnh” của riêng mình.

Cuốn sách không nói gì xa xôi mà luôn nhắc ta chuyện làm người. Làm người thật khó. Làm người nữ càng khó. Ôi, người đàn bà đầu trọc, người đàn bà tóc giả, người đàn bà quắt queo trong văn Gia Hòa, mỗi người là một số phận, họ đi qua cuộc đời khổ đau và trầm luân này, với  “quang gánh mộng mơ” và “vết chai từ vô thức”, “oằn nặng trên vai biết bao lo lắng về kiếp người” mà lòng vẫn băn khoăn tự hỏi hôn nhân nên là hai bánh răng chỗ đầy chỗ khuyết hay hai vòng tròn tròn trĩnh như bông vụ.

Trong bài viết đầu tập sách này, Trương Gia Hòa có câu văn thật hay: “Như hôm nay, trên tầng cao của khu chung cư, cửa sổ mở toang cho gió tự do ra vào, tôi nằm im nghe đâu đó có cả mùi sen tàn tạ, như nghe được cả tiếng cá đớp trăng, nghe hết, tiếng xe, tiếng tình nhân, tiếng đêm thở ra một hơi dài buốt lạnh”. Câu văn làm tôi nhớ những bài thơ thời sinh viên của Hòa mà tôi đã chuyển cho Chim Trắng in thành một trang thơ cùng với Trần Lê Sơn Ý, Quốc Sinh, Trần Đình Thọ… Người thiếu nữ ngơ ngác năm xưa nay đã là một người đàn bà nhiều trải nghiệm, dẫu có lúc khóc thầm thì nước mắt cũng mau khô mà nhìn thẳng vào cuộc đời “lê thê bải hoải”.

Mong Trương Gia Hòa vẫn tiếp tục làm thơ và viết tản văn, để những đốm nắng vẫn rơi trên hiên nhà, để mây vẫn nhẫn nại bay qua bầu trời trên triền đê, như là bay từ thời thơ ấu.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

*Tản văn của Trương Gia Hòa, NXB Văn hóa Văn nghệ - Phương Nam Book, TP HCM, tháng 11-2017.

** Tác phẩm được Tặng thưởng của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh năm 2017.

Hai bộ sách Văn học Hàn Quốc và Văn học Hàn Quốc trong phối cảnh Đông Á đã ra mắt chiều 12/8 tại Hà Nội. Đây là một trong những sự kiện kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc.

Lễ ra mắt sách được tổ chức chiều 12/8 tại Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc (49 Nguyễn Du, Hà Nội), do ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM phối hợp cùng Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam tổ chức. Đây là một sự kiện trong chuỗi các sự kiện trong năm 2017 kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc (22/12/1992 - 22/12/2017).

Với vai trò chủ biên, PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền đã tập hợp đội ngũ 26 tác giả, dịch giả bao gồm những nhà nghiên cứu văn học châu Á có uy tín, những người dịch văn học Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản có kinh nghiệm ở Việt Nam (Hà Nội, Huế, TP. HCM, Đà Lạt), Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ thực hiện hai bộ sách trong 5 năm (2012-2017).

Bộ sách Văn học Hàn Quốc giới thiệu những thành tựu quan trọng, làm nổi bật những đặc điểm của văn học Hàn Quốc qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu từ khởi thủy đến đương đại.

Bộ sách thứ hai bao gồm 6 tuyển tập giới thiệu Văn học Hàn Quốc trong phối cảnh Đông Á theo các đề tài, thể loại, loại hình tác giả độc đáo nhằm giới thiệu văn học 4 nước Trung Quốc - Hàn Quốc - Việt Nam - Nhật Bản.

Thông qua việc so sánh, tương chiếu, bộ sách mong muốn soi sáng những đặc điểm chung khu vực đồng thời những đặc điểm riêng của văn học từng nước, trong đó, có sự độc đáo của văn học Hàn Quốc.

Phát biểu tại sự kiện, GS. TS Mai Ngọc Chừ, Chủ tịch Hội Hàn Quốc học cho biết, sách văn học Hàn Quốc trước đây cũng đã được giới thiệu ở Việt Nam, tuy nhiên đó chỉ là một cuốn sách hoặc một tập thơ, cuốn tiểu thuyết… Lần này có một bộ sách với tầm cỡ lớn, đây là tin vui đối với ngành Hàn Quốc học nói riêng và cho những người yêu văn hoá Hàn Quốc nói chung.

“Chúng tôi thấy rất vui mừng về bộ tài sản quý này. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng so với phim ảnh, văn học Hàn Quốc đến sau. Đây mới chỉ là những cố gắng bước đầu trong việc khám phá nền văn học đồ sộ của Hàn Quốc" - GS. TS Mai Ngọc Chừ khẳng định.

Tham tán Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam bà Kim Hye Jin, cũng chia sẻ, hai bộ sách này có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc. Thông qua những câu chuyện văn học dân gian của hai nước có thể thấy rất nhiều nét tương đồng.

“Kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc và trong thời gian qua đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Khi nhắc đến Hàn Quốc ở Việt Nam sẽ không chỉ dừng lại ở phim ảnh mà còn cả văn học Hàn Quốc. Tôi cũng hy vọng sẽ có nhiều tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu tại Hàn Quốc" - bà Kim Hye Jin nhấn mạnh.

Ảnh (D.H): Các diễn giả có mặt tại buổi ra mắt chia sẻ về bộ sách văn học Hàn Quốc.

Nguồn: http://www.phunuvietnam.vn/goc-tam-hon/lan-dau-ra-mat-bo-sach-van-hoc-han-quoc-tai-viet-nam-post31346.html

 20180102 154740

Những ngày cuối năm 2017, ba nhà văn Nga quen thuộc đã xuất hiện trong các dịch phẩm do PGS.TS Trần Thị Phương Phương thực hiện, Công ty sách Phương nam và Nxb Văn học ấn hành:

- Chúa biết sự thật nhưng chẳng nói ngay, tập truyện ngắn của Lev Tolstoy

- Kalinin, Trên thảo nguyên, Dưới đáy, tuyển tập truyện ngắn và kịch của Maxim Gorky

- Đứa con muộn, tập truyện ngắn của Anatoly Alexin

Đại văn hào Lev Tolstoy đã rất quen thuộc với độc giả Việt Nam qua các tác phẩm tiểu thuyết có dung lượng đồ sộ như Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina. Vì vậy, khám phá tác phẩm Tolstoy ở hình thức truyện ngắn sẽ mang lại khá nhiều thú vị và mới mẻ. Tập truyện Chúa biết sự thật nhưng chẳng nói ngay gồm có 6 truyện ngắn vừa có đề tài hiện thực, vừa có đề tài tôn giáo, vừa gắn bó với truyện thống Nga cổ và văn học dân gian,… “Các truyện ngắn trong tập sách này chỉ là một phần rất nhỏ trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nằm trong nhóm tác phẩm được gọi tên là “những truyện bình dân” (народные рассказы), nhưng chúng phần nào phản ánh hành trình tư tưởng, cũng như cho thấy những đặc trưng thi pháp tiêu biểu của L. Tolstoy, nhất là ở giai đoạn cuối đời” (TTPP).

Tuyển tập truyện ngắn và kịch của Maxim Gorky gồm 2 truyện ngắn: Kalinin, Trên thảo nguyên và 1 vở kịch: Dưới đáy. Mặc dù Dưới đáy mang một tựa đề có phần tăm tối nhưng “Sức mạnh kịch của Gorky trước hết là ở chỗ đã nói về cuộc sống một cách tích cực, lạc quan, tin rằng có thể thay đổi cuộc sống đó theo hướng tốt đẹp lên” (TTPP). Tập truyện ngắn cũng giới thiệu các truyện ngắn thể hiện rõ nét phong cách của M. Gorky, những câu chuyện hấp dẫn về những con người nhỏ bé trong mối giao hòa với thiên nhiên vừa dữ dội vừa hiền hòa, vừa chứa đựng chất dân gian huyền thoại vừa chứa đựng cuộc sống hiện thực đầy sức sống.

Tập truyện ngắn Đứa con muộn của Anatoly Alexin gồm 3 truyện ngắn với đề tài thiếu nhiên và “những cuộc đụng độ của họ với thế giới người lớn”. Tập truyện sẽ phù hợp với các độc giả trẻ tuổi muốn tiếp xúc với nền văn học Nga, với những câu chuyện nhẹ nhàng, hài hước và cũng không ít kịch tính về đời sống của thế hệ trẻ trong cuộc sống gia đình, trường học. Tác phẩm cũng rất phù hợp với độc giả ở đời sống hiện đại phức tạp và bận rộn khi nói về mối quan hệ khó khăn giữa cha mẹ và con cái, đầy ắp tình yêu thương và cần rất nhiều sự thấu hiểu để không yêu thương sai cách.

BT

 

NHỮNG CÔ BÉ KHÔN NGOAN HƠN CÁC ÔNG GIÀ

Lev Tolstoy 

Lễ Phục sinh đến sớm. Người ta vừa thôi đi bằng xe trượt. Ngoài sân vẫn còn tuyết, nhưng trong làng đã có những dòng suối nhỏ chảy. Một vũng nước lớn lẫn phân gia súc đọng lại trên con phố nhỏ chạy giữa hai khoảng sân. Và hai bé gái của của hai nhà tụm lại bên vũng nước đó, một đứa còn bé, đứa kia lớn hơn một tí. Cả hai được mẹ mặc cho những cái váy sarafan[1] mới tinh. Váy của đứa bé màu xanh, còn đứa lớn thì màu vàng có hoa văn, cả hai đều quàng khăn màu đỏ. Hai cô bé vừa xong lễ mi-xa thì chạy ra chỗ vũng nước, khoe áo mới với nhau rồi bắt đầu chơi.Chúng muốn vọc nước, đứa bé đi đôi giày trẻ con định bước xuống vũng nước, còn đứa lớn thì bảo:

-Đừng bước xuống đó Malashka, mẹ mắng cho đấy. Để tao cởi giày ra đã, và mày cũng cởi ra đi.

Hai đứa bé tháo giày cùng bước xuống vũng nước để đi về phía nhau. Malashka thấy chân ngập nước đến mắt cá bèn bảo:

-  Nước sâu lắm, Akulyushka, em sợ lắm.

- Không sao đâu,  –  con bé lớn nói – không sâu hơn nữa đâu. Mày cứ bước thẳng đến chỗ tao.

Hai đứa bé đến gần nhau. Akulyushka bảo:

-Malashka, đừng có nhảy, đi nhẹ thôi.

Vừa dứt lời thì Malashka đã giẫm bộp xuống, bắn toé nước lên váy của Akulyushka. Bắn cả lên mũi và lên mắt. Nhìn thấy những vết bẩn trên váy, Akulyushka nổi giận, quát Malashka và chạy lại gần định đánh. Malashka hoảng hốt thấy mình đã gây ra tai hoạ, vội nhảy khỏi vũng nước để chạy về nhà. Mẹ của Akulyushka đi ngang qua thấy váy con gái ướt và áo dính bẩn.

- Cái con hư hỏng kia mày nghịch ngợm gì ở đâu đấy hả?

-Con Malashka cố ý văng nước lên con đấy.

Bà mẹ của Akulyushka túm lấy Malashka đánh vào gáy nó. Malashka khóc váng khắp phố. Mẹ Malashka chạy ra.

- Sao bà lại đánh con tôi? – và bắt đầu chửi bà hàng xóm. Lời qua tiếng lại, hai bà cãi nhau ầm ĩ. Những người đàn ông cũng xông tới, tập hợp thành một đám đông trên đường. Mọi người đều la hét, không ai chịu nghe ai. Họ chửi bới, chửi bới, người nọ huých người kia, sắp thành một cuộc ẩu đả. Bà của Akulyushka chạy ra, chen vào giữa đám đàn ông dàn hoà:

-Các người làm sao vậy, giữa ngày lễ tết thế này? Lẽ ra phải vui mừng, thì các người lại muốn chuốc thêm tội lỗi.

Không ai nghe lời bà cụ, còn suýt đá cả vào chân bà. Bà già không thể thuyết phục được họ, nếu như không có Akulyushka với Malashka. Trong khi hai bà mẹ nhiếc móc nhau, Akulyuka chùi sạch áo váy và lại chạy ra vũng nước. Nó nhặt một hòn đá và bắt đầu đào đất bên cạnh vũng nước để làm rãnh thoát nước ra đường. Trong lúc nó đào thì Malashka cũng lại gần giúp, cũng  dùng que đào rãnh. Lúc đám đàn ông bắt đầu ẩu đả thì chỗ hai đứa bé nước đã chảy ra đường thành dòng. Hai đứa bé thả mảnh phoi bào xuống dòng nước chảy thẳng tới chỗ bà cụ đang can ngăn đám đàn ông. Chúng chạy theo hai bên dòng nước.

-Giữ nó lại Malashka, giữ lại! – Akulyushka kêu lên. Malashka muốn nói cái gì đó, nhưng vì cười nắc nẻ nên không ra lời được.

Hai đứa bé cứ chạy như thế, cười với mảnh phoi bào khi nó trôi nổi theo dòng suối nhỏ. Và chúng va vào giữa đám đàn ông. Nhìn thấy chúng, bà già nói với đám đàn ông:

-Các người phải biết sợ Chúa chứ! Các người là đàn ông đàn ang, vì mấy con bé này mà đánh nhau, còn chúng nó thì quên từ lâu rồi, đã làm hoà vui vẻ chơi với nhau. Chúng nó khôn hơn các người đấy!

Những gã đàn ông nhìn lũ trẻ và thấy xấu hổ. Sau đó chính họ cũng bật cười với chính mình và giải tán về nhà.

Nếu các ngươi không cư xử như đứa trẻ, các ngươi chẳng vào nước Chúa được đâu.” (Phúc Âm Matthew, 18:3)

(1885)


[1] Sarafan: loại áo dài truyền thống của Nga, thường dành cho phụ nữ và các bé gái. (ND)

Ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại Viện Văn học, đã diễn ra buổi ra mắt sách Thơ mới – Những chuyện chưa bao giờ cũ (Người đương thời Thơ mới bàn về các tác gia Thơ mới) của PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn. Cuốn sách dày 590 trang, được Nhà xuất bản Văn học và Công ti cổ phần zGroup - Nhãn sách Bão liên kết ấn hành. Tới dự buổi ra mắt sách có GS.TS. Trần Đình Sử, Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Yên, PGS.TS. Trịnh Bá Đĩnh, PGS.TS. Lưu Khánh Thơ, PGS.TS. Lê Dục Tú, PGS.TS. Vũ Thanh, PGS. TS. Trần Văn Toàn, PGS.TS. Phạm Xuân Thạch, TS. Phùng Ngọc Kiên, TS. Hoàng Tố Mai, TS. Phạm Thu Hương, TS. Cao Kim Lan, TS. Đỗ Hải Ninh, TS. Lê Hương Thuỷ, TS. Phạm Văn Ánh, TS. Đoàn Ánh Dương, TS. Trần Thiện Khanh, các vị quan khách, độc giả quan tâm đến Thơ mới cùng các đơn vị thông tấn, báo chí,…

Thơ mới - Những chuyện chưa bao giờ cũ là một cuốn sưu khảo công phu, cẩn trọng về mặt tư liệu. Tuy nhiên, cuốn sách này, như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, nó còn tạo nên những chuyển động ở phía tương lai. Chẳng hạn, từ đây, những nghiên cứu mới về Thơ mới được triển khai. Bên cạnh đó, việc tái nhận thức các thành tựu nghiên cứu đã có về Thơ mới cũng được đặt ra. Một vấn đề, theo tôi là rất quan trọng, từ không khí phê bình, sinh hoạt thơ ca thời Thơ mới, liên hệ đến câu chuyện của đương đại, chúng ta nhận thức được rằng, để có những thành tựu rực rỡ, “Một thời đại trong thơ ca” (Hoài Thanh) như thế, cần xây dựng có một môi trường tự do, dân chủ trong sáng tác, phê bình, tranh luận. Những ý kiến bàn luận của người đương thời Thơ mới về Thơ mới đã nhắc nhở các nhà thơ, các nhà phê bình, quản lý văn hoá hôm nay về một thái độ, một tinh thần hướng đến không gian văn hoá, văn nghệ sinh động, phong phú, đa dạng. Cuốn sách của Nguyễn Hữu Sơn, bởi thế, mang cái tên với những ý tưởng vượt lên trên giới hạn của một sưu khảo: Thơ mới – Những chuyện chưa bao giờ cũ (Người đương thời Thơ mới bàn về các tác gia Thơ mới). 

Phục dựng không khí sinh hoạt của Thơ mới giữa lòng thời đại là một khía cạnh quan trọng mà cuốn sách mang lại. Hơn thế nữa, cuốn sách mở về đương đại và tương lai trong một nỗ lực hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn tri thức, tư liệu của chúng ta hôm nay về Thơ mới. Với những người nghiên cứu, phê bình, và cả những nhà thơ đương đại, cuốn sách là một tư liệu quý, một kinh nghiệm hay cần tham khảo. Trong một chia sẻ tại buổi ra mắt sách, PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn cho biết ông đang ấp ủ những công trình khác liên quan đến Thơ mới. Hi vọng, như ông nói, vào dịp 90 năm phong trào Thơ mới (2022), 100 năm Thơ mới (2032), ông sẽ tiếp tục có những công trình bề thế về thời đại thi ca rực rõ này. 

Nguồn: http://baovannghe.com.vn/ra-mat-sach-tho-moi-nhung-chuyen-chua-bao-gio-cu-16867.html

Cách đây mấy hôm, vào sáng tinh mơ, nhà thơ Chinh Văn đột ngột đến thăm và mời tôi đến dự buổi gặp gỡ thân mật của một số thân hữu nhân tập truyện ngắn “Bài Thơ Trên Xương Cụt” của nhà văn Chinh Ba sắp được ra mắt. Một tin vui đặc biệt, vì lần đầu tiên, 14 truyện ngắn được sáng tác và công bố rải rác trước năm 1975 của anh Chinh Ba được sưu tầm và tái ngộ bạn đọc trong tổng số khoảng 50 truyện ngắn và một số tản văn và kịch bản ngắn khác mà hiện nay một số không nhỏ chưa thể sưu tầm hết được! Nhưng thú thật, niềm vui đến với tôi cùng với không ít sự ngỡ ngàng pha lẫn lo lắng khi anh Chinh Văn cho biết anh Chinh Ba tỏ ý muốn tôi phát biểu vài lời giới thiệu tập truyện nhân buổi gặp mặt. Làm sao dám giới thiệu một tác giả đàn anh mình vốn ngưỡng mộ tên tuổi nhưng chưa từng được diện kiến, một tập truyện dày dặn trong đó có mặt cả truyện ngắn lừng danh được lấy làm nhan đề cho cả tập, một truyện ngắn được đông đảo độc giả tinh tường ca ngợi, mà tiêu biểu là nhà nghiên cứu văn học Huỳnh Như Phương như anh viết trong lời bạt đầy thẩm quyền: “nếu mỗi nhà văn chỉ cần một truyện ngắn sâu sắc, hấp dẫn để người đọc ghi nhớ thì với Chinh Ba, truyện ngắn đó là Bài Thơ Trên Xương Cụt. Dù là người dè dặt, tôi trộm nghĩ rằng đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX” (Truyện ngắn Chinh Ba: những dụ ngôn đa nghĩa, Thay lời bạt)?

Tôi thưa thật nỗi lo lắng trước “sứ mệnh bất khả thi” ấy vào sáng hôm sau (tức cách đây mới ba hôm) khi anh Chinh Ba, cùng với anh Chinh Văn, đích thân hạ cố đến nhà thăm và tặng tập cảo thơm vừa mới kịp ra khỏi nhà in, còn nóng hổi. Nụ cười rất hiền và tình cảm ưu ái nồng hậu của hai anh khiến tôi hơi vững bụng, mặc dù vẫn biết rằng mình không phải là người sáng tác và càng không có mấy kiến thức trong lĩnh vực văn chương. Sự việc bỗng dưng sáng tỏ khi lật vội tập truyện và thấy ngay ở trang đầu là tranh chân dung tuyệt đẹp đề tặng Bùi Giáng của họa sĩ Đinh Cường, và, một cách kín đáo, nhà văn Chinh Ba như muốn dành tặng tác phẩm của mình cho thi sĩ họ Bùi. Thì ra, mối giao tình giữa hai tác giả lớn đã giúp cho bản thân tôi được thơm lây! Tôi cũng được lưu ý về một chú thích trong truyện ngắn sau cùng “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng”: “Năm 1949, máy bay Pháp từ Đà Nẵng vào oanh tạc chợ Chương Dương (Tư Phú), sát hại hàng trăm thường dân vô tội. Và trong một lần khác đã ném bom Quế Sơn (Trung Phước - cận kề Hòn Kẽm, Đá Dừng) giết hại trọn cả gia đình họ Bùi. Trong đó, có cô dâu là con gái út cụ Phan Khôi”. Thưa vâng, “gia đình họ Bùi” này chính là gia đình một người bác ruột của Bùi Giáng và là người anh con ông bác của tôi. Sau sự kiện bi thương ngày 19.09.1952 với 18 nạn nhân là những người ruột thịt, Bùi Giáng đã viết:

Một trái bom rơi trúng miệng hầm

Thôi đành sự thế lạnh căm căm

Một mình ra đứng sau khe núi

Chợt thấy thân mình một hóa trăm.

 

“Một hóa trăm” của xương thịt tan lìa. “Một hóa trăm” của sự dâng hiến và sẻ chia. “Một hóa trăm” như là thân phận và trách nhiệm của người cầm bút trước những nỗi đau tột cùng của đồng loại. Nhân vật mang tên Đợi trong Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng không phải là trường hợp cá biệt. Có một thời kỳ và một vùng đất mà người ta không thể đặt tên cho con là Lan, là Huệ mà chỉ có thể là Thương, Nhớ, Đợi, Chờ, Trông, Mong, Mến, Tiếc như đã có thật trong gia đình một người chú họ khác của Bùi Giáng. Chính từ mối tình keo sơn với mảnh đất quê hương: “đất này là đất chết”, nhưng có những nhân vật như mô tả của Chinh Ba, thì “trở thành đất sống. Dầu sống dầu chết, dầu đói dầu no, cũng đừng phụ mảnh đất này” (Mồ sống), và cũng từ mối thâm tình gắn bó hai đại gia đình (nhà văn Chinh Ba và nhà thơ Chinh Văn đều thuộc đại gia đình của cụ Phan Khôi) mới cho phép tôi phát biểu vài lời ở đây, không phải với tư cách một người đọc thiếu chuyên môn mà như một người thân cùng sẻ chia những mối cảm thông.

Nếu triết gia, như có người nói, là kẻ nắm bắt thời đại của mình bằng tư tưởng, thì nhà văn có lẽ là người “thấy thân mình một hóa trăm”, bởi chỉ có phương tiện và sức mạnh của văn chương, nghệ thuật mới có thể làm được điều ấy. Tôi đến vội vàng với tập truyện ngắn của Chinh Ba từ cảm thức như thế. Nhà văn đã phân thân mình, hay đúng hơn, hóa thân mình vào vô vàn những cảnh ngộ. Nhưng tại sao, như nhận xét tinh tế của Huỳnh Như Phương, “Chinh Ba dành phần lớn tác phẩm của ông cho những suy ngẫm về sự sống và cái chết, những cảm nghiệm về thân phận khốn cùng của con người. Đọc Chinh Ba, ấn tượng nhất có lẽ là những hình thù kỳ quái, những số phận dị thường, những cái chết đáng sợ nơi tối tăm, ẩm thấp. Một vài truyện ngắn nghe vọng tiếng kinh cầu hồn, tuy thiếu những bóng ma”? Thật thế, nhân vật của Chinh Ba là người tù “khát nắng”, là đứa con lai như phế phẩm lạc loài của chiến tranh, là “cô gái dậy thì nhưng gày gò, mảnh khảnh, còn làn da trắng xanh như người bệnh” (Hai vì sao lạc), là một chàng nhạc sĩ nghèo, mang bệnh bất trị, chết cháy với cây đàn (Tiếng đàn khuya), là người tình si hóa đá, là những người tù hay những thường dân bị truy đuổi, tra tấn, là kẻ tự chôn mình xuống huyệt (Mồ sống) v.v… Tại sao “không gian trong truyện ngắn Chinh Ba […] xuất hiện như định đề về con người bị chối bỏ sự tồn tại, hoặc tồn tại trong cô độc và tuyệt vọng”?

Là nhà văn già dặn về bút pháp, Chinh Ba chắc hẳn hoàn toàn có thể sáng tạo nên những nhân vật khác, những cảnh ngộ khác. Vậy, phải chăng chính thời cuộc ấy, mảnh đất ấy đã thúc giục lương tâm và ngòi bút ông chọn lựa sự “hóa thân”, “phân thân” về một phía, phía “của nước mắt” và không thể về phía nào khác? Xin thử lắng nghe lời giải đáp của Bùi Giáng về trường hợp của Albert Camus và William Faulkner như một đối thoại vắng mặt với Chinh Ba. Lời giải đáp không mới, nhưng nghiêm chỉnh và nghiêm trọng: “Camus đã sống với thời đại, hiểu trọn vẹn bi kịch của thời đại […], vì thế chậm rãi, bình tĩnh nói tiếng nói muôn đời của nhân loại khát vọng tự do và công chính”. “Faulkner muốn rằng tất cả những điên đảo, âm u, quỷ loạn trong tác phẩm của mình phải hé mở một ảnh tượng bát ngát của thiên đường” (M. Heidegger và tư tưởng hiện đại).

Một chủ nghĩa lạc quan dễ dãi? Một ước mơ “có hậu” cổ truyền? Thưa còn tùy, nếu rơi vào tay một kẻ “trung nhân dĩ hạ”, cái đức lý không thể thiếu trong văn chương sẽ làm người đọc khó chịu. Còn trong trường hợp ngược lại, nó trở nên “bát ngát” như chính cuộc đời, như dòng chảy mềm mại mà đanh thép của lẽ nhân sinh. Nó không thiếu sự tra vấn nghiêm khắc: “Công lý có mấy thứ? Thứ nào đáng tồn tại? Cũng như người có mấy thứ người, người nào đáng sống?” (Khát nắng). Từ đó, người con gái dậy thì gầy gò, bệnh hoạn “hiện lên trước mắt người yêu cô như một bông hoa, như một nàng tiên, như một ngôi sao, như một hình tượng lý tưởng nhất mà loài người chưa gọi tên được” (Hai vì sao lạc). Một “màu nguyên xuân” trong thơ Bùi Giáng! “Nàng sợ đứa con bị tật nguyền như cha nó. Nhưng đứa bé lành lẽ, thơm tho, một mùi thơm mà trong đời nàng chưa hề được thưởng thức” (Mồ sống). “Thằng Hòa mười hai tuổi mà phải nói chín tuổi mới có người tin”. Nó lén lấy tóc hai anh chị đang bất hòa của nó trộn lại, chôn dấu, hy vọng một không khí gia đình yên ấm. Nó cắn răng chịu đựng trận đòn ác liệt vì hành vi “ám muội” này, bởi nếu thú nhận, việc làm này sẽ “mất linh”, trước khi cả ba người khóc òa trong hạnh phúc mới tìm lại được: “lúc nhỏ, chúng tạo ra tình thương, lớn lên chúng làm nên lịch sử” (Tóc). Một truyện ngắn có thể xếp vào hàng kinh điển trong nền văn chương giáo dục thế giới, dữ dội hơn cả câu chuyện nổi tiếng cảm động về một bé gái nghèo đập vỡ con heo đất còm cõi vào một chiều đông lạnh lẽo ở trời Tây để mua một chuỗi ngọc quý làm quà Giáng sinh cho chị, và người chủ tiệm kim hoàn âm thầm giúp em toại nguyện vì chính em mới là người khách hàng trả giá cao nhất cho món quà quý, vì em đã sẵn sàng hiến dâng tất cả những gì mình có cho một tình yêu trong sáng.

Chinh Ba cũng biết rõ giới hạn của văn chương: “Vì nỗi khổ của tình người chỉ nguyên vẹn được trong niềm cảm thông tiềm ẩn, và sẽ mất mát khá nhiều khi bị phô diễn bằng lời nói, câu văn” (Kẽ hở bàn tay). Nhưng văn chương vẫn có sức mạnh lạ thường, đôi khi khá ngẫu nhiên, của nó, vì nghệ thuật là vô cùng, như khi bỗng “thấy có hình vẽ về bàn tay em giữa những hình ảnh đẹp đẽ nhất của cuộc đời” (nt).

 

Bài Thơ Trên Xương Cụt hiển nhiên là truyện ngắn nổi bật và, vì thế, cũng nổi tiếng nhất, không chỉ trong tập truyện mà trong cả đời văn của Chinh Ba. Nhân vật Ba Lò Heo đã quản lý “nền văn nghệ gia đình” của lão bằng dao búa để dập tắt mọi rung cảm khả nghi và mọi hình thức văn nghệ phong phú, “phức tạp” của Út Lệ, người vợ đáng thương của lão và, rút cục, đã giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để cho đường lối văn nghệ “đặt cơ sở trên chiếc xương cụt của lão”, một “nền văn nghệ” hạ cấp và câm nín. Giá trị châm biếm, tố cáo và cảnh báo của câu chuyện viết từ năm 1965 là vượt thời gian. Nếu Ba Lò Heo là “vô văn hóa”, căn bệnh dễ chữa. Không, Ba Lò Heo có “văn hóa”, có “tâm hồn”, biết chọn cho mình một lối thơ yêu thích, thậm chí chịu đau để cho xăm lên lưng và cả lên chiếc xương cụt. Căn bệnh “thiếu văn hóa” ấy là nan y. Lại cương quyết bảo vệ bằng vũ lực cho sự độc quyền văn hóa ấy nữa thì mới thật là vô phương cứu chữa! Do đó, bên cạnh giá trị phê phán định chế, truyện ngắn còn là sự phê phán “não trạng” nơi mỗi con người. Trong đáy sâu tâm hồn chúng ta, bao nhiêu phần đã trở thành Ba Lò Heo?

Tuy nhiên, Chinh Ba đã tìm được cho mình một phương thuốc chủng ngừa khá hiệu nghiệm, giúp anh có khi “viết dễ dàng như thở”: “Tôi gửi vào cuộc đời niềm tin yêu màu hồng. Tôi nghĩ cái buồn đôi khi cũng cần thiết cho con người như chút phèn chua cần thiết cho một ly nước đục. Bởi vậy, thà mùa thu không có gió, chứ đêm khuya đừng vắng tiếng côn trùng. Những tâm hồn thao thức biết lấy gì mà thở, nếu không có tiếng dế nỉ non, tiếng vạc kêu sương, tiếng từ quy khắc khoải, tiếng khóc của trẻ con, tiếng ru của bà mẹ bên hàng xóm” (Bài Thơ Trên Xương Cụt).

 

Cám ơn nhà văn Chinh Ba đã giúp tôi tìm lại được niềm hứng thú để đọc văn chương sau thời gian chìm đắm quá lâu trong thế giới trừu tượng. Cảm ơn anh Chinh Ba cho tôi lấy lại được chút cường tráng trong tâm hồn, sau thời gian quá dài không đủ tự tin vào sức khỏe tâm thần để dám đối diện với lớp lớp bể dâu trần thế.

Quán Đông Hồ, đêm 22.11.2011

BÙI VĂN NAM SƠN

* Lời tựa sách Bài thơ trên xương cụt, Tập truyện ngắn của Chinh Ba, NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh tái bản, quý IV - 2017.

Trong thời buổi thơ ca là một mặt hàng “xa xỉ” trong đời sống văn hóa người Việt, thơ ca không còn chỗ trống để trưng bày trên kệ sách ở các nhà sách, thơ được từ chối khéo đến lạnh lùng, tàn nhẫn: “Kệ tôi không còn chỗ trống cho thơ” thì tập thơ  "Tôi là một kẻ khác”- Thơ giao lời kể và thơ tượng quẻ , tác giả Nhật Chiêu, NXB VH-VN 2015  như  một thiên thạch rơi xuống bầu thơ Việt Nam.

Nó vừa đương đại, vừa hoang sơ đến lạ.

Lời giới thiệu

TS. Nguyễn Khắc Hóa

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nghĩ về văn chương đất phương Nam là công trình nghiên cứu văn học thứ chín của PGS. TS, giảng viên cao cấp Lê Tiến Dũng. Cuốn sách tập hợp hơn ba mươi bài nghiên cứu tiểu luận phê bình về văn học của các tác giả ở vùng đất phương Nam. Đất phương Nam trong cách nghĩ của Lê Tiến Dũng ở công trình này không chỉ là vùng đất Nam Bộ hôm nay, mà nó bao gồm cả một dải đất dài từ sông Bến Hải cho đến tận cùng đất mũi Cà Mau. Đó cũng là cách nghĩ rất quen thuộc của con người Việt nam trước 1975, thời đất nước ta còn bị chia cắt làm hai miền bởi vĩ tuyến 17. Cuốn sách này là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu, suy tư lâu dài của ông trong suốt cả chặng đường gần bốn mươi năm giảng dạy và nghiên cứu văn học. Nó định hình khá rõ nét phong cách của một nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã từng được khẳng định trên văn đàn Việt Nam đương đại nhiều năm nay. Cảm hứng nghiên cứu, phê bình của Lê Tiến Dũng ở cuốn sách này có thể tạm chia làm hai phần. Phần một bao gồm những bài viết về các nhà thơ nhà văn từ Phan Văn Trị cho đến các tác giả hiện đại ở đất phương Nam ngày nay. Phần hai gồm sáu bài nghiên cứu về ca dao gắn với các dịa danh du lịch nổi tiếng của đất phương Nam.

Cảm hứng nghiên cứu phê bình ở tập sách này đặt sắc nhất vẫn là ở phần một, gồm hai mươi sáu bài viết về các nhà văn, nhà thơ đất phương Nam. Trong số đó, có hai tác giả được Lê Tiến Dũng giành nhiều tâm huyết và công sức để khám phá và phát hiện vẽ đẹp độc đáo ở tác phẩm của họ. Đó là Tố Hữu và Xuân Diệu. Những bài viết về hai tác giả này, có thể gọi là những bài nghiên cứu công phu nhất, thành công nhất của tập sách.

 Dường như hình tượng Hồ Chí Minh trong thơ Việt Nam hiện đại từ lâu đã có sức ám ảnh, cuốn hút ngòi bút phê bình của Lê Tiến Dũng. Từ cuốn sách Cụ Hồ ở giữa lòng dân (viết chung) được lãnh giải thưởng trong dịp tổng kết đợt “Học tập tấm gương, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, cho đến các bài viết về hình tượng Bác Hồ trong thơ Tố Hữu, thơ Thanh Hải và trong thơ Viễn Phương đã thể hiện rất rõ sự ngưỡng mộ và lòng mến yêu Bác của nhà nghiên cứu qua những hình tượng thơ ấy. Đến với những trang viết này, cảm xúc và ngôn từ của Lê Tiến Dũng như cũng được nâng lên ngang tầm với cảm xúc của bài thơ, để rồi chúng hòa điệu trong nhau, cùng nhau cất lên tiếng nói thiêng liêng và cao cả về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mặt trời rực sáng đem đến sự sống, đem đến ánh sáng tươi đẹp cho trái đất. Nếu mặt trời trong câu thơ thứ nhất là một hình ảnh thực, là một vật thể không thể thiếu của vũ trụ, thì mặt trời trong câu thơ thứ hai lại là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo. Bác như một vầng thái dương sáng ngời, chiếu dọi ánh sáng cách mạng và tâm hồn để vực dậy sự sống tươi đẹp cho những con người đắm chìm trong bóng đêm nô lệ. Vì thế, Bác là một mặt trời luôn ngời sáng, sưởi ấm cho linh hồn của những người con Việt Nam”. Đó là một đoạn bình giảng về hai câu thơ của Viễn Phương trong bài Viếng lăng Bác:

 Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

( Trích Viễn Phương với hình tượng Bác Hồ trong thơ)

Là một thầy giáo khá nổi tiếng của chuyên ngành lý luận văn học, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thế mạnh của ông không chỉ được thể hiện ở những bài viết về lý luận văn học, mà ấn tượng sâu sắc nhất còn ở những lối bình thơ văn. Ông nắm bắt tinh, nhạy cảm, rất nhanh và rất chính xác thần thái của nhưng áng văn hay, những câu thơ kiệt xuất. Bình giảng hai câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu trong bài Giục giã:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Ông viết: “Đây là hai câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu. Không phải là hai câu thơ của sự hưởng lạc, sống gấp như có người đã nhận xét, mà là hai câu thơ của lòng ham sống, say sống giữa đời với độ nồng nàn. Cái chói chang của sự sống cũng giống như cái chói chang của ánh sáng thà bùng lên huy hoàng mà tắt, còn hơn cái le lói của trăm năm” (Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu)

Quả thật ở phương diện này Lê Tiến Dũng thật sự là một nhà phê bình, nhà giáo rất có tài trong rung cảm, thẩm thấu để phát hiện cái hay, cái đẹp của văn chương. Tôi cho rằng đó là một phẩm đầu tiên, hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành bại của một cây bút làm nghề nghiên cứu, phê bình văn học.

Đọc nhiều lần trên ba mươi bài viết trong tập sách này tôi nhận thấy năng lực cảm thụ, phân tích bình giảng văn chương của Lê Tiến Dũng quả thật tinh tế và tài hoa. Cái tài ấy là nhờ tác giả có đôi mắt tinh đời, trái tim nhạy cảm và tâm lòng nhân hậu rất dễ rung cảm trước cái đẹp của văn chương. Điều này đã làm cho tập sách có một giá trị đích thực của nghiên cứu phê bình văn học trong hoàn cảnh hiện nay. Từ chân dung các nhà văn, nhà thơ cho đến những bài viết về ca dao của nhiều xứ sở, cuốn sách của Lê Tiến Dũng đã thể hiện được một cách nghĩ, một tầm suy nghĩ khá mới mẻ và sâu sắc về con người và văn chương ở vùng đất phương Nam của đất nước ta.

Nhân dịp cuốn sách ra đời, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

                                                                            TP Hồ Chí Minh 30/05/ 2017

                                                                                               N.K.H.

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay, những bộ phim cải biên từ tác phẩm văn học vẫn liên tục được trình chiếu với những cấu trúc tự sự mới lạ, những kỹ xảo chất lượng cao và sự sáng tạo không ngừng của đạo diễn. Phim cải biên luôn chứng tỏ được sức hút của nó trong lòng những khán giả say văn chương mê điện ảnh. Vì vậy, dù có nhiều ý kiến khen chê, dù bị đánh giá là trung thành hay không trung thành với tác phẩm văn chương thì phim cải biên vẫn tiếp tục dòng chảy của nó để cho hành trình liên văn bản không bị gián đoạn khi đi qua những loại hình nghệ thuật khác nhau và đến với từng đối tượng tiếp nhận khác nhau.

Mặc dù phim cải biên đã tự mình chinh phục được những đỉnh cao trong nghệ thuật điện ảnh nhưng cơ sở lý luận, các lý thuyết cải biên từ văn học đến điện ảnh vẫn chưa nhất quán và còn nhiều tranh luận. Tại Việt Nam, tài liệu nghiên cứu về lý thuyết cải biên một cách có hệ thống và chuyên biệt hầu như vắng bóng. Những vấn đề cải biên học chỉ được đưa ra xen kẽ trong các công trình nghiên cứu tác phẩm cải biên cụ thể hoặc trong một số bài báo khoa học và bài tham luận tại các hội thảo. Trong khi đó, các tài liệu về cải biên học ở nước ngoài được dịch và giới thiệu trong nước với một mức độ khan hiếm. Ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu văn học cũng như nghiên cứu nghệ thuật đều xem vấn đề cải biên là một phương pháp thuần túy chứ không phải một lý thuyết nghiên cứu. Do đó, khi nghiên cứu việc cải biên một tác phẩm văn học sang một loại hình khác, nhất là điện ảnh, đa số các nhà nghiên cứu đều dùng phương pháp so sánh để cho thấy sự giống và khác nhau của tác phẩm cải biên và tác phẩm nguồn, tranh luận về tính trung thành với nguyên tác, từ đó bình giá tác phẩm cải biên chứ ít nhìn nhận về tính độc lập tương đối của tác phẩm cải biên hay thế mạnh của từng tác phẩm trong loại hình của nó.

Các bài báo, các bài điểm phim gần đây cũng chỉ nhìn vào các bộ phim cải biên ở góc độ trung thành hay biến đổi so với văn bản nguồn chứ không thấy được những sự dịch chuyển ký hiệu từ loại hình này sang loại hình khác, sự thay đổi bối cảnh từ tác phẩm cải biên này đến tác phẩm cải biên khác và sự tiếp nhận của tác giả điện ảnh với tư cách là một độc giả. Một vấn đề nữa là đối với tác phẩm văn học có nhiều tác phẩm điện ảnh cải biên thì người nghiên cứu chỉ lựa chọn duy nhất một tác phẩm mà không có sự so sánh đối chiếu để tìm hiểu xem các tác phẩm điện ảnh cải biên đó có sự tương quan với nhau như thế nào và bản nào được xem là cải biên, bản nào được xem là làm lại từ tác phẩm cải biên đó.

Ngày nay, trong bối cảnh mới của thế giới, cải biên học (adaptation studies) đã có những sự phát triển trên cơ sở lý luận liên văn bản, phiên dịch học, giải cấu trúc, văn hóa học. Nhờ những lý thuyết này cộng với sự phát triển mạnh mẽ của điện ảnh, cải biên học từ văn học đến điện ảnh đã được khảo nghiệm và hệ thống hóa thành lý thuyết. Lý thuyết cải biên giúp các nhà nghiên cứu có được cái nhìn đúng và thận trọng hơn khi đánh giá tác phẩm cải biên đồng thời giúp cho những người làm phim có những lựa chọn thích hợp khi muốn cải biên một tác phẩm văn học nào đó. Trong điện ảnh, có rất nhiều tác phẩm cải biên thành công và để lại nhiều ấn tượng tốt cho khán giả như: “Bố Già” (The Godfather), “Nhà tù Shawshank” (The Shawshank Redemption), “Forrest Gump”, “Hồ sơ điệp viên Bourne” (The Bourne Identity), “Cuốn theo chiều gió” (Gone with the Wind), “Bệnh nhân người Anh” (The English Patient),... Cũng có những tác giả điện ảnh nổi tiếng nhờ vào việc cải biên tác phẩm văn học như: Hitchcock, Kurosawa Akira, Stanley Kubrich. Tuy nhiên, chuyên luận về những “tác giả điện ảnh” cũng như thành tựu cải biên của họ đến nay vẫn chưa được chú ý nhiều.

Khi nghiên cứu cải biên học, chúng tôi muốn thông qua trường hợp Kurosawa khảo nghiệm lại những vấn đề trọng yếu của cải biên, ví như vai trò của văn bản nguồn trong cải biên, nghịch lý của tính trung thành trong cải biên hay mối quan hệ giữa tác giả và đạo diễn trong cải biên, tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại đến việc cải biên. Trong lịch sử điện ảnh thế giới, đạo diễn trứ danh Nhật Bản Kurosawa Akira được xem là bậc thầy của những tác phẩm điện ảnh cải biên. Do vậy, khảo sát các tác phẩm cải biên của ông bằng lý thuyết cải biên hứa hẹn sẽ đem đến một cái nhìn mới về sự sáng tạo của Kurosawa nói riêng và làm phong phú thêm cho lý luận cải biên nói chung. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến cách thức chuyển thể của Kurosawa Akira trong điện ảnh thế giới và những yếu tố giúp ông thành công trong việc cải biên tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên của người viết với đạo diễn Kurosawa Akira là những tháng ngày học ở Dự án điện ảnh K6 năm 2010-2011 tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Từ ám ảnh ban đầu về “Những giấc mơ” trong tập phim ngắn “Dreams” của ông, người viết đã tìm về nhiều bộ phim khác nhau thuộc nhiều giai đoạn khác nhau của đạo diễn và nhận thấy ở Kurosawa Akira có một dạng ngôn ngữ điện ảnh hấp dẫn kỳ lạ, mời gọi khán giả tìm hiểu, khai phá. Mặt khác, hầu hết các bộ phim của ông sử dụng chất liệu văn chương nhưng giữa tác phẩm văn chương làm chất liệu và phim Kurosawa luôn có một cuộc đối thoại ngầm mang tính tri âm và sáng tạo của đạo diễn với nhà văn. Kurosawa cải biên rất nhiều các thể loại văn học như: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản văn học. Sự thành công của phim Kurosawa đôi lúc làm khán giả lãng quên chất liệu có trước bởi cuộc chuyển vị ngoạn mục từ văn học sang điện ảnh. Do đó, có thể xem việc cải biên của Kurosawa là một trong những trường hợp tiêu biểu nhất để đặt vào cải biên học trong bối cảnh hậu hiện đại. Từ những lý do đã nêu trên, xin phép được giới thiệu tới bạn đọc tác phẩm: Chân trời của hình ảnh (Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa Akira).

Đây là một công trình nghiên cứu, mà qua đó chúng tôi muốn nhìn nhận cải biên học trong sự phức hợp của các lý thuyết: liên văn bản, giải kiến tạo, văn hóa học và phiên dịch học. Cải biên là một bộ phận của liên văn bản. Liên văn bản cho thấy sự dịch chuyển các ký hiệu từ văn bản nguồn là tác phẩm văn học đến văn bản đích là tác phẩm điện ảnh. Ngoài ra, xem xét cải biên từ góc nhìn liên văn bản sẽ thấy được hành trình xuyên suốt của các văn bản kể cả văn bản nguồn lẫn văn bản đích bởi tất cả các văn bản đều hấp thụ, biến đổi và trở thành từ các văn bản khác. Bộ phim cũng chỉ là kết quả của tiến trình liên văn bản, thể hiện một cách đọc của nhà làm phim và bên trong nó không chỉ có liên văn bản từ tác phẩm văn học nguồn mà còn rất nhiều văn bản khác thông qua ngôn ngữ, hành động nhân vật, thông qua diễn xuất của diễn viên cũng như các hiện tượng văn hóa, xã hội. Từ góc nhìn giải kiến tạo, tác phẩm điện ảnh cải biên sẽ được trả lại vị trí của chính nó, tức là mối quan hệ thứ bậc của tác phẩm nguồn và tác phẩm phái sinh, văn bản trước và văn bản sau sẽ bị xóa nhòa, thay vào đó là mối quan hệ đồng đẳng của các loại hình nghệ thuật, của sân chơi liên văn bản. Từ góc nhìn văn hóa học sẽ cho thấy hệ tư tưởng mang tính thống trị xã hội tác động đến quan điểm của những nhà làm phim. Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng giúp người nghiên cứu nhìn nhận nguyên nhân, mục đích và bối cảnh xã hội của cải biên và sẽ kiến giải được tại sao có những bộ phim cải biên từ cùng một tác phẩm văn chương nhưng lại có sự thay đổi rất lớn. Từ góc nhìn của phiên dịch học, việc cải biên tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh được xem là một kiểu dịch liên ký hiệu, do đó tính tương đương cũng được xem xét trong quá trình nghiên cứu cải biên. Tuy nhiên, tính tương đương này là tính tương đương giữa cái hồn cốt, cái tinh túy, cái đề tài cốt lõi của tác phẩm văn học so với tác phẩm cải biên chứ không phải tương đương về những chi tiết, logic về mặt cốt truyện hay cấu trúc tự sự.

Thứ hai, công trình sử dụng thuật ngữ “cải biên” để dịch thuật ngữ “adaptation” trong tiếng Anh, định danh những tác phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu có trước là văn học và các loại hình nghệ thuật khác. Đây là cách dùng từ do nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đề xuất ở trang 33 của bài viết: “Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo – liên văn bản trong văn chương và điện ảnh”, Tạp chí Văn học, số tháng 12/2006. Trước đây, khi phiên dịch thuật ngữ “adaptation” sang tiếng Việt, các dịch giả dùng từ “chuyển thể”. Tuy nhiên, đối với động từ “adapt” cũng mang hàm ý như danh từ “adaptation”, các dịch giả lại dùng từ “mô phỏng”, “dựa theo”, “cải tác”. Do đó, để sử dụng một thuật ngữ dịch thuật đồng nhất, công trình này sẽ dùng từ “cải biên” với hàm nghĩa lý thuyết, thể loại lẫn hàm nghĩa phương pháp, thao tác. Ngoài ra, cải biên học không chỉ được ứng dụng trong các tác phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu văn học mà còn ứng dụng nghiên cứu các tác phẩm sân khấu “biến đoạn” và thậm chí là trong cùng một loại hình nghệ thuật như các tác phẩm văn học Việt Nam cải biên từ các tác phẩm văn học nước ngoài. Bên cạnh đó, những bộ phim làm lại (remake), những bộ phim dựa trên chuyện có thật cũng được xem là cải biên. Vì vậy, nếu dịch là “chuyển thể” sẽ không phù hợp khi mở rộng phạm vi nghiên cứu. Cũng trong nghiên cứu này, lần đầu tiên, lý thuyết cải biên được giới thiệu và đề cập một cách toàn diện từ mối quan hệ của văn học và điện ảnh, từ tác giả cải biên, tác phẩm cải biên và người đọc, người xem. Bên cạnh đó, những bài nghiên cứu mới về lý thuyết cải biên cũng được giới thiệu một cách có hệ thống trong công trình.

Thứ ba, công trình này nghiên cứu về Kurosawa Akira bằng lý thuyết cải biên một cách triệt để thông qua những thể loại tiêu biểu được cải biên là: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Ở Việt Nam, có ít nhất hai công trình nghiên cứu về Kurosawa Akira ở bậc đại học và sau đại học nhưng là nghiên cứu về sự nghiệp của Kurosawa Akira một cách chung chung chứ không đi sâu vào cải biên học. Như vậy, với những vấn đề được nêu lên ở trên, chúng tôi tin rằng, công trình sẽ đóng góp một cách nhìn nhận mới đối với việc nghiên cứu các tác phẩm điện ảnh cải biên, giúp các tác phẩm cải biên được quan tâm một cách xác đáng chính từ bản thân nó chứ không phải từ sự giống nhau và khác nhau so với tác phẩm văn học. Đồng thời, công trình này hy vọng cũng sẽ giúp các nhà biên kịch có thể có những phương pháp phù hợp trong việc cải biên những tác phẩm văn học thành điện ảnh và giúp các nhà làm phim có thể học tập được phương thức cải biên của đạo diễn bậc thầy Nhật Bản Kurosawa Akira thông qua các nghiên cứu cụ thể.

Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà nghiên cứu: thầy Trần Luân Kim, thầy Trương Đăng Dung, thầy Trần Nho Thìn, thầy Lâm Quang Vinh, cô Phan Thị Bích Hà, cô Phan Thị Thu Hiền, thầy Lê Giang, cô Nguyễn Thị Thanh Xuân, cô Trần Lê Hoa Tranh, cô Trần Yến Chi, cô Nguyễn Vũ Quỳnh Như, cô Phan Bích Thuỷ đã góp ý, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Văn Nam Sơn, thầy Phan Nhật Chiêu, anh Trần Tiễn Cao Đăng, anh Phan Đăng Di, anh Phan Gia Nhật Linh là những người đã truyền cảm hứng cho tôi trên con đường học thuật và điện ảnh. Xin đặc biệt gửi lời tri ân đến thầy Nguyễn Nam, người đã giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều tri thức mới, cô Trần Thị Phương Phương, người đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm cho tôi trong quá trình nghiên cứu. Cuối cùng, xin gửi lời chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị đồng nghiệp và bạn bè vì luôn ở bên tôi, động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành công trình này. Công trình rất mong tiếp tục nhận được nhiều ý kiến đóng góp và chia sẻ từ bạn đọc.  

Sách Theo dấu người xưa của hai tác giả Phan Mạnh Hùng - Nguyễn Đông Triều vừa được NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành trong quý III năm 2017. Sau cuốn Tìm trong di sản văn hóa phương Nam (2016), Theo dấu người xưa tiếp tục mạch cảm hứng khai thác, trình bày những giá trị văn hóa trong lịch sử của vùng đất Nam Bộ.

Tác phẩm có bề dày gần 400 trang, tập hợp tất cả 27 bài khảo cứu của hai tác giả về di tích văn hoá – lịch sử và văn học Nam Bộ từ thời kỳ lịch sử cận đại cho đến giữa thế kỷ XX. Các bài viết đều đầy ắp những tư liệu, thông tin, hình ảnh về di tích, cảnh vật, con người… mà hai tác giả đã miệt mài, cất công lặn lội nhiều năm tháng trên khắp vùng đất “Nam Kỳ lục tỉnh” này để ghi chép, sưu tầm.

Có thể nói trong sách hầu như chia hai phần khá rõ rệt:

 Phần trước, chủ yếu do tác giả Nguyễn Đông Triều chấp bút. Các bài viết đã dựa trên cơ sở khảo sát thực tế, thu thập tư liệu ở nhiều địa phương Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Cách viết công phu, dựa trên nguồn tư liệu phong phú và chính xác, có giá trị về các nhân vật, di tích lịch sử - văn hoá (đền, chùa, miếu…) có liên quan đến lĩnh vực Hán Nôm (gia phả, câu đối, hoành phi, thơ văn…), tiêu biểu như các bài: Tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn và khu mộ cổ ở Sa Đéc (Đồng Tháp), Văn tế Nôm Nam Bộ qua Gia lễ tập thành, Dụ tế huân thần một tập sách hay về loại văn tế, Di sản Hán Nôm Nhị Phủ hội quán, Chùa cổ Vĩnh Phước An (Bạc Liêu) một di tích cần được bảo tồn, Chùa Ngọc Hoàng một di tích độc đáo ở thành phố Hồ Chí Minh…

Có thể nói những bài viết của Nguyễn Đông Triều đã cung cấp cho người đọc hiện nay, đại đa số không biết chữ Hán - Nôm, nhiều kiến thức bổ ích, những hiểu biết về các di tích lịch sử, di sản văn hoá của cha ông để lại trong quá trình đi khai mở vùng đất phương Nam.

 Phần sau, là các bài phần lớn do Phan Mạnh Hùng thực hiện, gồm những bài viết chủ yếu về văn học vùng đất Nam Bộ từ khoảng nửa cuối thế kỷ XIX đến những thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, tiểu biểu như các bài: Bài văn khóc thầy của các nhà văn Quốc ngữ tiên phong, Tuý Kiều ánTuý Kiều phú ở Nam Bộ, Kiều Thanh Quế nhà phê bình văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX, Giới thiệu về Nam Bộ trên Nam Kỳ tuần báoĐại Việt tập chí, Tân Dân Tử và những bộ tiểu thuyết lừng danh về Gia Long, Cuộc bút chiến năm 1923 xung quanh tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu

Những bài viết dựa trên nguồn tư liệu sách báo bằng chữ quốc ngữ nguyên bản gốc rất phong phú và có giá trị mà tác giả đã tốn nhiều công sức sưu tầm từ nơi lưu trữ của các thư viện lớn, nhỏ, hoặc tủ sách những gia đình trí thức nho học, Tây học còn cất giữ được ở khắp các địa phương Nam Bộ. Trên cơ sở tư liệu sách báo cũ đã dày công tìm kiếm, tác giả Phan Mạnh Hùng đã phục dựng một số chân dung nhà văn, những sự kiện văn học hoặc những tác phẩm văn chương có giá trị nhưng do sự biến động qua những giai đoạn lịch sử nên bị lãng quên theo thời gian.

Sách Theo dấu người xưa là một tác phẩm khảo cứu văn hoá khá dày dặn về số lượng và chất lượng. Cuốn sách đã góp phần quan trọng trong việc sưu tầm, bảo quản và phục dựng lại giá trị văn hoá của vùng đất mới Nam Bộ mà cha ông nhiều thế hệ trước đã đổ bao nhiêu mồ hôi, công sức để tạo dựng nên ở nơi này. Vì vậy cuốn sách chứa đựng nhiều tư liệu giá trị về nhiều lĩnh vực như văn hoá, văn học, sử học, thư tịch học, khảo cổ học…

Với những giá trị như vậy, cuốn sách rất hữu ích đối với nhiều thành phần bạn đọc trong xã hội: người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học, lịch sử; hướng dẫn viên du lịch; sinh viên những ngành xã hội ở các trường đại học, cao đẳng; những người yêu thích văn học, lịch sử vùng đất Nam Bộ…

Cao Văn Thức

Nguồn: Xưa & Nay, số 485, 7-2017                                                              

Đọc Mãi đừng xa tôi (Never let me go) của Kazuo Ishiguro, nhà văn Anh gốc Nhật, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nxb Văn học và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 2008.

Tác phẩm là một cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng, lấy bối cảnh nước Anh cuối thế kỷ hai mươi. “Giả tưởng”, nhưng câu chuyện vẫn thật đến nhói lòng bởi tác giả tưởng tượng rất tinh tế khi tạo dựng từng chi tiết, khi miêu tả từng cảm xúc của nhân vật. Câu chuyện kể về Hailsham, một ngôi trường nội trú chuyên nuôi dạy những đứa trẻ vốn là bản sao vô tính để phục vụ cho mục đích y học. Số phận những đứa trẻ này đã được định đoạt: khi đến tuổi trưởng thành, họ chỉ có mội một nhiệm vụ là hiến nội tạng cho những người bị bệnh cho đến khi nào chết thì thôi.  

Mấy chương đầu đọc khá chán, bởi lối kể chuyện nhẫn nha đến sốt ruột của Kazuo Ishiguro và vì cứ tưởng đó là những chuyện của bọn học trò nội trú bình thường. Nhưng đọc hết rồi mới thấm thía, đến độ phải đọc lại từ đầu để có thể hiểu rõ, nắm bắt được câu chuyện. Có những chi tiết ban đầu đọc thấy cũng bình thường, như chi tiết một lần Kathy nhắm mắt ôm gối khiêu vũ theo âm hưởng của bài bát Mãi đừng xa tôi cùng với đoạn điệp khúc “Con yêu, mãi đừng xa mẹ”. Sau khi đọc xong sách, sau khi biết Kathy chỉ là một bản sao sinh sản vô tính chỉ có nhiệm vụ hiến tạng chứ không sinh sản, không có con được, mới thấy tác giả xây dựng chi tiết đó tài tình làm sao.

Những Kathy, Tommy, Ruth,… đã được sinh hoạt, học tập như những con người bình thường khác; đã lớn lên và gắn bó với Hailsham. Trong ký ức của họ, thế giới khép kín đó như là một quê hương yêu dấu không thể nào nguôi quên. Biết mình sinh ra và được nuôi dưỡng chỉ để làm người hiến tạng, biết mình không hề có tương lai, nên Hailsham của quá khứ với nhiều kỷ niệm ngọt ngào là hạnh phúc, là nguồn an ủi duy nhất trong cuộc sống đã được lập trình sẵn của họ. Do vẫn là “người”, họ vẫn không nguôi  khát khao được làm người bình thường, khát khao được sáng tạo, được yêu thương, nhất là khi nghe mơ hồ đâu đó nếu yêu nhau thật sự họ sẽ được hoãn lại việc hiến tạng.  Nhưng rốt cuộc Ruth không qua khỏi sau lần hiến thứ hai, Tommy, sau một thời gian ngắn ngủi hạnh phúc cùng Kathy, đến lần hiến thứ tư cũng ra đi. Chỉ còn lại một mình Kathy tiếp tục công việc của người chăm sóc, tiếp tục đi trên những con đường tối tăm, heo hút trước khi  rồi cũng sẽ “xong hẳn” như Ruth, như Tommy.

Được Time Magazine xếp vào danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 tới năm 2005, Mãi đừng xa tôi là một cuốn sách buồn, làm người đọc u uất không ít nhưng cũng gợi nhiều cảm xúc, nhiều suy nghĩ về thân phận làm người.

20170724. sach trong cuoc doi

Mấy năm nay, đời sống văn hóa ở TP HCM chứng kiến một tình hình dường như mâu thuẫn này: Trong khi dư luận xã hội chưa hết than phiền về sự sa sút của văn hóa đọc thì ngày càng có nhiều cơ sở làm sách được thành lập và từng bước khẳng định thương hiệu qua những sản phẩm có chất lượng tốt cả về nội dung lẫn hình thức.

Đóng góp vào sự khởi sắc đó có tiếng nói của những cây bút tích cực quảng bá cho văn hóa đọc mà tôi thường không bỏ lỡ những bài viết của họ: Phan Trọng Hiền (Biên Hà), Dương Thành Truyền (Duyên Trường), Trần Vương Thuấn (Thục Linh), Nguyễn Minh Hải (Trúc Giang)… Tuy không phải là những nhà phê bình chuyên nghiệp, bên cạnh công việc chính ở các cơ quan văn hóa, họ vẫn dành thời gian dõi theo sự ra đời và đường đi của những cuốn sách để cổ vũ cho một đời sống văn hóa có chiều sâu.

Cuốn "Sách trong cuộc đời" (NXB Văn hóa - Văn nghệ TP HCM, quý II/2017), tập hợp những bài viết của Nguyễn Minh Hải về cùng chủ đề trên các báo ở TP HCM 15 năm qua, là kết quả của hoạt động âm thầm mà bền bỉ đó.

Có thể nói, đây là những câu chuyện của một người yêu sách cất lên tiếng nói chân thành và thẳng thắn của mình về một số hiện tượng trong sáng tác, xuất bản và tiếp nhận văn học. Trước hết là những câu chuyện có ý nghĩa mà tác giả rút ra từ việc cảm thụ một số tác phẩm của Nam Cao, Mạnh Phú Tư, Sơn Nam, Nguyễn Huy Thiệp, An Chi…; hay quan sát những sinh hoạt thường ngày như tặng sách, mua bán sách cũ, quảng cáo sách mới, đưa sách về nông thôn…

Tôi thật sự thú vị khi đọc những trang tác giả kể những kỷ niệm về "gène đọc sách" được truyền lại từ người cha, về tập sách "gia bảo" của một người bạn, về lá thư tình cờ tìm thấy trong một cuốn sách cũ. Là nhà báo, Nguyễn Minh Hải cũng đồng thời mang tố chất của nhà giáo dục khi anh nhiều lần quan tâm đến việc chọn sách, hướng dẫn cách đọc và xây dựng thói quen đọc sách cho thiếu nhi. Tinh thần công dân của tác giả còn thể hiện rõ qua mối ưu tư đối với việc sách giáo khoa lịch sử chưa đề cập một số sự kiện quan trọng (nạn đói năm Ất Dậu 1945, việc Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1974 và tấn công Trường Sa năm 1988, cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược năm 1979 ở biên giới phía Bắc…). Điều đó cho thấy ý thức trách nhiệm của một ngòi bút trước hiện tình đất nước và các thế hệ tương lai.

Đọc bài "Một cuốn sách còn nợ", tôi hết sức xúc động và cảm ơn tác giả đã nhắc đến món nợ đối với nhà văn Nguyễn Nguyên mà nhà báo Nguyễn Trọng Chức và tôi luôn canh cánh bên lòng. Mong sao Nguyễn Minh Hải - vốn đã bỏ nhiều công sức sưu tầm, tìm hiểu về hoạt động báo chí và văn học của Nguyễn Nguyên - sẽ cùng gia đình nhà văn, với sự góp sức của các đồng nghiệp, trả được món nợ tinh thần đó.

"Sách trong cuộc đời" là một đề tài quen thuộc nhưng không dễ gì khai thác hết những khía cạnh phong phú, đa chiều của nó. Đây là những suy nghĩ trung thực và tâm tình giản dị của một người chịu ơn từ sách. Tất nhiên, tác giả còn thời gian dài rộng để suy ngẫm về việc đọc sách từ điểm nhìn của ngày hôm nay, chẳng hạn có nên "tận tín ư thư" hay không, làm sao tiếp thu có chọn lọc những bài học đạo đức của "nhị thập tứ hiếu" cho phù hợp với thời đại, lý giải thế nào cho thỏa đáng những hiện tượng "đốt sách", "ăn cắp sách" mà không gây ngộ nhận…

Có thể nói, "Sách trong cuộc đời" góp phần hâm nóng niềm khát khao nơi bạn đọc luôn mong muốn vươn tới những giá trị văn hóa.

Huỳnh Như Phương

Nguồn: http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/nhung-cau-chuyen-cua-mot-nguoi-yeu-sach-2017071521212166.htm

“Thời gian trốn ở đâu?”, câu hỏi hồn nhiên của một bé thơ đặt ra cho ông ngoại, đụng chạm đến nỗi ám ảnh “đi tìm thời gian đã mất” của cả một đời người.

       Câu trả lời đầy hình ảnh của ông ngoại (Thời gian sớm đó rồi khuya/ Từ tao nôi đến mộ bia đời người/ Thời gian: chiếc lá đấy thôi/ Từ xanh thắm đến vàng phơi lối về…) gợi ý cho cháu rút ra một “đáp án”: Thời gian trốn giữa bốn bề không gian.

       “Đáp án” nẩy sinh tự phát đó nói lên một định luật sâu xa: thời gian tựa hồ hòa nhập vào không gian và chảy theo chiều kích của không gian; ngược lại không gian cũng mang nhịp điệu và tiết tấu của thời gian. Đâu phải ngẫu nhiên mà M. Bakhtin, một học giả nổi tiếng người Nga, đã đề xuất thuật ngữ không-thời gian (khronotop) như một cách bện chặt không thể tách rời hai phạm trù này.

       Nhưng Thời gian trốn ở đâu? của Nguyễn Thái Dương không phải là tập thơ triết lý. Câu hỏi truy tìm thời gian ở đây được liên hệ trong một phối cảnh rất “đời thường”: nỗi buồn tuổi tác của ông ngoại được hóa giải trong một kết hợp hai chiều: dõi theo Kiwi và Bòn Bon từng ngày lớn lên, đầy tháng, thôi nôi, vào mẫu giáo rồi lên lớp Một; đồng thời, làm thơ cho hai cháu, ông như quay lại nhìn tuổi thơ của mình. “Những lần ít ỏi gần gụi nhau, nụ cười ấy, ánh mắt kia, cử chỉ nọ… của Kiwi và Bòn Bon cứ gieo mầm rồi đâm chồi nẩy lá trong nỗi nhớ thương của ông”: nhớ thương hai cháu, ông làm thơ; và làm thơ cũng là cách ông nhớ thương tuổi thơ của mình.

        Mới ngày nào, ông cũng hồn nhiên đặt những câu hỏi vì sao như hai cháu. Mới ngày nào ông cũng vừa nôn nao vừa sợ sệt nắm tay bà cố đến trường. Mới ngày nào ông hồi hộp chờ mong tiếng khóc chào đời của con. Mới ngày nào ông nghẹn lời vì hạnh phúc tiễn con gái về nhà chồng… Hành trình đã qua của ông cũng sẽ là hành trình tương lai của cháu. Tập thơ này lưu giữ cho hai cháu mà cũng là lưu giữ cho ông ngoại những niềm vui do tuổi thơ ban tặng.

        Nhà văn Tô Hoài có lần bảo rằng viết cho tuổi thơ phải cố gắng đạt ít nhất hai điều: nghịch và đẹp. Tập thơ này đáp ứng hai yêu cầu đó. Tuổi thơ mà không nghịch thì đâu là tuổi thơ. Viết cho tuổi thơ mà nghiêm nghị thì sẽ mất vui, như viết cho “ông cụ non”. Phải có cái nhìn tinh nghịch mới thấy niềm vui ngày “hoàng thượng đi khai trường”: Người đâu, chuẩn bị… cơm sườn/ Trẫm xơi rồi trẫm tới trường Mầm Non. Ông “học tập” cháu cái nhìn tinh nghịch đó khi cháu đọc truyện tranh, khi trái banh của Misa và Thỏ Trắng méo xệch, khi sách bút lêu lêu cô chủ còn mê nghỉ Tết…

        Và cái nghịch không tách rời cái đẹp. Vẻ đẹp của những giọt sương (Sương từng giọt một long lanh/ Giọt tranh cành lộc, giọt giành nhụy mai). Vẻ đẹp của tấm áo bà ngoại cắt may cho cháu (Nâng niu cất giữ từ hồi/Kìa vuông vải nhỏ thơm hơi tháng ngày). Vẻ đẹp của dáng đi và tiếng rao của một bà mẹ nghèo (Mẹ giọng khản vai trầy/ Từ tiếng rao, đôi gióng/ Dù hẻm gầy nắng bỏng/ Dù đường lầy buốt mưa).

        Cái đẹp, dưới mắt nhìn tuổi thơ, đôi khi vẫn buồn. Nỗi buồn nhẹ nhàng khi Kiwi chia tay thỏ trắng, gấu bông… một thuở Mầm Non để lên lớp Một, còn Bòn Bon thì ở lại. Nỗi buồn pha chút xót xa khi thấu hiểu người bạn cùng lứa tuổi trên sân ga: Con tàu chuẩn bị rời ga/ Vé số em cầm chân mỏi/ Lời rao khản giọng chờ mua/ Kiếm chút tiền cơm đắp đổi…

        Nguyễn Thái Dương cả đời viết văn, làm báo cho tuổi thơ, tuổi trẻ. Thơ anh luôn giữ được nét trong sáng, nhân hậu và ân tình. Đó là suối nguồn sẽ còn tiếp tục chảy trong thơ anh, tưới mát những dòng chữ và tưới mát tâm hồn người đọc.

 

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

*Bài tựa tập thơ Thời gian trốn ở đâu? của Nguyễn Thái Dương, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2015.

Văn chương Sài Gòn: nền văn chương thất lạc!

Sẽ có người hỏi “Ủa! Sài Gòn cũng có văn chương nữa sao?”. Xin nhỏ nhẻ mà thưa “Dạ, có!”. “Nó gồm có những thứ gì?”. “Dạ, có đủ! Tiểu thuyết ngắn dài, truyện thơ, thơ, phú, tiểu phẩm, tuồng, cải lương...”. “Nó có từ hồi nào?”. “Dạ, có từ hồi người Việt biết chữ quốc ngữ ít lâu”.

Khiêm tốn mà nói như vậy!

Đã là người Việt, đã là người Sài Gòn thì đều biết chữ quốc ngữ được phổ biến đầu tiên ở Sài Gòn, ở Nam kỳ nay gọi là Nam bộ. Và văn bản bằng chữ quốc ngữ đầu tiên chính là tờ Gia Định Báo, xuất bản tại Sài Gòn, số ra đầu tiên ngày 15.4.1865. Và chúng ta cũng đã thống nhứt với nhau rằng “báo chí quốc ngữ là cái nôi của văn học Việt Nam”.

Ai cũng nói, cũng biết như vậy, song lâu nay, việc tìm hiểu tận nguồn gốc của văn học quốc ngữ Việt Nam một cách minh bạch thì... ít người làm!

Vì sao tôi chọn cái mốc từ 1881 đến 1924?

Từ tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo, năm 1866 Trương Vĩnh Ký cho ra đời tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên. Đó là “Chuyện đời xưa" nhằm "lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”. Tiếp đó là những sáng tác văn xuôi quốc ngữ thuộc nhiều thể loại báo chí. Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử báo chí Sài Gòn, tôi phát hiện ra một điều đáng chú ý. Đó là sự thay đổi đột ngột của mục Thứ vụ trên Gia Định Báo vào ngày 01.12.1881. Trước đó, mục Thứ vụ là mục viết những thông báo linh tinh của chánh quyền từ những văn bản thúc thuế cho đến việc rao bán đấu giá những mặt hàng dành cho quân đội, chánh quyền.

Tới ngày 01.12.1881, trong mục này bỗng xuất hiện ba bài viết văn xuôi ngắn chiếm nửa trang báo khổ A3, không có tên tác giả, gồm: "Cách thế cứu người chết ngột", "Tên chăn bò" và "Thằng ăn trộm với con heo. "Cách thế cứu người chết ngột" (đúng ra là chết ngộp) là một bài khoa học thường thức. Còn hai bài kia là truyện. Phải chăng đây là những truyện đầu tiên được đăng trên báo quốc ngữ? Nhưng tác giả là ai? Sau đó, khi được đọc cuốn "Phansa diễn ra quấc ngữ" của ông Trương Minh Ký in năm 1884 và tái bản năm 1886, tôi phát hiện trong đó có đăng hai truyện nầy, "Thằng ăn trộm với con heo" mang số 110, còn "Tên chăn bò" thì mang số 119. "Phansa diễn ra quấc ngữ" là những truyện “chuyển thơ ngụ ngôn La Fontain thành văn xuôi” của ông Trương Minh Ký. Với tôi, dù là chuyển thể từ thơ, nhưng đây là những truyện đầu tiên, viết bằng văn xuôi, in trên báo quốc ngữ Sài Gòn. Vì vậy tôi chọn thời điểm 1881 làm cái mốc bắt đầu cho văn chương Sài Gòn.

Sau một thời gian, văn chương Sài Gòn đã bứt phá khỏi "cái khung" nửa trang báo khổ A 3 để chiếm lĩnh nguyên trang báo Nam Kỳ, trong tổng số 8 trang nội dung. Thời điểm đó, tại Sài Gòn, đã xuất hiện khá đông tác giả, dịch giả mà những sáng tác, bản dịch đủ mọi đề tài và thể loại của họ nhanh chóng được đăng tải thường xuyên trên báo chí. Như truyện "Một ngàn lẻ một đêm", năm 1895 được xuất bản bằng tiếng Pháp thì ba năm sau, tức năm 1898, đã được dịch và đăng trên báo Nam Kỳ. Đáng kể nhất là quyển "Thầy Lazaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản, xuất bản năm 1887, được nhiều người xem là "tác phẩm văn học quốc ngữ đầu tiên" của Việt Nam.

Qua đầu thế kỷ XX, lực lượng viết càng đông hơn. Tiểu thuyết đủ loại ngày càng chiếm một phần quan trọng trên các trang báo. Năm 1902, báo Nông Cổ Mín Đàm ở Sài Gòn đã tổ chức cuộc thi văn học đầu tiên của lịch sử Văn học Việt Nam với tên gọi "Quảng văn thi cuộc.  Chỉ trong ba tháng tổ chức, cuộc thi đã thu hút được 49 tác giả khắp lục tỉnh, mà trong số nầy, về sau trở thành những người có tên tuổi trong làng viết lách Việt như Nguyễn Hữu Hạnh (sau năm 1905 trở đi là chủ bút tờ Nhựt Báo Tỉnh), Nguyễn Dư Hoài (thơ ký tòa án Bến Tre, người viết tiểu thuyết feuilleton đầu tiên), Lương Khắc Ninh (chủ bút tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn), Trần Phong Sắc (nhà dịch thuật nổi tiếng đầu thế kỷ XX), Nguyễn Viên Kiều (nhà báo), Tống Hữu Định (người góp phần mở đường cho cải lương miền Nam), Đặng Lễ Nghi (người sáng tác nhiều truyện thơ)...

Còn về cái mốc chấm dứt vào năm 1924?

Quyết định chọn năm 1924 làm cái mốc tạm dừng chơn của văn chương Sài Gòn, tôi mong mọi người biết rằng, trước khi "Tố Tâm" – tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ra đời năm 1925, thì trước đó bốn mươi năm, Sài Gòn đã có rất nhiều truyện, tiểu thuyết, dài ngắn khác nhau rồi.

Trong quãng thời gian ấy, đã có nhiều tác giả, dịch giả, sáng tác và dịch thuật rất nhiều tác phẩm, đủ các thể loại đăng trên các tờ báo ở Sài Gòn và ở Nam Kỳ, hình thành nên một thứ tạm gọi là “văn chương Sài Gòn” đủ sức khơi dậy và nuôi lớn nền văn học phong phú, đẹp đẽ như ngày nay. Thế nhưng, gia tài văn chương chữ quốc ngữ quý giá ấy “bỗng dưng biến mất" trong lịch sử văn học nước nhà từ giữa thế kỷ XX.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đã từng viết “Miền Nam vốn có một một địa vị về văn nghệ và có ảnh hưởng sâu rộng trong quảng đại quần chúng lan tràn đến cả miền Trung lẫn miền Bắc. Miền Nam đã gây phong trào tiền phong về mọi phương diện văn nghệ: báo, tạp chí, truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, đặc biệt là tiểu thuyết Trung Hoa, truyện phóng tác tiểu thuyết Tây, phong trào xuất bản rộng lớn các loại thơ bình dân và rất phồn thịnh… Văn nghệ miền Nam phải có quyền được các học giả nghiên cứu sâu rộng. Bộ văn học sử của Dương Quảng Hàm cũng như các bộ phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan đều phiến diện. Việc giảng dạy trong các nhà trường không thể tiếp tục như cũ. Không thể quá nặng về văn học miền Bắc mà lầm tưởng là văn học Việt Nam, vì văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII trở lui chính là văn học hai miền, mà từ 1862 đến 1932 thì miền Nam đã vọt lên vai tiền phong, hướng dẫn cả mọi phương diện phát triển văn học quốc ngữ, mà còn đào tạo những nhà văn nhà báo cho cả hai miền sau môt cách trực tiếp hoặc gián tiếp… Định lại giá trị văn học miền Nam chính là trở về sự thật, chính là biết tỏ lòng yêu quí và lo lắng cho đời sống tinh thần của dân miền Nam mà trong hoàn cảnh hiện tại, đó là lực lượng chủ yếu của mọi thăng trầm!” (Khi lưu dân trở lại, Thời Mới xuất bản, Sài Gòn 1969).

Ông Xuân cũng từng thắc mắc “Không gì vô lý và đau xót bằng khi một học sinh đệ nhị (lớp 11 hiện nay) học Đông Dương tạp chí mà không học Phụ Nữ Tân Văn. Nói về mọi phương diện, tạp chí sau nầy đã vượt xa tạp chí trước về biên khảo, dịch thuật, bút chiến, phê bình tiểu thuyết”. Hay “lại không gì mỉa mai hơn là học Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, cả Hoàng Ngọc Phách nữa, những nhà văn mà chính phê bình gia có tiếng là Vũ Ngọc Phan nhìn nhận là kém hơn Hồ Biểu Chánh”!


***

Vậy thì văn chương Sài Gòn ra sao? Xin thưa, đó là một nền văn chương dành cho mọi người. Văn chương Sài Gòn, ai cũng đọc được, từ quan lớn, quan nhỏ, bà lớn, bà nhỏ, cô tiểu thư, cho đến chị bán tàu hũ, bán chuối chưng, bán cá... ngoài chợ, tất nhiên là phải biết chữ.

Vì viết cho mọi người nên văn chương Sài Gòn viết bằng tiếng nói thường dùng, với nguyên liệu chính là cuộc sống thường ngày. Đó là chuyện thời sự mới diễn ra tháng rồi, là chuyện tình của cô Tám, cô Chín, là chuyện của người nghèo, người giàu và cả người "chưa giàu"... Đã là văn chương thì phải được “nâng lên”, được hư cấu, thêm mắm dặm muối như người đầu bếp lành nghề nấu ăn. Nên ai đọc đều thấy có mình trong đó, đều cảm thương cho số phận nhân vật, đều tin rằng cuộc sống khó khăn nhưng vượt qua được. Thậm chí có độc giả còn nghĩ rằng, nhân vật là có thiệt và đang đồng hành cùng họ.

Vì gần cuộc sống, vì dành cho mọi người, vì là truyện đăng báo, nên văn chương Sài Gòn không cầu kỳ, không chải chuốt, không bóng bẩy, không làm dáng mà bình dị, nhẹ nhàng, thô ráp, văn gần với tiếng nói. Văn chương Sài Gòn là văn chương viết từng kỳ, viết để in liền nên mỗi kỳ phải hấp dẫn người đọc. Có nhà văn, mỗi ngày tới ngồi ở tòa soạn báo viết liền một mạch rồi đưa cho ấn công đem vô xếp chữ. Do đó, có khi chữ nghĩa không được biên tập, sửa chữa cho gọn gàng, câu cú nhiều lúc lộn xộn. Đó cũng là phong cách của nhiều nhà văn Sài Gòn kéo dài cho tới năm 1975.

Văn chương Sài Gòn bắt đầu là những truyện rất ngắn, nội dung đơn giản, tình tiết cũng giản dị. Lần lần truyện mới dài ra, dài ra, nhiều tình tiết hơn, nhiều éo le, gút mắc hơn và đến thế kỷ XX mới thực sự có những cuốn tiểu thuyết đồ sộ. Đọc lại các truyện thuở bình minh của văn học quốc ngữ, từ những tập "Chuyện đời xưa" của Trương Vĩnh Ký, "Chuyện giải buồn" của Huỳnh Tịnh Của cho chí truyện "Phansa diễn ra quấc ngữ" của Trương Minh Ký đều na ná nhau ở chỗ rất ngắn, nội dung mỏng, đọc dễ hiểu. Đến "Thầy Lazaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản thì mới dài, và độ dài nầy so với tiểu thuyết ngày nay chỉ là một truyện vừa! Có lẽ thời kỳ đầu, người biết quốc ngữ không nhiều, các vị viết nhằm mục đích cho người học chữ luyện chữ, tập đọc chớ chưa nhằm để “thưởng thức” như ngày nay. Thứ nữa, thuở xưa, người viết cũng không nhằm mục đích kiếm sống nên chẳng cần phải kéo dài lê thê ngày nầy qua ngày khác! Cũng còn có một lý do đặc biệt quan trọng nữa là văn học Sài Gòn "sống nhờ" báo chí, nên hoàn toàn phụ thuộc vào chủ trương xuất bản của từng tờ báo.

Có thể hình dung, văn chương Sài Gòn xưa là món rau ghém, món ăn phụ trên mâm cơm báo chí. Chỉ là món ăn phụ để người đọc báo khỏi ngán. Mà cũng ngán thiệt! Tin tức trên báo gần như chỉ có những món tin xe cán chó chó cán xe, giết người, cướp giựt... Rồi phần nghị luận thì lê thê nặng nề, khô khan (tương tự món khô chiên, món thịt kho quẹt mặn đắng, ăn ít thì ngon nhưng ăn nhiều thì uống nước no bụng)... May có món tiểu thuyết khiến "bữa ăn" báo chí dễ nuốt. Dần dà, văn chương thành món trọng yếu của nhiều người đọc báo. Và cũng từ đó, văn chương có chỗ đứng nhứt định rồi lớn lên thành một dòng văn học riêng, phản ánh một cách trung thực cuộc sống, xã hội đương thời. Chính với nội dung, phong cách và cách viết ấy, văn chương Sài Gòn tạo ra một dòng văn học riêng, không đâu có, khó bắt chước, trải qua cả trăm năm vẫn ẩn chứa sức hút vô cùng mạnh mẽ, đáng được ghi nhận trong văn học sử của nước nhà.
Cũng vì lẽ đó mà tôi đã cất công ghi lại những tiểu thuyết của những người đi trước sưu tầm được. Có thể thân nhân của các tác giả vẫn còn đâu đây nhưng do tôi không may mắn được gặp nên xin được tha thứ nếu có điều chi thất thố.

Phần lớn những tiểu thuyết và truyện ngắn in trong sách nầy đều chép từ các tờ báo xưa. Một số tác phẩm nổi tiếng nhưng không đưa vào sách nầy như "Nghĩa Hiệp kỳ duyên" của Nguyễn Chánh Sắt, hay bản dịch "Tam quốc chí" đầu tiên của Canavaggio vì đã quá quen thuộc và in ấn nhiều. Lần này, trong tập 1, xin được chọn một số tác phẩm mới chưa in lại hoặc in rất ít để phục vụ bạn đọc. Ngoài nhiều truyện của tác giả Trương Minh Ký (có khi dùng bút hiệu Mai Nham), chúng tôi in lại hai ấn phẩm nổi tiếng, có vị trí vô cùng quan trọng trong văn chương quốc ngữ. Đó là: "Kiếp phong trần" của Trương Vĩnh Ký và "Thầy Lazaro phiền" của Nguyễn Trọng Quản.

Ngoài ra, chúng tôi còn chọn lọc đăng những tác phẩm có giá trị trong nghiên cứu như "Ai làm được", tác phẩm đầu tay của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu – Nguyễn Kim Đính, Phan Yên ngoại sử, tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản, cùng một số tác phẩm văn xuôi của nhiều tác giả, trong đó có những tác giả chúng tôi cũng chưa biết rõ. Riêng tiểu thuyết "Hà Hương Phong Nguyệt" của Lê Hoằng Mưu thì chép theo cuốn sách do nhà in Nguyễn Văn Viết in năm 1915. Nội dung các truyện được sắp xếp theo theo trình tự thời gian xuất bản của tài liệu sưu tầm được, riêng bài "Văn chương quốc ngữ" (1924) được dùng làm bài  mở đầu là để độc giả dễ nắm bắt những vấn đề trọng tâm của văn chương quốc ngữ thời kỳ này.

Tôi cũng mạn phép được “dịch” vài chữ người xưa hay dùng để độc giả ngày nay dễ theo dõi, còn lại đều giữ nguyên theo bản gốc. Những chữ không đúng với chính tả hiện hành, chúng tôi sẽ điều chỉnh trong ngoặc [ ] cho lần xuất hiện đầu tiên, các lần sau giữ nguyên như bản gốc để bạn đọc tiện nghiên cứu, tham khảo về văn chương quốc ngữ Nam bộ. Trong phần tác giả, chúng tôi cố gắng cung cấp thêm một số thông tin tiểu sử để bạn đọc tiện tra cứu, và mong được bạn đọc bổ túc thêm thông tin về những tác giả mà chúng tôi chưa biết, để lần tái bản sau ấn phẩm được hoàn thiện hơn.

Rất mong được bạn đọc góp ý.

TRẦN NHẬT VY

Nguồn: VĂN CHƯƠNG SÀI GÒN 1881-1924 - Văn xuôi I - NXB Văn hóa Văn nghệ, 2017

        Bạn đang cầm trên tay một trong tám cuốn sách thuộc Tủ sách Tuổi Hoa mà Nhà xuất bản Phương Đông và Phương Nam Book liên kết tái bản đợt đầu tiên. Thời gian qua đã có những nỗ lực đáng quý nhằm giới thiệu lại Tủ sách này với độc giả thiếu nhi. Lần này, những người làm xuất bản, sau khi liên hệ với các tác giả hay người đại diện, đã đưa vào kế hoạch ấn hành có chọn lọc Tủ sách Tuổi Hoa nhằm đáp ứng nhu cầu đọc sách ngày càng đa dạng.

         Khởi nguồn của Tủ sách Tuổi Hoa là tờ báo Tuổi Hoa ra mắt tháng 6-1962, lúc đầu là nguyệt san, sau thành bán nguyệt san, hoạt động gần tròn 13 năm, cho đến số cuối cùng 233. Tòa soạn báo đặt tại 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn, do Chân Tín làm chủ nhiệm, Nguyễn Trường Sơn làm chủ bút. Với tiêu ngữ “Vui – Trẻ - Đẹp – Xây dựng”, báo Tuổi Hoa dành phần lớn số trang cho sáng tác văn học thiếu nhi, gồm thơ, truyện ngắn, truyện dài, truyện tranh… cùng với  những bài phổ biến kiến thức khoa học, ngợi ca gương danh nhân…

          Trên nền những thành quả sáng tác đó, năm năm sau (1967), Tủ sách Tuổi Hoa được nhà văn Nguyễn Trường Sơn sáng lập. Ngoài những truyện dài đăng báo, Tủ sách tạo được một nguồn bản thảo dồi dào để in thành ba loại: Hoa Xanh ký hiệu cho những tác phẩm viết về tình cảm gia đình, tình bạn, sinh hoạt học đường với những nhân vật hồn nhiên, trong sáng; Hoa Đỏ - những tác phẩm có cốt truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám hấp dẫn, đáp ứng tính hiếu kỳ của tuổi thiếu niên; Hoa Tím – viết về những xao xuyến, bâng khuâng của tuổi trăng tròn nhiều mơ mộng. Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng tám năm, Tủ sách Tuổi Hoa đã ấn hành gần 120 đầu sách, bao gồm sáng tác văn xuôi và một số truyện phóng tác, thuộc ba loại nói trên.

         Uy tín của Tủ sách này có được là nhờ sự cộng tác của những nhà văn quan tâm đến thiếu nhi thời đó như Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh, Minh Quân, Bửu Kế, Nguyễn Trường Sơn (tức Hà Châu), Bích Thủy, Hoàng Đăng Cấp, Quyên Di, Trinh Chí, Nhật Lệ Giang… Đáng quý hơn nữa, qua hoạt động của Báo Tuổi Hoa và Tủ sách Tuổi Hoa, nhiều cây bút mới được phát hiện và tự khẳng định như những nhà văn chuyên tâm viết cho thiếu nhi: Nguyễn Thái Hải (tức Khôi Vũ sau này), Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Kim Hài, Thùy An, Nam Quân, Tôn Nữ Thu Dung…

        50 năm trôi qua, những tác giả viết sách Tuổi Hoa ngày trước, nay kẻ còn người mất, có lẽ không hình dung được tâm thế của lớp độc giả thiếu nhi bây giờ ra sao khi đọc những thiên truyện của một thời đã xa. Các bạn đang ở nông thôn hay thành phố, trong nước hay ngoài nước, còn được đi học hay phải bươn chải tìm kế mưu sinh? Các bạn có lạ lẫm với tuổi thơ ngày ấy, với khung cảnh nhà trường, bóng dáng chiến tranh và điều kiện sống không giống bây giờ?

        Nhưng thiếu nhi thời nào cũng có những điểm chung: tình yêu quê hương và thiên nhiên, tình bạn chân thành, lòng hướng thiện, khát vọng sống, niềm tin vào tương lai… Đậm đà tình yêu tiếng Việt, những trang văn Tuổi Hoa bồi đắp cho tâm hồn chúng ta dưỡng chất tinh thần để một mai vững bước trên đường đời, luôn giữ sự hài hòa giữa tình cảm và lý trí, quan sát và tưởng tượng, óc phán đoán và năng lực phân tích. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều trang lưu bút trên mạng điện tử vẫn nhắc đến sách báo Tuổi Hoa với cảm tình sâu nặng. Là người đọc sách Tuổi Hoa từ khi còn đi học ở một vùng quê miền Trung, tôi có thể tự tin mà nói với các bạn rằng những cuốn sách này là một phần kỷ niệm thời niên thiếu của tôi, khiến bây giờ gặp lại lòng thấy hân hoan như gặp những người thân yêu thời thơ dại mà mình từng sẻ chia, tin cậy.

        Đời người như đời cây, trước khi cho quả, là lúc kết nụ, nở hoa, tỏa hương khoe sắc. Muốn lưu giữ những kỷ niệm đẹp một thời không quay lại, bạn hãy làm quen với tủ sách này để có thể cảm nhận những bông hoa thời niên thiếu đang nở giữa lòng mình.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

* Bài tựa viết cho Tủ sách Tuổi Hoa do NXB Phương Đông - Phương Nam Book tái bản, TP HCM, 2017.

 

NVTPHCM- Tuyển tập thơ văn trẻ Trên đôi cánh thanh xuân do Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh phối hợp Saigon Books và NXB Văn Học thực hiện bằng kinh phí xã hội hoá. Đây là món quà có ý nghĩa chào mừng Hội nghị Những người viết văn trẻ TP. Hồ Chí Minh lần thứ IV. Xin trân trọng giới thiệu lời tựa sách…

20170830. Van hoc Nga

Ảnh: 4 tác phẩm văn học Nga được ra mắt lần này gồm Đầu xanh tuổi trẻ, Nỗi khổ vì trí tuệ, Kinh nghiệm tình ái, Đôi cánh.

Nằm trong khuôn khổ dự án xuất bản với sự bảo trợ của tổng thống Nga, 4 tác phẩm văn học kinh điển lẫn đương đại được ra mắt lần này là cầu nối lịch sử - văn hóa Việt - Nga.

Phát biểu tại buổi lễ ra mắt 4 tác phẩm tại Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga vừa qua, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam Konstantin Vasilievich Vnukov cho biết dự án tủ sách của Tổng thống Liên bang Nga tặng bạn đọc Việt Nam đã sắp đi tròn 5 năm đầu tiên, kể từ năm 2012. Đây là dự án mang tầm quan trọng đặc biệt về văn hóa và mối quan hệ giao lưu giữa nhân dân hai dân tộc.

4 tác phẩm ra mắt đợt này gồm: Tác phẩm văn xuôi Nga hiện đại Đôi cánh của Christina Stark, tiểu thuyết Đầu xanh tuổi trẻ của Fiodor Dostoevsky, vở kịch bằng thơ Khổ vì trí tuệ của Alexandr Griboedov và tập truyện ngắn Nga đương đại Kinh nghiệm tình ái.

Theo dịch giả Hoàng Thúy Toàn, đại diện Quỹ Hỗ trợ quảng bá văn học Nga - Văn học Việt Nam, trong 4 tác phẩm trên, tiểu thuyết Đầu xanh tuổi trẻ của F.Dostoevski ra mắt lần này kết thúc bộ tuyển tập 10 tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Việt của văn hào Nga vĩ đại. Đây là tác giả có sức ảnh hưởng lớn đến thế hệ nhà văn xây dựng nền văn xuôi đương đại Việt Nam vào thế kỷ 20.

Tại Lễ ra mắt sách, nhấn mạnh văn hoá Nga luôn có sức sống lâu dài trong trái tim bạn đọc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam tới các nhà văn Nga. Ông cũng cho rằng lịch sử đã chứng minh văn học Nga là một trong những di sản quý báu nhất của nhân loại.

Hoạt động dịch các tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn Nga sang tiếng Việt là việc làm góp phần tiếp nối và phát triển dòng chảy giao lưu văn hoá giữa Việt Nam – Liên bang Nga và tình hữu nghị giữa hai dân tộc.

Nguồn: Zing.vn, ngày 27.8.2017

       Với nhan đề 22 tản mạn, cuốn sách đầu tiên trong bộ sách ba tập của Võ Chân Cửu về văn chương miền Nam đã góp phần biến “tản mạn” vốn là một tính từ thành một danh từ, và vốn là một thể báo chí – gần với nhàn đàm, tạp bút – trở thành một biến thể của phê bình văn học.

       Trong tập hợp những bài tản mạn của Võ Chân Cửu, có thể thấy sự hiện diện và cộng sinh của bình thơ, tiểu luận, tùy bút, tư liệu văn học… khiến cho mỗi cuốn sách là một hợp thể, và cả bộ sách là một hợp thể lớn hơn, giúp ta hình dung được bối cảnh của văn học miền Nam thời chiến cũng như tâm thế của những nhà văn cầm bút trong bối cảnh đó.

       Nói “hợp thể” là một cách nói để dễ nhận diện, chứ thật ra bộ sách này không phải là một hệ thống có chủ đích nhất quán, cho nên ta không nhất thiết phải đọc nó như một thiên khảo luận có trật tự lớp lang, mà có thể - và rất nên – đọc như một cuốn sách với những đoản thiên rời, đọc ngẫu hứng, không cần theo trình tự trước sau, vì tác giả có vẻ như cũng ngẫu hứng mà viết ra. Giống như ta ngồi bên ô cửa toa tàu mà nhìn phong cảnh hiện ra trước mắt: có lúc tàu chạy nhanh chỉ kịp thấy cánh đồng và dòng sông vừa lướt qua, có lúc tàu leo dốc chầm chậm cho ta chiêm ngưỡng từng bụi cây ngọn cỏ của vạt rừng dưới chân đèo. Nhưng tất cả hòa kết trong tâm trí ta một cảnh tượng văn chương bỗng thức dậy sau những giấc ngủ dài tưởng đã phôi pha cùng năm tháng.

        Giới sáng tác văn học ở miền Nam thời chiến mỗi người mỗi vẻ, những phân loại khái quát về khuynh hướng chỉ có ý nghĩa tương đối, có khi dễ thành phiến diện. Mỗi tờ báo quy tụ một nhóm nhà văn gần nhau về cảnh ngộ sinh hoạt tinh thần nhưng không hẳn cùng chia sẻ hoàn toàn một quan niệm văn chương hay lý tưởng xã hội. Chính điều đó gây khó cho người nghiên cứu về sau, đồng thời cũng là thử thách gợi hứng thú cho họ. Nó cho thấy yếu tố dân chủ của một đời sống văn học nhiều phân hóa.

        Nói về thế hệ cùng thời với Võ Chân Cửu, cách phân loại vừa quen thuộc vừa dễ dãi được một số người chấp nhận lâu nay: khuynh hướng “dấn thân” và khuynh hướng “viễn mơ”. Nhưng ranh giới giữa hai khuynh hướng đó đâu dễ phân định. Chỉ cần đặt câu hỏi: dấn thân về đâu mới là dấn thân đích thực? Và người ta có thể dấn thân mà không cần viễn mơ? Thậm chí, người dấn thân có thể cũng là người mơ tưởng hão huyền nhất!

        Dù sao, trong văn cảnh miền Nam thời đó, Võ Chân Cửu dễ được xếp vào nhà thơ “viễn mơ”, căn cứ vào thi hứng, thi tứ và cả nhan đề tác phẩm của ông: Tinh sương, Đại mộng, Tà huy, Bóng trăng ngàn, Đường vô núi, Sáng thinh không, Ngã tư vầng trăng, Quẩy đá qua đồng, Chùa cổ bên sông… Con đường “viễn mơ” đó bao đời nay đã là một dòng lớn của thi ca Việt Nam. Đâu phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Lương Vỵ nhớ đến thơ Thiền đời Lý – Trần khi đọc Một ngày bộ hành của Võ Chân Cửu: Sớm về phía mây tụ/ Chiều đến nơi mây tan/ Phải nơi này chốn cũ/ Trên mặt đất còn hoang/ Trời rộng đau gió hú/ Ôi hư không tràn lan.

         Thật là dễ hiểu, trong ba tập sách “tản mạn” này, Võ Chân Cửu nhớ nhiều đến những bạn văn một thời cùng ông lao đao lận đận đuổi theo những giấc mộng  dài giữa những cảnh đời thực dữ dội của chiến tranh. Ta có thể gặp ở đây những số phận long đong của Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định…; những dự phóng văn chương dang dở của các tập san Trước Mặt ở Quảng Ngãi, Nhân Sinh ở Nha Trang, Khai Phá ở Châu Đốc, Văn Chương ở Sài Gòn… Long đong, dang dở, nhưng họ để lại cho đời những tác phẩm văn chương trọn vẹn, trong đó có những bài thơ hay ít người biết mà Võ Chân Cửu không ngần ngại chép lại nguyên văn cho bạn đọc thưởng thức, chẳng hạn những bài thơ của Lưu Vân, Nguyễn Tôn Nhan, Phan Nhự Thức…

          Không dừng lại ở vai trò người chứng hay người cung cấp tư liệu về một thời văn học, nhưng Võ Chân Cửu cũng không đi quá xa trong những bình luận và đánh giá về các hiện tượng. Ông chỉ miêu tả những gì hiện ra trước ý thức văn nghệ của ông. Phần còn lại ông dành cho bạn đọc tự rút ra kết luận của mình. Chẳng phải vì ông sợ trách nhiệm mà có lẽ vì ông tin rằng bạn đọc có thước đo thẩm mỹ công minh của riêng họ. Đôi khi, ông cũng bộc lộ thiên kiến nghệ thuật  “có phần cực đoan”, như Chu Ngạn Thư nhạy bén nhận ra trong lời tựa “Cùng theo dấu nhà thơ”.

          Đặt tên cho cuốn sách thứ ba - mà tác giả nói là cuốn cuối cùng trong bộ sách về văn chương miền Nam – là Vén mây, ý hẳn Võ Chân Cửu muốn gợi ra hình ảnh “vén mây… nẩy trăng”. Nói theo Milan Kundera, sáng tác văn chương là một cách vén màn, những bức màn của ảo tượng và ma thuật, cho người đời nhìn thấy thực tướng của thế giới từng bị che phủ, như mặt trăng khuất sau làn mây. Dù sao, hành động “vén mây” đó cũng chỉ mở ra một cái nhìn trắc diện về đời sống văn chương, vốn cần đến nỗ lực của nhiều người để có thể xóa đi phần nào tấm màn đan dệt bởi thiên kiến và ngộ nhận trong sự giải thích và phán xét.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

 

 


 [*] Nhân đọc 22 tản mạn, Theo dấu nhà thơ, Vén mây của Võ Chân Cửu, NXB Hội Nhà văn – Phương Nam Book, 2013-2017.

Page 1 of 4

Thông tin truy cập

38494212
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
3146
6684
38494212

Thành viên trực tuyến

Đang có 380 khách và không thành viên đang online