Lời tựa viết cho sách Á - Âu cách một cây cầu vừa mới được Nhà xuất bản Lao động và Công ty sách Phương Nam in ấn, phát hành, tháng Tám 2018.

Cuốn sách này đánh dấu một chặng đường phiêu du của Đào Thị Diễm Trang (tên “ở nhà” là Diễm) khi cô đi qua vừa đủ 20 nước trên thế giới. Lúc bạn cầm nó trên tay, có lẽ cô đã kịp trở về từ nước thứ 23.

Nếu chỉ con số như vậy thì chắc hẳn chưa có gì phi thường, nhất là đối với thế hệ của cô, những người tuổi teen ở năm 2000 thích chi vào du lịch, ẩm thực, khám phá thế giới số tiền mà các thế hệ trước đó tích lũy để tậu xe, xây nhà, cưới hỏi… (là tôi thấy những nghiên cứu trên thế giới tổng kết như vậy).

Không chỉ đi. Thế hệ ấy còn thích viết tản văn du lịch. Lúc đầu thường đơn giản đưa ngay lên facebook, cùng với những tấm hình, những live stream video,… chia sẻ cho vòng bạn hữu rằng mình đã check-in, đang enjoy đâu đó. Đến một ngày nhìn lại thấy giàu có, và quan trọng hơn, nhận ra rằng gia tài tinh thần này không chỉ thuộc về mình và cho mình nữa. Vì thế hệ ấy cũng mê đọc tản văn du lịch. “500 anh em” ào ào vào “like” và “comment”, báo chí nhanh tay đăng lại những bài hay, nhà xuất bản in tuyển tập, các cơ sở du lịch thì an tâm ngồi đợi một số không ít anh em “lây nhiễm” thú xê dịch sẽ lại lên đường và sẽ lại tiếp tục post… Những entries du lịch thành một loại tiền tệ của những “bộ tộc” trẻ trung khắp cả thế giới.

Du ký trong khoảng mươi năm nay chưa bao giờ hết “mốt”. Mà ngày càng nhiều trong số đó là của các “nữ hiệp”: Hoàng Yến Anh (Dưới nắng trời Châu Âu), Ngô Thị Giáng Uyên (Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương), Nguyễn Phương Mai (Tôi là một con lừa, Con đường Hồi giáo), Nguyễn Phan Quế Mai (Hạt muối rong chơi, Từ tuyết đến mặt trời), Yếm đào lẳng lơ (Gái phượt), Huyền Chíp (Xách ba lô lên và đi), Hiên Bonnie Trần (Vì cuộc đời là những chuyến đi), Quỳnh in Seoul (Seoul đến và yêu), Thủy Trần (Trên dấu chân mình, Thương nhớ Đồng Văn), Đinh Hằng (Chân đi không mỏi: Hành trình Đông Nam Á, Quá trẻ để chết: Hành trình nước Mỹ), Bùi Mai Hương (Hẹn hò với Châu Âu), Camille Thắm Trần (Bỏ nhà đi Paris), Nguyễn Thị Kim Ngân (Rong ruổi Scotland cùng anh, em nhé!; Nào, mình cùng đạp xe đến Paris), Ploy (Bánh bèo phiêu lưu ký), Đoàn Thị Thanh Trà (Ở xứ đàn bà không chạy chợ) …

Trang Hạ đã có lần đặt câu hỏi:

“Hàng nghìn nhà văn nữ đang viết sách du lịch và văn hóa cho độc giả châu Á vẫn luôn là những phụ nữ đáng thèm muốn nhất. Vì sao họ có sức hút lạ lùng ấy, với đàn ông và với độc giả?”.

Và tự trả lời:

“Đó là người phụ nữ cầm máy ảnh đi dọc đường độc hành, vừa thấy cô đơn vừa thấy tự tại. (…) Và chỉ có người phụ nữ với những cảm nhận dọc đường đi, tinh tế và lãng mạn, mới làm cho những cuốn sách du lịch không đơn thuần chỉ là quảng cáo một nơi đến. Với tôi, nó nói nhiều hơn về cách sống. (…) Đi – chụp ảnh – ghi chép trở thành cách người phụ nữ chinh phục cuộc sống. Họ luôn hạnh phúc, dù đi một mình hay với ai. Và vì thế, người phụ nữ đi là một người phụ nữ luôn đẹp, luôn cuốn hút, luôn có những câu chuyện để kể” .

Cứ như thể Trang Hạ đang viết giùm cho chính những cảm nhận của tôi khi đọc Diễm.

Giọng nữ quyền có thể tìm thấy ở quý cô ngao du Lady Walker – một hình tượng tuyệt vời đích đáng để đối trọng với quý ông đi bộ Johnnie Walker của giới mày râu bấy lâu nay. Hay thật chứ!

Thuộc thế hệ trước Diễm, tôi cũng đã kịp tới hầu khắp các nước mà cô qua…, ừ thì thiếu Úc, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ nhưng lại có thêm Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Tây Ban Nha, Luxembourg, Mỹ. Thế mà, vẫn bị du ký của cô cuốn hút, sung sướng gặp lại những nơi chốn mình từng thả bước, nghe những kỷ niệm thoang thoảng hay sâu lắng trong lòng bỗng thức dậy mới mẻ khi một lần nữa phiêu du cùng Diễm. Còn nếu đó là nơi chưa bao giờ đến, trót phiêu du cùng Diễm thì muốn book vé bay và sửa soạn va li, mê đắm những chân trời.

Đôi lúc, muốn thử soi dưới nắng (bắt chước Gorki hay Lỗ Tấn), tìm giữa những dòng chữ, sức hấp dẫn riêng gì, nét duyên riêng gì… rất Diễm?

Dường như có nhiều ở trong giọng kể ngôi thứ nhất của cô. “Tôi mê mẩn nhìn / Tôi lẩm nhẩm hát / Tôi để ý / Tôi quen dần / Tôi nhận ra / Tôi thích nhất / Tôi xiêu lòng / Tôi rớt nước mắt / Tôi choáng váng / Tôi hối hận / Tôi ngẫm / Tôi cảm thấy…” Đậm đặc tất cả các bài viết. Không đặt focus ở miêu thuật, khách quan mà chủ yếu biểu hiện, chủ quan. Không bao giờ flat, monotonous, mà luôn sống động, phấn hứng, kịch tích, hài hước trong khi vẫn giữ được tất cả độ tin cậy của sự chân thành, hồn nhiên, dung dị.

Dường như có nhiều ở bản năng nắm bắt được ma lực của collage, bricolage, pastiche. Cô xếp chồng lớp lớp trong lời kể của mình những chất liệu, những nguồn cảm hứng hết sức đa dạng, khi thì tương cận hài hòa, khi thì tương phản mạnh mẽ, khiến chúng âm vang lên những tấu khúc lạ lùng, dung nhập hiện đại với truyền thống, thực tại với mộng tưởng, ta với tha nhân, tâm với vật…, bất ngờ đi về giữa Sydney và Yên Tử, người đàn ông tiểu thương Kapalicarsi và bà Tú Xương buôn bán ở mom sông, bài ca và giọt lệ của đá, bệnh tật và nghệ thuật, những trận đấu bò với khoái cảm từ máu, khinh khí cầu và khát vọng vút bay…

Và, có lẽ nhiều nhất là ở năng lực giàu có mãnh liệt của tâm hồn. Thường chỉ có khoảng năm đến mười ngày của một tour du lịch theo hành trình định sẵn, cô biết rõ sự khắc nghiệt của mỗi khoảnh khắc qua đi là mỗi khoảnh khắc không lấy lại được. Để mở hết cánh cửa cả sáu giác quan, để thâu nhận những cảnh, những người, những truyền thống, những nền văn hóa bằng tất cả tâm hồn nhạy cảm, đằm thắm yêu thương của một công dân quốc tế, biết đối thoại và chung sống. Và dẫu đi muôn phương, cuối cùng trở về, để thấm thía hơn nỗi niềm hoài nhớ nostalgia gắn bó mình với Mẹ, với ngôi nhà, với quê hương, đất nước còn khó nghèo nhưng đầy đặn nghĩa tình.

Diễm không phải một phượt thủ, chỉ thỉnh thoảng thành lữ khách (VIP) của những công ty du lịch. Nghề chính, cô là giảng viên Đại học, làm tour guide dẫn các em sinh viên đến những xứ sở văn chương, văn hóa các nước. Chỉ đọc du ký thôi, có thể hình dung những giờ dạy của cô. Phiêu du cùng Diễm bao giờ cũng là một trải nghiệm thi vị.

Ảnh: Nhà thơ Ý Nhi.
Chiến tranh trên đất nước chúng ta đã lùi rất xa nhưng vết thương trong tâm hồn của mỗi người Việt chưa bao giờ thật sự ngủ yên và vĩ thanh từ những chia cắt, ngộ nhận và bạc đãi vẫn rền rĩ không dứt trong mỗi phận người. Vì vậy, cho dù trong tâm tưởng, những kỷ niệm đối với nhà thơ Ý Nhi, luôn sáng trong và ấm áp nhưng chúng ta vẫn cảm thấy phảng phất qua từng trang viết của Kỷ niệm không có mưa một dư vị cam phận, buồn bã.

Kỷ niệm không có mưa ghi chép những kỷ niệm cá nhân của nhà thơ Ý Nhi với nhiều văn nghệ sĩ ở hai miền Nam-Bắc trong và sau khi chiến tranh kết thúc. Ở một khía cạnh nào đó, qua trung gian của tác giả, chúng ta được nhìn ngắm, được “tiếp xúc” với những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ đó trong đời sống thực trần trụi ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và tất nhiên, có cơ hội để làm một sự đối chiếu thú vị giữa con người nghệ sĩ mang tâm tình, khát vọng, băn khoăn, lo toan hằng ngày với những đứa con tinh thần của họ; để kiểm chứng trong bối cảnh cá biệt của Việt Nam tính xác thực một phát biểu của Lucien Goldman: “Lịch sử văn học đầy dẫy những nhà văn mà tư tưởng của họ đối nghịch quyết liệt với ý nghĩa và cấu trúc tác phẩm của họ”.

Có thể nói tuy tác giả tự đóng khung hồi ức của mình như là một triển lãm chân dung dưới góc nhìn cận cảnh “để bày tỏ lòng biết ơn”, Kỷ niệm không có mưa một cách khách quan đã cung cấp không ít tư liệu văn học quý giá, lý thú cho những độc giả yêu thích văn chương và những nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại và cũng chính điều đó mới thực sự làm nên căn cước của tác phẩm trong tư cách là một chứng cứ của một giai đoạn lịch sử.

Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, dưới góc nhìn của tư liệu như vậy, tập sách đã soi rọi một tia sáng hiếm hoi vào một không gian văn học mà vì nhiều lý do không được công bố chính thức, hiện nay hẵng còn chìm khuất trong bóng tối.

Trong viễn tượng đó, nếu đọc với một quy chiếu lịch sử, chính trị, xã hội cụ thể, Kỷ niệm không có mưa sẽ mang một chiều kích khác vượt ra ngoài giới hạn tự thân của nó cũng như chủ đích khiêm tốn ban đầu của tác giả để có thể được coi, hay nên được coi, như phiên bản lịch sử cá nhân của một số phận nghiệt ngã có tên gọi chung là Việt Nam.

Kỷ niệm không có mưa, tác phẩm phi hư cấu đầu tiên của nhà thơ Ý Nhi, hoàn toàn có thể được đọc như một câu chuyện dài với nhiều nhân vật, mỗi nhân vật một tính cách, một số phận, được kể bằng một giọng thì thầm của một người ngồi hồi tưởng bên khung cửa. Nó đem đến cho chúng ta một Ý Nhi khác trong một chân dung nhìn nghiêng; một Ý Nhi kín đáo, rụt rè trong quan hệ xã hội nhưng tinh tế, sắc sảo trong vai trò một độc giả-nhà thơ. Sự hòa quyện bất phân ly, hoặc đôi khi hoán đổi, giữa hai vị trí ấy được thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối của câu chuyện cho cảm giác người nghe cùng với người kể như đang cùng tham dự vào đời sống của chính nhân vật, tạo ra một sự sống động hấp dẫn.

Chúng ta sẽ bắt gặp một Tô Thùy Yên, “một người đàn ông tầm thước, lịch duyệt, từ tốn”, “mong có dịp ra Hà Nội, nơi ông từng qua giữa đêm khuya trong chiếc xe chở tù bít bùng, chật chội” (Thức cho xong bài thơ).

Hay Nguyễn Minh Châu “ít khi xuất hiện ở những nơi đông người, mà có tới, chắc cũng ngồi ở một căn phòng đóng kín cửa nào đó”, một người với “nhiều cái sợ, sợ đủ thứ, sợ ma quỷ, sợ đám phê bình, sợ tuyên huấn” (Gương mặt người kêu gọi).

Còn với nhà thơ Việt Phương: “Có lần Việt Phương khoe với tôi ông có nhiều thơ tình yêu và sẽ gửi cho tôi đọc vài chục bài. Tôi chợt nhớ đến nhận xét của Xuân Quỳnh về thơ tình của ông, đại ý: Thơ tình của Việt Phương dành tặng cho những cô tôi đã yêu, những cô tôi đang yêu, những cô tôi sẽ yêu và những cô tôi chưa kịp yêu. Một tình yêu không có địa chỉ chăng. “Đâu cũng em mà em chả là ai” thật sao. Không. Tôi nghĩ, có địa chỉ đấy, có “là ai” đấy nhưng ông chỉ đứng trước căn nhà đó thôi.

Có thể, có vài lần Việt Phương đã đưa tay bấm chuông nhưng chủ nhà chưa kịp mở cửa thì ông đã rời xa. Có đôi khi ông đã vào nhà nhưng chỉ ngồi ở phòng khách, uống một ngụm trà rồi cáo từ. Việt Phương là con người có thể “nhận tất cả tình yêu của em không có anh trong ấy”, có thể nơi nào đó “thì thầm nói chuyện cùng em/ Em cứ ngủ bình yên trong thành phố”, và có thể “yêu em một tình yêu tự đủ”. Chẳng làm gì nên tội mà Việt Phương đã áy náy: “Nhưng anh đã gây đủ cái phần gây đau khổ trên đời”. Việt Phương là như vậy. Một cách tự nhiên, từ trong bản chất. Ông không thể khiến bất cứ ai đau khổ, tổn thương” (Thơ làm chết người như bỡn - Thơ làm sống người được chăng).

20180806 Y Nhi

Sự nhạy cảm của một nhà thơ-kể chuyện cũng dễ dàng bắt gặp qua những quan sát kín đáo, tinh tế: “Có lẽ, trong nhiều năm tháng nổi trôi trong cõi đời này, ông phải nói một mình rất nhiều, nhiều đến nỗi đã thành một thói quen khó thay đổi. Vì vậy chăng mà những lời ông nói ra như có sức nặng nào đó đọng lại trong lòng ta. Tôi từng được nghe ông chơi đàn kìm và cảm thấy dường như có mối liên hệ cật ruột giữa lời nói của ông và những âm thanh bật lên trong buổi chiều ắng lặng miệt vườn, giữa cơn mưa rả rích” (Niềm hạnh phúc được trả bằng rất nhiều đau khổ).

Chúng ta cảm động nghe tác giả kể lại bằng một ngôn ngữ chân thật tình bạn của tác giả với nhà thơ Xuân Quỳnh: “Quỳnh thích màu vàng. Mùa hè 1973, khi tôi sinh cháu thứ hai, Quỳnh đến thăm. Quỳnh mặc một chiếc áo phin nõn màu vàng nhạt, Quỳnh khoe mới mua được. Quỳnh đem cho tôi một chục ổi chín, thơm phức, ngượng nghịu bảo: “Thay vì mang trứng thì tao lại mang ổi”. Tôi nhớ bấy giờ Quỳnh nghèo lắm, như tất cả chúng tôi. Quỳnh ngồi chơi rất lâu, nói rất nhiều chuyện. Quỳnh đang rất buồn vì một chuyện tình cảm đổ vỡ. Quỳnh có đôi mắt rất đẹp và buồn. Hôm ấy tôi nhìn thấy ngấn nước trong đôi mắt đen tuyệt đẹp ấy” (Nhớ Quỳnh).

Hay “Xuân Sách rất ít nói. Và cũng không hay cười. Có cảm giác ông đang nghĩ ngợi về một điều gì đó, chưa thể nói hoặc không thể nói. Nhiều lần, giữa đám đông, tôi thấy ông lặp lại cử chỉ tôi từng thấy trong lần gặp đầu tiên: khoanh tay, đầu hơi cúi xuống, nhìn chăm chú vào một nơi nào đó” (Nhớ một giọng cười).

Một số tác giả được nhắc đến trong Kỷ niệm không có mưa hoặc đã mất hoặc hiện thời không còn ở trong nước. Những cảm nhận hay nhận định của Ý Nhi, vì lẽ đó, mang tính chất hồi cố nhiều hơn là một sự tương tác như đối với các tác giả đương thời. Song, dù vậy, những hồi cố ấy sẽ làm cho chúng ta, với độ lùi của thời gian, khi đọc lại không khỏi kinh ngạc cho sự ngây thơ, bế tắc của một giai đoạn lịch sử.

Lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta hy vọng, sẽ còn phải quay trở lại với thời kỳ đặc biệt này cùng với những thi sĩ, nhà văn bị bạc đãi hay “có vấn đề” như Tô Thùy Yên, Việt Phương, Nguyễn Minh Châu, Trang Thế Hy, Nguyễn Xuân Sách; đồng thời ở một mặt khác, sự phát triển lành mạnh của một nền văn học đòi hỏi phải có một sự soi sáng những mảng tối với nhiều khuôn mặt mà nếp gấp của lịch sử vẫn còn tiếp tục phủ bóng lên họ như Tế Hanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… Những khoảng trống đó đã được phơi bày ra, kêu gọi một sự khai quật khi tập sách được gấp lại. 

Dưới góc nhìn đó, Kỷ niệm không có mưa có một giá trị đích thực, bền vững không thể phủ nhận qua việc cung cấp những chi tiết sống thực. Đó là lý do vì sao chúng ta, những độc giả, có thể dễ dàng bị lôi cuốn vào những câu chuyện, những suy nghĩ, cảm nhận hoàn toàn riêng tư và mang đậm tính giai thoại của một nhà thơ vốn tự nhận là “chỉ thích màu đen”, xa lánh đám đông và thường “tìm một góc để ngồi”.

Cuối cùng, đọc Kỷ niệm không có mưa trong sự liên kết với những tác phẩm khác của Ý Nhi có mở ra những khả thể khác? Hay nói một cách khác, từ một kinh nghiệm đọc Kỷ niệm không có mưa quay trở về với những tác phẩm của chính tác giả có làm cho người đọc phát hiện ra những chiều kích mới? Sau những tác phẩm thơ, năm 2014, Ý Nhi ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên Có gió chuông sẽ reo và bà hiện nay vẫn tiếp tục thử sức với thể loại này. Cũng như chính tác giả tự nhận “Mỗi nhà văn đều đã tự họa chân dung của mình qua tác phẩm”, chúng ta tin điều đó là sự thật. 

Vũ Thành Sơn

_____________

(*) Trích lời bạt tập chân dung 21 nhà văn, nhà thơ, họa sĩ Kỷ niệm không có mưa của Ý Nhi - NXB Đà Nẵng liên kết Domino Books ấn hành quý 1.2018

Nguồn: Người đô thị, ngày 05.8.2018.

Tập Ngày qua bóng ngày của nhà thơ, nhà văn, nhà báo Lê Minh Quốc có ở trong tay bạn đọc sẽ được định danh bằng thể loại nào? Mươi năm trở lại đây người ta hay gọi là “Tản văn” – văn ghi chép tản mạn về đời sống, nhưng thực ra, người xưa gọi nó là “Tạp văn” (ví dụ tạp văn của Lỗ Tấn). Thể văn này có từ lâu, nhưng từ khi mạng xã hội lên ngôi: Blog, Facebook… thì loại văn ngắn như thế này rất phát triển. Tại sao vậy? Vì trong thời đại bận rộn, ngồn ngộn thông tin hiện nay, người ta cần cái gì đó nhanh, ngắn gọn, xem lướt cho biết, nếu cần thì mới dừng lại lâu. Gần nghĩa, và cả đồng nghĩa với Tạp văn, có nhiều từ khác nữa: Mạn đàm, Nhàn đàm, Tạp luận, Tùy bút, Tùy tưởng, Giai thoại, Thi thoại, Đoản văn… Mỗi từ lại cho thấy một thiên hướng của thể loại nay: có loại thiên về bàn luận về một vấn đề gì đó từ  xã hội, kinh tế, đạo đức cho đến thời trang, ẩm thực, quan hệ con người, gọi là Mạn đàm, Nhàn đàm, hay gọi chung là Tạp luận; có loại thiên về cảm xúc, suy tư thì gọi là Tùy tưởng, Tùy bút; loại chuyên kể thuật  hay bàn về thơ văn thì gọi là Giai thoại, Thi thoại.

Vậy từ nào thích hợp nhất để gọi chung cho thể loại này? Có thể gọi là “Tùy bút” không? Mặc dù “Tùy bút” cũng có hai loại: một loại thiên về kể thuật, kể cả có tính học thuật như Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân; loại thứ hai thiên về suy tưởng như Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành, nhưng “Tùy bút” hiện đại với tư cách là một thể loại văn học thường là các tác phẩm dài, có dung lượng 5-7 trang in, nên gọi là Tùy bút cũng không hợp lắm. Có thể gọi là “Tạp văn” không? Được (như đã nói ở trên), nhưng từ này hiện nay nhiều người không thích vì bị ám ảnh ở chữ “tạp” (tạp nham, tạp nhạp). Hay là  dùng từ “Essay” của tiếng Anh? Chắc chắn là không ổn, vì nhiều người không thích dùng từ để nguyên không dịch như thế. Có thể dùng chữ “Tản văn” như đã nói ở trên không? Tôi nghĩ là không nên, vì từ “Tản văn” có nghĩa khác và nghĩa ấy đã xác định ấy từ lâu rồi: “Tản văn” là văn xuôi, đối lập với Vận văn (văn vần) và Biền văn (văn biền ngẫu). Tôi thấy tên gọi “Đoản văn” (tập đoản văn), tức là văn ngắn là phù hợp nhất. Đoản văn có hàm nghĩa rất rộng, tương tự như từ Essay, tức là từ đàm, luận cho đến suy tưởng hay giai thoại. Nó là một thể văn trung gian giữa văn học và báo chí.

Tập Ngày qua bóng ngày của Lê Minh Quốc đúng là một tập đoản văn thú vị. Tập đoản văn của anh chuyện trò với độc giả về nhiều lĩnh vực: có khi là những hồi ức thú vị về Sài Gòn, về tuổi thơ, về thời đi học của anh; có khi là những câu chuyện văn về những nhà văn, nhà báo mà anh quen biết: từ Sơn Nam, Kiên Giang, Trần Hữu Tá cho đến những tác giả trẻ hơn; có khi là những câu chuyện về tình bạn, tình yêu, tình thầy trò của các tác giả ngày xưa như: Chu An, Vũ Tông Phan, Võ Trường Toản, hay gần hơn như: Nhất Linh - Khái Hưng, Huy Cận - Xuân Diệu, Ngô Tất Tố Vũ - Trọng Phụng, Tô Hoài - Nam Cao .v.v.; có khi là những câu chuyện chữ nghĩa: cách dịch thơ, ngôn ngữ Truyện Kiều, hiện tượng dùng sai tiếng Việt; có khi là câu chuyện về văn chương, văn hóa, giáo dục. Lê Minh Quốc đọc, suy tư và kể cho chúng ta về những điều anh tâm đắc. Những câu chuyện ấy không phải được kể lại một cách khô khan mà kể với một giọng điệu riêng, thông qua “cái tôi” của tác giả, một cái tôi “tưng tửng”, hài hước, mà ẩn chứa nhiều suy tư, trăn trở.

Lê Minh Quốc khởi đi từ một nhà thơ. Anh được giải thơ từ sớm, nổi tiếng về thơ từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã có 5-7 tập thơ in riêng in chung (Trong cõi chiêm bao, 1989; Ngày mai còn lại một mình, 1990; Tôi vẽ mặt tôi, 1994; Thơ  Lê Minh Quốc, 2005…). Sau đó anh chuyển sang viết truyện (Sân trường kỷ niệm, 1990; Về nơi nào để nhớ, 1991; Hoa cúc không phải màu vàng, 1996…). Nhưng lĩnh vực anh để lại nhiều thành tựu nhất là truyện danh nhân và loại sách phổ biến kiến thức. Anh có mấy chục đầu sách về các nhân vật lịch sử: Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thái Học, Tôn Thất Thuyết, Bạch Thái Bưởi, Hoàng Hoa Thám…Anh còn viết lời cho truyện tranh về các anh hùng đời Trần: Trần Nhân Tông, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khát Chân. Bộ sách về danh nhân Việt Nam của anh được đón nhận nồng nhiệt: Danh nhân sư phạm Việt Nam, Những người Việt Nam đi tiên phong, Những nhà cải cách Việt Nam, Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Danh nhân y học Việt Nam, Danh nhân văn hoá Việt Nam, Danh nhân cách mạng Việt Nam, Danh nhân quân sự Việt Nam, Chuyện tình các danh nhân Việt Nam, Doanh nghiệp Việt Nam xưa & nay…Sách chân dung văn học anh có 2 quyển về Sơn Nam và Nguyễn Nhật Ánh. Mảng sách địa chí và phổ biến kiến thức của anh cũng rất có giá trị (anh là tác giả/ đồng tác giả hoặc chủ biên/ đồng chủ biên): Người Quảng Nam, Hỏi đáp non nước xứ Quảng, Hỏi đáp Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, Hỏi đáp báo chí Việt Nam, Hỏi đáp giáo dục Việt Nam, Hành trình chữ viết, Lắt léo tiếng Việt…Gần đây anh lại có thêm loại sách mà tôi gọi là tập “Đoản văn” như: Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên, Ngày sống đời thơ… và quyển mới nhất là Ngày qua bóng ngày ở đây.

Với 55 đoản văn từ đoản văn thứ nhất “Lòng thanh thản lật từng tờ giấy ngoan” viết ngày 8.1.2017 đến đoản văn thứ 55 “Bàn tay mười ngón phiêu bồng nhẹ tênh” viết ngày 23.12.2017, có thể coi tập sách như cuốn nhật ký văn hóa của một người yêu văn chương chữ nghĩa của dân tộc - cuốn “nhật ký” kể cho chúng ta rất nhiều điều bổ ích và lý thú.

                                                                                    Đ.L.G

 

20180709 VH Nga HD

1. Văn học Nga hiện đại: những vấn đề lý thuyết và lịch sử là một phác thảo lịch sử văn học được trình bày dưới hình thức ba vấn đề chủ yếu - cũng là ba xu hướng sáng tác, ba thời đại văn học lớn của văn học Nga thế kỷ XX là chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa hậu hiện đại.

Chủ nghĩa hiện đại đánh dấu giai đoạn chuyển giao giữa hai thế kỷ XIX và XX, là con đẻ của thời đại các cuộc cách mạng Nga – từ cách mạng dân chủ tư sản đến cách mạng vô sản. Các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa của Nga như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa đỉnh cao và chủ nghĩa vị lai phản ánh cả hai phương diện tiêu cực lẫn tích cực trong cảm quan nghệ thuật thời đại này: một mặt, đó là sự hoài nghi, sợ hãi, bất lực trước hiện thực đầy biến động dữ dội dẫn đến thái độ quay lưng lại với những vấn đề xã hội, rút vào thế giới cá nhân, hoặc tâm linh huyền bí, hoặc phá phách nổi loạn, tạo nên xu hướng văn học suy đồi, phi nhân văn; mặt khác, đó cũng là một hình thức dấn thân, muốn cải tạo, thay đổi thế giới bằng chính bản thân nghệ thuật, vì thế bùng nổ những cách tân táo bạo, hình thành xu hướng văn học tiền phong.

Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ra đời sau cách mạng vô sản, nhưng cội nguồn của nó có từ cuối thế kỷ XIX, từ những sáng tác lãng mạn của Maxim Gorky, trong đó có vai trò ảnh hưởng của những tư tưởng triết học ngoại lai lẫn những quan niệm nảy sinh trong chính thực tiễn xã hội Nga. Bức tranh sáng tác và phê bình lý luận các thập niên 1920 – 1930 cho thấy văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng gắn với sự khẳng định nhà nước chuyên chính vô sản và trở thành dòng chủ đạo của văn học Nga Xô viết, là một giai đoạn phát triển mới hơn, đối lập với chủ nghĩa hiện đại, nhưng đồng thời cũng có sự tiếp biến từ những xu hướng tiền phong của văn học hiện đại chủ nghĩa. Bảy thập niên tồn tại cho thấy đây không phải là một sản phẩm của “chủ nghĩa Stalin”, của một “hệ tư tưởng toàn trị”, mà là một hiện tượng văn học sống động, phát triển, với nhiều thành tựu phản ánh những thăng trầm của đất nước Xô viết trong ba phần tư thế kỷ. Có thể nói, thế kỷ XX là thế kỷ của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, bởi cả chủ nghĩa hiện đại trước nó, cũng như chủ nghĩa hậu hiện đại sau nó không ít thì nhiều đều có liên quan đến nó.

Chủ nghĩa hậu hiện đại là hiện tượng văn học đương đại, nảy sinh từ trong lòng của văn học Xô viết như một phản ứng đối với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, ban đầu chủ yếu là nghệ thuật chống lại chế độ Xô viết, chống lại tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, nhưng vào thời hậu Xô viết, nhất là khi bước sang thập niên đầu thế kỷ XXI, thì tính chất bài Xô chống cộng giảm dần, thay vào đó là những vấn đề xã hội Nga đương đại, trong đó có vấn đề nữ quyền gắn với “văn học nữ”. Đối với một số nhà văn Nga đương đại, nhất là các nhà văn nữ, việc tìm đến chủ nghĩa hậu hiện đại chủ yếu là nhằm đổi mới lối viết, chú trọng hơn phương diện thẩm mỹ của tác phẩm, nhưng tinh thần hiện thực chủ nghĩa cũng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong các sáng tác của họ.

2. Từ những vấn đề lớn về lịch sử văn học nói trên, có thể có những liên hệ với một số vấn đề lý luận phê bình văn học Nga (văn học Xô viết). Hai thành tựu tiêu biểu có thể xem là “đặc sản” của phê bình lý luận văn học Nga hiện đại và có những ảnh hưởng mang tính thế giới – đó là chủ nghĩa hình thức và lý thuyết loại hình lịch sử.

Chủ nghĩa hình thức Nga là một trường phái tồn tại trong các thập niên 1910 – 1930, với những đại diện tiêu biểu như Victor Shklovsky, Yuri Tynyanov, Vladimir Propp, Boris Eichenbaum, Roman Jakobson,… đã tạo nên một nền phê bình mang tính cách tân, chú trọng đến những đặc thù và tính chất tự trị của ngôn ngữ nghệ thuật và văn chương, điều ảnh hưởng lớn đến phê bình hiện đại Âu Mỹ, đặc biệt là chủ nghĩa cấu trúc. Chủ nghĩa hình thức Nga nảy sinh từ thực tiễn sáng tác của các nhà văn, nhà thơ hiện đại chủ nghĩa. Quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật, về “thơ ca tự đủ”, “ngôn từ tự thân”, những cách tân táo bạo về hình thức của họ, đặc biệt là của các nhà thơ vị lai đòi hỏi nhà phê bình cũng phải đổi mới cách tiếp cận các tác phẩm. Cũng như các nhà hiện đại chủ nghĩa trong sáng tác thờ ơ với hiện thực xã hội và có xu hướng duy mỹ, thì phê bình hình thức chủ nghĩa không quan tâm đến phương diện nội dung tư tưởng của tác phẩm. Vào thời Xô viết, trường phái phê bình này bị phê phán. Lev Trotsky trong Văn học và cách mạng (1924) đã cho rằng

Phương pháp phân tích hình thức là cần thiết, nhưng chưa đủHình thức của nghệ thuật độc lập ở một phạm vi đáng kể, nhưng người nghệ sĩ sáng tạo nên hình thức đó, cũng như người khán giả thưởng thức nó, không phải là cỗ máy trống rỗng để tạo ra hình thức hay tiếp nhận hình thức. Họ là những con người đang sống, với một tâm lý được kết tinh... là kết quả của những điều kiện xã hội”.[1]

Cùng với cáo chung của chủ nghĩa hiện đại trong sáng tác, thì chủ nghĩa hình thức như một trường phái phê bình cũng chấm dứt sự tồn tại của mình ở Nga.

Sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác song hành với phê bình văn học Marxist của Nga. Nếu chủ nghĩa hiện thực nói chung và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa nói riêng hướng tới “tái tạo chân thực tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” (F. Engels), thì phê bình Marxist của Nga chú trọng cách tiếp cận loại hình lịch sử đối với sáng tác văn học – cả hai đều thể hiện nguyên tắc cụ thể lịch sử.[2] Lý thuyết loại hình lịch sử dựa trên quan điểm triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét văn học như một phạm trù lịch sử, cho rằng những quy luật chung của quá trình phát triển lịch sử cho phép nói tới những quy luật phát triển trên bình diện thế giới của văn học, dù rằng các nền văn học dân tộc có thể đi nhanh hay chậm, sớm hay muộn hơn nhau trong tiến trình đó, và có thể phân chia các hiện tượng văn học theo những loại hình lịch sử khác nhau (như truyền thống hay cổ điển, cận đại, hiện đại).

Lý luận phê bình văn học nảy sinh từ thực tiễn sáng tác. Hai xu hướng phê bình xuất hiện trong hai giai đoạn khác nhau, đối lập nhau – một duy mỹ, một duy lịch sử – tùy từng hoàn cảnh lúc được đề cao, lúc bị phê phán, nhưng nhìn lại trong bức tranh toàn cảnh của cả thế kỷ, chúng bổ sung cho nhau, phản ánh hiện thực phát triển đa dạng, phong phú của văn học Nga hiện đại.

3. Văn học Việt Nam hiện đại, nhất là từ sau cách mạng tháng Tám, tiếp nhận nhiều giá trị của văn học Nga hiện đại, cả trên phương diện sáng tác lẫn phương diện phê bình lý luận, đặc biệt là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và lý luận phê bình Marxist. Mặc dù khó nói đến những trường hợp ảnh hưởng trực tiếp của các cá nhân cụ thể, nhưng vẫn có thể thấy nhiều dấu ấn của văn học Nga Xô viết trong văn học viết về đề tài chiến tranh, về nông thôn xã hội chủ nghĩa, văn học về công cuộc đổi mới của Việt Nam. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam được đào tạo tại Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Tác phẩm văn học, các giáo trình lịch sử, lý luận văn học của Liên Xô trong nhiều thập kỷ là nguồn tài liệu nước ngoài chủ yếu của Việt Nam. Cả những biến đổi các xu hướng trong sáng tác và phê bình, lý luận văn học Xô viết cũng nhanh chóng tìm thấy sự phản ánh trong đời sống văn học Việt Nam.

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập rộng rãi hơn, vai trò của văn học Nga hiện đại đối với Việt Nam không còn ở vị trí hàng đầu, không còn là “thời thượng” trong biển văn học dịch của thế giới Anh Mỹ, của Trung Quốc, Nhật Bản,… Tuy nhiên, có lẽ không có nền văn học nước ngoài nào (kể cả nền văn học lớn của láng giềng Trung Hoa) mà kinh nghiệm hiện đại của nó lại gần gũi đối với Việt Nam như văn học Nga. Việc nhìn lại những vấn đề của văn học Nga hiện đại cũng giúp nhìn lại những vấn đề và xác định những giá trị của văn học Việt Nam trong thế kỷ XX.

 

Trích từ: Trần Thị Phương Phương (2018), Văn học Nga hiện đại: những vấn đề lý thuyết và lịch sử, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, TPHCM.

 


[1] Trotsky L., “Trường phái hình thức của thơ ca và chủ nghĩa Marx”, Tài liệu đã dẫn. (http://www.opojaz.ru/critique/trotsky.html)

[2] Cả hai khái niệm “типичный” (điển hình) và “типологический” (loại hình) đều bắt nguồn từ gốc từ “тип” – kiểu, loại – đơn vị phân chia hiện thực theo loại hình.

LỜI NÓI ĐẦU

Năm 2017 đã qua đi, mang theo một năm bận rộn của các giảng viên, các nhà nghiên cứu ở các chi hội cơ sở của Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP.Hồ Chí Minh. Một năm hội thào, nghiên cứu, giảng dạy….Đó là hội thảo về giảng dạy và nghiên cứu văn học ở khoa Ngữ văn (Trường Đại học Sư phạm TP.HCM); Hội thảo về nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ ở Quảng Ngãi, Hội thảo về giao lưu văn hóa phương Đông ở khoa Văn học, trường Đại học KHXH và NV (ĐHQG TP.HCM). Năm nay cũng là năm mà chương trình, sách giáo khoa ngữ văn mới được triển khai biên soạn và chuẩn bị áp dụng, một chương trình mà các thầy cô vừa mong đợi vừa có chút e dè, lo lắng. Trong bối cảnh ấy, niên san Bình luận văn học của Hội NC&GD VH hợp tác với trường Đại học Sài Gòn ra đời và đang đến tay bạn đọc.

Mục “Tiêu điểm” năm nay dành cho 3 sự kiện lớn: thứ nhất, chuẩn bị cho chương trình giáo dục phổ thông mới (bài Tiếp thu lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới của PGS.TS.Bùi Mạnh Hùng); thứ hai, kỷ niệm 105 ngày sinh nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ (với báo cáo đề dẫn của PGS.TS. Đoàn Lê Giang và một tham luận có tính khái quát cao của PGS.TS. Nguyễn Thành Thi); thứ ba, kỷ niệm 130 năm ngày ra đời của cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học quốc ngữ Việt Nam (bài viết của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân). Mục “Chân dung nhân vật” năm nay dành để kỷ niệm sinh nhật thứ 80 của GS. Nguyễn Lộc, nguyên Phó Chủ tịch Hội NC&GD VH TP.HCM (bài Giáo sư Nguyễn Lộc với những thành tựu nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam và về Nguyễn Du và Truyện Kiều của PGS.TS. Nguyễn Công Lý).

Các chuyên mục thường xuyên Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và văn học nước ngoài, Văn học - Nhà trường, Nhìn ra thế giới dành « đất » để cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh công bố những công bố nghiên cứu mới nhất của mình. Trong số các vị ấy, có nhiều vị là nhà nghiên cứu có tên tuổi, những chuyên gia trong lĩnh vực hẹp của mình : TS. Thích Phước Đạt, TS. Thích Hạnh Tuệ,  PGS.TS. Trần Thị Phương Phương, PGS.TS. Phạm Thị Phương, PGS.TS. Đinh Phan Cẩm Vân, PGS.TS. Trần Lê Hoa Tranh, TS.Phan Thu Vân, TS. Lê Thị Diệu Hà, TS. Phan Mạnh Hùng, TS. Nguyễn Đức Thăng, nhà nghiên cứu Chu Dĩnh (Trung Quốc)… Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu đã dành bài viết có chất lượng cao nhất cho niên san của Hội.

Tập san hoàn thành, Ban biên tập trân trọng cảm ơn Giáo sư Chủ tịch hội – thầy Trần Hữu Tá, mặc dù sức khỏe không tốt lắm, thầy vẫn cho ý kiến chỉ đạo, theo dõi, khuyến khích Ban biên tập làm tốt niên san. Trân trọng cám ơn các giảng viên của khoa Văn học (ĐHKHXH và NV TP.HCM): PGS.TS.Trần Thị Phương Phương, ThS. Đào Thị Diễm Trang, ThS.Nguyễn Thị Phương Thúy đã biên tập phần tiếng Anh; PGS.TS.Trần Lê Hoa Tranh, TS. Phan Mạnh Hùng, ThS.Hồ Khánh Vân, ThS.Lê Thanh- Vy đã biên tập phần tiếng Việt. Trân trọng cám ơn Ban biên tập Tạp chí Đại học Sài Gòn đã đọc duyệt lần cuối, NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM đã giúp đưa niên san đến tay bạn đọc.

Ban Biên tập xin gửi lời chúc sức khỏe và chúc mừng năm mới đến toàn thể quý vị Hội viên của Hội, độc giả niên san và bạn bè gần xa: năm mới sức khỏe, hạnh phúc và sáng tạo.

                                                                

BAN BIÊN TẬP

 

MỤC LỤC

BÌNH LUẬN VĂN HỌC – NIÊN SAN 2017

Lời nói đầu / Foreword ................................................................................................... 7

TIÊU ĐIỂM/ ARTICLES IN FOCUS

  1. Bùi Mạnh Hùng .................. Tiếp thu lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới

..................................................... The intussusception of theories and the international experiences in constructing the new generation education program.. 9

  1. Đoàn Lê Giang ................... Nguyễn Vỹ - nhà báo, nhà thơ, nhà văn của quê hương núi Ấn sông Trà

..................................................... Nguyen Vy – a journalist, poet, writer of An moutain and Tra river       14

  1. Nguyễn Thành Thi.............. Nguyễn Vỹ qua những bài thơ mang đậm sắc thái chính luận

..................................................... Nguyen Vy through the poems embued with political identity   20

  1. Lại Nguyên Ân ................... 130 năm xuất bản truyện Thầy Lazarô Phiền

..................................................... On the occasion of 130 years of publishing “Mr.Lazaro Phien” story     29

CHÂN DUNG NHÂN VẬT/ PERSONALITY PORTRAITS

  1. Nguyễn Công Lý................. Giáo sư Nguyễn Lộc với những thành tựu nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam và về Nguyễn Du và Truyện Kiều*

..................................................... Professor Nguyen Loc with the achievements in Vietnam traditional literature research and Nguyen Du –  Kieu story research. 33

VĂN HỌC VIỆT NAM/ VIETNAMESE LITERATURE

  1. Thích Phước Đạt ................ Giá trị tư tưởng Thiền học bài Phật tâm ca của Tuệ Trung Thượng sĩ

                                                      Zen values in Buhdda Mind Mantra by Tue Trung
Thuong Si.................................................................. 41

  1. Thích Hạnh Tuệ.................. Mấy suy nghĩ về những tuyệt tác văn học Thiền

                                               ...... Some thought about Zen literary masterpieces......... 51

  1. Lê Thị Diệu Hà ................... Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh ở vùng Nam Bộ - diện mạo và giá trị

Legends about Nguyen Anh in Southern Vietnam:
description and evaluation........................................ 60

  1. Lê Thị Thanh Vy................ Tính “phù phiếm” của nghệ thuật: từ ca hát dân gian đến nghệ thuật sắp đặt - trình diễn đương đại

The “uncertainty” of arts: from folk songs to
contemporary installation-perfomance arts............... 71

  1. Nguyễn Văn Triều ............. Tiếng thơ Minh tân của chí sĩ Nguyễn Quang Diêu

                                                      Poetic career of the Minh Tan scholar Nguyen Quang Dieu 79

  1. Phạm Thị Tố Thy................ Truyện thơ cải biên văn học phương Tây ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX – tiếp cận từ lí thuyết dịch văn hóa

                                                      Adaptation of Western stories into verse novels in Cochinchina from the late nintheenth to the early twentieth century................. 87

  1. Phan Mạnh Hùng ............... Những ảnh hưởng của tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa đến tiểu thuyết lịch sử ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

                                                      Influence of Chinese historical novels on Cochinchinese historical novels during the early twentieth century.......................... 100

  1. Lê Thị Kim Út..................... Thơ ca trong tiểu thuyết lịch sử: trường hợp các sáng tác của Tân Dân Tử

..................................................... Poetry in historical novels: a case study of novels by Tan Dan Tu          110

  1. Nguyễn Thị Quỳnh Như..... Xu hướng trữ tình hóa truyện ngắn trong
    Chân trời cũ của Hồ Dzếnh

                                                      The lyricalization of short story: a case study of Chan troi cu by Ho Dzenh................................................................................. 117

  1. Nguyễn Thị Phương Thuý: Tính xã hội của truyện đăng trên báo chí ở Sài Gòn giai đoạn 1945-1954

..................................................... Social characteristics of fictional stories published in newspapers and magazinesin Saigon from 1945 to 1954.................. 127

  1. Nguyễn Đức Thăng ........... Cảm thức hiện sinh trong thơ Bùi Giáng

Existentialist perspective in Bui Giang’s poetry...... 138

  1. Nguyễn Thành Trung ....... Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và yếu tố huyền ảo trong một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Magical realism and magic in a few contemporary Vietnamese novels    148

  1. Hồ Khánh Vân ................... Ý thức kháng cự chế độ nam quyền trong tiểu thuyết của Dạ Ngân (Việt Nam) và Thiết Ngưng (Trung Quốc) từ góc nhìn phê bình nữ quyền

Feminist counsciousness against patriarchy in novels by Da Ngan and Tie Ning from the feminist literary criticism................. 158

LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

LITERARY THEORY AND FOREIGN LITERATURES

  1. Trần Thị Phương Phương: Sự ra đời của văn học so sánh trong thời đại lãng mạn và những bước khởi đầu của nó

The Birth of Comparative Literature in the Romantic Era and the First Stage of Its Developmen................................................... 168

  1. Phạm Thị Phương ............. “Các bạn tôi ở trên ấy” như là thể loại essay

My Friends Who Are Up There as an Pattern of Essay Form 179

  1. Trần Lê Hoa Tranh ........... Việc nghiên cứu Hồng lâu mộng ở Hoa Kỳ

Studies of Hong Lou Meng in the USA.................. 191

  1. Phan Thu Vân..................... Từ “song quản tề hạ” đến “đa quản tề hạ” trong Hồng lâu mộng

From “Shuang Guan Qi Xia” to “Duo Guan Qi Xia” in Hong Lou Meng................................................................................. 200

  1. Hoàng Ngọc Cương............ Danh thần Trương Đăng Quế với việc tiếp nhận danh tác Hồng lâu mộng ở Việt Nam

Famous Statesman Truong Dang Que and the Issue of Hong Lou Meng Reception in Vietnam.............................................. 212

  1. Lê Đắc Tường .................... Phương pháp phê bình thơ của Phan Huy Chú

Phan Huy Chu’s Literary Critical Method.............. 224

  1. Trần Viết Thiện ................. Sức sống của thể thơ lục bát trong thơ ca Việt Nam hiện đại

Vitality of Luc Bat Form in Modern Vietnamese Poetry (A Study of The 20th Century Vietnamese Poetry Collection............. 236

  1. Đinh Phan Cẩm Vân ......... Sự hình thành trào lưu thơ ca lãng mạn Việt Nam  và Trung Quốc đầu thế kỷ XX

Formation of the movement of romantic poetry In Vietnam and China in the early 20th century..................................................... 244

  1. Nguyễn Vũ Quỳnh Như..... Tuế thời ký (saijiki歳時記) - bách khoa toàn thư thơ haiku Nhật Bản

Sajiki – an encyclopedia of japanese haiku............. 251

VĂN HỌC – NHÀ TRƯỜNG/ LITERATURE IN SCHOOL

  1. Nguyễn Phước Bảo Khôi - Phùng Thị Vân Anh: Một số ý kiến về việc dạy học văn bản thông tin

Some suggestions for teaching the informative text 256

  1. Nguyễn Thị Quốc Minh ..... Biện pháp xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh trung học phổ thông

Measures of building and applying the questionary system for development of reading capabilities In teaching literary works in highschool   264

NHÌN RA THẾ GIỚI/ REACHING THE WORLD

  1. Chu Dĩnh/ Hồ Ngọc Minh dịch: Khảo thuật về Thái Sơn và giao lưu văn hóa
    Việt Nam

Research on mountain Tai and the cultural exchanges of Vietnam          276

ĐỌC SÁCH VÀ THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

BOOK REVIEW AND NEWS ................................................................................... 293

 

Thật vui và xúc động vào những ngày cuối năm Đinh Dậu (2017) được cầm trên tay bản thảo Tuyển tập Văn chương Pháp, tản mạn đọc và cảm nhận của nhà nghiên cứu – nhà giáo Nhân dân Lê Hồng Sâm. Tôi nghĩ, cuốn sách thực ra  “nhỏ bé” và “khiêm nhường”, so với khối lượng những công việc đồ sộ mà Lê Hồng Sâm đã làm trong hơn nửa thế kỷ qua. Nhưng vui và cảm động vì nó thể hiện lòng quý yêu của một nhà giáo còn rất trẻ (tiến sĩ Dương Xuân Quang), cách xa tác giả nhiều thế hệ, đã dành thời gian sưu tầm, tập hợp từ rất nhiều nguồn những trang viết “còn lại” của “bà giáo già” mà anh kính trọng và ngưỡng mộ. Không vui và xúc động làm sao được?

Thực ra, từ hơn nửa thế kỉ nay, cái tên Lê Hồng Sâm không còn xa lạ với những người yêu sách, đặc biệt với công chúng độc giả văn học Pháp ở nước ta. Người ta biết đến bà không chỉ qua các công trình nghiên cứu, dịch thuật về văn học Pháp mà còn ở các diễn đàn hội thảo, tọa đàm, giới thiệu văn chương, trên bục giảng nơi bà từng truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ học trò.  Nhưng đặc biệt hơn, ít ai nghĩ người phụ nữ với dáng vẻ bề ngoài mảnh mai và yếu đuối ấy lại “dynamique” và “active” (năng động, tích cực) đến kỳ lạ: bà phụ trách Bộ môn Văn học phương Tây trong suốt nhiều năm, một bộ môn có nhiều hoạt động nhất vào hai thập niên 80, 90 ở khoa Ngữ văn, phối hợp và điều hành Dự án hợp tác giữa hai bộ môn Văn học Pháp Đại học Paris 7 và Đại học Tổng hợp Hà Nội, chủ biên nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật văn học Pháp trong khuôn khổ hợp tác giữa hai trường (Lịch sử văn học Pháp, 5 tập, Tuyển tập văn học Pháp, 6 tập), chủ biên giới thiệu và dịch bộ Tấn trò đời của Balzac, 16 tập, dịch hai tác phẩm đồ sộ của Rousseau: Émile hay là về giáo dụcNhững lời bộc bạch, dịch Bên phía nhà Swann của Marcel Proust (cùng Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào, Dương Tường), và nhiều tác phẩm khác...

Đến thời điểm này nhà giáo Lê Hồng Sâm đã gần bước sang tuổi 90, nhưng nếu ai có dịp đến thăm bà tại nhà riêng, một căn hộ nhỏ đẹp, ấm áp tại Đường Láng Hạ, Hà Nội, sẽ gặp hình ảnh quen thuộc: người phụ nữ với phong thái nhẹ nhàng, tóc búi cao, vầng trán rộng, đôi mắt sáng, vẫn trẻ trung “đùa nghịch” với những con chữ trên chiếc máy vi tính để bàn có phần cũ kĩ. Chứng kiến sức làm việc của bà, đôi khi tôi tự hỏi: nguồn mạch nào đã nuôi dưỡng sự dẻo dai, bền bỉ ở một con người đã đi qua gần một thế kỷ mà vẫn giữ được niềm đam mê với văn chương sách vở đến như vậy? Không ít lần băn khoăn tự tìm lời giải đáp cho mình, tôi chỉ có thể giải thích bằng tình yêu của bà với nền văn hóa Pháp. Ở bộ môn Văn học phương Tây khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lê Hồng Sâm từng đảm nhiệm phần văn học hiện thực thế kỷ XIX, trong đó có nhà văn Pháp Honoré de Balzac. Tấm gương lao động với khát vọng “được làm việc bằng hai tay và hai khối óc” nơi cây đại thụ của nền văn chương Pháp, phải chăng cũng ít nhiều ảnh hưởng tới bà? (Thật khó có thể tin, chỉ trong chưa đầy 20 năm, chính xác là 18 năm - từ 1829 đến 1847- bậc thầy của nền văn chương hiện thực Pháp đã hoàn thành tới 97 tác phẩm trên tổng số 137 tác phẩm dự kiến của bộ Tấn trò đời!).

Nhà giáo Nhân dân Lê Hồng Sâm sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức quê ở Quốc Oai, Hà Nội (Hà Tây cũ). Cha bà, một vị quan thanh liêm, yêu nước, hết lòng vì dân, tới giờ vẫn còn lưu truyền đôi câu đối người dân Quốc Oai viết tặng cụ: “Lập ấp, đắp đê, mong làng xóm qua vòng đói khát/ Xây trường, mở lớp, dạy cháu con biết đạo làm người”. Trong ký ức của nhà giáo Lê Hồng Sâm về người cha đáng kính, in đậm hình ảnh nhà nho già cuối đời tận tụy dạy học, sống thanh bạch, giản dị và coi trọng tình người. Nhưng sâu sắc nhất vẫn là triết lý sống, triết lý giáo dục cụ truyền lại cho các con. Bà từng tâm sự: “Nhà tôi có 6 chị em. Cha mẹ tôi coi trọng tính trung thực, lòng nhân hậu, và giáo dục các con chủ yếu qua cách hành xử của bản thân”[1].

“Qua cách hành xử của bản thân”, cụ thể hơn, trong tư cách một nhà giáo, Lê Hồng Sâm không chỉ “nói hay”, mà còn “làm đúng” trong chuyên môn, cũng như mọi công việc khác. Được làm việc với bà trong tư cách học trò và đồng nghiệp, với chúng tôi thật là may mắn. Sinh viên của cô Lê Hồng Sâm học tập được ở người Thầy của mình rất nhiều. Trước hết là sự cẩn trọng và tinh tế trong nghiên cứu, giảng dạy. Phẩm chất đáng quý này được duy trì nhất quán trong suốt thời gian dài, cả khi đang làm việc, lẫn lúc đã rời bục giảng. Trong giao tiếp, bà bao giờ cũng tạo được sự tin yêu, ở tất cả mọi người, dù họ là ai. Trong giảng dạy, bà luôn khiến học trò say mê vì cách diễn giải và truyền đạt. Trong dịch thuật, bà vô cùng cẩn trọng, cả khi bất đắc dĩ phải phiên dịch trực tiếp, cũng chính xác từng câu, từng chữ. Lối trình bày và tư duy minh triết ấy được thể hiện nhất quán trong hầu hết các công trình nghiên cứu của bà. Văn chương Pháp, tản mạn đọc và cảm nhận chỉ là một trong những cuốn sách thể hiện rõ ràng và đầy đủ phẩm chất đáng quý ấy.

Cuốn sách được chia thành 3 phần. Phần I, “Dưới bóng những đại thụ” gồm các bài viết về Rousseau, Balzac, Stendhal, Hugo, Flaubert, Maupassant và Bernanos; phần II, “Giữa những làn hương”, dành riêng cho các nhà văn nữ - bà de Staël, George Sand, Louise Michel, Marguerite Yourcenar, Nathalie Sarraute, Simone de Beauvoir, Marguerite Duras, và nhiều tác giả khác được đề cập chung trong hai bài “Sự đông đảo của những cây bút nữ” và “Dấu vết người cha và bóng dáng người mẹ trong hai cuốn truyện hay của Pháp”; phần III, “Cảm nghĩ…đó đây” tập hợp những trò chuyện, ký ức, trao đổi và cả những tham luận trên diễn đàn hội thảo quốc tế, hoặc công bố trong các ấn phẩm tại Pháp. Hơn ba mươi bài viết tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, được sắp đặt trong các đề mục riêng hợp lý. Tất nhiên, nói  “hợp lý”, không có nghĩa các bài hoàn toàn độc lập với nhau. Chẳng hạn, trong phần II, Giữa những làn hương, vốn chỉ dành riêng cho các nhà văn nữ như Marguerite Duras, Simone de Beauvoir, Nathalie Sarraute, Marguerite Yourcenar.. thì bản thân những cái tên “sáng giá” này cũng là những đại thụ.  Theo tôi, cách lựa chọn và sắp đặt của tác giả cùng người sưu tầm bao quát được đầy đủ tinh thần cuốn sách.

Cụ thể, ở phần thứ nhất Dưới bóng những đại thụ, trong số 7 tác gia được đề cập - Rousseau, Balzac, Stendhal, Hugo, Flaubert, Maupassant, Bernanos - thì cái tên Honoré de Balzac là “nặng ký” nhất. Tôi nói “nặng ký”, bởi phần về Balzac tuy chỉ gồm 3 bài, nhưng một bài riêng được rút từ phần giới thiệu Tuyển tập Tấn trò đời, với cái tên chung “Cảnh đời muôn vẻ” lại tập hợp 12 bài viết trong đó có những bài hết sức công phu như “Lão Goriot”, “Bước thăng trầm của kỹ nữ” hay “Bà chị họ Bette” và “Những người Chouan”. Đấy là chưa kể, trong phần III, Balzac còn được nhắc đến trong 3 bài riêng: “Chabert, tấm gương phản chiếu bóng hình bao thời đại bao xứ sở” ;  “Nhớ Đỗ Đức Hiểu – Dịch giả” (bàn về một từ trong Lời nói đầu bộ Tấn trò đời); và “Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa được dịch và tiếp nhận ở Việt Nam như thế nào?”(tham luận tại hội thảo quốc tế về Balzac tại Paris năm 2014).  

Khẳng định Balzac là “nhân vật nặng ký” còn vì bản thân đối tượng nghiên cứu, một trong số những nhân vật khổng lồ của nền văn chương Pháp, “một trái núi”, với tất cả sự phong phú và phức tạp trong thế giới quan và sáng tác; để giúp người đọc Việt Nam hiểu được đầy đủ mọi khía cạnh về con người và tác phẩm ấy, thật không dễ gì. Nhưng với tư cách là một trong những nhà nghiên cứu văn học Pháp hàng đầu, một balzacienne đúng nghĩa, Lê Hồng Sâm đã vượt qua những khó khăn đó. Không chỉ có thâm niên trong giảng dạy và nghiên cứu Balzac, bà còn là thành viên Việt Nam trong Hội Nghiên cứu quốc tế về Balzac. Bà đã đảm nhận trọng trách Tổng chủ biên công trình dịch và giới thiệu hầu như toàn bộ Tấn trò đời gồm 16 tập, với hàng chục ngàn trang. Có lẽ nhờ những ưu thế này mà trong tuyển tập Văn chương Pháp, tản mạn đọc và cảm nhận, Lê Hồng Sâm đã cung cấp cho người đọc một bảng “tổng phổ” kiến thức phong phú về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà hiện thực bậc thầy Honoré de Balzac.

 Tự biết sự giới hạn về thời gian và sức lực của mỗi người trong cuộc đời nghiên cứu, Lê Hồng Sâm chỉ chọn cho mình những nhà văn nào bà yêu thích và có điều kiện am hiểu sâu sắc. Trong Văn chương Pháp, tản mạn đọc và cảm nhận, ngoài Balzac, một nhà văn cũng giành được sự quan tâm của Lê Hồng Sâm, đó là nữ tác giả hết sức quen thuộc với người đọc Việt Nam: Marguerite Duras. Trong giáo trình Lịch sử văn học Pháp, Lê Hồng Sâm từng có một chương viết hết sức công phu về nhà văn cùng giới với mình. Sau chương viết này, bà còn trở lại không ít lần với Duras, trực tiếp dịch Một con đập ngăn Thái Bình Dương năm 1997, Nhịp điệu ôn hòa trầm bổng năm 1998 và cuối cùng là Người tình Hoa Bắc năm 2008. Cũng năm 2008, trong một Diễn đàn về Duras, nhân chuyến thăm Việt Nam của đoàn làm phim Pháp và người con trai duy nhất còn lại của nữ văn sĩ, Lê Hồng Sâm đã tham luận về “Một vài thay đổi trong cách nhìn và thể hiện nhân vật, từ Người tình đến Người tình Hoa Bắc”. Là một người phụ nữ làm nghiên cứu, phê bình, phải chăng vì thế, Lê Hồng Sâm có khả năng đồng cảm thực sự với các nhà văn nữ. Nhận định về cách Marguerite Duras thể hiện tình trạng những đứa trẻ xứ Đông Dương trong Một con đập ngăn Thái bình dương, ngòi bút của người phân tích biểu lộ rõ niềm rung động: “Hết sức ám ảnh là cái chết của những em bé này, được nhắc, được kể, được miêu tả, trở đi trở lại tới mười một lần trong cuốn truyện không dài lắm. Trẻ chết đến mức “bùn lầy trong miền chứa đựng nhiều em bé chết hơn là những em có thời gian ca hát trên mình trâu”, chết chủ yếu vì đói, rồi chết đuối, chết vì bệnh tả, vì cảm nắng, vì ngạt do giun, vì sốt rét, vì bị ô tô cán, v.v.. Trong bức thư gửi Sở Địa chính, bà mẹ đã thốt lên những lời ghê rợn: “Có lẽ các người không biết nhưng nơi đây trẻ em chết nhiều đến nỗi người ta chôn chúng ngay trong bùn ruộng, dưới các túp lều và chính người cha dùng chân nén phẳng đất ở chỗ chôn con mình. Thành thử chẳng có gì cho thấy dấu vết một em bé chết và đất đai mà các người thèm khát, mà các người đã tước của họ, những đất đai duy nhất không bị ngập mặn trong miền, đều nhan nhản xác trẻ em”[2]

 Dường như “thiên tính nữ” còn ẩn hiện trong việc lựa chọn đối tượng dịch thuật và nghiên cứu của bà. Ở phần II, Giữa những làn hương, một nhan đề thật nên thơ dành cho các nữ tác gia, ta thấy những tiền bối lẫy lừng của Marguerite Duras như bà de Staël “nhà lý luận đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn Pháp”, George Sand “đại văn hào đồng thời là biểu tượng cho cuộc chiến đấu của phụ nữ”, Louise Michel, “người con gái quang vinh của Công xã Paris”, cùng những người đồng thời trứ danh: Nathalie Sarraute, người mở đường cho tiểu thuyết mới, Simone de Beauvoir “người phụ nữ biết chọn và sáng tạo cho mình một số phận độc đáo”, Marguerite Yourcenar, nữ viện sĩ Hàn lâm đầu tiên của nước Pháp, kể từ khi thành lập Viện năm 1635.

Về niềm ưu ái này của Lê Hồng Sâm, giáo sư Nicole Mozet, trong bức thư gửi người bạn thân (in ở phần đầu cuốn sách), hồi tưởng: “Trong khi trò chuyện, chúng ta thường hay đề cập lối viết của các nhà văn nữ, vị trí của những nhà văn này trong văn chương. Có phải vì thế mà bạn đã viết về Nathalie Sarraute, đã dịch Marguerite Yourcenar và Marguerite Duras? Sau đó bạn đã dịch một cuốn sách của tôi về George Sand....”

Quả như thế, trong Văn học Pháp, tản mạn đọc và cảm nhận, ngoài “Giữa những làn hương”, ở các phần còn lại “Dưới bóng những đại thụ” và “Cảm nghĩ …đó đây”, mối quan tâm của Lê Hồng Sâm với “căn tính nữ” cũng không hề ít. Chẳng hạn, trong 4 bài “Tình yêu và người phụ nữ trong tác phẩm của Stendhal”, “Một tấm lòng chất phác của Gustave Flaubert”, “Fantine, Cosette và chiếc đòn gánh Việt Nam”, “Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa được dịch và tiếp nhận ở Việt Nam như thế nào?”, cũng vẫn là mối quan tâm dành cho phái yếu … Phải chăng vì thế, bút pháp trong rất nhiều công trình nghiên cứu của Lê Hồng Sâm thường nhỏ nhẹ, dịu dàng, tinh tế. Tinh tế cũng có thế là phẩm chất của một nhà nghiên cứu nam. Nhưng nhỏ nhẹ, dịu dàng và tinh tế, tôi nghĩ chỉ thấy được thật rõ ở một cây bút nữ.  Không ưa chạy theo đám đông, hùa theo “thời thượng”,  Lê Hồng Sâm luôn giữ cốt cách riêng của mình, trong khi đón nhận và ứng dụng một cách mực thước những thành tựu của nghiên cứu phê bình thế giới. Nét riêng ấy, phương hướng ấy, giáo sư Nicole Mozet cũng gợi nhớ trong thư:

 “Vừa dạo bước trên những lối đi rộng lớn trong khu rừng Chambord, chúng ta vừa bàn luận về những gì chúng ta đọc, về những dự kiến và những công trình chúng ta đang thực hiện, về một phương pháp tiếp cận mà chúng ta những muốn là uyển chuyển và cởi mở[3], sử dụng được những đóng góp của các phương pháp và các suy tư mới mẻ, song không đẩy đến mức cực đoan cũng không tự giới hạn ở đó”.

Cởi mở với những tìm tòi, khám phá trong phê bình văn chương hiện đại, Lê Hồng Sâm đã cùng nữ đồng nghiệp Đặng Anh Đào dịch Thi pháp văn xuôi của Tzvetan Todorov năm 2004, Dẫn luận về văn chương kỳ ảo cũng của Todorov năm 2007, Bản mệnh của lý thuyết của Antoine Compagnon năm 2006.

Giới thiệu tác phẩm tự thuật của Rousseau, viết về “chủ nghĩa hiện thực” của Balzac, bà cho thấy vấn đề được tiếp cận theo nhiều khuynh hướng: xã hội học, phân tâm học, thi pháp học...Và dường như những cách đọc trên đều được bà thể nghiệm uyển chuyển, có mức độ. Ta gặp lại cách đọc xã hội học xiết bao quen thuộc, và thuyết phục, bởi không dài dòng, cũng không khiên cưỡng: Bà chị họ Bette là “bức tranh u ám nhưng chân thực” về xã hội Pháp đương thời; trong Bí mật của nữ vương tước De Cadignan bóng dáng đẹp đẽ của nhà cộng hòa Michel Chrestien chỉ thấp thoáng vì “Tấn trò đời là một hài kịch, nhân vật chính của nó không thể là những anh hùng” và “Balzac sẽ chẳng phải là Balzac, nếu những chuyện yêu đương tán tỉnh của mấy bà quý phái vô công rồi nghề không được đặt trên một cái nền lịch sử-xã hội hết sức cụ thể”... Cách đọc phân tâm học ẩn hiện trong sự phân tích những nhân vật, những cảnh huống bộc lộ một nỗi đau sâu xa từ thời thơ ấu, một ước ao ngầm ẩn, mà bản thân tác giả Tấn trò đời không hay biết, cũng như trong nhận định về lão Goriot “sống và hạnh phúc qua chuyển di, ủy thác”, trong sự vận dụng thích hợp khái niệm “cái chết của Người Cha” ở Đại tá Chabert, ở Tướng về hưu, “xung năng chết’ ở Hai người đàn bà xóm Trại, “chủ thể ham muốn”, “đối tượng bị (được) ham muốn”, rồi “ẩn dụ về kiểu giết Cha, tượng trưng cho bước chuyển sang tuổi trưởng thành” ở Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa ... Bổ sung cho những cách tiếp cận trên, thi pháp học khai thác cấu trúc truyện kể, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật v.v. Không gian với chức năng nhận thức, lý giải, “chức năng mới mẻ nhất” do Balzac đem lại; không gian khép kín trong tiểu thuyết Stendhal; không gian chao đảo, biến động trong truyện Bernanos, một “không gian thấp thoáng điều huyền bí, nơi mà thực tế tầm thường bề ngoài đột nhiên phát lộ ý nghĩa ẩn giấu”; không gian bao hàm sự tan rữa, tàn tạ trong Một tấm lòng chất phác của Flaubert; không gian bao la bát ngát nhấn chìm những cố gắng nhỏ nhoi hữu hạn của con người trong Một con đập ngăn Thái Bình Dương của Marguerite Duras; thời gian ngưng đọng trong Bà Bovary, thời gian gấp gáp hối thúc trong Moderato cantabile...Rồi cấu trúc truyện kể, từ Đi tìm tuyệt đối của Balzac với cái kết bất ngờ, khi truyện hoàn toàn có thể kết thúc, thì hành động lại bắt đầu, chung cục lại hoãn và “cơ sở của cấu trúc này chính là quan niệm sâu xa, cho rằng đam mê lớn không thể tiêu diệt, nó chỉ thiếp ngủ mà không chết và chỉ chấm dứt cùng với sự sống của nạn nhân bị nó chi phối”, đến cấu trúc khác lạ của Tuổi thơ, với những đoạn dài ngắn không đều, xen nhiều khoảng trắng, “nhằm theo sát và tái hiện các hướng động (tropisme) trong tính rời rạc, lưu chuyển, thoáng qua của chúng”, rồi cấu trúc trùng điệp của Moderato cantabile “với những biến tấu muôn vẻ của một số chi tiết vừa mang chất thơ vừa có ý nghĩa biểu tượng”.

Và không ít trường hợp, đôi ba lời bình cuối cùng nhẹ buông, bỗng đưa câu truyện từ một thời gian rất xa xôi, một không gian thật khác lạ, đến gần ta, ở trong ta, thành vấn đề của chính ta. Phần kết thúc truyện Pierre Grassou “chỉ kết thúc văn bản của truyện” còn cuộc sống tầm thường của nhân vật bất tài công thành danh toại vẫn tiếp diễn, vượt ra  ngoài dấu chấm hết văn bản “bởi vì, nào có riêng gì thời Balzac, nào có riêng gì trên đất Pháp, người ta mới gặp, ở không ít lĩnh vực, “những chàng Grassou đã thành đạt, liên đới cùng những Grassou sẽ thành đạt”?”  Và rộng hơn, phổ quát hơn ý nghĩa xã hội-lịch sử cụ thể của Phòng Cổ vật, điều khiến ta ngậm ngùi có lẽ là sau mỗi cuộc bể dâu, ở thời nào, nơi nào, dường như “cũng rớt lại một số người bơ vơ, lạc lõng, tự nhốt kín trong chân lý riêng của mình, khăng khăng thủy chung với những tín điều có thể là trong trẻo, thuần khiết, nhung không còn sức sống, chẳng có tương lai, tạo nên đây đó một vài dạng Phòng Cổ vật”.

Như đã khẳng định bên trên, ở phong cách riêng của Lê Hồng Sâm, có sự tinh tế,  cẩn trọng, những phẩm chất thường thấy ở những “người nữ” theo đuổi nghề nghiên cứu. Phẩm chất ấy cũng có phần được chi phối bởi “căn tính nữ”. Điều này được thể hiện  trong phần III  “Cảm nghĩ… đó đây”, qua ba bài viết ngắn, nhưng rất thú vị về dịch thuật, đó là “Nhớ Đỗ Đức Hiểu – Dịch giả”, “Chi tiết nhỏ hàm chứa vấn đề lớn hay là dịch thuật và văn hóa”, “Đôi lời về việc dịch Bên phía nhà Swann của Marcel Proust”. Luận bàn về dịch thuật, bao giờ Lê Hồng Sâm cũng tỏ ra rất nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Tôi muốn dẫn ra đây một ví dụ, qua một kỉ niệm khó quên của bà với người đồng nghiêp đàn anh thân thiết trong bộ môn Văn học Pháp – giáo sư – nhà giáo Ưu tú Đỗ Đức Hiểu. Những năm 1990, khi chuẩn bị công trình chuyển ngữ bộ Tấn trò đời, với tư cách Tổng chủ biên, bà lựa chọn và cuối cùng nhờ giáo sư Đỗ Đức Hiểu, mà bà cho là có đầy đủ sự uyên bác, dịch Lời nói đầu của bộ Tấn trò đời.  

 “Trong Lời nói đầu nổi tiếng của Balzac, có một câu tuyên bố gần hai trăm năm nay đã là đề tài của bao sự bình luận, tranh luận, và bắt đầu như sau: “J’écris à la lueur de deux Vérités éternelles: la Religion, la Monarchie…”. Nhiều người – trong đó có tôi – từng dịch là: “Tôi viết dưới ánh sáng của hai Chân lý vĩnh cửu: Tôn giáo và nền Quân chủ…”. Lần này, trong bản dịch toàn văn, đặt đúng vị trí mở đầu cho cả bộ tiểu thuyết, đoạn trên được anh Hiểu dịch là: “Tôi viết dưới ánh sáng le lói của hai Chân lý vĩnh cửu: Tôn giáo và nền Quân chủ…”. Khi đọc lại, tôi trao đổi với anh Hiểu không nên thêm từ le lói vì:

            - Đúng là lueur trong tiếng Pháp có hai nghĩa trái ngược:

            (1) Ánh sáng không rực rỡ, không mạnh (nhưng có thể lâu bền)

            (2) Ánh sáng vụt lóe (có thể rực rỡ, nhưng sớm tắt)

            Nhưng lueur còn là một yếu tố của ngữ à la lueur de...có nghĩa: dựa trên cơ sở... để tiếp tục, để tiến lên...

            Theo tôi, nên đặt lueur vào cả một ngữ à la lueur de… và dịch là dưới ánh sáng của…, đừng thêm le lói vì không cần thiết, đã thế sắc thái biểu cảm của từ còn gây nghĩ ngợi. Vốn khiêm tốn – nhiều khi quá khiêm tốn – anh Hiểu bảo: “Chị là chủ biên, tôi theo ý chị. Nhưng tôi vẫn băn khoăn, vì ở nước Pháp thế kỷ XIX, tôn giáo và nền quân chủ không còn mạnh, không còn tỏa sáng rực rỡ như trong quá khứ, nên lueur ở đây có thể có dụng ý chỉ trạng thái le lói, yếu ớt chăng?”

            Một nguyên tắc anh Hiểu và tôi đề ra là khi đọc lại các bản dịch, chỉ nêu lên và phân tích những gì mình thấy chưa đúng, để người dịch nhận ra và tự chữa. Khi nào không liên hệ được với dịch giả hoặc khi dịch giả yêu cầu, người đọc lại mới sửa. Rất tôn trọng anh Hiểu, lại không thể tìm được một từ tiếng Việt tương đương với lueur, bao hàm cả mấy nghĩa như trong tiếng Pháp mà nhất thiết phải chọn hoặc ánh sáng vụt lóe, hoặc ánh sáng le lói, hoặc dưới ánh sáng của … (ngữ), trong Tấn trò đời tập 1 xuất bản năm 1999, tôi để nguyên “… dưới ánh sáng le lói…” chờ hạ hồi phân giải.

            Giữa năm 2000, phát biểu về dịch thuật trong cuộc hội thảo quốc tế về Balzac tại Pháp, tôi có nêu trường hợp trên, bên những trường hợp khác. Nhiều trường hợp gây bàn luận khá sôi nổi (văn chương vốn đa nghĩa, vả lại chẳng phái lúc nào Balzac cũng viết rõ ràng, chính xác). Với cách nói khéo cường điệu, dễ đẹp lòng người, rất quen thuộc ở người Pháp (mà người nghe cần tỉnh táo, trừ hao), một chuyên gia Balzac-học than: “Các vị đã đặt ra cho chúng tôi bao vấn đề hóc búa, bời các vị chải văn bản bằng lược bí [4]khi chuyển ngữ, và các vị buộc chúng tôi phải học lại, nghiên cứu lại tiếng Pháp đấy!”. Về trường hợp à le lueur de…, sau khi kết luận nên dịch là dưới ánh sáng của…, giáo sư Claude Duchet, một trong các nhà sáng lập Hội nghiên cứu quốc tế về Balzac lắc lắc mái tóc bạc, trầm ngâm: “Tuy nhiên, Đỗ Đức Hiểu có cái lí của ông ấy đấy, về phương diện ý thức hệ mà nói…”.

Tại sao phải dẫn ra đây một đoạn dài vốn đã có trong nội dung của cuốn sách, vì lẽ tôi muốn người đọc hiểu được đầy đủ hơn sự tinh tế, cẩn trọng và kiên quyết của dịch giả - nhà giáo Lê Hồng Sâm. Trong nghiên cứu, trong dịch thuật, những phẩm chất này vô cùng quan trọng. Một điều bà thường xuyên nhắc nhở các đồng nghiệp trẻ cùng bộ môn là làm văn học nước ngoài, nhất thiết cần thuần thục ngôn ngữ gốc. Trong khoảng hơn mười năm gần đây, cộng tác với Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội và Trung tâm Quốc gia về Sách của nước Pháp, bà đã chủ trì hai khóa “Dịch thuật và văn chương Pháp” để đào tạo lớp người kế cận, trong khi bản thân tiếp tục chuyển ngữ tác phẩm của những nhà văn lớn như J.J. Rousseau, M. Proust... Tác phẩm dịch chung Émile hay là về giáo dục, NXB Tri Thức, 2008 đã được trao giải thưởng danh giá Phan Chu Trinh.

Cách đây chưa lâu, vào tháng 10 năm 2015, nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Đại học Văn khoa Hà Nội (1945-2015), trong một bài viết chân dung nhà giáo Lê Hồng Sâm, tôi tự thấy mình thật có lý khi đặt tiêu đề bài viết về bà là “Nhà giáo Nhân dân Lê Hồng Sâm - Cánh chim không mỏi”. Bà không chỉ là một giảng viên, một nhà nghiên cứu, một dịch giả, mà còn là một nhà hoạt động văn hóa thực thụ, từng nhiều năm gieo tình yêu và kết nối hai nền văn hóa Việt Nam và Pháp. Tấm Huy chương Cành cọ Hàn lâm mà chính phủ Cộng hòa Pháp trao tặng bà cách đây gần 15 năm (25 tháng 3 năm 2003), chính là sự  tôn vinh đóng góp này. Tuyển tập Văn chương Pháp, tản mạn đọc và cảm nhận, thực ra chỉ thêm một “dấu son nhỏ” vào sự nghiệp chung - kết nối hai nền văn hóa Pháp - Việt của nhà giáo Nhân dân Lê Hồng Sâm.

Trần Hinh

Những ngày cuối năm Đinh Dậu 2017

 

 


[1] Dẫn theo Kim Yến, Nhà giáo nhân dân, dịch giả lê Hồng Sâm: Cần giáo dục thói quen tự vấn, Sài Gòn tiếp thị ngày 15/11/2012

[2] Xã hội thuộc địa trong Một con đập ngăn Thái Bình Dương của Marguerite Duras, tr.131

[3] Trần Hinh nhấn mạnh.

[4]Passer au peigne fin: xem xét kĩ càng tỉ mỉ, không bỏ sót một chi tiết nào.

Quả đúng như vậy, có thể xem Tác phẩm và thể loại văn học của tác giả Huỳnh Như Phương, vừa xuất bản trong những ngày cuối năm 2017, là một cuốn “từ điển” tinh gọn và đáng giá, giúp độc giả có cơ hội phân biệt hoặc hiểu biết kỹ lưỡng hơn các khái niệm và thể loại văn học nghệ thuật (nhất là những thể loại, khái niệm “na ná” nhau như bút ký - tùy bút, ký sự - du ký, hồi ký - tiểu sử tự thuật, thi pháp - phong cách, câu chuyện - chuyện kể - cốt truyện...).

Gọi là “từ điển”, bởi trước hết, cuốn sách 277 trang này đã định nghĩa, khái quát và diễn giải vô cùng sáng rõ, chân xác hầu hết các thể loại và đặc trưng của sáng tác văn học nghệ thuật.

Bảy chương sách cung cấp cho người đọc những kiến thức hết sức quan trọng và dễ hiểu về mối quan hệ giữa thi pháp học với việc nghiên cứu tác phẩm văn học; cấu trúc và loại hình văn bản văn học; văn xuôi hư cấu; văn xuôi phi hư cấu; thơ trữ tình; kịch bản văn học. Đặc biệt, chương 7 của sách vô cùng thú vị khi bàn về sự giao thoa, tích hợp giữa các loại hình và thể loại văn học vốn có mối quan hệ gần gũi như: cáo, chiếu và hịch; phú và văn tế; thư và luận; truyện truyền kỳ, truyện thơ và kịch thơ; truyện ký, tự truyện, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết tư liệu và tiểu thuyết triết lý. Giá như sách có thêm phần lý thuyết chuyển thể (từ tác phẩm văn học sang tác phẩm sân khấu, điện ảnh) thì sẽ trọn vẹn hơn.

Cuốn sách còn là một sự đối chiếu, so sánh các tư liệu lý luận của Nga, Pháp, Anh và Việt Nam vô cùng tỉ mỉ, công phu để từ đó đưa ra các khái niệm, đánh giá cô đọng, khúc chiết và hợp lý nhất. Sách đồng thời cập nhật các khuynh hướng và thông tin về thể loại, trào lưu mới mẻ mà các đầu sách lý luận trước đây chưa có.

Bên cạnh đó, tác giả còn mạnh dạn đưa ra những quan niệm về công việc sáng tạo, hé mở những góc nhìn thấu đáo, xứng đáng là cơ sở để những cuộc tranh luận văn học và ngôn ngữ gần đây tham khảo. Chẳng hạn trong mục Hình tượng con người (tr.41), tác giả viết “... không thể nhầm lẫn nhân vật văn xuôi hư cấu với con người sống thực. Có trường hợp người ta đi tìm gốc tích của nhân vật, bổ sung thời gian vắng mặt trong sách của nhân vật (chẳng hạn, đi tìm quê hương bản quán của Chí Phèo, Chí Phèo làm gì trong thời gian ở tù,...). Điều đó không phù hợp, vì vấn đề nhân vật trước hết là vấn đề ngôn ngữ, nó không tồn tại bên ngoài các con chữ, nó là một “thực thể trên giấy”...”. Ở thể loại du ký (tr.115), sau phần định nghĩa là những nhận xét ngắn gọn và đáng ngẫm: con người thời Phục hưng “du hành không phải để du hành mà là để mở rộng nhãn giới, kiến văn của mình, để cọ xát chân lý với thực tế và đào sâu suy tưởng, đồng thời để nhận ra giới hạn của chính con người”, “nhân rộng sự hiểu biết của con người về thế giới và về chính bản thân mình”, “tìm cách nối liền và kéo gần lại những trung tâm kinh tế và chính trị”... Không dễ dàng có được tư duy tinh anh và xúc cảm thấm thía trong đánh giá như vậy nếu người viết không sở hữu một sở đọc rộng lớn và cảm thức văn chương hiếm có.

Không chỉ giúp bạn đọc “vỡ ra” nhiều vấn đề quan trọng của lý luận văn học vốn còn hàn lâm với đại chúng, tác giả còn vô cùng tinh tế khi đưa ra những ví dụ minh họa vừa quen vừa lạ, vừa cũ vừa mới, cả trong nước lẫn ngoài nước, phù hợp với trình độ tiếp nhận đa dạng của người đọc. Điều này cũng không khó để lý giải vì Giáo sư Huỳnh Như Phương là một trong các chuyên gia lý luận văn học hàng đầu của Sài Gòn, có thâm niên nghiên cứu, giảng dạy gần bốn mươi năm với rất nhiều công trình, bài viết có giá trị trong việc thiết lập nền tảng cho ngành Lý luận văn học tại Việt Nam.

Từ trước đến nay, Việt Nam đã có khá nhiều đầu sách lý luận văn học giới thiệu và định nghĩa các trào lưu, trường phái, thể loại tác phẩm như: Từ điển văn học, Lý luận văn học, Thi pháp hiện đại... Song, đặc điểm chung của các đầu sách này là khá cồng kềnh, dàn trải hoặc chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề nhất định như thi pháp học, tự sự học, tu từ học, thi luật, nghệ thuật văn xuôi hoặc đi sâu vào giới thiệu tác giả, tác phẩm. Do đó, điều tuyệt vời ở Tác phẩm và thể loại văn học là: giá trị như một từ điển nhiều công năng nhưng gọn nhẹ như một cuốn truyện vừa, có thể mang xách đi bất cứ nơi đâu.

Cùng với Lý luận văn học (nhập môn) đã ra mắt vào năm 2014, Tác phẩm và thể loại văn học của tác giả Huỳnh Như Phương thật sự cần thiết cho tủ sách của người nghiên cứu, sáng tác, giảng dạy, viết báo, học văn chương hoặc đơn thuần là những độc giả cần một hình dung súc tích, dễ hiểu về các lý thuyết và loại thể văn học nghệ thuật. 

Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn, mục Tủ sách doanh nhân, số 2, ngày 11/01/2018.

Sáng ngày 14-6-2018, tại nhà xuất bản Đại học Vinh (Nghệ An), đã tổ chức buổi giới thiệu tác phẩm mới TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (Giáo trình dùng cho học viên sau đại học chuyên ngành văn học Việt Nam) của hai tác giả Đinh Trí Dũng và Bùi Việt Thắng. Đây là một trong những ấn phẩm trọng điểm ra mắt độc giả trong quý I của Nhà xuất bản Đại học Vinh.

Đến dự buổi giới thiệu sách mới có đại diện Nhà xuất bản Đại học Vinh, Hội VHNT Nghệ An, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nghệ An, các thầy/ cô giáo Khoa Ngữ văn Đại học Vinh và các học viên cao học, nghiên cứu sinh đang học tập tại Khoa. Các nhà văn, nhà báo Nguyễn Thế Quang, Nguyễn Thị Phước, Nguyễn Văn Hùng, Hồ Bất Khuất, Phan Văn Thắng đã có mặt chia vui cùng các tác giả.

Sau lời dẫn của MC/ đồng thời là người biên tập cuốn sách Cao Thị Anh Tú trẻ trung và xinh đẹp, tác giả Bùi Việt Thắng chia sẻ với độc giả về quá trình nghiên cứu văn học của mình hơn 40 năm qua ở trường Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN), lao động chữ nghĩa trong vòng hai năm (2016-2017) dồn sức cùng với PGS.TS Đinh Trí Dũng hoàn thiện tác phẩm. Nhiều câu hỏi thú vị và hóc búa được đặt ra từ phía độc giả. Hai tác giả đã trả lời cơ bản thỏa mãn những độc giả thông minh và khó tính. Có ý kiến nên tăng số lượng in vì đây là cuốn sách cập thời vũ và bổ ích không chỉ cho người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy mà còn cho tất cả những người yêu văn chương, đặc biệt yêu thích truyện ngắn dân tộc vốn có truyền thống từ thời trung đại.

Các tác giả công trình là những giảng viên đại học lâu năm, có kinh nghiệm nghiên cứu và tình yêu văn chương dân tộc. Mỗi người đều sở hữu nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về văn học Việt Nam hiện đại, về các thể loại văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết). Trong buổi giới thiệu sách, hai tác giả đã ký tặng 50 cuốn cho các vị khách quý. Có thể nói, buổi giới thiệu sách là một hoạt động chuyên môn cao của Nhà xuất bản Đại học Vinh mở đầu cho năm 2018 hứa hẹn nhiều thành công. Các tác giả nhận được nhiều chia sẻ, động viên kịp thời, chân tình và sâu sắc từ phía các vị khách quý.

Trân trọng cảm ơn những tấm lòng thành vì tình yêu văn chương và sự nghiệp giáo dục nước nhà. Hy vọng trong tương lai gần và xa, chúng tôi sẽ tích cực cộng tác nghiên cứu để hiến tặng quý vị độc giả yêu văn chương những tác phẩm mới.

                                                                                                   Vinh, ngày 14-6-2018

                                                                                       Đinh Trí Dũng – Bùi Việt Thắng

Mùa mưa Sài Gòn năm nay, Trương Gia Hòa cho xuất bản liền hai cuốn tản văn. Hôm ra mắt Đêm nay con có mơ không?** ở Đường Sách, trời đang mưa lớn bỗng ngớt hạt khi bạn bè đến chia vui cùng tác giả, người vừa bình an đứng dậy và tiếp tục cầm bút sau một cơn đau dài.

Sài Gòn thềm xưa nắng rụng (NXB Văn hóa Văn nghệ - Phương Nam Book, TP HCM, tháng 11-2017) không tách khỏi mạch văn của Gia Hòa: tiếng nói hòa ái trong khát khao một gia đình hạnh phúc ấm êm, một tương giao thuận thảo với xóm giềng, thân bằng quyến thuộc. Chị đã gieo trồng mầm thiện trong cuộc đời lắm khi bạc ác này qua những trang văn về những bông huệ trắng của bà nội “thơm suốt thời hương khói thần tiên”, về những chiếc lá tràm khuynh diệp kỳ diệu lót dưới đáy hòm trước chuyến hành trình vĩnh cửu của ông nội, về khu vườn hoa khế hoa cau như có tiên nữ xuống xức dầu thơm, về những bông lựu vừa đậu trái trong bồn cây ở chung cư, về những cái vỏ nghêu xếp trên khoảng sân trước “thềm nhà nắng rụng”… Công cha, nghĩa mẹ, tình vợ chồng, bè bạn bao giờ cũng sâu sắc, linh động dưới ngòi bút Trương Gia Hòa.

Cuốn sách này không chỉ kể chuyện nhà chuyện cửa, chuyện “tuổi thơ dặm dài”, chuyện tivi, facebook và iPad, mà còn có tiếng vang vọng và ánh xạ của thời thế. Bởi tác giả không chỉ là một nhà thơ hiền dịu mà còn là một nhà báo có nhãn quan xã hội. Biết bao là đồng cảm khi Gia Hòa cùng ăn bữa cơm từ thiện với những người nghèo ở bệnh viện Ung bướu, dự lễ cúng kỳ yên với đồng bào Quảng Nam ở Bảy Hiền, hay dõi theo nhịp quang gánh của người đàn bà mòn dép chai vai trên những ngõ hẻm Sài Gòn. Nhà báo nghiêm khắc này cũng dành sẵn những bình luận tinh quái cho những kẻ trang hoàng chỗ ngồi để phô trương quyền thế, những nhà giàu mới nổi học làm sang với cái tủ sách chưng toàn tạp chí thời trang, những kẻ lắm đất đai mà không có nổi một “vườn hạnh” của riêng mình.

Cuốn sách không nói gì xa xôi mà luôn nhắc ta chuyện làm người. Làm người thật khó. Làm người nữ càng khó. Ôi, người đàn bà đầu trọc, người đàn bà tóc giả, người đàn bà quắt queo trong văn Gia Hòa, mỗi người là một số phận, họ đi qua cuộc đời khổ đau và trầm luân này, với  “quang gánh mộng mơ” và “vết chai từ vô thức”, “oằn nặng trên vai biết bao lo lắng về kiếp người” mà lòng vẫn băn khoăn tự hỏi hôn nhân nên là hai bánh răng chỗ đầy chỗ khuyết hay hai vòng tròn tròn trĩnh như bông vụ.

Trong bài viết đầu tập sách này, Trương Gia Hòa có câu văn thật hay: “Như hôm nay, trên tầng cao của khu chung cư, cửa sổ mở toang cho gió tự do ra vào, tôi nằm im nghe đâu đó có cả mùi sen tàn tạ, như nghe được cả tiếng cá đớp trăng, nghe hết, tiếng xe, tiếng tình nhân, tiếng đêm thở ra một hơi dài buốt lạnh”. Câu văn làm tôi nhớ những bài thơ thời sinh viên của Hòa mà tôi đã chuyển cho Chim Trắng in thành một trang thơ cùng với Trần Lê Sơn Ý, Quốc Sinh, Trần Đình Thọ… Người thiếu nữ ngơ ngác năm xưa nay đã là một người đàn bà nhiều trải nghiệm, dẫu có lúc khóc thầm thì nước mắt cũng mau khô mà nhìn thẳng vào cuộc đời “lê thê bải hoải”.

Mong Trương Gia Hòa vẫn tiếp tục làm thơ và viết tản văn, để những đốm nắng vẫn rơi trên hiên nhà, để mây vẫn nhẫn nại bay qua bầu trời trên triền đê, như là bay từ thời thơ ấu.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

*Tản văn của Trương Gia Hòa, NXB Văn hóa Văn nghệ - Phương Nam Book, TP HCM, tháng 11-2017.

** Tác phẩm được Tặng thưởng của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh năm 2017.

Tho Thi Gia 4

La Mai Thi Gia – một cây bút không mới của làng thơ. Gọi là không mới, bởi thơ của chị đã xuất hiện trên các báo, tạp chí từ hơn 20 năm qua. Năm 2017 lần đầu chị tập hợp và cho ra mắt tập thơ “Thơ trắng”; mới đây, tháng 4.2018, “Gia ơi, đời xanh đấy!”, tập thơ thứ hai của chị cũng vừa được NXB Hội Nhà Văn ấn hành.

Làm thơ dường như đối với chị đó là điều bình thường và tất yếu, như công việc mà chị làm hàng ngày: nghiên cứu và đứng trên bục giảng. La Mai Thi Gia hiện là tiến sĩ – Trưởng bộ môn Văn hóa Dân gian thuộc Khoa Văn học, trường Đại học KHXH&NV TP.HCM.

Bàng bạc trong dòng chảy của "Gia ơi, đời xanh đấy!" luôn nhất quán một chữ “Tình” xuyên suốt với bao thăng trầm, niềm vui lẫn nỗi buồn của đời người.

Hai mươi năm trước, khi rời xa quê, cô sinh viên năm đầu của Khoa Văn nào đã biết điều gì đang đợi mình phía trước, nên những vần thơ đầu tiên của những tháng năm khởi tiến trong cuộc hành trình đến với tri thức, là nỗi-nhớ-quê lúc nào cũng da diết, canh cánh bên lòng (Ba ơi!/18 năm lần đầu tiên con biết nhớ/Biết thương cái giọng nói quê mùa của bè bạn đã xa). Và cô gái biết rằng, mai này khi trái tim mình sẽ rộn ràng… lạc nhịp thì, tình yêu ấy lại được mặc định, thông qua hình ảnh người đàn ông mà mình yêu thương nhất từ thời tấm bé – người Cha.

Tuổi của con chắc bằng tuổi Kiều khi gặp chàng Kim
Ba có sợ con sẽ thương ai trong một lần gặp gỡ?
Rồi con cũng sẽ yêu
Nhưng chàng Kim của con sẽ là chàng Kim xứ Quảng
Biết nói “răng ri, chi rứa” phải không ba?

(Tiếng quê)

Thật đến thế là cùng – cô hẹn với lòng mình, rằng sẽ yêu một chàng trai xứ Quảng; mà nào hay, tình yêu là “mệnh số” làm sao ai biết được ở ngày mai? Thương cha quá mà nên, thương quê quá mà nên – mà nên những vần thơ quá đổi tình và quá đổi thật như vậy.

Quê cha đất mẹ
ai ra đi mà không nhớ không thương?
Ta ra đi mà mong quay trở lại
Về với mẹ ta, cha ta, Tam Kỳ ta, Quảng Nam ta hề
Quê ơi, quê ơi!
Lũy thừa nỗi nhớ
Dâng lên ngập trời!

(Khúc ly quê)

Cái tình từ sự ly biệt những người thân được nhà thơ kết hòa vào cái tình biệt ly nơi chôn nhau cắt rốn.

Mẹ!Con đau về phía trái
Nơi chốn ngàn thương trăm nhớ dồn về
Con không thể chờ lâu thêm nữa
Ðã đến ngày về nơi con gọi là quê

(Từ những cơn đau mà hóa phận người).

Khi cái tình của người con gái xa quê tạm nguôi ngoai, ngòi bút của nhà thơ lại quay quắt với cái tình của người đàn bà, nay là mẹ của hai đứa con thơ, mà với chị đó là “Những đứa bé đẹp như thiên thần trong mắt tôi và trong trái tim tôi”.

Mỗi lúc buồn mình chỉ muốn lặng yên
Nhìn con đùa chơi rộn ràng trong sân nhỏ
Muốn làm quả bóng dưới chân con, lăn tròn trên cỏ
Chẳng có góc cạnh nào nên chắc sẽ không đau?

(Rồi cũng sẽ đến đêm)

Nỗi lòng trong “Gia ơi,…” chảy theo dòng của thời gian. Từ tình yêu của người con gái dành cho cha mẹ,… thì khi đã là mẹ, chị lại có thêm một “nơi chốn” nữa để trao gửi tình yêu: những đứa con (Muốn làm quả bóng dưới chân con, lăn tròn trên cỏ/Chẳng có góc cạnh nào nên chắc sẽ không đau?)- liệu có một tình yêu nào dành cho con mà trọn vẹn, cao cả hơn thế. Tôi tin rằng, phần lớn những bà mẹ trên thế gian này đều yêu con mình nhiều lắm, song để viết được hai câu thơ ấy, tình yêu nơi trái tim của bà-mẹ-Thi Gia chắc chắn cao rộng lắm, tràn đầy lắm, vô bờ…

Thi Gia viết về tình yêu bằng trái tim mãi dâng trào nhịp đập yêu thương. Và ở mảng tạm gọi là “thơ cho tình yêu” này, dường như lại xuất hiện một bút pháp “lạ” và gai góc – quyết liệt đến tận cùng, cuồng nhiệt đến độ tưởng chừng có thể chếnh choáng say.

Lãng du người mất hay còn?
Cõng em lên núi tìm con tim mình
Rồi ta sẽ khóc với tình
Kẻ say đâu biết lặng thinh đợi chờ

(Cạn đêm).

Nhớ thì nhớ đến tận cùng:

Tôi nhớ người, người ơi tôi nhớ
Giần giật cơn đau ở phía khôn cùng

(Tôi nhớ người tôi yêu tôi khóc)

Yêu thì yêu đến đậm say:

Yêu nào đêm ơi!
Trăng đã chực chờ đắm
Rơi vào lòng suối sâu
Ta đã chực chờ đắm
Chìm vào thiết tha nhau

(Đêm hôm ấy đầy trăng)

Thơ Gia làm rung động người đọc bởi chị viết từ chính trái tim mình, với thi pháp hiện đại mà không hề tách khỏi nguồn cội của một dòng thơ đã in sâu vào ký ức người yêu thơ.

Tình bỏ ta rồi
Tình bỏ ta rồi
Thiên thu
Mùa đi lăn lắc về miền xa xôi
Về miền xa xôi

(Chờ khô…!)

Thi pháp của “Chờ khô…!” như là tiếng vọng lại của lời than oán, tủi hờn từ một cuộc tình có hồi kết xót xa; nó vừa như lời hát ru không phải của người đưa nôi, mà là của người tiễn đưa một cuộc tình buồn, ru chính trái tim mình.

Không thể lẫn vào đâu được cái chất-thơ-xứ-Quảng nơi Thi Gia. Chính phương ngữ của người Quảng Nam nói riêng, người Miền Trung nói chung đã tạo nên một dòng thơ mang tính đặc thù, không giống với bất kỳ vùng miền nào khác.

Những từ “răng, ri, chi, rứa, mô, tê, miết…” cũng đã được mang vào thơ của Thi Gia một cách tự nhiên, làm cho thơ chị trở nên đậm chất quê Quảng mà không lạc lỏng với dòng thơ Việt.

Bé bỏng bên vai mẹ ơi
Có con sáo non ngoài hè sổ lồng sang sông bay miết
Bay miết qua dòng sông mênh mông
(Cho mẹ được sinh ra)

Hoặc:

Quê mình thương lắm bạn
Tiếng quê thì thật quê
Mái chèo cong dấu hỏi
Răng cá tôm chẳng về?

(Biết răng chừ quê ơi?)

Bên cạnh đó, Mái chèo cong dấu hỏi/Răng cá tôm chẳng về? - hai câu mà theo tôi mang tính khái quát thật xuất sắc, khi tác giả nói đến miền đất đã từ lâu cái nghèo được xem là “điển hình” cả nước; vùng đất “cày lên sỏi đá”, “chó ăn đá, gà ăn sỏi (muối)”. Cái đói khiến cho người kiếm sống trên sông nước buộc phải chèo trên dòng nước ngược, và nước xiết đến độ mái chèo (vốn thẳng) phải cong oằn, như một dấu hỏi. Để rồi kết quả của nỗi cơ cực ấy là gì? Là chính cái dấu hỏi mà tác giả đã thốt lên “răng tôm cá không về?”.

Sự vận dụng âm hưởng của ca dao, tục ngữ,… của một giảng viên chuyên ngành Văn hóa dân gian là thế mạnh trong thơ của Thi Gia. Dù chẳng có trong bài, nhưng người đọc cứ như nghe đâu đây lời mở đầu cho câu chuyện “Ngày xửa ngày xưa…” 

Bà kể tôi nghe
Chuyện cây lúa còng lưng trĩu hạt
Xanh qua thời đòng đòng con gái
Nứt mình trong vỏ trấu ước mơ cơm

(Bà mãi còn trong giấc ngủ của đêm).

Nhưng câu chuyện mà nhà thơ thuật lại, là câu chuyện của một thời chưa xa lắm…

Bà nuôi cha tôi bằng những sớm sương dày
Bà gánh cả mảnh vườn xanh chân trần ra chợ bán
Từ đôi tay bà bó rau như xanh hơn
Cùng những bí bầu nuôi cha tôi lớn khôn

(Bà mãi còn trong giấc ngủ của dêm)

“Bà gánh cả mảnh vườn xanh chân trần ra chợ bán” – câu thơ làm ta nghẹt thở bởi cái tình mẫu tử thiêng liêng và cao quý, không có tình nào thay thế được.

Ca dao đã đi vào trong thơ của Thi Gia ngọt ngào và tự nhiên, chắc cũng không khác gì những lúc chị đứng trên bục giảng kể cho học trò của mình nghe những câu chuyện cổ tích, đọc cho họ nghe những câu ca dao…

Gió đưa cây cải về trời
Trần gian vàng ươm bông bí
Đọa đày rau răm
Mà xanh, xanh mãi ngàn năm
Mà tươi, tươi ánh trăng rằm
Cải ơi!

(Chờ khô…!)

Còn biết bao điều mà “Gia ơi, đời xanh đấy!” đã thành lời, đã thành thơ, đã thành một món quà cho người yêu thơ muốn có. Riêng tôi, vẫn thấy ở phía trước, “bầu trời thi ca” đang rộng mở cho thơ của La Mai Thi Gia bay lên. Bởi không chỉ chị yêu thơ, làm thơ, làm thơ hay… mà dường như số phận đã an bài, từ ngày được cha mẹ đặt tên.

Gia ơi, đời xanh đấy
Người còn thương lá vàng
Cho em mầm hoa biếc
Ươm tình chờ xuân sang

Và, chẳng phải tôi, chẳng phải ai khác, mà chính chị đã tự nhủ với mình:

Gia ơi, đừng nuối tiếc
Những ngày dài hoang mang (Gia ơi, đời xanh đấy!)

BÙI NGUYỄN TRƯỜNG KIÊN

Nguồn: Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 6.5.2018.

------------------------------------------

(*) Thơ của La Mai Thi Gia (NXB Hội Nhà Văn – 2018)

 20180102 154740

Những ngày cuối năm 2017, ba nhà văn Nga quen thuộc đã xuất hiện trong các dịch phẩm do PGS.TS Trần Thị Phương Phương thực hiện, Công ty sách Phương nam và Nxb Văn học ấn hành:

- Chúa biết sự thật nhưng chẳng nói ngay, tập truyện ngắn của Lev Tolstoy

- Kalinin, Trên thảo nguyên, Dưới đáy, tuyển tập truyện ngắn và kịch của Maxim Gorky

- Đứa con muộn, tập truyện ngắn của Anatoly Alexin

Đại văn hào Lev Tolstoy đã rất quen thuộc với độc giả Việt Nam qua các tác phẩm tiểu thuyết có dung lượng đồ sộ như Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina. Vì vậy, khám phá tác phẩm Tolstoy ở hình thức truyện ngắn sẽ mang lại khá nhiều thú vị và mới mẻ. Tập truyện Chúa biết sự thật nhưng chẳng nói ngay gồm có 6 truyện ngắn vừa có đề tài hiện thực, vừa có đề tài tôn giáo, vừa gắn bó với truyện thống Nga cổ và văn học dân gian,… “Các truyện ngắn trong tập sách này chỉ là một phần rất nhỏ trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nằm trong nhóm tác phẩm được gọi tên là “những truyện bình dân” (народные рассказы), nhưng chúng phần nào phản ánh hành trình tư tưởng, cũng như cho thấy những đặc trưng thi pháp tiêu biểu của L. Tolstoy, nhất là ở giai đoạn cuối đời” (TTPP).

Tuyển tập truyện ngắn và kịch của Maxim Gorky gồm 2 truyện ngắn: Kalinin, Trên thảo nguyên và 1 vở kịch: Dưới đáy. Mặc dù Dưới đáy mang một tựa đề có phần tăm tối nhưng “Sức mạnh kịch của Gorky trước hết là ở chỗ đã nói về cuộc sống một cách tích cực, lạc quan, tin rằng có thể thay đổi cuộc sống đó theo hướng tốt đẹp lên” (TTPP). Tập truyện ngắn cũng giới thiệu các truyện ngắn thể hiện rõ nét phong cách của M. Gorky, những câu chuyện hấp dẫn về những con người nhỏ bé trong mối giao hòa với thiên nhiên vừa dữ dội vừa hiền hòa, vừa chứa đựng chất dân gian huyền thoại vừa chứa đựng cuộc sống hiện thực đầy sức sống.

Tập truyện ngắn Đứa con muộn của Anatoly Alexin gồm 3 truyện ngắn với đề tài thiếu nhiên và “những cuộc đụng độ của họ với thế giới người lớn”. Tập truyện sẽ phù hợp với các độc giả trẻ tuổi muốn tiếp xúc với nền văn học Nga, với những câu chuyện nhẹ nhàng, hài hước và cũng không ít kịch tính về đời sống của thế hệ trẻ trong cuộc sống gia đình, trường học. Tác phẩm cũng rất phù hợp với độc giả ở đời sống hiện đại phức tạp và bận rộn khi nói về mối quan hệ khó khăn giữa cha mẹ và con cái, đầy ắp tình yêu thương và cần rất nhiều sự thấu hiểu để không yêu thương sai cách.

BT

 

NHỮNG CÔ BÉ KHÔN NGOAN HƠN CÁC ÔNG GIÀ

Lev Tolstoy 

Lễ Phục sinh đến sớm. Người ta vừa thôi đi bằng xe trượt. Ngoài sân vẫn còn tuyết, nhưng trong làng đã có những dòng suối nhỏ chảy. Một vũng nước lớn lẫn phân gia súc đọng lại trên con phố nhỏ chạy giữa hai khoảng sân. Và hai bé gái của của hai nhà tụm lại bên vũng nước đó, một đứa còn bé, đứa kia lớn hơn một tí. Cả hai được mẹ mặc cho những cái váy sarafan[1] mới tinh. Váy của đứa bé màu xanh, còn đứa lớn thì màu vàng có hoa văn, cả hai đều quàng khăn màu đỏ. Hai cô bé vừa xong lễ mi-xa thì chạy ra chỗ vũng nước, khoe áo mới với nhau rồi bắt đầu chơi.Chúng muốn vọc nước, đứa bé đi đôi giày trẻ con định bước xuống vũng nước, còn đứa lớn thì bảo:

-Đừng bước xuống đó Malashka, mẹ mắng cho đấy. Để tao cởi giày ra đã, và mày cũng cởi ra đi.

Hai đứa bé tháo giày cùng bước xuống vũng nước để đi về phía nhau. Malashka thấy chân ngập nước đến mắt cá bèn bảo:

-  Nước sâu lắm, Akulyushka, em sợ lắm.

- Không sao đâu,  –  con bé lớn nói – không sâu hơn nữa đâu. Mày cứ bước thẳng đến chỗ tao.

Hai đứa bé đến gần nhau. Akulyushka bảo:

-Malashka, đừng có nhảy, đi nhẹ thôi.

Vừa dứt lời thì Malashka đã giẫm bộp xuống, bắn toé nước lên váy của Akulyushka. Bắn cả lên mũi và lên mắt. Nhìn thấy những vết bẩn trên váy, Akulyushka nổi giận, quát Malashka và chạy lại gần định đánh. Malashka hoảng hốt thấy mình đã gây ra tai hoạ, vội nhảy khỏi vũng nước để chạy về nhà. Mẹ của Akulyushka đi ngang qua thấy váy con gái ướt và áo dính bẩn.

- Cái con hư hỏng kia mày nghịch ngợm gì ở đâu đấy hả?

-Con Malashka cố ý văng nước lên con đấy.

Bà mẹ của Akulyushka túm lấy Malashka đánh vào gáy nó. Malashka khóc váng khắp phố. Mẹ Malashka chạy ra.

- Sao bà lại đánh con tôi? – và bắt đầu chửi bà hàng xóm. Lời qua tiếng lại, hai bà cãi nhau ầm ĩ. Những người đàn ông cũng xông tới, tập hợp thành một đám đông trên đường. Mọi người đều la hét, không ai chịu nghe ai. Họ chửi bới, chửi bới, người nọ huých người kia, sắp thành một cuộc ẩu đả. Bà của Akulyushka chạy ra, chen vào giữa đám đàn ông dàn hoà:

-Các người làm sao vậy, giữa ngày lễ tết thế này? Lẽ ra phải vui mừng, thì các người lại muốn chuốc thêm tội lỗi.

Không ai nghe lời bà cụ, còn suýt đá cả vào chân bà. Bà già không thể thuyết phục được họ, nếu như không có Akulyushka với Malashka. Trong khi hai bà mẹ nhiếc móc nhau, Akulyuka chùi sạch áo váy và lại chạy ra vũng nước. Nó nhặt một hòn đá và bắt đầu đào đất bên cạnh vũng nước để làm rãnh thoát nước ra đường. Trong lúc nó đào thì Malashka cũng lại gần giúp, cũng  dùng que đào rãnh. Lúc đám đàn ông bắt đầu ẩu đả thì chỗ hai đứa bé nước đã chảy ra đường thành dòng. Hai đứa bé thả mảnh phoi bào xuống dòng nước chảy thẳng tới chỗ bà cụ đang can ngăn đám đàn ông. Chúng chạy theo hai bên dòng nước.

-Giữ nó lại Malashka, giữ lại! – Akulyushka kêu lên. Malashka muốn nói cái gì đó, nhưng vì cười nắc nẻ nên không ra lời được.

Hai đứa bé cứ chạy như thế, cười với mảnh phoi bào khi nó trôi nổi theo dòng suối nhỏ. Và chúng va vào giữa đám đàn ông. Nhìn thấy chúng, bà già nói với đám đàn ông:

-Các người phải biết sợ Chúa chứ! Các người là đàn ông đàn ang, vì mấy con bé này mà đánh nhau, còn chúng nó thì quên từ lâu rồi, đã làm hoà vui vẻ chơi với nhau. Chúng nó khôn hơn các người đấy!

Những gã đàn ông nhìn lũ trẻ và thấy xấu hổ. Sau đó chính họ cũng bật cười với chính mình và giải tán về nhà.

Nếu các ngươi không cư xử như đứa trẻ, các ngươi chẳng vào nước Chúa được đâu.” (Phúc Âm Matthew, 18:3)

(1885)


[1] Sarafan: loại áo dài truyền thống của Nga, thường dành cho phụ nữ và các bé gái. (ND)

PGS.TS Nguyễn Công Lý vừa có hai công trình nghiên cứu bề thế: Văn học Việt Nam thời Lý -Trần (636 trang), Văn học Việt Nam thời Lê- Mạc- Nam Bắc phân tranh (754 trang). Triển khai theo cấu trúc giáo trình, hai cuốn sách đều có các phần sáng rõ: Tổng quan, Khuynh hướng,Thể loại và Tác gia, với một hệ thống thư mục hết sức phong phú.


Cùng với cha mình, Ths. Nguyễn Công Thanh Dung cũng ra sách đúng dịp này: Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (247 trang). Nghiên cứu Quách Tấn từ thời đại học, với khóa luận "Tìm hiểu thơ Quách Tấn" do tôi hướng dẫn, Nguyễn Công Thanh Dung đã phát triển thành luận văn thạc sĩ (bảo vệ tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) và giờ đây sửa chữa, in thành sách.


Xin cám ơn hai bạn đồng nghiệp Nguyễn Công Lý và Nguyễn Công Thanh Dung với lòng vui mừng và xin giới thiệu cùng các anh chị yêu văn học gần xa.

Xin xem mục lục ba cuốn sách trên ở đây:

1. Văn học Việt Nam thời Lý -Trần

Mục lục 1

Mục lục 2

Mục lục 3

2. Văn học Việt Nam thời Lê- Mạc- Nam Bắc phân tranh

Mục lục 1

Mục lục 2

Mục lục 3

Mục lục 4

Mục lục 5

3. Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn

 Mục lục 1

Mục lục 2

Mục lục 3

Mục lục 4

Mục lục 5

Cách đây mấy hôm, vào sáng tinh mơ, nhà thơ Chinh Văn đột ngột đến thăm và mời tôi đến dự buổi gặp gỡ thân mật của một số thân hữu nhân tập truyện ngắn “Bài Thơ Trên Xương Cụt” của nhà văn Chinh Ba sắp được ra mắt. Một tin vui đặc biệt, vì lần đầu tiên, 14 truyện ngắn được sáng tác và công bố rải rác trước năm 1975 của anh Chinh Ba được sưu tầm và tái ngộ bạn đọc trong tổng số khoảng 50 truyện ngắn và một số tản văn và kịch bản ngắn khác mà hiện nay một số không nhỏ chưa thể sưu tầm hết được! Nhưng thú thật, niềm vui đến với tôi cùng với không ít sự ngỡ ngàng pha lẫn lo lắng khi anh Chinh Văn cho biết anh Chinh Ba tỏ ý muốn tôi phát biểu vài lời giới thiệu tập truyện nhân buổi gặp mặt. Làm sao dám giới thiệu một tác giả đàn anh mình vốn ngưỡng mộ tên tuổi nhưng chưa từng được diện kiến, một tập truyện dày dặn trong đó có mặt cả truyện ngắn lừng danh được lấy làm nhan đề cho cả tập, một truyện ngắn được đông đảo độc giả tinh tường ca ngợi, mà tiêu biểu là nhà nghiên cứu văn học Huỳnh Như Phương như anh viết trong lời bạt đầy thẩm quyền: “nếu mỗi nhà văn chỉ cần một truyện ngắn sâu sắc, hấp dẫn để người đọc ghi nhớ thì với Chinh Ba, truyện ngắn đó là Bài Thơ Trên Xương Cụt. Dù là người dè dặt, tôi trộm nghĩ rằng đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX” (Truyện ngắn Chinh Ba: những dụ ngôn đa nghĩa, Thay lời bạt)?

Tôi thưa thật nỗi lo lắng trước “sứ mệnh bất khả thi” ấy vào sáng hôm sau (tức cách đây mới ba hôm) khi anh Chinh Ba, cùng với anh Chinh Văn, đích thân hạ cố đến nhà thăm và tặng tập cảo thơm vừa mới kịp ra khỏi nhà in, còn nóng hổi. Nụ cười rất hiền và tình cảm ưu ái nồng hậu của hai anh khiến tôi hơi vững bụng, mặc dù vẫn biết rằng mình không phải là người sáng tác và càng không có mấy kiến thức trong lĩnh vực văn chương. Sự việc bỗng dưng sáng tỏ khi lật vội tập truyện và thấy ngay ở trang đầu là tranh chân dung tuyệt đẹp đề tặng Bùi Giáng của họa sĩ Đinh Cường, và, một cách kín đáo, nhà văn Chinh Ba như muốn dành tặng tác phẩm của mình cho thi sĩ họ Bùi. Thì ra, mối giao tình giữa hai tác giả lớn đã giúp cho bản thân tôi được thơm lây! Tôi cũng được lưu ý về một chú thích trong truyện ngắn sau cùng “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng”: “Năm 1949, máy bay Pháp từ Đà Nẵng vào oanh tạc chợ Chương Dương (Tư Phú), sát hại hàng trăm thường dân vô tội. Và trong một lần khác đã ném bom Quế Sơn (Trung Phước - cận kề Hòn Kẽm, Đá Dừng) giết hại trọn cả gia đình họ Bùi. Trong đó, có cô dâu là con gái út cụ Phan Khôi”. Thưa vâng, “gia đình họ Bùi” này chính là gia đình một người bác ruột của Bùi Giáng và là người anh con ông bác của tôi. Sau sự kiện bi thương ngày 19.09.1952 với 18 nạn nhân là những người ruột thịt, Bùi Giáng đã viết:

Một trái bom rơi trúng miệng hầm

Thôi đành sự thế lạnh căm căm

Một mình ra đứng sau khe núi

Chợt thấy thân mình một hóa trăm.

 

“Một hóa trăm” của xương thịt tan lìa. “Một hóa trăm” của sự dâng hiến và sẻ chia. “Một hóa trăm” như là thân phận và trách nhiệm của người cầm bút trước những nỗi đau tột cùng của đồng loại. Nhân vật mang tên Đợi trong Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng không phải là trường hợp cá biệt. Có một thời kỳ và một vùng đất mà người ta không thể đặt tên cho con là Lan, là Huệ mà chỉ có thể là Thương, Nhớ, Đợi, Chờ, Trông, Mong, Mến, Tiếc như đã có thật trong gia đình một người chú họ khác của Bùi Giáng. Chính từ mối tình keo sơn với mảnh đất quê hương: “đất này là đất chết”, nhưng có những nhân vật như mô tả của Chinh Ba, thì “trở thành đất sống. Dầu sống dầu chết, dầu đói dầu no, cũng đừng phụ mảnh đất này” (Mồ sống), và cũng từ mối thâm tình gắn bó hai đại gia đình (nhà văn Chinh Ba và nhà thơ Chinh Văn đều thuộc đại gia đình của cụ Phan Khôi) mới cho phép tôi phát biểu vài lời ở đây, không phải với tư cách một người đọc thiếu chuyên môn mà như một người thân cùng sẻ chia những mối cảm thông.

Nếu triết gia, như có người nói, là kẻ nắm bắt thời đại của mình bằng tư tưởng, thì nhà văn có lẽ là người “thấy thân mình một hóa trăm”, bởi chỉ có phương tiện và sức mạnh của văn chương, nghệ thuật mới có thể làm được điều ấy. Tôi đến vội vàng với tập truyện ngắn của Chinh Ba từ cảm thức như thế. Nhà văn đã phân thân mình, hay đúng hơn, hóa thân mình vào vô vàn những cảnh ngộ. Nhưng tại sao, như nhận xét tinh tế của Huỳnh Như Phương, “Chinh Ba dành phần lớn tác phẩm của ông cho những suy ngẫm về sự sống và cái chết, những cảm nghiệm về thân phận khốn cùng của con người. Đọc Chinh Ba, ấn tượng nhất có lẽ là những hình thù kỳ quái, những số phận dị thường, những cái chết đáng sợ nơi tối tăm, ẩm thấp. Một vài truyện ngắn nghe vọng tiếng kinh cầu hồn, tuy thiếu những bóng ma”? Thật thế, nhân vật của Chinh Ba là người tù “khát nắng”, là đứa con lai như phế phẩm lạc loài của chiến tranh, là “cô gái dậy thì nhưng gày gò, mảnh khảnh, còn làn da trắng xanh như người bệnh” (Hai vì sao lạc), là một chàng nhạc sĩ nghèo, mang bệnh bất trị, chết cháy với cây đàn (Tiếng đàn khuya), là người tình si hóa đá, là những người tù hay những thường dân bị truy đuổi, tra tấn, là kẻ tự chôn mình xuống huyệt (Mồ sống) v.v… Tại sao “không gian trong truyện ngắn Chinh Ba […] xuất hiện như định đề về con người bị chối bỏ sự tồn tại, hoặc tồn tại trong cô độc và tuyệt vọng”?

Là nhà văn già dặn về bút pháp, Chinh Ba chắc hẳn hoàn toàn có thể sáng tạo nên những nhân vật khác, những cảnh ngộ khác. Vậy, phải chăng chính thời cuộc ấy, mảnh đất ấy đã thúc giục lương tâm và ngòi bút ông chọn lựa sự “hóa thân”, “phân thân” về một phía, phía “của nước mắt” và không thể về phía nào khác? Xin thử lắng nghe lời giải đáp của Bùi Giáng về trường hợp của Albert Camus và William Faulkner như một đối thoại vắng mặt với Chinh Ba. Lời giải đáp không mới, nhưng nghiêm chỉnh và nghiêm trọng: “Camus đã sống với thời đại, hiểu trọn vẹn bi kịch của thời đại […], vì thế chậm rãi, bình tĩnh nói tiếng nói muôn đời của nhân loại khát vọng tự do và công chính”. “Faulkner muốn rằng tất cả những điên đảo, âm u, quỷ loạn trong tác phẩm của mình phải hé mở một ảnh tượng bát ngát của thiên đường” (M. Heidegger và tư tưởng hiện đại).

Một chủ nghĩa lạc quan dễ dãi? Một ước mơ “có hậu” cổ truyền? Thưa còn tùy, nếu rơi vào tay một kẻ “trung nhân dĩ hạ”, cái đức lý không thể thiếu trong văn chương sẽ làm người đọc khó chịu. Còn trong trường hợp ngược lại, nó trở nên “bát ngát” như chính cuộc đời, như dòng chảy mềm mại mà đanh thép của lẽ nhân sinh. Nó không thiếu sự tra vấn nghiêm khắc: “Công lý có mấy thứ? Thứ nào đáng tồn tại? Cũng như người có mấy thứ người, người nào đáng sống?” (Khát nắng). Từ đó, người con gái dậy thì gầy gò, bệnh hoạn “hiện lên trước mắt người yêu cô như một bông hoa, như một nàng tiên, như một ngôi sao, như một hình tượng lý tưởng nhất mà loài người chưa gọi tên được” (Hai vì sao lạc). Một “màu nguyên xuân” trong thơ Bùi Giáng! “Nàng sợ đứa con bị tật nguyền như cha nó. Nhưng đứa bé lành lẽ, thơm tho, một mùi thơm mà trong đời nàng chưa hề được thưởng thức” (Mồ sống). “Thằng Hòa mười hai tuổi mà phải nói chín tuổi mới có người tin”. Nó lén lấy tóc hai anh chị đang bất hòa của nó trộn lại, chôn dấu, hy vọng một không khí gia đình yên ấm. Nó cắn răng chịu đựng trận đòn ác liệt vì hành vi “ám muội” này, bởi nếu thú nhận, việc làm này sẽ “mất linh”, trước khi cả ba người khóc òa trong hạnh phúc mới tìm lại được: “lúc nhỏ, chúng tạo ra tình thương, lớn lên chúng làm nên lịch sử” (Tóc). Một truyện ngắn có thể xếp vào hàng kinh điển trong nền văn chương giáo dục thế giới, dữ dội hơn cả câu chuyện nổi tiếng cảm động về một bé gái nghèo đập vỡ con heo đất còm cõi vào một chiều đông lạnh lẽo ở trời Tây để mua một chuỗi ngọc quý làm quà Giáng sinh cho chị, và người chủ tiệm kim hoàn âm thầm giúp em toại nguyện vì chính em mới là người khách hàng trả giá cao nhất cho món quà quý, vì em đã sẵn sàng hiến dâng tất cả những gì mình có cho một tình yêu trong sáng.

Chinh Ba cũng biết rõ giới hạn của văn chương: “Vì nỗi khổ của tình người chỉ nguyên vẹn được trong niềm cảm thông tiềm ẩn, và sẽ mất mát khá nhiều khi bị phô diễn bằng lời nói, câu văn” (Kẽ hở bàn tay). Nhưng văn chương vẫn có sức mạnh lạ thường, đôi khi khá ngẫu nhiên, của nó, vì nghệ thuật là vô cùng, như khi bỗng “thấy có hình vẽ về bàn tay em giữa những hình ảnh đẹp đẽ nhất của cuộc đời” (nt).

 

Bài Thơ Trên Xương Cụt hiển nhiên là truyện ngắn nổi bật và, vì thế, cũng nổi tiếng nhất, không chỉ trong tập truyện mà trong cả đời văn của Chinh Ba. Nhân vật Ba Lò Heo đã quản lý “nền văn nghệ gia đình” của lão bằng dao búa để dập tắt mọi rung cảm khả nghi và mọi hình thức văn nghệ phong phú, “phức tạp” của Út Lệ, người vợ đáng thương của lão và, rút cục, đã giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để cho đường lối văn nghệ “đặt cơ sở trên chiếc xương cụt của lão”, một “nền văn nghệ” hạ cấp và câm nín. Giá trị châm biếm, tố cáo và cảnh báo của câu chuyện viết từ năm 1965 là vượt thời gian. Nếu Ba Lò Heo là “vô văn hóa”, căn bệnh dễ chữa. Không, Ba Lò Heo có “văn hóa”, có “tâm hồn”, biết chọn cho mình một lối thơ yêu thích, thậm chí chịu đau để cho xăm lên lưng và cả lên chiếc xương cụt. Căn bệnh “thiếu văn hóa” ấy là nan y. Lại cương quyết bảo vệ bằng vũ lực cho sự độc quyền văn hóa ấy nữa thì mới thật là vô phương cứu chữa! Do đó, bên cạnh giá trị phê phán định chế, truyện ngắn còn là sự phê phán “não trạng” nơi mỗi con người. Trong đáy sâu tâm hồn chúng ta, bao nhiêu phần đã trở thành Ba Lò Heo?

Tuy nhiên, Chinh Ba đã tìm được cho mình một phương thuốc chủng ngừa khá hiệu nghiệm, giúp anh có khi “viết dễ dàng như thở”: “Tôi gửi vào cuộc đời niềm tin yêu màu hồng. Tôi nghĩ cái buồn đôi khi cũng cần thiết cho con người như chút phèn chua cần thiết cho một ly nước đục. Bởi vậy, thà mùa thu không có gió, chứ đêm khuya đừng vắng tiếng côn trùng. Những tâm hồn thao thức biết lấy gì mà thở, nếu không có tiếng dế nỉ non, tiếng vạc kêu sương, tiếng từ quy khắc khoải, tiếng khóc của trẻ con, tiếng ru của bà mẹ bên hàng xóm” (Bài Thơ Trên Xương Cụt).

 

Cám ơn nhà văn Chinh Ba đã giúp tôi tìm lại được niềm hứng thú để đọc văn chương sau thời gian chìm đắm quá lâu trong thế giới trừu tượng. Cảm ơn anh Chinh Ba cho tôi lấy lại được chút cường tráng trong tâm hồn, sau thời gian quá dài không đủ tự tin vào sức khỏe tâm thần để dám đối diện với lớp lớp bể dâu trần thế.

Quán Đông Hồ, đêm 22.11.2011

BÙI VĂN NAM SƠN

* Lời tựa sách Bài thơ trên xương cụt, Tập truyện ngắn của Chinh Ba, NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh tái bản, quý IV - 2017.

Xuất hiện lần đầu tiên trên Nông cổ mín đàm (số 19, năm 1912), Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu đã nhanh chóng được đông đảo độc giả khắp Nam Kỳ yêu thích, say mê. Tiểu thuyết thực sự trở thành một best seller đương thời và sau đó được in thành sách 2 lần vào các năm 1914, 1920.

Đây là cuốn tiểu thuyết kẻ chê bai cũng lắm mà người bênh vực cũng nhiều, tạo ra nhiều cuộc bút chiến, tranh luận sôi nổi. Nhiều nhà văn, trí thức khá nổi tiếng thời đó như Nguyễn Háo Vĩnh, Cao Hải Để, Nguyễn Chánh Sắt, Đẩu Nam Trần Huy Liệu … viết bài công kích tác phẩm này rất gay gắt. Hà Hương phong nguyệt truyện bị coi là dâm thư, đồi bại, làm phương hại cho đạo đức, thuần phong mỹ tục và Lê Hoằng Mưu bị lên án là “đứa tội nhơn lớn nhứt của An Nam”. Trước sức ép của báo chí và dư luận, năm 1923, chính quyền thuộc địa quyết định tịch thu tiểu thuyết này. Có lẽ đây là cuốn tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên bị tiêu hủy trong lịch sử văn học.

Sở dĩ có thể kể lể dài dòng như vậy vì tôi đã có ba tháng ròng rã đọc vi phim trong thư viện tổng hợp TP. Hồ Chí Minh hồi làm luận văn tốt nghiệp đại học với tờ Nông Cổ Mín Đàm. Bởi thế, tôi đã có được cái duyên tiếp cận với Hà Hương phong nguyệt từ hồi tiểu thuyết này còn ít được các nhà nghiên cứu văn học đương thời quan tâm tới (và độc giả đương thời càng không). May mắn thay, giờ đây, đông đảo bạn đọc đã có thể thưởng thức cuốn tiểu thuyết này một cách dễ dàng: Hà Hương phong nguyệt đã được xuất bản một lần nữa bởi Saigon Books, sau nhiều công sức sưu tầm, chỉnh lý và chú thích của PGS. TS Võ Văn Nhơn, đại học KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh.
Xin chúc mừng Thầy và Saigon Books.
Xin trân trọng giới thiệu đến bạn bè gần xa.

Lời giới thiệu

TS. Nguyễn Khắc Hóa

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nghĩ về văn chương đất phương Nam là công trình nghiên cứu văn học thứ chín của PGS. TS, giảng viên cao cấp Lê Tiến Dũng. Cuốn sách tập hợp hơn ba mươi bài nghiên cứu tiểu luận phê bình về văn học của các tác giả ở vùng đất phương Nam. Đất phương Nam trong cách nghĩ của Lê Tiến Dũng ở công trình này không chỉ là vùng đất Nam Bộ hôm nay, mà nó bao gồm cả một dải đất dài từ sông Bến Hải cho đến tận cùng đất mũi Cà Mau. Đó cũng là cách nghĩ rất quen thuộc của con người Việt nam trước 1975, thời đất nước ta còn bị chia cắt làm hai miền bởi vĩ tuyến 17. Cuốn sách này là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu, suy tư lâu dài của ông trong suốt cả chặng đường gần bốn mươi năm giảng dạy và nghiên cứu văn học. Nó định hình khá rõ nét phong cách của một nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã từng được khẳng định trên văn đàn Việt Nam đương đại nhiều năm nay. Cảm hứng nghiên cứu, phê bình của Lê Tiến Dũng ở cuốn sách này có thể tạm chia làm hai phần. Phần một bao gồm những bài viết về các nhà thơ nhà văn từ Phan Văn Trị cho đến các tác giả hiện đại ở đất phương Nam ngày nay. Phần hai gồm sáu bài nghiên cứu về ca dao gắn với các dịa danh du lịch nổi tiếng của đất phương Nam.

Cảm hứng nghiên cứu phê bình ở tập sách này đặt sắc nhất vẫn là ở phần một, gồm hai mươi sáu bài viết về các nhà văn, nhà thơ đất phương Nam. Trong số đó, có hai tác giả được Lê Tiến Dũng giành nhiều tâm huyết và công sức để khám phá và phát hiện vẽ đẹp độc đáo ở tác phẩm của họ. Đó là Tố Hữu và Xuân Diệu. Những bài viết về hai tác giả này, có thể gọi là những bài nghiên cứu công phu nhất, thành công nhất của tập sách.

 Dường như hình tượng Hồ Chí Minh trong thơ Việt Nam hiện đại từ lâu đã có sức ám ảnh, cuốn hút ngòi bút phê bình của Lê Tiến Dũng. Từ cuốn sách Cụ Hồ ở giữa lòng dân (viết chung) được lãnh giải thưởng trong dịp tổng kết đợt “Học tập tấm gương, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, cho đến các bài viết về hình tượng Bác Hồ trong thơ Tố Hữu, thơ Thanh Hải và trong thơ Viễn Phương đã thể hiện rất rõ sự ngưỡng mộ và lòng mến yêu Bác của nhà nghiên cứu qua những hình tượng thơ ấy. Đến với những trang viết này, cảm xúc và ngôn từ của Lê Tiến Dũng như cũng được nâng lên ngang tầm với cảm xúc của bài thơ, để rồi chúng hòa điệu trong nhau, cùng nhau cất lên tiếng nói thiêng liêng và cao cả về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mặt trời rực sáng đem đến sự sống, đem đến ánh sáng tươi đẹp cho trái đất. Nếu mặt trời trong câu thơ thứ nhất là một hình ảnh thực, là một vật thể không thể thiếu của vũ trụ, thì mặt trời trong câu thơ thứ hai lại là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo. Bác như một vầng thái dương sáng ngời, chiếu dọi ánh sáng cách mạng và tâm hồn để vực dậy sự sống tươi đẹp cho những con người đắm chìm trong bóng đêm nô lệ. Vì thế, Bác là một mặt trời luôn ngời sáng, sưởi ấm cho linh hồn của những người con Việt Nam”. Đó là một đoạn bình giảng về hai câu thơ của Viễn Phương trong bài Viếng lăng Bác:

 Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

( Trích Viễn Phương với hình tượng Bác Hồ trong thơ)

Là một thầy giáo khá nổi tiếng của chuyên ngành lý luận văn học, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thế mạnh của ông không chỉ được thể hiện ở những bài viết về lý luận văn học, mà ấn tượng sâu sắc nhất còn ở những lối bình thơ văn. Ông nắm bắt tinh, nhạy cảm, rất nhanh và rất chính xác thần thái của nhưng áng văn hay, những câu thơ kiệt xuất. Bình giảng hai câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu trong bài Giục giã:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Ông viết: “Đây là hai câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu. Không phải là hai câu thơ của sự hưởng lạc, sống gấp như có người đã nhận xét, mà là hai câu thơ của lòng ham sống, say sống giữa đời với độ nồng nàn. Cái chói chang của sự sống cũng giống như cái chói chang của ánh sáng thà bùng lên huy hoàng mà tắt, còn hơn cái le lói của trăm năm” (Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu)

Quả thật ở phương diện này Lê Tiến Dũng thật sự là một nhà phê bình, nhà giáo rất có tài trong rung cảm, thẩm thấu để phát hiện cái hay, cái đẹp của văn chương. Tôi cho rằng đó là một phẩm đầu tiên, hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành bại của một cây bút làm nghề nghiên cứu, phê bình văn học.

Đọc nhiều lần trên ba mươi bài viết trong tập sách này tôi nhận thấy năng lực cảm thụ, phân tích bình giảng văn chương của Lê Tiến Dũng quả thật tinh tế và tài hoa. Cái tài ấy là nhờ tác giả có đôi mắt tinh đời, trái tim nhạy cảm và tâm lòng nhân hậu rất dễ rung cảm trước cái đẹp của văn chương. Điều này đã làm cho tập sách có một giá trị đích thực của nghiên cứu phê bình văn học trong hoàn cảnh hiện nay. Từ chân dung các nhà văn, nhà thơ cho đến những bài viết về ca dao của nhiều xứ sở, cuốn sách của Lê Tiến Dũng đã thể hiện được một cách nghĩ, một tầm suy nghĩ khá mới mẻ và sâu sắc về con người và văn chương ở vùng đất phương Nam của đất nước ta.

Nhân dịp cuốn sách ra đời, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

                                                                            TP Hồ Chí Minh 30/05/ 2017

                                                                                               N.K.H.

20180425 Tho Thi Gia

Homer, người kể chuyện vĩ đại năm xưa từng mở đầu thiên trường ca Odyssey bằng lời cầu khấn thanh tao: “Nàng thơ ơi, hãy hát lên…”. Mỗi nhà thơ kể cho chúng ta nghe một câu chuyện về chuyến phiêu lưu của cõi tinh thần.

Thơ Thi Gia là những câu chuyện thầm thì không kết thúc trong trái tim một người nữ sẵn yêu và sẵn thơ:

Gia ơi, chừ em hát
Lời ngọt lành như mưa
Gia ơi, chừ em khóc
Thương ngày mình xuân xưa

 (Gia ơi, đời xanh đấy!)

Chỉ là một câu chuyện dài về nỗi niềm xanh tươi của tuổi xanh tươi. Có mấy ai nuôi được màu xanh ấy, trong chính mình và trong cách nhìn đời. Bởi vậy, Thi Gia mới tự nhắc mình, rằng đời xanh đấy! Như chúng ta thầm nhắc nhau bằng câu hỏi: Đời vẫn xanh ư?...

Đời xanh, không phải vì đời rất vui, mà vì đời rất đáng sống!

Trong “cõi xanh” của Thi Gia, chúng ta đọc thấy một nguồn cảm hứng đầy đặn về tình ruột thịt, tình nhân gian, về tình ân ái, tình đa đoan… Mỗi bài thơ là một thiên truyện tí hon nhưng đầy sức gợi về nỗi phập phồng và hân hoan của con người trước những vui buồn, tai ương và hạnh phúc.

Nhà thơ chọn cho mình một giọng riêng ở mỗi thứ tình.

Trong tình máu mủ ruột rà, thơ Gia bình lặng và giản dị với điểm nhìn thơ dại về gia đình, về quê hương cố lý.  Đó là nỗi ngơ ngác chân thành: “Đỏ mắt con tìm một câu chúc miền Trung” trong buổi sinh nhật xa quê (Tiếng quê), là lời mời tự nhiên “như không” mà rất thiết tha: “Quê mình đây nè bạn - Bữa mô buồn ghé chơi - Nắng hè trong leo lẻo - Biển còn xanh hơn trời” (Biết răng chừ quê ơi), là kỷ niệm dịu dàng sâu lắng về ánh mắt cha ngày con gái lấy chồng: “Vào nhà đi cha ơi thôi đừng đợi nữa! - Con gái cha đã lớn mất rồi - Đã biết… sống trên đời ai cũng phải có đôi” (Con gái theo chồng), là khúc tiêu dao ám ảnh dành cho kẻ tha phương:

Ta ra đi hề

giữa bốn bề gió lộng

Nhưng trái tim ta hề

đã ở lại quê hương

(…)

Quê cha đất mẹ

ai ra đi mà không nhớ không thương?

Ta ra đi mà mong quay trở lại

Về với mẹ ta, cha ta, Tam Kỳ ta, Quảng Nam ta hề

Quê ơi, quê ơi!

Lũy thừa nỗi nhớ

Dâng lên ngập trời!

Bài thơ Khúc ly quê được viết từ hơn mười năm trước đã bồi đắp cho thơ Gia một tâm tình nồng nàn có chút sang trọng cổ xưa. Thơ hiện đại mà có pha lẫn giọng tiêu dao tráng chí, âm vang lạ của loại ca ngâm vốn chỉ dành cho các bậc thượng căn.

Hoài vọng đất quê làm nền cho Thi Gia viết những vần thơ cảm động về mẹ cha. Bản tính hồn nhiên trong thơ Gia là một vũ khí “đắc địa” khi chạm đến tình mẫu tử, tình phụ tử:

Nghỉ tay thôi cha ơi

quấn điếu thuốc rê mà phì phà

đốt lên niềm vui từ những hàng mạ non xanh tít tắp

phì phà cơm no áo ấm

từ những vết chai

từ đôi mắt đăm đắm suy tư trong chiều

chứa đầy mẹ

chứa đầy con

chứa đầy những nỗi lo toan nhọc nhằn, những buồn vui hạnh phúc

Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng

Rồi sẽ như rơm rạ

Một chiều đốt đồng khói mịt mù bay

cay xè con mắt

Có đủ vô tư để đợi tuổi về không cha ơi?

 

Cuốc cày chi nữa cha ơi

ngồi xuống đây mà nhâm nhi cùng con ly rượu

Uống cho tuổi cha như ngọn lúa chín vàng

trĩu hạt đòng đòng bên đám mạ xanh non.

(Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng)

Hình ảnh “chứa đầy mẹ”, “chứa đầy con” là sáng tạo bất ngờ, làm nhoà đi bao nhiêu ranh giới tinh tế thường vẫn có trong mỗi gia đình. Ở đó, Thi Gia chia sẻ cho chúng ta một cảm nhận rất “thật thà”:

Em chẳng có gì ngoài thân thể mẹ cho
Thanh xuân trả dần cho năm tháng

(Chẳng có gì ngoài chính em thôi)

hay những lời tình tự về nỗi đau “nguyên bản” của đời người phụ nữ:

Mẹ!
Con đau khi rời mẹ
Và đau khi con làm mẹ con mình
(…)

Đau lần nữa, đau thêm ngàn lần nữa
Từ những cơn đau mà hóa phận người

(Từ những cơn đau mà hóa phận người)

Nỗi đau không thể là điều cắn xé chúng ta mãi được. Tấm lòng trong xanh sẽ làm nguôi những buồn đau trĩu nặng. Người bà trong thơ Gia khiến ta nghĩ như thế:

Bà nuôi cha tôi bằng những sớm sương dày

Bà gánh cả mảnh vườn xanh chân trần ra chợ bán

Từ đôi tay bà bó rau như xanh hơn

Cùng những bí bầu nuôi cha tôi lớn khôn

(Bà mãi còn trong giấc ngủ của đêm)

Tôi thích hình ảnh người bà gánh cả mảnh vườn xanh trên đôi chân trần. Hình ảnh đó nửa rất thực,  nửa như là một ẩn dụ nao lòng về sức xuân mạnh mẽ trong cơ thể người nữ. Nó bất ngờ đạt tới một sự lấp lánh trong sự trộn lẫn giữa nét tươi giòn háo hức với sự tiếc nuối xa xăm. Chủ đề bài thơ rất quen thuộc, nhưng cách viết của Thi Gia tạo ra một hiệu ứng mới.

Thế giới của tình thân ruột rà trong thơ Gia còn mở ra những tứ thơ gây xúc động thực sự:

Con trai tắm cho cha

Tắm cho người đàn ông đã từng công kênh mình trên đôi vai

Bế bồng mình trên đôi tay… to bè, vạm vỡ

Đón mình vào nhân gian khi còn đỏ hỏn

Tắm cho người đàn ông năm xưa đã tắm cho mình

(Tắm gội cho cha)

Tình máu mủ và tình nhân gian dường như được gắn kết bằng hình tượng những em bé. Viết về em bé là biệt tài của Thi Gia. Cũng không có gì lạ, đó là một hồn thơ quá đỗi vô tư.

Lời ru của Gia có màu sắc riêng, dù đã được kết trộn với nhiều tầng cảm xúc từ dân ca người Việt.

Bé bỏng trên tay mẹ ơi
Em ngủ ngoan như hạt nắng yên lành trên lá me
(…)

Bé bỏng trong tim mẹ ơi
Có lũ kiến đen kiến đỏ kiến nhỏ kiến to xếp hàng men theo cọng rơm ra ruộng
Cõng thóc về kho cho ấm no
Lũ về theo mùa giăng giăng trắng đồng cá tép
Lời mẹ hát chiều nay nghe như âu lo.

(Cho mẹ được sinh ra)

Người thơ ấy cũng không quên để lại nhiều cảm xúc về những nghịch cảnh của nhân loại quanh mình; là câu thơ tiếc thương những em bé Hàn Quốc tử nạn trong vụ chìm phà Sewol năm 2016: Đằng sau những nụ cười đã vĩnh viễn hết cười - Tôi mường tượng ra những đôi mắt sẽ vẫn còn khóc mãi (…) ;Trái tim trẻ thơ trôi đi cùng băng giá - Để lại những cuộc đời cũng đã hóa đêm sâu”, là câu chuyện thảng thốt của người bạn chân chất cùng quên: “Sống chẳng được cái nhà che sương gió - Chết phải được cái mồ cho ấm mẹ, mày ơi!” (Mẹ nát một đời trong cái thói bao dung),  là bài thơ viết sau sự kiện xác em bé Syria trôi dạt vào bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ khi cùng cha mẹ trong chuyến tị nạn hãi hùng: “Ta còn gì cho ngày mai - Ta để lại gì cho tương lai ngoài những hố sâu hun hút - Ngoài những linh hồn bé thơ lạnh lẽo kêu đau” (Ta là gì trong cõi chúng ta), là những mong ước rất kì lạ của người mẹ với con: “Muốn làm quả bóng dưới chân con, lăn tròn trên cỏ - Chẳng có góc cạnh nào nên chắc sẽ không đau?” (Rồi cũng sẽ hết đêm).

Với trích đoạn bài thơ dưới đây, tôi nghĩ Thi Gia có thể đã tìm thấy một vài đỉnh cao nào đó trong đời thơ của mình:

Nụ cười của chúng nhốt hồn vía tôi ở đấy

Tiếng khóc của chúng nhốt tình yêu tôi ở đấy

Tôi trở thành người tù vui vẻ an lành

Hân hoan trong chiếc lồng son mang tên Hạnh phúc

Kể từ ngày những thiên thần ấy đến chơi

Tôi biết tự do của mình đã ra đi mãi mãi

Mãi mãi...

Vì bởi chính tôi khao khát được giam cầm

 

Những đứa trẻ được sinh ra từ máu thịt của mình

Dạy cho tôi biết chẳng có nỗi đau nào là đáng sợ

Và có những thương yêu

Cả cái chết cũng chẳng thể nào xua tan được nó

Khi ta đã được duyên lành chọn để đến bên nhau

 

Và khi đời còn đầy rẫy đớn đau

Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ

Thật phi thường, mạnh mẽ

Sừng sững như non cao che chở đời con trẻ

Như mẹ đã từng che chắn đời tôi

(Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ)

Viết về con cái của mình như thế, tự nhiên, giản dị và thấm thía, là điều mà một nhà thơ không phải lúc nào cũng có thể đạt tới. Chúng ta chào đón những câu thơ thiện lương và tài hoa này!

Tạm biệt những câu chuyện thần tiên về em bé, chúng ta lại nghe câu chuyện khác nhọc nhằn hơn một chút: chuyện về tình ái ân và tình đa đoan.

Đọc thơ tình của Thi Gia, tôi tin rằng “một nhà thơ tình biết lay động” đã đến!

Gia không phải là nhà thơ của suy tư, khắc khoải. Chất thơ Gia không ứng với vị nồng rượu đậm. Giọng thơ này không sở hữu những mật ngữ sang trọng và cô đúc. Thơ Gia là một thảo nguyên trong xanh gợi tình. Thơ tình của Gia sẽ còn nhiều sức sống và ghi dấu ấn rất tự nhiên trong dòng thơ đương đại, bởi có gì dai dẳng và mênh mang hơn gió ở thảo nguyên, hơn cỏ xanh và trời xanh thay nhau xanh ở thảo nguyên?

Nàng thơ kể chuyện Từ ấy hồng hoang mới kết thành rằng: “Hồn ta từ dạo lan theo sóng – Rót biển cho đời xanh khát khao”, rằng “cả tin nghe gió lời ân ái – ai biết ngàn dương có thật thà”, đến nỗi “hồn bay qua đỉnh trời hoang dại – hai kẻ đùa chơi không áo manh”.

Thơ Gia không có ý khiến người ta nghĩ, mà giúp người ta thở! Đọc thơ Gia là để thở những khoảng không gian không bị giới hạn:

Kể từ chiều qua đây chập choạng

Tôi và thinh không đang lặng lẽ nhớ người!

(…)

Yêu như cơn giông trút xuống cánh đồng cháy khô giữa hạ

Yêu như đám mây đen thả mình làm mưa vội vã

Yêu đi cho nhau xanh mướt trong nhau

(…)

Mình như một hài nhi nhỏ dại

Trần truồng dưới ánh trăng xanh

Và da thịt tôi tươi mới mát lành

Tôi và người sinh nhau ra lần nữa.

(Tôi và người sinh nhau ra lần nữa)

Niềm vui thơ dại trước dư tình say đắm trong mỗi câu thơ mở ra những “cánh đồng hoa giữa trời” (những cánh đồng mà Xuân Quỳnh từng ca hát), dẫn người đọc bước vào những không gian khác lạ của tình yêu đôi lứa, được thở một sinh quyển nồng nàn của khách đa tình:

Em ngồi yên rồi

Yên như đêm vậy

Người rót tình đi, ta uống nhau.

(Người rót tình đi, ta uống nhau)

Thơ Gia là tiếng thơ của thiếu nữ nói nỗi lòng thiếu phụ, bởi vậy mà người đọc cứ thấy chênh chênh nhưng là một sự chênh chênh nghịch ngợm và rất có nghề. Thiếu nữ thì trinh thơ mà thiếu phụ thì lặng người trong cuồng nhiệt:

Tôi nhớ người tôi yêu tôi muốn hét
Tiếng hét từ châu thân thăm thẳm tột cùng
Tôi muốn giấu người sâu trong ấy
Của nhau rồi ai bận tính riêng chung?

 (Tôi nhớ người tôi yêu tôi khóc!)

Thảo nguyên xanh gợi tình chưa dừng lại. Thi Gia khiến chúng ta ngạc nhiên và thoáng chút thẹn thùng khi viết những câu thơ, ý thơ “nhạy cảm” quá đỗi, như là: “Chờ khô giữa suối nhấp nhô – sóng tình” (Chờ khô), “trong đêm ướt sũng nỗi niềm cuộn lên – cuộn lên –  cho đêm vỡ nát tan tành – Mà anh, anh vẫn vẹn lành trong em” (Vén nỗi nhớ đầy tim), “Em nhớ anh cả những lúc bên nhau, cuộn vào nhau thương nhớ - Thiếu anh cả những lúc đầy anh trong em ăm ắp đam mê (Tia nắng cuối ngày có hong khô nỗi nhớ?).

Bóng đêm của thơ Gia bị nhà thơ mắng là “Đêm hư”, thế nó đã làm gì? Nó chỉ ghẹo tình: “Xiết bông cỏ dại – ghẹo đùa lưng ong – bên tai róc rách – mùa đang trổ đòng”.

Có sao đâu. Tình yêu cho chúng ta lạc thú, trên mọi thứ mà nó trôi qua.

Nhưng sau tất cả, sau những hồ hởi thiếu nữ là đôi mắt thiếu phụ:

Khi tình yêu ta không thể yên bình
Em thương anh chung gánh cùng em trên con đường dài thẳm sâu phía trước
Em thương người em yêu tất tả vụng về
Thương cái nhìn đầy nhau mà vờ như xanh ngắt
Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa

(Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa)

Vậy đó. Nàng thiếu nữ trinh thơ bỗng nhiên sương tuyết như kẻ bạc đầu. Chúng ta lại nghe một câu chuyện khác rất sâu:

Đôi khi giữa những tháng ngày bình yên giản dị
Không có chút sắc màu nên mình tưởng không vui

(…)

Giờ thì mình tập yêu những thứ thuộc về mình
Vì biết chẳng thể yêu những điều mình chưa từng có

(Hết buồn rồi thì mình sẽ hết đau)

Rồi nàng quyết liệt hơn, từng trải sững sờ:

Bởi lớn rồi nên em đã hiểu
Những bàn tay đâu thể nắm suốt đời
Khi mỏi quá cần buông nhau một lát

Cho cả hai người được phép thảnh thơi

(Chỉ cần có nhau ở chốn nhau về)

đến nỗi: “Thản nhiên mà đi qua nhau - Cái vẫy tay còn ở lại” (Thản nhiên). Và cái chết ngọt ngào hay sự thức tỉnh ngọt ngào xuất hiện: “Em học vầng trăng buông tim mình xuống đáy” (Gói lòng mình, gói cả bão giông), “Em chọn cách quay đi và khóc” (Có phải con đường quanh là con đường dài nhất).

Trăng đã chực chờ đắm

Rơi vào lòng suối sâu

(Em mơ)

Mọi thứ đang “chực chờ” để ái ân miên viễn. Trăng của Thi Gia giàu nhục cảm nhưng là thứ nhục cảm trong lành. Hãy “giải thiêng” bằng niềm vui ân ái (“tại đêm bày chuyện dập dìu – Nên ta ta cũng đánh liều giải thiêng”) – một đề nghị rất ngây thơ và đầy cảm hứng của nàng Thi Gia.

Tôi gọi Thi Gia là người “sẵn thơ”, từ tên gọi như là định mệnh cho đến những niềm thi hứng riêng tư. La Mai Thi Gia có thể biến thành “Mãi là thi gia” (mãi là nhà thơ) được chăng? Có thể lắm. Biết đâu tạo hoá chẳng vô tình.

Mọi chuyến phiêu lưu đều chứa đựng những kinh nghiệm, kì thú hoặc nhạt màu. Cũng có nhiều mất mát ở chặng cuối cùng. Cách chữa lành những vết thương phù du mà có thật là trả lại sự “như như” cho muôn tạo vật, cũng như cho chính mình. Hân hoan buồn và vui, đấy là quà tặng của trái tim hồn nhiên trước những vết xước của tâm hồn!

Từ Thơ Trắng đến Đời Xanh, miệt mài với chuyến phiêu lưu rất xa, Gia đã không quên hân hoan trả lại màu tự nhiên cho cõi tục:

Gia ơi, đời xanh đấy
Người còn thương lá vàng
Cho em mầm hoa biếc
Ươm tình chờ xuân sang.

Hãy đọc thơ Gia bằng niềm hy vọng; như cách chúng ta sống và hát trong hy vọng, dù hy vọng không đồng nghĩa với niềm vui; nó đồng nghĩa với sự sẵn lòng.

Đông kinh, Nhật Bản 02/ 2018

Lê Thị Thanh Tâm

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay, những bộ phim cải biên từ tác phẩm văn học vẫn liên tục được trình chiếu với những cấu trúc tự sự mới lạ, những kỹ xảo chất lượng cao và sự sáng tạo không ngừng của đạo diễn. Phim cải biên luôn chứng tỏ được sức hút của nó trong lòng những khán giả say văn chương mê điện ảnh. Vì vậy, dù có nhiều ý kiến khen chê, dù bị đánh giá là trung thành hay không trung thành với tác phẩm văn chương thì phim cải biên vẫn tiếp tục dòng chảy của nó để cho hành trình liên văn bản không bị gián đoạn khi đi qua những loại hình nghệ thuật khác nhau và đến với từng đối tượng tiếp nhận khác nhau.

Mặc dù phim cải biên đã tự mình chinh phục được những đỉnh cao trong nghệ thuật điện ảnh nhưng cơ sở lý luận, các lý thuyết cải biên từ văn học đến điện ảnh vẫn chưa nhất quán và còn nhiều tranh luận. Tại Việt Nam, tài liệu nghiên cứu về lý thuyết cải biên một cách có hệ thống và chuyên biệt hầu như vắng bóng. Những vấn đề cải biên học chỉ được đưa ra xen kẽ trong các công trình nghiên cứu tác phẩm cải biên cụ thể hoặc trong một số bài báo khoa học và bài tham luận tại các hội thảo. Trong khi đó, các tài liệu về cải biên học ở nước ngoài được dịch và giới thiệu trong nước với một mức độ khan hiếm. Ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu văn học cũng như nghiên cứu nghệ thuật đều xem vấn đề cải biên là một phương pháp thuần túy chứ không phải một lý thuyết nghiên cứu. Do đó, khi nghiên cứu việc cải biên một tác phẩm văn học sang một loại hình khác, nhất là điện ảnh, đa số các nhà nghiên cứu đều dùng phương pháp so sánh để cho thấy sự giống và khác nhau của tác phẩm cải biên và tác phẩm nguồn, tranh luận về tính trung thành với nguyên tác, từ đó bình giá tác phẩm cải biên chứ ít nhìn nhận về tính độc lập tương đối của tác phẩm cải biên hay thế mạnh của từng tác phẩm trong loại hình của nó.

Các bài báo, các bài điểm phim gần đây cũng chỉ nhìn vào các bộ phim cải biên ở góc độ trung thành hay biến đổi so với văn bản nguồn chứ không thấy được những sự dịch chuyển ký hiệu từ loại hình này sang loại hình khác, sự thay đổi bối cảnh từ tác phẩm cải biên này đến tác phẩm cải biên khác và sự tiếp nhận của tác giả điện ảnh với tư cách là một độc giả. Một vấn đề nữa là đối với tác phẩm văn học có nhiều tác phẩm điện ảnh cải biên thì người nghiên cứu chỉ lựa chọn duy nhất một tác phẩm mà không có sự so sánh đối chiếu để tìm hiểu xem các tác phẩm điện ảnh cải biên đó có sự tương quan với nhau như thế nào và bản nào được xem là cải biên, bản nào được xem là làm lại từ tác phẩm cải biên đó.

Ngày nay, trong bối cảnh mới của thế giới, cải biên học (adaptation studies) đã có những sự phát triển trên cơ sở lý luận liên văn bản, phiên dịch học, giải cấu trúc, văn hóa học. Nhờ những lý thuyết này cộng với sự phát triển mạnh mẽ của điện ảnh, cải biên học từ văn học đến điện ảnh đã được khảo nghiệm và hệ thống hóa thành lý thuyết. Lý thuyết cải biên giúp các nhà nghiên cứu có được cái nhìn đúng và thận trọng hơn khi đánh giá tác phẩm cải biên đồng thời giúp cho những người làm phim có những lựa chọn thích hợp khi muốn cải biên một tác phẩm văn học nào đó. Trong điện ảnh, có rất nhiều tác phẩm cải biên thành công và để lại nhiều ấn tượng tốt cho khán giả như: “Bố Già” (The Godfather), “Nhà tù Shawshank” (The Shawshank Redemption), “Forrest Gump”, “Hồ sơ điệp viên Bourne” (The Bourne Identity), “Cuốn theo chiều gió” (Gone with the Wind), “Bệnh nhân người Anh” (The English Patient),... Cũng có những tác giả điện ảnh nổi tiếng nhờ vào việc cải biên tác phẩm văn học như: Hitchcock, Kurosawa Akira, Stanley Kubrich. Tuy nhiên, chuyên luận về những “tác giả điện ảnh” cũng như thành tựu cải biên của họ đến nay vẫn chưa được chú ý nhiều.

Khi nghiên cứu cải biên học, chúng tôi muốn thông qua trường hợp Kurosawa khảo nghiệm lại những vấn đề trọng yếu của cải biên, ví như vai trò của văn bản nguồn trong cải biên, nghịch lý của tính trung thành trong cải biên hay mối quan hệ giữa tác giả và đạo diễn trong cải biên, tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại đến việc cải biên. Trong lịch sử điện ảnh thế giới, đạo diễn trứ danh Nhật Bản Kurosawa Akira được xem là bậc thầy của những tác phẩm điện ảnh cải biên. Do vậy, khảo sát các tác phẩm cải biên của ông bằng lý thuyết cải biên hứa hẹn sẽ đem đến một cái nhìn mới về sự sáng tạo của Kurosawa nói riêng và làm phong phú thêm cho lý luận cải biên nói chung. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến cách thức chuyển thể của Kurosawa Akira trong điện ảnh thế giới và những yếu tố giúp ông thành công trong việc cải biên tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên của người viết với đạo diễn Kurosawa Akira là những tháng ngày học ở Dự án điện ảnh K6 năm 2010-2011 tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Từ ám ảnh ban đầu về “Những giấc mơ” trong tập phim ngắn “Dreams” của ông, người viết đã tìm về nhiều bộ phim khác nhau thuộc nhiều giai đoạn khác nhau của đạo diễn và nhận thấy ở Kurosawa Akira có một dạng ngôn ngữ điện ảnh hấp dẫn kỳ lạ, mời gọi khán giả tìm hiểu, khai phá. Mặt khác, hầu hết các bộ phim của ông sử dụng chất liệu văn chương nhưng giữa tác phẩm văn chương làm chất liệu và phim Kurosawa luôn có một cuộc đối thoại ngầm mang tính tri âm và sáng tạo của đạo diễn với nhà văn. Kurosawa cải biên rất nhiều các thể loại văn học như: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản văn học. Sự thành công của phim Kurosawa đôi lúc làm khán giả lãng quên chất liệu có trước bởi cuộc chuyển vị ngoạn mục từ văn học sang điện ảnh. Do đó, có thể xem việc cải biên của Kurosawa là một trong những trường hợp tiêu biểu nhất để đặt vào cải biên học trong bối cảnh hậu hiện đại. Từ những lý do đã nêu trên, xin phép được giới thiệu tới bạn đọc tác phẩm: Chân trời của hình ảnh (Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa Akira).

Đây là một công trình nghiên cứu, mà qua đó chúng tôi muốn nhìn nhận cải biên học trong sự phức hợp của các lý thuyết: liên văn bản, giải kiến tạo, văn hóa học và phiên dịch học. Cải biên là một bộ phận của liên văn bản. Liên văn bản cho thấy sự dịch chuyển các ký hiệu từ văn bản nguồn là tác phẩm văn học đến văn bản đích là tác phẩm điện ảnh. Ngoài ra, xem xét cải biên từ góc nhìn liên văn bản sẽ thấy được hành trình xuyên suốt của các văn bản kể cả văn bản nguồn lẫn văn bản đích bởi tất cả các văn bản đều hấp thụ, biến đổi và trở thành từ các văn bản khác. Bộ phim cũng chỉ là kết quả của tiến trình liên văn bản, thể hiện một cách đọc của nhà làm phim và bên trong nó không chỉ có liên văn bản từ tác phẩm văn học nguồn mà còn rất nhiều văn bản khác thông qua ngôn ngữ, hành động nhân vật, thông qua diễn xuất của diễn viên cũng như các hiện tượng văn hóa, xã hội. Từ góc nhìn giải kiến tạo, tác phẩm điện ảnh cải biên sẽ được trả lại vị trí của chính nó, tức là mối quan hệ thứ bậc của tác phẩm nguồn và tác phẩm phái sinh, văn bản trước và văn bản sau sẽ bị xóa nhòa, thay vào đó là mối quan hệ đồng đẳng của các loại hình nghệ thuật, của sân chơi liên văn bản. Từ góc nhìn văn hóa học sẽ cho thấy hệ tư tưởng mang tính thống trị xã hội tác động đến quan điểm của những nhà làm phim. Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng giúp người nghiên cứu nhìn nhận nguyên nhân, mục đích và bối cảnh xã hội của cải biên và sẽ kiến giải được tại sao có những bộ phim cải biên từ cùng một tác phẩm văn chương nhưng lại có sự thay đổi rất lớn. Từ góc nhìn của phiên dịch học, việc cải biên tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh được xem là một kiểu dịch liên ký hiệu, do đó tính tương đương cũng được xem xét trong quá trình nghiên cứu cải biên. Tuy nhiên, tính tương đương này là tính tương đương giữa cái hồn cốt, cái tinh túy, cái đề tài cốt lõi của tác phẩm văn học so với tác phẩm cải biên chứ không phải tương đương về những chi tiết, logic về mặt cốt truyện hay cấu trúc tự sự.

Thứ hai, công trình sử dụng thuật ngữ “cải biên” để dịch thuật ngữ “adaptation” trong tiếng Anh, định danh những tác phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu có trước là văn học và các loại hình nghệ thuật khác. Đây là cách dùng từ do nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đề xuất ở trang 33 của bài viết: “Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo – liên văn bản trong văn chương và điện ảnh”, Tạp chí Văn học, số tháng 12/2006. Trước đây, khi phiên dịch thuật ngữ “adaptation” sang tiếng Việt, các dịch giả dùng từ “chuyển thể”. Tuy nhiên, đối với động từ “adapt” cũng mang hàm ý như danh từ “adaptation”, các dịch giả lại dùng từ “mô phỏng”, “dựa theo”, “cải tác”. Do đó, để sử dụng một thuật ngữ dịch thuật đồng nhất, công trình này sẽ dùng từ “cải biên” với hàm nghĩa lý thuyết, thể loại lẫn hàm nghĩa phương pháp, thao tác. Ngoài ra, cải biên học không chỉ được ứng dụng trong các tác phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu văn học mà còn ứng dụng nghiên cứu các tác phẩm sân khấu “biến đoạn” và thậm chí là trong cùng một loại hình nghệ thuật như các tác phẩm văn học Việt Nam cải biên từ các tác phẩm văn học nước ngoài. Bên cạnh đó, những bộ phim làm lại (remake), những bộ phim dựa trên chuyện có thật cũng được xem là cải biên. Vì vậy, nếu dịch là “chuyển thể” sẽ không phù hợp khi mở rộng phạm vi nghiên cứu. Cũng trong nghiên cứu này, lần đầu tiên, lý thuyết cải biên được giới thiệu và đề cập một cách toàn diện từ mối quan hệ của văn học và điện ảnh, từ tác giả cải biên, tác phẩm cải biên và người đọc, người xem. Bên cạnh đó, những bài nghiên cứu mới về lý thuyết cải biên cũng được giới thiệu một cách có hệ thống trong công trình.

Thứ ba, công trình này nghiên cứu về Kurosawa Akira bằng lý thuyết cải biên một cách triệt để thông qua những thể loại tiêu biểu được cải biên là: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Ở Việt Nam, có ít nhất hai công trình nghiên cứu về Kurosawa Akira ở bậc đại học và sau đại học nhưng là nghiên cứu về sự nghiệp của Kurosawa Akira một cách chung chung chứ không đi sâu vào cải biên học. Như vậy, với những vấn đề được nêu lên ở trên, chúng tôi tin rằng, công trình sẽ đóng góp một cách nhìn nhận mới đối với việc nghiên cứu các tác phẩm điện ảnh cải biên, giúp các tác phẩm cải biên được quan tâm một cách xác đáng chính từ bản thân nó chứ không phải từ sự giống nhau và khác nhau so với tác phẩm văn học. Đồng thời, công trình này hy vọng cũng sẽ giúp các nhà biên kịch có thể có những phương pháp phù hợp trong việc cải biên những tác phẩm văn học thành điện ảnh và giúp các nhà làm phim có thể học tập được phương thức cải biên của đạo diễn bậc thầy Nhật Bản Kurosawa Akira thông qua các nghiên cứu cụ thể.

Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà nghiên cứu: thầy Trần Luân Kim, thầy Trương Đăng Dung, thầy Trần Nho Thìn, thầy Lâm Quang Vinh, cô Phan Thị Bích Hà, cô Phan Thị Thu Hiền, thầy Lê Giang, cô Nguyễn Thị Thanh Xuân, cô Trần Lê Hoa Tranh, cô Trần Yến Chi, cô Nguyễn Vũ Quỳnh Như, cô Phan Bích Thuỷ đã góp ý, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Văn Nam Sơn, thầy Phan Nhật Chiêu, anh Trần Tiễn Cao Đăng, anh Phan Đăng Di, anh Phan Gia Nhật Linh là những người đã truyền cảm hứng cho tôi trên con đường học thuật và điện ảnh. Xin đặc biệt gửi lời tri ân đến thầy Nguyễn Nam, người đã giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều tri thức mới, cô Trần Thị Phương Phương, người đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm cho tôi trong quá trình nghiên cứu. Cuối cùng, xin gửi lời chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị đồng nghiệp và bạn bè vì luôn ở bên tôi, động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành công trình này. Công trình rất mong tiếp tục nhận được nhiều ý kiến đóng góp và chia sẻ từ bạn đọc.  

Có ai đó nói: nhà văn là người biết kể chuyện. Ý đó chắc nhiều người tán đồng, bởi những tác phẩm khởi nguyên của mọi nền văn chương đều tựa vào lối kể. Văn chương kể sẽ còn sống mãi, bởi con người luôn có nhu cầu được kể và nghe kể.

Bạn muốn nghe kể, hãy đến với Vàng trên biển đá đen của Elena Pucillo. Ở ngoài đời, nhà văn người Ý làm dâu Việt Nam này nói líu lo khi gặp bạn, nhưng trên trang viết, bà lúc rộn ràng, lúc âm thầm tiết chế.

Elena Pucillo đã lại mang đến cho chúng ta những mẩu chuyện về nhân thế trong Vàng trên biển đá đen. Cảm thức hương xa (exotique) về một miền Châu Á gió mùa nhiệt đới đã hòa trộn cùng nỗi niềm thân thuộc từ chốn quê chồng mà bà đã chọn để sống và viết lâu nay, kết tủa thành dung nham sáng tạo.

Như những cuốn sách trước đây của Elena Pucillo: Bóng của ngày, Một phút tự do), Vàng trên biển đá đen đặt truyện ngắn nằm bên tản văn. Mười bốn truyện ngắn và mười tạp bút ở đây là một phối hợp không chỉ vì dung lượng. Về cảm hứng, có thể nhìn thấy một mạch chung, xuyên suốt: tương giao của người. Về cách viết, có thể nghĩ đây là một bổ sung: trong khi truyện ngắn có phần kìm nén, thì với tản văn, ngòi bút Elena Pucillo thoải mái hơn.

Những câu chuyện gắn với Việt Nam ghi dấu các chuyến đi dọc dặm dài đất nước của tác giả:  Tây Bắc (Vàng trên biển đá đen), Hà Nội (Một đêm huyền diệu, Hà Nội, nét đẹp bí ẩn), Quảng Ninh (Trên đỉnh núi thiêng), Vũng Tàu (Bình minh vàng trên biển), An Giang (Trà Sư, thánh địa của loài chim)… Với Elena, đi là để gặp người, để nắm bắt những tình huống tạo nên số phận, làm nên nỗi đau hay niềm hạnh phúc. Đôi mắt ấy thích khám phá tâm cảnh hơn là nhiên cảnh.

Vì thế, với Tây Bắc lung linh mây trời, xanh ngời sắc núi, kỳ bí đá đen, Elena chú ý hơn “những hạt mầm vàng con người”, thiên nhiên nơi đây là hoàn cảnh thách thức để con người tỏ lộ phẩm chất của mình. Có vẻ như đấy là cái nhìn của người đồng bằng, sông nước?

Vì thế, Một đêm huyền diệu giữa lòng Hà Nội là không gian ấm áp ân cần trong gia đình một người bạn; một Hà Nội, nét đẹp bí ẩn là không gian và sinh hoạt con người với hàng họ, đền chùa, hơn là những ghi nhận về sông hồ, cây cối.

Vì thế, giữa Yên Tử thiêng liêng là cảm giác khó nhọc leo dốc trong mưa và lời khuyến khích ân cần của một người đàn ông bất chợt, thoáng qua đủ để bước tiếp và đến đích (Trên đỉnh núi thiêng).

Nhìn vào cõi người, Elena nắm bắt những cảnh trạng khác nhau, chủ yếu trong không gian gia đình, cũng như phác qua những tính cách. Trong Vàng trên biển đá đen, hầu hết các truyện ngắn toát lên một âm hưởng buồn. Bà lão già cô đơn và tuyệt vọng, đã chọn lấy cái chết trong cảm giác bị tước sạch tất cả bởi người con dâu mạnh mẽ, vô tình: tình cảm đứa con trai, ngôi nhà kỷ niệm (Con chim nhỏ trong lồng). Lòng ân hận và cảm giác về sự vô nghĩa của đời nơi người đàn ông tha phương kiếm sống mong đền đáp ơn nghĩa hai đấng sinh thành, nhưng khi trở về thì mọi cái đã quá muộn màng (Dải ruy băng màu tím). Một người phụ nữ lâm vào tình thế rỗng không, đã tự sát, vì nhận ra mình là món đồ chơi sở hữu của chồng (Búp bê bằng sáp). Một ông lão, bị con cái bỏ rơi, chạy trốn khỏi bệnh viện và dùng một liều thuốc ngủ để được gặp lại người bạn đời ở chốn bên kia (Chút hơi ấm cuối cùng). Một bà mẹ dắt con cô con gái bé bỏng đến gặp cô nhân tình của ông chồng có thói trăng hoa của mình để trách móc và ra về với cảm giác bẽ bàng thua cuộc (Cuộc  hẹn  ở  sân  ga). Một thiếu nữ đang tuổi trăng tròn nằm trong bệnh viện, làm bạn với cây phong bên ngoài cửa sổ và nghe thời gian sống còn rút ngắn từng ngày (Giấc mơ thu ngọt ngào). Ám ảnh không cùng trong một cảm giác vừa đau buốt vừa phẫn nộ là cuộc trò chuyện trong tâm tưởng của hai mẹ con: họ chợt bị chia lìa vì dục vọng dã thú của lũ đàn ông hàng xóm, trên đường đi học về, cô bé bị bạo hành và bị ném xuống cầu (Đợi chờ).

Những nhân cách lệch cũng hiện ra nơi đây trong một phác vẽ, gọn ghẽ, vài đường nét, mà kịch tính. Người phụ nữ xinh đẹp chuyên nghiệp trong việc săn tìm những anh đàn ông sộp: thời thơ bé, cô phải vùng vẫy trong tay người mẹ, khi bà nhẫn tâm dắt cô tới cho những người đàn ông dơ bẩn (Cuộc săn mồi); Cô gái có khát vọng “nữ hoàng”,  luôn thích “ném đá dấu tay”, “thao túng” tất cả để giành “quyền giữ vai chính” và rồi nhận ra mình đã bị soán ngôi khi gặp một đối thủ mới (Dòng máu nhiễm độc).

Thấp thoáng trong đó là những mẩu chuyện sáng tươi từ một vài tình huống bất ngờ: Hai ông già Châu Á giỏi võ đánh cướp trong quán cà phê, cứu người (Phía sau sự thật); người đàn ông lạ mặt ân cần trên đường lên non Yên Tử (Trên đỉnh núi thiêng); và một vài tình huống đặc biệt: hạnh phúc người mẹ khi tỉ mẩn ngồi may cho con gái chiếc áo dài ngày cưới (Món quà đặc biệt); giòng thư cô con gái gửi mẹ ruột mình ngay trong ngày người mẹ chồng vừa mất, bày tỏ niềm thương yêu và biết ơn chan chứa về hạnh phúc được làm con của hai đấng sinh thành Ý- Việt (Thư viết cho mẹ).

Nếu truyện ngắn của Elena tối giản và thuộc gam màu lạnh thì tản văn của Elena Pucillo tràn đầy chi tiết, ấm áp bạn bè. Quán Văn đã có một vai trò lớn ở đó và nhân vật trung tâm là nhà văn Nguyên Minh. Những ai từng gặp nhân vật này ngoài đời, cũng có thể nhận ra là ngòi bút của Elena Pucillo kỳ tài, bà hiểu thấu niềm đam mê làm báo văn chương nơi Nguyên Minh và khắc họa được thần thái ông: “đôi mắt đăm chiêu và sự im lặng”, “sự bao dung và ôn hòa” (Nguyên Minh, tuổi trẻ hai lần thắm lại). Hạnh phúc trong tương giao và tương lân thấy rõ nơi Elena Pucillo qua các lần gặp gỡ  Đinh Cường (Nụ cười phúc hậu giữa thu vàng), Phạm Cao Hoàng (Người lưu giữ yêu thương), Sâm Thương (Chung một đam mê) cùng những bạn bè, người thân khác (Hơi ấm của một vòng tay) và tất cả đều hiện lên với một nhân dáng đẹp.

Điều đặc biệt, Vàng trên biển đá đen đến được với công chúng Việt là nhờ công chuyển ngữ (từ bản thảo tiếng Ý) của ông Trương Văn Dân, người bạn đời của Elena Pucillo. Qua bản dịch này, có thể nhận ra tâm hồn và ngôn ngữ tác giả rất nữ tính và rất Việt. Hai không gian văn hóa Ý- Việt đã lồng vào nhau làm một, phải chăng nhờ mối lương duyên đẹp? Truyện ngắn của Elena Pucillo vừa vặn trong khung thể loại, phảng phất phong vị truyện ngắn của Guy de Maupassant, Anton Chekhov và có những nhan đề gợi; tản văn của chị tràn đầy chi tiết với cái nhìn tỉ mỉ, tinh tế.

Cùng bắt đầu viết văn khi rời Ý về Việt Nam và tuổi đời đã cao, đôi uyên ương tri kỷ Elena Pucillo- Trương Văn Dân như đang được hồi xuân. Đã mười năm nay, họ xuất hiện đều đặn trong không gian văn chương Việt như chứng tỏ rằng: những ai biết yêu thương văn chương thì không bao giờ có tuổi.

                                                                                                Sài Gòn, 9-12-2017

                                                                                                Nguyễn Thị Thanh Xuân

 

 

 

 

Đọc Mãi đừng xa tôi (Never let me go) của Kazuo Ishiguro, nhà văn Anh gốc Nhật, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nxb Văn học và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 2008.

Tác phẩm là một cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng, lấy bối cảnh nước Anh cuối thế kỷ hai mươi. “Giả tưởng”, nhưng câu chuyện vẫn thật đến nhói lòng bởi tác giả tưởng tượng rất tinh tế khi tạo dựng từng chi tiết, khi miêu tả từng cảm xúc của nhân vật. Câu chuyện kể về Hailsham, một ngôi trường nội trú chuyên nuôi dạy những đứa trẻ vốn là bản sao vô tính để phục vụ cho mục đích y học. Số phận những đứa trẻ này đã được định đoạt: khi đến tuổi trưởng thành, họ chỉ có mội một nhiệm vụ là hiến nội tạng cho những người bị bệnh cho đến khi nào chết thì thôi.  

Mấy chương đầu đọc khá chán, bởi lối kể chuyện nhẫn nha đến sốt ruột của Kazuo Ishiguro và vì cứ tưởng đó là những chuyện của bọn học trò nội trú bình thường. Nhưng đọc hết rồi mới thấm thía, đến độ phải đọc lại từ đầu để có thể hiểu rõ, nắm bắt được câu chuyện. Có những chi tiết ban đầu đọc thấy cũng bình thường, như chi tiết một lần Kathy nhắm mắt ôm gối khiêu vũ theo âm hưởng của bài bát Mãi đừng xa tôi cùng với đoạn điệp khúc “Con yêu, mãi đừng xa mẹ”. Sau khi đọc xong sách, sau khi biết Kathy chỉ là một bản sao sinh sản vô tính chỉ có nhiệm vụ hiến tạng chứ không sinh sản, không có con được, mới thấy tác giả xây dựng chi tiết đó tài tình làm sao.

Những Kathy, Tommy, Ruth,… đã được sinh hoạt, học tập như những con người bình thường khác; đã lớn lên và gắn bó với Hailsham. Trong ký ức của họ, thế giới khép kín đó như là một quê hương yêu dấu không thể nào nguôi quên. Biết mình sinh ra và được nuôi dưỡng chỉ để làm người hiến tạng, biết mình không hề có tương lai, nên Hailsham của quá khứ với nhiều kỷ niệm ngọt ngào là hạnh phúc, là nguồn an ủi duy nhất trong cuộc sống đã được lập trình sẵn của họ. Do vẫn là “người”, họ vẫn không nguôi  khát khao được làm người bình thường, khát khao được sáng tạo, được yêu thương, nhất là khi nghe mơ hồ đâu đó nếu yêu nhau thật sự họ sẽ được hoãn lại việc hiến tạng.  Nhưng rốt cuộc Ruth không qua khỏi sau lần hiến thứ hai, Tommy, sau một thời gian ngắn ngủi hạnh phúc cùng Kathy, đến lần hiến thứ tư cũng ra đi. Chỉ còn lại một mình Kathy tiếp tục công việc của người chăm sóc, tiếp tục đi trên những con đường tối tăm, heo hút trước khi  rồi cũng sẽ “xong hẳn” như Ruth, như Tommy.

Được Time Magazine xếp vào danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 tới năm 2005, Mãi đừng xa tôi là một cuốn sách buồn, làm người đọc u uất không ít nhưng cũng gợi nhiều cảm xúc, nhiều suy nghĩ về thân phận làm người.

Phụ nữ viết văn, bao giờ cũng vậy, dù dịu dàng đằm thắm hay dữ dội bạo liệt, chất nữ tính vẫn len lỏi nơi ngòi bút, tạo nên trong văn của họ một thứ “mùi hương” làm say đắm hồn người. Tôi không muốn gọi những gì họ viết là văn chương của phái yếu, mà muốn gọi đó là văn chương của phái đẹp. Bởi vì, bằng tư chất trời ban, họ đã làm đẹp văn chương theo cách của riêng mình. Và, khi vốn liếng trời ban đó được kết hợp nhuần nhuyễn với tình yêu thiết tha, cái nhìn tinh tế, cảm nhận sắc sảo, nghệ thuật tuyệt vời... nhà văn nữ sẽ xác lập được một phong cách riêng có của mình. Phong cách đó vừa mang đặc điểm chung của một nửa thế giới, vừa thể hiện đặc điểm riêng về tâm hồn và bút pháp của cái “duy nhất” - mùi hương duy nhất khiến người đọc có thể nhận ra ngay tác giả. Đó là trường hợp của Elena Pucillo Truong trong tập truyện Vàng trên biển đá đen([1]). Thiên tính nữ chính là mùi hương lạ mà Elena mang đến cho văn đàn qua tác phẩm này.

Vàng trên biển đá đen gồm 14 truyện ngắn và 10 tạp bút. Từ hệ thống nhân vật, đề tài, cốt truyện, người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ cho đến giọng điệu tự sự của Vàng trên biển đá đen đều mang dấu ấn nữ lưu. Trong số 14 truyện ngắn, có đến 12 truyện viết về phụ nữ. Nhân vật nữ của Elena khá đa dạng về tuổi tác, giai tầng, nghề nghiệp, số phận: những cụ già bị con cháu hắt hủi; những người vợ bị góa chồng, bị phụ tình, bị coi thường; những người mẹ xem con cái là lẽ sống; những cô gái hoặc lẳng lơ gợi tình, hoặc đua chen đố kỵ, hoặc can đảm vượt lên nghịch cảnh; những bé gái bị tổn thương tinh thần từ cuộc hôn nhân nát vụn của cha mẹ hay bị kẻ ác cướp đi sinh mệnh măng non... Phần lớn các truyện có cốt truyện tâm lý, nhân vật suy tư, ngẫm ngợi, dằn vặt nhiều hơn là hành động. Chất nữ tính thể hiện rõ qua mỗi dòng tâm tưởng của họ. Và qua những dòng tâm tưởng đó, ta chạm được vào cõi sâu thẳm trong họ, dẫu đó là niềm hạnh phúc, kiêu hãnh hay nỗi buồn tủi, âu lo.

Người mẹ chồng trong Con chim nhỏ trong lồng cô đơn, đau khổ tột cùng vì bị ghẻ lạnh, “sống mà như đã chết... sống như một kẻ lạ mặt trong nhà của mình vì đứa con dâu mới thật là bà chủ, là người quyết định”. Người thiếu phụ xinh đẹp trong Búp bê bằng sáp có một cuộc sống đầy đủ về vật chất nhưng không vơi được nỗi nhục nhã của cảnh chim lồng cá chậu, dù là ở lồng son. Nàng biết, người chồng chỉ xem nàng như “một con búp bê để chưng bày cho người khác biết về sự giàu sang và vị trí xã hội của anh”. “Lạnh lùng. Tách biệt. Mang khuôn mặt vô cảm như sáp và không hề biểu lộ cảm xúc”; bổn phận của nàng là “ngoan ngoãn và câm lặng”, phục tùng và “không có sức mạnh để chống đối”. Nàng luôn luôn phập phồng e sợ, “luôn run rẩy mỗi khi chồng ngắm nhìn” vì sợ anh không vừa mắt với một chi tiết nào đó. Cảm nhận mình không hoàn hảo trong mắt chồng khiến nàng mang cảm giác có lỗi hoặc là không tương xứng với vị trí đang nắm giữ. Nàng có đủ tất cả, nhưng nàng không có sự an nhiên, không có một mảy may hạnh phúc. Người mẹ trẻ trong Đợi chờ đau đớn vì mất con. Mặc cảm tội lỗi chiếm ngự tâm trí chị. Chị tự trách mình mặc dù chị - người mẹ đơn thân đã cố làm tất cả để con mình được đủ đầy, không hề có lỗi trong việc con gái bị bắt cóc và giết chết. Nhìn cách chị lưu giữ kỷ niệm, lần tìm quá khứ, dằn vặt nhớ thương, người đọc như hiểu hơn nỗi khổ đau không gì bù đắp được của người mẹ chỉ coi con cái là lẽ sống của đời mình. Tay dắt con gái nhỏ, chân bước nhanh như chạy, bằng tất cả nỗi tức giận vì ghen tuông, người đàn bà trong Cuộc hẹn ở sân ga lao nhanh đến chỗ của tình địch để trút giận rửa hờn. Nhưng vẻ hùng hổ trong bà bị dập tắt khi tình địch nói về những hy sinh vô ích của bà cho một tình yêu không xứng đáng. “Bà cảm thấy xẩu hổ, thua cuộc” và trở về nhà với đôi mắt đẫm nước. Cô gái trẻ trong Giấc mơ thu ngọt ngào nuôi khát vọng yêu đương trong một cơ thể héo úa vì bệnh tật. Tình yêu mà cô mơ ước vẫn sẽ chỉ là ước mơ theo cô về thế giới bên kia... Mất mát, hụt hẫng khi cha mẹ đột ngột qua đời tưởng chừng dìm cô gái trong Trên đỉnh núi thiêng vào nỗi buồn chán không có hồi kết. Nhưng rồi sau một chuyến leo núi, lên đến non thiêng Yên Tử, cô chợt nhận ra ý nghĩa của sự sống, năng lực của bản thân để rồi nhìn về tương lai với màu hồng hứa hẹn. Cô giáo trẻ cõng chữ lên non cao trong Vàng trên biển đá đen thẫn thờ chết lặng trước lớp học vắng tanh vì học trò bỏ học đi kiếm sống, rồi vui mừng đến rơi nước mắt khi có một bé gái ngập ngừng đến xin học chữ...

Có thể thấy nhà văn Elena thường chú ý đến bất hạnh của người phụ nữ hơn là hạnh phúc. Trong 14 truyện, chỉ có Món quà đặc biệt viết về hạnh phúc từ đầu đến cuối truyện. Các tác phẩm còn lại là những mảnh ghép của nhiều thân phận nữ nhi bị đổ vỡ, mất mát, thiệt thòi. Qua họ, ta nhận ra dụng tâm của tác giả, nghĩa là Elena đã để lòng mình đa đoan với những vấn đề của phụ nữ: bi kịch hôn nhân; khát vọng - thất vọng về nghề nghiệp, tình yêu; sự bất công, nỗi bất an mà người phụ nữ phải gánh chịu... Và như thế, tác giả đã lật giở trước mắt người đọc bức tranh xã hội phức tạp liên quan đến hạnh phúc của người phụ nữ với nhiều vấn nạn cần giải quyết: bình đẳng giới, nữ quyền, an ninh xã hội, bình đẳng giáo dục...

Trần thuật từ điểm nhìn bên trong, tất cả các truyện ngắn đều được kể ở ngôi thứ nhất với những cái “tôi” nữ tính. Tâm lý nhân vật được miêu tả rất tinh tế, trực diện bằng những dòng độc thoại - kể - tả bóc trần nội tâm của mình trên trang viết. Chỉ qua hơn mười nhân vật, tác giả của Vàng trên biển đá đen đã cho người đọc hiểu rõ những bản chất, bản năng thuộc về thiên tính nữ. Đó là đức hy sinh, nhẫn nhịn, thủy chung (Thư viết cho mẹ, Phía sau sự thật, Con chim nhỏ trong lồng...); là tính đua đòi, đố kỵ, tự mãn (Dòng máu nhiễm độc, Cuộc săn mồi...). Tất cả những mặt đối lập đó như nói lên được sự phức tạp, bí ẩn và không kém phần lôi cuốn của phái đẹp. Bằng những quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sự đồng cảm sâu sắc, tác giả như hóa thân vào mỗi tính cách, mỗi thân phận, am hiểu và miêu tả tường tận tâm lý của nhân vật khiến chị rất thành công trong bút pháp loại hình hóa nhân vật. Cô gái trong Cuộc săn mồi có thể đại diện cho loại hình nhân vật kỹ nữ (thời hiện đại) với đầy đủ những toan tính, mánh khóe lọc lừa và kỹ nghệ “săn mồi”. Người phụ nữ trong Phía sau sự thật đại diện cho những nữ chủ quán giản dị, hiền hậu và tốt bụng mà ta có thể gặp ở một góc phố bất kỳ nào đó. Cô giáo trong Vàng trên biển đá đen đích thị là một nhà giáo với những nhiệt tình, tận tụy với nghề, yêu trường lớp, thương học trò... Loại hình hóa nhân vật đã khiến truyện của Elena gây ấn tượng khó phai đối với người đọc.

Kết cấu giản dị theo dòng tự sự của nhân vật và kết thúc bất ngờ là điểm làm nên phong cách truyện ngắn của Elena. Nhân vật của chị thường suy xét, suy nghĩ, nhớ nhung, buồn khổ, âu lo, dằn vặt... trong suốt tiến trình của truyện. Mọi chuyển động ở họ đều thuộc về cái “tĩnh” với chất nội tâm, dòng tâm tưởng chảy tràn từ dòng này sang dòng khác. Kết thúc truyện, cái “động” đột nhiên xuất hiện với hành động đầy bất ngờ đối với người đọc nhưng lại rất logic với tính cách của nhân vật. Người mẹ chồng trong Con chim trong lồng kể về nỗi buồn khổ của mình trong lúc sửa soạn hành lý để rời bỏ ngôi nhà từng có nhiều kỷ niệm vì không chịu nổi sự bất hiếu của con cái. Nhưng rốt cuộc, bà chỉ ôm mỗi bức ảnh của người chồng quá cố đi theo, bởi bà thực hiện một chuyến đi khác: “Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười, thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác”. Người thiếu phụ trong Búp bê bằng sáp cũng vậy. Bao năm qua được bảo bọc trong tiền bạc và vật chất nhưng thiếu thốn tình yêu và sự tôn trọng, nàng ý thức rằng mình là chỉ con búp bê được chưng diện cho đẹp mặt chủ nhân. Nàng đã ngoan ngoãn chấp nhận, phục tùng, an phận, xem mình như một diễn viên hoặc vũ nữ trên sân khấu cuộc đời. Nhưng chính nàng đã thực hiện màn diễn cuối cùng với máu: “Máu chảy sẽ làm trái tim tôi băng giá”. Phản kháng bằng cái chết, cách giải thoát chính mình của những nhân vật này là tiếng nói đòi quyền được yêu thương, được tôn trọng của nữ giới.

Bằng lối kết cấu vòng tròn và kết cấu mở, một số truyện của Vàng trên biển đá đen lại tạo bất ngờ với một vài chân lý, triết lý nhân sinh nho nhỏ. Chủ quán cà phê trong Phía sau sự thật sống cùng con trai và chiếc mề đai danh hiệu anh hùng của chồng mình. Anh chết vì bảo vệ một người phụ nữ trước tên cướp. Chiếc mề đay là niềm tự hào, là vật bất ly thân của chị. Nhưng rồi một ngày, chị đã trao nó cho một cụ già châu Á, vì cụ đã anh dũng hành động như chồng chị - cứu con trai chị khỏi tay kẻ cướp. Cô gái trong Cuộc săn mồi diễn tả tài nghệ, kỹ năng và các chiêu thức săn đàn ông của mình một cách hoàn hảo. Khi nhìn thấy người đàn ông ở bàn bên chăm chăm nhìn mình, cô thầm nghĩ: “cuộc săn mồi sắp sửa chấm dứt”. Đối với độc giả, chưa hẳn là “chấm dứt” mà có thể là “bắt đầu”, bởi trong cuộc săn này, giữa những người đàn ông và đàn bà tham gia, chưa biết ai là người đi săn và ai là con mồi. Cô gái trong Dòng máu nhiễm độc đắc thắng từ đầu đến cuối truyện bởi cô khôn ngoan hơn, hiểm độc hơn người khác, luôn khiến người khác phải quy thuận mình. Nhưng một cô gái khác xuất hiện, triệt hạ cô chỉ bằng một câu xúc xiểm thượng hạng. “Ngay lúc đó tôi hiểu là mình đang trở thành một vai phụ trong truyện dài nhiều tập mà cái sân khấu trước đây được tôi dàn dựng đã bị đánh cắp bởi một tân nữ hoàng. Và cô ta sẽ tiếp tục sống bằng dòng máu nhiễm độc của tôi”. Những cái kết như thế của Elena đều nhẹ nhưng sắc, đơn giản mà không đơn điệu bởi chúng chuyển tải thông điệp về sự luân chuyển của thời gian và sự sống trong mỗi hành vi xấu tốt của con người.

Tác giả nữ, người kể chuyện nữ, điểm nhìn nữ và nhân vật cũng là phụ nữ, sự thống nhất đó khiến truyện của Elena có ưu thế trong việc thể hiện thế giới tâm hồn của con người qua ngôn ngữ và giọng điệu đậm chất nữ tính. Văn của chị nhẹ nhàng, giàu xúc cảm, đầy xao xuyến và xúc động. Đặc biệt, trong truyện ngắn mang yếu tố tự truyện Thư viết cho mẹ, thiên tính nữ từ ba người đàn bà: mẹ đẻ, con gái, mẹ chồng lan tỏa khắp tác phẩm. Tác giả đối thoại với vong linh của mẹ mình, bắt nhịp cầu tình cảm cho bà đến với người bạn mới ở miền cực lạc trong ngày lễ Vu Lan. Từ bức thư đó, ta hiểu ra rằng dâng hiến, hy sinh, khổ đau, độ lượng, vị tha... là bản ngã truyền kiếp của người phụ nữ bất kể ở nơi đâu, vào thời đại nào. Trong rất nhiều câu văn mượt mà giàu sức lay động của Elena, tôi chợt bàng hoàng khi đọc những câu văn ngắn nhất, giản đơn nhất: “Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng (vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế giễu). Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi”. Vô thanh thắng hữu thanh, vô chiêu thắng hữu chiêu là đây! Những câu chữ giản dị ấy chỉ có thể thoát thai từ tấm lòng yêu thương vô hạn của tác giả đối với mẹ (tôi cũng tránh chữ mẹ chồng). Tình cảm ấy, văn chương ấy khiến bạn đọc nữ phải tự tra vấn; và có thể, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của chính mình.

Văn chương của Elena in đậm dấu ấn của người thích trải nghiệm văn hóa. Chị dành nhiều tình cảm cho đất và người Việt Nam, cái mà chị nhận lại cũng là tình đất và tình người. Chị nhìn Việt Nam bằng đôi mắt thích khám phá của một người ngoại quốc nhưng chị lại diễn tả về Việt Nam bằng điểm nhìn bên trong thật sự của trái tim Việt. Nếu so sánh với nữ văn sĩ lừng danh Marguerite Duras - tác giả của tiểu thuyết Người tình ((L'Amant), sẽ thấy sự khác biệt rất rõ. Marguerite Duras từng trải qua gần nửa cuộc đời ở Việt Nam, nhưng bà luôn nhìn về đất nước này, về thị xẽ Sa Đéc, về Chợ Lớn bằng cái nhìn ngoại quan, rất thiếu tình cảm. Elena thì ngược lại, đối với chị, “nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương”. Vì thế, phong cảnh, con người, văn hóa thực thể và phi thực thể của mảnh đất hình chữ S này đi vào trang văn của chị ngập tràn yêu thương. Giống như Pearl Buck viết về Trung Quốc, Elena viết về Việt Nam với tư cách, trí tuệ và tình cảm của người trong cuộc. Các tác phẩm của chị đều thấm đượm tình yêu của “gió Tây” đối với “gió Đông”. Và đặc biệt, có tác phẩm, người đọc không thể tìm ra một “epsilon” nào thuộc về chất “gió Tây”. Truyện ngắn Vàng trên biển đá đen là trường hợp tiêu biểu. Qua công việc dạy học vất vả và gian truân của một cô giáo, đất trời, con người của cao nguyên đá Hà Giang hiện lên nguyên hình nguyên khối, nguyên chất nguyên tình. Ở nơi đó, “triền núi thoai thoải có vô số những tảng đá nhọn màu đen nằm cạnh nhau, đỉnh hướng thẳng lên trời. Triền núi lồi lõm, uốn lượn và những tảng đá hình thù quái dị như những con sóng hình tai mèo đang phản chiếu ánh sáng mặt trời. Giống như một mặt biển màu đen xuất hiện thật bất ngờ, một biển đá đang chuyển động bỗng bị cầm tù dưới bùa phép của một phù thủy cao tay ấn, đứng im, để nguyên những con sóng đang chồm lên trời, với bọt biển, tung tóe giữa những vực sâu... tất cả đều bị giữ im, bất động đến muôn đời”. Ở nơi đó, có những những “cơn gió lạnh rít qua khe cửa”, có con người cõng đất lên đắp vào hốc đá để gieo trồng; có các bé trai mặt đỏ gay vì nắng gió và các bé gái đầu bù tóc rối cố gắng vuốt lại tóc với bàn tay được làm ẩm bằng nước bọt... Ở nơi đó, có “tiếng bản lề rít lên kẽo kẹt” khi cô giáo đẩy cánh cửa bước vào lớp học, ánh mắt buồn bã nhìn xuống “những dãy băng thấp đã từ lâu trống vắng”.... Những miêu tả trên là sự kết tinh của óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, nghiêm túc của một nhà văn; đồng thời ta có thể cảm nhận được tâm tình thiết tha, nỗi đồng cảm sâu sắc của Elena với vùng đất phên dậu của tổ quốc. Chưa hết, Vàng trên biển đá đen còn khéo léo giới thiệu với chúng ta về những sắc màu của cát trên dải biển miền Trung: cát trắng ở Phú Quốc, cát vàng ở Quy Nhơn, cát xám ở Vũng Tàu; những phức tạp trong việc phân công nhiệm sở của ngành Giáo dục; những khổ nhọc của các thầy cô giáo vùng rẻo cao khi cõng chữ lên non... Và tác phẩm còn làm ta rưng rưng bởi cái kết rất đẹp, đẹp cả về ý nghĩa lẫn ngôn từ. Khi cô giáo trẻ buồn bã đóng cửa lớp học, một bé gái ở làng bên e dè bước đến xin cô cho học chữ. Cô giáo xúc động dắt tay em vào lớp: “- Vào đi cháu. Cô đang đợi cháu đây! Ngồi xuống, bên cạnh cô nè! Cô sẽ dạy cháu những con số và bí ẩn của ngôn ngữ. Cô sẽ dạy cháu về mùi của biển hay sự lấp lánh của những vì sao, và sau đó, cô sẽ giúp cháu làm nảy những hạt mầm vàng trên một mặt biển đen”. Tôi đọc đi đọc lại truyện ngắn Vàng trên biển đá đen nhiều lần, bình luận, phân tích và tự hỏi điều gì khiến mình yêu thích câu chuyện này đến vậy. Cuối cùng, tôi thỏa mãn với câu trả lời: Đọc nó, mình được hiểu Việt Nam. Rất nhiều thành công, sự nghiệp, tâm huyết của người phụ nữ bắt đầu bằng tình yêu đối với một người đàn ông. Dĩ nhiên, Elena không phải là ngoại lệ. Và, chị đã thể hiện thiên tính nữ của một nhà văn như thế.

            Phần 2 của tập truyện Vàng trên biển đá đen là 10 tạp bút bao gồm những ký họa chân dung của nhiều người bạn văn nghệ và các du ký trong và ngoài nước của tác giả. Đinh Cường, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Minh Nữu, Paul Đức, Nguyên Minh... được Elena phác họa bằng cái nhìn của người khác giới. Chị nhìn họ với lòng yêu mến và sự ngưỡng mộ, phát hiện cái “chất” riêng của từng người qua một vài cử chỉ, hành động, lời nói. Nhờ vậy, qua văn của Elena, ta biết thêm về họ như chính nhan đề rất hay mà chị đặt cho các tản văn: Đinh Cường với “nụ cười phúc hậu giữa thu vàng”, Nguyên Minh - “tuổi trẻ hai lần thắm lại”, Phạm Cao Hoàng và Nguyễn Minh Nữu là những “người lưu giữ yêu thương”, Paul Đức lịch lãm và sang trọng mang đến cho bạn bè “một đêm huyền diệu”... Bằng sự nhạy cảm, mẫn cảm trời sinh chỉ riêng có ở phái nữ, Elena đã phác họa chân dung của bạn bè một cách thành công. Các “bức vẽ” của chị đều rất truyền thần khiến nhân vật trong ký của chị sống động, mới lạ đối với cả những người quen biết họ từ lâu.

Tác giả đã dành một khối tình rất lớn cho tập san văn học Quán Văn. Từng số báo, từng người bạn văn chương trong Quán Văn và của Quán Văn, các buổi dã ngoại, hội họp... đều là những sự kiện lớn, tình yêu lớn đối với chị. Tình yêu lứa đôi hòa quyện trong tình yêu cảnh sắc, tình yêu văn chương và tình yêu bè bạn, hạnh phúc ấy mấy ai có được. Bởi vậy, Elena viết rất hay, ngập tràn cảm xúc tươi vui trong các tản văn Bình minh vàng trên biển, Trị liệu nhóm.  

Trị liệu nhóm độc đáo từ cấu tứ, tư tưởng, tình cảm đến nghệ thuật ngôn từ. Tác giả dẫn dắt người đọc lang thang từ tô bún bò Huế đến biển Quy Nhơn, từ chứng stress đến cách trị liệu nhóm rất hiệu quả ở tận phương Tây xa lắc, từ những triết luận về cuộc đời đến những cuộc rong chơi nhàn nhã... và rồi đưa người đọc về đứng ở mảnh đất của Quán Văn. Chị viết: “luôn có người nào đó bên cạnh và niềm vui được ở bên nhau đã giúp chúng tôi sống thật bình an và sảng khoái, hơn hẳn các loại thuốc hay liệu pháp trị liệu nhóm nào hiện hữu trên thế giới”. Tản văn này thể hiện rõ sự chắc tay, khéo léo, duyên dáng trong tổ chức sách lược trần thuật và tình yêu vô bờ của Elena đối với Quán Văn.

Du ký là thể loại khá phù hợp với một nhà văn theo “chủ nghĩa xê dịch” như Elena. Du lịch khám phá, du lịch văn hóa là nội dung của nhiều du ký như Trà Sư - thánh địa của các loài chim, Hà Nội - nét đẹp bí ẩn. Sau mỗi bước chân và câu chữ là những cảm nghiệm về lẽ tử sinh, được mất; là tâm hồn trong trẻo, thiên chân; là cái duyên gieo chữ gieo tình của người viết; là chân lý “khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Vì thế, du ký của Elena vẫn khiến ta ngạc nhiên khi nhìn ngắm lại những  phong cảnh và con người vốn gần gũi, thiết thân.

Trữ tình, đằm thắm, nhân ái và tinh tế, Elena Pucillo Truong luôn có ý thức gắn văn hóa với văn học. Vàng trên biển đá đen của chị đưa ta về với Hà Nội rêu phong, xứ Huế cổ kính, Đà Lạt khói sương, Vũng Tàu sôi động...; vào những ngôi chùa nhỏ để thắp nhang khấn Phật hay cài hoa hồng lên ngực trong mỗi tiết Vu Lan; lên non thiêng Yên Tử để thanh tẩy tâm hồn; cheo leo cùng biển đá Hà Giang để trân quý từng tấc đất của tổ quốc; lãng du tận Washington, Virginia để... ấm lòng với hương vị ngọt ngào của một tô phở Việt bốc khói. Giữa Ý và Việt Nam, Elena ra đi hay trở về? Nhiều lần, nhiều người và cả tôi nữa luôn băn khoăn với câu hỏi đó. Nhưng bây giờ, sau khi đọc Vàng trên biển đá đen, bằng triết lý duyên nghiệp của Phật giáo mà Elena tôn thờ, bằng quan niệm dân gian về kiếp luân hồi, bằng tình yêu của chị với quê hương gừng cay muối mặn, tôi không còn nghĩ đến khái niệm đi hay về, chỉ tin rằng chị sinh ra ở nơi này, dòng máu Việt đang luân lưu trong người chị, nuôi dưỡng tâm hồn của người con gái Việt một trăm phần trăm.

Nhà phê bình Kim Thánh Thán từng nói: “Chỗ mà lòng đã đến rồi, bút bất tất phải đến”. Elena cũng có một câu tương tự như thế trong tản văn Bình minh vàng trên biển: “Sự yên lặng có thể có nhiều ý nghĩa và có khi đó cũng là những diễn ngôn sâu sắc. Nó giúp chúng ta hiểu nhau bằng ánh mắt và bằng cả trái tim”. Với tất cả lòng yêu mến và ngưỡng mộ, tôi muốn kết thúc bài viết của mình bằng sự yên lặng.

                                                                                                N.T.T.T

Huế 9.2017

 


[1] Sẽ xuất bản vào tháng 12/2017, Nxb. Tống hợp tp. HCM.

“Thời gian trốn ở đâu?”, câu hỏi hồn nhiên của một bé thơ đặt ra cho ông ngoại, đụng chạm đến nỗi ám ảnh “đi tìm thời gian đã mất” của cả một đời người.

       Câu trả lời đầy hình ảnh của ông ngoại (Thời gian sớm đó rồi khuya/ Từ tao nôi đến mộ bia đời người/ Thời gian: chiếc lá đấy thôi/ Từ xanh thắm đến vàng phơi lối về…) gợi ý cho cháu rút ra một “đáp án”: Thời gian trốn giữa bốn bề không gian.

       “Đáp án” nẩy sinh tự phát đó nói lên một định luật sâu xa: thời gian tựa hồ hòa nhập vào không gian và chảy theo chiều kích của không gian; ngược lại không gian cũng mang nhịp điệu và tiết tấu của thời gian. Đâu phải ngẫu nhiên mà M. Bakhtin, một học giả nổi tiếng người Nga, đã đề xuất thuật ngữ không-thời gian (khronotop) như một cách bện chặt không thể tách rời hai phạm trù này.

       Nhưng Thời gian trốn ở đâu? của Nguyễn Thái Dương không phải là tập thơ triết lý. Câu hỏi truy tìm thời gian ở đây được liên hệ trong một phối cảnh rất “đời thường”: nỗi buồn tuổi tác của ông ngoại được hóa giải trong một kết hợp hai chiều: dõi theo Kiwi và Bòn Bon từng ngày lớn lên, đầy tháng, thôi nôi, vào mẫu giáo rồi lên lớp Một; đồng thời, làm thơ cho hai cháu, ông như quay lại nhìn tuổi thơ của mình. “Những lần ít ỏi gần gụi nhau, nụ cười ấy, ánh mắt kia, cử chỉ nọ… của Kiwi và Bòn Bon cứ gieo mầm rồi đâm chồi nẩy lá trong nỗi nhớ thương của ông”: nhớ thương hai cháu, ông làm thơ; và làm thơ cũng là cách ông nhớ thương tuổi thơ của mình.

        Mới ngày nào, ông cũng hồn nhiên đặt những câu hỏi vì sao như hai cháu. Mới ngày nào ông cũng vừa nôn nao vừa sợ sệt nắm tay bà cố đến trường. Mới ngày nào ông hồi hộp chờ mong tiếng khóc chào đời của con. Mới ngày nào ông nghẹn lời vì hạnh phúc tiễn con gái về nhà chồng… Hành trình đã qua của ông cũng sẽ là hành trình tương lai của cháu. Tập thơ này lưu giữ cho hai cháu mà cũng là lưu giữ cho ông ngoại những niềm vui do tuổi thơ ban tặng.

        Nhà văn Tô Hoài có lần bảo rằng viết cho tuổi thơ phải cố gắng đạt ít nhất hai điều: nghịch và đẹp. Tập thơ này đáp ứng hai yêu cầu đó. Tuổi thơ mà không nghịch thì đâu là tuổi thơ. Viết cho tuổi thơ mà nghiêm nghị thì sẽ mất vui, như viết cho “ông cụ non”. Phải có cái nhìn tinh nghịch mới thấy niềm vui ngày “hoàng thượng đi khai trường”: Người đâu, chuẩn bị… cơm sườn/ Trẫm xơi rồi trẫm tới trường Mầm Non. Ông “học tập” cháu cái nhìn tinh nghịch đó khi cháu đọc truyện tranh, khi trái banh của Misa và Thỏ Trắng méo xệch, khi sách bút lêu lêu cô chủ còn mê nghỉ Tết…

        Và cái nghịch không tách rời cái đẹp. Vẻ đẹp của những giọt sương (Sương từng giọt một long lanh/ Giọt tranh cành lộc, giọt giành nhụy mai). Vẻ đẹp của tấm áo bà ngoại cắt may cho cháu (Nâng niu cất giữ từ hồi/Kìa vuông vải nhỏ thơm hơi tháng ngày). Vẻ đẹp của dáng đi và tiếng rao của một bà mẹ nghèo (Mẹ giọng khản vai trầy/ Từ tiếng rao, đôi gióng/ Dù hẻm gầy nắng bỏng/ Dù đường lầy buốt mưa).

        Cái đẹp, dưới mắt nhìn tuổi thơ, đôi khi vẫn buồn. Nỗi buồn nhẹ nhàng khi Kiwi chia tay thỏ trắng, gấu bông… một thuở Mầm Non để lên lớp Một, còn Bòn Bon thì ở lại. Nỗi buồn pha chút xót xa khi thấu hiểu người bạn cùng lứa tuổi trên sân ga: Con tàu chuẩn bị rời ga/ Vé số em cầm chân mỏi/ Lời rao khản giọng chờ mua/ Kiếm chút tiền cơm đắp đổi…

        Nguyễn Thái Dương cả đời viết văn, làm báo cho tuổi thơ, tuổi trẻ. Thơ anh luôn giữ được nét trong sáng, nhân hậu và ân tình. Đó là suối nguồn sẽ còn tiếp tục chảy trong thơ anh, tưới mát những dòng chữ và tưới mát tâm hồn người đọc.

 

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

*Bài tựa tập thơ Thời gian trốn ở đâu? của Nguyễn Thái Dương, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2015.

Page 1 of 5

Thông tin truy cập

39791281
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
965
5752
39791281

Thành viên trực tuyến

Đang có 245 khách và không thành viên đang online