27042017Thứ 5
Mới nhấtThứ 4, 26 04 2017 9pm

Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ XX

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 3.75 (4 Votes)

1. Sự manh nha ra đời của phê bình văn học nữ quyền: từ Phan Khôi đến Manh Manh nữ sĩ. Đầu thế kỷ XX là một giai đoạn sôi nổi của tư tưởng nữ quyền Việt Nam trong đó, Phan Khôi là nhà lý luận phê bình đã có công khai phá. Khác với Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Bạch Vân nặng tính chất phong trào, Phan Khôi đã tiến đến bước tiếp nhận văn học từ ánh sáng tư tưởng nữ quyền, nghĩa là ông đi vào những vấn đề thuần văn học, thuộc về văn học. Những khai mở của Phan Khôi có giá trị rất lớn đối với nền phê bình, nghiên cứu theo khuynh hướng này.


Từ Chí Ma – vị chủ tướng của phong trào thơ tân cách luật

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Nguyễn Văn Hoài (*)     

Giữa thập niên 20 của thế kỉ XX, trong quá trình hiện đại hóa văn học Trung Quốc, Từ Chí Ma (徐志摩) là vị chủ tướng của phong trào thơ tân cách luật do phái Tân nguyệt phát động. Ông không những đưa ra sáng tác luận đối với thể cách thơ mới Trung Quốc, mà còn đạt được những thành tựu thi ca nổi bật từ rất nhiều thực nghiệm thơ tân cách luật trong thực tiễn sáng tác của mình. Đối với thi nhân phái tân cách luật và thi đàn hiện đại Trung Quốc, ông đã có những ảnh hưởng hết sức to lớn. Hiện nay, trong các bộ văn học sử Trung Quốc hiện đại, ông luôn được xếp vào hàng tác gia tiêu biểu, là một nhà thơ lớn. Chúng tôi giới thiệu sự nghiệp thi ca của Từ Chí Ma như là một nhân tố trọng yếu góp phần hiện đại hóa thi ca Trung Quốc, đồng thời qua đó hi vọng cung cấp một vài thông tin tham chiếu đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. đương thời

Báo cáo đề dẫn - Hội thảo nghiên cứu Hán Nôm và vấn đề văn hóa dân tộc

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

        Lâu nay nghiên cứu Hán Nôm là việc làm hết sức có ý nghĩa đối với sự nghiệp tìm hiểu tri thức văn hóa của con người Việt Nam; là cầu nối của quá khứ với hiện tại và tương lai. Tìm hiểu nghiên cứu, khai thác thư tịch, di tích, văn hóa, lịch sử, con người xưa để xây dựng nền văn hóa mới, tạo cơ hội cho người Việt Nam hiện tại và mai sau tiếp cận, lĩnh hội và thưởng thức những giá trị văn hóa Việt Nam, ngõ hầu giữ vững bản sắc dân tộc và có thể hòa nhập với thế giới, vượt qua những thử thách lớn lao, phức tạp của thời đại.

『トー・タム』と『野菊の墓』におけるふたつの愛

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán:Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc

期日:2010年3月18日(木)〜19日(金)

場所:ホーチミン市人文・社会科学大学

Một số phương thức thư tịch cổ Việt Nam truyền vào Trung Quốc

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

              Điểm qua lịch sử thư tịch Hán Nôm Việt Nam cho thấy sách vở nước ta nhiều lần bị mất mát hủy diệt, cụ thể như từ năm 1258 đến năm 1288, quân Nguyên Mông Cổ nhiều lần tấn công An Nam, khiến sách vở nước ta không thoát khỏi nạn kiếp bị hủy hoại, bốn bộ Đại Tạng KinhĐạo Đức Kinh thỉnh từ Bắc Tống về đều bị lửa thiêu rụi. Đến năm 1371, Trần Nghệ Tông Thiệu Khánh năm thứ hai (1371), quân Chiêm Thành tấn công thành Thăng Long, bắt người cướp của, hủy hoại cung điện và sách vở. Năm 1516, Hồng Thuận thứ tám, Lê Tương Dực chơi bời trụy lạc, xa xỉ, bỏ bê chính sự, nhân dân đói khổ dẫn đến nổi loạn vào cấm thành lấy đi vàng bạc, gấm vóc, ném sách vở ra đầy đường. Trong khoảng thời gian quân Minh chiếm đóng Việt Nam từ 1414 – 1427 đã thực hiện nghiêm lệnh hủy hoại thư tịch và gom về Trung Quốc. Sau này, khi quân Pháp rút khỏi Hà Nội và trong thời gian Nhật chiếm đóng Việt Nam, không ít sách vở của ta cũng bị họ lấy đi. Đó là lý do khiến cho thư tịch cổ Việt Nam bị tàn khuyết. Tuy nhiên, ngoài lý do chiến tranh, loạn lạc, sách vở nước ta còn lưu truyền đến các nước lân cận, cụ thể là Trung Quốc thông qua con đường chính thống như sứ thần tiến cống, giao lưu văn hóa, mua bán trao đổi, tặng phẩm…

“大时代”里的“现代文学”[1]

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 5.00 (1 Vote)

 1927年冬天,鲁迅这样概括中国的状况:“中国现在是一个进向大时代的时代。但这所谓大,并不一定指可以由此得生,而也可以由此得死。”[2]借用他后来的话说,这“大时代”“也如医学上的所谓‘极期’一般,是生死的分歧,能一直得到死亡,也能由此至于恢复。”

Giáo sư Bửu Cầm-một tấm gương về phong cách nghiên cứu khoa học

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 

I. Gs. Bửu Cầm là một trong những nhà giáo, nhà nghiên cứu Hán Nôm có uy tín của giới nghiên cứu ở miền Nam những năm trước 1975. Ông sinh năm 1920 tại Huế. Là người trí thức có vốn Hán học, ông còn giỏi Pháp ngữ. Ông đã học và làm việc với cac nhà Hán học nổi tiếng đương thời. Ông đã từng là Trưởng ban Hán văn trường Quốc học Huế và trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, chuyên nghiên cứu lịch sử và ngữ văn cổ trung đại Việt Nam, văn hóa, triết học cổ Trung Hoa. Quá trình làm việc của ông là quá trình đóng góp nhiều công trình giá trị về lịch sử, văn học, ngữ âm, văn hóa... cho nước nhà. Các công trình nghiên cứu khoa học của ông còn để lại bao gồm cả sách, bài báo dịch thuật, biên khảo, sáng tác trên các tạp chí uy tín khoa học bấy giờ , cung cấp cho người đọc nhiều kiến thức có giá trị khoa học và thực tiễn. Bên cạnh những giá trị đó, chúng tôi, những kẻ hậu sinh còn thấy một giá trị lớn ở ông: một tấm gương về phong cách nghiên cứu khoa học. Trong cuộc hội thảo hôm nay, chúng tôi xin trân trọng trình bày những đóng góp vô giá này của ông.

 

Đọc văn học Nhật Bản ở Châu Á - hướng đến nghiên cứu quốc tế về văn học Nhật Bản ở khu vực văn hoá chữ Hán

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 5.00 (1 Vote)

Nakagawa Shigemi (*)

Ngày nay, trên thế giới có khoảng bao nhiêu người học tiếng Nhật, đọc văn học Nhật Bản bằng tiếng Nhật? Có bao nhiêu người sử dụng sách tiếng Nhật để nghiên cứu những vấn đề văn hoá liên quan đến Nhật Bản? Có lẽ chuyện những nhà nghiên cứu Nhật Bản có liên quan đến những cuốn sách về văn hoá, văn học Nhật Bản tỏ ra thờ ơ một cách bất ngờ với vấn đề này là do từ trong vô thức, họ tin rằng tiếng Nhật, người Nhật và văn hoá Nhật được gắn bó chặt chẽ với nhau.

Nho giáo Nhật Bản và Nho giáo Việt Nam

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Khoảng đầu Công nguyên cùng với sự xuất hiện của đế chế nhà Hán hùng mạnh, nền văn minh Hán bùng nổ ra xung quanh, thu hút các nền văn minh bên cạnh tạo thành một vùng văn hoá rộng lớn, sau này người ta gọi nó là “Khu vực Văn hoá chữ Hán” hay vùng văn hoá Đông Á. Việt Nam và Nhật Bản đều gia nhập Khu vực văn hoá chữ Hán vào thời gian này, vì thế cùng với bán đảo Triều Tiên, các nước trong khu vực đều có chung một mô hình văn hoá, tư tưởng: Nho, Phật, Đạo và tín ngưỡng thờ Thần bản địa. Riêng về Nho giáo, Nho giáo chi phối các nước trong khu vực từ khá sớm và càng về sau ngày càng mạnh, chiếm một phần quan trọng trong văn hoá – tư tưởng mỗi nước. Việc tìm hiểu Nho giáo của từng nước và so sánh Nho giáo giữa các nước để tìm ra những đặc điểm riêng có tính chất “tiếp biến” là một việc làm cần thiết nhằm tăng cường sự hiểu biết trong khu vực, đồng thời cũng hiểu rõ hơn bản thân dân tộc ta.

THE EAST-WEST RELATIONS AND PROCESS OF RECEIVING A NEW GENRE THROUGH “ADAPTED NOVELS” PHENOMENON IN VIETNAMESE LITERATURE EARLY TWENTIETH CENTURY (BY RESEARCHING INTO TWO NOVELS OF HO BIEU CHANH: CAY DANG MUI DOI AND NGON CO GIO DUA)

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 5.00 (1 Vote)

MA. Hoang Cam Giang

(Hanoi Social Sciences and Humanities University)

 

ABSTRACT

 

          In our co-report, we focussed on appearance  adapted novels  in  Vietnamese literature early twentieth century and from this phenomenon, so that made some initial comments on the East-Vietnam relations and the modernization process in Vietnamese novel. Moreover, we have comparison between the adaptation phenomenon in Vietnam and similar phenomenon in Japan (in the period of East-West literature exchanges).

Vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Nghiên cứu Hán Nôm có một vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, điều đó ai cũng thừa nhận. Nhưng đối tượng của nghiên cứu Hán Nôm là gì? Vai trò của việc nghiên cứu Hán Nôm quan trọng như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam? Nghiên cứu Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam có gì khác biệt với nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu báo chí và văn học quốc ngữ? Đó là những vấn đề tôi muốn đặt ra và, trong một chừng mực nhất định, cố gắng làm sáng tỏ vấn đề theo cách nhìn và sự hiểu biết của tôi. Những ý kiến của tôi là những gợi ý để mời gọi các nhà nghiên cứu tham dự cuộc hội thảo khoa học này phát biểu thêm nhằm đi tới cái nhìn chung, tiếng nói chung bao quát và đầy đủ hơn về vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Tiểu sử giáo sư Bửu Cầm trong “Who’s who in Viet Nam” Vietnam Press – Saigon, 1972

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)
Nguyễn Tri Tài dịch 

Tên họ: Bửu Cầm

Ngày và nơi sinh: 14-8-1920 Huế - Trung bộ Việt Nam

Cháu bốn đời của hoàng tử Tuy Lý Vương, một thi hào nổi tiếng thời vua Tự Đức(1847-83), con ông Ưng Oanh và bà Trịnh Thị Tố đều là thi sĩ.

Chứa vụ hiện tại:

Kỷ niệm về giáo sư Bửu Cầm

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Tôi không khỏi ngần ngại khi thuật lại những hồi ức, kỷ niệm về GS. Bửu Cầm, bởi lẽ những hồi ức, kỷ niệm ấy có liên quan mật thiết với tôi, nên không thể thuật lại mà không ít nhiều nói đến tôi, nhưng cái tôi thì lại rất đáng ghét. Hơn nữa, cũng có thể có người nghĩ rằng tôi muốn nhân viết về GS. Bửu Cầm mà gián tiếp nói về mình. Tuy nhiên, GS. Bửu Cầm là thầy của tôi từ năm l963, khi tôi học cử nhân giáo khoa Việt Hán [1], sau đó lại là giáo sư bảo trợ [2] tiểu luận cao học và luận án tiến sĩ của tôi; trong khoảng 1970-1975, khi GS. Bửu Cầm làm Trưởng ban Hán văn, thì tôi là Phụ tá Trưởng ban; từ ngày Thầy về hưu đến nay, tôi vẫn thường tới lui thăm viếng. Một phần của cuộc hội thảo khoa học này là để kỷ niệm 90 năm ngày sinh của GS. Bửu Cầm (đây là lần đầu có cuộc hội thảo khoa học về Thầy), tôi là người gần gũi Thầy trong một thời gian dài như thế, mà không ghi lại một vài hồi ức, kỷ niệm về Thầy, nghĩ cũng có lỗi không ít với thẩy của mình.

Người thầy của lớp “Bế môn đệ tử”

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 Thầy Bửu Cầm dạy lớp Hán Nôm chúng tôi vào năm 1981, lúc ấy chúng tôi đang học năm thứ ba chuyên ngành Hán Nôm, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh. Hồi ấy sinh viên ngữ văn mỗi khóa lấy rất ít, chỉ chừng trên dưới ba chục người, khóa nào đông thì lấy hai lớp như thế. Chuyên ngành Hán Nôm càng ít hơn nữa, lớp tôi chỉ có 7 người. Đến nay mỗi người mỗi ngả, dù chỉ còn mình tôi theo đuổi chữ Hán, nhưng ai cũng còn giữ lại được chút gì đó về Hán Nôm, có khi là tri thức, có khi chỉ là một chút cốt cách. Chị Thanh Giang, hoa khôi của lớp tôi (lớp có duy nhất một bông hồng!) hiện nay làm ở một công ty tàu biển. Anh Thanh Vân (thường bị các thầy nhìn vào danh sách lớp mà gọi là “chị Thanh Vân”), hiện làm ở Ngân hàng Công Thương VN. Anh Hữu Vinh, làm ở Đài Phát Thanh-Truyền hình Bến Tre. Anh Phó Quốc Vân, vượt biên sang Úc. Anh Nguyễn Mộng Long hiện làm đạo diễn ở Xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu. Anh Huỳnh Thanh Luân, hiện đang làm biên tập ở báo SGGP.

Phát biểu tổng kết hội thảo

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm(*)

Kính thưa GS. Yang Xiaoyun 杨小云, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm  Hồ Nam,

Kính thưa PGS. Võ Văn Sen, Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH & NV

Kính thưa qúy vị quan khách và các nhà khoa học,

Ngành Hán Nôm với sự phát triển của khoa học nhân văn

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

(Lược ghi bài phát biểu của PGS.TS. Võ Văn Sen, Hiệu trưởng nhà trường trong Hội nghị khoa học Nghiên cứu Hán Nôm và Văn hóa Việt Nam do Khoa Văn học và Ngôn ngữ tổ chức ngày 29/ 5/ 2009)

Báo cáo đề dẫn (国际研讨会主题报告)

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

PGS. Đoàn Lê Giang

Trưởng Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM

Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam và Trung Quốc: những quan hệ văn hóa văn học trong lịch sử” 越南與中國───歷史上的文化和文學關係đã nhận được một số lượng tham luận khá lớn: hơn 90 bài. Từ đó Ban biên tập đã chọn ra được 64 bài có thể coi như tham luận chính thức của Hội thảo. Trong Hội thảo này có một số tham luận sẽ được trình bày, một số sẽ phát biểu trực tiếp, Ban tổ chức mong muốn quý vị giáo sư, các nhà nghiên cứu sẽ phát biểu làm rõ một số vấn đề sau đây.

Ba bài tựa trong Thập anh thi tập

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

Thập Anh thi tập拾 英 詩 集 (hay Thập Anh đường thi tập 拾 英 堂 詩 集 ) của Ngô Nhân Tĩnh (1761-1813)[1], được Trịnh Hoài Đức (1764-1825) cho khắc in lần đầu tiên vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) chung với Cấn Trai thi tập 艮 齋 詩 集 của ông và Hoa nguyên thi thảo 華 原 詩 草 của Lê Quang Định (1760-1813) với tên gọi chung là Gia Định tam gia thi 嘉 定 三 家 詩 . Thế nhưng, với tình hình tư liệu hiện nay, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy bản in của Gia Định tam gia thi mà chỉ tìm thấy trang bìa Gia Định tam gia thi cùng với mục lục các thi tập của ba nhà trong Cấn Trai thi tập, được lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, với ký hiệu A.1392.

Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với sự hình thành và phát triển nền tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 TS. Võ Văn Nhơn

Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đại học Quốc gia TP. HCM

I. Đặt vấn đề

Do hoàn cảnh lịch sử, Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp và do đó cũng tiếp nhận văn minh, văn hóa phương Tây sớm hơn so với các vùng miền khác. Văn học ở Nam Kỳ vì thế cũng đi tiên phong trong việc hiện đại hóa, trong đó tiểu thuyết quốc ngữ là thể loại phát triển mạnh mẽ nhất.

Ngô Nhân Tĩnh - Số phận và thơ ca

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

1. Giới thiệu tiểu sử Ngô Nhân Tĩnh

Ngô Nhân Tĩnh, một trong ba nhà thơ lớn đất Gia Định, sinh năm nào và mất năm nào, cho đến nay, trong những công trình vẫn còn chưa thống nhất. Vì thế, việc xác định năm sinh năm mất của Ngô Nhân Tĩnh cũng là điều nên làm trước khi tìm hiểu thơ ca của ông.

Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến kịch bản cải lương Nam Bộ trước năm 1945

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 0.00 (0 Votes)

 ThS. Đào Lê Na

Khoa Văn học và Ngôn ngữ

ĐHKHXH&NV, ĐHQG TPHCM

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. 

Mặc dù mới ra đời vào năm 1918 nhưng đến năm 1945, cải lương đã có số lượng tác giả và tác phẩm rất lớn để phục vụ cho nhu cầu của đông đảo quần chúng cả miền Nam lẫn miền Bắc. Vì đây là loại hình nghệ thuật mới, có sự dung hòa giữa loại hình nghệ thuật phương Tây là kịch nói và kịch hát dân tộc nên đã đáp ứng được nhu cầu của đại bộ phận khán giả thời bấy giờ. Để có những vở cải lương biểu diễn kịp thời cho công chúng, bên cạnh việc tự sáng tác, các soạn giả đã chuyển thể những tiểu thuyết Việt Nam và Trung Quốc rất “ăn khách” thời bấy giờ.

Thành viên trực tuyến

Đang có 463 khách và không thành viên đang online

Thông tin truy cập

36027047
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
4042
10280
36027047

IP của bạn: 107.22.114.194
27-04-2017 12:07

Sách đang bán tại Khoa Văn học

Liên hệ: cô Thùy Nương, SĐT: 0908505486

Giá: 350.000 đ(1 bộ - 2 tập)

Giá: 270.000đ

Giá: 270.000đ

Giá: 240.000đ

Giá: 160.000đ

Giá: 180.000đ

Giá: 90.000đ

Giá: 98.000đ

Giá: 85.000đ

Giá: 190.000đ

Giá:140.000đ

Giá: 50.000đ

Giá: 130.000đ

Giá: 98.000đ

Giá: 120.000đ

Không còn hàng