HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ "KAWABATA YASUNARI: TỪ NHẬT BẢN ĐẾN VIỆT NAM"

Tư liệu giảng dạy Kawabata Yasunari

trong sách giáo khoa phổ thông Nhật Bản

Kawabata Yasunari as teaching resources in Japanese Highschool Textbooks

Nguyễn Vũ Quỳnh Như

TS., Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM

TÓM TẮT

Với tiếng tăm vang dội về giá trị văn chương, các nỗ lực tìm hiểu và truyền bá về nhà văn Kawabata Yasunari không ngừng diễn ra trên nhiều khía cạnh, đa dạng nhiều góc độ. Từ giải Nobel Văn chương đầu tiên của Nhật Bản được trao cho ông vào năm 1968, cho đến các tác phẩm của nhà văn liên tục được dịch thuật và xuất bản tạo điều kiện mở rộng tìm hiểu giá trị văn chương của nhà văn. Quan tâm sâu sắc đến giáo dục và nghiên cứu văn học Nhật Bản, bài viết mong muốn tìm hiểu tư liệu giảng dạy và truyền bá về Kawabata trong các sách giáo khoa phổ thông tại Nhật Bản. Không chỉ tìm đến các tài liệu nghiên cứu về giá trị văn chương của Kawabata, bài viết chú trọng khai thác các tài liệu, sách giáo khoa dành cho học sinh phổ thông được sử dụng tại Nhật Bản trong thời gian gần đây có nói đến cuộc đời, tác phẩm tiêu biểu và thành tựu văn học của Kawabata. Qua đó, mong muốn tìm hiểu trong thời lượng giảng dạy có hạn, thành tựu văn chương của nhà văn được đưa vào sách giáo khoa như thế nào nhằm thúc đẩy hơn nữa sự hiểu biết và quan tâm đến Kawabata đối với giới trẻ. Từ đó, mong mỏi đóng góp thêm nguồn tham khảo cho giảng dạy văn học Nhật Bản tại Việt Nam nói chung và về nhà văn Kawabata Yasunari nói riêng. 

Từ khóa: Kawabata, Xứ tuyết, Vũ nữ Izu, sách giáo khoa, giảng dạy

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ "KAWABATA YASUNARI: TỪ NHẬT BẢN ĐẾN VIỆT NAM"

Kawabata Yasunari nhìn từ Kenzaburo Oe

Tác giả: Phạm Xuân Nguyên

NNC, Viện Văn học – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

TÓM TẮT

Bài viết đặt cạnh nhau hai nhà văn Nhật Bản được giải Nobel văn chương cách nhau một phần tư thế kỷ để thấy sự khác biệt của mỗi người cũng như sự phát triển của văn học Nhật Bản.

Kawabata Yasunary (1899-1972) là nhà văn Nhật Bản đầu tiên được giải Nobel văn chương năm 1968. Bài diễn từ ông đọc bằng tiếng Nhật khi nhận giải mang tên “Nhật Bản, cái đẹp, và bản thân tôi”. Oe Kenzaburo (1935) là nhà văn Nhật Bản thứ hai được giải Nobel năm 1994. Bài diễn từ ông đọc bằng tiếng Anh khi nhận giải mang tên “Nhật Bản, sự nhập nhằng, và bản thân tôi”. Bằng cách lấy lại tên gọi bài diễn từ của Kawabata Yasunary nhưng thay một từ quan trọng, Oe Kenzaburo đã có ý đối thoại với người đồng hương nhận giải trước mình khi nói với thế giới về bản sắc của nước Nhật hiện đại.

Cả hai nhà văn đều dùng diễn từ Nobel của mình để nói về Nhật Bản và văn hoá của nước mình hơn là nói về tác phẩm của chính họ. Họ nói về sự lưỡng phân, tức sự xung đột về bản sắc trong văn hóa Nhật Bản kể từ khi hiện đại hóa. Xung đột giữa truyền thống văn hóa được trân trọng và những lý tưởng mới được đồng hóa của phương Tây. Kawabata Yasunary trong quá trình tái thiết nhanh chóng và hiện đại của những năm 1960, đã tự tách mình ra khỏi những thay đổi có nhịp độ nhanh chóng đang diễn ra trong xã hội Nhật Bản bằng cách tuân thủ một hệ tư tưởng theo định hướng truyền thống hơn. Còn Oe Kenzaburo với chủ nghĩa nhân văn mang tính toàn cầu trong tâm trí của mình thì cố gắng kết hợp bản sắc Nhật Bản vô định hình với bản sắc toàn cầu hơn, có liên quan đến tất cả mọi người

Từ khóa: Kawabata Yasunary, Oe Kenzaburo, giải Nobel, cái đẹp, mỹ học

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ "KAWABATA YASUNARI: TỪ NHẬT BẢN ĐẾN VIỆT NAM"

Ký hiệu nước trong sáng tác của Kawabata Yasunari (Khảo sát trường hợp ba tiểu thuyết: Xứ tuyết, Hồ Những người đẹp say ngủ)

Water as a sign in the writings of Kawabata Yasunari (in the cases of Snow Country, The Lake, and The Sleeping Beauties)

Tác giả: Trần Thị Như Quỳnh

ThS., Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Giang

TÓM TẮT

Văn chương Kawabata Yasunari luôn ẩn chứa những hình ảnh được mã hóa dưới dạng các biểu tượng và đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về biểu tượng trong văn chương Kawabata Yasunari. Đã có nhiều nghiên cứu, bài viết tập trung phân tích các biểu tượng trong các tác phẩm như biểu tượng tuyết trong Xứ tuyết, gương trong Cố đô, trà đạo (chén uống trà, gian trà thất, những buổi trà đạo…) và chiếc khăn furoshiki trong Ngàn cánh hạc... Trong bài tham luận này, người viết mong muốn đề xuất hướng nghiên cứu, góc nhìn mới, mang tính phổ quát hơn về biểu tượng nước trong tiểu thuyết của Kawabata Yasunari qua khảo sát ba tiểu thuyết: Xứ tuyết, Hồ Những người đẹp say ngủ.

Cấu trúc bài tham luận được chia thành bốn phần với các ý chính như sau:

Phần một, tham luận đề cập tới biểu tượng nước trong sáng tác của Kawabata Yasunari thuộc dạng cổ mẫu sáng thế, xuất hiện với nhiều dạng thức, biểu hiện xuyên suốt các tác phẩm của ông: tuyết (trong Xứ tuyết), hồ (trong Hồ), biển (trong Những người đẹp say ngủ)... Nhưng dù xuất hiện dưới dạng thức nào, biểu tượng nước trong văn chương Kawabata Yasunari cũng luôn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa.

Phần hai, người viết nói tới vấn đề nước biểu tượng cho cái đẹp, sự thuần khiết, đặc biệt của người phụ nữ. Đó là những người phụ nữ gắn liền với những vùng đất bao quanh bởi nước. Như hai cô gái Komako và Yoko nơi miền xứ tuyết hay những người đẹp say ngủ, hằng đêm nằm bên khách, trong tiếng sóng biển vỗ ì oạp. Nước như gột sạch tạp niệm và khiến cái đẹp của người phụ nữ trên trang văn Kawabata Yasunari trở nên đầy thanh khiết. Nhưng, nước yên bình mà cũng dữ dội, và đó cũng là hai mặt cá tính trong nội tâm người phụ nữ trên trang viết của Kawabata Yasunari.

Phần ba, bài tham luận hướng tới khía cạnh nước biểu tượng cho quá khứ, ẩn ức sâu kín, đau thương, vụn vỡ của con người. Là Gimpei với vùng hồ trong ký ức và là ông lão Eguchi, những đêm ngủ cạnh những người đẹp say ngủ đều nhớ về một phần ký ức xưa cũ trong tiếng sóng nước từ xa mỗi lúc dội lại gần hơn. Đau thương, mất mát, đam mê lụi tàn, sầu đau thân thể... chìm vào dòng nước ký ức kéo dài tới hiện tại.

Phần bốn, bài tham luận đề cập đến vấn đề nước trong tiểu thuyết của Kawabata Yasunari biểu tượng cho cái chết. Cái chết luôn hiện diện trong văn chương Kawabata và không ít lần, cái chết đó gắn liền với “nước”. Yoko chết vì lửa nhưng giữa ngọn lửa cháy, là dòng nước “hình cánh cung” phun vào “đám lửa cũ”, là “dải ngân hà” trong tâm trí Shimamura và cả nền tuyết vùng sơn cước xứ tuyết. Cái chết của cha Gimpei vẫn luôn ghim trong tiềm thức hắn, gắn liền với mặt hồ ký ức. Những người đẹp say ngủ, nếu có chết trong khi ngủ say, thân xác các cô được đưa tới những vùng hồ nước nóng xa ngái... Gắn liền với biểu tượng nước, cái chết trong văn chương Kawabata, vừa là sự “về cội”, vừa là sự “tái sinh, chuyển kiếp”, nhưng cũng vừa là sự “cực đoan” của những con người, mang nặng nỗi đau nhân thể và nỗi sầu nhân thế.

Từ khóa: Biểu tượng, nước, Xứ tuyết, Hồ, Những người đẹp say ngủ

 

TÓM TẮT

Nikolai Ivanovich Nikulin là nhà Việt Nam học nổi tiếng của Nga. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với Việt Nam, Nikulin đã để lại một di sản đồ sộ những nghiên cứu về văn hoá, lịch sử và văn học Việt Nam. Ông đặc biệt quan tâm đến các nhà thơ cổ điển Việt Nam, trong đó có Nguyễn Đình Chiểu. Các bài viết về Nguyễn Đình Chiểu của Nikulin chủ yếu công bố trong các thập niên 1970 – 1980. Những quan điểm của Nikulin đối với cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu có thể phần nào đem lại cho chúng ta những gợi ý về nghiên cứu lịch sử và lý thuyết văn học cổ điển Việt Nam.

Từ khoá: N.I. Nikulin, Việt Nam học, Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên

Russian Scholar of Vietnamese Studies N. I. Nikulin on Nguyen Dinh Chieu

 

ABSTRACT

Nikolai Ivanovich Nikulin is a famous Russian scholar of Vietnamese studies. With more than half a century of dedicating to Vietnam, Nikulin has left a huge legacy of research on Vietnamese culture, history and literature. He was especially interested in classical Vietnamese poets, including Nguyen Dinh Chieu. Nikulin's writings on Nguyen Dinh Chieu were mainly published in the 1970s and 1980s. His views on the life and works of Nguyen Dinh Chieu can give us some historical and theoriotical ideas in studying classical Vietnamese literature.

Keywords: N.I. Nikulin, Vietnamese studies, Nguyen Dinh Chieu, Luc Van Tien

 

*

Nikolai Ivanovich Nikulin (1931 – 2005) có lẽ là nhà Việt Nam học người Nga được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam. Xuất thân từ một gia đình công nhân ở Moskva, năm 1949, ông vào học ở Ban Trung Hoa của Học viện Đông phương học Moskva (MIV), nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ và văn hoá của người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương. Tuy nhiên, đến năm cuối bậc đại học ở đây, ông chuyển sang học tiếng Việt và dự các giờ giảng của giáo sư viện sĩ A. A. Guber (1902 – 1971), chuyên gia hàng đầu của Liên Xô về lịch sử Đông Nam Á tại Đại học Tổng hợp Moskva (MGU). Khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Liên bang Xô viết được thiết lập, biết được nhu cầu về người thông thạo tiếng Việt ở Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam, vào năm 1954, chàng trai trẻ mới ra trường Nikulin đã xin được phục vụ trong Bộ Ngoại giao Liên Xô và được cử sang Việt Nam với tư cách là thực tập sinh tu nghiệp, rồi trở thành phó lãnh sự. Kể từ đó, toàn bộ cuộc đời của ông gắn bó với việc nghiên cứu văn học, văn hoá và lịch sử Việt Nam. Từ Việt Nam trở về tổ quốc Xô viết, cùng với các đồng nghiệp Nga và Việt, ông tham gia biên soạn bộ Từ điển Việt - Nga đầu tiên được xuất bản ở Moskva vào năm 1961. Cũng trong năm này, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ với đề tài Sáng tác của Nguyễn Du (1765 – 1820) sau được xuất bản thành sách với nhan đề Nhà thơ vĩ đại Nguyễn Du (Moskva, 1965). Ông làm nghiên cứu viên tại Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau đó chuyển sang Viện Văn học thế giới mang tên A.M. Gorky, làm Trưởng Ban Văn học Á – Phi từ năm 1975 cho đến khi qua đời vào tháng 12 năm 2005.

Giáo sư N.I. Nikulin

Hơn nửa thế kỷ gắn bó với Việt Nam, Nikulin đã để lại một di sản đồ sộ hơn hai trăm nghiên cứu về văn hoá, lịch sử và văn học Việt Nam, trong đó có những công trình quan trọng như: Văn học Việt Nam sơ thảo (xuất bản năm 1971) là công trình đầu tiên ở Liên Xô nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam một cách hoàn chỉnh; luận án tiến sĩ khoa học được Nikulin bảo vệ năm 1974 với đề tài Những truyền thống nghệ thuật dân tộc và những mối quan hệ liên dân tộc trong sự phát triển văn học Việt Nam đã được hoàn thiện thành chuyên khảo Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Thế kỷ X – XIX (xuất bản năm 1977), trong đó trình bày những quy luật hình thành và phát triển của văn học kiểu trung đại của Việt Nam và sự chuyển biến của nó sang thời hiện đại, cũng như chỉ ra vai trò của những mối quan hệ văn học giữa Việt Nam với phương Đông và phương Tây ở những thời đại khác nhau. Nikulin cũng là một dịch giả, từng dịch thơ văn Hồ Chí Minh và nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ hiện đại Việt Nam như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Chế Lan Viên, Nguyễn Minh Châu, v.v... Ông còn là người hỗ trợ trong dịch thuật cho một số dịch giả Xô viết khi dịch văn học cổ điển Việt Nam sang tiếng Nga (như trường hợp dịch giả G.B. Yaroslavtsev khi dịch thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Nga đã sử dụng bản dịch sát nghĩa cũng như các chú giải kỹ lưỡng của Nikulin [7, tr.104]). Những năm cuối đời, ông làm chủ biên và đồng chủ biên những công trình quan trọng của Viện Văn học thế giới như Phật giáo và văn học (2003), Phương Đông trong văn học Nga thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX (2004).

Là một chuyên gia vừa được đào tạo bài bản về Hán văn, vừa hết sức thông thạo tiếng Việt, Nikulin rất quan tâm đến mảng văn học cổ điển Việt Nam. Trong số các tác gia cổ điển của Việt Nam, ngoài Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến,... thì Nguyễn Đình Chiểu cũng được nhà Việt Nam học người Nga này đặc biệt chú ý. Những bài viết về Nguyễn Đình Chiểu của Nikulin chủ yếu công bố trong các thập niên 1970 - 1980, bắt đầu từ công trình Văn học Việt Nam sơ thảo (Вьетнамская литература. Краткий очерк) do nhà xuất bản Nauka ấn hành năm 1971, đã được Lê Sơn dịch và đưa vào trong bộ tuyển tập về lịch sử văn học Việt Nam của N.I. Nikulin do nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu quốc học tổ chức bản thảo và ấn hành vào năm 2007 [6, tr.553-878]. Là một chuyên gia văn học của Viện văn học thế giới mang tên Gorky, Nikulin tham gia vào dự án đồ sộ Lịch sử văn học thế giới gồm 9 tập[1] do Viện được tổ chức biên soạn và xuất bản trong gần 3 thập niên dưới sự điều hành và tham gia của các học giả hàng đầu về lý luận và lịch sử văn học của Liên Xô cũng như của Nga về sau, như các viện sĩ A. S. Bushmin, B. Vipper, D.S. Likhachev, M.B. Khrapchenko,  E.M. Meletinsky, B.L. Riftin,... Ông phụ trách phần về văn học Việt Nam và chia sẻ những tư tưởng về loại hình lịch sử của trường phái văn học so sánh Xô viết được thể hiện trong bộ sách này, trong đó có vấn đề phân kỳ lịch sử văn học. Đặt văn học Việt Nam trong tư thế tương đồng về mặt loại hình lịch sử với các nền văn học khác trên thế giới, cả phương Tây lẫn phương Đông, ông xem giai đoạn thế kỷ XVIII và XIX của văn học Việt Nam thuộc thời kỳ cận đại, và xem Nguyễn Đình Chiểu như đại diện cho nửa sau thế kỷ XIX – một thời kỳ thể hiện “sự đa dạng những khuynh hướng tư tưởng mà những thời kỳ trước chưa hề biết tới, phản ánh những đặc điểm làm nó gần gũi với văn học hiện đại” [6, tr.680]. Trong bối cảnh vừa đấu tranh chống lại cuộc xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, vừa tiếp nhận chọn lọc những giá trị văn hoá, tinh thần Khai sáng đến từ châu Âu, Nguyễn Đình Chiểu cũng như những sĩ phu ở Nam Bộ cùng thời đã thể hiện tinh thần ái quốc, tinh thần nhân dân trong cuộc đấu tranh chống xâm lược. Khi nhắc đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nikulin cho rằng “Nguyễn Đình Chiểu đã kêu gọi đồng bào đứng lên đánh giặc”, “thể hiện niềm tin của nhân dân vào tương lai tươi sáng”, đồng thời xem nhà thơ Việt Nam là tác gia đầu tiên của văn học Việt Nam “xây dựng hình tượng mang tính tổng hợp về người dân binh khởi nghĩa [...] vừa rời tay cày để cầm vũ khí” [6, tr.683]. Ông xem sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, giống như thơ văn của giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, “về cơ bản vẫn phát triển trong khuôn khổ những hình thức truyền thống”, nhưng đồng thời cũng cho thấy những biến chuyển, đổi mới nội dung bên trong hình thức cũ đó, như “xu hướng dân chủ hoá văn học, ngôn ngữ văn học đã gần gũi hơn với ngôn ngữ hội thoại” [6, tr.682], hay phản ánh cuộc đụng độ giữa những tư tưởng, tín ngưỡng truyền thống với Cơ đốc giáo của châu Âu. Nikulin cho rằng nếu như trong Dương Từ - Hà Mậu, các cuộc tranh luận giữa một Phật tử với một tín đồ Cơ đốc giáo đã đi tới kết luận là Nho giáo là học thuyết chân chính nhất, nhưng “Nho giáo của Việt Nam thời bấy giờ đã không còn là bất di bất dịch” [5, tr.287], thì trong Ngư tiều y thuật vấn đáp, Nguyễn Đình Chiểu “lại đứng trên lập trường của đạo Nho mà phê phán những trật tự của nước Việt Nam phong kiến và nói lên niềm mơ ước của ông về một thế giới công bằng xã hội dựa trên cơ sở gia trưởng không tưởng” [6, tr.685].

Văn học Việt Nam sơ thảo – Nikulin Nikolay Ivanovich.

Đánh giá cao vai trò của Nguyễn Đình Chiểu đối với sự hình thành nền văn học yêu nước, đấu tranh giải phóng của Việt Nam, Nikulin gọi Nguyễn Đình Chiểu là “nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam” [любимый поэт вьетнамского Юга] như tên một bài báo ông viết nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của nhà thơ, đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài [Иностранная литература] số tháng 7 năm 1972 [4, tr.272-275]. Bản dịch tiếng Việt bài viết này, cũng của dịch giả Lê Sơn, đã được đưa vào trong cuốn Nguyễn Đình Chiểu - Tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật [8, tr.390-396].

Ở đoạn đầu bài viết, sau khi dẫn câu nói nổi tiếng của Phạm Văn Đồng về Nguyễn Đình Chiểu như “ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ Việt Nam”, với một thái độ đầy ngưỡng mộ, Nikulin miêu tả về cụ Đồ Chiểu – một “ông già mù và điếc”, nhưng “có cái dáng oai nghiêm của vị gia trưởng” đã khiến viên quan đại diện cho chính quyền thực dân Pháp ở Bến Tre là Michel Ponchon[2] phải e ngại và đích thân tìm đến tận nhà để dụ dỗ cụ theo Pháp mà không thành. “Uy tín lớn lao về đạo đức của Đồ Chiểu (mà ông đúng là một nhà giáo có nhiều học trò), thái độ bất hợp tác của ông đối với bọn thực dân, đã khiến cho nhà thơ trở thành một sức mạnh lớn lao, mặc dầu ông không có binh tướng trong tay. Về thực chất, Nguyễn Đình Chiểu là linh hồn của phong trào giải phóng, là người cổ vũ phong trào đó. Và văn thơ của ông đã tìm được con đường đi thẳng vào trái tim của nhân dân.” [8, tr.391]

Nguyễn Đình Chiểu – Tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật (Viện Văn học phát hành).

Là chuyên gia về văn học, dĩ nhiên Nikulin quan tâm hơn cả đến những giá trị văn học nghệ thuật trong di sản của Nguyễn Đình Chiểu, mà trước hết là truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên, “tác phẩm lớn đầu tiên của Việt Nam được dịch ở châu Âu” từ năm 1864 [8, tr.391]. Theo Nikulin, đây là một nghịch lý của lịch sử, rằng việc lựa chọn một tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam để dịch sang tiếng Pháp (cũng như được in đi in lại với các bản dịch hay phiên âm khác nhau), phục vụ cho ý đồ tô điểm chính sách khai hoá của thực dân, lại rơi đúng vào tác phẩm của nhà thơ tiên phong trong phong trào chống thực dân, trong khi những tác phẩm khác có nội dung ái quốc của nhà thơ lại bị chính quyền thực dân truy quét, cấm đoán. Điều này đã phương hại đến việc bảo tồn di sản văn học của Nguyễn Đình Chiểu [8, tr.392].

Trong bài viết “Nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam”, cũng như trong các công trình khác bàn về lịch sử văn học Việt Nam như Văn học Việt Nam sơ thảo, Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại (thế kỷ X – XIX), hay ở phần viết về Nguyễn Đình Chiểu trong bộ Lịch sử văn học thế giới  tập 7 [9, tr.651-652], khi đặt Nguyễn Đình Chiểu cũng như thể loại truyện thơ Nôm ở nửa sau thế kỷ XIX vào giai đoạn chuyển giao từ cổ điển sang hiện đại, Nikulin xem Lục Vân Tiên là tác phẩm vừa kế thừa truyền thống truyện thơ cổ điển, vừa thể hiện sự phá vỡ chuẩn mực bằng việc đưa vào những yếu tố tự truyện. Nhân vật Lục Vân Tiên mang nhiều yếu tố tiểu sử của nhà thơ (chẳng hạn như chàng bị mù khi chịu tang mẹ, bị gia đình người vị hôn thê khước từ), và hơn thế nữa, “hình tượng Lục Vân Tiên còn là nơi tập trung những nguyện vọng chủ quan của nhà thơ”, “thể hiện những quan điểm và chính kiến của tác giả mà Đồ Chiểu suốt đời đã trung thành” [8, tr.393]. “Việc đưa những sự kiện có thật trong cuộc đời nhà thơ vào thiên trường ca nói lên rằng nhà thơ đã coi những sự kiện đó là đáng kể, đáng chú ý tới” [6, tr.677]. Tuy nhiên, Lục Vân Tiên không phải “cái tôi thứ hai” của tác giả, mà là hình tượng nghệ thuật do trí tưởng tượng của nhà thơ dựng lên. “Đó là một vị văn nhân uyên bác, một nhà thơ, đổng thời là một trang tráng sĩ đã cứu nàng Kiều Nguyệt Nga xinh đẹp khỏi tay bọn lục lâm” [8, tr.393]. Nikulin đặc biệt chú ý đến ý nghĩa của tình tiết Lục Vân Tiên đột ngột bị mù. Nó tác động cả đối với bản thân chàng lẫn những người xung quanh. Đó là biểu hiện thi pháp truyện dân gian, và cả thi pháp những truyện thơ Nôm cổ điển như Truyện Kiều, thực hiện chức năng thử thách đạo đức của các nhân vật. Việc Lục Vân Tiên sáng mắt cũng vậy, “có thể hiểu điều đó theo nghĩa bóng vì bây giờ chàng đã hiểu thấu những cái mà trước kia được giấu kín trong lòng người”[8, tr.394]. Cái kết có hậu (Lục Vân Tiên lập công đánh tan giặc ngoại xâm, kết hôn với Kiều Nguyện Nga) là theo mô hình truyền thống – là một trong những điều khiến cho người dịch đầu tiên Lục Vân Tiên sang tiếng Pháp là Gabriel Aubaret[3] nhầm lẫn đó là một truyện dân gian.

Các dịch giả và học giả người Pháp ở nửa sau thế kỷ XIX, dù có công đầu trong việc dịch thuật sang ngôn ngữ châu Âu, cũng như xuất bản Lục Vân Tiên bằng chữ Quốc ngữ, nhưng đều có những nhận định và đánh giá chưa đúng về Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm của nhà thơ. Aubaret, trong bài tựa bản dịch tác phẩm sang tiếng Pháp năm 1864 xem việc nó được phổ biến rộng rãi trong giới bình dân ít học ở Nam Kỳ và được viết bằng “tiếng địa phương”, “tiếng nói dân gian”, “khẩu ngữ” là dấu hiệu của một tác phẩm dân gian, một “huyền thoại” (légende) [1, tr. 1-2], còn Gustave Janneau trong lời tựa bản phiên âm Lục Vân Tiên ra chữ Quốc ngữ đầu tiên năm 1867 thậm chí còn phủ nhận vai trò tác giả của Nguyễn Đình Chiểu, cũng như phủ nhận cả nền văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc của Việt Nam có từ trước đó [2, tr.7].

Nếu so sánh những nhận định của Nikulin với các ý kiến của người Pháp kể trên có thể thấy rõ sự khác biệt. Nơi nhà Việt Nam học người Nga không phải là cái nhìn thực dân phiến diện, mà là một quan điểm học thuật dựa trên cơ sở nghiên cứu những tư liệu đầy đủ hơn về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, cũng như về toàn bộ tiến trình lịch sử của văn học Việt Nam, trong đó có thể loại truyện thơ Nôm và mối quan hệ của nó với văn học hiện đại (ví dụ ông có bài viết “Truyện thơ Việt Nam thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX và tiểu thuyết hiện đại” in trong tập sách Nguồn gốc tiểu thuyết trong các nền văn học Á – Phi: Những ngọn nguồn dân tộc của thể loại do Viện Văn học thế giới mang tên Gorky và nhà xuất bản Nauka ấn hành năm 1980). Trong cái nhìn tổng quan về tiến trình lịch sử văn học Việt Nam như thế, Nikulin xem việc sử dụng ngôn ngữ bình dân, thông tục gần gũi với phương ngữ Nam Bộ, hay việc đưa bức tranh sinh hoạt thường nhật với những yếu tố trào phúng, châm biếm (như chi tiết thầy pháp chữa bệnh cho Lục Vân Tiên) vào tác phẩm là dấu hiệu tiệm cận quá trình hiện đại hoá. Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, theo Nikulin, là “sự kết thúc chặng đường lịch sử của trường ca tự sự” [6, tr.677].

*

Có thể nói, những trang viết về Nguyễn Đình Chiểu không nhiều trong tương quan so sánh với những công trình về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh và các tác gia hiện đại Việt Nam, hay những nghiên cứu về văn hoá dân gian và văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (Mường, Bana, Êđê...) của nhà Việt Nam học này. Tuy nhiên, với những gì mà chúng tôi có được trong tư liệu về Nguyễn Đình Chiểu của Nikulin, có thể thấy sự quan tâm sâu sắc và niềm yêu mến, cảm phục mà ông đã dành cho nhà thơ của Việt Nam như một con người tài năng và bản lĩnh, một nhân cách lớn. Những quan điểm của Nikulin đối với cuộc đời và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu có thể phần nào đem lại cho chúng ta những gợi ý có tính chất phương pháp luận trong nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam. Ngoài ra, là một dịch giả văn học Việt Nam, tuy không công bố riêng biệt ấn phẩm dịch Nguyễn Đình Chiểu sang tiếng Nga, nhưng trong các bài viết của mình, Nikulin đã trích dịch nhiều câu thơ từ các tác phẩm, truyền đến cho người đọc Nga vẻ đẹp của thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ông đặc biệt yêu thích hai câu nổi tiếng trong Dương Từ - Hà Mậu:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

bởi sự độc đáo của nghệ thuật thơ ca cả trên phương diện hình thức lẫn nội dung, và luôn dẫn chúng như những tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Aubaret G. (traducteur) (1864), Luc-Van-Tiên, poème populaire annamite, Imprimerie Impériale, Paris.
  2. Janneau G. (transcripteur) (1873), Lục Vân Tiên, poème populaire annamite, Challamel Aîné, Libraire-Editeur, Paris.
  3. Nikulin N. I. (1971), Văn học Việt Nam sơ thảo [Вьетнамская литература. Краткий очерк], Nxb. Nauka, Moskva.
  4. Nikulin N.I. (1972), “Nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam” [“Любимый поэт вьетнамского Юга”], Tạp chí Văn học nước ngoài, Moskva, tr.272-275.
  5. Nikulin N.I. (1977), Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Thế kỷ X – XIX [Вьетнамская литература. От средних веков к новому времени. X-XIX вв], Nxb. Nauka, Moskva.
  6. Nikulin N. I. (2007), Lịch sử văn học Việt Nam (Nhiều người dịch), Nxb. Văn học và Trung tâm Nghiên cứu quốc học, TP. Hồ Chí Minh.
  7. Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1968), Hồ Xuân Hương. Thơ (Хо-Суан-Хыонг. Стихи) (G.B. Yaroslavtsev dịch, N.I. Nikulin giới thiệu và chú giải), Nxb. Nauka, Moskva.
  8. Viện Văn học (1973), Nguyễn Đình Chiểu - Tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  9. Viện Văn học thế giới mang tên M.A. Gorky (1991), Lịch sử văn học thế giới gồm 9 tập [История всемирной литературы: В 9 томах], tập 7, Nxb. Nauka, Moskva.

 


[1] Quá trình hình thành bộ sách này bắt đầu từ giữa thập niên 1960, dự kiến ban đầu là 10 tập, sau đổi thành 9 tập, nhưng chỉ có 8 tập được xuất bản (1983 – 1994), do sự tan rã của Liên Xô và những thay đổi về chính trị, tư tưởng thời kỳ Hậu Xô viết. Tuy nhiên, nhan đề trên bìa lót của các tập sách vẫn ghi 9 tập, cũng như bản mẫu (maquette) của tập 9 còn được lưu trong các thư viện ở Nga.

[2] Ở đây, Nikulin nhắc đến sự kiện Michel Ponchon đến thăm Nguyễn Đình Chiểu tại nhà riêng của cụ, điều được chính vị quan chức Pháp này viết và đăng trên tờ L’Indépendant de Saïgon ngày 17/11/1883.

[3] Gabriel Aubaret (1825 – 1894) là một trong những nhân vật nổi tiếng của thực dân Pháp ở Việt Nam giai đoạn những năm 60 thế kỷ XIX. Vốn là một sĩ quan trong hải quân hoàng gia Pháp, Aubaret thông thạo nhiều thứ tiếng, biết chữ Hán và chữ Nôm, từng làm phiên dịch cho phái đoàn của Phan Thanh Giản trong các cuộc đàm phán với chính quyền Napoléon III để chuộc lại những vùng đất bị mất sau hoà ước 1862, và dự thảo cho hoà ước mới từ các cuộc đàm phán này (nhưng không được ký kết) được người Pháp gọi theo tên ông là Dự thảo hoà ước Aubaret. Aubaret sau đó được bổ nhiệm làm lãnh sự Pháp tại Bangkok (Thái Lan). Ngoài Lục Vân Tiên, Aubaret còn dịch Gia Định thông chí [Histoire et description de la basse Cochinchine (Pays de Gia-dinh), 1863], Hoàng Việt luật lệ [Code annamite. Lois et règlements du royaume d'Annam, 1865], biên soạn các sách như Từ vựng Pháp – Annam và Annam – Pháp [Vocabulaire Français-Annamite et Annamite-Français, 1861], Ngữ pháp tiếng Annam [Grammaire de la langue Annamite, 1864], ...

Trên trang Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp có bản dịch Lục Vân Tiên, do nhà xuất bản Hoàng gia ở Paris in năm 1864, trên trang bìa có ghi thông tin về dịch giả Gabriel Aubaret khi đó đang làm lãnh sự Pháp tại Bangkok (Consul de France à Bangkok), cũng như xác định thể loại của tác phẩm là “truyện thơ dân gian An-nam” (poème populaire annamite). Xem: https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5844254h.texteImage

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

http://tuanbaovannghetphcm.vn/nha-viet-nam-hoc-nguoi-nga-n-i-nikulin-viet-ve-nha-tho-nguyen-dinh-chieu-tap-chi-32-33/

Tóm tắt

Nhân năm 2022 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu, bài viết này giới thiệu quá trình tiếp nhận tác phẩm của ông ở  Nam Bộ, ở toàn quốc Việt Nam và ở nước ngoài. Việc tiếp nhận ở đây chủ yếu tìm hiểu ảnh hưởng trong ca dao dân ca, cải biên trong các loại hình nghệ thuật khác và dịch thuật tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu ra tiếng nước ngoài. Nghiên cứu quá trình tiếp nhận ấy có thể thấy được đóng góp của ông đối với kho tàng văn hoá dân tộc và nhân loại.

Từ khóa: Nguyễn Đình Chiểu, Danh nhân văn hóa, Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc.

 

Nguyen Dinh Chieu - From Southern Vietnam to National and Global Recognition

Abstract

The year 2022 marked the 200th anniversary of Nguyen Dinh Chieu's birthday, which was celebrated by United Nations Educational, Scientific, and Cultural Organization (UNESCO). On this special occasion, this article dives into how his works were received in Southern Vietnam, nationwide, and internationally. The reception explored in this article mainly includes the influence of his work on folk songs, adaptations in other art forms, and translation of his works into foreign languages. By studying how his works have been received, one can gain insights of his cultural influence on both a national and international scale.

Keywords: Nguyen Dinh Chieu, cultural influencers, Nguyen Dinh Chieu poetry and literature, Luc Van Tien, Eulogy for the righteous people of Can Giuoc.

 

Khi sáng tác nên hơn 2000 câu lục bát truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu không nghĩ tác phẩm của mình được yêu thích mạnh mẽ, được truyền tụng rộng rãi và lâu dài như thế. Dù đề một cách trang trọng ở đầu: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”, nhưng truyện Lục Vân Tiên không hẳn là một câu chuyện về trung hiếu tiết nghĩa mà là câu chuyện về tình nghĩa sống ở đời, hay đúng hơn trong Lục Vân Tiên, đạo nghĩa và tình nghĩa thống nhất với nhau. Thế giới  tình cảm trong Lục Vân Tiên tràn đầy tình nghĩa, và điều ấy làm cho tác phẩm có tính dân tộc và nhân dân sâu sắc.

1. Hình tượng bất hủ về người dân Nam Bộ trong tác phẩm Đồ Chiểu

Lục Vân Tiên là nhân vật lý tưởng của nhân dân ta thời xưa. Chàng là hiện thân của người con trai trung hiếu. Chàng giỏi võ, có tính nghĩa hiệp, và hơn cả, chàng giỏi văn chương chữ nghĩa, thơ cũng hay, mà học cũng giỏi. Lục Vân Tiên phải trải qua nhiều gian truân, cay đắng: mẹ mất, bị mù mắt, bị từ hôn, bị đẩy xuống biển, bị đẩy vào hang sâu... Với nghị lực phi thường, với nhiều may mắn, lại được những người tốt và Trời Phật giúp đỡ, chàng đã gặp được người yêu và thực hiện được ước mơ của đời mình là làm người có ích cho nước cho dân. …Lục Vân Tiên trở thành biểu tượng cho tinh thần nghĩa hiệp, “trọng nghĩa khinh tài” của người dân Nam Bộ.

Kiều Nguyệt Nga từ chịu ơn Vân Tiên cứu mạng, cho đến chỗ cảm vì nết nghĩa hiệp, trọng vì tài và yêu vì tình một chàng trai trung thực, chân thành. Tình yêu và tình nghĩa khiến cho Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó với Vân Tiên, vượt qua mọi nghịch cảnh để giữ trọn vẹn một tình yêu trong trắng với người yêu- người chồng chưa cưới của mình. Kiều Nguyệt Nga là hiện thân của một tình yêu chung thủy, sắt son của người phụ nữ Nam Bộ.     

Năm 1859 thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Tiếng đại bác vọng vào tai và nhói vào tim người nghệ sĩ mù bên sông Bến Nghé. Ông nghe rất rõ, nghe bằng đôi tai rất thính của người mù và ông cũng nhìn thấy rất rõ, không phải nhìn bằng đôi mắt mù, mà bằng khối óc của người trí thức và bằng trái tim của người nghệ sĩ :

                        Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

                        Một bàn cờ thế phút sa tay.

                        Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

                        Mất ổ bầy chim dáo dác bay. [6, tr.231]

Ông hiểu rằng một thời kỳ đau khổ và tủi nhục đối với nhân dân Nam Bộ và cả nước đã bắt đầu. Bài thơ trở thành tác phẩm mở đầu cho dòng văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX, và tác giả của nó trở thành ngọn cờ đầu của dòng văn học này.

Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ là một hiện thực rất mới mẻ. Đó là cuộc chiến tranh nhân dân: cuộc chiến tranh của những người nông dân tự mình đứng lên chống giặc, dưới sự chỉ huy của những lãnh tụ nghĩa binh từ nhân dân mà ra.

Thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình rối mù trong những cuộc bàn cãi chiến, thủ, hòa - vừa chống giặc lại vừa sợ giặc. Người nông dân chẳng có gì phải suy nghĩ đắn đo nhiều, đạo lý ông bà truyền lại mách bảo họ một sự lựa chọn giản đơn: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Thế là họ cầm vũ khí đứng lên, họ làm ra lịch sử theo ý muốn của mình: lịch sử của những người nông dân chống Pháp. Thời đại đã đưa người nông dân lên sân khấu chính trị trở thành nhân vật chính, người nghệ sĩ chỉ có nhiệm vụ nhìn nhận ra hiện thực mới này và phản ánh nó. Trong khi đại đa số các nhà thơ khác vẫn còn say sưa với loại nghệ thuật cao quý trong tháp ngà với những người quân tử kiểu cũ, thì người nghệ sĩ mù Nguyễn Đình Chiểu là người đầu tiên đã sáng suốt phát hiện ra hiện thực mới này và đưa nó vào thơ văn.

Nếu như trong cuộc cách mạng Pháp, hoạ sĩ Delacroix đã tạo ra hình tượng tuyệt đẹp về con người đấu tranh cho tự do trong bức họa nổi tiếng Thần Tự Do trên chiến lũy, tượng trưng cho tinh thần của cuộc cách mạng ấy, thì nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng tạo ra hình tượng bất hủ về người nông dân đứng lên chống thực dân Pháp vì nền độc lập trong bài văn bi hùng Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Chưa bao giờ trong văn học nước nhà, người nông dân lại được thể hiện với sức mạnh và vẻ đẹp như thế. Họ không còn là một đám đông đói rách “yết can trảm mộc” (giơ sào làm cờ, chặt cây làm giáo) trong cái cuộc nổi dậy vì áo cơm của bản thân mình nữa, mà lần này họ xuất hiện với vẻ đẹp tinh thần của những con người vì nghĩa lớn: vì nền độc lập của dân tộc. Chấp nhận đối đầu với vũ khí tối tân, đó là sự lựa chọn tự giác của những người nông dân, một sự lựa chọn quả cảm. Chính tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh phi thường của họ. Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên bức tranh công đồn sinh động và hào hùng :

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to xô của xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã tà, Ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ. [6, tr.252]

Trong bức tranh ấy, tung hoành giữa chiến trường chỉ có người nông dân mộ nghĩa. Hình ảnh của họ in lồng lồng trên nền trời Tổ Quốc. Hình tượng người “dân ấp dân lân” bỏ mình vì nước cũng trở thành hình tượng bất hủ trong văn học Việt Nam.

Cùng với Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc thì Văn tế Trương Định Văn tế sĩ dân Lục tỉnh trận vong có thể gọi là “Tam đại danh tác văn tế” (Tế văn tam đại tác) của Nguyễn Đình Chiểu. “Tam đại tác” này đã đưa ông trở thành tác gia viết văn tế hay nhất mọi thời đại trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của ba truyện thơ (Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều vấn đáo y thuật) và nhiều thơ văn đạo lý và yêu nước chống Pháp. Trong đó tác phẩm có sức sống lâu bền nhất, sức lan tỏa rộng lớn nhất, được yêu mến nhiều nhất là Lục Vân Tiên Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc.

2. Tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu ở Nam Bộ

Ở Nam Bộ tác phẩm Lục Vân Tiên được nhân dân yêu thích và truyền tụng rộng rãi. Người ta say mê kể cho nhau nghe truyện thơ Lục Vân Tiên, từ đó sinh ra thể loại “xướng truyện” gọi là “Nói thơ Vân Tiên”.  

* Nói thơ Vân Tiên: Ở Nam Bộ việc kể chuyện thơ Nôm khá phổ biến, chủ yếu là kể, đọc to theo giọng nói cho nhiều người nghe, sinh hoạt văn nghệ ấy gọi là “Nói thơ”. Từ khi có truyện Lục Vân Tiên thì Nói thơ chủ yếu là Nói thơ Vân Tiên. Về nguồn gốc, Nói thơ xuất phát từ hát sắc bùa, hô bài chòi từ miền Trung vào. Có những nghệ sĩ lang thang chuyên làm nghề Nói thơ Vân Tiên - tương tự như Thoại sư của Trung Quốc kể thoại bản Tam Quốc, Tì bà pháp sư Nhật Bản kể chuyện quân ký Heike, hay các nghệ nhân pansori (xướng truyện) Hàn Quốc kể chuyện Xuân Hương. Họ đến đầu chợ, bến đò, hè phố Nói thơ Vân Tiên, đôi khi kết hợp với đàn bầu, hay điệu bộ. Bajot, đốc học trường Trung học Chasseloup-Laubat (Sài Gòn) lúc bấy giờ, dịch giả Lục Vân Tiên có kể lại rằng: “Trên khắp các ngả đường, người dân An Nam ngồi xổm quanh một người nghèo khó ăn mặc rách rưới, thường là một người mù, ông ta ngâm kể truyện thơ Lục Vân Tiên hàng giờ mà không làm họ thấy chán, gõ ngắt nhịp các câu thơ bằng hai cái sênh, tạo ra âm thanh từ chuỗi tiền đồng được xâu vào những chiếc đũa: khi đó, người ta mới hiểu truyện thơ này có ảnh hưởng đến người dân An Nam thế nào.” [1, tr.XIII]. Nói thơ Vân Tiên là thể loại văn học diễn xướng làm mê mẩn tâm hồn bao người, từ khi nó ra đời cho đến ngày nay. Không chỉ nghệ nhân nói thơ Vân Tiên, mà người dân thường cũng ngẫu hứng nói thơ vào buổi tối, bên ngọn đèn dầu, có khi vừa nói thơ từng đoạn lúc đang làm việc: đan lưới, đánh cá, lái đò... G.Aubaret (Ô-ba-rê) khi giới thiệu Lục Vân Tiên cho công chúng Pháp, ông viết: “Truyện thơ Lục Vân Tiên phổ biến trong dân gian đến mức là ở Nam kỳ không có một người đánh cá hay một người lái đò nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo thuyền.” [5, tr.320].

* Thơ hậu Vân Tiên:  Biết nhiều người mê truyện Lục Vân Tiên, một số nhà văn đã viết tiếp truyện Lục Vân Tiên, gọi là “Thơ hậu Vân Tiên”. Loại “hậu” thế này ta thường thấy ở những danh tác Trung Hoa như: Hậu Tam Quốc, Hậu Thủy hử, Hậu Hồng lâu mộng. Truyện Kiều cũng có “hậu” là Đào hoa mộng ký tục Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Đăng Tuyển. Hiện nay còn 3 tác phẩm Hậu Vân Tiên, đó là:

  1. Hậu Vân Tiên diễn ca của Trần Phong Sắc, Nhà in J.Nguyễn Văn Viết, in lần thứ nhất 1925
  2. Hậu Vân Tiên của Nguyễn Bá Thời, Nhà in Xưa Nay (Nguyễn Háo Vĩnh), in lần thứ nhất, 1932
  3. Hậu Vân Tiên của Cử Hoành Sơn, Nhà in Xưa Nay (Nguyễn Háo Vĩnh), in lần thứ nhất, 1933.

Đơn cử Hậu Vân Tiên của Trần Phong Sắc. Trần Phong Sắc nói Lục Vân Tiên có 6 hồi, ông viết tiếp 6 hồi nữa:

Tây Minh truyện cũ trước bày

Sáu hồi đã diễn xưa nay lưu truyền

Cuốn này là Hậu Vân Tiên

Tiếp theo sáu thứ cho tuyền thỉ chung[1].

6 hồi ấy viết về con cái của “thế hệ Lục Vân Tiên”, đó là: Lục Tường Quang, sau làm vua là Sở Trung Tông (con của Vân Tiên tức vua Sở Cao Tông), Tử Trung (trai), Trinh Khiết (gái) (con Tử Trực), Hớn Dõng (trai), Huệ Tâm (gái) (con Hớn Minh)… đấu tranh với phe gian tà là: Tạ Tượng, Tạ Hầu (con viên Thái sư  Tạ Mãng), Phong Lôi, Phong Điển (con Phong Lai), Cốt Tiết (con Cốt Đột)…Bùi Kiệm vẫn còn sống, nhờ có bằng Cử nhân và có tiếng là bạn Tử Trực nên được mời làm quân sư cho Phong Lôi, Phong Điển. Hai tên tướng cướp này lại cưới hai con gái của Thái sư để có thêm vây cánh. Cuộc đấu tranh giữa hai phe chính tà rất gay go, cuối cùng vua Sở diệt được phe tà do viên Thái sư Tạ Mãng đứng đầu, và hòa hiếu với Tây Phiên. 

     

* Bài ca, vọng cổ Lục Vân Tiên: 

Lục Vân Tiên được viết lại thành các bài ca vọng cổ. Hiện nay còn 4 tập tư liệu cổ về loại này:

- Bài ca Lục Vân Tiên (mới đặt), sáu thứ, Đặng Thanh Kim, Nhà in-xuất bản Huỳnh Kim Danh, in lần thứ nhứt, Sài Gòn, 1913;

- Bài ca Lục Vân Tiên (theo điệu cải lương), tác giả: Lâm Hoài Nghĩa, Nhà in Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1924. Lâm Hoài Nghĩa dựa theo truyện Lục Vân Tiên mà đặt các bài ca “theo điệu cải lương” như: Vân Tiên nhớ nhà (điệu Vọng cổ hoài lang),  Vân Tiên tạ thầy (Hành vân), Vân Tiên hỏi người cõng con (Khổng Minh tọa lầu), Vân Tiên hỏi Kim Liên (Lưu thủy tẩu mã), Nguyệt Nga cùng Vân Tiên nói chuyện (Tứ đại)…

- Vọng cổ Bạc Liêu: Vân Tiên gặp Nguyệt Nga, tác giả: Nguyễn Thành Long, Cần Thơ, Phạm Đình Khương xuất bản, in lần thứ nhất, 1933.

- Vọng cổ Bạc Liêu: Nguyệt Nga-Bùi Kiệm vấn đáp, tác giả: Nguyễn Thành Long, Cần Thơ, Phạm Văn Cường (Chợ Lớn) xuất bản, in lần thứ nhất, 1933.

     

 

* Tuồng Lục Vân Tiên: 

            Lục Vân Tiên được chuyển thể thành tuồng, cải lương không ít. Hiện nay còn bản cổ là Tuồng Lục Vân Tiên, Huỳnh Văn Ngà tự Long Ẩn, Sài Gòn, F.H.Schneider Imprimeur-Editeur, 1915. Cuốn thứ nhứt: Từ đầu đến đoạn Trịnh Hâm xô Vân Tiên xuống biển. Tuồng cổ, nhưng lời mới, ít dùng từ Hán Việt.

3. Từ Nam bộ ra Trung bộ và Bắc bộ

            Lục Vân Tiên không chỉ được yêu thích ở trong Nam, nó được truyền ra miền Trung, ra đến Kinh đô Huế, được yêu thích ở đấy. Ra đến Bắc cũng được yêu chuộng không kém.

* Vân Tiên-Nguyệt Nga trong ca dao dân ca miền Trung

Trong ca dao dân ca có gần 100 câu có nhắc đến các nhân vật trong Lục Vân Tiên. Không chỉ ca dao dân ca Nam Bộ, mà cả Nam Trung Bộ và Thừa Thiên-Huế cũng có. Đây là câu ca ở Nam Trung Bộ:

Anh đừng than ngắn thở dài

Nào ai đã nỡ bỏ ai nên phiền

Nói ra về lúc Vân Tiên

Chàng mà xa thiếp, thiếp chịu phiền sáu năm.[8, tr.30]

Đây là câu hò mái nhì trong dân ca Bình Trị Thiên:

Bớ em ơi, em đừng suy nghĩ thiệt hơn

Hãy ở như Nguyệt Nga ngày trước, lòng dạ keo sơn chẳng dời. [8, tr.31]

Trong ca dao dân ca miền Trung, các nhân vật được nhắc đến là: Bùi Kiệm “máu dê”, Thể Loan bội nghĩa, Trịnh Hâm vô nghì, Tử Trực hiền lương…. Nhưng nhiều nhất là Vân Tiên và Nguyệt Nga. Vân Tiên là hiện thân của tình thần nghĩa hiệp, của những đương đầu với gian nguy trong đời và của tình yêu chân thành, sâu sắc:

Kể từ ngày thiếp cách xa chàng

Như Vân Tiên lâm bệnh, Nguyệt Nga đi cống Hồ

Thiếp xa chàng ruột héo gan khô

Hang Thương Tòng chàng dựa, chốn biển hồ thiếp thương. [8, tr.40]

            (Ca dao Quảng Ngãi, Bình Định)

Còn Nguyệt Nga là hiện thân của tình yêu chung thủy, sắt son:

Lòng lại dặn lòng dù non mòn biển cạn

Dạ lại dặn dạ đá nát vàng nhòa

Em đây quyết noi gương chị Nguyệt Nga

Mặc ai phỉnh dỗ em chẳng sa lời nguyền.

                     (Ca dao miền Nam Trung Bộ) [8, tr.41]

* Người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong thơ Hoàng tộc 

Không chỉ có chàng Vân Tiên nghĩa hiệp, nàng Nguyệt Nga thủy chung, mà người nghĩa dân Cần Giuộc cũng được biết đến ở Kinh đô Phú Xuân. Ngày 14/12 nghĩa quân Cần Giuộc do Bùi Quang Diệu chỉ huy tập kích đồn Pháp ở chợ Trường Bình. Nghĩa quân đốt nhà dạy đạo, đâm bị thương Đồn trưởng Dumont, chém chết một số lính mã tà, ma ní, chiếm được đồn địch. Quân Pháp phải dùng đại bác từ tàu chiến đậu trên sông Cần Giuộc để chiếm lại đồn. Nghĩa binh hy sinh trên dưới 20 người([2]). Sau trận này, Đỗ Quang sai Bùi Quang Diệu làm lễ tế, Bùi nhờ Đồ Chiểu lúc ấy đang chạy giặc về quê vợ, ở nhờ gần chùa Tôn Thạnh (ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc, huyện Phước Lộc tỉnh Gia Định), làm bài văn tế. Do đó có bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Bài văn tế giản dị mà hùng hồn, tráng lệ, Đồ Chiểu gửi vào đó bao đau đớn, uất ức, xót xa của cuộc đời mình, của nhân dân mình, đất nước mình. Báo Courrier de Sài Gòn (Thư tín Sài Gòn) 1866 cho biết: bài văn tế được Bộ Lễ cho sao chép và truyền đi khắp nơi để làm phấn phát tinh thần trung nghĩa: “Bài này chẳng những chỉ được chạy cùng miền Cần Giuộc mà còn bay khắp cả các tỉnh trong nước do bộ Lễ ở Huế truyền đi.” [dẫn theo 4, tr.76].

Câu chuyện về những người dân ấp dân lân hy sinh vì nghĩa lớn ở Cần Giuộc qua bài văn tế lâm ly bi tráng của Đồ Chiểu bay ra đến Huế, làm xúc động sâu xa những ông hoàng bà chúa của nền văn chương cung đình. Mai Am, công chúa con vua Minh Mạng, nữ thi sĩ có tiếng của đất Thần kinh đã viết bài Độc “Điếu nghĩa dân tử trận văn” thật hay:         

Điếu văn tam phục trúng đê hồi,

Nghị phách từ phong tẫn khả ai.

Xích tử cần vương năng địch khái,

Thư sinh dụng võ tích phi tài.

Yên mê chiến luỹ Tây nhung mãn,

Nguyệt lãnh sa trường bạch cốt đôi.

Quốc ngữ nhất thiên truyền bất hủ,

Tuyệt thăng Quảng Hán yểm khô hài.

(Bồi hồi đọc mãi bản văn ai,

Phách cứng văn hùng cảm động thay.

Dân chúng cần vương vì ghét địch,

Nhà nho lâm trận tiếc không tài. 

Giặc đầy chiến lũy tầng mây phủ,

Xương chất sa trường bóng nguyệt soi.

Quốc ngữ một thiên truyền mãi mãi,

Còn hơn xây cất mộ khô hài.

Lê Thước dịch) [2, tr.194]

Nhưng hay nhất là bài Độc Nguyễn Đình Chiểu điếu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn (Đọc bài văn Nôm của Nguyễn Đình Chiểu điếu nghĩa dân tử trận) của Tùng Thiện vương Miên Thẩm, con trai thứ mười vua Minh Mạng. Miên Thẩm là ông hoàng hay thơ, thơ ông cùng thơ người em là Tuy Lý Vương từng được truyền tụng hay hơn cả thơ đời Đường: “Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”. Ông là chủ soái của tao đàn Mặc Vân thi xã - nơi đi về của những tên tuổi lẫy lừng nhất trong làng thơ triều Nguyễn đương thời. Một ông hoàng như thế phải cúi đầu bái phục bài văn tế Nôm của ông thầy đồ mù bên dòng Bến Nghé mà ông chưa hề biết mặt. Đọc bài văn tế những nghĩa dân ngã xuống ở chiến trường, ông như nghe thấy tiếng gió ù ù từ biên cương thổi tới. Ông cho rằng giá trị lịch sử của bài Văn tế sánh ngang với sách Quốc ngữ của Tả Khâu Minh; giọng bi tráng của bài Văn tế không kém khúc Quỷ hùng của Khuất Nguyên. Một sự đánh giá như vậy quả là ít có. Ông cũng cảm nhận cái mới, cái hay nhất của bài Văn tế chính là đã viết về những người anh hùng tầm vông áo vải.

            Xin đọc cả bài của Vương và bản dịch đạt nhã của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh:

                        Độc Nguyễn Đình Chiểu điếu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn

Chiến trường hưụ bả điếu văn khai,

Lạp đạp biên thanh nhất nhất lai.

Quốc ngữ danh tề Manh Tả sử,

Quỷ hùng ca đáo Khuất Bình ai.

Yết can trảm mộc kham thiên cổ,

Oán hạc tề viên tính kỷ hồi.

Chí cánh thư sinh không bút trận,

Báo quân chỉ thử diệc bi tai.

Dịch:

                        Điếu văn đọc lại áng biên cương,

Ngỡ gió vi vu tiếng chiến trường.

Quốc ngữ văn ngang lời tín sử,

Quỷ hùng phách sánh điệu từ chương.

Tầm vông áo vải danh còn mãi,

Binh bại thân vong chuyện đã thường.

Canh cánh nghĩ thương lòng kẻ sĩ,

Chỉ còn ngọn bút báo ơn suông. [7, tr.245]

* Lục Vân Tiên trong tranh Trung - Bắc

            Truyện Lục Vân Tiên ra Bắc, được đón nhận nồng nhiệt ở Hà Nội. Các làng tranh dân gian cũng khắc bộ tranh Lục Vân Tiên để bán cho những người hâm mộ. Hiện nay còn sót lại hai bức tranh khắc gỗ dân gian về Lục Vân Tiên lưu truyền ở miền Bắc theo phong cách tranh Đông Hồ, đó là: (1) “Đại Đề đàn đệ sư tái hợp” vẽ cảnh Vân Tiên - Tiểu đồng gặp lại nhau, (2) “Sơn lâm tự phu phụ đoàn viên” vẽ cảnh Vân Tiên - Nguyệt Nga tái ngộ. Hai bức tranh này in trong tập Tranh dân gian Việt Nam- sưu tầm và nghiên cứu, của Maurice Durand [3, tr.397].

   
Tranh dân gian Lục Vân Tiên  

Ở Huế thì có bản truyện tranh màu Vân Tiên cổ tích truyện màu với 1200 bức tranh do Lê Đức Trạch, một họa sĩ cung đình thực hiện trong khoảng thời gian 1895 -1897 với tài trợ của Đại úy pháo binh Pháp Eugène Gibert. Sách tam ngữ với 4 thứ chữ: bản Nôm là bản Lăng Vân Đường ở Huế, bản quốc ngữ sử dụng bản Lục Vân Tiên truyện của Trương Vĩnh Ký (có giới thiệu thêm bản phiên âm Lăng Vân Đường), bản tiếng Pháp do Abel des Michels dịch năm 1883, bản tiếng Anh do Éric Rosencrantz dịch 2016. Bản truyện tranh Lục Vân Tiên nằm im lìm 112 năm ở Thư viện Viện Pháp (Institute de France) ở Paris, được GS.Phan Huy Lê phát hiện. Năm 2016 với sự dày công nghiên cứu của tập thể các nhà nghiên cứu, Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris (École française d'Extrême-Orient Paris), NXB. Văn hoá Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh đã cho ra mắt công trình này.

Truyện tranh Vân Tiên cổ tích truyện ở Huế

Tuồng Lục Vân Tiên ở Hà Nội

            Lục Vân Tiên cũng được vẽ thành tranh bộ treo tường, tranh kiếng (kính) Gò Công.

* Tuồng Lục Vân Tiên ở Bắc bộ: Truyện Lục Vân Tiên ra Bắc được dựng thành tuồng. Hiện còn lưu một bản tuồng xuất bản ở Hà Nội năm 1922. Chúng tôi chép lại nguyên văn cả lỗi chính tả để thấy tính nguyên sơ, xưa cũ của văn bản: Lục Vân Tiên tuồng, soạn dả V.C, Sửa lại và giữ bản quyền Phú Văn Librairie, Hà Nội, Rue du Chanvre 16, 1922, 60 trang (chuyển thể toàn bộ truyện Lục Vân Tiên). Đoạn mở đầu:

Non sông mở mặt, hoa cỏ đậm mầu, đứng nam-nhi trung hiếu làm đầu, đạo phụ-nữ phải dữ câu trinh thục, Đông-Thành-quận có Vân-Tiên họ Lục, nền trâm anh túc phúc lâu dài, nhà thung huyên hai khóm tốt tươi, chàng đôi tám thực người chí-sĩ, du viễn phương rạo tìm sơn thủy, theo Tiên-ông dốc chí học hành, lúc chàng về Kinh-thành ứng cử, bỗng dữa dường gập gỡ Nguyệt-Nga (…)  

Vân-Tiên nói: Rừng nho rong ruổi, cửa Thánh dựa kề, tôi Lục-vân-Tiên quê ngụ Đông-Thành, theo Sư-trưởng sôi kinh nấu sử, nghe nhà vua có khai khoa thủ sĩ, vào trình thầy để về ứng thí.

* Sách báo, Hội thảo kỷ niệm và các loại hình nghệ thuật hiện đại sau 1954

            Lục Vân Tiên là tác phẩm được xuất bản nhiều vào loại kỷ lục trong văn học Việt Nam. Nếu như trước 1945, với các nhà xuất bản Claude & Cie, Imprimeurs-Editeur, Saigonnaise, Union, Nguyễn Văn Viết, Xưa nay, Bảo tồn, Tín Đức thơ xã, Phạm Văn Thình…(ở Sài Gòn), Văn Minh (Hải Phòng), Kim Khuê ấn quán (Hà Nội), Lục Vân Tiên được xuất bản, tái bản đến hơn 40 lần. Sau 1945 ở cả hai miền Bắc-Nam, Lục Vân Tiên được xuất bản hơn 50 lần nữa. Với số lượng hàng trăm lần in như thế, mức độ phổ biến của Lục Vân Tiên có lẽ chỉ thua Truyện Kiều.

Trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà 1954-1975, tinh thần anh dũng, nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên, tấm lòng thủy chung son sắt của Kiều Nguyệt Nga, tinh thần yêu nước của những người nghĩa dân và lãnh tụ kháng chiến luôn có ý nghĩa thôi thúc rất lớn.

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được đưa khá nhiều vào nhà trường, Lục Vân Tiên và tuyển tập thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu cũng được xuất bản, tái bản nhiều lần với hàng trăm ngàn bản. Năm 1963 Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết bài luận nổi tiếng: Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất cụ Đồ với những lời đánh giá rất trang trọng. Năm 1965 Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam Việt Nam là giải thưởng danh giá nhất toàn quốc và có tiếng vang quốc tế đương thời. Những tác phẩm tiếng tăm vang dội một thời đã được nhận giải thưởng ấy: Sống như Anh của Trần Đình Vân, Hòn đất của Anh Đức, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh…. Năm 1972 Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị tổ chức kỷ niệm 150 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu. Năm 1982 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam ra quyết định ủy nhiệm cho Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị khoa học về “nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc” Nguyễn Đình Chiểu nhân dịp 160 năm ngày sinh của ông. Trước đó hai  năm Nguyễn Đình Chiểu toàn tập do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên soạn (NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980) cũng ra đời. 

            Lục Vân Tiên được chuyển thể thành nhiều loại hình nghệ thuật hiện đại khác nhau:

Năm 1957 Nguyễn Ngọc Cung soạn vở cải lương Kiều Nguyệt Nga (NXB.Phổ thông, Hà Nội).  Một năm sau, năm 1958 cũng có vở Kiều Nguyệt Nga do Ngọc Dư soạn (NXB.Kim Đức, Hà Nội).

            Năm 1957, Xưởng phim truyện Việt Nam đã dựng phim màu Lục Vân Tiên. Năm 1981 Xí nghiệp phim Tổng hợp TP.HCM sản xuất phim ca kich cải lương Lục Vân Tiên, kịch bản do tập thể soạn giả Nhà hát Trần Hữu Trang dựa theo kịch bản của Ngọc Cung, đạo diễn sân khấu: Lưu Chi Lăng, bộ phim được đón nhận nồng nhiệt. Năm 1990, Xí nghiệp phim TP.HCM hợp tác sản xuất bộ phim truyện nhựa màu Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên, phim do Khương Mễ đạo diễn. Năm 2002 Hãng phim Truyền hình TP.HCM TFS thực hiện phim truyện Lục Vân Tiên dài 14 tập, phim được phát sóng năm 2004. Bộ phim có tiếng vang tốt.  

Năm 2009 nhạc sĩ Vũ Đình Ân sáng tác Hợp xướng Lục Vân Tiên, bản hợp xướng dài 100 phút, hơn 200 người biểu diễn, trong đó kết hợp với nhiều làn điệu dân ca, hò, vè Nam Bộ, nhất là dân ca Bến Tre. Bản hợp xướng có tiếng vang lớn. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã công nhận đây là vở hợp xướng có thời lượng diễn tấu dài nhất Việt Nam.

Năm 2017, vở nhạc kịch Tiên Nga (tác giả: Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Hồng Dung; biên kịch và đạo diễn: Thành Lộc, âm nhạc: Đức Trí) được chuyển thể từ tác phẩm Lục Vân Tiên kết hợp với một số thơ văn khác của Nguyễn Đình Chiểu. Vở diễn thành công hiếm thấy cả về doanh thu cũng như giải thưởng.

Việc cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm của ông trở thành nguồn cảm hứng cho các sáng tác thơ văn hiện đại hết sức phong phú, cần phải tìm hiểu riêng.  

4. Lục Vân Tiên ra thế giới

Biết ảnh hưởng trong nước của Nguyễn Đình Chiểu rất lớn, với mục đích trước hết là để hiểu tâm lý và văn hóa của xứ sở mà họ cai trị, người Pháp đã sớm quan tâm dịch Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp.  

  1. Bản dịch đầu tiên là bản Luc-Van-Tien, Poème populaire annamite (Lục Vân Tiên, truyện thơ dân gian An Nam) của Gabriel Aubaret, Extrait No1 de l’année 1964 du Journal asiatique, Sixième Série, Tome III, Paris, Imprimerie Impériale, 1864 (sách in trong Tạp chí Á châu, Loại thứ sáu, tập III, Nhà in Hoàng Gia, Paris, 1864). G.Aubaret vốn là sĩ quan hải quân Pháp, giỏi tiếng Việt, từng làm phiên dịch cho phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1863 để xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, sau Aubaret cũng được bổ nhiệm làm Lãnh sự Pháp tại Bangkok từ năm 1864 đến năm 1867. Lục Vân Tiên bản dịch của Aubaret có một vị trí đặc biệt: đó là bản dịch văn học Việt Nam đầu tiên ra tiếng nước ngoài.

Tiếp theo là các bản dịch:

  1. Les Poèmes de l'Annam (Lục Vân Tiên ca diễn): Texte en caractères figuratifs (văn bản bằng chữ tượng hình), Abel des Michels, Giáo sư Trường Sinh ngữ phương Đông (l’ Ecole des Langues Orientales) dịch,  Ernest Leroux, Paris, 1883. Người giúp cho Abel trong việc dịch Lục Vân Tiên là Trần Ngươn Hanh. Năm 1881 trong lúc làm tri huyện ông được mời sang Trường Sinh ngữ phương Đông (l’ Ecole des langues orientales) giảng dạy, làm giáo sư ôn tập. Ông có từ điển chữ Nôm. Giúp Abel dịch Truyện KiềuLục Vân Tiên ra tiếng Pháp. Về việc dịch Lục Vân Tiên, ông đã dùng bản Janeau viết ngược ra chữ Nôm, có sửa đổi. Sau đó Abel phiên lại ra chữ Quốc ngữ và dịch ra tiếng Pháp.
  2. Histoire du Grand lettré Louc Vian Té-ian, poème populaire annamite, Tranduction libre en vers francais par Eugène Bajot (Chuyện danh sĩ Lục Vân Tiên, truyện thơ dân gian An Nam, dịch sang thơ tự do tiếng Pháp bởi Eugène Bajot), xuất bản ở Saigon năm 1886 do Nhà Rey et Curiol xuất bản; tái bản ở Paris năm 1887 do Nhà Challamel Ainé xuất bản.
  3. Lục-Vân-Tiên: Poème annamite de Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên, truyện thơ An Nam của Nguyễn Đình Chiểu), Nghiêm Liễn (Đỗ Đình Nghiêm và Ngô Vi Liễn) dịch, Impr. Le Van Tan xuất bản, Hà Nội, 1927
  4. Lục Vân Tiên. Tập 1 và 2, Dương Quảng Hàm dịch, Ed. Alexandre de Rhodes xuất bản, Hà Nội, 1944
  5. Lục Vân Tiên, Việt Pháp văn hỗn hợp, Phan Văn Thiết dịch, Sài Gòn 1972
  6. Truyện Lục Vân Tiên, Song ngữ, Lê Trọng Bổng dịch, NXB. Thế giới, Hà Nội, 1997

Có một bản Lục Vân Tiên nữa hay được nhắc đến là bản Lục Vân Tiên: Poème populaire annamite (Truyện thơ dân gian An Nam) của Gustave Janneau,  Đốc học trường Thông ngôn Saigon/ Collège des Interprètes. Challamel Ainé, Paris, 1873. Nhưng đây là bản phiên âm ra chữ Quốc ngữ, chú thích bằng Pháp văn chứ không phải bản dịch Pháp ngữ Lục Vân Tiên, cho nên không có trong danh sách trên.

Ngôn ngữ dịch thứ hai sau tiếng Pháp là bản dịch Lục Vân Tiên ra tiếng Ukraina. Người dịch là bà Maya Kashel, dịch giả văn học Việt Nam nổi tiếng của Ukraina Sô-viết. Thông tin thư mục như sau: Lục Vân Tiên (Лyк Ван Тiен), của Nguyễn Đình Chiểu (Нгуєн Дінь Tьєу),  Maya Kashel (Maya Dmitrievna Kashel/ Майя Дмитрівна Кашель, 1930-1987) dịch, Nhà xuất bản Văn học nghệ thuật "Dnepro", Kiev xuất bản, 1983 (Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Ukraina 1983). Đây là bản dịch Lục Vân Tiên duy nhất ra các ngôn ngữ Slave. 

Ngôn ngữ dịch thứ ba là tiếng Nhật. Đó là bản: Lục Vân Tiên, Takeuchi Yonosuke/ Trúc Nội Dữ Chi Trợ dịch chú, Đại học thư lâm/ Daigaku shorin xuất bản, Tokyo, 1986. GS.Takeuchi Yonosuke phụ trách khoa Tiếng Việt ở Đại học Ngoại ngữ Tokyo. Ông là dịch giả Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm và nhiều tác phẩm văn học Việt Nam khác.

Ngôn ngữ thứ tư là tiếng Anh. Lục Vân Tiên được dịch ra tiếng Anh bởi Éric Rosencrantz, dựa theo bản Pháp ngữ của Abel des Michels 1883. Bản dịch này in trong Lục Vân Tiên cổ tích truyện/ Histoire de Lục Vân Tiên/ The story of Lục Vân Tiên. 2 tập, École française d'Extrême-Orient và NXB.Văn hoá Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh xuất bản, 2016 (đã nói ở trên).

Ngôn ngữ thứ năm là tiếng Hàn, bản dịch tiếng Hàn có tên Lục Vân Tiên, do Jeon Hye Kyeong (Toàn Huệ Khanh) và Lý Xuân Chung dịch, xuất bản lần đầu do HUFS ở Seoul, Hàn Quốc năm 2017, NXB.Đại học Quốc gia TP.HCM xuất bản năm 2022. GS.Jeon Hye Kyeong (Toàn Huệ Khanh) giảng dạy ở Trường Ngoại ngữ Hankuk (HUFS), là nhà nghiên cứu, dịch giả văn học Việt Nam, bà từng dịch Truyền kỳ mạn lục và nhiều tác phẩm khác.

Như vậy Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được dịch ra 5 thứ tiếng với 11 bản dịch (không kể các bản dịch ra tiếng Thái Tây Bắc cổ Quám Lục Vân Tiên vào đầu thế kỷ XX). Xét về số lượng bản dịch thì Lục Vân Tiên đứng thứ ba trong các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam, sau Truyện Kiều của Nguyễn Du (21 thứ tiếng với 86 bản dịch) và thơ Hồ Xuân Hương (12 thứ tiếng với khoảng 30 bản dịch).

Nguyễn Đình Chiểu ban đầu ít được người nước ngoài biết đến như G.Aubaret, G.Janneau đã viết trong bài tựa (1864, 1867), thì hơn 50 năm sau đã được biết đến rộng rãi. Các công trình dịch thuật, nghiên cứu văn học Việt Nam ở nước ngoài hầu như đều có nhắc đến ông. Các nhà Việt Nam học nổi tiếng ở Pháp, Nga, Ukraina, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…đều có sách, có bài viết về ông với một thái độ kính trọng, đánh giá cao vị trí của ông trong tiến trình văn học Việt Nam. Có thể coi mục từ Nguyễn Đình Chiểu trong Từ điển văn học phổ thông (Dictionnaire universel des littératures) bằng tiếng Pháp, xuất bản năm 1994 là nhận định tiêu biểu của người nước ngoài về ông: 

               “Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), nhà thơ mù, quê ở Gia Định (Nam Việt Nam), là tác gia tiêu biểu cuối cùng của nền văn học cổ điển Việt Nam. Trong tác phẩm của ông, người ta có thể thấy những đặc tính tiêu biểu của văn học cổ điển: chữ Nôm, đạo đức Nho giáo về lòng trung quân, lòng hiếu thảo, liêm sỉ và chính nghĩa; đồng thời  thấm nhuần trong ấy truyền thống yêu nước và nhân văn cao cả. Truyện thơ Lục Vân Tiên của ông thể hiện hình tượng con người lương thiện của nhà Nho là một tác phẩm văn học kinh điển đến nay vẫn được đánh giá cao. Trong các lễ tang lớn, Nguyễn Đình Chiểu còn nổi tiếng với các bài văn tế tưởng nhớ những người kháng chiến chống thực dân Pháp như: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế sĩ dân Lục tỉnh trận vong. Các tác phẩm này thể hiện sâu sắc truyền thống yêu nước Việt Nam, đồng thời trong các bài văn tế này, từ thực tế lịch sử chống Pháp nổi lên hình tượng người nông dân, nhân vật sau này trở thành một nhân vật quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại.” (Béatrice Didier, 1994. p.4030).
               Vì thế sự kiện tháng 11 năm 2021, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua danh sách các danh nhân văn hóa mà UNESCO sẽ kỷ niệm vào năm 2022, trong đó ở Việt Nam có Nguyễn Đình Chiểu (và Hồ Xuân Hương) nhân 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu là một quá trình tất yếu. 

Kết luận

            Hành trình đưa những giá trị tốt đẹp của người dân Nam Bộ thông qua tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu ra thế giới là một quá trình lâu dài hơn 170 năm. Văn học Nam Bộ từ chỗ là bộ phận văn học địa phương ít được biết đến, thông qua Nguyễn Đình Chiểu và những nhà thơ yêu nước chống Pháp thuộc thế hệ ông đã trở thành bộ phận tiên phong của cả nước. Nguyễn Đình Chiểu và những tác phẩm của ông, nhất là Lục Vân Tiên được yêu thích, truyền tụng, đi vào văn học dân gian, lời ăn tiếng nói nhân dân, đi vào các loại hình nghệ thuật, tạo nên “trường văn hóa Lục Vân Tiên”. Một hiện tượng như vậy là rất hiếm trong văn học dân tộc, có lẽ ngoài Truyện Kiều Lục Vân Tiên ra, không có tác phẩm nào được tiếp nhận sâu rộng như vậy.     

 

Tài liệu tham khảo

1. Eugène Bajot (1887), Histoire du Grand lettré Louc Vian Té-ian (Chuyện danh sĩ Lục Vân Tiên), poème populaire annamute, Tranduction libre en vers francais par Eugène Bajot, Saigon, Rey et Curiol, 1886; Paris, Challamel Ainé, Éditeur Librairie Coloniale, 1887, Lời giới thiệu do Sity Maria Cotika dịch

2. Huỳnh Lý (chủ biên) (1984), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858-1920, NXB.Văn học

3. Maurice Durand (2000), Tranh dân gian Việt Nam- sưu tầm và nghiên cứu, dịch và giới thiệu: Nguyễn Thị Hiệp và Olivier Tessier, École française d'Extrême-Orient và NXB.Văn hóa Văn nghệ, TP.HCM

4. Nguyễn Bá Thế (1957), Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thi văn) 1822-1888, Tủ sách “Những mảnh gương”, Tân Việt xuất bản

5. Nguyễn Đình Chiểu (1976), Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội

6. Nguyễn Đình Chiểu (1976), Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB.Văn học giải phóng, in lần thứ hai,

7. Nguyễn Khuê & Cao Tự Thanh (2011), Một trăm câu hỏi đáp về văn học Hán Nôm ở Gia Định-Sài Gòn, NXB.Văn hóa Văn nghệ, TP.HCM

8. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (1982), Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời, Ty Văn hóa và Thông tin Bến Tre xuất bản.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 10 năm 2022, tr. 3-14.

 


[1] Tuyền thỉ chung: tức toàn thủy chung, nghĩa là cho trọn vẹn đầu cuối.

[2] Quốc âm thi tập Paulus Của nói nghĩa binh chết 15 người, còn trong công văn Đỗ Quang (1807-1866) lúc bấy giờ đang là Thự Tuần phủ Gia Định nói 27 người.

Sức sống của truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) không chỉ được nhìn nhận và định lượng bằng khả năng ảnh hưởng và lan truyền trong cộng đồng, nhất là cộng đồng Nam bộ, suốt một thời kỳ dài; bằng những giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật đã được khẳng định mà còn bởi năng lực tiếp tục sự sống, tiếp tục chuyển biến theo thời cuộc. Nghĩa là, khi độc giả thế hệ sau lần giở những câu thơ được sinh ra cách đây gần hai thế kỷ vẫn có thể ngẫm nghiệm ra những vấn đề mới mẻ, gắn liền với thời đại mình và có ý nghĩa cho đời sống trong hiện tại cũng như trong tương lai, có thể đặt tác phẩm dưới những góc nhìn mới, những lý thuyết và quan niệm mới để phân tích, lý giải.

Đó mới thực sự là sức sống được nối dài bằng khả năng vĩnh cửu hóa của văn chương. Tác phẩm cho thấy chân dung của một thời đại nhưng lại có thể chạm đến những vấn đề của mọi thời đại, tái hiện những con người cụ thể nhưng lại khơi gợi những suy tư về nhân loại một cách khái quát. Nhà văn sống đắm đuối trong lòng thời đại mình nhưng không bị thời đại đóng khung mà có thể tự do vượt thoát lên, hướng đến những câu chuyện của muôn đời. Vấn đề giới tính và những khả thể của đối thoại giới tính trong Lục Vân Tiên là một trong những cánh cửa mở rộng đi xuyên qua các thời đại như vậy. Đọc lại những câu thơ, quan sát các nhân vật biểu đạt quan niệm và những cách thức ứng xử giới tính, độc giả sẽ thấy được sự đa dạng, sinh động của đời sống giới được phản ánh và tái hiện trong văn chương. Lối tiếp cận này có thể khiến chúng ta nghĩ khác đi, cảm khác đi về nhân vật, đối thoại với những diễn ngôn phê bình, hay rộng hơn, diễn ngôn tiếp nhận trước đây.

“Vọng cổ Bạc Liêu: Nguyệt Nga – Bùi Kiệm vấn đáp”,
tác giả: Nguyễn Thành Long, Cần Thơ, Phạm Văn Cường (Chợ Lớn) xuất bản, in lần thứ nhất, 1933.

Thêm Vào Trái Tim Của Kiều Nguyệt Nga: Sự Chủ Động “Duy Tình” Và Si Tình

Diễn ngôn giới tính trong Lục Vân Tiên phổ biến, được cộng đồng tiếp nhận nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai” là một trong những điển phạm giới tính đại diện cho tư tưởng và nề nếp Nho giáo. Sự phân định ranh giới, không gian tiếp xúc giữa “khuê môn phận gái” và “đấng anh hùng” đến việc xác định và biểu hiện thái độ, hành động, cách ứng xử về phương diện giới tính của Lục Vân Tiên đều in đậm quan niệm truyền thống của Nho gia: “Nam nữ thọ thọ bất tương thân”. Trong khi đó, đọc lại những lời thoại của Kiều Nguyệt Nga, chúng ta thấy người con gái này vừa đứng trên những diễn ngôn mang tâm thức cộng đồng, nhưng đồng thời, lại nhuốm đầy màu sắc “duy tình”, si tình của con người cá nhân. Trong mối quan hệ giữa Vân Tiên và Nguyệt Nga, gần như đối nghịch với diễn ngôn mang tính ẩn dụ của dân gian: “trâu đi tìm cọc chứ cọc nào tìm trâu” vốn phân định thế chủ động của nam giới và bị động của nữ giới, Nguyệt Nga lại là người giữ thế chủ động, là “cái cọc” đi tìm “trâu”, như tâm thế của Thúy Kiều khi băng vườn đi tìm Kim Trọng. Trạng thái và sự lựa chọn hành động của Nguyệt Nga thực ra không chỉ bị chi phối bởi tư tưởng đạo đức nhân nghĩa (hàm ơn người đã cứu mình), quan niệm về trinh tiết (tiết liệt đoan trinh, một mực chung thủy với tình lang) mà còn vì sự lựa chọn tự do của một cá nhân, của một người nữ biết yêu, hơn nữa, yêu đắm đuối, yêu si mê. Chính vì lẽ đó, Kiều Nguyệt Nga thực ra lại hiện lên sinh động, mang gam màu cá nhân khá đậm, vừa có yếu tố của loại hình nhân vật tư tưởng, nhưng lại vừa có sức hấp dẫn, lôi cuốn với tính cá thể của loại hình nhân vật cá tính.

Đi vào cụ thể, lúc được Vân Tiên ứng cứu khỏi tay lũ hung đồ, Nguyệt Nga chủ động gọi chàng là “tri âm” với nghĩa “đá vàng”, chủ động xin gá nghĩa trăm năm cùng Vân Tiên và tặng cây trâm để làm tin. Khi thấy Vân Tiên “lòng chê”, “ngơ mặt chẳng nhìn”, nàng biểu lộ thái độ bộc trực, thẳng thắn, giãi bày trực tiếp nỗi lòng của mình với tính cách đặc trưng của người Nam bộ: “Vật chi một chút gọi là / Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ / Của này là của vất vơ / Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành”. Khi Vân Tiên một mực chối từ, nàng vẫn tiếp chủ động bày tỏ và trao dâng tình cảm: “Riêng than: Trâm hỡi là trâm, / Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ? Đưa trâm chàng đã làm ngơ / Thiếp xin đưa lại bài thơ giã từ”. Cùng với hành động làm thơ của Nguyệt Nga, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa, tham gia vào việc kiến tạo mô thức hình tượng người nữ tài sắc vẹn toàn giai đoạn hậu kỳ trung đại, nhấn mạnh sự tài trí, thông minh của nữ giới, cộng hưởng với cái nhìn của Nguyễn Du và các nhà Nho tài tử về phụ nữ. Tài năng của Nguyệt Nga được khẳng định thông qua cái nhìn của Vân Tiên: “Vân Tiên xem thấy ngạt ngào / Ai dè sức gái tài cao bực này (…) Thơ ngâm dũ xuất dũ kỳ, / Cho hay tài gái kém gì tài trai” (trang 101). Cái nhìn này là một trong những chuyển động đáng chú ý trong quan niệm về giới ở Việt Nam. Bên cạnh chuẩn mực về nhan sắc, phụ nữ đã dần được đề cao, được công nhận về mặt tài năng, trí tuệ, sánh ngang với nam giới – mặc dù chỉ mới dừng lại ở vài hiện tượng nổi bật chứ chưa phải là sự phổ quát. Thế nhưng, có thể thấy, đây là những tiền đề nội tại để đến đầu thế kỷ XX, trong công cuộc tiếp xúc với tư tưởng nữ quyền phương Tây, quan niệm tân tiến, mới mẻ, mang tính cách mạng về giới phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, nhất là khu vực Nam bộ.

Sự chủ động của Nguyệt Nga trong mối duyên tình càng được tô đậm bằng những lời độc thoại và đối thoại với cha mình. Ở đây, chúng ta thấy một người nữ giãi bày, một người nữ biểu lộ. Tiếng nói nữ trong Lục Vân Tiên là một hiện tượng rất đáng chú ý. Nguyễn Đình Chiểu, cũng như Nguyễn Du, không khắc họa nhân vật người nữ với cái nhìn bên ngoài tuyệt đối mà tái hiện nhân vật bằng cái nhìn bên trong, để cho nhân vật tự nói, tự thể hiện thế giới bên trong với tư thế chủ thể. Những lời tâm tình của Kiều Nguyệt Nga cho thấy tình cảm nàng dành cho Vân Tiên không chỉ có ơn nghĩa, mà còn nặng yêu đương. Chữ “tình” xuất hiện lặp đi lặp lại, nhấn mạnh xúc cảm yêu đương, nỗi tương tư mang tính cá nhân của Nguyệt Nga. Từ trước đến nay, người tiếp nhận thường phân tích sự chung thủy của Nguyệt Nga là do tấm lòng tri ân của nàng với người đã cứu mình giữa đàng. Thế nhưng, khi đọc lại văn bản tác phẩm, chúng ta có thể thấy, bên cạnh cảm giác về ơn nghĩa nảy sinh từ quy chuẩn đạo đức trong tâm thức cộng đồng, xúc cảm lứa đôi của Nguyệt Nga là một xúc cảm rất tự nhiên, rất con người. Chính xúc cảm này đã nuôi nấng sự sống của nhân vật Nguyệt Nga trong lòng công chúng độc giả, gieo mối rung cảm, khiến nàng không hiện ra như một hình mẫu xơ cứng của quan niệm nhân nghĩa mà bằng hình hài, tâm hồn của người con gái khi yêu. Nàng cũng tự ý thức về chính xúc cảm của mình trong hai trạng thái: “nỗi ân” và “nỗi tình”.

“Vân Tiên từ giã phản hồi
Nguyệt Nga than thở: Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả, nỗi tình lại vương.

(…)

Chữ tình càng tưởng càng thâm
Muốn pha khó lợt, muốn dầm khôn phai”.

Sự thôi thúc của tình yêu, nỗi tương tư đắm đuối đã khiến Nguyệt Nga họa bức tượng Vân Tiên và vác bức tượng người tình đi dọc dặm đường lưu lạc của mình. Đây là một hình tượng đẹp đẽ, độc đáo và thú vị, tạo nên điểm nhấn trong cách thức biểu lộ tình yêu của nữ giới. Thông thường, theo lễ giáo phong kiến mang đậm tư tưởng Nho giáo, người nữ phải giữ mình trong sự kín đáo, thầm lặng. Thế nhưng, Nguyệt Nga họa tượng Vân Tiên, biểu lộ rõ tình yêu của mình với thế giới bên ngoài. Nàng công khai khẳng định Vân Tiên là chồng mình, xem bức tượng như hình hài thế thân cho Vân Tiên sau khi nghe tin chàng gặp nạn qua đời và nguyện “thân con còn đứng giữa trời, / Xin thờ bức tượng trọn đời thời thôi”. Nguyệt Nga chủ động đến nhà Lục ông, làm lễ cúng Vân Tiên, chủ động lựa chọn cái chết để giữ trọn khí tiết và tấm lòng chung thủy với tình lang. Khác với nàng Chimène trong vở kịch Le Cid nổi tiếng của Pierre Corneille hành động theo lí trí, lựa chọn hành động theo phận vị và hi sinh tình yêu thì Nguyệt Nga dù ý thức rõ rệt phận vị của mình với quốc gia, triều đình (“tình phu phụ nghĩa quần thần”) nhưng nàng vẫn lựa chọn cách thế sống theo cảm xúc, ôm tượng Vân Tiên mà trẫm mình xuống sông. Hành động của nàng không chỉ thuần túy nảy sinh trên nhận thức đạo đức về lòng chung thủy, mà phần lớn là vì chữ tình, vì thế giới xúc cảm tràn đầy, đắm đuối mà nàng đã trao cho Vân Tiên. Nội tâm có nhu cầu bộc phát ra ngoại giới. Đoạn thơ dài bộc lộ nỗi đau đớn, tiếc thương giằng xé tâm can của Nguyệt Nga khi nghe Vân Tiên qua đời không có một câu thơ nào nhắc đến ơn nghĩa, mà chỉ tràn đầy tình yêu. Chữ “thương” lặp đi lặp lại, đẩy xúc cảm yêu đương và đau khổ của nàng lên đến cao trào (“Thương người quân tử biết đời nào phai?”; “Thương vì đôi lứa chưa thành / Vùa hương bát nước ai dành ngày sau”). Chọn thờ bức tượng, yêu người cõi âm, Nguyệt Nga gần như chỉ sống bằng nỗi si tình mê đắm. Lúc lao mình xuống sông tự vẫn, nàng cũng chỉ nghĩ đến Vân Tiên và nguyện “trăm năm xin gửi chút tình lại đây”. “Thương” và “Tình” là thế giới của Nguyệt Nga.

Từ đó, “đa tình”, “tài tình hào hoa” là một nét đặc trưng nổi trội trong nhân vật Nguyệt Nga vốn ít được người tiếp nhận chú ý, làm nên sự đầy đặn của nhân vật, khiến cho người con gái này trở nên sinh động, chứa đựng nhiều màu sắc, nhiều xúc cảm đan xen chứ không phải là một cái bóng “lép kẹp” mang tính minh họa cho ý niệm trinh tiết và lòng chung thủy của văn hóa Nho giáo. Như vậy, những lời đối thoại của Nguyệt Nga với Vân Tiên, với Kiều công và Bùi Kiệm cũng như lời độc thoại với chính mình mang lại cái nhìn sâu hơn, toàn vẹn hơn về xúc cảm giới tính của Nguyệt Nga, khiến nàng thực sự là một chủ thể trong thế giới tình: chủ thể giãi bày, chủ thể tự nhận thức và chủ thể tự do lựa chọn phương cách ứng xử giới tính theo xu hướng của kẻ “duy tình”, si tình.

Lục Vân Tiên (bản của nxb Tân Việt)

Võ Thể Loan Và Bùi Kiệm: Những Kẻ Phản Diện Hay Là Những Người Tiên Phong khai Phóng Về Giới?

Nếu như, với Kiều Nguyệt Nga, chúng ta có thể bổ sung để làm đầy đặn thế giới bên trong của nàng trên phương diện giới thì với Võ Thể Loan và Bùi Kiệm, độc giả ngày nay có thể xoay chuyển cái nhìn tiếp nhận có tính diễn ngôn truyền thống thành cái nhìn tự do, dân chủ hiện đại. Cuộc đối thoại giữa Võ công, Võ Thể Loan với Vương Tử Trực cũng như cuộc đối thoại của Bùi Kiệm với Kiều Nguyệt Nga gợi ra nhiều suy ngẫm về vấn đề giới tính, đặc biệt là quan niệm về giới trên những phông nền thời đại nhất định. Thái độ của Vương Tử Trực là biểu hiện của tinh thần trung nghĩa dựa vào nền tảng đạo đức truyền thống, một mực giữ trọn vẹn ân tình với người đã khuất. Trong khi đó, phản ứng của cha con Võ Thể Loan có thể được nhìn nhận theo nhiều chiều hướng khác nhau: trong khuôn khổ của đạo đức truyền thống, động thái vội vàng bộc lộ niềm mong muốn xe duyên Thể Loan với Tử Trực là sự bội ước; còn trong cái nhìn có tính khai phóng về giới, đó lại là một khát khao, một mưu cầu hạnh phúc lứa đôi trong tình thế cụ thể của thực tại. Võ công “dứt tình họ Lục mến tình họ Vương” vì “tủi duyên con trẻ sắt cầm dở dang”, vì thương con gái và lo toan cho hạnh phúc của gia đình mình còn Võ Thể Loan vì thương thân mình, vì một mưu cầu cho sự sống cá nhân. Động thái của Võ ông, về thực chất, cũng chẳng khác gì nỗi băn khoăn đau đớn mà Kiều công hỏi Nguyệt Nga khi nghe con gái mình nguyện cả đời thờ Vân Tiên, thờ một bóng ma: “Con đành giữ tiết trọn đời hay sao?”. Có thể, quyết định gả con cho giặc Ô qua của Kiều ông không chỉ xuất phát từ lòng trung quân ái quốc, mà còn đan xen một niềm riêng thầm kín gắn với tình phụ tử, để Nguyệt Nga không sống cuộc đời cô lẻ. Hai người cha có cùng một tâm trạng, một cách thế lựa chọn. Thế nhưng, cách ứng xử vì cái tôi cá nhân của cha con Võ Thể Loan, trong bối cảnh hậu kỳ trung đại, chưa được chấp nhận và thậm chí, còn bị lên án. Còn trong bối cảnh hiện đại, đây là vấn đề khiến chúng ta suy ngẫm về giá trị của con người cá nhân. Vương Tử Trực lấy tha nhân làm tâm điểm giá trị còn cha con Võ Thể Loan lấy cái tôi cá thể của mình làm trung tâm. Trong khi Võ công hổ thẹn, im lặng trước lời trách mắng của Tử Trực thì Thể Loan lại cất tiếng nói đầy tính phản biện:

“Thiếp đà chẳng trọn lời thề,
Lỡ bề sửa trắp, lỡ bề nưng khăn.
Tiếc thay dạ thỏ nằng nằng,
Đêm thu chờ đợi bóng trăng bấy chầy.
Chẳng ưng thời cũng làm khuây,
Nỡ buông lời nói chẳng vì, chẳng kiêng”

So với thông niệm về giới đương thời, suy nghĩ và ý hướng của Thể Loan có phần táo bạo, phá cách và lệch chuẩn. Nàng tự nhận thức được hoàn cảnh lỡ làng của mình và không chấp nhận cách thức ứng xử theo khuôn phép thông thường. Điều khiến Thể Loan day dứt, băn khoăn chính là nỗi tiếc nuối vì những ngày tháng chờ đợi vò võ, đằng đẵng. Nghĩa là nàng biết tiếc nuối tuổi xuân, tiếc nuối thời con gái, tiếc nuối chính sự hiện hữu trong thực tại của mình. Tinh thần ấy, nỗi tiếc ấy của Thể Loan, xét đến cùng, là một tinh thần nhân văn, nhân bản, là một phát hiện về giá trị hiện tồn của người nữ nói riêng, của con người nói chung. Nỗi niềm đó của nàng cũng như nỗi niềm của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn, do Đoàn Thị Điểm diễn Nôm), trăn trở, giày vò vì sự vong bản của chính mình trong cảnh đợi chờ.

Lựa chọn của Thể Loan là lựa chọn phản kháng lại khuôn khổ lễ giáo ràng buộc người nữ vào thế bị động, chịu đựng, đè nén những khao khát hạnh phúc cá nhân. Nàng sẵn sàng đối thoại và chấp nhận những quan niệm, những cách hành xử khác nhau về vấn đề này. Vì vậy, khi nghe Tử Trực viện dẫn một loạt điển tích, điển cố như những diễn ngôn kinh điển về người phụ nữ bội bạc, Thể Loan đã trách móc rằng chàng có thể không đồng tình và từ chối, nhưng đừng phê phán, lên án cha con mình. Thái độ ấy, phải chăng, không chỉ đơn thuần là sự biện bạch cho tội lỗi cá nhân, mà là tinh thần biết lắng nghe và chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận cái nhìn đa quan điểm, đa thanh sắc trong xã hội. Cùng với tiếng nói bộc bạch của Nguyệt Nga, tiếng nói của Võ Thể Loan tô đậm âm thanh của người nữ, sự cất tiếng của người nữ trong Lục Vân Tiên.

Cùng với Võ Thể Loan, những lời đối thoại của Bùi Kiệm với Kiều Nguyệt Nga tiếp tục khơi gợi những ý niệm về sự giải phóng con người thoát khỏi những ràng buộc trong quan niệm về giới một cách thú vị, vừa cận nhân tình, vừa thấm đẫm triết lý hiện sinh dù thuở ấy, tư tưởng hiện sinh chưa xuất hiện ở Việt Nam. Trong khi Nguyệt Nga một mực khẳng định quan niệm về trinh tiết và lòng chung thủy truyền thống thì Bùi Kiệm bộc lộ sự phủ định với tinh thần phản biện quả quyết, mạnh mẽ.

“Kiệm rằng: Nàng nói sai rồi
Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa,
Làm người trong cõi gió mưa,
Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào
Chúa xuân còn ở vườn đào,
Ong qua bướm lại biết bao nhiêu lần
Chúa đông ra khỏi vườn xuân,
Hoa tàn nhụy rữa như rừng bỏ hoang”

Cảm quan của Bùi Kiệm gặp gỡ với cái nhìn lên án quyền thống trị và sở hữu thân thể người nữ một cách tuyệt đối của chế độ nam trị trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Họ có thể được lựa chọn hoặc bị phó mặc, được ân sủng hoặc bị ruồng rẫy và hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn bất khả đoán định của nam giới. Phân tích tình trạng bị đối đãi một cách nghiệt ngã của phụ nữ, Bùi Kiệm cho thấy sự bất bình đẳng giới trong quan niệm của cộng đồng và thôi thúc Nguyệt Nga vượt qua cái nhìn đòi hỏi sự trung thành, chung thủy, kiên trinh của nữ giới nhưng lại dung túng và cung cấp cho nam giới cái quyền được “năm thê bảy thiếp”. Những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc “chúa xuân, chúa đông”, “ong qua bướm lại”, “hoa tàn nhụy rữa” nhấn mạnh sự bất công và trạng thái đối lập giữa hai giới.

 

Điểm thú vị trong cái nhìn của Bùi Kiệm là ý thức về thực tại, về thời khắc hiện hữu trong hiện tại của con người. Hai câu thơ: “Làm người trong cõi gió mưa / Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào” vừa phác họa lên tình thế “làm người” giữa cuộc đời nhiều bất trắc, vừa nhấn mạnh trạng thái vô thường, ngắn ngủi, dễ phai nhạt của kiếp người. Chính từ xuất phát điểm này, các nhà hiện sinh chủ nghĩa đã thúc đẩy tinh thần dấn thân, ý thức và hành động nhập thế, tận hưởng đời sống trong phút giây hiện tại. Tâm điểm thứ nhất trong lập luận phản biện Kiều Nguyệt Nga của Bùi Kiệm chính là sự hoang phí và chôn vùi thanh xuân của người nữ vì những tín điều ràng buộc bởi lẽ thời gian đời người chỉ dịch chuyển theo con đường một chiều và vô cùng hữu hạn:

“Ba xuân mòn hết ngàn vàng khôn mua
Hay chi như vãi ở chùa,
Một căn cửa khép bốn mùa lạnh tanh.
Linh đinh một chiếc thuyền tình,
Mười hai bến nước biết mình vào đâu?”

Bùi Kiệm không chấp nhận trạng thái “ngồi không”, “giữ ôm bức tượng trước sau thiệt mình”, khước từ những niềm lạc thú bình thường của nhân gian và ví tình trạng của Nguyệt Nga như “vãi ở chùa”. Đó là phản ứng phủ định xu hướng bị động, xuất thế để hướng đến cái động, đến sự nhập thế. Một loạt hình ảnh ẩn dụ được nhân vật gợi ra để nói lên tính phi lý, vô nghĩa của hành động trung trinh, thu mình vào sự cô độc, thiếu hụt mà người phụ nữ tự đẩy mình vào trong cảnh lẻ loi, đơn chiếc:

“Ai từng mặc áo không bâu
Ăn cơm không đũa, ăn trầu không cau”

Cái nhìn giải kiến tạo của Bùi Kiệm đã lý giải hình tượng người phụ nữ đa tình theo cách thức phi truyền thống. Những chuẩn mực đạo đức giới tính thông thường bị vượt qua, bị xóa bỏ còn các biểu hiện lệch chuẩn thì thành cái có giá trị chứ không còn là cái bị phủ định, phê phán, gạt bỏ ra vùng ngoại vi của xã hội. Nhân vật không nhìn nhận giá trị mẫu mực, đẹp đẽ hình ảnh vọng phu trong truyền thống, mà thậm chí, còn phản biện lại biểu tượng này bởi sự chờ đợi mỏi mòn trong tuyệt vọng đó đã “phi nhân hóa” hiện tồn của người nữ, làm phôi pha và hủy hoại sự sống đích thực của nữ giới: “Làm chi thiệt phận hồng nhan/ Năm canh gối phụng màn loan lạnh lùng/ Vọng phu xưa cũng trông chồng/ Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha”. Như một đối trọng, những nhân vật nữ như Hồ Dương, Hạ Cơ, Lữ hậu, Võ Tắc Thiên vốn bị lên án trong lịch sử vì niềm khát khao tính dục lại hiện lên như những hình ảnh đại diện cho tinh thần nhân bản, khẳng định giá trị của sự lựa chọn sống vì ý muốn của bản thể, sống tận hưởng hạnh phúc đời người:

“Hồ Dương xưa mới góa chồng,
Còn mơ nhan sắc Tống công cũng vừa.
Hạ Cơ lớn nhỏ đều ưa,
Sớm đưa Doãn Phủ, tối ngừa Trần quân.
Hớn xưa Lữ hậu thanh xuân
Còn vừa Cao tổ mấy đành Dị Ky
Đường xưa Võ hậu thiệt gì,
Di Tôn khi trẻ, Tam Tư lúc già,
Cứ trong sách vở nói ra
Một đời sung sướng cũng qua một đời”

Với quan niệm ấy, Bùi Kiệm thể hiện tâm điểm thứ hai trong lập luận của mình: sự đồng tình cùng tinh thần “nổi loạn” của dân gian, phản ứng chống lại giá trị chuẩn mực, trung tâm và lập nên thế cân bằng cho những hiện tồn bị phủ định, bị xóa bỏ, phê phán. Câu ca dao “Lẳng lơ chết cũng ra ma/ chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng” vốn mang đậm tinh thần khai phóng giới tính trong cái nhìn mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt thoát những định kiến có tính giáo điều và ràng buộc của lễ giáo phong kiến, cho thấy tinh thần hiện sinh hồn nhiên của nhân dân được tái hiện trọn vẹn trong lời thoại của Bùi Kiệm:

“Ai ai cũng ở trong trời,
Chính chuyên trắc nết chết thời cũng ma
Người ta chẳng lấy người ta
Người ta đâu lấy những là tượng nhân”

Hai từ “người ta” lặp lại khẳng định giá trị của hiện tồn, của sinh thể sống động, của giá trị “làm người” và đối lập với hình ảnh “tượng nhân”, một vật thể, một sự trừu tượng xơ cứng, không có sự sống. Trong cái nhìn truyền thống, bức tượng mà Nguyệt Nga vác trên vai là một biểu tượng cho tình yêu, lòng chung thủy, sự kiên trinh nhưng trong cái nhìn khai phóng mang tính hiện sinh, bức tượng ấy là hóa thân trĩu nặng của những ý niệm đạo đức, lễ giáo ràng buộc, đè nén con người. Đó chỉ là thế giới ảo của các phạm trù, nguyên tắc do con người đặt định và tuân thủ theo tâm thức cộng đồng, để rồi, đánh mất sự hiện hữu và những giá trị cá nhân. Đề cao hiện tồn trong không gian, trong thời gian của thực tại, trong chính hiện hữu của từng cá thể, Bùi Kiệm và Bùi ông đều thôi thúc tinh thần hành động dấn thân, tận hưởng trần thế:

“Tới đây duyên đã bén duyên,
Trăng thanh gió mát cắm thuyền đợi ai?
Nhớ câu xuân bất tái lai,
Ngày nay hoa nở e mai hoa tàn”

Những từ “tới đây”, “ngày nay” đều khẳng định tính hiện tại của không gian và thời gian. Theo đó, sự tương tác, gặp gỡ giữa con người và con người đều do “duyên”. Đây là một khái niệm mang đậm văn hóa phương Đông, lý giải mối liên hệ giữa con người với nhau và với vạn vật, vạn sự kiện xảy ra một cách ngẫu nhiên theo một nguyên lý bí ẩn nhưng tất yếu của vũ trụ. Võ công cũng khuyên Tử Trực: “Tới đây thời ở lại đây/ Cùng con gái lão sum vầy thất gia”. Ba yếu tố thời gian, không gian, con người tương hợp, tại thành chỉnh thể của cái đang xảy ra, cái hiện thời. Ý hướng tính vươn đến sự hành động của con người trong bối cảnh của cái đang xảy ra trong lời thoại của Bùi Kiệm và Bùi ông gần như tương đồng với xung năng và triết lý hoạt động, cộng hưởng với các yếu tố đời sống trong câu ca dao:

“Ra đi gặp vịt thì lùa
Gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu”

Như vậy, với cái nhìn thoát khỏi những diễn ngôn đạo đức về giới, độc giả ngày nay có thể thấy Võ Thể Loan và Bùi Kiệm, Bùi ông không phải là nhân vật phản diện như những diễn ngôn tiếp nhận, diễn ngôn phê bình từ trước đến nay vẫn khẳng định. Họ là những nhân vật tìm kiếm hạnh phúc và phát ngôn để biểu lộ niềm mong cầu hạnh phúc của mình. Võ Thể Loan có thể hơi vội vàng, Bùi Kiệm có thể có thói xấu thường tình của những chàng trai trẻ (hay ganh ghét bạn đồng lứa), nhưng các nhân vật này không gây hại đến nhân vật chính diện để trở thành nhân vật phản diện theo cấu trúc phân chia nhân vật dựa vào tuyến tư tưởng có tính nhị phân. Thể Loan, Bùi Kiệm và Bùi ông là những nhân vật đi ngược, đi theo lối khác so với trục quan niệm chính thống, trung tâm về giới tính, về quan hệ hôn nhân mang tính truyền thống của xã hội đương thời. Sự khác biệt đó không được cộng đồng chấp nhận, thậm chí bị lên án, phê phán và vì vậy, đẩy các nhân vật này qua tuyến đối lập với những chuẩn mực, những khuôn mẫu xã hội, quy kết vào sự bội bạc nhân nghĩa và u mê sắc dục.

Về phương diện trần thuật, nhân vật người kể chuyện trong Lục Vân Tiên đã để cho các nhân vật tự do đối thoại trong thời khắc xảy ra tình huống. Sự tương tác bằng diễn ngôn của các nhân vật đã thúc đẩy nhân vật đi đến cách thức phản ứng, hành động. Vì vậy, gần như xuyên suốt tác phẩm, nhân vật được xây dựng một cách tự nhiên theo mạch truyện và theo tính cách, ý muốn, động thái của nhân vật. Ở đoạn Võ công, Võ Thể Loan đối thoại với Tử Trực, người trần thuật đã để cho Tử Trực tạo ra diễn ngôn mang tính tác động mạnh mẽ theo quan niệm nhân nghĩa chính thống, khiến “Võ công hổ thẹn trong mình” rồi lâm bệnh nặng mà qua đời, còn mẹ con Võ Thể Loan thì “đóng cửa cư tang trong nhà”. Trong khi đó, ở đoạn Bùi Kiệm, Bùi ông đối thoại với Kiều Nguyệt Nga, người kể chuyện bỏ lửng, không bộc lộ cái nhìn có tính phán xét một cách trực tiếp mà thông qua cái nhìn của Nguyệt Nga.

Đến kết truyện, cái nhìn của người trần thuật thể hiện sự can thiệp, xâm lấn sâu sắc vào tư tưởng đạo lý chính yếu và bao trùm khắp tác phẩm. Mẹ con Võ Thể Loan vì mưu toan lừa dối, định đổ tội cho Võ ông mà bị trừng phạt. Bùi Kiệm thì xấu hổ với hành vi của mình, “ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu” vì “máu dê”. Sự tự vấn lương tâm của Bùi Kiệm, Võ công, sự trừng phạt mẹ con Võ Thể Loan là sự thắng thế của chuẩn mực đạo đức truyền thống. Phần kết của tác phẩm tựa như một phiên tòa tự nhiên của đời sống, để cho các nhân vật gặp gỡ và giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc, tháo gỡ nút thắt còn bỏ lửng của đường dây cốt truyện. Sự trừng phạt do các yếu tố tự nhiên thực hiện, khẳng định đạo lý là thiên đạo, nhân nghĩa của con người là lẽ trời đất, là quy luật tự nhiên. Trao quyền trừng phạt cho tự nhiên, sự hành đạo cho trời đất, vũ trụ, truyện thơ Lục Vân Tiên thể hiện tư tưởng nhân nghĩa tuyệt đối, đồng thời, thêm một lần nữa nhấn mạnh hành vi ứng xử của các nhân vật phản diện/ bị xem là phản diện là hành vi trái với lẽ thường, trái với đạo lý của xã hội và của cả vũ trụ. Theo đó, diễn ngôn của chuẩn mực Nho giáo và đạo đức nhân nghĩa càng được đề cao, tô đậm và củng cố để khẳng định vị trí diễn ngôn trung tâm trong đời sống xã hội giai đoạn hậu kỳ trung đại.

Tuy nhiên, trở lại với những đối thoại về giới trong Lục Vân Tiên mà bài viết đã phân tích, sự hiện diện của những đoạn đối thoại đó đã là một điều thú vị. Thứ nhất, những tiếng nói đa thanh, đa chiều tái hiện sự đa dạng, khác biệt của con người trong xã hội, khiến cho những trang truyện thơ trở nên uyển chuyển, tự nhiên, sống động, mang tính hiện thực. Có lẽ, đây cũng là nguyên do khiến cho truyện thơ Nôm này có sức hút lớn với nhân dân. Thứ hai, tiếng nói biểu lộ xúc cảm riêng tư bên trong của Nguyệt Nga, tiếng nói đi ngược chuẩn tắc thông thường của Thể Loan, Bùi Kiệm là những dấu hiệu cho thấy sự hình thành dần rõ nét của ý thức cá nhân, con người cá nhân trong thời kỳ này, để rồi, đến đầu thế kỷ XX, bừng nở thành một hiện tượng rực rỡ tính nhân bản. Mặc dù ở phần kết truyện, tiếng nói của Thể Loan và Bùi Kiệm bị xoay chuyển theo khuôn mẫu đạo đức của cộng đồng, nhưng ít ra, sự hiện diện khá tự do và tự nhiên của những tiếng nói ấy đã biểu lộ thanh âm, xúc cảm và suy nghĩ của cá nhân.

Đây có thể là một hiện tượng đời sống lúc bấy giờ, khi sự va đập giữa văn hóa phương Đông và phương Tây bắt đầu diễn ra, những ý thức hệ mới được hình thành, trong đó có ý thức hệ về giới. Đồng thời, có thể, không gian văn hóa phóng khoáng, mang tính mở đặc biệt của vùng Nam bộ đã dự phần vào việc hình thành nên tính cách, tâm hồn và cách ứng xử tự nhiên, chân mộc và tự do của các nhân vật. Từ đó, những cuộc đối thoại xuất hiện như những dấu hiệu đến sớm của sự xung đột, nứt vỡ giữa khuynh hướng truyền thống và hiện đại diễn ra sau đó vài thập kỷ. Trong thời đại của Nguyễn Đình Chiểu, cái nhìn của xã hội còn khá đồng thuận trên nền tảng quan niệm đạo đức Nho giáo đã được kiến tạo xuyên suốt ngàn năm phong kiến, vài tiếng nói nghịch chiều lẻ loi của Võ Thể Loan, Bùi Kiệm, Bùi ông dễ dàng bị lấn át bởi âm vang đồng thanh của cộng đồng. Thế nhưng, sự xuất hiện của tiếng nói ấy đã là một điểm sáng thú vị trên văn bản Lục Vân Tiên, để trong thời đại ngày nay, với sự vận động trong quan điểm về giới, độc giả có thể phát hiện, chiêm nghiệm và kiến tạo lại cái nhìn tiếp nhận mới mẻ, khác biệt. Những nhân vật đã từng bị đóng khung trong định kiến sẽ có khả năng được tháo khung khi chúng ta gỡ đi những cái nhìn khép kín có tính mặc định trong tiếp nhận. Giá trị nối dài của một tác phẩm cũng là duyên may của thế giới văn chương và truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên, sau gần hai thế kỷ, vẫn đầy sức sống, sức gợi mở cho độc giả đời sau tiếp tục nghĩ suy, tiếp tục rung cảm, vẫn tạo nên những gặp gỡ, những đối thoại cho không gian văn chương lẫn không gian đời sống.

Hồ Khánh Vân
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

Nguồn: Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, ngày 23.07.2022

 

Sách in ở tỉnh Chernigiv phía Bắc Thủ đô Kyiv. Thành phố Chernigiv tuy bị tàn phá hết, nhưng thị trấn nơi có xưởng in thì may mắn không bị bom đạn phá hủy.

20220718

Bản dịch Lục Vân Tiên ra tiếng Ukraina tái bản năm 2022. Ảnh: Lê Giang

Tuy nhiên đây không phải là lần xuất bản đầu tiên bản dịch Lục Vân Tiên tiếng Ukraina, mà chỉ là tái bản. Bản in đầu tiên là năm 1983, do Nhà xuất bản Văn học nghệ thuật “Dnepro”, Kiev xuất bản, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Ukraina.

Rất nhiều người lầm tưởng tiếng Ukraina chỉ là phương ngữ của tiếng Nga, thực ra không phải, tiếng Ukraina là một trong ba ngôn ngữ của nhóm Đông Slav, cùng với tiếng Nga và tiếng Belarus. Nhóm miền Tây Slav có tiếng Séc, Slovakia, Ba Lan. Nhóm miền Nam có Bulgaria, Serbia, Croatia. Tiếng Ukraina có hơn 30 triệu người dùng và đã có nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng viết văn bằng ngôn ngữ ấy như: Taras Shevchenko, Lesia Ukrainka, Mikhaylo Kotsyubinsky…

Maya Kashel (1930 - 1987)

Maya Kashel (1930 - 1987)

Trong khi Lục Vân Tiên chưa được dịch ra tiếng Nga thì đã được dịch ra tiếng Ukraina. Người dịch là Maya Kashel, một dịch giả văn học (VH) Việt Nam rất nổi tiếng.

Maya Dmitrievna Kashel (Майя Дмитрівна Кашель, 1930-1987) là nhà văn Ukraina Xô viết, dịch giả VH Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Ukraina (từ 1972), hội viên Hội Nhà văn Liên Xô (từ 1973). Maya Kashel sinh ở Kiev, tốt nghiệp phổ thông năm 1947, sau đó không đi học tiếp được do bệnh tật. Năm 1954, bà tốt nghiệp khóa đào tạo 4 năm tiếng Anh. Năm 1966, bà tốt nghiệp trung học. Khi chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu nổ ra, bà học tiếng Việt và VH Việt Nam. Sau đó, bà dịch một tập truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam sang tiếng Ukraina, xuất bản ở Hà Nội. Với mục đích hoàn thiện kiến thức của mình, bà xin vào học tiếng Việt ở Viện Các ngôn ngữ phương Đông của Đại học Tổng hợp Moskva (MGU). Từ 1-9-1966 đến tháng 6-1972, trước khi xuất hiện cuốn sách dịch độc lập đầu tiên, bà đã dịch hơn 300 tác phẩm bằng tiếng Việt.

Một số tác phẩm VH Việt Nam đã được dịch sang tiếng Ukraina của Maya Kashel: Mẹ vắng nhà của Nguyễn Thi và những người khác (1972), Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi (1977), Tục ngữ và thành ngữ Việt Nam (1977), Tập truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam (1981), Thơ Tố Hữu (1978), Lục Vân Tiên (và thơ Nguyễn Đình Chiểu, 1983), Đôi mắt của Nam Cao...

Kashel đã cho xuất bản tổng cộng 11 tập sách dịch. Các sách ấy thường được N. I. Nikulin, nhà Việt Nam học người Nga viết lời giới thiệu. Bản dịch Mẹ vắng nhà (1972) là cuốn sách dịch đầu tiên của bà khi gia nhập Hội Nhà văn Ukraina 1972. Thông qua sự nghiệp dịch thuật của mình, Kashel mong muốn “tăng cường mối quan hệ VH Ukraina - Việt Nam, làm giàu cho nền VH quê hương mình bằng những tác phẩm tiếng Việt hay nhất”. (Đơn xin vào Hội Nhà văn Ukraina).

Maya Kashel sống trong thời chiến tranh ở Việt Nam hết sức thảm khốc. Với tình yêu với nhân dân Việt Nam, bà đã dành toàn bộ số tiền nhuận bút có từ việc dịch tặng cho Quỹ Hỗ trợ nhân dân Việt Nam của Ukraina.

Ngoài dịch VH Việt Nam, M.Kashel còn viết nhiều bài nghiên cứu về VH Việt Nam trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các mục từ về nhà văn Việt Nam trong Bách khoa toàn thư của Ukraina. Trước khi in thành sách, các bản dịch VH Việt Nam của M.Kashel thường được đăng trên các tạp chí lớn của Ukraina, như: Hoàn cầu, Đnepro, VH Ucraina, Tạp chí Ucraina... Nhờ thế, nhiều người Ukraina có dịp thưởng thức và hiểu biết VH Việt Nam.

Kashel chủ yếu dịch VH hiện đại Việt Nam, Lục Vân Tiên là tác phẩm VH cổ điển Việt Nam duy nhất của Việt Nam mà bà dịch. Bản Lục Vân Tiên tái bản lần này có sự gia công sửa chữa của Vũ Tuấn Hoàng, giáo sư người Việt, làm việc tại Viện Ngữ văn của Đại học Quốc gia Kiev. 

Bản dịch Lục Vân Tiên tiếng Ukraina có vị trí danh dự trong các dịch tác phẩm này ra ngoại ngữ. Thống kê cho đến tháng 6-2022, tức là trước Hội thảo Khoa học quốc tế kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì tác phẩm Lục Vân Tiên được dịch ra 5 thứ tiếng với 11 bản dịch, đó là tiếng Pháp, Nhật, Anh, Hàn và tiếng Thái cổ, là tác phẩm được dịch nhiều thứ ba trong VH cổ điển Việt Nam sau Truyện Kiều của Nguyễn Du (21 thứ tiếng với 86 bản dịch) và thơ Hồ Xuân Hương (12 thứ tiếng với 30 bản dịch).

Tuy nhiên, với bản dịch ra tiếng Ukraina của Maya Kashel thì Lục Vân Tiên đã được dịch ra 6 thứ tiếng với 12 bản dịch:

- Ngôn ngữ dịch đầu tiên là tiếng Pháp, có 7 bản dịch: (1) G.Aubaret 1864, (2) Abel des Michels 1883, (3) Eugène Bajot 1886, (4) Nghiêm Liễn 1927, (5) Dương Quảng Hàm 1944, (6) Phan Văn Thiết 1972, (7) Lê Trọng Bổng 1997.

- Tiếp theo là các bản Lục Vân Tiên tiếng Ukraina của Maya Kashel 1983. Bản tiếng Nhật của Takeuchi Yonosuke 1986. Bản tiếng Anh của Éric Rosencrantz 2016. Bản tiếng Hàn của Jeon Hye Kyeong (Toàn Huệ Khanh) và Lý Xuân Chung 2022.

- Ngoài ra còn có bản dịch ra tiếng Thái cổ (Tây Bắc Việt Nam) vào đầu thế kỷ XX.

Với những thông tin trên, thì bản dịch Lục Vân Tiên của Maya Kashel là bản dịch ra ngoại ngữ sớm thứ hai sau các bản dịch tiếng Pháp, không kể bản tiếng Thái cổ. Bản dịch ấy cũng là bản dịch duy nhất cho đến nay ra nhóm các ngôn ngữ Slav.

Giữa những ngày chiến sự ác liệt ở Ukraina, chúng tôi được tin: Bản dịch Lục Vân Tiên (Лyк Ван Тiен) của Nguyễn Đình Chiểu (Нгуєн Дінь Tьєу) ra tiếng Ukraina được xuất bản ở Ukraina, bao gồm cả sách song ngữ và sách đơn ngữ. Đây là một hoạt động đẹp nhằm kỷ niệm 200 năm Ngày sinh nhà thơ lớn của nhân dân Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu, hưởng ứng hoạt động tôn vinh nhà thơ của Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) mà Ukraina cũng là thành viên.

Đoàn Lê Giang - Trần Thị Phương Phương (*)

(*) PGS.TS Đoàn Lê Giang, PGS.TS Trần Thị Phương Phương - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Nguồn: Báo Đồng khởi, ngày 15.7.2022.

Văn bản Lục Vân Tiên khá phong phú và phức tạp. Hiện nay người ta thường dùng bản Trương Vĩnh Ký 2076 câu, cũng có người nói theo bản Lục Vân Tiên ca diễn của Abel des Michels 2088 câu. Có nhà nghiên cứu không dùng các bản đó mà công bố bản Lục Vân Tiên sớm nhất xuất bản năm 1874 (Trần Nghĩa-Vũ Thanh Hằng  phiên âm, khảo thích (1994) Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm mang niên đại cổ nhất mới sưu tầm ở Paris, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội), nhưng có nhà nghiên cứu lại công bố bản Lục Vân Tiên 1865 mới là cổ nhất (Nguyễn Quảng Tuân  phiên âm, khảo thích (2008), Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất, NXB. Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học). Vậy bản nào tốt nhất, bản nào cổ nhất, các bản ấy có quan hệ với nhau thế nào, và quan trọng nhất là các truyền bản Lục Vân Tiên như thế nào?

1. Các bản Nôm Lục Vân Tiên khắc in hiện còn

Hiện nay có tất cả 13 bản Nôm Lục Vân Tiên đã được khắc in như danh mục dưới đây (sắp xếp theo trình tự thời gian xuất bản):  

Quyển

số

Nhan đề/ Tên tắt văn bản Người biên tập, Nơi xuất bản Năm xuất bản, số trang, số câu

Lục Vân Tiên truyện,

蓼雲仙傳Gọi tắt là bản “Bảo Hoa Các-Quảng Thạnh Nam 1865”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính 嘉定城惟明氏訂正

Quảng Đông nhai, Quảng Thạnh Nam phát thụ 廣東街廣盛南發售. Việt tỉnh, Phật trấn, Phước Lộc đại nhai, Bảo Hoa các tàng bản 粵省佛鎮福祿大街寶華閣藏板 Năm 1865, 92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Bảo Hoa Các-Thiền Phước Lộc”

Thiền Phước Lộc đại nhai. Bảo Hoa các phát hành 禪福祿大街寶華閣發行

(không ghi năm in),

92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Bảo Hoa Các-Phật Sơn”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính Phật Sơn, Bảo Hoa các tàng bản 佛山寶華閣藏板

(không ghi năm in), 

92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳   

Gọi tắt là bản “Thiên Bửu Lâu”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính Việt Đông, Phật trấn, Phước Lộc đại nhai. Thiên Bửu Lâu tàng bản 粵東佛鎮福祿大街天寶樓藏板 (không ghi năm in), 92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Anh Hoa thư cục”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính Trung Quốc Việt Đông, Phật Sơn, Anh Hoa thư cục tàng bản 中國粵東佛山英華書局藏板 (không ghi năm in), 92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Kim Ngọc Lâu 1874”

Duy Minh Thị đính chính Việt Đông, Phật Trấn, Phước Lộc đại nhai, Kim Ngọc Lâu tàng bản 粵東佛鎮福祿大街金玉樓藏板 Giáp Tuất niên (1874) san khắc, 110 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên ca diễn 陸雲僊歌演

Gọi tắt là bản “Abel 1883”

Abel des Michels, Giáo sư Trường Sinh ngữ phương Đông, Paris Ernest Leroux xuất bản. Trần Ngươn Hanh viết bằng bút sắt từ bản quốc ngữ của Janneau 1873 Năm 1883, 2088 câu, 4 đoạn phụ lục 170 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Lăng Vân Đường 1886”

Lăng Vân Đường (Huế) tàng bản 凌雲堂藏板 Đồng Khánh nguyên niên xuân tân san (1886), 2055 câu, 106 trang đơn (53 tờ), mỗi trang 10 hàng

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Tụ Văn Đường 1897”

Tụ Văn Đường聚文堂, Hà Nội Thành Thái thứ 9 (1897), chép theo hàng ngang, 2036 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là “Bản Liễu Văn Đường 1916”   

Liễu Văn Đường tàng bản 柳文堂藏板 Khải Định nguyên niên (1916) thu  tân san, 53 tờ, khoảng 2050 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Liễu Văn Đường 1921”

Liễu Văn Đường tàng bản 柳文堂藏板, Hà Nội Khải Định thứ 6 (1921), 53 tờ, khoảng 2050 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Tụ Văn Đường 1924”

Tụ Văn Đường tàng bản 聚文堂藏板, Hà Nội Khải Định thứ 9 (1924), 53 tờ, khoảng 2050 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là “Bản Bảo Đại 1927”

(Không ghi) Bảo Đại nhị niên (1927) xuân tân san, 53 tờ, khoảng 2050 câu

Danh mục trên là từ sưu tầm và tổng hợp theo Thư mục về Nguyễn Đình Chiểu do Ban Văn học (Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM) biên soạn, Ty Văn hoá và Thông tin Long An xuất bản, 1981;  Trần Nghĩa-Vũ Thanh Hằng phiên âm, khảo thích Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm mang niên đại cổ nhất mới sưu tầm ở Paris, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội,  năm 1994; Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, khảo thích Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất, NXB. Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2008.

Có thể có vài bản in nữa ở Quảng Đông do Bảo Hoa Các tàng bản hiện chưa sưu tầm được, nhưng không thật quan trọng vì lý do chúng tôi phân tích dưới đây. 

2. Các bản Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙Duy Minh thị đính chính, in ở Quảng Đông thực chất chỉ là một bản

Nguyễn Đình Chiểu thi đậu tú tài năm Quý mão (1843) ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Sau đó ông ra Huế học chờ kỳ thi lần sau. Năm Kỷ dậu (1849) Nguyễn Đình Chiểu đi thi thì nghe tin mẹ mất, ông vào Gia Định chịu tang. Trên đường đi đến Quảng Nam ông bị ốm nặng, phải nghỉ lại chữa bệnh, sau đó bị mù cả hai mắt. Năm Canh tuất (1850) mãn tang, ông mở trường ở Bình Vi (Gia Định). Từ gian nan của cuộc đời mình, từ những ước mơ, lý tưởng của mình mà cũng là của đông đảo người dân, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên truyện Lục Vân Tiên. Truyện được hoàn thành vào khoảng những năm từ 1851 đến 1854, lúc Nguyễn Đình Chiểu ngoài 30 tuổi. Tác phẩm được dân chúng ưa thích, truyền tay nhau chép và học thuộc lòng, trong khoảng 10 năm. Cho đến khi G.Aubaret dịch tác phẩm này sang tiếng Pháp và in ở Kỷ yếu châu Á (Journal asiatique) thì Lục Vân Tiên chưa từng được khắc in: “Truyện thơ này, hay nói đúng hơn, truyện truyền thuyết này đã được sáng tác bằng tiếng nói của người bình dân, chưa bao giờ được in thành bản; tác phẩm lưu truyền đến ngày nay với những đoạn chép tay bằng thứ chữ riêng, kiểu chữ Trung Hoa mà dân tộc An Nam dùng” (Vũ Đình Liên dịch, in trong Nguyễn Đình Chiểu, 1976, tr.319). Bản in đầu tiên là bản do Duy Minh Thị đính chính, in ở Quảng Đông năm 1865. Điều này đã được Khuông Việt ghi nhận từ năm năm 1943 trên Nam Kỳ tuần báo số 41 (26/6/1943) số chuyên đề về Nguyễn Đình Chiểu: Lục Vân Tiên, bản in chữ Nôm do Duy Minh Thị sao lục, Tôn Thọ Tường trông nom in, Chợ Lớn, Hiệu sách Quảng Thạnh Nam,1865”. Bản này đã được Nguyễn Quảng Tuân sưu tầm và phiên âm vào năm 2008. Thực ra Quảng Thạnh Nam không in, trên bìa ghi rõ: “Quảng Đông nhai Quảng Thnh Nam phát thụ tức Nhà sách Quảng Thạnh Nam ở phố Quảng Đông (Chợ Lớn) chỉ là nơi phát hành, bán sách, (thụ: bán, trong từ Tiêu thụ), mà nơi khắc in là “Việt tỉnh, Phật trấn, Phước Lộc đại nhai, Bảo Hoa Các tàng bản: Nơi in sách, giữ mộc bản là Bảo Hoa Các, địa chỉ ở phố Phước Lộc, Phật trấn, tỉnh Việt Đông, tức Quảng Đông.  

So sánh các bản Lục Vân Tiên truyện Duy Minh Thị đính chính (từ quyển số 1 đến  quyển số 5), đều giống nhau, giống nhau hoàn toàn từ nhan đề (chữ Nôm) “Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳” cho đến phần ruột, dù là “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ” (quyển số 1), hay “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai” (quyển số 2), “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản” (quyển số 3), “Thiên Bửu Lâu tàng bản” (quyển số 4), “Anh Hoa thư cục tàng bản” (quyển số 5). Giống hoàn toàn cả cái đúng, cái sai, các vết mẻ trên bản khắc. Cụ thể, cả 5 bản đều:  92 trang in không kể bìa; Mỗi trang 12 cột, trên 6 chữ dưới 8 chữ, tổng cộng 2174 câu (lục-bát kể là 2 câu). Những chữ khác biệt với các bản khác và các lỗi sai y như nhau. Ví dụ trang 1: Câu 1: Tây minh 西明 , đúng ra phải: 西銘; Câu 6-7: “Có người ở quận Đông Kinh/ Lục ông chữ đặt phỉ tình yến anh/ Vợ chồng ăn ở hiền lành/ Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền.” . Đa số các bản khác: “Có người ở quận Đông Thành/ Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền”. So sánh thử trang 1 của 3 bản để thấy thực chất nó chỉ là một bản, chỉ khác nhau cái bìa:

20220716 4

Có thể kết luận: Các bản Bảo Hoa Các đều là bản in đầu tiên, do cùng một ván khắc với bản “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ” (quyển số 1), in 1865. Do nhu cầu của độc giả Việt Nam mà sách được nối bản liên tục hàng chục năm, và chỉ thay cái bìa. Nếu như ngày nay thì đây là vụ gian lận thương mại và vi phạm bản quyền nghiêm trọng của Bảo Hoa Các.

Phải đến quyển Lục Vân Tiên truyện “Kim Ngọc Lâu 1874” (quyển số 6) thì mới thực sự là bản khắc mới: Bản Kim Ngọc Lâu có 110 trang in không kể bìa, mỗi trang 10 cột, trên 6 dưới 8 chữ, vẫn giữ tổng cộng 2174 câu. Bản này không phải là “nối bản” mà là tái bản có sửa chữa, tức là khắc ván mới, sửa tất cả các chữ Nôm sai, các chữ Nôm giả tá khó đọc thành chữ Nôm hình thanh dễ hiểu, sửa cả bài thơ Nguyệt Nga thất niêm luật ở câu 222 cho đúng niêm luật hơn. Bản Kim Ngọc Lâu cũng in ở Quảng Đông.

20220716 53. Lục Vân Tiên - phồn bản, giản bản, bản Kinh

Lục Vân Tiên có bản dài trên 2100 câu và có loại ngắn dưới 2100 câu, chênh nhau gần 100 câu. Có thể gọi bản dài là Phồn bản và bản ngắn là Giản bản.

3.1. Lục Vân Tiên phồn bản có 5 dấu hiệu sau:

- Trên 2100 câu, cụ thể là 2174 câu

- Có thơ Nguyệt Nga tặng Vân Tiên (ở câu 222)

- Thầy của Vân Tiên tính giả làm ông Quán để giúp Vân Tiên: 14 câu (câu 439-452)

- Nguyệt Nga gặp lại Vân Tiên, từ giã lão bà về thăm cha: 34 câu (câu 1977-2010)

- Vân Tiên đi thăm thầy, Sở vương gọi về truyền ngôi cho: 82 câu (câu 2093-2174)

Các khác biệt trên chính là đặc điểm của các bản Lục Vân Tiên truyện Duy Minh Thị đính chính: “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ”, “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai”, “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản”, “Thiên Bửu Lâu tàng bản”, “Anh Hoa thư cục tàng bản”, “Kim Ngọc Lâu 1874” (quyển số 1 đến quyển số 6).

3.2. Lục Vân Tiên giản bản

            Điều khác biệt đáng chú nhất giữa phồn bản và giản bản là ở đoạn kết: Phồn bản có đoạn gần 100 câu kể về Lục Vân Tiên khi thắng giặc Ô Qua được vua Sở nhường ngôi. Giản bản thì chỉ đến chỗ Vân Tiên, Nguyệt Nga gặp nhau, Vân Tiên được phong thưởng, hai người lấy nhau “Sanh con sau nối gót lân đời đời” là hết.

            Giản bản có 2 loại:

     - Giản bản Nam Kỳ. Trước nay nói đến bản Nam Kỳ đều nói bản Lục Vân Tiên truyện của Trương Vĩnh Ký 1889, nhưng xem xét kỹ thì bản Trương Vĩnh Ký lại chịu ảnh hưởng chủ yếu từ bản Lục Vân Tiên ca diễn 陸雲僊歌演 của Abel des Michels. So sánh bản Trương Vĩnh Ký 1889 với bản Abel des Michel thì thấy vai trò của Trương Vĩnh Ký không nhiều, sự giản lược cho gọn gàng Lục Vân Tiên không phải sáng tạo của riêng ông mà là tiếp thu từ Abel des Michels. Và Abel lại tiếp thu từ bản Janneau 1873, còn Janneau lại tiếp thu từ bản G.Aubaret 1864. Đến lượt G.Aubaret, có thể ông tiếp thu từ một bản kể nào đó của Đồ Chiểu hay những dị bản trong dân gian. Giản bản Nam từ bản Abel des Michels đã chi phối bản Trương Vĩnh Ký 1889, từ đó chi phối đa số các bản quốc ngữ xuất bản ở Nam Kỳ trước 1945, và cả các bản Bắc từ 1954 đến nay (Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thạch Giang…).

            - Giản bản Bắc Kỳ. Trước nay nói đến bản Bắc Kỳ đều nói bản Tụ Văn Đường 1897, tuy nhiên mọi người không ngờ là hệ bản Bắc Kỳ lại chỉ là phiên bản của giản bản Huế Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳 - Lăng Vân Đường tàng bản, có thể gọi đó là “bản Kinh”.

3.3. Bản Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường: Bản Kinh và là  giản bản Bắc (Huế-Hà Nội)

Như đã nói nhiều tài liệu cho rằng các bản Lục Vân Tiên ở Bắc Kỳ chịu ảnh hưởng bản Tụ Văn Đường 1897 như Nguyễn Thạch Giang viết: “Bản sớm nhất hiện nay chúng ta có là bản Vân Tiên cổ tích tân truyện của hiệu khắc ván Tụ Văn Đường ở phố Hàng Gai, in năm Thành Thái thứ 9 (1897) (…) Bản Vân Tiên cổ tích tân truyện của hiệu khắc ván Liễu Văn Đường in năm Khải Định thứ sáu (1821) đã dựa vào bản của Tụ Văn Đường mà khắc lại, cho nên cả hai bản hầu như không có dị đồng nào đáng kể, hai mà như một vậy”(Nguyễn Đình Chiểu, 1980, tr.77). Tuy nhiên mọi người không ngờ là hệ bản Bắc Kỳ lại chỉ là phiên bản của giản bản Huế, có thể gọi là “bản Kinh” mà khởi đầu là bản Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường tàng bản, khắc in năm Đồng Khánh thứ nhất (1886).

20220716 6

Việc phát hiện ra bản Kinh chính là từ sự phát hiện ra bản truyện tranh Lục Vân Tiên nằm im lìm 112 năm ở Thư viện Viện Pháp (Institute de France) ở Paris. Năm 2016 với sự dày công nghiên cứu của tập thể các nhà nghiên cứu, NXB. Văn hoá Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, NXB.École française d'Extrême-Orient Paris đã cho ra mắt công trình Lục Vân Tiên cổ tích truyện/ Histoire de Lục Vân Tiên/ The story of Lục Vân Tiên, 2 tập với 4 thứ chữ: Nôm, Quốc ngữ, Pháp (bản dịch của Abel des Michel) và Anh.  Trong  bản này có truyện tranh Lục Vân Tiên do một người hoạ sĩ cung đình tên là Lê Đức Trạch vẽ, văn bản Nôm mà ông sử dụng để chép lại là bản Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường tàng bản, khắc in năm Đồng Khánh thứ nhất (1886).

Bản Lục Vân Tiên, Lăng Vân Đường 1886 có lẽ đã ra Bắc, được các phường khắc chữ ở Hàng Gai khắc lại thành các bản: Tụ Văn Đường 1897 (lưu ở Thư viện ĐH Yale), Tụ Văn Đường 1924; Liễu Văn Đường 1916, 1921. Còn bản Bảo Đại 1927 chữ Nôm khắc in rất, gần giống với chữ bản Lăng Vân Đường 1886, cho thấy nguồn gốc của nó chắc vẫn là tiếp tục dòng bản Kinh Lục Vân Tiên ở Huế.

Kết luận

Hiện nay đã tìm được 13 bản Nôm Lục Vân Tiên được khắc in, so với lần kỷ niệm 160 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu vào năm 1982 mới tìm được 9 bản thì nay có thêm 4 bản nữa, trong đó có nhiều bản quan trọng. Trong đó bản “Lục Vân Tiên truyện Duy Minh thị đính chính, Quảng Thạnh Nam phát thụ, Bảo Hoa Các tàng bản” tương truyền Tôn Thọ Tường trông nom, in năm 1865 là bản in sớm nhất, cho đến 1874 không có một bản Lục Vân Tiên chữ Nôm nào được khắc in ở trong nước. Bản Nôm này mở đầu cho truyền bản “Duy Minh thị”, in ở Quảng Đông, với nhiều bản: “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ”, hay “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai”, “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản”, “Thiên Bửu Lâu tàng bản”, “Anh Hoa thư cục tàng bản” giống nhau hoàn toàn phần ruột, thực chất là một bản, chỉ khác nhau cái bìa.

Bản Lục Vân Tiên truyện “Kim Ngọc Lâu 1874” là thuộc truyền bản Duy Minh Thị nói trên được khắc mới, sửa tất cả các lỗi sai, các chữ Nôm giả tá khó đọc thành chữ Nôm hình thanh dễ hiểu. Đây là bản Lục Vân Tiên truyện tốt nhất của truyền bản Duy Minh Thị. 

Lục Vân Tiên có thể chia ra thành phồn bản (2174 câu), giản bản (dưới 2100). Giản bản lại chia thành: Giản bản Nam (Abel des Michels, Trương Vĩnh Ký), Giản bản Bắc (Lăng Vân Đường). Như vậy có thể thấy: các bản Nôm Lục Vân Tiên dù đa dạng, phức tạp đến mấy cũng chỉ có 3 truyền bản:

- Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳-Duy Minh Thị (Phồn bản ): Truyền bản này bao gồm:  “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ”, “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai”, “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản”, “Thiên Bửu Lâu tàng bản”, “Anh Hoa thư cục tàng bản”, “Kim Ngọc Lâu 1874”.

- Lục Vân Tiên ca diễn 陸雲僊歌演- Abel 1883 (Giản bản Nam): Truyền bản này bao gồm: Lục Vân Tiên của Trương Vĩnh Ký 1889 và liên hệ với các bản Pháp-Việt trước đó: Janneau 1873 và Aubaret 1864

- Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường 1886 (Giản bản Bắc): Truyền bản này bao gồm: Tụ Văn Đường 1897, 1924; Liễu Văn Đường 1916, 1921, Bảo Đại 1927.

Đoàn Lê Giang

PGS.TS, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM/ University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM; Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, số 540 tháng 6/2022.

Tài liệu tham khảo

  1. Khuông Việt (1943), “Những bổn Lục Vân Tiên đã xuất bản”, Nam Kỳ tuần báo số 41 (26/6/1943), Sài Gòn
  2. Nguyễn Đình Chiểu (1976), Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
  3. Nguyễn Đình Chiểu (1980), Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải, tập I, NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
  4. Nguyễn Đình Chiểu (2008), Lục Vân Tiên truyện: Bản nôm và bản quốc ngữ cổ nhất, Nguyễn Quảng Tuân phiên âm và chú thích, H.: Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học
  5. Pascal Bourdeaux & Olivier Tessier (2016), Lục Vân Tiên cổ tích truyện/ Histoire de Lục Vân Tiên/ The story of Lục Vân Tiên, NXB. Văn hoá Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, NXB.École française d'Extrême-Orient Paris, tập 2

Ngày 23-11-2021, tại Paris (Pháp), trong phiên họp toàn thể Kỳ họp lần thứ 41 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua danh sách “Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử thế giới niên khóa 2022-2023”.

Trong đó, hồ sơ kỷ niệm 200 năm Ngày sinh nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (sinh ngày 13-5 âm lịch năm Nhâm Ngọ 1822, tức ngày 1-7) của Việt Nam do 4 nước khác cùng đề xuất: Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả các quốc gia. Ông được UNESCO đánh giá là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với tư tưởng yêu nước, thương dân, nhân đạo và yêu hòa bình.

Một cuộc đời gian truân và vượt qua nghịch cảnh  

Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù lấy hiệu Hối Trai, sinh tại quê mẹ là làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc quận 1, TP Hồ Chí Minh). Tổ tiên xa của ông người Kinh Bắc vào sống ở Đàng Trong đã lâu. Cha là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, tỉnh Thừa Thiên, vào Gia Định làm thư lại dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, vợ thứ của ông Nguyễn Đình Huy.

20220705Tiết mục biểu diễn tôn vinh danh nhân Nguyễn Đình Chiểu trong Hội diễn “Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông năm 2022”. Ảnh: HẠNH LINH.

Mặc dù bị mù từ khi trẻ tuổi nhưng Nguyễn Đình Chiểu không chịu đầu hàng số phận. Ông đã cố gắng học tập, vượt qua nghịch cảnh để trở thành thầy giáo dạy chữ cho dân, thầy thuốc chữa bệnh cho dân. Học trò ông trải khắp Sài Gòn, Cần Giuộc, Bến Tre, đông đến hàng mấy nghìn người. Người dân gọi ông bằng tên gọi vừa kính trọng vừa thân thương: Cụ Đồ hay Đồ Chiểu. Triết lý chữa bệnh của ông là chữa bệnh cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu-nghèo. Với ai ông cũng tận tình cứu chữa. Với bệnh nhân quá nghèo, ông chữa miễn phí. Trong “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”, ông viết: “Ăn mày cũng đứa trời sinh/ Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không”.

Nguyễn Đình Chiểu nêu tấm gương sáng về y đức, về đạo đức người thầy và tấm gương một con người vượt qua nghịch cảnh để sống có ích cho đời.

Nhà thơ lớn của nhân dân Việt Nam

Nói đến tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, trước hết phải nói đến truyện thơ Nôm “Lục Vân Tiên”. Tác phẩm viết theo thể lục bát, dài trên dưới 2.100 câu, hoàn thành vào những năm 1851-1853 tại quê mẹ. Đây là một bản trường ca ngợi ca chính nghĩa và những giá trị đạo đức ở đời. Nhân vật chính Lục Vân Tiên phản ánh cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu với những bất hạnh mà ông trải qua: Chuẩn bị vào trường thi thì phải bỏ dở về quê chịu tang mẹ rồi bị bệnh, mù cả hai mắt, bị vị hôn thê từ hôn. Các diễn biến khác của câu chuyện vừa là những cuộc đời, những cảnh đời, vừa là những ước mơ của cá nhân ông và của đông đảo người dân. Có thể thấy, “Lục Vân Tiên” có 4 giá trị nổi bật sau đây:

Thứ nhất, "Lục Vân Tiên" đề cao tình nghĩa ở đời: Tình cha con, tình vợ chồng, tình bạn bè, tình thầy trò... Tình nghĩa chính là căn cốt của tâm hồn Việt Nam, của tính cách Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Đã hiếu nghĩa thì phải như Vân Tiên với cha mẹ, Nguyệt Nga với Kiều công, với Lục ông. Đã yêu thì thủy chung son sắt như Nguyệt Nga với Vân Tiên. Tình bạn bè thì phải hết lòng như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh... 

Thứ hai, "Lục Vân Tiên" đề cao tinh thần nghĩa hiệp, trọng nghĩa khinh tài (tiền). "Lục Vân Tiên" có vẻ như truyện tài tử giai nhân, nhưng người tài tử ở đây không chỉ học giỏi, đậu cao, đàn hay, vẽ giỏi, si tình ngây ngất mà còn phải có tinh thần nghĩa hiệp, biết quên mình giúp dân, giúp nước. Người dân Việt Nam, nhất là người dân Nam Bộ không ai là không thuộc nằm lòng mấy câu thơ: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

Thứ ba, "Lục Vân Tiên" thể hiện ước mơ của người bình dân về công lý trong cuộc sống: Ở hiền gặp lành, kẻ ác phải bị trừng trị. Vân Tiên bị mù mắt, bị từ hôn, nhưng kết thúc truyện chàng thi đậu, lập công lớn, mắt chàng sáng ra và chàng được đền bù bằng tình yêu một đời của người con gái đẹp người, đẹp nết Nguyệt Nga. Vị hôn thê trắc nết, tham phú phụ bần Võ Thể Loan; Trịnh Hâm-kẻ một thời là bạn nhưng ác tâm đố kỵ-dù được chàng tha nhưng trời đất không dung tha, kẻ thì bị cọp tha, kẻ thì bị cá nuốt.  

Thứ tư, "Lục Vân Tiên" là truyện thơ viết bằng chữ Nôm, tức là bằng tiếng mẹ đẻ, thể hiện được tâm tình dân tộc. Dù là người "tắm gội" trong văn chương Hán văn, văn chương cử tử nhưng Nguyễn Đình Chiểu lại không sáng tác bằng chữ Hán, ông chọn chữ Nôm-tiếng Việt-tiếng mẹ đẻ của ông, tiếng nói của “đàn bà con trẻ” để sáng tác. Ông kể chuyện một cách bình dân, dễ hiểu nên được dân chúng dễ dàng đón nhận. Do vậy, truyện "Lục Vân Tiên" có sức ảnh hưởng rất lớn trong nước qua nhiều thế hệ.

Ở Việt Nam, đặc biệt là miền Nam, tác phẩm “Lục Vân Tiên” đã đi vào ca dao, dân ca và trở thành một loại hình diễn xướng đặc biệt là “Nói thơ Vân Tiên”. Nó không giống như đọc thơ, cũng không giống như ngâm thơ mà nằm giữa đọc và ngâm, khi hùng hồn, khi êm dịu, lắng đọng tùy theo ý nghĩa của từng đoạn thơ. Tác phẩm “Lục Vân Tiên” còn đi vào đời sống người dân Việt Nam qua nhiều loại hình nghệ thuật khác hết sức phong phú. "Lục Vân Tiên" được chuyển thể thành tuồng, cải lương, thành kịch nói, nhạc kịch, phim truyện, phim truyền hình...  Trên bình diện thế giới, “Lục Vân Tiên” là tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra ngoại ngữ đầu tiên (1864) và là tác phẩm được dịch nhiều thứ ba trong các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam sau "Truyện Kiều" và thơ Hồ Xuân Hương. Cho đến nay, tác phẩm này được dịch ra 5 thứ tiếng với 11 bản dịch.

Nhà thơ yêu nước, thương dân, yêu hòa bình

Tình cảm nhân đạo, thân dân, yêu hòa bình thể hiện chủ yếu ở văn tế, thơ của Nguyễn Đình Chiểu sáng tác sau khi thực dân Pháp xâm lược. Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là nhà thơ hàng đầu trong dòng văn chương yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19 và trong phong trào chống thực dân của các dân tộc Á-Phi - một phong trào được sự ủng hộ rộng rãi của dư luận tiến bộ trên thế giới, phù hợp với hiến chương Liên hợp quốc, trong đó có tổ chức UNESCO. 

Không trực tiếp đánh giặc bằng súng, gươm, Đồ Chiểu chọn lấy cây bút. Nhà thơ đã ghi lại cả một thời kỳ đau thương và vĩ đại của dân tộc với một thái độ yêu-ghét rõ ràng, đúng đắn để cổ vũ cho cuộc kháng chiến và giữ lấy ngọn lửa yêu nước trong nhân dân.

Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ là một hiện thực rất mới mẻ. Đó là cuộc chiến tranh nhân dân: Cuộc chiến tranh của những người nông dân tự mình đứng lên chống giặc, dưới sự chỉ huy của những lãnh tụ nghĩa binh từ nhân dân mà ra. Thời đại đã đưa người nông dân lên sân khấu chính trị, trở thành nhân vật chính, người nghệ sĩ chỉ có nhiệm vụ nhìn nhận ra hiện thực mới này và phản ánh nó. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu tạo ra hình tượng bất hủ về người nông dân đứng lên chống thực dân Pháp vì nền độc lập trong bài văn bi hùng “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Chưa bao giờ trong văn học nước nhà, người nông dân lại được thể hiện với sức mạnh và vẻ đẹp như thế.

Khi ra trận, người nghĩa dân tự trang bị cho mình bằng những vật dụng quen thuộc hằng ngày: Cái nùi rơm để hút thuốc, con dao phay để làm bếp... Những vật dụng như thế bỗng chốc trở thành vũ khí để chống chọi với “đạn nhỏ, đạn to”, “tàu thiếc, tàu đồng”. Cái gì đã tạo nên những phép thần kỳ ấy? Đó chính là sức mạnh của ý chí con người, của lòng yêu thiết tha quyền tự chủ của dân tộc mình. Chấp nhận đối đầu với vũ khí tối tân, đó là sự lựa chọn tự giác của những người nông dân-một sự lựa chọn quả cảm. Chính tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh phi thường của họ. Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên bức tranh công đồn sinh động và hào hùng: “Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không/ Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có/ Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh...”.

Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với chủ nghĩa nhân đạo, thân dân, với tinh thần yêu hòa bình truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu luôn phản ánh số phận của nhân dân: Nhân dân là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, trong đó Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt chú ý đến phụ nữ, trẻ em-những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội. Những câu văn sau đây thể hiện một tình cảm nhân đạo-nhân văn sâu thẳm: “Phạt cho đến kẻ hèn người khó thâu của quay treo/ Tội chẳng tha con nít đàn bà đốt nhà bắt vật” (Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh).

Yêu nước, thương dân, Nguyễn Đình Chiểu không mơ ước gì hơn là đất nước được hòa bình, dân sống yên ổn. Lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với tinh thần nhân đạo, thương dân, yêu chuộng hòa bình-một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam sẽ sống mãi trong trái tim con người. 

 Nhận định về Nguyễn Đình Chiểu, UNESCO cho rằng: “Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với tư tưởng yêu nước, thương dân, nhân đạo và yêu hòa bình. Ông cũng là một nhà văn hóa lỗi lạc, người đã phổ biến các quan niệm đạođức của Nho giáo về trung thành, hiếu thảo, thủy chung theo triết lý sống của người Việt Nam. Truyện thơ "Lục Vân Tiên" miêu tả đạo đức và lòng khoan dung của con người là một trong những truyện thơ hay nhất trong các tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như: Tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Anh... Mặc dù bị mù lòa, Nguyễn Đình Chiểu vẫn cố gắng trở thành một người thầy giáo đáng ngưỡng mộ và một thầy thuốc có y đức lớn. Dạy chữ và chữa bệnh cho mọi người dân là triết lý sống mà ông theo đuổi suốt đời. Nguyễn Đình Chiểu đã nêu tấm gương về khả năng học tập suốt đời của người khuyết tật mà mọi người trên thế giới có thể noi theo”.

PGS. TS. Đoàn Lê Giang

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh     

Nguồn: Quân đội nhân dân, ngày 01.7.2022.

Thông tin truy cập

61200778
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
1271
8919
61200778

Thành viên trực tuyến

Đang có 186 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website