Phong vị nước Nam trong cốt truyện người trần vào cõi tiên (đối sánh Truyền Kỳ Mạn Lục và Tiễn Đăng Tân Thoại)

 Nguyễn Thành Trung

ABSTRACT

THE VIETNAMESE CHARM IN

THE TYPE OF SECULAR HUMAN BEING’S

ARRIVAL TO DREAM-LAND

BY COMPARISON TRUYỀN KỲ MẠN LỤC (NGUYỄN DỮ)

WITH TIỄN ĐĂNG TÂN THOẠI (CÙ HỰU)

Our article, from comparative angle, makes a study of “Secular human being’s arrival to  dream- land type” in Nguyễn Dữ’s Truyền Kỳ Mạn Lục and Cù Hựu’s Tiễn Đăng Tân Thoại according to purpose of identifying the exchange and change of Vietnamese literature from Chinese’s. So that, this type is generalized into 04 sections including Introducing, Developing, Climax and Ending. Then, we divided this type into 2 groups: love and travel. By means of searching this form through some countries’ literature, our writing seems to figure out that the dephasing of time is the most salient point and is defined as a common pattern in mankind’s awareness. On this base, we focus on the “Secular human being’s arrival to  dream- land type” in comparison between Nguyễn Dữ and Cù Hựu in order to determine the similar and different respects of Truyền Kỳ Mạn Lục and Tiễn Đăng Tân Thoại on some aspects such as character, philosophic thought and inspiration of each nation. We think this is a striking demonstration of cultural, literary interrelation between Vietnam and China in history.

I.DẪN NHẬP

          Một đời lận đận, Cù Hựu (tự Tông Cát) dồn hết tài năng và tâm huyết vào Tiễn Đăng Tân Thoại bộc lộ chí bình sinh và khí khái trong lòng. Không được nhận thức đầy đủ ở quê nhà nhưng tác phẩm lại được ủng hộ nồng nhiệt ở hải ngoại, trong khu vực văn hoá Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,…Thế nên nỗi lòng người mang hùng tâm tráng chí không thoả nguyện đã khơi gợi nhiều suy tư và sáng tác của nhiều lớp thi nhân.

Tuy không bị cuộc đời hắt hủi như nhà văn Trung Hoa thời Minh nhưng Nguyễn Dữ sinh ra phải thời loạn. Giấc mơ thành bại nhuộm hoen đỏ mắt bao anh hùng, nhà văn không muốn viễn vọng điên đảo trong giấc mơ ấy nên cáo quan về quê dùng ngòi bút nhân đạo mà viết nên Truyền Kỳ Mạn Lục nhằm bày tỏ niềm cô phẫn và những điều bất xứng ý.

Hai nhà văn cách xa về không gian và thời gian nhưng ngòi bút văn dĩ tải đạo đã kết nối cái thần trên từng trang viết. Sự tương đồng xuất phát do tiếp thu là điều chắc chắn và phù hợp với xu thế chung của các nền văn hoá, văn học. Tuy nhiên, mỗi con người là một thế giới, tuy cùng thể tướng như chắc chắn khác biệt thể tánh. Vì thế, chúng tôi hướng đến xác định phong vị nước Nam của Truyền Kỳ Mạn Lục trong thế đối sánh với Tiễn Đăng Tân Thoại thể hiện thông qua cốt truyện “Người trần vào cõi tiên. Như vậy, phạm vi tư liệu khảo sát của chúng tôi ngoài Truyền Kỳ Mạn Lục (TKML) và Tiễn Đăng Tân Thoại (TĐTT), còn có cổ tích Việt Nam, thi ca cổ điển Nhật Bản và một số dân tộc khác. Đối tượng chúng tôi hướng vào là cốt truyện người trần vào cõi tiên được tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp như so sánh loại hình, thi pháp, lịch sử - văn hóa.

          Chúng tôi xuất phát với giả thuyết là phong vị nước Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục thể hiện ở những khác biệt đối sánh với Trung Quốc (chấp nhận sự ảnh hưởng của Trung quốc nói chung và Cù Hựu nói riêng); như vậy không đơn thuần là chỉ ra điểm dị biệt của Việt Nam mà xác định đặc trưng riêng của Trung Quốc cũng hỗ trợ phân lập khái niệm phong vị nước Nam. Phong vị nước Nam, như vậy, thể hiện trên nhiều cấp độ: văn hóa quốc gia, cộng đồng, địa phương… hoặc ở phong cách tác giả.


II. NỘI DUNG

1. Giới thuyết cốt truyện người trần vào cõi tiên

Cốt truyện, hay còn gọi là type được hiểu như hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học… Cốt truyện có hai chức năng chính là bộc lộ tính cách đồng thời thể hiện mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa các tính cách (tính cách của Từ Thức hiền hậu, ngạc nhiên luôn băn khoăn và hối tiếc,…). Bên cạnh đó, cốt truyện tái hiện các xung đột xã hội, phản ánh chân thực hiện thực đời sống (đó là một Từ Thức chán ghét cảnh luồn cúi quan trường (TKML), Thái học Đào Thượng Xá luận chính (về các nhân vật như Trần Nghi Trung, Gia Huyền Ông, Trương Sĩ Kiệt, Lý Đình Chi) trong Thiên Thai phỏng ẩn lục,…(TĐTT))

Như vậy, cốt truyện là một hệ thống phức tạp, kết tinh truyền thống văn học dân tộc, phản ánh thành tựu văn học mỗi thời kỳ lịch sử, thể hiện tài năng phong cách nhà văn. Cơ sở chung của mọi cốt truyện, loại truyện là những xung đột xã hội được khúc xạ qua các xung đột nhân cách. Đây là cơ sở khách quan, là đối tượng nhận thức phản ánh của nhà văn về cuộc sống (phong thái phiêu diêu, ẩn dật, tìm chốn đào nguyên để sống thanh nhàn chính là hệ hình tư tưởng của tầng lớp sĩ tử, trí thức một thời). Tuy nhiên cốt truyện hay loại truyện nói chung và kiểu người trần vào cõi tiên không phải chỉ là sự sao chụp đời sống hiện thực mà đã trở thành một mô hình trở đi trở lại trong quan niệm về thế giới và nhân sinh mang dấu ấn sáng tạo của các tác giả.

 

1.1. Khái lược về kiểu truyện người trần vào cõi tiên

Tuy vẫn tồn tại những tiểu dị nhưng kiểu truyện này có thể khái quát thành 04 phần: trình bày, khai đoạn, phát triển và kết thúc.

Trình bày

Giới thiệu sơ lược về nhân vật, chủ yếu là những điểm khả dĩ dẫn dắt cuộc du hành đến cõi tiên (ở đây thường là đức hạnh còn nhân vật tài năng sẽ thuộc dạng mời xuống long cung, đền miếu hội ngộ thơ phú)

Khai đoạn

Cơ duyên đến cõi tiên (tự nhiên lạc lối hay có người dẫn đường)

Phát triển

Vui thỏa và thưởng thức cõi tiên nhưng vẫn nhớ về trần thế

Kết thúc

Quay lại trần thế và không sao về lại cõi tiên nhưng vẫn mang dấu ấn cõi tiên trong đời

Tuy chưa có cứ liệu khảo sát, song có thể bước đầu đoán định dạng cốt truyện này phát xuất từ hệ thống tiên thoại Trung Quốc; đồng thời thông qua văn bản khảo sát chúng tôi nhận ra dấu ấn tư tưởng Lão Tử trong cốt truyện người trần vào cõi tiên. Tuy nhiên, Nguyễn Dữ đã chịu ảnh hưởng và tiếp biến một cách đặc sắc, điều này dẫn đến phong vị nước Nam thể hiện khá đặc biệt trong tác phẩm Truyền Kỳ Mạn Lục mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.

Trước hết, chúng tôi thiết nghĩ cần phân lập cốt truyện người trần vào cõi tiên khỏi kiểu cốt truyện người trần được mời xuống những vùng đất phi nhân gian (nơi của những con người siêu thoát, tiên thần) bao gồm hai dạng như sau:

Thứ nhất, cốt truyện đề thơ, mời đi gặp mặt (thủy cung, miếu đền thiêng liêng có hiện diện của thần tiên) thông qua đó, chúng tôi loại những truyện Thủy cung khách hội lục, Long đường linh hội lục (TĐTT); hay Hạng Vương từ ký (TKML), ra khỏi phạm vi khảo sát.

Thứ hai, cốt truyện xử kiện, người trần bị giải xuống hoặc yêu cầu phải vào cõi phi nhân chịu xử kiện. Lệnh Hồ Sinh minh mộng lục, Vĩnh Châu dã miếu ký (TĐTT), hay Long Đình đối tụng lục, Tản Viên Từ phán sự lục (TKML), do vậy, không nằm trong phạm vi bài viết của chúng tôi.

          Như vậy, thông qua các giới thuyết nêu trên, chúng tôi xác định đối tượng gồm các tác phẩm được khảo sát như: Từ Thức tiên hôn lục, Phạm Tử Hư du thiên tào lục thuộc Truyền Kỳ Mạn Lục. (trong đối sánh Tam Sơn Phúc địa chí (Nguyễn Tự Thực), Thiên Thai phỏng ẩn lục (Từ Dật), Giám Hồ dạ phiếm ký (Thành Lệnh Ngôn) của Tiễn Đăng Tân Thoại)

 

1.2. Loại hình cốt truyện người trần vào cõi tiên

Căn cứ vào tiêu chí của truyền kỳ Việt Nam, chúng tôi phân định loại hình cốt truyện này thành hai nhóm: tình duyên và du ngoạn.

1.2.1. Tình duyên

Ở nhóm này, chúng tôi dặc biệt lưu ý đến Từ Thức tiên hôn lục (TKML) trong mối quan hệ với Truyện Từ Thức- cổ tích Việt Nam và Trường ca Urashima của Nhật Bản. Đây là dạng đặc sắc nhất, kết tinh giá trị nội dung và nghệ thuật cao. Tiễn Đăng Tân Thoại không thấy xuất hiện dạng này. Nếu hệ hình tình ái trong truyện truyền kỳ được khái quát thành ba dạng: Người lấy tiên, người sống chung với hồn phách, người sống chung với tinh cây cỏ thì do phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ khảo sát dạng thứ nhất người trần lấy vợ tiên. Trong dạng này, tác giả Đinh Phan Cẩm Vân xác định: Những truyện về thần tiên của Trung Quốc chủ yếu để bộc lộ cảm hứng siêu thoát, chủ yếu là nam phàm lạc vào cõi tiên ít có trường hợp nữ tiên giáng trần như trong truyền kỳ Việt Nam. Motip người trần lấy tiên trong truyền kỳ Việt Nam phát triển theo chiều hướng riêng. Motip này có trong các truyện: Từ Thức lấy vợ tiên (Nguyễn Dữ), Truyện nữ thần ở Vân Cát, Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu ( Truyền kỳ tân phả- Đoàn Thị Điểm), Một dòng chữ lấy được gái thần (Thánh Tông di thảo). Ở 4 truyện trên đều là các nữ tiên giáng trần  kết duyên cùng với nam phàm. Riêng Từ Thức lấy vợ tiên vừa có nữ tiên giáng trần vừa có nam phàm lạc vào cõi tiên. Các truyện trên đều có điểm chung là nhấn mạnh khía cạnh đời thường ở các tiên nữ. Truyền kỳ Việt Nam có xu hướng trần tục hóa thần tiên. Với xu hướng trần tục hóa thần tiên nên những mối lương duyên của các tiên nữ và người trần thế thường mang tới những hạnh phúc đời thường...[10] Đây là gợi ý quý giá cho chúng tôi tiến hành khảo sát và đúc kết thành những luận điểm sau:

Thứ nhất, trong Manyoshu (Vạn Diệp tập)- thế kỷ thứ VIII- có câu chuyện chàng đánh cá Urashima, vào ngày sương mù mùa xuân chàng đánh cá trên biển gặp và kết hôn cùng công chúa thủy cung, sống với nhau hạnh phúc, nàng đưa chàng chiếc hộp và dặn đừng mở khi chàng đòi về nhà. Định mệnh đã đến:

…Khói trắng làm mây bay về biển

về nơi có bóng tiên

khói trắng bay bay mãi

Chàng đuổi theo sợ hãi

Vẫy loạn tay kêu gào

Và ngã lăn trên đất

Lăn xuống nghìn thương đau

Tóc xanh chàng phút chốc

Trở nên trắng một màu

Làn da sao nhăn nhúm

Hơi thở chợt gầy hao

Chàng nằm đó

Thân xác lạnh bao giờ… [3:54-55]

Phong vị Nhật bản thể hiện rõ ở nhân thân người trần: chàng trai đánh cá. Đây là tâm thức một đất nước bao quanh bởi đại dương mênh mông và vì thế cõi tiên không nơi nào khác hơn là đại dương. Việt Nam cũng vậy, dấu ấn biển thể hiện trong cửa bể Thần Phù (Từ Thức tiên hôn lục) hiện lên một hòn đảo, trong khi cõi tiên của Trung Quốc chủ yếu là núi hoặc một vùng đất thấp (Tam Sơn phúc địa chí), điều này xuất phát từ cảm thức đất đai rộng lớn; hay trên sông hồ- tâm thức gắn liền với những dòng sông- cái nôi văn minh Hoàng Hà, Trường Giang của Trung Hoa.

Thứ hai, có thể khảo sát đối sánh truyền kỳ của Nguyễn Dữ với truyền thuyết dân gian địa phương Việt nam: chuyện Từ Thức từ truyện cổ tích (Trần Ích Nguyên từng dẫn giải nguồn gốc thơ ca, chứng minh Từ Thức và Giáng Hương có căn cứ lịch sử từ thư tịch, thơ văn cổ [7:210- 211]). Đây là điểm chứng minh phong vị nước Nam của tác phẩm độc lập với Trung Quốc, điểm này thể hiện khá rõ bởi Cù Hựu không có một cốt truyện hoàn chỉnh về nhân vật loại hình Từ Thức mà chỉ rải rác những dạng người lấy tiên, lấy hồn, lấy tinh cây cỏ lẩn quất trong những tác phẩm người lạc và cõi tiên, đối với Cù Hựu đây là hai dạng truyện chưa xuyên thấm vào nhau.

Thông qua khảo sát song chiếu với mẫu truyện cổ tích Từ Thức lấy vợ tiên của Việt nam, chúng tôi rút ra một số đặc điểm như sau:

Tác giả Nguyễn Dữ đã tuân thủ khá chặt chẽ kiểu truyện cổ tích của dân tộc, thông qua việc giữ nguyên kết cấu, tên tuổi nhân vật, thậm chí là nơi chốn, địa điểm xảy ra câu chuyện (Từ Thức làm quan ở Tiên Du, Bắc Ninh, thấy núi tiên ở cửa Thần Phù,…) đồng thời đan kết thời gian nghệ thuật thuộc triều đại Việt Nam (Quang Thái: niên hiệu Trần Thuận Tông, từ 1388-1398).

Điểm riêng của Nguyễn Dữ chính là tiếp thu văn học dân gian, truyền miệng chuyển thành văn viết và nhuận sắc thêm cho các đoạn đối đáp đậm tính văn chương- bổ sung 10 bài thơ tả cảnh tình bốn mùa xoay chuyển. Có thể đối sánh để thấy sự khác biệt giữa bản truyện dân gian và bản viết nhuận sắc của tác giả:

Truyện Từ Thức [5]

Từ Thức tiên hôn lục [1]

Phu nhân cười, rồi nói:

- Ông biết đâu được chốn này. Ðây là hang thứ sáu trong ba mươi sáu động núi Phi Lai, tôi là Ngụy phu nhân, địa tiên núi Nam Nhạc. Vì thấy ông có cao nghĩa, nên mới mời đến chơi. [5:112]

Bà tiên cười bảo:

- Chàng biết sao được. Đây là núi Phù Lai, một động tiên thứ 6 trong 36 động, bồng bềnh ở ngoài bể cả, dưới không có bám bíu, như hai núi La Phù tan hợp theo với sóng rợn, mà tôi tức là địa tiên ở Nam nhạc là Ngụy phu nhân. Vì thấy chàng là người cao nghĩa sẵn lòng cứu giúp sự nguy khốn cho người, nên mới dám làm phiền mời chàng đến đây.

Từ Thức ở được chừng một năm, có ý nhớ nhà, nói với Giáng Hương rằng:

- Tôi đi xa nhà đã lâu, lắm lúc nhớ quê cũ, muốn về thăm một chút. [5:113]

Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:

- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.

Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:

- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?

Tác giả thêm vào 10 bài thơ vịnh cảnh tả tình và một bài thơ đề ở cửa non tiên, đây chính là điểm đầu tư của tác giả làm tăng tính nghệ thuật thông qua thơ phú với tư cách là dạng phổ biến của văn chương bác học Trung đại đồng thời khắc họa tư tưởng, tình cảm và tài năng của nhân vật chính cụ thể hơn truyện dân gian. Đến đây thì tác giả bắt đầu mang dáng dấp của văn nhân thuộc nền văn hóa Hán học.

Bên cạnh đó, Nguyễn Dữ đan cài vào đoạn đối đáp và thể hiện tâm tư của các vị tiên không vừa lòng vì bị người trần thêu dệt, đoạn này là sự thêm thắt nội dung và mối quan hệ với Giám Hồ dạ phiếm ký (Thành Lệnh Ngôn được Chức Nữ mời đến để rửa oan cho mình) là khá rõ.

Đặc điểm đáng chú ý nhất của dạng hôn sự tiên trần mà Nguyễn Dữ thể hiện là cảm nhận thời gian lệch pha giữa cõi tiên và cõi trần. Quan niệm Trung Quốc có lưu ý đến điểm này nhưng hầu như Cù Hựu không thể hiện trong tác phẩm. Vậy liệu có thể chứng minh đây là phong vị nước Nam? Thật ra đây là cảm thức chung của nhân loại. Có thể tìm thấy nhiều dẫn chứng như: Honi M'agel trong truyện cổ Do Thái đã từng hỏi một người rằng sao phải trồng cây carob vì phải mất đến 70 nó mới trưởng thành, thế thì không thể nào được lợi từ cây anh trồng cả. Nói rồi ông ngủ say và bị đất đá vùi lấp 70 năm sau vẫn nguyên vẹn nét mặt và vóc dáng. Ông thấy cây carob trưởng thành, vì không ai tin ông là Honi M’agel nên ông nguyện cầu và Thượng đế đưa ông lên trời (Một điểm thú vị là chúng tôi ngờ rằng câu chuyện này có liên quan đến Rip Vanwinkle của Washington Irving vì Honi mang nghĩa là cái vòng, Rip cũng vậy).

Đảo Orney (Ireland) cũng có câu chuyện người say đến một nơi lạ chơi đàn hai giờ sau đó về đến nhà đã là 50 năm. Hay câu chuyện Niamh và Oisin cùng chủ đề- Oisin yêu Niamh nên cùng cô đến vùng đất trẻ mãi bằng con ngựa trắng, nhưng anh muốn về thăm quê nên người vợ nhắc chồng không được rời lưng ngựa. Trên đường về do giúp một nhóm người lăn tảng đá to giữa đường nên té xuống ngựa và trước cặp mắt mọi người anh già cỗi đi thành một ông lão râu tóc bạc phơ. Ở Châu Âu, Diogenes Laertius- triết gia nửa đầu thế kỷ III cũng kể câu chuyện của Epimenides ngủ vùi trong một cái hang 50 năm và khi thức dậy ông già đi bằng đúng thời gian mà mình đã ngủ trong tác phẩm On the Lives, Opinions, and Sayings of Famous Philosophers. Hay Ephesus từng kể câu chuyện một vị thánh Thiên Chúa giáo nấp trong hang động trốn tránh sự truy đuổi của quân La Mã tỉnh dậy sau một thế kỷ mới biết rằng Thiên Chúa giáo thành quốc giáo của đế quốc hùng mạnh này tự lâu rồi…

          Như vậy, cảm thức về thời gian luôn là câu hỏi lớn của con người, thế nên dấu ấn này đậm trong triết học lẫn văn học, văn hóa. Nỗi lo sợ thời gian chính là nguyên ủy sâu xa nhất tạo nên cảm thức lệch thời gian trong cõi khác: có thể là mơ, là hang động... So sánh với các tác phẩm kể trên có thể nhận ra rằng chỉ có truyện cổ tích của Ireland xác định vùng đất tình yêu không bao giờ già, nhưng họ chưa bao giờ xem đó là cõi tiên chỉ đơn thuần là cõi Tir Na nOg- vùng đất của những người bất lão. Còn lại các dẫn chứng khác phần lớn gắn với một không gian nhỏ hơn, đời thường hơn. Chúng tôi sẽ lý  giải điều này ở phần sau khi đối sánh với cõi tiên của Trung Hoa. Tóm lại, cảm thức thời gian ám ảnh con người để nẩy sinh độ lệch pha giữa những không gian khác biệt, Nguyễn Dữ lồng vào chuyện tình yêu để khắc họa rõ hơn nỗi tiếc nuối và tình trạng phân thân, tâm hồn khát vọng của con người, nửa ở bên này, nửa ở bên kia, nửa đòi vĩnh cửu, nửa muốn vô thường của Từ Thức, Urashima,…

 

1.2.2. Du ngoạn

          Kiểu này gần với dạng lạc lối, bất ngờ vào cõi tiên, bởi thế có thể nhận ra phong vị nước Nam thông qua khảo sát Phạm Tử hư du thiên tào lục (đối sánh với Phạm Tử Hư sự sư truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái [7:204] hay so sánh với truyền kỳ Trung Quốc của Cù Hựu gồm Tam Sơn Phúc địa chí (Nguyễn Tự Thực), Thiên Thai phỏng ẩn lục (Từ Dật), Giám Hồ dạ phiếm ký (Thành Lệnh Ngôn), Phú quý phát tích chi chí (Hà Hữu Nhân) và Tu văn xá nhân truyện (Hạ Nhan).

          Thứ nhất, đối sánh với truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái, có thể thấy tư tưởng và ý thức kẻ sĩ đến Nguyễn Dữ đã thể hiện rõ hơn. Nếu Lĩnh Nam chích quái thể hiện rõ sự giúp đỡ của Công Trạm với Tử Hư thông qua việc tranh luận với Nam Tào Bắc Đẩu để học trò mình đỗ đạt, sau đó là con đường tiến thân trên quan trường của Tử Hư được vẽ ra tựa như một bản thần phổ. Trong khi đó Phạm Tử Hư của Nguyễn Dữ lại hướng vào việc du ngoạn cõi tiên nhiều hơn. Điều này một lần nữa khẳng định thái độ bất mãn thời cuộc và đoạn tuyệt công danh của Nguyễn Dữ trước cảnh hiện thực rối ren, quan trường nhiễu loạn. Phong vị nước Nam đương nhiên cũng thể hiện ở danh thắng nước Việt như Hồ Tây, huyện Cẩm Giàng,…

          Thứ hai, đối sánh với nhóm truyện của Cù Hựu, có thể thấy những điểm khác biệt tạo thành phong vị nước Nam cho truyện của Nguyễn Dữ.

Trước hết, nhóm truyện có đề cập đến một cõi tiên, một cõi phi trần bao gồm: Tam Sơn Phúc địa chí (Nguyễn Tự Thực), Thiên Thai phỏng ẩn lục (Từ Dật), Giám Hồ dạ phiếm ký (Thành Lệnh Ngôn). Đối sánh nhóm truyện này có thể thấy được sự phụ thuộc, quy hướng với mức độ khác nhau đến cõi tiên của hai dân tộc. Nếu như Nguyễn Tự Thực nhờ đến cõi đất Tam Sơn nên biết được nhiều điều họa phúc mà thay đổi cuộc đời, Từ Dật đến Thiên thai mà vẫn luôn mong trở lại, Thành Lệnh Ngôn nhờ từng đến cung Quảng Hằng thụ đắc nhiều chuyện và dốc chí tu hành… thì với cõi thiên tào mà Phạm Tử Hư đến, tác giả nhận định rằng:

“Còn đoạn lên thiên tào, hoặc có, hoặc không hà tất phải gạn gùng cho đúng mực”

Tác giả, hay nói đúng hơn là tâm thức người Việt không quá coi nặng chuyện du tiên hay mong bám víu lấy nơi kỳ ảo mà chủ yếu là đề cao cái trung hậu hiếu nghĩa ở đời. Những gì thấy trên trời giúp con người sống tốt hơn ở trần thế mà thôi.

Qua đây, Nguyễn Dữ còn thể hiện được tinh thần tự tôn dân tộc bằng việc tôn xưng hàng loạt danh nhân nước Việt như Tô Hiến Thành và Chu Văn An nổi bật lên trong số danh thần đời Hán đời Đường trong Cửa Nho thần.

Thứ đến, nhóm truyện đề cập gián tiếp đến cõi phi trần, nhưng Nguyễn Dữ chủ yếu ảnh hưởng dạng này ở kiểu cõi phi nhân giao tiếp và giúp đỡ cõi nhân gian gồm Phú quý phát tích chi chí (Hà Hữu Nhân), Tu văn xá nhân truyện (Hạ Nhan). Các nhân vật trong truyện Cù Hựu được những đối tượng từ cõi âm giúp đỡ báo trước việc cát hung. Tuy nhiên nhân vật phù trợ trong Phú quý phát tích chi chí thì mơ hồ ở chữ phán quan, Hạ Nhan thì vì tình bạn bè và cũng muốn thơ văn mình được ấn tống nên giúp đỡ… Tuy cũng tương đồng nhưng mức độ âm trợ dương phù trong truyện Nguyễn Dữ rõ nét hơn (tuy trường hợp này vẫn mờ hơn những truyện khác có xuất hiện Trưng Vương, Thánh Gióng, Vũ Thị Thiết…): Người thầy là Dương trạm khi sống giúp đỡ học trò thành tài thì khi chết được giữ chức cao, vì cảm nghĩa mà giúp đưa học trò lên thiên tào học hỏi (chứ không đấu khẩu để giúp anh đạt công danh); sự giúp đỡ phù trợ của Nguyễn Dữ vì thế công bằng và mang tính tự chủ cá nhân và đậm nét tâm linh người Việt.

2. Đối sánh cốt truyện người trần vào cõi tiên

 2.1. Quá trình tiếp thu

Thứ nhất, có thể nhận ra điểm chung giữa Cù Hựu và Nguyễn Dữ thể hiện ở việc xác định motif nam giới lạc vào cõi tiên, hiếm thấy trường hợp ngược lại. Thường thì nữ giới là tiên giáng xuống cõi trần để sống hạnh phúc, trải sinh lão bệnh tử và gắn bó với người trần, đó là ước mơ bình dị và chân thực của dân gian. Việc nhân vật nam lạc vào cõi tiên có thể được lý giải bởi tính du ký, du hành, thám hiểm được gắn với nam tính. Điều này cũng có thể gắn với tư tưởng trọng nam, nhấn mạnh chí hồ thỉ tang bồng theo truyền thống khu vực văn hoá Hán quy định.

Thứ hai, chấp nhận việc Nguyễn Dữ tiếp nhận và tiếp thu Cù Hựu không có nghĩa là phủ định giá trị Truyền kỳ Mạn Lục hay phong vị nước nam. Bởi, tiếp thu là quá trình chung, con đường hấp thụ tinh hoa trong văn học là phổ biến và biện chứng.

Trước hết, phía Cù Hựu, bản mẫu của ông có thể dò đến tận Đào Hoa Nguyên Ký trong Đào Uyên Minh Tập, bộc lộ sự tương tự về đề tài, kết cấu lẫn câu chữ trong Thiên Thai phỏng ẩn lục. Cù Hựu mô phỏng chí quái truyền kỳ- tiếp thu Đào Hoa Nguyên Ký, ngoài ra còn tiếp thu truyện thời Tấn Đường mà thoát thai hoán cốt, đó là cách tiếp nối người trước gợi mở người sau (chữ của Trần Ích Nguyên); ngoài ra ông cũng học tập từ từ thơ văn, truyện ký, rõ nhất là trong truyện Giám Hồ dạ phiếm ký đậm hơi hướng Từ Bốn Mùa của Tô Đông Pha. Để làm phong phú hơn cho tác phẩm truyền kỳ của mình, Cù Hựu còn ghi chép truyền thuyết dân gian địa phương như trong Giám Hồ dạ phiếm ký (về việc giải oan cho Chức Nữ).

Thứ đến, dễ dàng nhận ra dấu ấn của Tiễn Đăng Tân Thoại trong sáng tác của Nguyễn Dữ. Đó có thể là ảnh hưởng “thuật nhi bất tác” của thánh nhân xưa nhưng cũng là một tiếp thu trân trọng tiền nhân. Tuy vậy, Nguyễn Dữ còn cải biên thần thoại chí quái Việt Nam và đưa vào Truyền Kỳ Mạn Lục tạo nên một phong vị nước Nam cần được khẳng định, tiêu biểu là những mẫu truyện Phạm Tử Hư du tiên tào lục được học tập từ Phạm Tử Hư sự sư truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái. Ngoài ra, Truyền kỳ mạn lục còn dung hợp cả các truyền thuyết dân gian địa phương Việt Nam như truyện Từ Thức tiên hôn lục có nguồn gốc từ truyện cổ tích (Trần Ích Nguyên đã chứng minh rất rõ về nguồn gốc thơ ca, đồng thời chứng minh Từ Thức và Giáng Hương có căn cứ lịch sử).

Như vậy, không thể khẳng định Nguyễn Dữ sao chép tác phẩm của Cù Hựu mà tất yếu phải thừa nhận điểm tương đồng là xu thế chung còn những khác biệt chính là phong vị nước nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục. Vấn đề là cần so sánh để chỉ ra ảnh hưởng, tác động và thông qua đó là rõ đặc sắc của cốt truyện người trần vào cõi tiên của phương Nam (Việt Nam) lẫn đất Bắc (Trung Quốc).

 

2.2. Hành trình tiếp biến

          Từ tiểu sử tác giả, những trải nghiệm cá nhân nhà văn, chúng tôi bước đầu xác định những điểm khác biệt trong mục tiêu và tính chất sáng tác. Nguyễn Dữ sống thời cuối Lê đầu nhà Mạc, khi cha con Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh tiếm ngôi nhà Lê gây ra cảnh nhiễu nhương loạn lạc, yêu ma, chính trị rối ren. Tựu trung, tất cả những vấn đề trên cho thấy Truyền kỳ Mạn Lục ra đời vào khoảng thời gian 1509 – 1547 trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam khủng hoảng trầm trọng. Nguyễn Dữ sáng tác để ký thác tâm sự thời thế và tìm tri âm.

Cù Hựu sáng tác Tiễn đăng tân thoại ở thời trai trẻ trong hoàn cảnh đất nước hưng thịnh triều Minh (trước Nguyễn Dữ trên dưới 600 năm), kinh tế chính trị phát triển nhưng văn chương bị kiểm duyệt nghiêm ngặt. Vì thế ông sáng tác để khuây khoả nỗi buồn của cá nhân trong vòng kiềm toả văn chương cho thoả nỗi lòng bị cuộc đời và quan trường vùi dập.

2.2.1. Nhân vật

Truyền Kỳ Mạn Lục đề cập đến con người Việt Nam, liên hệ sự việc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, vì thế mà có thể kết luận rằng phong vị nước nam rất nồng đậm (Trần Ích Nguyên), phần trên đã chứng minh rõ. Về địa danh, về tên nhân vật, không gian văn hóa và thời gian lịch sử,… vị tất không cần nhắc đến.

Có thể lưu ý đến đoạn trữ tình ngoại đề trong Từ Thức tiên hôn lục, nhận xét của Nguyễn Dữ thể hiện rõ nhất quan điểm của riêng tác giả: Than ôi, nói chuyện quái sợ loạn chuyện thường, cho nên thánh hiền không nói. Nhưng việc Từ Thức lấy vợ tiên, cho là thực không ư ? Chưa hẳn là không; Cho là thực có ư? Chưa hẳn là có. Có không lờ mờ, câu chuyện tựa hồ quái đản. Nhưng có âm đức thì tất có dương báo, cũng là lẽ thường. Những bậc quân tử sau này khi để mắt đến sẽ liệu mà thêm bớt, bỏ chỗ quái mà để chỗ thường thì phỏng có gì là hại.

Tác giả chỉ rõ là bản chất cốt truyện, câu chuyện người trần vào cõi tiên có không lờ mờ, quái đản… nhưng vấn đề là cần bỏ chỗ quái để chỗ thường, chính là giữ lại cái tâm ý nhà văn, hiện thực xã hội. Một Từ Thức cáo quan tránh cuộc đời nhiễu nhương hoạn lộ gian truân để vui thú với thiên nhiên- đây chính là hiện thực xã hội Việt Nam thời cuối Lê đầu Mạc. Vấn đề hiện thực xã hội, như vậy càng khẳng định phong vị nước Nam trong Truyền kỳ mạn lục với cốt truyện người trần vào cõi tiên.

2.2.2. Tư tưởng triết học

Thứ nhất, chúng tôi bàn về căn nguyên đến cõi tiên và con người được đến cõi tiên.

Trần Ích Nguyên từ trang 250 đến 251 [7] trong tác phẩm khảo cứu của mình đã chỉ ra tư tưởng đả phá đạo Phật ngay trong văn bản của Nguyễn Dữ như Long đình đối tụng lục, Đào Thị nghiệp oan ký, Đông Triều phế tự truyện… tuy nhiên theo chúng tôi dấu ấn Phật giáo không chỉ ở hình thức mà ăn đậm vào tư duy con người Việt Nam hình thành cách sống và cả một lối suy nghĩ. Cái nhân quả ấy đã thâm nhập vào lối tư duy của người Việt Nam như một quy luật chung nhất của vũ trụ con người và xã hội. Thuyết nhân quả (samsara) thể hiện trong mọi khía cạnh đời sống người Việt, trong ca dao tục ngữ, trong lời ăn nếp sống,…

Bởi thế, Từ Thức và Phạm Tử Hư của Việt Nam thường mang đậm tính nhân quả hơn, cái quả có được cơ duyên vào cõi tiên là do cái nhân công đức tích lũy từ trước: Từ Thức do cứu Giáng Hương, Phạm Tử Hư do có hiếu nghĩa với thầy. Như vậy, Việt Nam là chứng tá cho sự dung hợp và hòa kết giữa tam giáo Nho Phật Đạo truyền đến chủ yếu từ Trung Hoa, chữ Bụt của Phật mang nghĩa Tiên của dân gian là vì thế. Như vậy, nếu cần đối sánh thì tư tưởng triết học ẩn trong cốt truyện người trần vào cõi tiên của Nguyễn Dữ đậm chất Phật hơn.

Trong khi đó, Từ Dật (Thăm người ở chốn Thiên Thai) và Thành Lệnh Ngôn (Đêm chơi thuyền trên Giám Hồ) (TĐTT) thì việc gặp tiên chủ yếu được gắn với thú tiêu dao, rong chơi phần lớn dẫn đến duyên kỳ ngộ trùng hợp- đây chính là cốt lõi của đạo tu tiên- tư tưởng Lão Trang. Đặc biệt trong tác phẩm của Tông Cát rất dễ nhận ra hình ảnh và con đường đạt đạo của Đạo giáo:“Hai chục năm sau có người gặp Lệnh Ngôn ở núi Ngọc Tứ, thấy sắc mặt hồng hào, hai mắt sáng trong, đội mũ vàng mặc áo cầu bằng vải thì vái mà hỏi nhưng đã cưỡi gió mà đi, nhanh như bay, đuổi theo không kịp” tương hợp với dấu ấn Tiên theo cách diễn đạt của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: Như đứa trẻ mới sinh, chưa biết cười; rũ rượi mà đi như không có nhà để về [4:193][1]. Bởi thế người Trung Quốc luôn hướng vào cõi tiên, và đây cũng theo đúng tinh thần Phản Phục (反-復) của Lão Tử. Bản chất của Đạo theo Lão Tử trong chương 25 Đạo Đức Kinh: Lớn (vô cùng) thì lưu hành (không ngừng), lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về (qui căn)[2], trở về với cái ban đầu 復歸於樸 - phục qui ư phác [4:206]. Người ta phải quay về cái chất phác nguyên ủy, phải ra đi vào núi sâu, phải tích cực hướng về cõi tiên như cứu cánh. Người Việt lại muốn gắn với cõi trần bởi Phật thành đạo phải ở cõi trần, Bồ Tát phác nguyện phải cứu giúp trần gian bằng thuyền từ, trần gian chính là nơi rèn luyện thử thách và tu chứng quả; lẽ khác Chúng sinh giai phật vị thành (Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới)[3] thì không cần tìm đâu cảnh tiên ở chốn xa nào cả.

          Thứ hai, các lớp hình ảnh và ý nghĩa tác giả bộc lộ có sự khác biệt giữa tư tưởng Phật và Lão khi đối sánh.

Câu đầu tiên Đạo Đức Kinh có viết: Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến; tên mà có thể đặt ra để gọi nó [đạo] thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến[4]. Bởi thế Cù Hượu không bình luận hay nhận xét về đạo lý, bài học sau câu chuyện. Trong khi đó Nguyễn Dữ lại cố gắng giảng giải, chỉ rõ những bài học cho kẻ sĩ, đây chính là tinh thần nhà Phật, biết chúng sinh mê lầm khó cải nhưng vẫn thuyết kinh Adiđà, chỉ cách trì niệm Hồng danh, hay như phác nguyện của Địa Tạng Vương bồ tát: ta không vào địa ngục thì ai vào đây?

Đi vào tinh thần, Lão Tử xác định trong chương 2 Tề Vật Luận bản chất của vạn vật là tương tác: Là vì “có” và “không” sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn và dài làm rõ lẫn nhau; cao và thấp dựa vào nhau; âm và thanh hoà lẫn nhau; trước và sau theo nhau[5]. như vậy là có phân biệt cao thấp, khó dễ, dài ngắn nhưng vẫn chỉ ra mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, thế cho nên con người mới cố gắng tìm về sự giúp đỡ của tiên thánh, cố tìm vào núi để nhận ra đường dây liên hệ với bậc thần tiên để tu tập. Phật học lại xác định khác trong nền tảng Đại Thừa: Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc là không, không là sắc; thọ, tưởng, hành, thức đều như vậy cả. Xá Lợi Phất! Cái gọi là không của các pháp, có nghĩa là không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt...[6] Không có sự phân biệt giữa thân và vật, giữa tiên và trần, giữa sống và chết cũng tức là không cần trì bám lấy cõi tiên nữa.

Bên cạnh đó, Thiên Thai Phỏng Ẩn Lục tả cảnh cộng đồng ở núi Thiên Thai tựa như Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Tiềm: cảnh vật thì đất bằng phẳng trống trải, nhà cửa tề chỉnh, có ruộng tốt, ao đẹp, có loại dâu loại trúc, đường bờ thông nhau, tiếng gà tiếng chó tiếp nhau.  Trong đó những người đi lại trồng trọt làm lụng, đàn ông đàn bà ăn bận đều giống người bên ngoài, từ những người già tóc bạc tới những trẻ để trái đào, đều hớn hở vui vẻ. Người thì quên chuyện đời không thiết thế sự: Họ bảo tổ tiên trốn loạn đời Tần, dắt vợ con và người trong ấp lại chỗ hiểm trở xa xôi này rồi không trở ra nữa; từ đó cách biệt hẳn với người ngoài. Họ lại hỏi bấy giờ là đời nào, vì họ không không biết có đời Hán nữa, nói chi đến đời Ngụy và Tấn. Người đánh cá nhất thiết kể lại đủ cả sự tình, họ nghe rồi đều đau xót, than thở. Những người đứng bên đều mời về nhà mình chơi, đều thết đãi ăn uống. Ở lại chơi vài ngày rồi từ biệt ra về. Trong bọn họ có người dặn: "Ðừng kể cho người ngoài hay làm gì nhé!"[9:162-163]. Đây chính là mô hình nhà nước lý tưởng của Lão Tử: Nước nhỏ dân ít… Các nước láng giềng gần gũi có thể trông thấy nhau, nước này nghe tiếng gà tiếng cho của nước kia, mà nhân dân các nước ấy đến già chết cũng không qua lại với nhau.” [4:274]

Như vậy có thể thấy bên dưới câu chữ của nhà văn Trung Hoa thì dòng mạch ngầm xuyên suốt là Đạo học còn nhà văn Việt Nam là tư tưởng Phật học xuyên thấm trong cách suy nghĩ, hành động và trào lên trên từng trang tác phẩm.

2.2.3. Cảm hứng và vị thế dân tộc

Thông qua khảo sát 04 tác phẩm trên chúng tôi bước đầu có những nhận định sau:

Dân tộc Việt Nam hướng trực tiếp đến cõi tiên (Từ Thức và Phạm Tử Hư) nhưng cuối cùng cũng rơi về trần thế. Người Việt rõ ràng không thuộc về thế giới tiên cảnh, dù họ muốn hay không thì vẫn trở về trần thế, cõi tiên chỉ là một thoáng mộng mơ, một mô hình giải thoát và quên hiện tại trong khoảnh khắc. Điều này thể hiện rõ những ước mơ giải thoát không thành trong ngàn năm bị đô hộ bởi phương bắc, như là chấp nhận thực tại để sống và tiếp tục dệt những giấc mơ khi có cơ hội, người Việt không có khả năng hiện thực cõi tiên do con người tạo ra mà hướng đến cõi cao nhất cõi đã định hình và thành toàn nằm ngoài khả năng của con người.

Trong khi đó, người Trung Hoa lại có sự phân biệt không gian, thế giới tiên và thế giới tiệm cận- xác định ngoại diên cõi tiên. Không gian tiên của Đêm chơi thuyền trên Tây Hồ đã rõ nhưng việc nhân vật vào núi Thiên Thai, cũng như đối chiếu với Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Tiềm đều thấy rõ đây là một cộng đồng con người sống hạnh phúc, việc họ trường thọ có thể là một kết quả của cuộc sống nhàn du quên thế sự.

Người Trung Hoa rõ ràng gần hơn với thế giới tiên, họ không chỉ ước ao mà còn tự mình tác tạo. Đây là vị thế mà người Trung Hoa đạt đến được nhờ tâm thế và hoàn cảnh của đất nước Trung Quốc. Đế vương Trung Hoa muốn trường sinh bất lão, hay tu tiên thường cho mời đạo sĩ về để luyện thuốc chứ không thân hành cầu đạo; thêm nữa, tâm thế dân tộc Trung Hoa rất cao, họ có thế và lực để tạo ra cõi tiên cho bản thân; điều này thể hiện ngay trong cách họ ý thức về mảnh đất trung tâm của dân tộc mình mà mệnh danh cho nó là Trung Hoa, Trung Quốc, Trung Nguyên… trong thế so sánh với Nam Man, Bắc Địch, Đông Di và Tây Nhung (các nước xung quanh). Quan niệm đại quốc vẫn luẩn khuất trong dòng máu các giá trị văn hoá Hán tạo nên một bản lĩnh và ước mơ hiện thực hoá, viên thành một cõi tiên cho bản thân ở thế tục hay kéo tiên cảnh xuống trần gian.

 

III. KẾT LUẬN

Như vậy phong vị nước nam trong cốt truyện Người trần vào cõi tiên của Truyền Kỳ Mạn Lục thể hiện ở các lớp văn hóa bản địa Việt Nam với danh tính, địa danh địa vật, phong tục tập quán,… Đồng thời cảm hứng về dân tộc được phát huy nhờ nguồn phong phú là  kho tàng truyện kể dân gian của dân tộc để sáng tạo nên những tác phẩm văn học viết. Các truyện trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục như Từ thức lấy vợ tiên đều có trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, đó là Sự tích động Từ Thức, thao tác chủ yếu của tác giả truyền kỳ là vận dụng các motip của truyện kể dân gian. Cái làm nên “phong vị nước Nam” trong truyền kỳ còn là những vấn đề dân tộc đương thời. Hầu hết các truyện trong Truyền kỳ mạn lục đều lấy bối cảnh ở các thời Trần mạt, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Đằng sau những chuyện yêu quái, phấn son là nỗi lo đời của Nguyễn Dữ. Tóm lại, hướng tới khắc họa hiện thực và con người Việt Nam kết hợp với các yếu tố dân gian và các yếu tố văn hóa địa lý, truyền kỳ Việt Nam đã tạo nên những nét riêng độc đáo đối sánh với các truyện của truyền kỳ Trung Quốc. Sự tiếp nhận không chỉ dừng lại ở việc địa phương hoá mà ở một trình độ bản lĩnh, nghệ thuật cao. Hiện tượng tiếp nhận của truyền kỳ Việt Nam đối với truyền kỳ Trung Quốc- với vai trò như một điển mẫu sớm hình thành và có sức ảnh hưởng lớn thông qua hệ thống giá trị mang tính thu hút cao của mình- rõ ràng không chỉ ở mối quan hệ cho và nhận, các tác giả Việt Nam luôn có những tìm tòi mới để kiến tạo nên những tác phẩm mới mang đời sống và tâm hồn Việt ngay trong những tương đồng với nền văn học đồ sộ phong phú của Trung Hoa.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cù Hựu, Tiễn Đăng Tân Thoại; Nguyễn Dữ, Truyền Kỳ Mạn Lục (1999), NXB Văn Học, Hà Nội.

2. Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Cưu Ma La Thập (Hán Dịch), Thích Trí Tịnh (Việt Dịch) (1988), Viện Phật Học Quốc Tế.

3. Nhật Chiêu (2001), Văn học Nhật Bản, NXB GD, TPHCM.

4. Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Nguyễn Hiến Lê dịch (2006), NXB Văn Hoá, Hà Nội

5. Kiều Thu Hoạch (2004), Tinh tuyển Văn học Việt Nam- Văn học dân gian, NXB KHXH.

6. Washington Irving, Tuyển tập truyện ngắn Washington Irving, Nguyễn Mạnh Suý dịch (2002), NXB Giáo Dục, TPHCM

7. Trần Ích Nguyên, Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Phạm Tú Châu dịch (2000), NXB Văn học, TT Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây.

8. Thích Từ Thông (2008), Bát nhã ba la mật đa kinh- trực chỉ đề cương, NXB Tôn giáo, TPHCM

9. Lưu Đức Trung (1999), Hợp tuyển Văn học Châu Á, tập 1, Văn học Trung Quốc, NXB ĐHQGHN.

10. Đinh Phan Cẩm Vân (2005), Góp thêm vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa “Chuyện cây gạo” và truyện “Chiếc đèn mẫu đơn”, TC Văn hoá Dân gian 2(98)/05



[1]如嬰兒之未孩, 儽儽兮若無所歸. Như anh nhi chi vị hài, luy luy hề nhược vô sở qui [4:192]

[2] 大曰逝, 逝曰遠 遠曰反. Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản [4:202]

[3] Phật thuyết kinh Phạm võng phẩm bồ tát địa, Cưu Ma La Thập (hán dịch), Thích Trí Tịnh (Việt dịch) (2009), NXB Tôn Giáo.

[4] 道可道, 啡常道; 名可名, 非常名. Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh,  phi thường danh [4:161]

[5]故有無相生, 難易相成, 長短相形, 高下相傾, 音聲相和, 前後相隨. Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy… [4:165]

[6] Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…(Bát nhã ba la mật đa tâm kinh 127-128)

 

Danh mục website