Từ con người đánh mất nhân hình đến con người đánh mất nhân tính trong truyện ngắn Akutagawa

 (Đỗ Thị Mỹ Lợi, Tạp chí ĐH Sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012)


Akutagawa Ryunosuke (1892 – 1927) là một trong ba trụ cột chính mở ra nền văn học hiện đại Nhật Bản, mà theo như Murakami Haruki thì ông đã “để lại cho chúng ta những tác phẩm hàng đầu phản ánh sinh động tâm tính dân tộc Nhật ở thời đại của mình” (1).

Truyện ngắn của Akutagawa với số lượng nhân vật không nhiều nhưng thật đa dạng, thể hiện phong cách sáng tạo độc đáo của tác giả. Đó là thế giới của những con người chân thực, sống động mà cũng đầy khiếm khuyết.

Akutagawa khá chú ý đến ngoại hình trong miêu tả nhân vật. Ngoại hình là một khái niệm nhằm chỉ chân dung, diện mạo, cử chỉ, tác phong, y phục... biểu hiện cho dáng vẻ bên ngoài của nhân vật. Thông qua việc khắc họa ngoại hình nhân vật, Akutagawa không chỉ làm tái hiện nhân vật một cách rõ ràng trước mắt người đọc mà điều quan trọng hơn là ông muốn nhân vật tự bộc lộ nội tâm, tính cách của mình. Chỉ bằng hình thức bên ngoài thôi, tức là cái dễ nhìn thấy nhất, độc giả đã phần nào nắm được (hoặc suy đoán được) tính cách nhân vật.

Khi đặc tả ngoại hình nhân vật Akutagawa thường sử dụng thủ pháp "vật hoá", tức miêu tả hình dáng con người bằng những nét vốn để tả vật.

Đó là tên đầy tớ đang "ngồi thu lu như một con mèo"(2) rình mò ở cổng thành Rashomon (Rashomon). Còn đối tượng đang bị theo dõi kia là "một mụ già tóc bạc, thấp bé, gầy đét như con khỉ vận bộ đồ kimono màu vỏ cây hinoki"(3), tiếng nói "giống như tiếng quạ kêu"(4). Chẳng phải cụ già với khuôn mặt phúc hậu, giọng nói ấm áp và cái nhìn nồng hậu thường thấy mà là một bà già bị cuộc sống khắc khổ, cái đói, cái rét trong thời gian dài "nhào nặn" đến mức không còn nhân hình.

Thủ pháp "vật hoá" còn được vận dụng đặc sắc trong truyện ngắn Địa ngục trước mắt (Jigokuhen) khi miêu tả hoạ sĩ Yoshihide mang biệt hiệu "Saruhide" (con khỉ Hide). Chi tiết về ngoại hình tạo được ấn tượng mạnh mẽ đồng thời bộc lộ rõ nét nhất bản chất con người Saruhide là đôi môi. Nó chẳng hợp gì với tuổi tác mà cứ "đỏ chót, giống một cách thảm hại đôi môi của súc vật"(5). Cái sắc đỏ không phải của đôi môi cô gái biết thoa son làm dáng mà nó hiện hữu trên đôi môi của một lão già, nổi bật giữa khuôn mặt gầy gò, nhăn nhúm chỉ còn da bọc xương. Do đó nó chỉ làm tăng thêm vẻ dị hợm và gây cho người khác mối ác cảm đặc biệt, đồng thời dấy lên những hoài nghi về phẩm chất con người hắn. Và sự thật là Yoshihide không chỉ có cái vẻ ngoài xấu xí mà còn lắm thói hư tật xấu khác.

Cũng có khi thông qua sự oái oăm của diện mạo, nhà văn muốn nhân vật của mình tự bộc lộ những suy nghĩ, dằn vặt sâu kín mà trong điều kiện bình thường người khác không dễ gì nhìn thấy. Trường hợp nhà sư Thiền Trí trong truyện ngắn Cái mũi (Hana) thật đúng như thế. Tuyệt nhiên không có một chi tiết nào để người đọc hình dung về diện mạo nhà sư ngoại trừ duy nhất cái mũi được miêu tả như tâm điểm thu hút sự chú ý. Cái mũi "dài hơn một tấc rưỡi, nằm lòng thòng từ trên môi cho đến dưới cằm, đầu đuôi đều to như nhau, chẳng khác nào một miếng xúc xích treo lủng lẳng trên mặt"(6). Xung quanh cái mũi kì quái có bao nhiêu chuyện bi hài. Cái mũi kì quặc ấy cứ khiến sư mất ăn mất ngủ, dằn vặt, lo lắng, rầu rĩ không nguôi để rồi đi đến quyết định táo bạo là sửa mũi dù phải chịu đau đớn và xấu hổ. Giá như nó là cái mũi của một kẻ phàm phu tục tử thì chắc không có gì đáng phải bàn, nhưng oái oăm thay nó lại sinh ra như một định mệnh trên khuôn mặt của nhà sư. Sư nghĩ rằng lòng tự trọng của mình đã bị chính cái mũi làm tổn thương. Sư không thể chấp nhận sự hiện diện của cái mũi dài khoằm đó như một lẽ tự nhiên, sư "muốn" thay đổi. Những rối ren đó khiên sư chẳng thể nào tĩnh tâm niệm Phật cho được. Bằng những vận động tâm lý hết sức tế nhị đó nhà sư đang tự để lộ con người trần tục cùng những bận tâm và ham muốn xung quanh vấn đề hình thức của bản thân.

Sự dị dạng không chỉ là điều kiện để bộc lộ nội tâm mà Akutagawa còn chú trọng đến nó như kết quả của một nếp sống, một thói quen cố hữu. Anh chàng Mỗ (Cháo khoai - Imogayu) có một diện mạo xấu xí, tầm thường như chính cái chức ngũ vị kém cỏi của mình. Từ dáng vẻ của Mỗ nhà văn còn muốn chứng minh một điều rằng sự đánh mất bản sắc cá nhân cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến sự đánh mất nhân hình. Có lẽ từ cái chức vụ hèn mọn đó cộng với vẻ ngoài lếch thếch khiến cho Mỗ tự ti, không còn vẻ "người" tự nhiên, rồi sinh ra nhu nhược, hèn nhát tới mức không còn là chính mình, không dám tỏ rõ chính kiến. Sự hèn nhát đó đã in dấu trên thân hình vốn đã xấu xí sẵn của hắn, "khuôn mặt hom hem, xanh xao và khờ khạo của ngũ vị toát lên tất cả uất ức của một "con người" bị đồng loại áp bức. Mỗi lần nghĩ về ngũ vị là anh chàng vô (địa) vị này chợt thấy hiện lên trước mắt mọi thấp hèn của giống người" (7). Vậy là sự xấu xí của bề ngoài khiến ngũ vị bị trêu chọc, bị coi thường, nhưng sự nhu nhược, hèn nhát, không dám đấu tranh càng khiến hắn càng trở nên thấp hèn. Cái lưng còng mãi mãi khắc chạm một ngũ vị hèn kém và mất bản sắc cá nhân.

Rõ ràng là có sự liên hệ chặt chẽ giữa diện mạo và tâm tính trong các nhân vật. Cho dẫu khoác lên mình bộ quần áo hay các phụ trang khác chăng nữa thì qua sự miêu tả của nhà văn, tất cả các nhân vật đựơc gọi là "con người" ấy cũng thật kì dị. Cái vỏ bọc bên ngoài không thể nào che lấp cái xấu xa trong hành vi và bản tính. Hoặc có thể nói rằng khi người ta có bản tính và những hành vi xấu xa thì vô tình đã tự tố cáo mình, tự đánh mất nhân hình của mình trong mắt người khác.

Với cái nhìn vừa chân thực vừa châm biếm, chân dung nhân vật hiện lên với không thật nhiều chi tiết nhưng bù lại chúng là những nét rất đắt, rất riêng và ấn tượng. Có thể nhận thấy một điều là các nhân vật dù thuộc nhiều tầng lớp, hoàn cảnh có khác nhau nhưng đều có một điểm chung là chân dung hết sức dị thường, khác xa với hình dáng vốn có của con người. Thế giới nhân vật của Akutagawa rất giống với hệ thống nhân vật dị dạng của Lỗ Tấn, một thế giới nhân vật "sẹo" với những khuyết tật về hình thể, khuyết tật ngay trong bản thân nhân vật và được biểu hiện qua tên gọi hay hình dáng. Trong dòng văn học Việt Nam cũng có nhiều nhà văn sử dụng tài tình thủ pháp này. Nam Cao khi xây dựng nhân vật Chí Phèo hay Tô Hoài khi khắc họa Mị bằng thủ pháp "vật hoá" đều nhằm mục đích phản ánh sự huỷ hoại dữ dội của xã hội phi nhân tính hay nhằm cực tả nỗi đau kiếp người là kiếp vật. Còn Akutagawa thì lại nhằm mục đích phản ánh tâm lí nhân vật thông qua ngoại hình bị "vật hoá" đó. Cùng sử dụng thủ pháp "vật hoá" trong nghệ thuật khắc họa ngoại hình nhân vật nhưng Akutagawa vẫn tạo ra được những nét cá tính sáng tạo riêng. Tất cả những méo mó của hình dáng đó của nhân vật đã tự thân phản ánh sự méo mó trong tâm hồn. Akutagawa bằng ngòi bút sắc sảo của mình đã tái hiện những con người ban đầu từ sự đánh mất "nhân hình" dần dần đi đến sự đánh mất về "nhân tính".

Đặc tính nổi bật nhất đã trở thành căn bệnh trầm kha trong hầu hết các nhân vật của Akutagawa là cái Tôi vị kỷ. Dưới sự điều khiển của nó đã xảy ra bao nhiêu tội ác và gian dối.

Sợi tơ nhện (Kumo no ito) là câu chuyện mà ở đó tính vị kỷ cá nhân đã ngấm vào tận máu thịt đến mức trở thành bản chất. Vì là bản chất nên nó thường trực trong suy nghĩ và chi phối cách hành động của nhân vật. Tên cướp Kandata trong lúc leo lên sợi tơ nhện - con đường duy nhất thoát khỏi địa ngục - đã muốn độc chiếm nó cho riêng mình. Khoảnh khắc giữa sự sống tươi sáng đang ở trước mắt và nguy cơ rơi trở lại bể máu địa ngục đày đọa ở dưới chân do bao nhiêu tội nhân khác cùng nối nhau leo lên sợi tơ mỏng manh cũng là khoảnh khắc sự đấu tranh Thiện - Ác trong hắn xảy ra quyết liệt nhất. Lúc ấy, cái bản chất ích kỷ và tàn nhẫn trong con người hắn lại trỗi dậy và hắn đã hành động theo bản tính. Một khi bị đặt vào trong cảnh huống giữa sống và chết, giữa sự mâu thuẫn của lợi ích bản thân và lợi ích tập thể thì con người mới bộc lộ hết bản chất thực của mình. Akutagawa đã đặt ra một hoàn cảnh như vậy để thử thách nhân vật, và Kandata đã không thể nào vượt qua được bởi vì khái niệm "nhân tính" từ lâu không còn tồn tại trong hắn.

Tuy nhiên, Akutagawa không chỉ đề cập đến sự đánh mất "nhân tính" như là bản chất vốn có của con người mà nhiều lúc đó là sản phẩm của hoàn cảnh. Khi mà tai họa cứ lần lượt tấn công vào Kyoto, nào động đất, nào bão, nào đói… đã gần như cướp hết các cơ hội sống của con người thì vấn đề sinh tồn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Người bình thường cũng đã phải sống chật vật thì nói gì đến một bà già tuổi cao và một kẻ tôi tớ bị đuổi việc. Tên đầy tớ ở Cổng Rashomon ban đầu vô cùng công phẫn trước hành vi của bà già nhổ tóc người chết. Còn công phẫn tức là trong hắn vẫn còn một góc nhân tính, hắn muốn bênh vực cho cái Thiện. Thế nhưng, lòng căm phẫn ấy chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc, cho đến khi nghe lời biện hộ của bà già: tất cả chỉ là "vạn bất đắc dĩ" mà thôi. Trong tình cảnh trời mưa giá rét lại không chốn nương thân, không có cái ăn, ngay chỗ ngả lưng cũng không có nốt thì sự mến chuộng cái tốt cũng chỉ là một mớ lí thuyết suông mà thôi, nào có giúp hắn có cơm, có áo. Cái ác dẫu có tàn nhẫn, dẫu là điều hắn kinh tởm ban đầu, nhưng lại có thể giúp ích cho hắn trong lúc này, chí ít là "có thể sống được cho dù chỉ là một ngày mai nữa thôi" (8). Chết đói hay làm kẻ trộm, chết vinh hay là sống nhục, Thiện hay Ác, cuộc đấu tranh ấy trong lòng tên đầy tớ cuối cùng cũng kết thúc. “Vậy thì đừng có trách ta nếu ta tước đoạt của mụ. Bởi nếu làm khác đi thì ta cũng buộc phải chết đói. - Tên đầy tớ lột bộ kimono khỏi người mụ già. Rồi hắn xô mụ già đang cố kéo lấy vạt áo của hắn cho ngã xuống đống xác chết" (9).

Vậy là rõ, cái Ác đã chiến thắng. Akutagawa muốn nói rằng trong bản thân mỗi người đều có tính Thiện lẫn tính Ác, nhưng khi đối diện với sự sống - chết thì tính vị kỷ lại trỗi dậy và dẫn người ta đến những hành động sai trái. Cái Ác chính là phương thức duy nhất để người ta tồn tại. Bởi vì, cả bà già và tên đầy tớ trong lúc thực hiện đều không ý thức rằng những việc mình làm là xấu. Vậy phải chăng lời tố cáo không chỉ dừng lại ở tính xấu và hành vi của con người, mà nó còn đi xa hơn, là công kích cả xã hội - nguồn gốc gây ra cái ác. Cái nhìn công kích xã hội có lẽ xuất phát từ thực tế xã hội Nhật Bản thời đại Akutagawa. Liên tiếp những cuộc chiến tranh nổ ra, tuy giành được thắng lợi nhưng hậu quả nó để lại cũng vô cùng nghiêm trọng. "Đời sống của tầng lớp nhân dân lao động Nhật Bản càng trở nên điêu đứng, khó khăn: giá cả sinh hoạt đắt đỏ, thuế má nặng nề, tiền lương lại thấp. Những mâu thuẫn xã hội càng trở nên gay gắt" (10). Đó là một xã hội thù địch với con người, khiến cho cuộc sống người dân chẳng khác nào "kiếp chó ghẻ". Những giá trị nhân bản, thẩm mỹ cũng theo vòng xoáy của chấn động chính trị - xã hội mà hỗn loạn, không thể biết đâu đúng, đâu sai, đâu là sự thật, hay chỉ là sự thật một bề được khúc xạ qua tâm lý cá nhân. Nếu hình dung đến cuộc sống khó khăn của người dân trước việc giá gạo tăng cao do sự đầu cơ của địa chủ và thương nhân giàu có, khiến họ phải làm một cuộc "bạo động gạo" (1918), sau đó phải gánh chịu thảm hoạ động đất (1923) tàn phá cả một khu vực Kanto thì ta sẽ có cái nhìn thông cảm hơn với họ. Hành vi của bà già hay của tên đầy tớ trong Cổng Rashomon (Rashomon) tuy đáng trách nhưng cũng đáng thương. Bởi một lẽ "con người trở thành những tên trộm chỉ đơn giản là vì để có thể sống sót được. Một cuộc sống không sao chịu đựng nổi đã biến con người thành vị kỉ, thậm chí thành dã thú. Xã hội tước đoạt của những con người này tất cả và đến lượt mình, họ cũng đi đến bước tự "giải thoát" khỏi mọi trách nhiệm trong quan hệ xã hội" (11). Do đó, khi xây dựng tính cách nhân vật, Akutagawa muốn lí giải rằng, cái ác của con người không phải bao giờ cũng sinh ra từ bản chất, mà nó còn là sản phẩm của một xã hội "phi nhân tính". Chính xã hội ấy đã thoái hoá con người, hay nói cách khác, đã giết chết con người về mặt tinh thần. Như lời lí giải của kẻ cướp Tajomaru: "Tôi thì giết bằng kiếm đeo ở lưng, còn các vị (giai cấp thống trị) không mượn đến kiếm thì các vị giết bằng quyền thế, tiền bạc và đôi khi chỉ đơn giản là bằng những lời xu nịnh, xúc xiểm. Thực ra trong trường hợp ấy, máu không đổ nhưng người đàn ông chỉ còn cái xác không hồn - và như thế dù sao các vị cũng đã giết chết anh ta rồi. Và nếu suy ngẫm thì tội lỗi của ai nặng hơn - của các vị hay của tôi - ai mà biết được"(12). Tội lỗi của kẻ giết chết tinh thần với kẻ giết chết thể xác, cái nào nặng hơn? Hay thực ra tội ác của một cá nhân cụ thể chỉ là sự hoàn tất để một cái chết trở nên đúng nghĩa? Những câu hỏi cũng chính là lời cáo buộc một xã hội đang dần đi đến chỗ mất nhân tính.

Cái tôi vị kỉ nắm quyền chỉ đạo hành vi và ngôn ngữ con người, nó bắt vào hồn bất kể là ai, đang ở cương vị nào. Luật lệ và quy tắc đạo đức võ sĩ dẫu có nghiêm khắc đến đâu cũng không thắng được lòng tham. Chẳng thế mà mọi tội ác Trong rừng trúc khởi nguồn từ mưu kế chiếm đoạt người đẹp của tên cướp Tajomaru dễ dàng hơn khi đánh động vào lòng tham của người chồng võ sĩ. Võ sĩ đánh mất đi chuẩn mực đạo đức của mình, ngay cả những người được xem là thuộc giới trí thức cũng thật đáng chê trách. Đằng sau cái vẻ đạo mạo của những "tao nhân mặc khách" ấy là sự gian dối đáng chê trách. Đám học trò của thi hào Basho (Cánh đồng khô - Karenosho) tụ họp quanh giường bệnh của thầy nhưng chẳng mảy may thương xót, ngược lại trong đầu toàn những toan tính lợi lộc cho bản thân sau khi thầy mất. Một sự tương phản mãnh liệt giữa những gì họ bộc lộ ra cho người khác thấy và những gì họ thực sự cảm nhận trong lòng. Độc giả còn nhận thấy trong một truyện ngắn khác, truyện Địa ngục trước mắt, hình ảnh nhà hoạ sĩ vì tôn thờ nghệ thuật mà nhẫn tâm hi sinh tính mạng đứa con gái. Vậy đâu là nghệ thuật chân chính khi được sinh ra từ tội ác? Người ta còn có thể tin vào nhân tính được nữa hay không?

Tuy nhiên không phải lúc nào truyện ngắn của Akutagawa cũng toàn những hoài nghi xám xịt về nhân tính con người. Vẫn có lúc trên bảng màu đó xuất hiện những đốm sáng. Trong khi xã hội thiếu gì những kẻ đeo đầy lon trên vai mà ăn ở không ra hồn người thì lại có kẻ ăn mày Shinko và cô tớ gái Otomi mang tâm hồn trong sáng (Trinh tiết - Otomi no teiso). Truyện cũng mô tả những đấu tranh nội tâm của Shinko, giữa một bên là dục vọng và một bên là luân lý đạo đức. Và lần đầu tiên, cái Thiện đã chiến thắng. Ngoài ra, còn có cô bé nghèo nhưng tốt bụng (Mấy trái quýt - Mikan) hay cô con gái hoạ sĩ vừa đẹp người lại đẹp nết (Địa ngục trước mắt). Nhưng cũng cần phải nhận thấy rằng, những ánh sáng đó chỉ như bóng trăng lướt qua bầu trời đêm u tối, nó không đủ sức át cái màn đêm thẳm sâu và dày đặc đang ngự trị. Giữa một xã hội bao phủ bởi bóng mây đen của cái xấu xa, những con người ấy như đốm sáng nhỏ nhoi và mong manh. Tốt bụng, thánh thiện thì có được gì khi thân phận họ chỉ là kẻ ăn mày, hầu gái, nghèo khổ và có khi còn là vật hi sinh? Do đó cái nhìn của Akutagawa về con người, về xã hội tựu chung lại cho đến cuối đời vẫn mang màu sắc u tối. Chẳng thế mà đến trước khi mất một năm ông đã viết Xã hội thuỷ quái Kappa (Kappa) như một sự tổng kết những tìm tòi, chiêm nghiệm của bản thân. Càng tìm hiểu, càng đi sâu ông càng nhận thấy cái thói tật xấu xa không chỉ tồn tại trong một cá nhân mà nó như căn bệnh truyền nhiễm lan tràn cả xã hội. Hình ảnh dị dạng của kappa phải chăng là sự méo mó của con người, hay xã hội đầm lầy mà kappa sống chẳng khác nào xã hội phi nhân tính của loài người. Tác phẩm là lời tố cáo mạnh mẽ nhất "bộ mặt thật của một quốc gia phát xít, quân phiệt đã chà đạp và làm lộn nhào mọi khái niệm cơ bản nhất của cuộc sống", do đó được đánh giá là "tác phẩm hoang đường hiện thực bậc nhất" (13) của Akutagawa.

Như vậy, thông qua các tác phẩm của mình, Akutagawa thể hiện một cách chân thực đời sống nội tâm của con người. Đó là một địa hạt phức tạp với những giằng xé nội tâm giữa Thiện và Ác, giữa luân lí và dục vọng, giữa thanh danh và tủi nhục…; một thế giới nội tâm của chủ thể được bộc lộ trong sự va chạm với thế giới bên ngoài.

Kiểu nhân vật vị kỉ này có lẽ được xây dựng dưới tác động của cuộc sống đương thời mà tác giả Akutagawa đang phải hít thở từng ngày từng giờ. Đó là thời đại Nhật Bản chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lối sống phương tây. Từ phong trào Duy Tân Minh Trị (1868-1912) đến chủ trương "thoát Á nhập Âu" rồi những phong trào dân chủ mạnh mẽ ở thời Đại Chính (Taisho) (1912-1926) "không chỉ dừng lại ở việc du nhập kĩ thuật để công nghiệp hoá, mà còn đòi hỏi người Nhật phải thay đổi tận gốc rễ - thay đổi toàn diện, từ cách suy nghĩ đến cách sống" (14). Cùng với "văn minh" bánh mì và thịt bò, chủ nghĩa cá nhân cũng du nhập vào Nhật Bản qua những chuyến tàu! Những giá trị đạo đức truyền thống của phương Đông nói chung và Nhật Bản nói riêng vốn được trọng dụng và xem như chuẩn mực làm người đang đứng trước nguy cơ bị "chủ nghĩa cá nhân" nuốt chửng. Sự hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, sự coi trọng lợi ích tập thể là những giá trị tinh thần quen thuộc mà phương Đông đề cao đang bị thách thức nghiêm trọng bởi xu hướng vật chất và lối sống cá nhân ở đô thị. Đó là thời đại con người chạy theo cái tôi cá nhân, đề cao mục đích sống giàu sang, địa vị và danh vọng, do đó tính vị kỷ trong đời sống càng có điều kiện phát triển. Cuộc sống đó hằng ngày vẫn diễn ra trước mắt ông, cộng với sự thất bại của mối tình đầu do gia đình ngăn cản đã càng làm ông chán ghét cái xấu xa, ích kỉ của người đời, đến mức ông phải thốt lên: Bạc bẽo chẳng phải là bản chất của con người đó sao?

Hẳn nhiên đây không phải là tất cả về con người Nhật Bản, song Akutagawa đã tái hiện chân thực một phần cuộc sống và tâm lý rất Nhật Bản trong giai đoạn lịch sử tranh tối tranh sáng đầy biến động. Thái độ dám nhìn thẳng và nói thật của nhà văn mang nhiều trăn trở với thời cuộc ẩn chứa tấm lòng nhân đạo sâu sắc, chính là mong muốn con người sống thật và thiện hơn.

ĐTML.

 

 


* Học viên Cao học, Trường Đại học KHXH & NV - ĐHQG TPHCM

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Nguyên Cẩn, 2001, "Thế giới nhân vật dị dạng trong truyện ngắn Lỗ Tấn", Tạp chí nghiên cứu văn học, số 10.
  2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), 1999, Từ điển thuật ngữ văn học (tái bản lần 3), Nxb. ĐHQG Hà Nội.
  3. Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên), 2007, Lịch sử Nhật Bản, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
  4. Đinh Văn Phước (chủ biên), 2006, Trinh tiết - Tuyển tập truyện ngắn Akutagawa, Nxb. Văn học, Hà Nội.
  5. Phong Vũ dịch, 2000, Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, Nxb. Hội nhà văn.
  6. Phong Vũ, 2000, "Một đôi nét về Akutagawa và truyện ngắn của ông", in trong Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, Nxb. Hội nhà văn.

________________


 

(1)     Nguyễn Nam, “Sự thực” tuyệt đối trong tự sự: tiếp nhận và cải biên “Rashomon” ở Việt Nam, Kỉ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế: Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á, HCM, 2011, tr.297.

(2)     Phong Vũ dịch, 2000, Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, Nxb. Hội nhà văn, tr.34.

(3)     Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, sđd, tr.35.

(4)       Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, sđd, tr.38.

(5)     Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, sđd, tr.60.

(6)     Đinh Văn Phước (chủ biên), 2006, Trinh tiết - Tuyển tập truyện ngắn Akutagawa, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.39.

(7)     Trinh tiết - Tuyển tập truyện ngắn Akutagawa, sđd, tr.52.

(8)       Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, sđd, tr.33.

(9)     Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, sđd, tr.39.

(10)   Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên), 2007, Lịch sử Nhật Bản, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr.292.

(11)   Phong Vũ, 2000, "Một đôi nét về Akutagawa và truyện ngắn của ông", in trong Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, Nxb. Hội nhà văn, tr.7.

(12)     Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, sđd, tr.21.

(13)   "Một đôi nét về Akutagawa và truyện ngắn của ông", sđd, tr.14.

(14)   Lịch sử Nhật Bản, sđd, tr.485.

 

Danh mục website