Associate Prof. Xia Lu
Beijing University
ABSTRACT
Minh – Qing novel had its profound influence to the countries of East Asian region of Sinographic culture. For example: Jiandeng xinhua (New Tales Told by Lamplight) by Ju Yu of Ming dynasty spread over Japan, Korea, Vietnam and played significant role in the formation of zhuangi genre in those countries. However, in the aspect of concept of novel art, the Vietnamese novels written in Chinese characters were more similar with Chinese patterns. Being influenced by examination system, medieval Vietnamese writers, alike Chinese, while considering poetry and historiography as orthodox literature, despised novel, at the same time were very interested in writing it. There were many similarities in the concept of novel between Chinese and Vietnamese writers, such as: 1) considering novel as a supplement to historiography; 2) using it as the effective tool to enlighten people; 3) interesting in novel as a land for creating new and strangeness.
However, receiving Ming – Qing concept, Vietnamese writers also had their own perspective in novel writing. For example: the idea of “supplement to historiography” for Vietnamese writers could imply affirmation and propagation of national history; the idea of “enlightenment” was not only an implication for “encouraging the good and punishing the evil”, but also for evoking patriotism in people. Besides, the other specific features of the medieval Vietnamese concept of writing were the spirit of comparison and competition with China and the consciousness of national identity. The readers could find all of them in the prominent Vietnamese novel written in Chinese, such as Truyen ky man luc, Hoang Viet xuan thu,….
SỰ TIẾP NHẬN QUAN NIỆM SÁNG TÁC TỪ TIỂU THUYẾT
MINH THANH VÀ NHỮNG ĐẶC SẮC RIÊNG CỦA TIỂU THUYẾT
HÁN VĂN VIỆT NAM
PGS.TS Hạ Lộ
Khoa Đông Nam Á, Học viện Ngoại ngữ,
Trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc
Tóm tắt
Tiểu thuyết Minh Thanh có một ảnh hưởng sâu rộng đối với các nước khu vực văn hóa Hán Đông Á, ví dụ Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu đời Minh đã từng được truyền bá sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và có vai trò quan trọng đối với sự ra đời của tiểu thuyết truyền kỳ ở các nước này. Song nếu xét từ quan niệm sáng tác tiểu thuyết, có lẽ tiểu thuyết Hán văn Việt Nam là giống với Trung Quốc nhất. Cũng như Trung Quốc, văn nhân Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hưởng của chế độ giáo dục khoa cử, coi sáng tác thơ ca và chép sử là chính thống, địa vị của tiểu thuyết bị xem nhẹ. Nhưng tiểu thuyết lại là một thể loại văn học được các văn nhân yêu thích, do đó, xét từ góc độ quan niệm sáng tác, văn nhân Việt Nam và các tác giả tiểu thuyết Minh Thanh có rất nhiều điểm tương đồng, tiêu biểu là: 1) Bổ sung cho chính sử (tức có ý thức bổ sung những tư liệu mà chính sử không ghi chép nhằm lưu truyền cho hậu thế); 2) Giáo hóa dân chúng (nhằm cứu vãn thế đạo nhân tâm); 3) Ham chuộng cái tân kỳ (tức cái mới và cái lạ). Nhưng các tác gia Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa bản địa, quan niệm sáng tác của họ cũng mang những đặc điểm dân tộc đậm nét, ví dụ cùng là “bổ sung cho chính sử”, nhưng các tác gia Việt Nam còn có một ý đồ khác, đó là xây dựng và truyền bá một hệ thống lịch sử của dân tộc mình. Hay tâm lý “giáo hóa” của tiểu thuyết Việt Nam cũng không chỉ dừng ở chỗ khuyến thiện trừng ác, mà còn được nâng lên cấp độ giáo dục chủ nghĩa yêu nước. Ngoài ra, tiểu thuyết Hán văn Việt Nam có một ý thức so sánh rất mạnh, điều đó thể hiện ở động cơ sáng tác của các tác gia Việt Nam trung đại, dường như trong tiềm thức của họ luôn có một tâm lý muốn sánh ngang, thậm chí vượt hơn Trung Quốc. Cùng với ý thức so sánh này là ý thức dân tộc đậm nét trong nội dung của tiểu thuyết Hán văn Việt Nam mà người đọc có thể thấy trong hầu khắp các tác phẩm, đặc biệt là trong việc xây dựng tình tiết cốt truyện và hình tượng nhân vật của các tiểu thuyết Truyền kỳ mạn lục, Hoàng Việt xuân thu, Hoàng Lê nhất thống chí.
SỰ TIẾP NHẬN QUAN NIỆM SÁNG TÁC TỪ TIỂU THUYẾT MINH THANH VÀ NHỮNG ĐẶC SẮC RIÊNG CỦA TIỂU THUYẾT HÁN VĂN VIỆT NAM
PGS.TS Hạ Lộ (Xia Lu), Bộ môn Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, Khoa Đông Nam Á, Học viện Ngoại ngữ, Trường Đại học Bắc Kinh
Tiểu thuyết Minh Thanh có một ảnh hưởng sâu rộng đối với các nước khu vực văn hóa Hán Đông Á, ví dụ Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu đời Minh đã từng được truyền bá sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và có vai trò quan trọng đối với sự ra đời của tiểu thuyết truyền kỳ ở các nước này. Song nếu xét từ quan niệm sáng tác tiểu thuyết, có lẽ tiểu thuyết Hán văn Việt Nam là giống với Trung Quốc nhất. Cũng như Trung Quốc, văn nhân Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hưởng của chế độ giáo dục khoa cử, coi sáng tác thơ ca và chép sử là chính thống, địa vị của tiểu thuyết bị xem nhẹ. Nhưng tiểu thuyết lại là một thể loại văn học được các văn nhân yêu thích, do đó, xét từ góc độ quan niệm sáng tác, văn nhân Việt nam và các tác giả tiểu thuyết Minh Thanh có rất nhiều điểm tương đồng, tiêu biểu là: 1) Bổ sung cho chính sử (tức có ý thức bổ sung những tư liệu mà chính sử không ghi chép nhằm lưu truyền cho hậu thế); 2) Giáo hóa dân chúng (nhằm cứu vãn thế đạo nhân tâm); 3) Ham chuộng cái tân kỳ (tức cái mới và cái lạ). Nhưng các tác gia Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa bản địa, quan niệm sáng tác của họ cũng mang những đặc điểm dân tộc đậm nét, ví dụ cùng là “bổ sung cho chính sử”, nhưng các tác gia Việt Nam còn có một ý đồ khác, đó là xây dựng và truyền bá một hệ thống lịch sử của dân tộc mình. Hay tâm lý “giáo hóa” của tiểu thuyết Việt Nam cũng không chỉ dừng ở chỗ khuyến thiện trừng ác, mà còn được nâng lên cấp độ giáo dục chủ nghĩa yêu nước. Ngoài ra, tiểu thuyết Hán văn Việt Nam có một ý thức so sánh rất mạnh, điều đó thể hiện ở động cơ sáng tác của các tác gia Việt Nam trung đại, dường như trong tiềm thức của họ luôn có một tâm lý muốn sánh ngang, thậm chí vượt hơn Trung Quốc. Cùng với ý thức so sánh này là ý thức dân tộc đậm nét trong nội dung của tiểu thuyết Hán văn Việt Nam mà người đọc có thể thấy trong hầu khắp các tác phẩm, đặc biệt là trong việc xây dựng tình tiết cốt truyện và hình tượng nhân vật của các tiểu thuyết Truyền kỳ mạn lục, Hoàng Việt xuân thu, Hoàng Lê nhất thống chí.
Tiểu thuyết Minh Thanh của Trung Quốc đã nảy sinh và ảnh hưởng một cách sâu rộng trong khu vực văn hóa Hán các nước Đông Á, ví dụ như tiểu thuyết “Tiễn đăng tân thoại” của Cù Hựu đã từng được truyền bá đến các nước Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam…đã xuất hiện các tác phẩm “Ka tì tử” của Nhật Bản, “Kim ngao tân thoại” của Triều Tiên , “Truyền kì mạn lục” của Việt Nam. Tất cả những tác phẩm này đều được mô phỏng từ “Tiễn đăng tân thoại” của Trung Quốc. Nhưng cũng do sự khác biệt về văn hóa, mà sự tiếp nhận của các quan niệm sáng tác tiểu thuyết truyền kì này cũng không giống nhau, từ đó mà lộ diện những đặc điểm mĩ học văn học riêng biệt. So sánh có thể thấy, quan niệm sáng tác tiểu thuyết Hán văn Việt Nam và Trung Quốc rất giống nhau, ví dụ như lấy việc tiếp nhận quan niệm sáng tác tình yêu giữa người và ma trong “Tiễn đăng tân thoại” làm ví dụ, giữa Nhật Bản và Việt Nam đều có sự khác nhau rất lớn. “Mẫu đơn đăng thoại” của Nhật Bản đã loại bỏ đi tính răn dạy của đạo Phật trong “Mẫu đơn đăng kí”, nguyên nhân là các tác gia Nhật Bản cho rằng, những người học rộng không đủ khả năng hóa giải những ân oán trong nhân gian, do vậy mà tác phẩm đã loại bỏ thuyết giáo đạo đức của đạo Phật. Tác phẩm chỉ chú trọng đến tình yêu giữa con người và ma quỷ, đã tạo nên những cảnh kinh hãi, u mê và thê lương trong tác phẩm. Trong khi đó với ba thiên “Tây viên kì ngộ kí”, “Mộc miên thụ truyện”, “Xương Giang yêu quái lục” trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ “tình yêu giữa người và ma” kết cục cơ bản điều giống với “Mẫu đơn đăng kí”, tất cả đều gặp phải sự trừng phạt. Nguyên do là tác giả Nguyễn Dữ sống trong thời kì loạn lạc của xã hội phong kiến Việt Nam, bản thân ông đã trải qua và thấu hiểu những thăng trầm và biến động của xã hội Việt Nam lúc đó, ông muốn dùng hình ảnh yêu nữ để gián tiếp khuyên răn người đời, đề cao điều thiện, trừng trị cái ác. Vậy cái gì là nguyên nhân dẫn đến quan niệm sáng tác tiểu thuyết cổ điển Hán văn Việt Nam và Trung Quốc về cơ bản có sự thống nhất? Và cũng dưới tiền đề như vậy, đặc sắc sáng tác của các tác gia Việt Nam cũng là như vậy chăng? Dưới đây chúng tôi từ góc độ khảo sát văn bản cụ thể sẽ đi sâu tìm hiểu sự tiếp nhận quan niệm sáng tác và đặc sắc dân tộc của tiểu thuyết cổ điển Hán văn Việt Nam với tiểu thuyết Minh Thanh.
1. Những nguyên nhân và biểu hiện sự tiếp nhận quan niệm sáng tác của tiểu thuyết cổ điển Hán văn Việt Nam với tiểu thuyết Minh Thanh.
Cũng như Trung Quốc, những văn nhân cổ đại Việt Nam chịu ảnh hưởng của chế độ giáo dục khoa cử, coi sáng tác thơ ca và viết sử là con đường chính thống, địa vị của tiểu thuyết lúc đó tương đối thấp. Đối với điều này, nhà học giả Việt Nam hiện nay Trần Văn Giáp đã từng nói: “Các nhà khoa bảng thời trước đều chuyên chú vào học đạo Khổng Tử, sau nay thì chuyên tâm vào khoa cử. Việc học tập thi cử, ngoài Tứ thư ngũ kinh, sách sử, các loại sách khác đều được coi là ngoại đạo, không được bàn đến, bị cấm đọc. Đã là cấm đọc thì các học trò đều tuân theo, cho rằng là sách giái trí, luồn lạch, đối với luân thường đạo đức thường có hại, chỉ có những gia đình giáo dục không nghiêm khắc, con cái mới dám xem”.
Chính vì nguyên nhân trên, các nhà tiểu thuyết cổ điển muốn nâng cao giá trị tiểu thuyết của bản thân, họ liền dùng việc gắn liền tiểu thuyết với bổ cứu lịch sử và mục đích giáo dục. Ở Việt Nam, một mặt về phương diện văn học bình dân, Việt Nam có văn học chữ Nôm, đặc biệt là tiểu thuyết văn vần chữ Nôm được coi là bổ sung, thêm vào; mặt khác, tuy sự tiếp nhận của các phần tử trí thức truyền thống Việt Nam và phần tử trí thức Trung Quốc về giáo dục đại thể là giống nhau, nhưng chữ Hán cuối cùng không phải là sự phù hợp với chữ viết, lời văn hay khẩu ngữ của tiếng Việt Nam, do vậy tiểu thuyết bạch thoại đối với họ, sự tiếp nhận thực sự không phải dễ dàng, cũng chính nhà học giả Việt Nam này nói: “các vị tổ tiên của chúng ta trước đây học chữ Hán để xem hiểu các thư tịch của Trung Quốc, nhưng tiểu thuyết Trung Quốc ở Việt Nam rất ít được biết đến: trong dân gian ít người có thể xem hiểu, không kinh qua học tập thì không thể xem hiểu được”. Ở Trung Quốc chỉ cần biết đọc viết thông thường là có thể đọc được tiểu thuyết, nhưng ở Việt Nam thì phải trải qua học tập mới có thể biết được. Do nhân dân lao động thiếu đi cơ hội tiếp nhận chữ Hán, do vậy mà các nhà tiểu thuyết Hán văn cổ điển của Việt Nam đa phần thuộc về tầng lớp tri thức thượng lưu, thậm chí lại chính là các sử quan, họ một lòng dụng tâm theo đuổi các giá trị sử liệu của tiểu thuyết, tự giác sáng tác một cách nghiêm túc mà không có sự dung tục. Tất cả những điều này đã quyết định quan niệm sáng tác tiểu thuyết Hán văn Việt Nam và cùng với tiểu thuyết Minh Thanh đã có những điểm chung cũng như có tính tương đối khác biệt.
Từ quan niệm sáng tác trên, văn nhân Việt Nam và các tác giả tiểu thuyết Minh Thanh đã có rất nhiều điểm tương đồng, chủ yếu thể hiện ở chỗ là sự thêm vào của việc bổ cứu chính sử (bổ sung thuật lại lịch sử, ý thức lấy tư chất để lưu truyền hậu thế), giáo hóa dân chúng (lấy nhân tâm để cứu giúp đạo ở đời), quan niệm thích lạ theo cái mới. Từ những đặc điểm tương đồng này, lại có bối cảnh văn hóa chung, càng tạo ra sự chủ động tiệp nhận của các tác giả Việt Nam.
1.1.Bổ cứu chính sử
Chúng tôi khảo sát tiểu thuyết Hán văn Việt Nam, phát hiện tuyệt đại đa số tiểu thuyết chính thống, trên quan niệm sáng tác mà nói, những tiểu thuyết Hán văn này chủ yếu là để thuật lại công việc bổ sung lịch sử. Từ đây có thể thấy từ lời tựa, lời bạt hay nội dung cụ thể mà nói, đều có thể cảm thụ được một cách rõ ràng cái tâm bổ cứu lịch sử của các tác giả. Ví dụ trên lời tựa của tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Việt long hưng chí” có đoạn như thê này:
“Sáng tác truyện chí của nước Nam ta, đại diện cho thể loại này: “Hoàng Việt xuân thu” đã thuật lại được sư hưng phế của thời đại, “Việt Nam quốc chí” do sự mở mang của các tiên triều, thể chế, sự thực chính sử tương đối rõ ràng. Sự ghi chép bình chương của tổ tiên thời trước như Ngô công thoái vị, tác giả trong “Hoàng Lê nhất thống chí”, đã thuật lại Tây Sơn diệt Trịnh phù Lê, lấy việc ổn định thống nhất làm căn bản
“Người Nam mà không tường việc Nam, lại không có sách vở thư tịch để bàn tới thì tưởng rằng rất dễ quên nguồn gốc tổ tiên chăng!” Đây là tôn chỉ sáng tác của tác giả, hơn nữa tác giả còn cho rằng “Việt Nam xuân thu”, “Hoàng Lê nhất thống chí”,v.v…những cuốn tiểu thuyết lịch sử này đã thuật lại những sự thật lịch sử.
Tiểu thuyết lịch sử không đơn độc như vậy, các loại tiểu thuyết Hán văn khác của Việt Nam, thậm chí là những truyện truyền kì chí quái cũng có sự bổ sung và thuật lại lịch sử, có ý thức để lưu truyền hậu thế. Ví dụ trong “Thần quái hiển linh lục”, “Trạng nguyên mạc đĩnh chi kí” có ghi chép “các quan chép sử thời trước thật đáng hận, những điều ghi chép không rõ ràng, tên của đời trước nói chung là không được ghi chép, khiến cho đức nghiệp văn chương chung không thể lưu truyền hậu thế. Kẻ hậu sinh thì ngu thẹn, kiến thức nông cạn, tạm thời để có thể thuật lại những điều này, chỉ có thể là những vị quân tử chân chính mà thôi”. Đồng tác giả cuốn sách “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt phổ kí” cũng chỉ rõ, việc ghi chép chỉnh lí có tác dụng lớn, đồng thời đã đi khắp các nơi, thu thập thành sách , những sự tích lịch sử đó được lưu truyền mãi mãi.
Tư tưởng bổ sung lịch sử này của tiểu thuyết Hán văn Việt Nam tuy có truyền thống lâu đời, nhưng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiểu thuyết Minh Thanh. Trong lí luận sử tiểu thuyết Trung Quốc, cách nói bổ cứu lịch sử của tiểu thuyết đã có nguồn gốc rất lâu rồi, đến thời kì Minh Thanh vẫn được duy trì. Vương Anh trong lời bạt “Chí chính kĩ nhân hành” của “Tiễn đăng dư thoại tự” đã cho rằng sáng tác tiểu thuyết chính là nơi bổ sung chỗ khuyết thiếu ban đầu của lịch sử, tác giả nghị luận rằng:
Thời Nguyên khởi đầu ở vùng sa mạc, thống nhất bờ cõi, nhưng để thực hành chế độ của mình, phần nhiều từ phong tục của nhà Hồ,…đến khi lên ngôi vua, đặc biệt phóng túng hoang dâm vô độ, tất cả những ham thích chỉ là thanh sắc, ca múa, chỉ xoay quanh việc ham chơi đây đó, hết đêm rồi đến ngày, trên dưới mờ mịt, chính trị kỉ cương lỏng lẻo, đạo chích nổi dậy như ong vỡ tổ, việc quốc sự bị chân hưng. …tất cả những ghi chép này đều vì lợi ích chung, chẳng lẽ chỉ là sự tình cờ chăng? Dị cũng nói rằng: Ghi chép sự thực, không ghi chép bổ cứu lịch sử về gia tộc, cũng chính là khiến cho độc giả thời sau đều có thể cảm nhận được sự hưng khởi, há chẳng phải là ý tốt chăng!
Rõ rệt nhất là bình luận “Thủy hử” và “Tam quốc diễn nghĩa”, từ trước đến nay việc bình luận về “Thủy hử” vẫn được so sánh với “Sử kí”. Lí Khai Tiên trong “Từ hước” lấy “Sử kí” để so sánh, quyển sách này “Thủy hử” để bình giá, cũng gọi “Thủy hử” là “cuốn sách kì diệu về sử học”. Kim Thánh Thản trong “Độc đệ ngũ tài tử thư pháp” tuy nhiên cũng đã nhận thức một cách rõ ràng sự khác biệt giữa “Thủy hử” và “Sử kí”, nhưng đồng thời cũng kiến giải “sử ghi chép vụn vặt” để mà đánh giá những tiểu thuyết kiểu như “Thủy hử”. Chính từ việc đánh giá “Thủy hử” đã phản ánh được đời sống chính trị, “trung nghĩa”,v,v…quan niệm lí luận chính trị đã trở thành trung tâm quan sát của các thế hệ lịch sử.
Câu chuyện Tam quốc cũng vậy, những bình luận có liên quan đã hướng sự quan tâm chú ý của nó đối với lịch sử, và tương tự như “Tam quốc chí”,v,v…các sách sử cũng có những cuộc khảo sát. Ví dụ như Tưởng Đại Khí trong “Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa tự” đã nói là “văn thì không quá sâu sắc, lời nói thì không quá thông tục, sự việc được ghi chép một cách chân thực, có vậy mới là sử”. Tu Nhiêm Tử (Trương Thượng Đức) trong “Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa dẫn” cũng đã chỉ ra, tác dụng của tác phẩm như “chắp cánh cho tín sử”. Trong lịch sử, xoay quanh câu chuyện Tam quốc, đã mang đến sự phân biệt rất lớn giữa các nhà sử học có tâm nguyện của tầng lớp thống trị thượng lưu và các nhà văn ham thích chuyện dân gian, mà trong đó tiêu chí chính của tam quốc là sự chính thống.
Tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của “Tam quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử truyện”,v,v…đã được nảy sinh và phát triển, trong đó quan niệm bổ cứu lịch sử vô cùng rõ ràng, Thậm chí, quan niệm bổ cứu lịch sử của các tác giả Việt Nam lại càng trở nên sâu rộng. Do các nhà tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam đa phần là các sử quan, các tác giả lại đặc biệt nhấn mạnh sự thực lịch sử, loại bỏ các tình tiết hư cấu. khiến cho tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam tuy có đặc điểm văn thể tiểu thuyết chương hồi, nhưng đa phần số chương hồi đều hướng theo sự thực lịch sử là chính, trình bày sự việc một cách thẳng thắn rõ ràng, ít lãng mạn, đọc lên thiếu tính thú vị. Chính điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho tiểu thuyết lịch sử Hán văn Việt Nam lưu truyền không được rộng rãi.
1.2.Giáo hóa dân chúng
Phùng Hữu Long trong “Cổ kim tiểu thuyết tự” cho rằng: “kẻ nhát gan thì dũng cảm, kẻ dâm tà thì tỏ ra trong trắng, kẻ bạc nhược lại chân thành, kẻ ngu đần thì không rơi một giọt mồ hôi, tuy lúc nhỏ có đọc “Giáo kinh”, “Luận ngữ”, nhưng những điều dạy trong đó cũng không khiến con người ta có thể thay đổi”. Tĩnh Điềm chủ nhân đời Thanh nói “Khi đạt tới độ toàn vẹn của một cuốn sách chính là ở chỗ cần phải biết trừng trị cái ác, chẳng những kinh qua sử sách, mà còn phải thấu được những nghĩa lí sâu sa, và càng khiến mọi người đều biết, nhà nhà đều hay, ngược lại không như quan thấp thường không hiểu về cái thiện và những điều dâm tà, trung nịnh trinh tà rất rõ ràng, càng khiến cho con người ta rung động lòng người, càng khiến cho con người ta chú mục kinh tâm, như biết được điều nhân quả, chính là ở chỗ thế đạo nhân tâm không phải là không bổ khuyết sao”. Chính những nhận thức đã được các tiểu thuyết gia phản ánh một cách rõ ràng.
Mục đích giáo hóa của các nhà tiểu thuyết chính là ở chỗ cứu vãn nhân tâm và đạo đời, ý thức “bổ thiên” này đã được họ phổ biến một cách sâu rộng. Trong lời tựa và lời bạt của rất nhiều tiểu thuyết đã thể hiện rõ ràng điều này. Như Bút Luyện Các chủ nhân giải thích về đạo của hai chữ “bổ thiên”: “Nữ Oa vá trời, trời có hình. Trời nay ta vá, trời không có hình. Trời có hình gọi là thiên tượng, trời không có hình gọi là thiên đạo. Cái thiếu của thiên tượng thì không thể vá, cái khuyết của thiên đạo thì sâu sắc mà có thể vá”. Lăng Vân Hàn lúc viết trong lời tựa “Tiễn đăng tân thoại”: “là lúc tuy là những quan thấp, mà cũng khuyên làm điều thiện mà trừng trị cái ác, động tồn khiến con người có thể cảnh giác, không thể nói là không có bổ cứu ở đời”. Trương Quang Khải thì gọi “Tiễn đăng dư thoại”: “Tuy chỉ rõ không phải bản gốc kinh truyền ở đời, nhưng điều này khiến cho điều thiện có thể được thực hành ở đời, cái ác được ngăn ngừa, thể hiện tình nghĩa, nâng cao phong tục, việc làm chân thành của nhân luân có nhiều, chưa hẳn không vá cho đời”. Phất Trai chủ nhân đời Thanh bình về Phùng Mộng Long “ba điều”: “dựa và nhân tình thế thái, bi hoan li hợp, cùng lao cực biến. Không chỉ người nghe kinh ngạc, mà khiến cho người thiện cũng cảm động, không thiện cũng biết trừng phạt, dần dần cùng chung cái đẹp phong hóa mĩ tục.” Tiểu thuyết Minh Thanh vô cùng coi trọng tiết tháo đạo đức của nhân vật, luôn tán dương những kẻ sĩ đại trung đại hiếu, phẩm hạnh cao khiết, hình tượng nhân vật đều được phân biệt thiện ác tốt xấu, giống như nước sông Kinh sông Vị, phân dòng rõ ràng.
Các nhà tiểu thuyết Minh Thanh sở dĩ lấy việc tích cực truyền bá và tính thực tiễn làm tư tưởng “giáo hóa vi tiên”. Một mặt họ đã đề cao được giá trị quan và nhân sinh quan việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ mang tính truyền thống của kẻ sĩ, điều này có tính trách nhiệm đối với xã hội rất lớn; Mặt khác sự biến đổi lớn trong xã hội cuối Minh đầu Thanh đã làm mất đi rất nhiều phong tục tập quán trong xã hội, khơi dậy lòng nhiệt tình “bổ thiên” vốn không có trước đây của các nhà tiểu thuyết. Họ mong muốn khôi phục lại trật tự đạo đức tam cương ngũ thường, trừng phạt những kẻ bất trung, bất hiếu, không tiết, không nghĩa, trở thành ý thức tự giác và mong muốn theo đuổi trong lúc sáng tác của các nhà tiểu thuyết. Trong các cuộc tranh cãi ồn ào về việc làm thế nào để giáo hóa, rất nhiều tiểu thuyết gia ý thức được ưu thế đặc biệt của việc giáo hóa dân chúng.
Ý thức giáo hóa này của các nhà tiểu thuyết Minh Thanh đã ảnh hưởng sâu sắc đến các sáng tác của tiểu thuyết Việt Nam. Trong lời tựa của “Truyền kì mạn lục” đã nhận thức “dù rằng có cảnh giới, có khuyên răn, những quy phạm, đều có liên quan đến giáo lí ở đời”,v,v…mà trong sách “Kiến văn lục” Ngô Thần Hoàng có lời tựa rằng:
Quyển sách này tìm tòi những điều thần bí, những hài hòa, mà điều này do thái sử công, khởi ở việc ghi chép sự việc, lúc buồn vui ở đời, có sự di phong chính tục, có những lời nói quái dị khác xa đời thường, có những lời nói khiến làm mất đi sự chân chính, về đại để ngụ ở việc khuyên trừng trị cái ác, sẽ giúp cho lớp người sau, điều thiện có thể thi hành ở đời, mà điều không thiện sẽ được ngăn ngừa.
Nội dung giáo hóa của các nhà tiểu thuyết Minh Thanh thể hiện rõ ràng nhất ở mặt luân lí đạo đức, đặc biệt là thuyết giáo về giới sắc và giới dâm. Các tiểu thuyết gia trong lúc tiến hành thuyết giáo giới sắc và giáo dâm, đã đưa ra việc “nữ sắc vong quốc (gái đẹp mất nước)” trong lịch sử để cảnh giới người đời. Ví dụ như Bao Tự mất Chu, Phi Yến làm họa cho Hán, Tây Thi diệt Ngô, Quý Phi loạn Đường, đã trở thành nguồn tài liệu quý báu cho các nhà tiểu thuyết nhằm cảnh giới các đấng minh quân nên tránh xa nữ sắc. Trong lịch sử Việt Nam khi kiến giải phận hồng nhan gây họa không nhiều, người phụ nữ được sử sách nhắc đến nhiều nhất là Hai Bà Trưng và Triệu Thị Trinh là những nữ anh hùng cầm quân chống lại chính quyền phương Bắc. Nhưng do chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc, tiểu thuyết Hán văn Việt Nam cũng đã xuất hiện các tác phẩm giới sắc giới dâm “nữ sắc vong quốc”, điều này đã được tiểu thuyết “Hoàng Lê nhất thống chí” ghi chép rõ ràng. Hồi thứ nhất của tiểu thuyết ghi lại “Trịnh Tuyên Phi được sủng ái nơi hậu cung, vương thế tử bị phế truất vứt bỏ nơi ngục tối”, mở đầu thuật lại “Thịnh vương (Trịnh Sâm) cương trực, anh minh, trí tuệ hơn người, văn võ toàn tài, đọc rộng kinh sử, thích làm thơ văn. Triều đình trật tự, cương vực xã tắc ổn định vững bền, làm được những điều này đều do vương sư toàn tâm toàn ý ”. Nhưng không lâu, họ Trịnh bị Đặng Thị Huệ mê hoặc, họ Đặng này nguyên là một nữ tì, nguyên nhân “sinh ra được thừa hưởng sắc đẹp phượng yến mày ngài, muôn phần tươi đẹp, vương thấy lấy làm thích lắm, do vậy mà đã mang về tư thất riêng. Từ đó trở đi đều rất sủng ái người con gái này, ai nói cũng không nghe, cùng sống với cương trong chính thất, như phu phụ một nhà. Quần áo, xe ngựa cực kì xa hoa…” tiếp đến, tình tiết trong tiểu thuyết chép lại họ Trịnh ân sủng Đặng Tuyên Phi đến nỗi mà phế bỏ thế tử, lấy con do Đặng Phi sinh ra làm thế tử. Do sự phế trưởng lập thứ, cho đến khi kiêu binh làm biến, cuộc binh biến Tây Sơn, diệt Trịnh phù Lê, Sau này khi Trịnh vương bị tiêu diệt cho là do họ Đặng gây lên, điều này cũng giống như trong văn học Trung Quốc, chủ đề “nữ sắc vong quốc” được coi như một mô túyp
Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo, quan niệm giáo hóa của đạo đức Nho giáo căn bản đã đi sâu vào lòng người, trong lúc sáng tác tiểu thuyết Hán văn Việt Nam đã tiếp nhận quan niệm giáo hóa đạo đức của tiểu thuyết Minh Thanh. Có thể nói trong tiểu thuyết Hán văn Việt Nam chỗ nào cũng thấy dấu tích của giáo hóa. Như “Mộc miên thụ truyện”, “Xương Giang yêu quái lục” trong “Truyền kì mạn lục” đều thấy vai trò tích cực của đạo sĩ và cao tăng. Dưới sự trấn áp của cao tăng, nữ yêu được dẹp yên. Tất cả những điều này có dụng ý như một cảnh tỉnh đến với mọi người. Trong “Từ Thức tiên hôn lục” xuất hiện những thuyết giáo đạo đức “có âm đức tất có dương báo”. Ở ví dụ khác, trong thiên “Trà đồng giáng diên lục”, mở đầu thiên thuật lại bệnh nặng của Dương Đức Công, chết đi sống lại, có ý khuyên người ta làm điều thiện trừng trị cái ác; cũng trong “Lí tướng quân truyện” là một tiểu thuyết coi trọng thuyết giáo, nhưng đối tượng cần phản tỉnh đã chuyển từ văn nhân đến võ nhân.
Tác giả tiểu thuyết chí quái “Thần quái hiển linh lục” đã ghi chép được những sự tích thần kì hiển linh của các bậc thần thánh, không quên mượn thuyết giáo thần đạo có bao hàm ý cảnh tỉnh ở đời, như trong thiên “Trần triều tổ mộ kí” chép lại việc có một vị khách phương Bắc hiểu biết phong thủy đến tìm đất, tìm được đất có vị trí tốt, sẽ hứa cho Nguyễn Cố, nhưng yêu cầu phải dời mộ của nhà anh ta. Sau ba ngày dời mộ, vào nửa đêm bỗng nghe thấy một tiếng sấm lớn, có một con mèo tai đá đột nhiên chạy ra miếng đất đó, biết là miếng đất tốt, người vợ Nguyễn Cố liền tạ ơn. Tổ tiên của triều Trần lấy nghề đánh bắt cá làm nghiệp, cứu được một người khách phương Bắc; người khách phương Bắc để cảm tạ đã tìm miếng đất tốt đó để báo đáp, sau khi nhà họ Trần dời mộ tổ liền được thiên hạ. Nói việc đất thuận phong thủy dùng để chỉ những người tốt, có lòng nhân hậu cuối cùng sẽ được hưởng cuộc sống yên lành; vợ người đánh cá bần hàn do ăn ở hiền lành, luôn tích thiện, nên được ban mảnh đất lành, sau này có thể lưu truyền lại cho con cháu. Trong “Thần quái hiển linh lục” còn mượn không ít những quy luật nhân quả, báo ứng của Phật giáo, quan niệm sống chết luân hồi, trở thành giáo huấn đạo đức nhân gian khuyến khích điều thiện, trừng trị cái ác. Hay như câu chuyện viết về cuộc sống của các sư tăng thần thoại được viết trong “Hậu bổng quang minh tự ki”, đã dùng lí luận Phật giáo để giải thích những quan niệm thiện ác trong cuộc sống, câu chuyện đã tăng thêm tính huyền ảo trong câu chuyện, trong đêm Phật di đà ngự trên tòa sen, bèn rằng: “Con có công giáo hóa Phật giáo, có lòng từ bi, một lòng thiện tâm, kiếp sau giáng trần làm hoàng đế, con nên biết điều này”. Nhà sư sau khi tỉnh lại, liền triệu tập các môn sinh: “Mỗ còn nhỏ đã làm kẻ xuất gia, quy y đạo Phật, mỗi ngày đều tự tĩnh tâm, nay thiện quả đã thành duyên, đó là báo đáp kiếp sau của ta”. Quan niệm của vị sư tăng đó là từ quan điểm của Phật giáo cho rằng vị trí của Hoàng đế trong mắt nhân gian là một ngôi vị cao khó đạt được, do nghiệp chướng trước lúc sinh ra đã được tiền định sẵn, cho nên kiếp sau chính là báo đáp luân hồi. Người hiểu rõ được điều này tất sẽ đạt được cảnh giới nơi niết bàn, đó chính quan niệm luân hồi siêu thoát trong Phật giáo.
Ngoài ra, cũng giống như thiên “Bần gia nghĩa khuyển truyện” trong “Tân truyền kì lục” mượn lời nghĩa khuyển để bài xích, chê bai con người bất trung, bất nghĩa; “Tập trùng giốc thắng kí” mượn lời của ve sầu, để ra sức bài xích nhặng xanh, dẫn ra lời giáo huấn: “ Nhặng là loại không biết gì, con biết thanh giới tự thủ, lẽ nghĩa trị cung, huống chi sĩ phu ở ngoài đời, chớ coi trọng cương thường, cương thường không quan trọng, áo mũ cũng giống như loài cầm thú, có khác gì loài nhặng xanh đó sao?”. “Phạm tử hư sự sư truyện” trong “Lĩnh Nam chích quái lục liệt truyện (quyển ba – tục loại)” cũng thuật lại những lí do Phạm Tử Hư tôn sư mang lại công danh, cuối cùng dẫn ra “Dịch” viết rằng “nhà tích thiện tất có niềm vui”. Những tiểu thuyết này đều nhấn mạnh vai trò, công dụng của việc giáo hóa đạo đức.
1.3.Tâm lí tôn sùng cái lạ
Từ xưa đến nay tôn sùng cái lạ, tìm hiểu cái mới là tâm lí chung của các văn nhân, theo đuổi những điều li kì dường như là truyền thống của tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc. Các nhà tiểu thuyết cuối đời Minh đầu đời Thanh đối với việc tôn sùng cái lạ, tìm hiểu cái mới, đều thể hiện hứng thú và mục đích theo đuổi, tất cả đều được thể hiện trong các tác phẩm. Cũng như Trương Quốc Phong đã từng nói: “Từ thần thoại, văn học sử truyện, lục triều chí quái, truyền kì thời Đường, cho đến “Tam quốc”, “Thủy hử”, “Tây du”, cùng với việc miêu tả bằng thoại bản, những nhân vật thế tục của thời Tống Nguyên, dựa vào những thoại bản của nhà Minh, đều có thể ý thức được sức mạnh của truyền thống. Những tiểu thuyết truyền thống này khiến cho độc giả say mê điều hiếu kì, ham thích tình tiết lạ, độc giả ham thích những cái lạ lại có tác dụng tích cực đối với sáng tác văn học, khiến cho các tác giả không dễ mà đi lệch với quỹ đạo truyền thống”.
Tôn sùng cái lạ ham thích cái mới của người Minh Thanh, đều có đặc điểm thời đại. Nhắc đến cái lạ, kì thức, kì kế, kì mưu, kì hành, kì tiết, kì khí, kì tài, kì dũng, v,v…là những phương thức biểu hiện chủ yếu của tâm lí thich cái lạ của các nhà tiểu thuyết. Những nhà tiểu thuyết cuối Minh đầu Thanh đối với việc thích cái lạ đã thể hiện ở việc hứng thú tìm hiểu và theo đuổi cái lạ, vô luận là sáng tác tiểu thuyết hay trong cuộc sống cá nhân đều đã được thể hiện một cách rõ nét. Phùng Mộng Long đã từng theo đuổi cái lạ đã không thể ngủ yên, trong một lần biên tập cuốn sách “Tình sử”, ông đã viết lời tựa, tác giả cho rằng: “Người nghe có thể thấy lạ, tuy không biết, không cầu ở những nơi đó; hoặc có sức hoặc không tải, lúc thở lúc ngâm, trong đêm chuyển không thấy được cái lạ nên không ngủ yên giấc”. trong lúc ngủ ở quê hương Binh Lăng Mộng cũng có lời: “cái kì lạ của người này, cái kì lạ của văn này, cuộc gặp gỡ kì lạ này” điều chân thật này thật là không khoa trương. Bồ Tùng Linh có thú nhã văn sưu tầm thần thoại, nói chuyện ma, cái này chính là sự linh nghiệm của ngòi bút, mở rộng sự truyền bá.
Tâm lí tôn sùng cái lạ của các nhà tiểu thuyết, còn được họ thể hiện trong cách đặt tên cho các tiểu thuyết. Các tác phẩm “Kim cổ kì quái”, “Tục kim cổ kì quái”, “Nhị kì hợp truyện”, “Hoan duyên kì ngộ”, “Kim cổ truyền kì”, “Kim cổ kì văn”, “Cảnh thế kì quan”, “Liêu trai chí dị”,v,v… các tác giả đã lấy “kì”, “dị” để gây sự hấp dẫn chú ý của người đọc. Cùng với “kì” là “hoan” hoặc “giả”. Do vậy mà các văn nhân đời Minh Thanh đối với mối quan hệ giữa ba từ “kì”, “hoan”, “chân” luôn luôn có sự tranh luận. Ví dụ như Viên Vu Linh trong lời đề tựa “Tây du kí” nói: “Việc mà thiên hạ cực thích huyền ảo, việc thích cái cực chân; lí lẽ của cực ảo và lí lẽ của cực chân”. Vưu Đồng đời Thanh trong lời tựa “Tây du kí chân thuyên” cho rằng: “Những lời nói này tuy huyền ảo, có thể được so sánh rất lớn; những việc này có thể lạ, nhưng có thể là chân chính; ý này tuy là du kí ham chơi, mà cũng rất thần thông”. Đối với người Minh Thanh mà nói, những việc lạ, người lạ đó, biểu hiện mặt bên ngoài cuộc sống mọi người tuy cách xa nhau, nhưng bao hàm tính triết lí rất sâu sắc, chính điều này thể hiện được sự đồng loại vật lí có tinh nhân tình phổ biến trong xã hội hiện thực, điều này cũng có lẽ là một trong những nguyên nhân ham thích điều lạ của truyền thống.
Tâm lí tôn sùng cái lạ của các nhà tiểu thuyết Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Điều này cũng lí giải nguyên nhân vì sao “Liêu trai chí dị” luôn được hoan nghênh, đón đọc ở Việt Nam. Ngô Thần Bị trong lời tựa thiên thứ nhất trong lời tuyển “Kiến văn lục” cũng đưa ra quan điểm đáng được coi trọng. Ông cho rằng sáng tác chí quái có thể “khiến con người không thường thấy, không thường nghe, mà đều có thể thấy” sau đó ông nói:
Hồng quân tử tôi lấy thông minh, tôi lấy văn chương. Tất cả nhưng cái có thể nghe, có thể truyền đến nó, cũng như tạo hóa bổ thiên không kịp với thiên hạ.
Ở đây cách nói “tạo hóa bổ thiên không bằng”, cùng với Lí Hạ trong thiên “Cao hiên qua” đã thấy được ngòi bút bổ thiên tạo hóa” ý nghĩa của nó vô cùng tương cận. Đầu tiên là việc lạ, người lạ “thấy nghe” được ghi chép lại, truyền rộng ra, đạt được giá trị vinh hằng, trơ thành một bộ phận trong tạo hóa; mà trên thực tế những người lạ, việc lạ này, đều hợp thành tạo hóa không kịp, thuộc về không gian kết cấu trong tác giả tiểu thuyết chí quái.
Ở Việt Nam, trong tiểu thuyết Hán văn thể loại truyền kì chí quái tương đối nhiều. Truyền kì, bản thân nó chính là tìm hiểu những điều kì lạ. “Truyền kì mạn lục” được tôn xưng là “thiên cổ kì bút”. Trong “Tân đăng giảo bình Việt điện u linh tập” có lời tựa “Đệ nhị kì thư tập”, cái gọi là “kì bút”, “kì thư” này, đều chịu ảnh hưởng của giới tiểu thuyết Trung Quốc.
Cũng như các tiểu thuyết truyền kì của Trung Quốc, tiểu thuyết truyền kì Việt Nam ở trên các tên sách cũng có gia thêm “kì”, “quái”, “thần”, “tiên”, “linh”, “dị”, ví dụ như: “Lĩnh Nam chích quái liệt truyện”, “ Việt điện u linh tập”, “Nam thiên trân dị lục”, “Việt Nam kì phùng sự lục”,v,v... ý thức truyền kì chí quái này đều được thể hiện một cách rõ ràng trong các sáng tác của nhà văn. Đọc suốt những sách này, chúng tôi phát hiện trong lời tựa và lời bạt của sách đều là giới thiệu của tác giả viết sách hoặc của người thân bạn bè giới thiệu về sách, mà trong lời tựa đều thấy lí do sáng tác và chủ trương nghệ thuật có cùng mô típ, xu hướng với các nhà tiểu thuyết truyền kì chí quái Trung Quốc, họ thậm chí tuyên bố không úp mở những tuyên ngôn nghệ thuật trở thành quy phạm, được xem như một sự khu biệt. Vũ Quỳnh (1452 – 1516) trong tác phẩm “Lĩnh Nam chích quái liệt truyện”, lấy sự tích thần linh Việt Nam làm chính, nhưng dường như vẫn lấy cách viết của các nhà tiểu thuyết Trung Quốc làm tiêu chuẩn. Ví dụ trong “Lĩnh Nam chích quái ngoại truyện (quyển ba – tục loại)” có thiên “loại tục hậu bạt” cũng chính là nói đến “Lĩnh Nam liệt truyện” “xem “chí quái” của Bùi Hình, “biệt dị” của người Tống, cùng là một mô típ”. Trong lời tựa “Lĩnh Nam chích quái ngoại truyện” cũng gọi là “sưu thần kí” của người Tấn, “u quái linh” của người Đường cũng đều đồng nhất là một”. Cũng chính trong lời tựa này nói: “quái của “Lĩnh Nam”, sáng tác của “liệt truyện”, không chỉ ở bản khắc đá, bản điêu khắc, mà còn được sáng tác từ trong dân, được truyền tụng trong dân. Từ người già đến trẻ con đều được yêu mến, tất cả những điều này đều được coi là cương thường, hợp với thuần phong mĩ tục…….” đã biểu hiện rõ những tác phẩm này đều ảnh hưởng tác phẩm đến Việt Nam, cũng đã biểu minh được quan niệm sáng tác tương đối giống nhau của các nhà tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc.
Trong lúc sáng tác, tác gia Việt Nam đặc biệt chú ý đến cách miêu tả các việc lạ, nhân vật lạ. Như trong “Tân đính giảo bình Việt điện u linh tập” quyển một “Lệ hải bà vương kí” đã miêu tả dung mạo kì vĩ của anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh, đã ghi lại tướng mạo nam tính “mũi hổ, mặt rồng, đầu báo, trán yến” hay như việc đặc tả “vú dài ba tấc”, là người phụ nữ cao lớn, khôi ngô tuấn tú.
Cũng như câu chuyện thiên bốn mươi hai trong “Thần quái hiển linh lục” đã ghi chép lại, là sự tích cuộc đời của các trạng nguyên, tiến sĩ, thám hoa, trong sáng tác đã thấy được tâm lí sáng tác, sưu tầm truyện chí quái của các tác giả. Những trạng nguyên, tiến sĩ Việt Nam này được miêu tả như những nhân vật kì lạ, thông minh khác thường, dưới ngòi bút truyền kì của các tác giả những người đỗ đạt đều là những người được thần linh giúp đỡ, cũng đã phản ánh sự ảnh hưởng lâu dài của chế độ khoa cử, khiến cho người đọc thấy được vị trí cao quý của các nhà khoa bảng Việt Nam. Thiên thứ 12 trong quyển sách này, tên thiên “Phù dụng tiết phụ kí”, “Hậu phụng quang minh tự kí”, “Bối khê tự kí”, “Hạ phì dị nhân kí”, “Hóa ngũ điền quận công kí”, “Thanh hoa linh tự kí”, “Cường bạo đại vương kí”, “Bối khê tự kí”, “La sơn nguyến giám sinnh kí”, “Trần triều tổ mộ kí”, “Trung hành võ tộc tổ mộ kí”, “Hoàng xá cung phi tổ mộ”, “Tử trần lân canh dương trạch kí”; Từ tập mười ba đến tập hai mươi mốt là “Trạng nguyên mộ đình chi kí”, “Bảng nhãn Nguyến Đức Trinh kí”, “Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt phổ kí”, “Bảng nhãn Ngô Công Hoán kí”, “Thám hoa Lưu Kim kí”, “Đô thái Nguyễn Công Mẫu kí”, “Đông các Nguyễn Công Bảo kí”, “Kiệt đặc thượng thư kí”, “Hoàng giáp đồng công nguyễn kí”,v,v…, cùng “Nam thiên trân dị tập” có ba mươi sáu thiên và cùng với đó nội dung câu chuyện, tình tiết trong truyện tương đối giống nhau, cách viết cũng tương đối giống nhau. Nhưng nội dung cuốn sách về tổng thể đều lấy thần và người dùng báo ứng nhân quả, hình ảnh sự lạ, nhân vật kì quái là chủ yếu để ứng báo những mối tai họa xảy ra, đã thể hiện khuynh hướng chí quái rất rõ ràng.
Từ việc miêu tả cụ thể trên đây, những sáng tác tôn sùng cái lạ trong tiểu thuyết Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng. Ví dụ như người họ Phạm trong “Đại Nam hiển linh lục – tiên nhân Phạm Nguyễn” cho người phụ nữ góa chồng không con hai mươi mốt văn tiền, nhưng tiền đó chỉ có thể “sáng mua mà tối trả”, người góa phụ từ đó không phải lo chuyện quần áo, ăn uống hàng ngày nữa; người họ Phạm đó còn cho một lão phụ trong núi một vò rượu, lúc hỏa hoạn xảy ra, lão phụ lấy rượu rắc xuống “bỗng nhiên có mưa lớn, lửa được dập tắt, trong mưa có mùi rượu, ba ngày vẫn không tản hết”; anh ta còn cho ông lão ăn mày hơn 70 tuổi một chiếc gậy chống, ông lão chỉ việc chống gậy bên đường, không phải cất lời xin xỏ, người qua đường thấy vậy lập tức treo tiền lên đầu gậy cho lão, ông lão từ đó mà đủ ăn đủ mặc. Trong cuộc sống hàng ngày, đây là một cách thể hiện giúp đỡ những người khốn khó, già nua, cô đơn, các tác giả đã dùng kĩ thuật miêu tả truyền kì, sử dụng những thế lực siêu nhiên, con người siêu nhiên để giúp đỡ những kẻ khốn khó, thể hiện cuộc sống sinh sinh bất diệt, đã thể hiện lí tưởng phổ biến của người đọc Việt Nam.
Trong tiểu thuyết chí quái Việt Nam cũng không thiếu đi sự huyền diệu trong miêu tả tình yêu. Trong “Thanh trì tình tích” của “Kiến văn lục” chính là câu chuyện tình yêu cảm động lòng người, thuật lại người con gái nhà họ Trần do mất người yêu khiến cho ôm hận mà chết, sau khi chết biến thành viên đá hình mái chèo của con thuyền dựa vào có thể nằm được, tượng trưng tình yêu bất diệt của cô gái đối với chàng ca sĩ Nguyễn Sinh, một lòng không thay đổi, mãi mãi bền lâu. Nhưng khi nước mắt nóng hổi rơi vào con thuyền, viên đá mà dùng “bú rìu đập cũng không vỡ”, liền nứt toác ra biến thành máu tươi; viên đá là sự kết tinh tình yêu chung thủy của người con gái nhà họ Trần, từ đó có thể thấy sự hiển hiện của sức sống thần kì. Cấu tứ của tác phẩm rất khéo léo tài tình, trong các câu chuyện tài tử giai nhân phần nhiều dùng đề tài bảng vàng đề danh, nhưng kết cục ưa thích đều không giống nhau. Nhưng, kết cấu này có lẽ không phải là chủ đề sáng tác đầu tiên của các tác gia Việt Nam, có thể do chịu ảnh hưởng của các nhà tiểu thuyết Trung Quốc. Thời kì tiểu thuyết Minh Thanh, những tiểu thuyết có tình tiết câu chuyện “người trong mộng” cũng đặc biệt nhiều, ở đây có thể lấy tiểu thuyết Minh Thanh “Tâm kiên kim thạch truyện” làm ví dụ. Trong những thiên tiểu thuyết này từ chỗ “Hoa ảnh tập” do Đào Phổ biên tập. Tiểu thuyết thuật lại bi kịch tình yêu của thư sinh Lí Nhan Trực và kĩ nữ Trương Lệ Dung đời Nguyên. Lí Nhan Trực và Trương Lệ Dung dùng thơ để thể hiện tình cảm, chống lại hôn nhân sắp đặt do cha mẹ định sẵn. Đến ngày kết hôn, Lệ Dung lại bị chính Tham chính A Lỗ Đài cưỡng bắt. Lệ Dung bị đưa đến kinh thành, Nhan Trực đuổi theo đoàn tùy tùng đến hơn ba nghìn dặm, suốt đêm gào khóc, đến nỗi tuyệt vọng, kiệt sức mà chết, Lệ Dung biết tin cũng treo cổ trên thuyền. A Lỗ Thái rất tức giận, sai người đốt xác, duy có tim là không cháy. Trong tim của Lệ Dung có một vật nhỏ hình người, màu sắc của nó như vàng, cứng như ngọc. Trên hình người đó, những chi tiết nhỏ nhất như quần áo, lông mi hoàn toàn giống với Lí Nhan Trực. A Lỗ Đài lại ra lệnh đốt xác Nhan Trực, trong đó cũng có viên đá bằng vàng giống Trương Lệ Dung. Tiểu thuyết cũng đã miêu tả được tình yêu chân thành của Lí Nhan Trực, đồng tình với Trương Lệ Dung lấy cái chết để chứng minh sự kiên trinh trong tình yêu của mình để chống lại thế lực cường bạo. Tác giả giải thích: “Tình yêu nam nữ, tình cảm thủy trung, mà trước sau đều không hài hòa, cho nên vừa nhắc đến cảm được cái kết, thành hình như vậy. Đã được họp nhất lại một chỗ, tình cảm thăng hoa, giải thích được mọi điều”. Điều này chính là người xưa lấy tâm để thể hiện quan niệm tư duy. Tuy mới tưởng tượng, không phải là khoa học, nhưng những miêu tả phi hiện thực ngược lại đã bổ sung việc thể hiện tình yêu khắc cốt ghi tâm, cảm động lòng người một cách sâu sắc. Trong thơ văn đã nhiều lần mô tả so sánh “so với cánh chim”, “liên tưởng đến cành hoa”. Xây dựng tình tiết trong “Tâm kiên kim thạch truyện” có chịu ảnh hưởng văn hóa thơ ca truyền thống Trung Quốc, đồng thời những tình tiết này cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của sáng tác hí khúc tiểu thuyết Minh Thanh. Từ trong “Hạng vương tự kí” của “Truyền kì mạn lục” có thể thấy được Đào Phụ “Hoa ảnh tập” ở Việt Nam cũng được lưu truyền, “người trong mộng” trong “Thanh trì tình tích” xây dựng tình tiết kì quái này cũng chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Minh Thanh.
2.Tính đặc sắc dân tộc của tiểu thuyết cổ điển Hán văn Việt Nam
2.1.Ý thức so sánh sâu rộng
Trong tiểu thuyết Hán văn Việt Nam có ý thức so sánh sâu rộng, ý thức so sánh này, ngược lại càng khiến cho chúng ta có thể hình dung rõ ràng sức ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Do Trung Quốc cổ đại nằm ở vị trí trung tâm văn hóa của các quốc gia, theo lẽ tự nhiên văn học Trung Quốc trở thành tiêu chuẩn rất cao của họ.
Trong các tác phẩm văn hóa văn học cổ đại Việt Nam đã bộc lộ một cách phổ biến ý thức so sánh. Trong các văn bản trước đây được thuật lại, chúng ta cũng có thể thấy được ý thức so sánh trong các tác phẩm thơ ca hoặc tản văn. Trong các tác phẩm tùy bút đâu đâu cũng có thể thấy ý thức tư tưởng này, ví dụ như “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ là một bài ghi chép về văn hóa Việt Nam có liên quan đến vấn đề này, trong đó có sự so sánh với văn hóa Trung Quốc rất sâu sắc, như “Minh ẩm”: “yêu thích của nước tôi cũng gần giống như Trung Quốc”; “Nhạc biện”: “ngôn ngữ nước tôi có một chút khác so với Trung Quốc”; “Địa mạch nhân vật” tương đối có ý nghĩa, trong đó nói “thắng địa sông núi của nước tôi, thấy trung châu không nhiều”, “nước tôi ở trung châu, cụ thể nhưng cũng là điều hơi nhỏ”.
Cụ thể khi nhắc đến ý thức so sánh trong tiểu thuyết cũng được thể hiện rất rõ ràng, ví dụ như Vũ Quỳnh trong lời tựa “Lĩnh Nam chích quái” cũng đã có nhắc đến: “cách nhin này cũng đồng nhất với người đời Tấn trong “Sưu thần kí”, với người Đường trong “U quái lục” ”
Có thể nói ý thức so sánh không chỉ được thể hiện trong những lời tự hay lời bạt của các tác phẩm, mà còn được thể hiện cụ thể trong các sáng tác, như Đoàn Thị Điểm trong “Truyền kì tân phả” cũng đã thể hiện trong sáng tác của bà, đã thể hiện được ý thức so sánh. Trong câu chuyện dân gian Việt Nam “Quỳnh trạng nguyên sự tích”, có nhắc đến sứ thần Minh Thanh đến Việt Nam, Trạng Quỳnh sắp xếp cho Đoàn Thị Điểm trang điểm giống người con gái bình thường, ở quán trà nơi sứ thần đi qua để khoản đãi, sứ thần Minh Thanh nhìn thấy người con gái đẹp, cử chí đoan trang, lời nói khiêm nhường của Đoàn Thị Điểm liền đưa ra một câu thơ để chọc ghẹo: “Nam bang nhất thốn thổ, bất tri kỉ nhân canh”. Đoàn Thị Điểm lúc đó đang nhai trầu, liền quệt miệng nói, lập tức nói lại rằng: “Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất”. Câu chuyện này có thể được các văn nhân Việt Nam biên tập lại, nhưng trong đó có thể thấy mầu sắc phản đối và sự so sánh sâu rộng, việc tuyển chọn Đoàn Thị Điểm biết rằng bà là người có học, thơ chữ Hán vô cùng sâu sắc, đủ sức đối đáp lại các sứ thần triều đình nhà Minh Thanh.
Ý thức so sánh này còn thể hiện ở động cơ sáng tác, có thể nói các tác gia cổ đại Việt Nam trong ý thức hầu hết đều tiềm tàng tâm lí đuổi kịp và vượt qua Trung Quốc. Các sứ thần của Việt Nam thường mang những tác phẩm ưu tú của nước mình hoặc những văn tập thơ văn của mình đến Trung Quốc có thể thấy được điều này. Hiện nay trong các thư viện quốc gia, thư viện Đại học Bắc Kinh và thư viện Vân Nam, v,v…đều tàng trữ một bộ phận cổ tịch Việt Nam, con đường truyền bá văn thơ này tương đối nhiều thông qua các sứ thần khi đến Trung Quốc. Ví dụ như triều Nguyễn, sứ thần Nguyễn Thuật trong “Vãn tân nhật kí” đã nhiều lần đưa ra thơ văn của các nhà thơ Việt Nam tặng các sĩ nhân Trung Quốc, trong điển tịch Trung Việt đều có thể tìm thấy được bút tích ghi chép của các sứ thần Việt Nam mang đến tặng cho Trung Quốc. Như: “(Tự Đức tháng ba năm thứ ba mươi bảy) ngày 21, dùng “Vĩ dã thi văn hợp tập” tặng cây mai nhỏ”. Theo Vĩ Dã (1819 – 1870) là con thứ 10 vua Minh Mệnh triều Nguyễn của Việt Nam, cũng chính là nhà thơ nổi tiếng Việt Nam, cách sử dụng âm vận chọn chữ đặt câu của ông rất tinh tế, đặc sắc, độc đáo trên văn đàn. Cho đến nay giống như “Truyền kì mạn lục”, “Kim vân kiều tân truyện” (chính là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du) sớm được du nhập vào Trung Quốc, thư viện Đại học Bắc Kinh đã tàng trữ được bốn cuốn “Truyền kì mạn lục” được du nhập vào khoảng giữa năm Đạo Quang.
Tiểu thuyết Hán văn Việt Nam trong mức độ nào đó được xác lập là văn hóa Việt Nam, có tác dụng truyền bá rất rộng rãi. Kẻ thống trị và các văn nhân Việt Nam đã ý thức được điều này, và cũng theo lẽ tự nhiên cho dù cố ý hay vô ý đều được thâm nhập vào các sáng tác tiểu thuyết.
2.2. Ý thức dân tộc nồng đậm
Cũng như ý thức so sánh sâu rộng, trong các tiểu thuyết Hán văn Việt Nam đã bao hàm ý thức dân tộc nồng đậm, điều này được thể hiện hầu hết trong các tiểu thuyết Hán văn Việt Nam. “Long nhãn như nguyệt nhị thần truyện” trong “Lĩnh Nam chích quái”: Tống Thái Tổ lệnh cho Hầu Nhân Bảo xâm lược nước Nam, thần nhân đã khiến cho kinh hãi mà thất bại tan tành. Trong đó thần có thơ rằng: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”, đã biểu hiện ý thức dân tộc sâu sắc. Ý thức dân tộc trong tiểu thuyết Hán văn Việt Nam ngay từ tên sách, tên thiên của tác phẩm cũng đã được thể hiện rõ ràng, “Nam ông mộng lục”, “Nam quốc giai nhân”, “Nam quốc vĩ nhân truyện”,v,v…các tác phẩm đều lấy chữ “Nam” làm chữ mở đầu, từ trong lời tựa của các tác phẩm đều đã biểu lộ ý thức dân tộc sâu sắc.
Ý thức dân tộc của tiểu thuyết Hán văn Việt Nam và sự thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc đã được biểu lộ trong việc mô tả các hình tượng nhân vật và các tình tiết của câu chuyện. Trong các tiểu thuyết như “Truyền kì mạn lục”, “Hoàng Việt xuân thu”, “Hoàng Lê nhất thống chí”, v,v…trong các tiểu thuyết này đều nhắc đến cuộc chiến tranh triều Minh, triều Thanh và Việt Nam, ở đây tinh thần dân tộc đã được thể hiện vô cùng sâu sắc.
2.3. Đặc sắc văn hóa khu vực sâu rộng
Nói đến đặc sắc tiểu thuyết Hán văn Việt Nam, không thể không nói đến đặc sắc văn hóa khu vực. Trước tiên chúng ta nói đến “Truyền kì mạn lục”,v,v…với cách nhìn tiết tháo trong quan niệm của tiểu thuyết Việt Nam so với Trung Quốc tương đối rộng mở, thực chất đây cũng là một trong những đặc sắc văn hóa khu vực. Văn hóa Việt Nam từ lúc khởi nguồn đã nằm trong khu vực văn hóa Hán, nhưng về địa lí lại thuộc về khu vực Đông Nam Á, do vậy mà đã mang rất nhiều nét văn hóa Đông Nam Á, sự rộng mở về quan niệm tiết tháo cũng là một trong những nguyên nhân.
Ngoài ra, tuy các nhà tiểu thuyết Việt Nam đa phần mô phỏng cách sáng tác của các tiểu thuyết Trung Quốc, nhưng cuối cùng họ lại sống ở Việt Nam. Chính nguyên nhân này, cho dù các tác phẩm mang dấu tích mô phỏng rõ rệt nhưng đặc sắc khu vực vẫn được in đậm trong tác phẩm. Ví dụ trong “Truyền kì mạn lục” đã thuật lại những liên quan đến yêu xà, cũng giống như phương Bắc Trung Quốc tôn sùng cáo mà đa phần đều là các câu chuyện cáo thành tinh, cũng có thể chính điều này ảnh hưởng đến Việt Nam có những mô tip về loài rắn. Cũng chính đặc sắc khu vực này còn thể hiện ở việc miêu tả các cuộc thủy chiến và cuộc chiến tranh trên lưng voi đã trở thành đối tượng phổ biến của các tiểu thuyết gia Hán văn Việt Nam. Tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí” và “Hoàng Việt xuân thu”,v,v…đã nhiều lần đề cập đến chiến tranh tượng voi. Lịch sử Trung Quốc diễn nghĩa bắt đầu từ “Tam quốc diễn nghĩa” miêu tả chiến tranh, nhất là giao chiến quyết định cục diện chiến tranh chủ yếu là chiến tranh trên lưng ngựa. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam cũng viết về chiến tranh, nhưng ít nói đến giao chiến trên lưng ngựa, mà phần nhiều là chiến tranh dùng sức voi đã được miêu tả vô cùng đặc sắc, ví dụ trong hồi thứ hai của “Hoàng Lê nhất thống chí” đã miêu tả chiến tranh bằng sức voi rất rõ nét mà điều này trong văn học Trung Quốc không có. Việt Nam là một quốc gia gần bờ biển, có rất nhiều vùng biển và sông nhánh. Người Việt Nam khi chiến tranh đồng thời phải tác chiến cả trên nước và trên cạn, cho nên miêu tả chiến trường của họ trên mặt nước cũng rất đặc sắc.
Tiểu thuyết Hán văn Việt Nam còn có những đặc sắc riêng, có thể do chịu ảnh hưởng của việc bổ cứu lịch sử, một số tác giả Việt Nam cũng cải biến gia phả thành tiểu thuyết, ví dụ như “Hạc châu kí” đã được cải biến từ tộc phả họ Nguyễn Cảnh, lấy cuộc sống của các nhân vật bảy đời họ Nguyễn Cảnh làm tiền đề phản ánh văn hóa lịch sử Việt Nam, cũng chính là sáng tác không tiền khoáng hậu của tiểu thuyết chữ Hán trong khu vực văn hóa Hán cổ đại. Lại còn, Việt Nam với đường bờ biển dài, các tỉnh giáp biển, sông ngòi, ao hồ của Việt Nam rất nhiều, gắn liền với các câu chuyện liên quan đến thủy quái. Trong các tiểu thuyết chí quái như “Hát đông thư sách”,v,v…tinh quái đa phần là các sinh vật sống trong nước, phản ánh màu sắc khu vực đậm nét. Tất cả những điều này đều được phản ánh trong các tác phẩm của các tác gia Việt Nam, và đồng thời với việc chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Minh Thanh, các tác giả cũng dựa trên đặc điểm của quốc gia mà có sự sáng tác mới.
Ngoài ra, cho dù là bổ cứu lịch sử, đối với các nhà tiểu thuyết Trung Quốc thực tế bổ sử chủ yếu là giải trí. Nhưng đối với các tiểu thuyết gia Việt Nam thì bổ sử lại là chân chính, họ còn có ý đồ, thông qua những tình tiết của tiểu thuyết để truyền bá lịch sử dân tộc, nhấn mạnh ý thức dân tộc. Điều này khác biệt với tiểu thuyết Trung Quốc chỉ được coi là phụ biên của chính sử. Ví dụ như trong một loạt các tác phẩm “Nam ông mộng lục”, “Nam thiên trung nghĩa thực lục”, “Nam quốc giai sự”, “Nam quốc vĩ nhân truyện”,v,v…đều lấy việc thuật lại sự tích nhân vật lịch sử Việt Nam làm chính, đã mang đến cho tiểu thuyết dấu ấn màu sắc sử truyện rõ rệt. Trong lời tựa của “Nam quốc giai sự” có nói:
“Nước Nam ta lập nước từ xa xưa, từ họ Hồng Bàng cho đến nay, với hơn bốn ngàn năm lịch sử. Trong thời kì này, minh quân lương thần, vĩ nhân liệt sĩ, đều lấy việc tự cường làm chủ yếu, với tinh thần yêu nước, kiên cường bảo vệ biên cương không chịu khuất phục. Nước ta xưa nay chuyên đường khoa cử, học giả vùi đầu vào sử phương Bắc, mà danh nhân đất nước có thể gánh vác việc nước, đều thờ ơ, không để ý tới. Cho nên lấy sự tích Hán Cao tổ, Chư Cát, tuy trẻ nhỏ ba thước, ứng đối có dư; đến khi hỏi sự tích công trạng triều Lê, vua Trần, thì đến thầy giáo túc nho, tra tìm suy xét cũng không đủ. Tức thì các anh hùng dân tộc bị chôn vùi, không thể xuất hiện trong thế giới, thật lạ lung nhớ về ngày hôm nay thì thật là ít, yêu nước thật là mỏng. Trộm nghĩ không phải tự suy xét, hãy tụ tập lại, phàm là có việc tốt đẹp của tổ quốc, nhất nhất phải suy nghĩ và khảo cứu, Nhan nói: “Nam quốc giai sự”. Có vậy mới gọi là hương của đất nước và bảo vật ở đời, người vì việc công có thể nghe nhìn, hoặc là có thể kêu gọi nhân dân trong nước trợ giúp chăng. ”
Từ quyển sách này có thể thấy tác giả mong muốn ngoài việc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, cần phải xác lập ý thức truyền thống văn hóa dân tộc. Lại nói đến như “Dạ trạch vương” thuật lại cuộc đời của Triệu Quang Phục, làm Tả tướng tiền Lí nước Nam. Vua nước Nam đã vì Lương Trần Bá trước tiên mà bị đánh bại, vua tiếp tục kế vị, cùng với Bá tiên cầm tướng, do lực lượng không được chi viện nên đã rút quân trong đêm, lui về bảo vệ dạ trạch trong đêm. Trong đêm lấy thuyền độc mộc để đánh giặc, bắt sống và giết rất nhiều giặc. Tác giả gọi “là đại anh hùng nước ta”. Nhưng vẫn không đến tận cùng của việc anh hùng ái quốc, như “Đỉnh nhĩ đề” đã ghi chép: “Trần thái tông….”.
Trong “Tân đính giảo bình Việt điện u linh tập”, anh hùng dân tộc như vậy có rất ít. Trong lời bạt “Việt điện u linh tập lục toàn biên”, thuật lại cùng với “Truyền kì mạn lục”, “Linh Nam chích quái”,v,v,…, được goi là: “Từ khi nước Việt ta lập quốc, non sông gấm vóc, địa linh nhân kiệt, ở chỗ chư hầu các nước, anh hùng vĩ nhân, xưa nay không nhiều”. Những lòi thoại như vậy trong các tiểu thuyết Hán văn khác đều có thể thấy, nhưng cum từ “chư hầu toàn thế giới” từ loại này mãi cuôi thế kỉ 19 sau này mới được nhắc đến, so với sáng tác “Việt điện u linh tập” phải muộn hơn mấy trăm năm, lời bạt như vậy hiển nhiên do người sau này chỉnh lí ấn định, căn cứ vào tình hình mà viết ra, tất cả nhũng điều này dần dần bộc lộ quá trình ý thức quốc gia dân tộc Việt Nam dần dần được bộc lộ một cách tự giác.
Chính những nguyên nhân như vậy, “Nam ông mộng lục” chủ yếu miêu tả chính diện các vị tiên hiền, dùng những lòi nói như có sấm để nói ra: “
Tiểu thuyết Hán văn Việt Nam còn có đặc sắc riêng biệt, cũng có thể chịu ảnh hưởng của việc bổ cứu lịch sử, các tác giả cũng đã cải biến tác phẩm lịch sử thành tiểu thuyết.
KẾT LUẬN
Từ những điều trình bày trên đây có thê thấy, do sự tương cận của văn hóa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc đặc biệt là tiểu thuyết Minh Thanh ở Việt Nam đã được truyền bá trong phạm vi tương đối rộng lớn và ảnh hưởng đến sáng tác của các tác gia Việt Nam, dẫn đến quan niệm sáng tác của các tác gia Việt Nam cũng như các tác giả Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng. Nhưng chúng ta cũng nên chú ý, sự tiếp nhận văn học và truyền bá lại càng quan trọng. Nguyên nhân truyền bá văn học, nhất là truyền bá tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc ở Việt Nam, kì thực là một quá trình tự phát. Mà sự tiếp nhận mang tính chủ động và mang tính sáng tạo, do đó mà quan niệm sáng tác của các tác gia Việt Nam đối với tiểu thuyết Trung Quốc đã có sự chủ động, cũng có sự sáng tạo cái mới trong các tiểu thuyết cổ điển Việt Nam. Ngoại trừ tính tương đồng và đặc sắc Việt Nam nói trên, chúng tôi còn chú ý đến quan niệm sáng tác tiểu thuyết về chủ đề tình yêu còn tương đối ít của các tác gia Việt Nam đối với tiểu thuyết Trung Quốc. Văn học về đề tài tình yêu trong thời đại Minh Thanh của Trung Quốc rất nhiều, mà không thể không nhắc đến “Kim bình mai”, “Nhục bồ đoàn”,v,v…cho dù với kiệt tác “Hồng lâu mộng” cũng không thiếu đi những chi tiết mô tả tình yêu nam nữ. Nhưng ở các tiểu thuyết Việt Nam rất ít miêu tả tình yêu đôi lứa. Ở đây có thể có hai nguyên nhân, thứ nhất là do tiểu thuyết Minh Thanh, rất nhiều tác phẩm do tầng lớp văn nhân lớp dưới sáng tác, văn hóa thị dân lúc đó tương đối hưng thịnh, chịu ảnh hưởng lợi ích của thương nhân; các nhà tiểu thuyết Hán văn cổ đại Việt Nam chủ yếu là các văn nhân tầng lớp trên, họ chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo truyền thống, kiêng kị nhắc đến tình ái. Thứ hai, Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa bản địa Đông Nam Á, quan niệm tiết tháo tương đối rộng mở, trong câu chuyện dân gian và truyền thuyết, thậm chí cả trong nghệ thuật điêu khắc cũng biểu hiện rất rõ tính rộng mở của quan niệm này, cho nên, các tác gia không dụng tâm đi sâu tìm hiểu trong tiểu thuyết. Những khác biệt này giữa quan niệm của tiểu thuyết Trung Quốc và Việt Nam rất có hứng thú, nhưng vẫn còn đợi chúng tôi nghiêm túc đi sâu tìm hiểu nghiên cứu.
越南汉文小说对明清小说创作观念的接受及其特色
夏露 博士 副教授
北京大学外语学院东南亚系
越南语言文化教研室
明清小说在古代东亚汉文化圈内诸国都曾经产生过深远的影响,例如明代瞿秋佑的《剪灯新话》曾经传播到日、韩、越并对诸国的传奇小说的产生起了很大作用。但从小说创作观念上讲,大概只有越南的汉文小说与中国最为相似。与中国一样,古代越南文人受到科举教育制度的影响,视诗歌创作与著史为正途,小说地位相对低下。然而小说却又是文人们所钟爱的文学体裁,因此从创作观念上讲,越南文人与明清小说的作者有诸多相似之处,主要表现为补正史之余(即补述历史、以资流传后世的意识)、教化民众(以求拯救世道人心),以及尚奇求新的观念。但越南作家深受本国文化影响,其创作观念有浓厚的民族特色,例如同样是补史,越南作家的补史还有一个意图,即通过小说构建与传播本民族的历史系统。而越南的小说教化心理不仅在于劝善惩恶,而且上升到了爱国主义教育的高度。此外,越南汉文小说中有浓厚的比较意识,体现在创作动机上,可以说越南古代作家潜意识里都有一股赶超中国的心理。与浓厚的比较意识相对应的是,越南汉文小说中包含着浓厚的民族意识,这在越南汉文小说中处处都有体现,这充分体现在《传奇漫录》、《皇越春秋》、《皇黎一统志》等等小说人物形象的塑造与故事情节中。
越南汉文古典小说对明清小说创作观念的接受及其民族特色
北京大学外语学院东南亚系越南语教研室 夏露 博士 副教授
内容摘要:明清小说在古代东亚汉文化圈内诸国都曾经产生过深远的影响,例如明代瞿秋佑的《剪灯新话》曾经传播到日、韩、越并对诸国的传奇小说的产生起了很大作用。但从小说创作观念上讲,大概只有越南的汉文小说与中国最为相似。与中国一样,古代越南文人受到科举教育制度的影响,视诗歌创作与著史为正途,小说地位相对低下。然而小说却又是文人们所钟爱的文学体裁,因此从创作观念上讲,越南文人与明清小说的作者有诸多相似之处,主要表现为补正史之余(即补述历史、以资流传后世的意识)、教化民众(以求拯救世道人心),以及尚奇求新的观念。但越南作家深受本国文化影响,其创作观念具有浓厚的民族特色,例如同样是补史,越南作家的补史还有一个意图,即通过小说构建与传播本民族的历史系统。而越南的小说教化心理不仅在于劝善惩恶,而且上升到了爱国主义教育的高度。此外,越南汉文小说中有浓厚的比较意识,体现在创作动机上,可以说越南古代作家潜意识里都有一股赶超中国的心理。与浓厚的比较意识相对应的是,越南汉文小说中包含着浓厚的民族意识,这在越南汉文小说中处处都有体现,这充分体现在《传奇漫录》、《皇越春秋》、《皇黎一统志》等等小说人物形象的塑造与故事情节中。
关键词:越南 汉文古典小说 明清小说 创作观念 接受 民族特色
中国明清小说在古代东亚汉文化圈内诸国都曾经产生过深远的影响,例如明代瞿佑的《剪灯新话》曾经传播到日、朝(韩)、越等国,出现了《伽婢子》(日)、《金鳌新话》(朝)、《传奇漫录》(越)等仿作,并对各国传奇小说的产生起了很大作用。然而,由于文化的差异,各国对这部传奇小说的创作观念的接受很不相同,从而呈现出各自文学美学的特点。比较而言,越南的汉文小说的创作观念与中国最为相似,以对《剪灯新话》人鬼之恋创作观念的接受为例,日本和越南就有很大差异。日本的《牡丹灯笼》删除了《牡丹灯记》的道人审讯,原因是 “日本作家认为, 高人并不能解救人间恩怨, 因此作品大都舍弃了道人的道德说教。作品注重写人鬼恋, 突出了原作中的恐怖、幽艳与凄美的美学风格。”[1]而越南阮屿《传奇漫录》中《西垣奇遇记》、《木棉树传》、《昌江妖怪录》三篇“人鬼之恋”结局都基本类似《牡丹灯记》,都遭到严惩,原因是作者阮屿生活在越南封建社会由盛转衰时期,亲历了社会的动荡和黑暗,要借用妖魔鬼怪来劝善惩恶、警戒世人。那么是什么原因使得越南古典汉文小说的创作观念能与中国作家基本保持一致呢?而在这样的前提下,越南作家的创作特色又是怎样的呢?以下笔者将从具体文本的考查来探索越南汉文古典小说对明清小说创作观念的接受及其民族特色。
与中国一样,古代越南文人受到科举教育制度的影响,视诗歌创作与著史为正途,小说地位相对低下。对此,越南现代学者陈文玾曾明确说过:“我们的先人从前专于孔学,之后转向科举;学习的时候,除了四书五经,史书,其他的书都被视为外书,禁止阅读。既然禁止阅读,学生们就得遵循,会认为那是闲书,是旁门左道,对道理伦常有害,只有一些家教不严的人才敢看。”[2]
正因为如此,古典小说家为了标榜自己小说的价值,便把小说与补史和教化联系起来。而在越南,一方面,在通俗文学方面,越南有喃文文学尤其是喃文韵文小说作为补充;另一方面,虽然越南传统知识分子接受与中国知识分子大致类似的教育,但汉文毕竟不是符合越南文口语的文字,因此白话小说对于他们,接受起来并不容易,正如越南学者所言:“先前我们的祖辈学了汉字就能阅读中国书籍,但中国小说在越南却很难兴盛:民间很少有人能看,不经过学习很难看懂。”[3]在中国初通文墨者即能阅读小说,但在越南则要经过学习才行。由于一般老百姓缺乏接受汉文教育的机会,因此,越南古代汉文小说家大多为上层知识分子甚至是史官,他们刻意追求小说的史料价值,自觉进行十分严肃和高雅的创作。这就决定了越南汉文小说的创作观念与明清小说既有共同点也有相异性。
从创作观念上讲,越南文人与明清小说的作者有诸多相似之处,主要表现为补正史之余(即补述历史、以资流传后世的意识)、教化民众(以求拯救世道人心),以及尚奇求新的观念。而这种相似性,有共同的文化背景,更多的则是越南作家的主动接受。
(一)补正史之余
我们考查越南汉文小说,发现其绝大部分非通俗小说,从创作观念来看,这些汉文小说主要是为了补充正史的叙述。这无论是从小说的序跋还是具体内容来看,都能清晰地感受作者的补史之心。例如历史小说《黄越龙兴志》的自序中有这样一段:
我南传志之作,代有其人:《皇越春秋》述历代废兴之故,《越南国志》备先朝开拓之由。体制或蹈千仞,事实较详正史。某曾祖叔签书平章吴公学逊,著有《皇黎一统志》,叙西山灭郑扶黎,以成一统之事,草未竟而卒;从弟海阳学政吴公征甫续而成之,则言西山灭黎,至于黎皇归葬之事终焉。∙∙∙∙∙∙顾天府所书,既藏为宝训;稗官所载,徒私之名山。翻阅无从,见闻弗习,南人不详南事,无乃籍谈之忘其祖乎!∙∙∙∙∙∙曰:“一代经营之迹,千秋记录之文,缙绅先生,谅所不禁,然天水说降,矮班彪之著论;枋头失利,怒孙盛之阳秋。君所志,保无影响之谈否?”曰:“是则犹望于史学泰山者,诲我典故而进之,则所赐也。”客默而退,遂弁所言于卷端。
“南人不详南事,无乃籍谈之忘其祖乎!”这是作者的创作宗旨,而且作者认为《越南春秋》、《皇黎一统志》等历史小说也是述“历代兴废”的史实。
不独历史小说如此,越南其他汉文小说类,甚至志怪传奇也都有补述历史、以资流传后世的意识。例如《神怪显灵录》中《状元莫挺之记》中有“可恨历朝史笔,所载不详,前代名公又无著述,使公文章德业不能尽传于世耳。愚忝后生,闻识浅陋,姑述其大略于此,耑其大方君子正之云。”而同书作者在《白云庵居士阮文达谱记》中表明,其写作是利用公余整理既有的谱记,同时收集地方见闻成书,意在使其历史事迹传之不朽。
越南汉文小说的这种补史之心虽有其传统,但也是深受明清小说影响的。在中国小说理论史上,小说补史之说法由来已久[4],到明清尤其如此。王英《剪灯余话序》中《至正妓人行》之跋文称小说之所作是为补元亡历史之缺,他议论道:
元起沙漠,统一海宇,然其制度施为,多从胡俗,……逮乎至正之君,尤荒淫奢纵,所好者唯声色歌舞,盘游行事,夜以继日,上下相蒙,政治废弛,盗贼蜂起,国事不振。……然则公之所作,亦宁无意乎?奕曰纪其实,以补史氏之不载,亦曰使后之读者有所感发兴起,岂他属意哉!
最明显的如《水浒》与《三国演义》的评论,历来评论《水浒》者,往往把《水浒》与《史记》相提并论。李开先在《词谑》中以“《史记》而下,便是此书”来评价《水浒》,更称《水浒》是“史学之妙者也”。金圣叹《读第五才子书法》虽然清晰地认识到了《水浒》与《史记》的差异,但同时也以“稗史”的说法来看待《水浒》之类的小说。就对《水浒》的评论来看,反映的是政治生活及“忠义”等政治伦理观念是人们关注的中心。
三国故事也是如此,有关的评论往往把它类同于历史,并联系《三国志》等史书来作考察。如蒋大器在《三国志通俗演义序》称是作“文不甚深,言不甚俗,事纪其实,亦庶几乎史。”修髯子(张尚德)在《三国志通俗演义引》中则指出,作品有“羽翼信史”的作用。在历史上,围绕着三国故事,传达着上层统治者意志的历史学家与表现着民间意趣的文学家历来有着重大的分歧,而其中的焦点就在于三国之中孰为正统。
越南汉文历史小说本来是在《三国演义》、《水浒传》等的影响下产生和发展的,其中所受的补史观念非常明显。甚至,越南作家补史的观念更为浓厚。由于越南汉文历史小说家多为史官,作家们过分强调史实,排斥虚构艺术,使得越南汉文历史小说虽具章回小说文体特点,但大多数章回徒以基本史实为主,平铺直叙,少有波澜,读起来趣味性差。这大概也是越南汉文历史小说流传不广的原因之一。
(二)教化民众
冯梦龙在《古今小说序》中认为:“怯者勇,淫者贞,薄者敦,顽钝者汗下,虽小诵《孝经》、《论语》,其感人未必如是之捷且深也。”清代静恬主人说:“夫书之足以劝惩者,莫过于经史,而义理艰深,难令家喻户晓,反不若稗官野乘福善祸淫之理悉备,忠佞贞邪昭然,能使人触目惊心,如听晨钟,如闻因果,其于世道人心不为无补也。” [5]这些都反映了小说家对小说教化功能的认识。
小说家的教化的目的在于拯救世道人心,这使他们普遍具有浓厚的“补天”意识。这在许多小说序跋中表述得尤为详尽。如笔炼阁主人解释“补天”二字道:“女娲所补之天,有形之天也。吾今所补之天,无形之天也。有形之天曰天象,无形之天曰天道。天象之缺不必补,天道之缺则深有待补。”[6]凌云瀚则在为瞿佑《剪灯新话》写序时说:“是编虽稗官之流,而劝善惩恶,动存鉴戒,不可谓无补于世。”张光启则称《剪灯余话》:“虽非本于经传之旨,然其善可法,恶可戒,表节义,砺风俗,敦尚人伦之事多有之,未必无补于世也。”[7]清代芾斋主人评冯梦龙“三言”:“备拟人情世态,悲欢离合,穷工极变。不惟见闻者相与惊愕,且使善知劝,而不善亦知惩,油油然共成风化之美。”[8]明清小说非常重视人物的德行节操,总是倾尽全力赞扬那些大忠大孝、品行高洁之士,人物形象的善恶良莠,有如泾渭之水,分明易辨。
明清小说家之所以称为“教化为先”思想的积极传播者和实践者。一方面,他们秉承了士人传统的修身、齐家、治国、平天下的价值观和人生观,具有极强的社会责任感;另一方面,明末清初的社会巨变造成了世风沦丧,激起了小说家们空前的“补天”热情。恢复三纲五常的道德秩序,惩戒不忠不孝、不节不义之徒,成为小说家们的自觉意识和追求。在教化之声甚嚣尘上时,许多小说家意识到了在教化民众时的独特优势。
明清小说家的这种教化意识深刻影响了越南小说创作者。《传奇漫录》序中“然有警戒者、有规箴者,其关于世教,岂小补云”等认识。而《见闻录》书前吴辰僙序称:
其书则搜神、齐谐,而事则有太史公笔意,然公作书之本旨,岂徒为记事之见闻也哉!悲时悯世,移风正俗之意,往往见诸辞表。有语怪而不离乎常,有言变而不失其正,大抵寓劝惩之微旨,将使后之观者,其善可为法,其不善可为戒,实有裨于世教,岂可以野史视之哉?
明清小说家教化的内容尤为突出地表现在道德伦理层面,特别是关于戒色戒淫的说教很多。小说家在进行戒色戒淫说教时,往往将历史上“女色亡国”的事例搬出来,警戒世人。诸如褒姒亡周、飞燕祸汉、西施灭吴、贵妃乱唐,成为小说家用来告诫男人远离女色的最佳材料。越南历史上红颜祸水的说法并不多见,被书写最多的女人是二征夫人、赵夫人等等抗击北方政权的女英雄。然而受中国小说的影响,汉文小说也出现了戒色戒淫及“女色亡国”的作品,这在历史小说《皇黎一统志》表现得最为清楚。小说第一回回目为“郑宣妃宠冠后宫 王世子废居幽室”,开头叙述“盛王(郑森)为人刚明英断,智慧过人,有文才武略,博览经史,好为诗文。既袭位,狭小累朝制度,国政朝纲,一番整顿,凶渠盗党,取次削平。有独运逼宇之志,灭质平宁,王师所至,无不克捷。”但不久,郑氏为邓氏蕙所惑,那邓氏原本是一女婢,因“生得凤燕蛾眉,十分美艳,王见而悦之,因与之私焉。自是见宠幸,言无不听,与王同居正寝,如人家夫妇。车舆衣服,穷极奢侈,颇亦恃宠弄权∙∙∙∙∙∙”接着,小说的情节发展是郑氏最终因宠邓宣妃而废世子棕, 以邓妃所生之子杆为世子。 由于废嫡立少, 致骄兵为变,卒招西山之兵,灭郑扶黎。将郑王覆灭的原因归结于邓氏,与中国文学中“女色亡国”的主题如出一辙。
越南是一个深受儒家思想影响的郭家,儒家的道德教化观念本来就深入人心,因而在越南汉文小说的描写中接受明清小说的道德教化观念也就是顺理成章的事情。可以说越南汉文小说中处处可见教化痕迹。例如《传奇漫录》之《木棉树传》与《昌江妖怪录》都片面强调道士与高人的作用。在高人的镇压之下,女妖灰飞烟灭。以此给主角以当头棒喝,传达出其警世的用意。在《徐式仙婚录》中突出“但有阴德,必有阳报”的道德说教。其他如《茶童降诞录》篇,开篇就叙杨德公病重,死而复苏,讲述阴间所见,有劝善惩恶之意;再如《李将军传》也是一个重视说教的小说,不过反思的对象已由文人转向武人。
志怪小说《神怪显灵录》作者记叙神怪显灵事迹,不忘藉以神道设教,阐发警世意涵,如《陈朝祖墓记》篇中写堪舆北客来觅地,找到了一龙抬头吉地,将之许给阮固,但要求其迁葬给與百缗,他时有国当分其半。迁葬三日后半夜闻巨雷,有一猫耳石突出于地,知是吉地,其妻谢曰:“无百缗可给,来日分地所剩无几。”阮固以为无意还谢礼,将北客缚定投于江中。陈朝之祖以渔为业,将卧在沙上的北客救上船;北客最后以吉地相报,将陈氏迁葬祖墓后,遂得天下。这表明风水福地需要有德者方能居之;贫寒农渔妇若能积善行德,能获福地,庇荫后代子孙,否则即使偶得吉地,亦将得咎丧失。《神怪显灵录》中还有不少篇章借用佛家的因果报应、生死轮回的观念,作为劝善惩恶的人间道德教训。如其中的《后俸光明寺记》写神通的寺僧转世的故事,即是呈现俗民理解的佛理,故事中寺僧玄真,夜梦弥陀佛降卧宝殿,谓曰:“你有功梵教,岁还有年,且慈悲一点,善心达于玄鉴,后劫当降生为望国皇帝,你其知之。”寺僧醒后,召集门生谓曰:“某自幼出家,依皈兜率,每自谓尘缘净静,善果圆成,宝座金莲,是我年后超生之报。讵意他日轮回,却以积年戒行功夫,销得尘缘一大艰难位,且日月国君之誓,昔人所不愿(出《明纪》僧人传)不知生前障业,有甚未必除处尔耶?”寺僧从佛教的观点认为世人眼中的皇帝权位是一大艰难位,慨生前业障深,所以下一世仍得受轮回之报。表达人必须修到涅槃的境界,方能超脱轮回的佛教义理。
此外,象《新传奇录》之《贫家义犬传》篇借义犬之口,斥责不忠不义之人;《羽虫角胜记》则借寒蝉(名蝉居士)之口,力斥青蝇(青蝇才子)之卑污,引出教训:“蝉乃无知之物,犹知清介自守,礼义治躬,况士夫处世,莫重乎纲常,纲常不重,冠裳而禽犊矣,其与青蝇何异哉?”《公余捷记》书前作者有序云:“古人高文大笔,虽不敢望其门墙,然略记中多有劝戒者,寓广备闲中一览,大方君子勿以赤鴳见哂,是幸。”《岭南摭怪录列传(卷三·续类)》的《范子虚事师传》叙范子虚因尊师而得功名,结尾就引《易》曰“积善之家,必有余庆”。这些小说无一例外都强调道德教化的功能。
(三)尚奇心理
尚奇求新历来是文人的普遍心理,追求离奇也似乎是中国古代小说的一大传统。正如张国风所言:“从神话、史传文学、六朝志怪、唐传奇,一直到《三国》、《水浒》、《西游》以及描写世俗人物的那些宋元话本以及明人的拟话本,都可以意识到这一传统的强劲有力。这种小说传统培养了嗜好离奇情节的读者,而嗜好离奇情节的读者又反作用于文学的创作,迫使作家不敢轻易地偏离传统的轨道。”[9]
明清人的尚奇求新,具有自己的时代特点。描写人的奇举、奇识、奇计、奇谋、奇行、奇节、奇气、奇才、奇勇等,是小说家尚奇心理的主要体现方式。明末清初小说家对奇闻异事、奇穷奇枉表现了空前的兴趣和追求,无论在小说创作还是个人生活中都有体现。冯梦龙曾因追求奇事奇闻夜不能寐,在其编撰的《情史》一书的序文中,他说:“闻人有奇穷奇枉,虽不相识,求为之地;或力所不及,则嗟叹累日,中夜辗转不寐。”而睡乡居士评凌濛初:“其人奇,其文奇,其遇亦奇。”[10] 这真是好不夸张的。蒲松龄则雅爱搜神,喜人谈鬼,且将之录于笔端,广泛传播。
小说家的尚奇心理,还体现在他们对一些小说的命名上。象《今古奇观》、《续今古奇观》、《二奇合传》、《幻缘奇遇》、《今古传奇》、《今古奇闻》、《警世奇观》、《聊斋志异》等等,莫不以“奇”、“异”作引人关注、诱惑读者。与“奇”相伴的是 “幻”或“假”,因而明清文人对于小说中的“奇”、“幻”、“真”三者之间的关系也颇多论述。如袁于令在《<西游记>题词》中说:“天下极幻之事,乃极真之事;极幻之理,乃极真之理。”清代尤侗亦在《<西游记真诠>序》中认为:“其言虽幻,可以喻大;其事虽奇,可以证真;其意虽游戏三昧,而广大神通具焉。”在明清人看来,那些奇人奇事,表面看来虽距人们的生活遥远,但其中所蕴涵的生活哲理,这正与现实社会普通人情物理类同,这或许也是尚奇传统绵延不绝的原因之一吧。
越南汉文小说家的尚奇心理,应该是深受中国影响的。这也可以理解《聊斋志异》及其续书在越南深受欢迎的原因。吴辰备为《见闻录》所撰的第一篇序言,提出了值得重视的观点。他认为志怪之作可以“使不常见不常闻之人,皆得见闻”,而后说:
洪钧予我以聪明,大块假我以文章。有所见闻则传之,亦以补天地造化之所不及也。
这里所说的“补天地造化之所不及也”,与李贺《高轩过》篇“笔补造化天无功”意思相近。首先是将“见闻”的奇人奇事记述下来,传扬下去,获得永恒的价值,成为“造化”之一部;而实际上那些奇人奇事,恰恰是“造化”之不及,属志怪小说作者虚构的空间。
在越南,汉文小说中以志怪传奇类为最多。传奇,本身是求奇异。《传奇漫录》被誉为“千古奇笔”。《新订较评粤甸幽灵集》前有《第二奇书序》,此“奇笔”、“奇书”之称,当移自中国小说界。
与中国的传奇小说一样,越南传奇小说在书名中也喜加上“怪”、“奇”、“神”、“仙”、“灵”、“异”之类的字样;如《岭南摭怪列传》、《粤甸幽灵集录》、《南天珍异录》、《越南奇逢事录》等,这些都显露出作者鲜明的志怪传奇意识。我们通读这些书,发现书前书后多有作者或与作者志同道合的亲友所撰写的序跋,而从序文中可见作者编撰缘由及艺术主张与中国志怪传奇小说是同辙同趣的,他们甚至好不隐晦地宣将中国志怪小说的佳作奉为典范、视为先驱。武琼(1452—1516)撰写《岭南摭怪列传》系列作品,以越南神灵事迹为主,但其写作似乎还是乐于以中国小说为标准。例如,他在《岭南摭怪录列传(卷三·续类)》中有一篇《类续后跋》就说《岭南列传》“其视裴硎(鉶)之《传奇》、宋人之《别异》,同一辙也”[11]。《岭南摭怪外传》的序中也称“其视晋人之《搜神记》、唐人之《幽怪灵》同一致也”。此序还说:“《岭南》之奇,《列传》之作,不待刻之石,镌之梓,而著于民心,碑于民口。童之黄,叟之白,率能称道而爱慕之,惩艾之,则其事系于纲常,关于风化,夫岂云小补乎哉!”表明了这些作品在越南的影响,也表明了与中国古代小说家相似的创作理念。
在具体的写作中,越南作家特别注意描写奇人异事。如《新订较评粤甸幽灵集》卷一《丽海婆王记》描写民族英雄赵贞容貌奇伟,既有“华容云髻,珠眼桃唇”的女性美,又有“虎鼻龙颧,豹头燕颔”的男子相,而又言其“巨乳三尺”,身材魁梧,堪称女巨人,实属罕见离奇。
再如《神怪显灵录》记载四十二则短篇故事,故事皆为国史状元、进士、探花的生平事迹,从书名即可见作者搜奇志异的创作心理。而将越南进士状元列入珍异奇人,当作神灵显应一般进行传奇描绘,既表明了在一般俗民心中登科及第是难能可贵的事情,也反映了受科举制度长期影响,读书人在民众心目中的地位之高贵。此书前十二则为作者新创,篇名为《扶拥节妇记》、《厚奉光明寺记》、《贝溪寺记》、《下俖异人记》、《华伍田郡公记》、《清华灵祠记》、《强暴大王记》、《罗山阮监生记》、《陈朝祖墓记》、《中行武族祖墓记》、《黄舍宫妃祖墓》、《紫陈邻庚阳宅记》;自第十三至二十一则为《状元莫挺之记》、《榜眼阮德贞记》、《白云庵居士阮文达谱记》、《榜眼吴公焕记》、《探花流金记》、《都台阮公茂记》、《东阁阮公宝记》、《杰特尚书记》、《黄甲同公沅记》等等,与《南天珍异集》有三十六篇与其所载故事内容相近,情节大抵类似,在写作上应有传抄相袭的关系。但全书内容总体上讲以神人显应告以灾祥应验事迹的因果报应及奇人异事为主,显露作者鲜明的志怪倾向。
从具体描写来看,越南小说中的一些尚奇描写也颇有特点。例如《大南显应录·仙人范员》中的范员给一位寡居无子的妇人二十一文钱,由于那钱能“旦买而暮还”,妇人从此衣食不愁;他给山中老妇一瓮酒,在火灾突然发生的时候,老妇以酒洒之,“忽大雨滂沱,火始灭,雨中有酒气,三日不散”;他送给七十余岁的老乞丐一根手杖,老人置杖道旁,不必有言,人见之则以钱挂其杖头,老人因此丰衣足食。这种无中生有、生生不灭的超人超自然的奇术,以及扶危济困的做法,体现了越南普通读书人的理想。
越南志怪小说中也不乏奇妙的爱情描写。《见闻录》中的《清池情迹》就是这样一个优美动人的爱情故事,叙陈家女因失去心上人而含恨而死,胸中的结石呈舟子倚棹而卧之形,象征她对歌手阮生的思念和爱情至死不灭,坚不可摧,而且永远是美好的。当碰到舟子的热泪时,那“锥斧不能碎”的石头,却崩裂而化成了鲜血;石头是陈家女爱情的结晶,因而显示出神奇的感应的活力。这篇小说的构思非常巧妙,与才子佳人故事中多用金榜题名、皆大欢喜的结局颇为不同。不过,这种构思或许不是越南作家的首创,可能受到中国小说的影响。在明清时期,描写“心上人”的故事情节的小说也是颇多的,这可以明代小说《心坚金石传》为代表。这篇小说出自陶辅编撰的《花影集》。小说叙述的是元代书生李彦直与妓女张丽容的爱情悲剧。李彦直与张丽容以诗传情,私订终身,并争得家长首肯。婚期将至时,丽容却被本路参政阿鲁台强征献予右相。彦直父子奔走上下,谋之万端,终莫能脱。丽容被送京路上,彦直徒步追随三千余里,终夜号泣,以致气绝而死,丽容也自缢于舟中。阿鲁台大怒,命人焚其尸,惟心不灰。其中有一小物如人形,其色如金,其坚如玉。衣冠眉发,纤悉皆具,宛然一李彦直。阿鲁台叹玩不已,又命人并发彦直尸焚之,其中也有一个金石般的张丽容。小说着重描写了李彦直执情专一,对张丽容以死抵御强暴的坚贞行为也寄予了强烈的同情。二人精诚所致,竟在心中凝聚成坚如金石的对方形象,而当两个人之像合为一处时,又化为血水。作者解释说:“男女之私,情坚志恪,而始终不谐,所以一念感结,成形如此。既得合为一处,情遂气伸,复还旧物,理或有之。”这正是古人以心为思维器官观念的体现。虽然设想并不科学,但这种非现实的描写却充分显示了刻骨铭心的情爱超乎寻常的力量,感人至深。较之诗文中屡屡写到的“比翼鸟”、“连理枝”之类,确实独出心裁。《心坚金石传》的情节设计有中国传统诗歌文化的影响,同时这一情节也影响了明清不少小说戏曲的创作。[12]从《传奇漫录》之《项王祠记》中可见陶辅《花影集》在越南有流传,那么《清池情迹》中“心上人”这一奇特的情节设计也当受到明清小说影响。
(一)浓厚的比较意识
越南汉文小说中有浓厚的比较意识,这种比较意识反过来让我们能清楚地看到中国古代小说的影响。由于中国古代在周边国家心目中的文化中心地位,自然中国文学成为他们的最高标准。
在越南古代文学文化作品中普遍流露着这样的比较意识。在前面所述的文字中,我们也可看见一些诗歌和散文作品中的比较意识。一些随笔中也处处可见到这样的思想意识,例如范廷琥的《雨中随笔》是一部有关越南文化的笔记,其中与中国比较很突出,如《茗饮》:“我国嗜好与中国略同”;《乐辨》:“我国言语与中国稍殊”;《地脉人物》比较有意思,其中说:“我国之山川形胜,视中州不多让焉”,“我国之于中州,具体而微者也”。
具体到小说中的比较意识,也很明显,如武琼在《岭南摭怪》序言中说: “其视晋人《搜神记》,唐人《幽怪录》同一致也。”而何善汉则称《传奇漫录》“其文字不出宗吉之外。”
应该说比较意识不仅体现在这些序跋上,在具体的小说创作上,像段氏点在《传奇新谱》等小说中刻意地插入大量汉文诗歌呈扬才学,其实也是比较意识的体现。在越南民间故事《琼状元事迹》中,有一则谈到清朝使臣出使越南时,琼状元特地安排段氏点扮成普通女子,在使臣将去的茶馆接待,清朝使臣看到温柔美丽、举止端庄、谈吐不俗的段氏点(自然不清楚她在越南文坛的地位)就出了一句诗进行挑逗:“南邦一寸土,不知几人耕。”不巧,段氏点正在嚼槟榔,[13]她抹了抹嘴,立刻说道:“北国诸大夫,皆由此途出。”这则故事很可能是越南文人编出来的,但其中可以看到浓厚的比较或曰对抗色彩,而选取段氏点,则很明显是认为其有非常深厚的汉诗功底,足以与清朝使臣对抗。
这种比较意识还体现在创作动机上,可以说越南古代作家潜意识里都有一股赶超中国的心理。这从越南使臣常将本国优秀作品或其本人诗文集带到中国可以想见。现今在国家图书馆、北京大学图书馆以及云南省图书馆等等图书馆中藏有一部分越南古籍,其传播渠道相当多是使臣带入。例如,越南阮朝使臣阮述在其《往津日记》中曾多次提到将其与越南其他诗人诗文赠送给中国士人的情形,在中越典籍中都能找到越南使臣带书到中国来的记载。如:“(嗣德三十七年三月)廿一日,以《苇野诗文合集》送赠梅小树。”按苇野(1819-1870)为越南阮朝明命帝第十子,亦是越南著名诗人和词人,其填词颇为精绝,独步词坛。至于象《传奇漫录》、《金云翘新传》(即阮攸《翘传》)早就被带入中国,北京大学图书馆就藏有道光年间传入的《传奇漫录》四卷。
越南汉文小说在某种程度上为越南文化的确立、传播起了很大作用。越南统治者和文人也都能意识到这一点,自然也就有意无意地融入了小说创作中。
(二)浓厚的民族意识
与浓厚的比较意识相对应的是,越南汉文小说中包含着浓厚的民族意识,这在越南汉文小说中处处都有体现。《岭南摭怪》之《龙眼如月二神传》:宋太祖命侯仁宝等南侵,为神人惊溃。其中神有诗曰:“南国山河南帝居”,表现独立意识。越南汉文小说的民族意识有时候从其篇名就可见,《南翁梦录》、《南国佳人》与《南国伟人传》等系列冠以“南”字号的作品,从这些书的序言中就很能表露民族意识。
越南汉文小说的民族意识与民族情绪深刻地体现在小说人物形象的塑造上及故事情节上。《传奇漫录》、《皇越春秋》、《皇黎一统志》等小说中分别写到了明朝、清朝与越南的战争,民族情绪非常浓厚。 如《传奇漫录》之《伞圆祠判事录》篇叙吴子文“慷慨尚气,直不容奸”,见旧祠妖怪作祟,便愤而焚之。先有一“类燕台人物”的妖怪前来恫吓,吴置之不理;后又有“土地神”模样老人自诉原为祠神,为“北朝”败将游魂所窃据。吴子文赴冥司对质,直言抗辩,使原神复位,而吴子文也为老人荐为伞圆祠判事。篇中称:“胡氏末,吴兵倾掠,地为古战场。”其事见载于《明史·张辅传》。而叙明军“羁魂”犹侵掠百姓,为害一方,寄寓了民族情绪。
(三)浓厚的地域文化特色
说到越南汉文小说的特色,自然还需要谈到其地域文化特色。前面我们谈到《传奇漫录》等越南小说观念中的贞洁观比中国开通,其实也是地域文化特色之一。越南文化从渊源来讲属于汉文化圈,但其疆域建制属于东南亚地区,因此,具备东南亚文化的诸多特点,贞洁观的开通就是其中之一。
此外,虽然越南小说家多模仿中国之作,但他们毕竟生活在越南,因之,即使是模仿痕迹特别浓厚的作品依然可见其明显的地域特色。例如《传奇漫录》篇中所叙亦涉蛇妖,正如中国北方崇狐而多狐精故事,这可能也是越南多蛇的影响。这种地域特色还体现在越南汉文小说家普遍的对象战和水战的描写上。越南历史小说《皇黎一统志》与《皇越春秋》等都多次写到象战。中国历史演义自《三国演义》开始,擅长描写战争,尤其是决定战局的交战主要是写马上的战争。越南历史小说也写战争,但很少写马上的交战,更多的是象战,写得非常有特色,例如《皇黎一统志》第二回中描写的象战,这是中国文学中所没有的。小这与越南国情有关,越南是一个水域国家,拥有很多海湾和河汊。他们在水上作战与在陆地上作战同样自然,所以描写水上作战的场面也很有特色,这里不再赘述。[14]
越南汉文小说还有一些自己的特色,可能受到补史的影响,一些越南作家把家谱也改编成小说,例如《鸛州记》改写自阮景氏族谱,以阮景氏七代人物生活为线索来反映越南历史文化的进程,“开族谱小说之先河”,也是古代汉文化圈中汉字小说中空前绝后的创作。[15] 还有,由于越南是一个半岛国家,海岸线很长,许多省份都邻海,而且越南境内河流湖泊众多,有关水怪的故事很普遍。反映在小说中,象《喝东书异》等志怪小说中精怪多为水中生物,反映地域色彩。这些都反映越南作家在接受明清小说影响时也根据本国特点进行了创新。
例外,即使是补史,相对于中国作家表面上宣称的补史实际主要是为了娱乐,而越南作家则是真正的 “补史”,他们还有一个意图,即通过小说构建与传播本民族的历史系统,强化民族意识这一指向是不同于中国小说仅作为正史附庸的,这从《南翁梦录》、《南天忠义实录》、《南国佳事》、《南国伟人传》等一系列以正面叙述越南历史人物事迹为主的带有强烈史传色彩的小说中可见一斑。《南国佳事》序称:
我南立国最古,自鸿庞迄今,无虑四千余年。其间,明君良臣,伟人烈士,以自立为主义,以爱国为精神,固属指不胜屈。虽断简残编,几经风雨,而英风奇气,犹凛凛浃纸背间,殊令人崇拜不暇,斯非我国民之金玉芝兰欤!所恨者,本国从前专尚科举,学者埋头北史,而祖国名人胜事,置若漠然。故问以汉高、诸葛之事迹,虽三尺童子,应对而有余;至问以黎祖、陈王之事功,则老师宿儒,搜讨而不足。遂使英雄埋没,无一出现于环球世界中,无怪乎观感之念日薄,爱国之念日微也。窃不自揆,略为裒集,凡有关于祖国佳事者,一一考求,颜曰:《南国佳事》。庶几国香世宝,公人见闻,或可为唤醒国民之一助也乎。
从此书可以看出,作者希望在中华文化影响之外,确立民族文化传统的意识。再如《夜泽王》叙赵光复,为前李南帝左将。南帝既为梁陈伯先所败,王继统其众,与伯先相持,度其力不支,乃退保夜泽。夜则以独木舟出击贼,杀获甚众。作者称“此我国独立之大英雄也”。但也不尽为爱国英雄,如《鼎耳堤》记:“陈太宗辰,河决清潭堤,令诸路筑堤,自源头至海口,以遏洪水,名曰鼎耳堤。所筑之处,视民田地,依价还钱,是我国堤防之大者也。”
《新订较评粤甸幽灵集》中,这样的民族英雄还有不少。在《粤甸幽灵集录全编》的跋文中,叙及《传奇漫录》、《岭南摭怪》等,称:“我越立国,山奇水秀,地灵人杰,列于全球诸国,其特达英伟,固不多让人也。”类似的话在其他越南汉文小说集中时常可见,不过“全球诸国”这类提法十九世纪末期以后出现,比《粤甸幽灵集》的创作要晚出几百年,这样的跋文显然是后人在整理的时候按照当时的情况所写,这也表明越南民族国家意识逐渐自觉的过程。
正因为如此,《南翁梦录》主要是对先贤的正面描写,用胡濙的话说:“无非叙君臣之等,明彝伦之懿,阐性命道术之奥,纪家国起废之由。以至褒赞节义,则感慨激烈可以厉风俗;称扬述作,则清新俊逸可以怡性情。”黎澄自己也在自序中特别解释道:
或问予曰:“君所书者皆是善人,平生闻见无不善乎?”予应之曰:“善者我所乐闻,故能记之。不善者非无,吾不记耳。”
联系他的“南翁”心态,这种创作特点就不完全是出于道德感,同时还有一种民族荣誉感,换言之,《南翁梦录》也不妨看作越南叙事文学民族化的表现。
值得注意的是,越南的小说教化心理不仅在于劝善惩恶,而且上升到了爱国主义教育的高度。如《南国伟人传》中《黎太祖》对黎利的描述:
帝讳利,清化梁江蓝山人。有大志,时明人以官职诱之,不屈。尝曰:“丈夫生世,当济大难,立大功,何乃庇人宇下,使之台头不得?”遂起兵于蓝山。所至,秋毫无犯,东都及各处无不响应,大破朗寇。命阮廌作平吴诰。十年而天下大定,真我国之大英雄也。
这简直就是爱国主义教材。可见,越南汉文小说教化功能不仅在于修身养性,在于拯救世道人心,还上升到了民族和国家意识。
结语
综上所述,由于中越两国文化相近,中国古典小说尤其是明清小说在越南得以大量传播并影响到许多越南作家的创作,致使他们在创作观念上与中国小说家有诸多相似之处。但我们更应该关注的是,文学的接受比传播更为重要。因为文学的传播,尤其是中国古典小说在越南的传播,其实是一个自发的过程,双方官方并不提倡,反而有禁毁。而接受则带有主动性和创造性。越南作家对中国小说的创作观念就既有主动吸收,也有根据本国情况的创新。除了上述列举的相似性及越南特色,我们还注意到越南作家较少接受中国小说的情色小说创作观念。中国明清情色文学很多,不要说《金瓶梅》、《肉蒲团》等,即使是《红楼梦》这样的杰作也不乏情色描写。但越南汉文小说很少有情色描写。这可能有两方面的原因,一则是中国明清小说很多为下层文人创作,当时的市民文化也比较兴盛,受到商业利益的影响而刻意增添了情色描写;而古代越南汉文小说家主要是上层文人,他们受到传统儒家思想影响,讳谈情色。二则越南受到东南亚本土文化影响,贞洁观比较开通,在民间故事和传说中乃至雕塑艺术中都有十分大胆的性文化表现,由于人们在性文化中的禁锢不多,所以,作家们并不刻意在小说中去探索。中越小说观念之间的这些异同颇为有趣,但还尚待我们认真去探索。
[1]剪灯新话》在日本的流传与接受 东方丛刊2006年第4期第80页 乔光辉
[2]转引自【越】平江《1865-1930年南圻文学》,胡志明市出版社,2003年版,第229页。
[3]参【越】陈文玾《中国小说略考》载河内《青议》1942年第11期,第14页。
[4]在儒家思想中很早就包含了以小说观察历史的思想萌芽,《论语∙子张》录子夏语“虽小道,必有可观者焉”。后来的史官则明确地把小说与历史联系起来,《汉书∙艺文志》篇末录《青史子》五十七篇,皆为小说之属,班固于此自注曰“古史官记事也”,这一说法虽然未得其详,但是记录在正史之中,又明言其出于史官之笔,这就为后人强调“史鉴”提供了历史依据。 宋代以后,以“史补”、“史鉴”观点论小说的言论颇为多见,如刘辰翁评点《世说新语》曾将小说笔法与“史笔”相提并论,罗烨《醉翁谈录》则有“幼习《太平广记》,长功历代史书”的说法。把小说看成正史之补的说法进入明清之后更盛,特别是那些标以“演义”的历史小说,更是把“史补”、“史鉴”之类的观点视为基础理论,如林翰《隋唐志传通俗演义序》称此小说“为正史之补,勿第以稗官野乘目之”,吴承恩在《禹鼎志序》中称此小“国史非余感议,野史氏其何让焉。”袁于令在《隋史遗文序》中就更就小说补正史发表了自己的见解,他指出:“史以‘遗’名者何?所以补正史也。正史以纪事,纪事者何?传信也。遗史以搜逸。搜逸者何?传奇也。传信者贵真:为子死孝,为臣死忠,摹圣贤心事,如道子写生,面奇逼肖。传奇者贵幻,忽焉怒发,忽焉嬉笑,英雄本色,如阳羡书生,恍惚不可方物。”袁于令的说法,在这类观点中颇有代表性,既指出了小说为正史之补的一般性,又指出其“补史”的艺术手段与艺术特色。“史补”、“史鉴”落实在忠孝节义之类的政治伦理意旨上。
[5] 静恬主人《金石缘∙序》。
[6] 笔炼阁主人《八天洞∙序》。
[7] 张光启《剪灯余话∙序》。
[8] 薇园主人《清夜钟》“自序”。
[9] 张国风《话说金瓶梅》,桂林:广西师大出版社,2007年,第2页。
[10] 睡乡居士《二刻拍案惊奇∙序》。
[11] 《别异》为何书,尚不得而知,或许是中国亡佚的作品,亦或许是越南人传抄之误。
[12] 参刘勇强《心上人——<谈《心坚金石传》及其流变>》,载《文史知识》,2004年第10期。
[13] 嚼槟榔是先前越南最为普遍的风俗之一,是待客必备的,越南俗语云mieng trau la dau cau chuyen,意思嚼槟榔是说话办事的前奏。
[14] 详参李福清《<三国演义>与远东章回小说传统》一文相关论述,载《汉文古小说论衡》,江苏古籍出版社,1992年。
[15] 参《越南汉文小说丛刊》陈庆浩总序。


