Nguyen Anh Dan, MA.
Hue University’s College of Education
Abstract
Fantasy is one of the most important factors which were used in the fairy tales by folk author as a tool to express their worldview, to explain some phenomena in the social life and to make the stories more interesting.
There are many different manifestations of the fantasy in Japanese and Vietnamese fairy tales but we pay more attention to the transforming characters. They are characters (human, animals and fairies) who could transform or change their form into others for different objectives (often bad ones).
The transforming characters play a critical role in creating the fairy story and make the theme more fascinating. Researching this subject from East-Asian perspective helps us find out similarities in Japanese and Vietnamese literature and culture as well as differences on the basis of the comparative approach.
We will focus on analyzing the transforming character types in “Truyện cổ Nhật Bản” (The Japanese Fairy Tales) which was translated from French version that composed by Gertrude Fritsch, “Contes Japonais” and “Tổng tập Văn học dân gian người Việt”, Tập 6: Truyện cổ tích thần kì (The Full Collection of Vietnamese Folklore Literature, Vol. 6: The Miraculous Fairy Tales). We will focus on a in-depth comparison between the types of characters in Japanese and Vietnamese fairy tales: the same and different points, the role of fantasy factors in creating characters, and on its contributions for the poetic fairy tales of the two countries.
KIỂU NHÂN VẬT BIẾN HÌNH TRONG TRUYỆN CỔ NHẬT BẢN
VÀ VIỆT NAM
Tóm tắt
Kì ảo là một trong những yếu tố quan trọng, được các tác giả truyện cổ sử dụng như một phương tiện để chuyển tải thế giới quan, lý giải các hiện tượng trong đời sống xã hội, cũng như tăng thêm phần hấp dẫn cho câu chuyện.
Có nhiều biểu hiện khác nhau của yếu tố kì ảo trong kho tàng truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam nhưng chúng tôi quan tâm đặc biệt đến kiểu nhân vật biến hình. Đây là những nhân vật (con người, con vật hoặc thần tiên) có khả năng biến hóa, thay đổi hình dạng nhằm thực hiện các mục đích khác nhau (thường là các mục đích xấu).
Kiểu nhân vật biến hình góp phần làm cho nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam đặc sắc hơn. Nghiên cứu vấn đề này từ bối cảnh Đông Á, chúng ta sẽ tìm thấy những điểm gặp gỡ thú vị về văn học, văn hóa của Nhật Bản - Việt Nam. Đồng thời, với những thông số khác nhau của hai nền văn hóa, những điểm khác biệt của chúng cũng sẽ được chúng tôi chỉ ra qua quá trình so sánh văn học.
Bài viết của chúng tôi tiến hành khảo sát hai tập “Truyện cổ Nhật Bản” (Văn Hòa dịch từ bản tiếng Pháp “Contes Japonais” do Gertrude Fritsch biên soạn) và “Tổng tập Văn học dân gian người Việt’ (Tập 6: Truyện cổ tích thần kì) của Nxb Khoa học Xã hội. Chúng tôi sẽ đi sâu so sánh kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam: từ những điểm chung đến những điểm riêng, xem xét vai trò của yếu tố kì ảo trong kĩ thuật xây dựng nhân vật, đồng thời chỉ ra những đóng góp của kiểu nhân vật này trong thi pháp truyện cổ của hai nước.
Th.S Nguyễn Anh Dân
Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Huế
trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam
ThS. Nguyễn Anh Dân
Phương pháp nghiên cứu Địa lý-Lịch sử (Historic-Geographic Method) hay còn gọi là trường phái Phần Lan (Finnish Method) do các nhà folklore Julius Leopold Fredrik Krohn (1835-1888), Kaarle Krohn (1863-1933) đặt nền móng, sau này được Antti Aarne (1867-1925) và Stith Thompson (1885-1976) phát triển, đã có nhiều đóng góp đáng kể trong nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt là trong lĩnh vực truyện cổ. Lý thuyết type và motif của trường phái này đã khởi tạo cơ sở cho nhiều công trình giải mã các văn bản folklore một cách khả thủ.
Khi soi chiếu truyện cổ Nhật Bản và truyện cổ Việt Nam dưới góc độ type và motif, chúng tôi phát hiện một type nhân vật khá nổi bật, vừa có những điểm chung nhưng cũng có những khác biệt thú vị. Chúng tôi tạm gọi chúng là type nhân vật biến hình. Đây là những nhân vật có khả năng thần kì, tự biến hình hoặc chịu tác động siêu nhiên nào đó dẫn đến bị biến hình, chuyển hóa qua lại giữa các hình dạng khác nhau.
Hình thức biến hình/ bị biến hình của nhân vật được xuất hiện với mức độ khá thường xuyên trong các truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam, chúng tạo thành một kiểu nhân vật có tính chất ổn định, góp phần giúp chúng ta “đọc” được một số mã folklore từ kiểu nhân vật này.
Để nghiên cứu những đặc điểm giống và khác nhau, phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật, xác định cơ sở tạo lập cũng như chỉ ra giá trị của kiểu nhân vật này, chúng tôi sử dụng các bản kể sau đây:
Đối với truyện cổ Nhật Bản, chúng tôi tiến hành khảo sát hai tập Truyện cổ Nhật Bản (Văn Hòa dịch, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) và Japanese Folk Tales (Fanny Hagin Mayer dịch từ Nippon no mukashibanashi, bản sửa đổi, Hattori Aritsune giới thiệu, Tokyo, Mikuni Shobo, 1942). Tổng số bản kể được khảo sát trong hai tập này là 132.
Đối với truyện cổ Việt Nam, cuốn Truyện cổ tích thần kì trích trong Tổng tập Văn học dân gian người Việt (Nxb Khoa học Xã hội, 2004) được lựa chọn làm tư liệu khảo sát. Tổng số bản chính (không tính các bản kể của các dân tộc thiểu số) được sử dụng là 124.
Khảo sát kiểu nhân vật biến hình - Những điểm giống và khác nhau
Trong tổng cộng 132 truyện cổ Nhật Bản được khảo sát, số truyện có xuất hiện nhân vật biến hình là 35/132 (chiếm khoảng 25,93%). Mức độ xuất hiện nhân vật biến hình trong từng truyện là không giống nhau, có truyện đậm, có truyện nhạt. Vị trí xuất hiện của nhân vật biến hình có thể là ở đầu, giữa, ở cuối hoặc trải dài toàn bộ câu chuyện. Các hình thức biến hình của nhân vật luôn được thể hiện rõ ràng thành các kết quả biến hình.
Toàn tập sách Truyện cổ tích thần kì của người Việt có 124 bản chính, số truyện có xuất hiện nhân vật biến hình là 58/124 (chiếm khoảng 46,77%), tức gần bằng một nửa. Mức độ xuất hiện sự biến hình của nhân vật là không giống nhau ở mỗi truyện. Vị trí xuất hiện nhân vật biến hình có thể là ở giữa hoặc cuối truyện (vị trí xuất hiện ở cuối truyện thường gắn với kiểu truyện giải thích nguồn gốc sự vật, hiện tượng). Tương tự truyện cổ Nhật Bản, các hình thức biến hình của nhân vật trong truyện cổ Việt Nam cũng được thể hiện bằng các kết quả biến hình cụ thể.
Chúng tôi tạm gọi tên một số kiểu biến hình thường gặp của nhân vật trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam như sau [xem thêm bảng phụ lục]:
| Stt | Kiểu biến hình | Truyện cổ Nhật Bản | Truyện cổ Việt Nam |
| 1 | Người xấu xí biến thành người xinh đẹp | Không có | Các truyện số 1[1] (người vợ xấu xí), 25 (nàng Út), 41 (o Bù), 45 (cô gái đi ở) và 47 (bản kể số II-cô đầy tớ xấu xí). |
| 2 | Từ lốt này biến thành lốt khác | Truyện số 1 và 25 là các con vật (con lửng, con cáo) biến hình để thi tài, 4 (con mèo biến thành người có đầu mèo), 6 (sự biến hóa qua lại của công chúa-con cá Vền, con rùa-bà quản gia). Con cáo biến hình để trả ơn cho ân nhân xuất hiện trong các truyện số 8 và 10; truyện số 12, 31 và 33 là con chim sếu trắng, con gà lôi đỏ và con rắn hóa thành cô gái để trả ơn cứu mạng của chàng trai tốt bụng; 13 (người trên phố biến hình), 14 (con sói hóa thành người đi săn để giúp đỡ chàng trai hát rong mù), 15 (con rắn hóa thành chàng trai tuấn tú), 16 (bộ xương người hóa thành cô gái để tìm đường về nhà), 17 (hai cây thông hóa thành hai người đi hành hương), 24 (con cáo hóa thành người đàn ông), 28 (ba con mòng biển biến thành ba bức tranh Phật), 32 (con cáo hóa thành người vợ). Bốn kiểu biến hình sau đây không phải của yêu tinh nhưng mang mục đích xấu: truyện số 20 (con cáo biến thành Kongô-in giả), 21 (con cáo biến thành người phụ nữ bế đứa con), 26 (con cáo biến thành cái cột), 27 (con cáo hóa thành samurai giả) | Trường hợp này rơi vào các kiểu nhân vật dị dạng như tiên cua biến thành cô gái xinh đẹp, Sọ Dừa hóa thành chàng trai khôi ngô tuấn tú, nàng cóc hóa thành thiếu nữ xinh đẹp… nhưng phổ biến nhất là từ hình dạng các con vật (cá, cóc, cua, ếch, dê…) biến thành người. Các truyện số 2 và số 12 đều là motif “con cá-công chúa con vua Thủy Tề”, 16 và 18 (chàng dê hóa thành chàng trai khôi ngô tuấn tú), 19 (con cá chình hóa thành sư ông), 21 (con ếch hóa thành nàng tiên xinh đẹp), 22 (con cua-nàng tiên cua), 23 (con ốc-nàng tiên ốc), 26 (rùa biển hóa thành người), 39 (Sọ Dừa hóa thành chàng trai tuấn tú), 42 (con lợn cái hóa thành người đàn bà trong giấc mơ), 54 (hai con rắn nước hóa thành người đàn ông trong mộng). |
| 3 | Yêu tinh hóa người (với mục đích xấu) | Truyện số 2, 5, 18 và 19 là các kiểu biến hình của quỷ dạ xoa để tìm cách ăn thịt người. Các truyện số 7, 11 và 23 lần lượt là sự biến hình của con chồn hương, con nhện và con cáo. Truyện cổ Việt Nam có dạng truyện mà con vật hay người sau khi chết hóa thành yêu quái hoặc các hồn ma nhưng trong truyện cổ Nhật Bản hiện tượng này không nhiều. Trong 35 bản kể, chỉ duy nhất truyện From a meadow lane in spring là có hình ảnh bộ xương người hóa thành cô thiếu nữ để tìm cách về nhà. (Truyện Năm con ma cũng đề cập đến hồn ma nhưng sự biến hình trong tác phẩm này không phải của con người hay con vật mà của các đồ vật). | Các truyện số 3 (yêu tinh hóa bà già để lừa bốn chị em nhiều phen), 8 (con ma gà trống hóa thành con rắn và cô gái), 34 (con quỷ chó trắng biến thành chàng trai để chiếm đoạt cô gái) và 55 (tinh chuột hóa thành người chồng giả để lừa người vợ). Trong dạng truyện này thì có trường hợp ngược lại, tức con vật hay người sau khi chết hóa thành yêu quái hoặc các hồn ma. Các truyện 8 (con gà trống sau khi chết biến thành ma), 28 (con gái phú ông sau khi chết hóa thành hồn ma), 46 (gia đình lão nhà giàu chết thành hồn ma) và 52 (con gái lão nhà giàu sau khi chết hóa thành hồn ma). |
| 4 | Nhân vật thần kì biến hình để giúp đỡ hoặc thử thách con người | Chỉ xuất hiện trong hai truyện số 3 (vị thần cưỡi ngựa đen hóa thành bao tiền đồng) và truyện số 34 (người ăn mày hóa thành đống vàng lớn). Nếu trong truyện cổ người Việt, kiểu biến hình này có 7/58 (chiếm khoảng 12,07%) thì ở truyện cổ Nhật Bản con số này là 2/35 (chiếm khoảng 5,72%) - một con số khá khiêm tốn. Nguyên nhân của điều này có lẽ vì truyện cổ Nhật Bản không thường xuyên xuất hiện các nhân vật thần kì như trong truyện cổ người Việt. | Truyện số 3 (Bụt hóa thành con chuột bạch để giúp cậu bé phá phép con yêu quái), 5 (bà tiên trong lốt bà già để thử lòng chàng trai nghèo), 7 (Đức Thích Ca hóa thành người ăn xin để thử lòng cô gái), 15 (Bụt hóa thành lão ăn mày để thử lòng hai anh em), 32 (thần miếu biến thành chàng thư sinh để thử thách chàng học trò), 37 (Phật Bà biến thành cô gái đẹp để thử thách ông sư xấu tính) và truyện số 53 (thần cây đa hóa thành con ong để chiến đấu với chàng nông dân). |
| 5 | Người hóa vật | Hình thức biến hình này chỉ tồn tại trong truyện số 9 (Kihâydi bị biến thành con ngựa đen, hai vợ chồng lão chủ quán sau đó cũng biến thành hai con ngựa) và truyện số 29 (Awabukuro biến thành con ốc sên, mẹ Awabukuro biến thành con hến). Đây là kiểu biến hình phổ biến nhất trong 124 bản kể của truyện cổ người Việt mà chúng tôi khảo sát, tuy nhiên số lượng biến hình dạng này lại khá hiếm hoi trong truyện cổ Nhật Bản. | Trong 58 bản kể có kiểu nhân vật biến hình, số truyện người hóa vật là 32/58 (chiếm khoảng 55,17%). Đây là kiểu biến hình phổ biến nhất trong 124 bản chính mà chúng tôi khảo sát. Loại truyện này thường có chức năng giải thích nguồn gốc của sự vật, hiện tượng nào đó. Nhân vật bị biến hình dưới tác động của các nhân vật thần kì phản diện cũng chủ yếu được xuất hiện trong dạng truyện này. Các truyện số 4 (hai người anh bị biến thành đá), 6 (cậu bé mồ côi hóa thành chim đa đa), 7 (nàng thiếu nữ bị biến thành chim bìm bịp), 9 (anh nhà giàu bị biến thành con kiến), 11 (Công Dã Tràng bị biến thành con dã tràng), 13 (vợ chồng người chài biến thành đôi sam), 17 (chàng trai nghèo và cô tiểu thư hóa thành đôi chim hải âu sau đó biến thành Hòn Trống Mái), 20 (bác lực điền thật thà bị biến thành chim “Bắt cô, trói cột”, cô gái keo kiệt bị biến thành chim “Năm trâu, sáu cột”), 24 (mẹ con nàng Tô Thị hóa tượng đá), 27 (Con trai Diêm Vương biến thành con rắn), 29 (người mẹ sau khi chết hóa thành chim phượng hoàng, mụ dì ghẻ biến thành con dế), 30 (người vợ bị biến thành con muỗi), 31 (người học trò dốt nát biến thành con chim và cây đậu), 33 (cô gái ở thủy phủ biến thành con rùa), 35 (Chu Sinh, Đồng Nhân và con biến thành bướm), 36 (ông sư xấu tính bị biến thành bình vôi), 37 (ông sư bị biến thành con ếch), 38 (nàng tiên biến thành sao mai, hai cha con biến thành sao hôm), 39 (sự hoán đổi giữa chàng trai-Sọ Dừa), 40 (người đàn bà nấu ăn trên thiên đình và tình nhân bị biến thành cái chổi), 43 (người mẹ biến thành cây vú sữa), 44 (hai vợ chồng biến thành con cá he), 45 (hai vợ chồng nhà chủ bị biến thành khỉ), 46 (vợ chồng lão nhà giàu biến thành con muỗi), 47 (Thạch Sùng biến thành con thạch sùng), 48 (ông lão biến thành con hổ), 49 (mẹ con nàng Ngọc Nương biến thành núi Vàng Mẹ và núi Vàng Con, chàng Côi biến thành núi Tráp Bạc), 50 (thợ săn, vợ và người tiều phu biến thành Ông Táo), 51 (người anh biến thành sao mai, người em biến thành sao hôm, vợ người anh biến thành sao vượt), 56 (người em biến thành cây cau, người anh biến thành cây trầu, vợ người anh biến thành đá vôi), 57 (Cám biến thành chim hoành hoạch) và 58 (người em hóa thành đá Vọng Phu). |
Trạng thái biến hình của nhân vật trong truyện cổ Nhật Bản thường là chủ động (đối với nhân vật bị biến hình, cả trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam, thì trạng thái thụ động là điều hợp lẽ). Xu hướng này ngược lại với hầu hết trạng thái biến hình thụ động trong truyện cổ người Việt.
Tác nhân biến hình của nhân vật trong truyện cổ Nhật Bản chủ yếu là phép thuật (nhân vật sử dụng khả năng thần kì để biến hình). Trong 35 truyện có kiểu nhân vật biến hình thì có 7 truyện trong đó nhân vật biến hình là yêu tinh - những nhân vật sử dụng khả năng siêu nhiên với mục đích xấu. Trong khi đó, tác nhân biến hình của các nhân vật trong truyện cổ Việt Nam ngoài các yếu tố như phép thuật (40 truyện) hay phép thuật của yêu tinh (4 truyện) còn có dạng biến hình sau khi chết, tức là hiện tượng hóa kiếp, đầu thai hay tái sinh. Tác nhân này xuất hiện trong 22 truyện, gắn với type truyện giải thích nguồn gốc sự vật, hiện tượng như Hòn Vọng Phu, Hòn Trống Mái, sự tích trầu không, sự tích sầu riêng, sự tích cây vú sữa…
Mục đích biến hình của các nhân vật trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam là không giống nhau. Các nhân vật biến hình chính diện trong truyện cổ Nhật Bản thường biến hình để trả ơn cho ân nhân, là phần thưởng dành cho người tốt bụng hay biến hình để thi tài (các motif truyện thi tài giữa con lửng và cáo). Nhân vật biến hình phản diện thường sử dụng khả năng của mình để đánh lừa người khác, dùng hình dạng giả để trục lợi hoặc - và là phổ biến nhất - để hãm hại và tìm cách ăn thịt người khác (Những cuộn kinh linh ứng, Quỷ dạ xoa, Chuyện phiêu lưu của người đan chiếu, Tỳ bà quán, The wife who didn’t eat[2], O Sun, the iron chain!). Truyện cổ Nhật Bản hầu như không có kiểu biến hình để thử thách người khác vậy nên motif “trả giá vì hành động sai trái” không phải là phổ biến trong truyện cổ Nhật Bản. Trong số 35 bản kể, chỉ duy nhất hai mẹ con Awabukuro trong Komebukuro and Awabukuro bị biến thành con ốc sên và con hến vì đã có những hành động xấu xa với Komebukuro (tương đồng với kiểu truyện “Tấm Cám” của Việt Nam).
Đối với truyện cổ Việt Nam thì các nhân vật thần kì như Bụt, tiên, Phật Bà, Đức Phật, Ngọc Hoàng, thần cây đa… thường biến hình để giúp đỡ người yếu thế, người tốt bụng hay hồn ma của người mẹ biến hình để giúp đỡ con trai (trong các chuyện có motif “dì ghẻ”). Các nhân vật kiểu này cũng biến hình để thử thách con người, mà nếu những người này không vượt qua được thử thách thì họ sẽ bị trả giá, dẫn đến bị biến hình. Motif “trả giá vì hành động sai trái” có thể tìm thấy trong truyện Chiếc chìa khóa, Con bìm bịp, Mụ dì ghẻ ác độc hay là sự tích con dế… Nhân vật biến hình phản diện trong truyện cổ Việt Nam cũng chủ yếu biến hình với mục đích hãm hại, tìm cách ăn thịt người khác (Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử, Con gà trống biến thành ma ác) hay để chiếm đoạt nữ nhi (Những con quỷ chó, Tinh con chuột). Ngoài ra, kiểu nhân vật biến hình với mục đích rong chơi, du ngoạn có thể cùng tìm thấy ở Duyên tiên trong truyện cổ người Việt, và Chàng đánh cá Urasima trong truyện cổ Nhật Bản.
Tất cả sự biến hình của nhân vật đều dẫn đến một kết quả biến hình nhất định. Đây cũng chính là một trong những tiêu chí để chúng tôi xác định kiểu nhân vật này trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam.
Kết quả biến hình của nhân vật, một cách hiển nhiên, là trở thành một dạng khác. Hình dạng mới của nhân vật phụ thuộc chặt chẽ vào mục đích, tác nhân cũng như trạng thái biến hình. Do vậy, nhân vật có thể biến hình thành người, yêu quái, thành đồ vật hay con vật. Truyện cổ Nhật Bản xuất hiện motif nhân vật biến thành một phần thưởng cho người tốt bụng như trong truyện Vị thần của dân nghèo (vị thần cưỡi ngựa đen biến thành một bao tiền đồng lớn) hay The hearth fire on the New Year’s Eve (người ăn mày rách rưới biến thành đống vàng lớn). Hiện tượng này hầu như không tồn tại trong 58 bản kể có kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Việt Nam mà chúng tôi khảo sát. Trong khi đó, truyện cổ người Việt có motif người xấu xí biến thành người xinh đẹp (trong các truyện Ai mua hành tôi, Nàng Út, Sự tích cái dây lưng…) nhưng hiện tượng này lại không có trong truyện cổ Nhật Bản.
Kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ hai nước vừa có những tương đồng nhưng cũng có một số khác biệt. Nhìn chung, những khác biệt này có thể được nhìn nhận như sau:
Thứ nhất, truyện cổ Nhật Bản không có hình thức biến hình từ người xấu xí thành người đẹp. Thứ hai, nhân vật biến hình chủ yếu với trạng thái chủ động (sự biến hình của nhân vật trong truyện cổ Việt Nam thiên về bị động) và đa số không gắn với motif “trả giá vì hành động sai trái” (chỉ chiếm 1/35 so với 12/58 trong truyện cổ Việt Nam). Thứ ba, nhân vật yêu tinh biến hình trong truyện cổ Nhật Bản chiếm số lượng lớn hơn trong truyện cổ Việt Nam (7/35 so với 4/58). Thứ tư, biến hình để thử thách người khác không phải là một motif phổ biến, vậy nên các nhân vật biến hình thần kì trong truyện cổ Nhật Bản xuất hiện khá khiêm tốn (tồn tại dưới dạng vị thần trong hai truyện Vị thần của dân nghèo và The hearth fire on the New Year’s Eve). Thứ năm, hiện tượng biến hình sau khi chết (hóa kiếp, đầu thai, tái sinh) không nhiều trong truyện cổ Nhật Bản (chỉ một truyện From a meadow lane in spring đề cập đến so với 22/58 truyện cổ Việt Nam).
Nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật biến hình
Kiểu nhân vật biến hình có liên quan đến các yếu tố siêu nhiên, thần kì (nhưng không hẳn là nhân vật thần kì). Đây là một kiểu nhân vật đặc biệt của truyện cổ. Do đó, từ góc độ thi pháp truyện kể dân gian, kiểu nhân vật biến hình cũng mang đầy đủ các đặc điểm của nhân vật truyện cổ, bao gồm sự phân định rạch ròi hai tuyến chính diện-phản diện, nhân vật như công cụ thi hành chức năng và nhân vật phiếm chỉ về tâm lý. Bởi vậy, nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam nằm trong sự chi phối của những đặc trưng thi pháp đó nhưng cũng không loại trừ những trường hợp riêng biệt đối với các văn bản folklore của mỗi quốc gia.
Đối với kiểu nhân vật biến hình thì yếu tố đầu tiên, mang tính quyết định, thường được sử dụng khi tạo lập nhân vật chính là các yếu tố kì ảo. Các yếu tố này bao hàm các dạng thức của phép thuật (phép biến hóa, phép tiên, phép yêu tinh, yêu quái), hiện tượng hóa kiếp hay tái sinh (trong truyện cổ Việt Nam), vật thần kì hay vật mang phép thuật như những cuộn kinh trong Những cuộn kinh linh ứng, những chiếc bánh bột gạo trong Chuyện phiêu lưu của thầy kí Tôkubây, hai chiếc lông mi chó sói trong Lông mi của chó sói, chiếc áo khoác phép thuật trong The magic straw sloak of the yama-uba (truyện cổ Nhật Bản); lọ dầu thơm của con chim sẻ trong Ai mua hành tôi, hạt ngọc trong Ngọc Hoàng và anh chàng nghèo khó (truyện cổ Việt Nam). Yếu tố kì ảo trở thành hành trang không thể thiếu đối với kiểu nhân vật biến hình trong toàn bộ diễn biến của câu chuyện. Sử dụng yếu tố kì ảo hoặc bị tác động của yếu tố kì ảo để biến hình/ bị biến hình sang một (hoặc nhiều) hình dạng khác chính là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt kiểu nhân vật này với các kiểu nhân vật khác trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam.
Trong trạng thái chủ động, với yếu tố kì ảo, nhân vật được tác giả folklore phú cho khả năng biến hình một hoặc nhiều lần. Kết quả biến hình có thể là một hoặc nhiều hình dạng mới, có thể giữ nguyên hình dạng mới hoặc trở về hình dạng ban đầu. Chẳng hạn, nàng công chúa con vua Thủy Tề có thể từ người biến thành cá để rong chơi trên biển, sau đó lại trở lại hình dạng người, để trốn đến với Lý Lâm nàng lại hóa thành cá, rồi hóa thành người để chung sống với chàng (Duyên tiên - truyện cổ Việt Nam). Các nhân vật biến hình phản diện (yêu tinh, yêu quái hoặc nhân vật biến hình với mục đích xấu) có khả năng biến hình đa dạng hơn cả. Một con quỷ dạ xoa có thể biến thành lốt mới để lừa người khác nhưng nó cũng có thể hiện nguyên hình (Những cuộn kinh linh ứng, Quỷ dạ xoa… - truyện cổ Nhật Bản) hay một con yêu tinh có thể hóa thành bà già rồi bà chủ quán trọ, nhiều phen hãm hại bốn cô gái trẻ (Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử - truyện cổ Việt Nam).
Việc vận dụng yếu tố kì ảo vào xây dựng kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Việt Nam có phần đa dạng hơn chút ít so với truyện cổ Nhật Bản. Như chúng tôi đã đề cập ở trên, hình thức biến hình sau khi chết (tức hóa kiếp hay tái sinh) được sử dụng khá phổ biến trong các dạng truyện “sự tích” của người Việt. Motif tái sinh này có mối liên hệ với thuyết duyên nghiệp, luân hồi của Phật giáo [4].
Kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam cũng được phân chia rạch ròi thành hai tuyến chính diện - phản diện. Nhân vật chính diện thường là những người hiền lành, tốt bụng, những người yếu thế, nghèo khổ (chú tiểu đi lạc, cô gái đầy tớ, đứa trẻ mồ côi, con của vợ trước sống với dì ghẻ…). Mụ dì ghẻ, yêu tinh, yêu quái, các con vật xấu tính (ở truyện cổ Nhật Bản thường là con cáo)… thuộc về nhân vật phản diện.
Người đọc có thể nhận diện được nhân vật biến hình là chính diện hay phản diện nhờ vào mục đích sử dụng năng lực siêu nhiên (đối với nhân vật biến hình) hay sự tác động của các năng lực siêu nhiên đó đến bản thân nhân vật (đối với nhân vật bị biến hình). Trong các truyện cổ của Nhật Bản và Việt Nam, đa số các nhân vật chính diện thường sử dụng khả năng biến hình của mình với động cơ tích cực. Đó có thể là nhân vật thần kì biến hình thành tiền, vàng như tặng phẩm dành cho người tốt bụng trong truyện cổ Nhật Bản (Vị thần của dân nghèo, The hearth fire on the New Year’s Eve) hay hồn ma của người mẹ hóa thành chim phượng hoàng để giúp đỡ con trai trong truyện cổ Việt Nam (Người dì ghẻ ác nghiệt hay là sự tích con dế). Tính chất trong động cơ biến hình của nhân vật sẽ thể hiện được ý nghĩa thiện hay ác của hình tượng nhân vật.
Độc giả cũng có thể phân biệt được hai tuyến nhân vật tốt - xấu dựa vào trạng thái biến hình của nhân vật. Các nhân vật bị biến hình thường là nhân vật phản diện và là những người bị trừng phạt hoặc trả giá vì hành động sai trái của họ (chủ yếu trong truyện cổ Việt Nam). Những nhân vật này, chịu hình phạt của một nhân vật thần kì có quyền hành thông qua phép thuật, biến họ sang hình dạng khác như con muỗi, con dế, con sam… (trường hợp này đúng cả với truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam). Các nhân vật chính diện cũng có thể chịu sự biến hình thụ động, đó là các trường hợp thuộc kiểu hóa thân, tái sinh sau khi chết, hóa thành một dạng khác như Hòn Vọng Phu, Hòn Trống Mái, Núi Tráp Bạc, Sao Hôm, Sao Mai… (trong truyện cổ Việt Nam) hoặc bị phép thuật của yêu tinh làm cho biến hình thành con ngựa đen trong Chuyện phiêu lưu của thầy kí Tôkubây (truyện cổ Nhật Bản). Mặt khác, trường hợp chủ động biến hình đều tồn tại trong cả nhân vật chính diện và phản diện, lúc này chúng ta lại phải căn cứ vào mục đích biến hình để xác định nhân vật ở tuyến nào.
Về mặt lý thuyết là như vậy, nhưng trên thực tế, kiểu nhân vật biến hình nói riêng, nhân vật của truyện cổ nói chung đều là những nhân vật cực tuyến và phiếm chỉ về tâm lý nên việc xác định nhân vật tốt hay xấu, thiện hay ác cũng có cơ sở thuận lợi. Sự đổi tuyến giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện không phải là hiện tượng phổ biến trong truyện cổ. Tuy nhiên, vấn đề xác định nhân vật chính diện hay phản diện ở một số truyện cổ Nhật Bản không hẳn là minh định. Điều này thường rơi vào các tác phẩm mà tác giả dân gian không thể hiện rõ nhân vật biến hình là tốt hay xấu (chúng tôi không nói là “trung tính”). Chẳng hạn, rất khó để kết luận các nhân vật trong Chuyện con lửng và con cáo thách đố nhau, How a fox returned kindness hay truyện The fox-wife có phải là nhân vật phản diện hay không. Bên cạnh đó, truyện cổ Nhật Bản còn có hiện tượng “di chuyển hình tượng” nhân vật phản diện. Con cáo, con sói hay quỷ dạ xoa là những nhân vật phản diện đặc trưng trong truyện cổ Nhật Bản, tuy nhiên, trong một số trường hợp, tác giả dân gian đã chuyển chúng từ cực xấu thường thấy sang cực tốt hoặc ở một trạng thái không tạo ra sự tiêu cực. Con cáo trong truyện Lấy oán trả ơn trong cơn hoạn nạn của ân nhân đã tức tốc thi hành việc nghĩa để đền ơn cứu mạng khi xưa; cùng chủ đề con cáo biết ơn còn có truyện Lòng biết ơn của con cáo; con sói trong Lông mi của chó sói không ăn thịt cô gái trẻ mà còn tặng cô hai chiếc lông mi kì diệu; con sói trong The quiver of the Mountain Spirit hóa thành người đi săn để dẫn người hát rong mù xuống núi; quỷ dạ xoa trong The magic straw sloak of the yama-uba không ăn thịt cô gái mà còn tặng cô chiếc áo khoác phép thuật… Ngược lại, hiện tượng di chuyển hình tượng phản diện hầu như không xuất hiện trong truyện cổ Việt Nam. Tính chất cực tuyến và phiếm chỉ tâm lý trong xây dựng kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ người Việt được thể hiện ổn định và chắc chắn hơn.
Kiểu nhân vật biến hình cũng như các kiểu dạng nhân vật khác trong truyện cổ là những nhân vật chức năng hay nhân vật “mặt nạ”. Đó là những nhân vật “có các đặc điểm, phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong việc phản ánh đời sống” [5, tr.228]. Vì kiểu nhân vật biến hình có mối liên hệ với yếu tố kì ảo nên chức năng mà họ đảm nhận trong truyện cổ cũng khá đặc biệt. Các nhân vật biến hình chính diện thường có chức năng tích cực, giữ vai trò là người nắm cán cân công lý, điều chỉnh hành vi cũng như can thiệp vào các tình huống khó khăn của con người, hướng kết quả của hoạt động theo hướng tốt đẹp. Ngược lại, các nhân vật biến hình phản diện là công cụ thể hiện cái xấu, cái ác, cái tiêu cực. Họ là trung tâm của các hành vi phê phán, thể hiện quan điểm đạo đức của cộng đồng, đồng thời cũng là tấm gương soi, phản chiếu những vai trò tốt đẹp của tuyến nhân vật đối ngược. Mặt khác, nhân vật biến hình (thông qua các yếu tố kì ảo) còn là phương tiện để lý giải các hiện tượng bất tri đối với cộng đồng truyện cổ. Có một số trường hợp, kiểu nhân vật biến hình thể hiện sự lý tưởng hóa, khái quát hóa, từ tầm vóc cá thể tiến đến tầm vóc cộng đồng của tư duy folklore. Điều này chỉ dành riêng cho nhân vật chính diện, những người mang lý tưởng của tập thể, được xây dựng như những tượng đài của xã hội, là sự nối dài của hình tượng người anh hùng trong thời kì thần thoại.
Các kỹ thuật folklore dù còn mang tính chất tự phát nhưng cũng đã xây dựng được những nhân vật biến hình độc đáo, đặc trưng trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam. Sự tồn tại của kiểu nhân vật này trong truyện cổ không những đem đến sự lôi cuốn từ một phương diện khác của yếu tố kì ảo mà còn góp phần lý giải nhiều điểm về mặt lịch sử, tôn giáo và văn hóa của mỗi cộng đồng.
Cơ sở tồn tại kiểu nhân vật biến hình
Nhân vật biến hình cũng như nhân vật của các thể loại văn học đều có những cơ sở, những nền tảng về mặt lịch sử, văn hóa-xã hội cho sự tồn tại của nó. Sự xuất hiện của kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam gắn với những đặc điểm riêng nhưng có nhiều điểm gặp gỡ của hai nền văn hóa khác nhau.
Tư duy huyền thoại là nguồn gốc của truyện cổ thần kì, có mối liên hệ sinh thành với huyền thoại như nhận định của Meletinsky: “Nói đúng ra ngữ nghĩa truyện cổ tích chỉ có thể được lý giải xuất phát từ nguồn gốc huyền thoại… Truyện cổ tích thoát thai từ huyền thoại, đó là một điều chắc chắn” [2, tr.354-355]. Tư duy huyền thoại được cụ thể hóa trong truyện cổ bằng các yếu tố kì ảo-những yếu tố kì ảo sơ khai với những tưởng tượng ngây thơ của thời kì cổ tích để phân biệt với yếu tố kì ảo của các giai đoạn văn học sau đó. Đến lượt mình, yếu tố kì ảo quy chiếu vào nhân vật truyện cổ, ban cho họ sức mạnh, năng lực kì diệu để họ thay đổi số phận mình cũng là thay đổi số phận của cộng đồng.
Các sản phẩm của thời kì huyền thoại được ánh xạ vào quá trình xây dựng kiểu nhân vật biến hình là các hình ảnh của các tín ngưỡng dân gian như totem giáo, bái vật giáo, vật tổ, các nghi lễ hiến tế… Cũng theo Meletinsky thì: “Bởi vì mỗi cá nhân trong các xã hội cổ đại đều phải kinh qua lễ thụ pháp và các nghi lễ “quá độ” khác nên với việc quan tâm tới số phận con người, truyện cổ tích đã sử dụng rộng rãi các mô típ huyền thoại đi kèm với các nghi lễ kiểu hiến sinh” [2, tr.356]. Biểu hiện của nghi lễ hiến sinh này có thể tìm thấy trong các dạng thức biến hình trong truyện Thạch Sanh của người Việt và Năm con ma của người Nhật. Các kiểu dạng của nghi lễ thụ pháp-nghi lễ trưởng thành của con người cổ đại cũng có thể nhận ra trong type truyện “Tấm Cám” của người Việt cũng như Komebukuro and Awabukuro của người Nhật. Trong các truyện này, mụ dì ghẻ có thể được xem là biến thể của bà mụ cộng đồng, những người chịu trách nhiệm thử thách các thiếu niên của thị tộc, nếu vượt qua được những thử thách, họ sẽ được thị tộc công nhận như những người trưởng thành. Độ khó của thử thách được nâng lên thành các nhiệm vụ có thể dẫn đến cái chết (như trong Chuyện con Tấm và con Cám). Ngoài ra, hình ảnh của chú tiểu DiRô trong Những cuộn kinh linh ứng (truyện cổ Nhật Bản) phải trốn chạy cuộc truy đuổi của quỷ dạ xoa trong rừng cũng là một biến thể của nghi lễ thụ pháp. Cuộc trốn chạy này đã giúp chú tiểu DiRô nhận thức đầy đủ về tác dụng của chân tu, sau đó cậu được sư phụ thừa nhận và trở thành một nhà sư tốt.
Bên cạnh nghi lễ hiến tế thì nghi lễ hôn nhân cũng được phản ánh thông qua phương diện biến hình của nhân vật. Hôn nhân trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam có thể là hôn nhân đồng loài (người-người) nhưng cũng có thể là hôn nhân khác loài (người-vật). Trong dạng thức thứ hai, thường thì người chồng là con vật nào đó (truyện cổ người Việt phổ biến nhất là con dê; truyện cổ Nhật Bản là con khỉ, rắn…), sau một thời gian sẽ hóa thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú. Cũng có trường hợp người vợ là vật (con cáo trong The fox-wife). Chức năng của nghi lễ này là một sự “vượt rào” của tư duy dân gian nhằm giải quyết các mâu thuẫn địa vị xã hội của con người.
Quan niệm về ba tầng thế giới, mối liên hệ qua lại giữa các không gian âm phủ, trần gian và thiên đàng cũng là một cơ sở không thể không đề cập đến trong việc tạo lập kiểu nhân vật biến hình. Đó là nguyên nhân vì sao một số nhân vật biến hình trong truyện cổ Nhật Bản và truyện cổ Việt Nam có thể di chuyển qua lại một cách dễ dàng giữa các lớp không gian. Mặt khác, các nhân vật cũng gắn với hiện tượng “báo mộng”-một phạm trù khá phổ biến trong truyện cổ. Con người cổ đại tin vào báo mộng, hay nói cách khác báo mộng là công cụ liên lạc giữa các tầng không gian khác nhau. Nó biểu hiện sự tồn tại của thế giới âm phủ, thiên đàng với lớp không gian còn lại. Các nhân vật biến hình trong Bán mộng, From a meadow lane in spring, The horseflies in Takoshima của Nhật Bản hay Mối thù truyền kiếp, Nợ duyên trong mộng, Sự tích cây huyết dụ của Việt Nam được xây dựng theo quan niệm này.
Về phương diện tín ngưỡng, tôn giáo thì quan niệm “vạn vật hữu linh”, tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Nhật, người Việt cũng là một nhân tố cơ bản góp phần lý giải sự tồn tại của kiểu nhân vật biến hình trong kho tàng truyện cổ hai nước. Thế giới sự vật hiện tượng xung quanh con người được thần linh hóa để ngưỡng trọng, thờ phụng cũng như ý thức sùng kính đối với những người đã khuất là một biểu hiện, là sản phẩm của tư duy huyền thoại. Sự chi phối của kiểu tư duy này đối với nghệ thuật truyện cổ là hết sức rộng lớn, nhưng trong trường hợp của kiểu nhân vật biến hình, chúng tôi muốn lưu ý nhiều hơn đến các phương diện của Shinto (Thần đạo) đối với truyện cổ Nhật Bản và Phật giáo đối với truyện cổ Việt Nam.
Thần đạo là tôn giáo bản địa của người Nhật với một hệ thống thần linh hết sức phong phú, trong đó bao hàm cả nhân thần và tự nhiên thần. Các nhân vật thần kì nói chung và nhân vật biến hình nói riêng trong truyện cổ Nhật Bản có những biểu hiện liên quan đến các vị thần của Thần đạo. Chẳng hạn, trong số 35 bản kể có xuất hiện kiểu nhân vật biến hình thì có đến 11 bản kể mà nhân vật biến hình là con cáo. Con cáo có thể được xem là “huyền thoại về những kẻ láu lỉnh được phản ánh rộng rãi trong các truyện cổ tích về loài vật” [2, tr.355]. Từ chỗ là kẻ láu lỉnh, dần dần nó bị đẩy đến mức cực đoan là kẻ xấu xa, gây hại cho con người. Tuy nhiên, con cáo cũng là một con vật thần thánh trong Shinto của người Nhật.
Mối liên hệ với các yếu tố Phật giáo của kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ người Việt thể hiện rõ nét nhất trong hình thức biến hình sau khi chết. Như chúng tôi đã đề cập, sự hóa thân này có mối quan hệ với quan niệm luân hồi của đạo Phật [4]. Vì sự hạn định của đời sống hiện thực, con người mong muốn di chuyển giữa các thế giới, đem đến một kết thúc “có hậu” cho cái chết của mỗi người. Nhân vật biến hình để tiếp tục tồn tại. Sự tồn tại thứ hai này vẫn nằm ở thế giới cũ, tức là đến một lúc nào đó nó sẽ tiếp tục hóa thân để mãi mãi tồn tại. Đó cũng chính là ước mơ của cộng đồng dân gian.
Thông qua kiểu nhân vật biến hình, người đọc cũng có thể tìm thấy dấu vết của các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam, điển hình nhất là các nghi lễ cầu đảo. Các câu thần chú, tụng niệm hay cầu kinh chính là một hình thức biểu hiện của nghi lễ này. Một số truyện cổ Nhật Bản như Những cuộn kinh linh ứng, Mèo cái và nhà sư, Phật của khỉ… hay các truyện Ai mua hành tôi, Sọ Dừa, Thạch Sanh… trong truyện cổ người Việt tiêu biểu cho hình thức này.
Bên cạnh đó, các biến thể khác nhau của hình ảnh Đức Phật cũng xuất hiện khá phổ biến trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam. Đặc biệt, trong truyện cổ Việt Nam, tồn tại khá nhiều kiểu nhân vật biến hình có motif biến thể của Đức Phật như trong các truyện Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử, Con bìm bịp, Hai anh em và con chó đá, Ông sư hóa thành con ếch…
Ngoài ra, đứng trước các sự vật, hiện tượng không thể lý giải, cư dân cổ đại phải vận dụng đến trí tưởng tượng của mình để tìm ẩn số cho các hiện tượng đó. Các thế lực siêu nhiên, các năng lực và sức mạnh phi phàm được họ vận dụng cho công việc này. Một trong những sản phẩm của hành động này được hiện thực hóa bằng các nhân vật biến hình trong truyện cổ. Hay nói cách khác, khát vọng nội tại của con người trong việc nắm bắt, chiếm lĩnh tự nhiên là một cơ sở khác cho việc tồn tại kiểu nhân vật biến hình trong truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam.
Các cơ sở tồn tại kiểu nhân vật biến hình không hẳn buộc phải rạch ròi mà thực tế chúng luôn có sự giao thoa, trộn lẫn vào nhau trong hình thức tư duy đa nguyên luận của tác giả folklore. Trong đó, tác động quan trọng nhất vẫn là các biểu hiện khác nhau của tư duy huyền thoại đến các văn bản folklore.
Kết luận: Giá trị của kiểu nhân vật biến hình
Nhân vật biến hình là một kiểu nhân vật đặc biệt của truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam. Bên cạnh những đặc điểm chung của một kiểu nhân vật truyện cổ nó còn có những đặc trưng riêng liên quan đến các yếu tố kì ảo, thể hiện rõ nét trong khả năng biến hình hoặc bị biến hình.
Với kiểu nhân vật biến hình, cốt truyện của truyện cổ có khả năng mở rộng đến nhiều thế giới khác nhau (trần gian, âm phủ, thủy phủ, thiên đường…) với nhiều nhân vật khác nhau (người phàm trần, thần tiên, yêu ma…). Sự mở rộng cốt truyện bao gồm cả việc các tác giả dân gian có điều kiện để xây dựng hệ thống tình tiết lôi cuốn, hấp dẫn hơn do quyền năng của yếu tố kì ảo đem lại.
Ở một góc độ nào đó, kiểu nhân vật biến hình đồng thời thực hiện chức năng giải quyết những tình huống khó khăn mà con người gặp phải. Đó là các vị thần trong truyện cổ Nhật Bản, là những ông Bụt, bà tiên trong truyện cổ Việt Nam.
Kiểu nhân vật biến hình góp phần thể hiện trọn vẹn tư tưởng của tác giả folklore về nhiều mặt của đời sống, con người, xã hội, tôn giáo… Nhân vật biến hình chính diện được đặt đối lập với nhân vật biến hình phản diện, thông qua đó các quan niệm về người tốt-kẻ xấu, điều thiện-điều ác, việc nên làm-không nên làm… sẽ hiển hiện trước mắt người đọc.
Sự gặp gỡ hay khác biệt trong thế giới nhân vật biến hình của truyện cổ Nhật Bản và Việt Nam phụ thuộc vào các đặc trưng về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi quốc gia. Nhưng có một điều chắc chắn là, hành trình kì ảo của truyện cổ sẽ thiếu đi sức lôi cuốn nếu thiếu đi kiểu nhân vật biến hình đặc sắc này. Truyện cổ Nhật Bản, Việt Nam nói riêng, truyện cổ của các dân tộc trên thế giới nói chung vẫn cuốn hút bạn đọc bao thế hệ một phần nhờ vào những biến đổi khôn lường của thế giới phép thuật, bùa chú, ma quái như vậy.
Huế, tháng 10/2011
N.A.D
Tài liệu tham khảo:
[1] Trần Thị An, Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ type và motif - Những khả thủ và bất cập
Tham khảo tại:
[2] E.M.Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
[3] Gertrude Fristsch biên soạn, Truyện cổ Nhật Bản, Văn Hòa dịch, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
[4] La Mai Thi Gia, Nguồn gốc Phật giáo của mô típ tái sinh trong truyện kể dân gian Việt Nam, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
Tham khảo tại:
[5] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2007.
[6] Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Tổng tập Văn học dân gian người Việt (Tập 6: Truyện cổ tích thần kì), Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 2004.
[7] Yanagita Kunio, Japanese Folk Tales, Fanny Hagin Mayer dịch (từ nguyên bản tiếng Nhật: Nippon no mukashibanashi, bản chỉnh sửa, Hattori Aritsune, Tokyo, Mikuni Shobo, 1992).
BẢNG DANH MỤC
TRUYỆN CỔ CÓ XUẤT HIỆN KIỂU NHÂN VẬT BIẾN HÌNH
| Mã số | TRUYỆN CỔ NHẬT BẢN | TRUYỆN CỔ VIỆT NAM | ||
| Tên truyện | Trang | Tên truyện | Trang | |
| 1 | Chuyện con lửng và con cáo thách đố nhau | 5 | Ai mua hành tôi | 53 |
| 2 | Những cuộn kinh linh ứng | 15 | Anh đánh cá và công chúa Thủy tề | 68 |
| 3 | Vị thần của dân nghèo | 36 | Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử | 129 |
| 4 | Thiên đàng của mèo | 42 | Cái chìa khóa | 157 |
| 5 | Quỷ dạ xoa | 72 | Cái trống của thần nông | 159 |
| 6 | Chàng đánh cá Urasima | 99 | Chim đa đa | 183 |
| 7 | Chuyện phiêu lưu của người đan chiếu | 112 | Con bìm bịp | 191 |
| 8 | Lấy oán trả ơn | 119 | Con gà trống biến thành ma ác | 195 |
| 9 | Chuyện phiêu lưu của thầy kí Tôkubây | 128 | Con kiến | 198 |
| 10 | Lòng biết ơn của con cáo | 151 | Con ngỗng kì lạ | 203 |
| 11 | Tỳ bà quán | 162 | Dã tràng | 221 |
| 12 | Chim sếu trắng | 181 | Duyên tiên | 247 |
| 13 | Lông mi của chó sói | 203 | Đôi sam | 254 |
| 14 | The quiver of the Mountain Spirit Người hát rong của Thần Núi | 10 | Giả chết bắt quạ | 268 |
| 15 | The eagle’s eggs Những quả trứng đại bàng | 11 | Hai anh em và con chó đá | 290 |
| 16 | From a meadow lane in spring Từ đường mòn đồng cỏ mùa xuân | 14 | Hóa thành dê | 314 |
| 17 | Matsuko’s pilgrimage to Ise Cuộc hành hương của Matsuko đến Ise | 19 | Hòn trống mái | 322 |
| 18 | The wife who didn’t eat Người vợ không cần ăn | 26 | Lấy chồng dê | 330 |
| 19 | “O Sun, the iron chain!” Ô Mặt trời, vòng xích kim loại! | 29 | Mối thù truyền kiếp | 345 |
| 20 | Kongô-in and the fox Kongô-in và con cáo | 30 | Năm trâu sáu cột | 349 |
| 21 | Tricked into becomig a priest Bị lừa thành sư | 31 | Nàng tiên cóc | 360 |
| 22 | The acolyte and the fox Chú tiểu và con cáo | 32 | Nàng tiên cua và chàng đánh cá | 372 |
| 23 | The old one-eyed man Người đàn ông một mắt | 33 | Nàng tiên ốc | 376 |
| 24 | The fox at Hijiyama Con cáo ở Hijiyama | 33 | Nàng Tô Thị | 378 |
| 25 | Shibaemon Badger Con lửng Shibaemon | 34 | Nàng Út | 385 |
| 26 | The pile in the harbor Cái cột ở bến thuyền | 36 | Ngọc Hoàng và anh chàng nghèo khó | 393 |
| 27 | Foxes laugh Điệu cười của cáo | 36 | Người câu cá nghèo khổ | 419 |
| 28 | The horseflies at Takoshima Những con ruồi trâu ở Takoshima | 38 | Người cưới ma | 453 |
| 29 | Komebukuro and Awabukuro Komebukuro và Awabukuro | 50 | Người dì ghẻ ác nghiệt hay là sự tích con dế | 458 |
| 30 | The magic straw sloak of the yama-uba Chiếc áo khoác thần kì của quỷ dạ xoa | 53 | Người đàn bà hóa thành con muỗi | 461 |
| 31 | Yasuke of Yamura Yasuke của vùng Yamura | 56 | Người học trò muốn đậu | 481 |
| 32 | The fox-wife Người vợ cáo | 57 | Người học trò trung thực | 484 |
| 33 | The blind Water Spirit Thần Nước mù | 57 | Người học trò với con rùa | 487 |
| 34 | The hearth fire on the New Year’s Eve Chiếc lò sưởi Đêm giao thừa | 59 | Những con quỷ chó | 513 |
| 35 | How a fox returned a kindness Cáo trở nên tốt bụng như thế nào | 69 | Nợ duyên trong mộng | 528 |
| 36 |
|
| Ông sư hóa thành bình vôi | 548 |
| 37 |
|
| Ông sư hóa thành con ếch | 554 |
| 38 |
|
| Sao mai và sao hôm | 605 |
| 39 |
|
| Sọ Dừa | 642 |
| 40 |
|
| Sự tích cái chổi | 668 |
| 41 |
|
| Sự tích cái dây lưng | 669 |
| 42 |
|
| Sự tích cây huyết dụ | 671 |
| 43 |
|
| Sự tích cây vú sữa | 687 |
| 44 |
|
| Sự tích con cá he | 689 |
| 45 |
|
| Sự tích con khỉ | 697 |
| 46 |
|
| Sự tích con muỗi | 713 |
| 47 |
|
| Sự tích con thạch sùng | 715 |
| 48 |
|
| Sự tích con thạch sùng | 715 |
| 49 |
|
| Sự tích núi Ngũ Hành | 722 |
| 50 |
|
| Sự tích núi Vàng | 725 |
| 51 |
|
| Sự tích ông Táo | 728 |
| 52 |
|
| Sự tích sao Hôm, sao Mai | 736 |
| 53 |
|
| Sự tích tháp Báo Ân | 738 |
| 54 |
|
| Thần cây đa và người nông dân | 784 |
| 55 |
|
| Thần nước | 786 |
| 56 |
|
| Tinh con chuột | 818 |
| 57 |
|
| Truyện cây cau | 834 |
| 58 |
|
| Truyện con Tấm và con Cám | 850 |


