The image “The sick man of East Asia” in East Asian renovation literature of the late nineteenth century and the early twentieth century

                                                                   Le Ngoc Thuy, PhD. 

                                  Can Tho University

Abstract

“The sick man of East Asia” (the East Asian’s disease, the disease situation of East Asia) was a particularly prominent image in Duy Tan literature (an expression of the renovation movement in literature) starting in Japan, spreading quickly in East Asia and Vietnam in the late nineteenth century and the early twentieth century. This image was used in publicist literature of renovation in Japan, China, and Vietnam under many situations that were sensitive to the relations between the East Asia nations at that time. In general, although it appeared in the publicist literature of Japan, China, or Vietnam in many ways, the most common feature of the image of “the sick man of East Asia” was the profound consciousness of self and awareness of the external world towards the right choices and positive action to protect the existence of their country and people in the competitive world full of challenges. Through the many periods of their history, the nature of the self-reflection, self-examination of the “sick man of East Asia” image not only was the live experience for the peoples who ever created, received and applied this image in the past, but has a high suggestion for the modern countries and people using it as well.      

 

HÌNH TƯỢNG  « ĐÔNG Á BỆNH PHU »  TRONG VĂN HỌC DUY TÂN ĐÔNG Á , VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX.

Tóm tắt

 ‘‘Đông Á bệnh phu’’ (người Đông Á bệnh tật, tình trạng ‘‘bệnh tật’’ của Đông Á) là một hình tượng đặc biệt nổi bật trong văn học duy tân (một biểu hiện của phong trào Duy Tân) bắt đầu từ Nhật Bản, lan truyền mạnh mẽ tại Đông Á, Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hình tượng này được sử dụng trong văn chương nghị luận Duy Tân ở Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam với nhiều tình huống, trong đó có cả những tình huống rất nhạy cảm trong quan hệ giữa các dân tộc Đông Á lúc bấy giờ. Nói chung, cho dù xuất hiện trong văn nghị luận Nhật Bản, Trung Hoa hay Việt Nam duới nhiều hình thức, nét chung nhất của hình tượng ‘‘Đông Á bệnh phu’’ là thể hiện tính phản tỉnh sâu sắc của văn học Duy tân trong nhận thức về bản thân mình và nhận thức về ngoại giới để tiến tới những chọn lựa đúng và những hành động tích cực bảo vệ sự tồn tại của đất nước và dân tộc mình trong thời kỳ ‘‘cạnh tranh đại thế ’’ đầy thách thức. Mặc dù đã qua nhiều thời kỳ lịch sử nhưng cho tới nay, tính chất phản tỉnh, tự vấn của hình tượng ‘‘Đông Á bệnh phu’’ vẫn còn là những kinh nghiệm sống động không chỉ đối với các dân tộc từng sáng tạo, tiếp nhận và sử dụng hình tượng này trong quá khứ, mà nó còn có tính gợi mở cao đối với những vấn đề của các quốc gia và của con người hiện đại. 

 


HÌNH TƯỢNG ‘‘ĐÔNG Á BỆNH PHU’’

TRONG VĂN HỌC DUY TÂN ĐÔNG Á, VIỆT NAM

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

 

 

TS. Lê Ngọc Thúy

Khoa Sư Phạm, Trường Đại học Cần Thơ

Đông Á là một tổ hợp quốc gia thuộc khu vực châu Á có những mối liên hệ về đặc thù về ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị, văn hóa, kinh tế…bao trùm lên trên sự phân chia địa lý tự nhiên.  Có quan niệm cho rằng bên cạnh nét đặc thù của từng quốc gia, thì tính chất Sinosphere (có ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến tiếng, văn hóa Trung Quốc) là một trong những nét  đặc thù của khu vực này. Bên cạnh đó, Đông Á còn phong phú trong đời sống tinh thần với sự hiện diện của Phật giáo (chủ yếu là Phật giáo Đại Thừa, trong tất cả các quốc gia Đông Á), tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo (ảnh hưởng đậm nhạt khác nhau nơi từng quốc gia). Ngoài ra, còn có các tín ngưỡng dân gian đặc thù như các đạo thờ thần, tín ngưỡng Shanman… rải rác trong nhiều cộng đồng dân tộc. Sau cùng, đến muộn nhất với Đông Á là Ki tô giáo.

Nói chung, Đông Á là một khu vực có nhiều mối tương quan về lịch sử, có những nét đồng văn trong quá trình hình thành và phát triển của từng cộng đồng, tuy mối tương quan chính trị giữa các nước Đông Á trong các quá trình lịch sử là điều không hề đơn giản.    

Giữa thế kỷ XIX, đứng trước cuộc chiến tranh thực dân, Đông Á trở thành một trong những ‘‘điểm nóng’’của châu Á và của cả thế giới với nhiều vấn đề, chủ yếu là quan hệ giữa các nước Đông Á với nhau và giữa Đông Á với các nước thực dân phương tây. Đây là thời điểm các quốc gia Đông Á lại có thêm một điểm gần gũi nhau về số phận bị xâm chiếm, bị uy hiếp về chính trị, văn hóa, kinh tế bởi các nước thực dân châu Âu, và điểm gần gũi nhất giữa các nước Đông Á lúc này là vấn đề độc lập tự do và đấu tranh sinh tồn trong thời  ‘‘cạnh tranh đại thế’’.

Nhưng đồng thời, đây cũng là lúc xuất hiện những phân hóa sâu sắc trong nội bộ cộng đồng này bắt đầu từ khi các cộng đồng dân tộc Đông Á nhìn nhận, đánh giá về nhau không bằng các chuẩn mực của quá trình lâu dài đã cùng nhau hình thành và tồn tại, mà là dựa trên những tiêu chí hiện đại do châu Âu đem tới. Đứng trên góc nhìn từ các giá trị phương tây, Đông Á hiện ra như một khu vực lạc hậu, đầy dẫy tiêu cực, trì trệ, một thực thể đã suy tàn. Đông Á bệnh phu là một  khái niệm ra đời trong hoàn cảnh ấy.

            Từ đó, Đông Á bệnh phu trở thành một hình tượng đặc biệt nổi bật trong văn học duy tân (một biểu hiện của phong trào Duy Tân) của các nước Đông Á, bắt đầu từ Nhật Bản, lan truyền mạnh mẽ tại Đông Á, Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hình tượng này được sử dụng trong văn chương nghị luận Duy Tân ở Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam với nhiều tình huống, trong đó có cả những tình huống rất nhạy cảm trong quan hệ giữa các dân tộc Đông Á lúc bấy giờ. Theo đó, hình tượng Đông Á bệnh phu cũng có những thăng trầm riêng về phương diện ý nghĩa, giá trị với những gì đã được và đã mất trong suốt thời gian tồn tại của nó (cũng nằm trong thời kỳ tồn tại của tư tưởng Duy tân)

            Đông Á bệnh phu, một phản tỉnh tích cực trước thử thách lịch sử

Nói chung, cho dù xuất hiện trong văn nghị luận Nhật Bản, Trung Hoa hay Việt Nam duới nhiều hình thức, nét chung nhất của hình tượng ‘‘Đông Á bệnh phu’’ luôn là sự hình tượng hóa các khiếm khuyết của dân tộc mình, cộng đồng mình dưới góc nhìn phản tỉnh, tự vấn, tự nhận thức về những tệ hại (bệnh tật) của chính mình để từ đó sửa chữa sai lầm (‘‘tìm phương thuốc’’) . Vấn đề ‘‘Người Đông Á bệnh tật’’ hay ‘‘sự suy tàn Đông Á’’ (cụ thể trong từng quốc gia) từng là đối tượng số một của văn chương nghị luận có nội dung yêu nước, cải cách tại các quốc gia có phong trào duy tân sôi nổi như Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam… Trong phạm vi bài này, xin đề cập đến nét gần gũi của hình tượng ‘‘người Đông Á bệnh tật’’ đã hiện diện trong các tác phẩm của Fukuzawa Yukichi, Lương Khải Siêu và Trần Hữu Độ.

            Ở Nhật Bản, Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát) là một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Trong cả cuộc đời hoạt động gắn với thời kỳ Minh Trị duy tân, Fukuzawa Yukichi đã viết rất nhiều tác phẩm như Khuyến học, Khái lược luận thuyết về văn minh, Tình hình châu Âu", Bàn về dân quyền, Bàn về quốc quyền, Bàn về quốc hội, Bàn về thời sự thế giới v.v.

Trong số đó, Khuyến học là tác phẩm nghị luận văn hóa - xã hội mà trong đó, căn bệnh lâu đời của nước Nhật, những tiêu cực của xã hội Nhật, của người Nhật được ông đề cập đến và phân tích tỉ mỉ dưới góc độ là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ, lạc hậu, làm tiêu mòn sinh lực dân tộc, ngăn chận cuộc tiến hóa, làm cho dân Nhật, nước Nhật, văn hóa Nhật trở thành ‘‘bệnh tật’’.

Bệnh của dân Nhật là trở thành hèn nhược và theo Fukuzawa Yukichi đó là do ‘‘Đã bao năm nhân dân sống dưới chế độ chính trị chuyên chế. Điều nghĩ trong lòng không dám nói ra miệng, sẵn sàng nói láo để khỏi mang vạ vào thân, lừa đảo cũng được cho qua. Gian dối, ngụy tạo trở thành cách sống. Không thành thật trở thành thói quen hằng ngày. Làm sai không dám nhận,lại còn muốn đổ lỗi cho người khác. Không còn ai biết hổ thẹn, biết tức giận, chỉ biết suy bì, ghen ăn tức ở. Còn việc nước, việc nhà là việc chùa, hơi đâu mà lo nghĩ’’(tr.65, ). Dù vậy ông cũng nhấn mạnh cơ chế chính trị chuyên chế ( mà ông hình dung là ‘thực trạng hậu cung, nơi thói tham vọng hoành hành’’) là một nguyên nhân quan trọng của thực trạng đó. ‘‘Dân không thiếu người trung thực, cương trực, nhưng  mỗi khi quan hệ với chính quyền thì nhân cách trở nên dối trá’’. Do đó, bên cạnh bệnh của dân còn có bệnh của quan, bệnh của một cơ chế quản lý rời rạc, vì tư lợi hơn là vì xã hội. Cơ chế ấy có thể làm mai một những bản chất tốt đẹp của con người. Vì thế nên  ‘‘Quan chức cũng có nhiều người tốt, nhưng khi tập hợp trong chính phủ thì công việc cứ rối như tơ vò’’, và ‘‘Khi trở thành quan chức thì sự thông thái biến mất’’ (tr.66, 67,sdd). Vì thế mới có một thực trạng xã hội mà trong đó ‘‘Trên xa lánh dưới, dưới chẳng muốn gần trên. Quan chức và dân chúng như hai cái đầu trên một cái cổ vậy’’. Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn thấy rõ bệnh của tập quán nguy hiểm qua quan niệm sai lầm đã tồn tại bao đời về mục tiêu, ý nghĩa của hoạt động học tập ‘‘Quan niệm học để làm quan chứ không ai học để làm dân, Quyền lực là chìa khóa vạn năng nên dân ta ai cũng muốn tìm cách leo lên hàng quan chức để có bổng lộc’’( tr. 69 sđd)

            Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi nhấn mạnh đến những điểm tiêu cực, lạc hậu của tư tưởng Nho giáo mà ông xem như là những ‘‘bệnh tật’’ của hệ tư tưởng cũ, là nguyên nhân làm trì hoãn bước tiến của xã hội như ‘‘những lời dạy không thể chấp nhận được tại trường nữ học’’, ‘‘Đừng tin những lời nói bậy của Chu Tử’’, ‘‘không phải mọi lời trong Luận ngữ đều đúng’’.

            Fukuzawa Yukichi như vậy đã cho thấy sự bế tắc về mục tiêu phấn đấu, sai lầm trong quan niệm về giá trị, rời rạc, tan rã về nhân tâm, suy mòn  khí lực dân tộc... chính là ‘‘bệnh tật’’ của nước Nhật dưới bao thời kỳ chuyên chế. Nước Nhật do ‘‘chỉ có người Nhật’’ bao đời sống trong những trạng thái thụ động, thiển cận, tầm thường mà cho tới thời kỳ ấy, theo Fukuzawa Yukichi, là cũng ‘‘chưa có quốc dân Nhật’’, nghĩa là chưa có những người năng động, tích cực trong vai trò là chủ nhân đất nước nên nước Nhật đã trở thành yếu nhược, thất bại trước sức mạnh quân sự phương tây.

            Bệnh thì phải có ‘‘thuốc’’. Trong Khuyến học, Fukuzawa Yukichi đã nêu lên các phương thức – ‘‘phương thuốc’’ như xây dựng tinh thần đổi mới bằng nền giáo dục tân học, xây dựng ý thức mới về quan hệ cá nhân - cộng đồng, xây dựng quan niệm đúng đắn về mục tiêu của đời sống....Và bao trùm lên tất cả những giải pháp đó chính là một nền pháp luật nghiêm minh và hiệu quả.

            Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, trong đó có cái nhìn phản tỉnh về dân tộc, xã hội... đã có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề sự thành công của cuộc duy tân (về phương diện thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật) có những thành tựu rực rỡ, và nước Nhật trở thành một cường quốc trên thế giới.

Về điểm này, văn học Minh Trị duy tân với tư cách là là trào lưu tiên phong, đã nhận được sự đồng cảm sâu sắc của các nền văn học duy tân của các cộng đồng Trung Quốc, Việt Nam xuất hiện liền sau đó.  

Ở Trung Hoa những năm cuối thế kỷ XIX, Lương Khải Siêu được coi là nhà chính trị, nhà tư tưởng canh tân, nhà văn, nhà báo, nhà phê bình, nhà giáo dục, học giả... nổi tiếng. Ông đã tham gia cuộc Mậu Tuất chính biến năm 1897, khi các Nho sĩ và quan lại canh tân nổi lên làm cách mạng chống triều đình nhà Thanh đã bị Từ Hy thái hậu trấn áp. Lương Khải Siêu phải chạy qua Nhật tỵ nạn, sau đó là quãng đời 13 năm vừa lưu vong vừa trước tác.

Lương Khải Siêu có một tiểu luận khá nổi tiếng là Phê bình sử cũ. Trên hiện tượng là phê bình cách viết sử nhưng thực chất,qua tác phẩm này ông phê phán nền học thuật Trung Quốc lạc hậu do đã tồn tại trên một loạt những quan niệm lỗi thời về vai trò, vị trí của sử học, từ đó cũng thể hiện cái nhìn sai lầm về mối tương quan giữa các tầng lớp xã hội. Các sai lầm được ông nêu lên thực chất cũng là những ‘‘bệnh tật’’ trong nhận thức của người Trung Hoa về ý nghĩa đích thực của những mối liên hệ trong cộng đồng xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Từ đó không những đã dẫn tới cái nhìn lệch lạc về lịch sử mà còn làm lệch lạc cả khoa học viết sử.

Trong Phê bình sử cũ, Lương Khải Siêu viết ‘‘Chỉ biết triều đình mà không biết đến quốc gia, chỉ biết có cá nhân mà không biết có quần thể, chỉ biết sự tích đã qua mà không biết việc ngày nay, biết có sự thật mà không biết có lí tưởng’’ là một loạt những hạn chế của cách viết sử cũ. Đây là một cách ông nói về thực trạng ‘‘học phong dân khí càng ngày càng hủ bại, mạt lưu đến ngày nay là cùng cực’’. Nguyên nhân của thực trạng này chính là nền chính trị chuyên chế, một ‘‘bệnh tật’’ lâu năm của xã hội phong kiến đè nặng lên trên dân tộc Trung Hoa. Lương Khải Siêu viết ‘‘Suy chỗ khởi phát của nguồn bệnh, thực nguyên do đều vì lịch sử bị cho là đối tượng chuyên thuộc của triều đình, ngoài triều đình ra không có chuyện gì đáng để ghi chép. Nếu không vậy, dù có kiêng húy triều đình thì chuyện của dân gian, những việc đáng được ghi chép không phải cũng rất nhiều sao? Tại sao lại không chép những việc ấy?’’

Phê phán sử cũ của Lương Khải Siêu là một lời phê phán đối với tác hại của chế độ chính trị chuyên chế, một căn bệnh có nguồn gốc từ chế độ phong kiến lâu đời. Nó đã làm cho sử học vốn là khoa học ghi chép dòng chảy của tồn tại dân tộc  trở thành ‘‘không có cảm xúc’’, không nuôi dưỡng, không khơi dậy được những tình cảm tích cực trong lòng dân tộc để dẫn tới những hành động tích cực. Giá trị của sử cũ đã bị giới hạn bởi tính một chiều, tính đơn điệu nên ‘‘Tuy đọc hết tất cả các bộ sử thư, nhưng chưa từng có bộ sử nào đủ để khích lệ lòng ái quốc của người đọc, đủ để đoàn kết sức mạnh của quần chúng, đủ để đáp ứng được với thời thế của ngày hôm nay mà đứng cùng muôn nước. Thế nên sử học nước ta, bề ngoài tuy rất phát đạt nhưng không thể như quốc dân các nước Âu Mỹ thực sự nhận được lợi ích từ sử học, tất cả đều vì những nguyên do kể trên mà thôi..’’

Theo Lương Khải Siêu, một nền sử học thể hiện được mức độ tiên tiến của tư tưởng dân tộc phải được đặt trên ý thức trân trọng toàn thể cộng đồng dân tộc, làm cho mỗi người đều thấy rõ vai trò của mình trong sự tồn tại của đất nước. ‘‘Thế thì một khoa sử học nước ta, không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, hiền, ngu, phải khiến cho tất cả mọi người dù làm bất cứ việc gì khi nhìn thấy sử thì đều như kẻ đói cơm khát nước, một khắc cũng không dung hoãn’’.

Thực sự, tuy tên bài viết là Phê phán sử cũ, nhưng thực chất Lương Khải Siêu muốn phê phán tính chất thiếu dân chủ của chế độ phong kiến chuyên chế đã áp đặt cái bóng to lớn và u ám của nó lên mọi bình diện của đời sống dân tộc. Điều này cho thấy rằng nền dân chủ chính là phương thuốc trị bệnh chuyên chế.

Cùng thời đại với Lương Khải Siêu, nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn trong các tác phẩm AQ chính truyện, Nhật ký người điên, Thuốc… cũng nói nhiều về “bệnh” của xã hội Trung Hoa phong kiến đã đến hồi nguy kịch và “thuốc” thì hãy còn mù mịt chưa đâu vào đâu.

Tại Việt Nam tư tưởng duy tân đã nở rộ sôi  nổi một thời, đã có những khuấy động đáng kể những “giấc mê”, căn bệnh mê mờ từ nhiều thế kỷ.

Sự trì trệ của đất nước và tinh thần dân tộc được hình dung trong thơ ca có yêu nước –Minh Tân cả nước đầu thế kỷ XX bằng hình tượng “giấc mê” thể hiện sự bức xúc trước tình cảnh mê mờ của linh hồn dân tộc và thiết tha kêu gọi thức tỉnh. Vì thế, ta thấy trong thơ ca Duy Tân Việt Nam đã có những cách đặt tên cho tác phẩm rất thống thiết như Chiêu hồn nước (Phạm Tất Đắc), Tỉnh quốc hồn ca (Phan Chu Trinh), Gọi tỉnh hồn quốc dân (Phan Bội Châu). Riêng ở Nam Bộ thì có Chiêu hồn dân ruộng (Nguyễn Quang Diêu), Chiêu hồn kinh tế... (Nguyễn Giai)… Tất cả đều thể hiện tinh thần phản tỉnh về “bệnh mê” của dân tộc. Nỗi ám ảnh về ‘‘căn bệnh trầm kha’’ của “bốn ngàn năm bệnh thuốc lâu thuyên’’, tình trạng “nhân bần khí đoản”, “nước nhược dân hèn” dẫn đến mất độc lập tự do đã chi phối mạnh mẽ mảng văn học duy tân xuất hiện đồng loạt trên toàn cõi Việt Nam. Văn chương Đông Kinh nghĩa thục, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Quang Diêu… đều nói đến.

Tại Nam bộ, Tờ cớ mất quyền tự do của Trần Hữu Độ là tác phẩm chính luận tiêu biểu cho xu hướng tự vấn, phản tỉnh của trào lưu tư tưởng duy tân Đông Á.

Với sự việc mất độc lập tự do được nhìn từ góc độ "nội bộ", Trần Hữu Độ cho thấy trong đó, chính người Việt Nam cũng phải chịu phần trách nhiệm vì những tiêu cực, lạc hậu tồn đọng thành “bệnh tật” lâu ngày. "Cái nguyên nhơn sự yếu đuối của nước Việt Nam là do mấy ngàn năm trước về cái quân chủ chuyên chế, dồn dập ngày càng lâu, cho đến nay lại bị tay dị chủng nữa thì cái tệ là rõ rệt thái quá rồi" , dẫn đến hậu quả mất  khả năng tự khẳng định mình trong đà phát triển của lịch sử nhân loại, nghĩa là mất khả năng đấu tranh sinh tổn, dẫn đến mất tự do trong tay những kẻ tiến hóa mạnh hơn.

            Theo Trần Hữu Độ những ‘căn bệnh” gây ra thực trạng ấy chính là óc nô lệ (nô tánh),là "ngu mụi", thiếu cái "quốc não", "vị mình", "sợ sệt". Ngoài ra, ông còn nêu 6 nguyên nhân gây nên “bệnh” yếu đuối của dân An Nam là do nơi phong tục, do nơi chánh trị, do không ưa cạnh tranh, chỉ thích hòa bình, do không có tánh tấn thủ mạo hiểm, do chưa biết ngày nay là quá độ thời đại, do chưa biết việc cạnh tranh của quốc dân. Điểm đặc sắc trong cách nhìn này của Trần Hữu Độ chính là ông đã lật ngược lại vấn đề đối với một số tư tưởng mà truyền thống cho là tốt đẹp như “hiếu hòa” , “gắn bó với quê nhà”, “thận trọng thủ phận”, không biết thời kỳ cạnh tranh và cũng không mấy thích cạnh tranh. Hiếu hòa nên luôn đóng cửa để “thủ”, gắn bó với quê nhà nên trở thành quanh quẩn thiển cận, không mở mang, không thích cạnh tranh nên không có động lực phát triển, không có khả năng tự khẳng định mình chứ nói gì đến tìm được một vị trí trong cuộc cạnh tranh đại thế.  

            Như vậy, ở giai đoạn đầu của thời kỳ thức tỉnh, văn học duy tân của các cộng đồng Đông Á đã có một sự gần gũi trong nhận thức về những nhược điểm, những tồn tại, về ý thức tự trách nhiệm đối với số phận hiện tại của mình trước thử thách lớn của sức mạnh vật chất phương tây. Điều này xuất phát từ sự gần gũi về nền tảng văn hóa, về cơ chế kinh tế, chính trị của các nước Đông Á. Tuy toàn nói về cái sai, cái dở của từng cộng đồng dân tộc, nhưng đây lại là một ưu điểm lớn, một nét tích cực của văn học duy tân Đông Á khi nó còn gợi ra một khả năng tốt đẹp trong mối quan hệ đồng cảm, đồng cảnh, tưởng như còn có thể cùng chia sẻ số phận, sát cánh nhau trong cuộc đấu tranh tự khẳng định giá trị của một khu vực đồng văn đã có một quá trình giao lưu lâu dài giữa những nền văn hóa đặc sắc.

Đã có những sự kiện cho thấy người Đông Á đã tìm được mối tương giao, đồng cảm tốt đẹp trong tư tưởng duy tân. Trong văn học duy tân Nam bộ đầu thế kỷ XX, khi kết thúc tác phẩm chính luận Tờ cớ mất quyền tự do, tác giả Trần Hữu Độ xác định rõ rằng ông “lấy ý của Ẩm Băng Thất” (Lương Khải Siêu) mà nói công chuyện nước nhà mình. Trong thơ ca duy tân Việt Nam, không ít hình ảnh lý tưởng về nước Nhật. Phong trào xuất dương du học cũng lấy tên là Đông du, chủ yếu hướng về niềm hy vọng Nhật Bản. Trong một thời gian ngắn, phong trào duy tân Việt Nam nhận được nhiều giúp đỡ từ các tổ chức, các trí thức Trung Hoa và Nhật Bản. Khi phong trào duy tân Trung Hoa bị đàn áp, Lương Khải Siêu cũng phải sang Nhật lánh nạn và đã gặp gỡ Phan Bội Châu tại đó. Lịch sử còn ghi lại cuộc bút đàm đẫm lệ giữa hai nhà yêu nước kéo dài từ 7, 8 giờ sáng đến 5,6 giờ chiều xoay quanh nội dung về phương thuốc cho căn bệnh “nội thương, ngoại cảm’’của tình hình Việt Nam. Từ cuộc bút đàm này, Phan Bội Châu đã nhận được nhiều gợi ý lớn như vấn đề cầu học (đã dẫn tới phong trào Đông du ở Việt Nam). Đây là những sự kiện thể hiện thời gian tương giao tốt đẹp giữa những người Đông Á có tấm lòng với vận mệnh đất nước, vận mệnh khu vực

Đông Á bệnh phu, một bi kịch Đông Á.

            Trong công trình Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, bên cạnh các vấn đề của nước Việt Nam phong kiến thời Tự Đức, nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi cũng nói đến vấn đề đã nảy sinh trong mối quan hệ phức tạp giữa các nước Đông Á, Trước hết, tác giả xác nhận Việt Nam cũng như cộng đồng Đông Á, đã “có cùng một vấn đề đã đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản là làm sao bảo vệ được dân tộc và bản sắc dân tộc chống xâm lược phương Tây và giữ gìn các giá trị truyền thống đặt trên cơ sở Nho giáo’’(tr, 207) .

            Tiên phong, tiên tiến và thành công nhất trong công cuộc duy tân là nước Nhật. Sôi nổi, nhiệt thành, sâu sắc là đặc điểm của văn học duy tân Trung Hoa.. Yoshiharu Tsuboi nhận xét rằng “Ở Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên lúc này đều có những khẩu hiệu tương tự nhau như Hòa hồn dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo tây khí (đạo lý phương đông và thực hành phương tây) Trung thể tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương tây). Khẩu hiệu này chứng tỏ nhu cầu có tính thực tế nhất định và do đó có sự cố gắng thích nghi với môi trường và công cuộc hiện đại hóa đất nước’’ (sdd, tr 270)

            Riêng Việt Nam rất không may khi chính sách duy tân không phải do chính quyền đề xướng nên ‘‘Người ta không thấy những khẩu hiệu như vậy trong các thực lục của triều Nguyễn’’. Phong trào duy tân chủ yếu do những người yêu nước tự đứng ra tổ chức mà không có một chỗ dựa chính trị nào. Từ đó, các tấm gương duy tân Nhật Bản, Trung Hoa đã là mục tiêu phấn đấu của Việt Nam.

            Cũng trong công trình trên, Yoshiharu Tsuboi cũng nói đến một làn ranh ngăn cách đã xuất hiện giữa các cộng đồng Đông Á khi cuộc duy tân đã được tiến hành trong sự chênh lệch thời gian, trong những hoàn cảnh riêng bằng những cách thức khác nhau, dẫn đến những kết quả khác nhau.      

            Thoát Á luận viết năm 1885 là một tác phẩm chính luận khó hiểu nhất trong sự nghiệp trước tác đồ sộ của Fukuzawa Yukichi vì lẽ hầu hết các tác phẩm có nội dung duy tân của ông đều có những giá trị khách quan nhất định khi ngoài mục tiêu viết cho người Nhật, ta có thể tìm thấy những bài học chung cho những cộng đồng cùng cảnh ngộ. Sự khó hiểu của Thoát Á luận là ở chỗ nó giống như một “khúc gãy” của tư tưởng duy tân, một bước ngoặt đột ngột khẳng định “thực hiện sách lược của chúng ta thì chúng ta không còn thời gian chờ đợi sự khai sáng (enlightenment) của các nước láng giềng Châu Á để cùng nhau phát triển được mà tốt hơn hết chúng ta hãy tách ra khỏi hàng ngũ các nước Châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương tây. Chúng ta không có tình cảm đối xử đặc biệt gì với hai nước láng giềng Trung Quốc và Triều Tiên cả, chúng ta hãy đối xử với hai nước như thái độ của người phương tây đối xử” .

            Theo Fukuzawa Yukichi, lý do của sự “thoát Á” là Nhật Bản nay đã tiên tiến, không thể tiếp tục gắn bó với các quốc gia “Suốt hàng nghìn năm họ không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ bảo thủ” để tránh những dây dưa nguy hiểm vì “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, nghĩa là nếu chúng ta chơi với những người bạn xấu, thì chúng ta cũng trở thành người xấu”. Fukuzawa Yukichi còn khẳng định một cách xác quyết rằng “Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta không những có thể thoát ra khỏi sự trì trệ lạc hậu cũ kĩ của nước Nhật Bản mà còn có thể đặt lại được một trật tự mới trên toàn Châu Á. Chủ trương của tôi chỉ gói gọn trong hai chữ “Thoát Á”. Đơn giản là chúng ta đoạn tuyệt kết giao với những người bạn xấu ở Châu Á”.  Và tư tưởng này cũng đã được Thoát Á luận khẳng định là “sách lược của chúng ta” .

Theo cách lập luận của Thoát Á luận, ta thấy nước Nhật đã không còn xem mình là Đông Á bệnh phu nữa. Và sau đó, nước Nhật đã dành từ này để chỉ các nước Trung Hoa, Triều Tiên, và kể cả Việt Nam, là những cộng đồng Đông Á “bệnh tật” trong mắt nước Nhật văn minh tiên tiến. Có thể hình dung Thoát Á luận là một dấu chấm hết của tư tưởng duy tân Nhật Bản khi nó đã là một dự báo cho cuộc hành trình sắp tới của một nước Nhật văn minh hiện đại nhưng “cứ tìm những nẻo đoạn trường mà đi” .

Mặt khác, có một chi tiết trong “cuộc bút đàm đẫm lệ” giữa Phan Bội Châu và Lương Khải Siêu là lời cảnh báo không nên “cầu viện” Nhật vì  theo Lương Khải Siêu, “Mưu ấy sợ không tốt. Quân Nhật đã một lần vào nước, quyết không lý gì đuổi nó ra được”. Và đến năm 1909, do thỏa thuận giữa Nhật và Pháp, các du học sinh Việt Nam đồng loạt bị trục xuất khỏi nước Nhật. Điều này giải thích tại sao trong các  tự thuật, hồi ức viết về sau như Ngục trung thư, Phan Bội Châu niên biểu, nhà yêu nước Phan Bội Châu không có chỗ nào nhắc đến tác phẩm Á tế Á ca, bài thơ ca ngợi từng hết lời ca ngợi  “Nhật Bản kia vốn nước đồng văn, Phương Đông nổi hiệu duy tân”.

               Những sự kiện trên đã nói lên sự phân hóa giữa các nước Đông Á. Đây là điểm kết thúc của các phong trào duy tân và là điểm mở đầu của các “bi kịch Đông Á” với những hố sâu ngăn cách giữa yếu và mạnh, văn minh và lạc hậu, lòng tin và tham vọng, ảo tưởng và sụp đổ đã lần lượt xảy ra cho các cộng đồng Đông Á. Chiến tranh Thanh Nhật, Trung Nhật, mấy thập kỷ nô lệ của Triều Tiên, trận đói làm chết hơn hai triệu người năm 45 ở Việt Nam, hai quả bom nguyên tử ở Nhật Bản chính là những bài học cho con đường “tìm phương thuốc” cho cộng đồng Đông Á.    

            Đông Á bệnh phu, một kinh nghiệm lịch sử

            Qua nhiều thế kỷ đồng văn, văn học của cộng đồng Đông Á đã có nhiều tiếp điểm đẹp mà tiêu biểu là nền văn học chịu ảnh hưởng Phật giáo Thiền Tông. Đến thế kỷ XIX, lần nữa lại xuất hiện một “điểm hẹn” nữa. Đó chính là văn học duy tân. Lẽ ra nó cũng sẽ là một tiếp điểm hoàn hảo như các dòng văn học đã kể trên nếu nó giữ mãi được tính chất là một tiếng nói chung của cộng đồng Đông Á trong một thời kỳ lịch sử mà khả năng xích lại gần nhau là thuận lợi hơn bao giờ hết, ít ra là ở hiện tượng bên ngoài.

            Mặc dù đã qua nhiều thời kỳ lịch sử nhưng cho tới nay, hình tượng Đông Á bệnh phu trong văn học duy tân vẫn còn nhiều vấn đề mang tính gợi mở cao. Trước hết, đó là giá trị phản tỉnh, tự vấn của hình tượng ‘‘Đông Á bệnh phu’’ vẫn còn là những kinh nghiệm sống động không chỉ đối với các dân tộc từng sáng tạo, tiếp nhận và sử dụng hình tượng này trong quá khứ, mà nó còn có tính gợi mở cao đối với những vấn đề của các quốc gia và của con người hiện đại.    

            Mặt khác, cũng không thể bỏ qua điểm hạn chế của hình tượng Đông Á bệnh phu và khái niệm do chính người Đông Á xác định về hình tượng này. Hạn chế này bắt đầu từ cái nhìn sùng bái một chiều về nền văn minh vật chất phương tây cũng như cái nhìn phủ nhận một chiều về những giá trị thực sự của mình, đi tới nguy cơ đánh mất chính mình trong những công cuộc “văn minh Âu hóa” đầy dẫy bi kịch cho mình và cho người. Ánh hào quang của các tiêu chí phương tây tuy có nhiều giá trị gợi mở nhưng cũng không ít hiểm họa mà đáng sợ nhất là tinh thần sùng bái vật chất, là kiểu sống nhân danh “đấu tranh sinh tồn”, “chủ nghĩa tinh hoa”, chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn có quan hệ khá nhiều với các chính sách xâm lược thực dân, chế độ phát xít.   

Văn học duy tân có nhiều thành tựu, tư tưởng duy tân có nhiều điểm tích cực nhưng quá trình duy tân lại rất ít thành công. Ngay ở trường hợp Nhật Bản, sự thành công chỉ nằm ở những đổi mới vật chất chứ không đạt tới sự phát huy tích cực những giá trị tinh thần trong mối quan hệ tốt đẹp giữa các cộng đồng Đông Á mà tư tưởng duy tân hằng mong đợi. Điều này cho thấy những vấn nạn về ‘‘bệnh tật’’ Đông Á sẽ không bao giờ thực sự có lối thoát cho đến tận ngày nay nếu các cộng đồng Đông Á không biết hài hòa giữa việc phát huy những giá trị của chính mình với những gì tiếp nhận của người để “trị bệnh” như tư tưởng duy tân đã từng đề ra, mà chỉ máy móc dựa vào những mô hình “tưởng như là lý tưởng”.

 

Tài liệu tham khảo:

Khuyến học, Fukuzawa Yukichi, Nhóm nghiên cứu Nhật Bản, Phạm Hữu Lợi dịch, NXB Trẻ tp HCM 2004

Thoát Á luận, Fukuzawa Yukichi, , Dịch và giới thiệu: Hải Âu và S. Kuriki
http://www.tathy.com/thanglong/archive/index.php/t-3217.html

Phê phán sử cũ, Lương Khải Siêu, Quách Hiền dịch,

 http://quachhien.blogspot.com/2010/09/luong-khai-sieu-phe-phan-su-cu-cua 18.html.

Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Yoshiharu Tsuboi, bản dịch của Nguyễn Đình Đầu và nhóm tác giả, NXB Trẻ tp Hồ Chí Minh, 1999.

Tờ cớ mất quyền tự do, Trần Hữu Độ, Tự Do tòng thơ, Sài Gòn 1926.  

Đông kinh nghĩa thục, Nguyễn Hiến Lê,  Sài Gòn 1973.

Độc lập và Duy Tân (Kinh nghiệm Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam) Trần Thanh Đạm. 2010. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/

Sử Trung Quốc , Nguyễn Hiến Lê, (Tập 3, tr. 21). Sài Gòn 1983.

Lương Khải Siêu, Đỗ Đức Hiểu, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá (chủ biên), Từ điển văn học – bộ mới, Mục từ Lương Khải Siêu, Nxb Thế giới, HN, 2004, tr. 896-897.)

 

 

Thông tin truy cập

71988652
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
6117
18704
71988652

Đang có 450 khách và không thành viên đang online

Danh mục website