Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay

20170805. nguyen ba tac1

1. Lời mào đầu

Lịch sử di tản của người Việt Nam đến các nước khác mà từ đó đã hình thành cộng đồng của người Việt Nam ở nước ngoài, tính được gần một thế kỷ. Tuy nhiên, sự xuất ngoại ồ ạt từ Việt Nam là một hiện tượng tương đối mới. Cho đến nay chưa có sự thống kê chính xác về số lượng người Việt Nam hiện đang sống ở nước ngoài. Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam, có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống trong gần 90 nước trên thế giới, hơn nữa, khoảng 80%  tại các nước phát triển về mặt công nghiệp[1]. Phần lớn Việt kiều chọn Hợp chủng quốc Hoa kỳ và Canada làm nơi sinh sống, tiếp theo là các quốc gia Âu Châu - Pháp, Đức, Ý, Hà Lan và Áo.

Số còn lại tìm nơi định cư tại châu Á - ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, hay một số nước Châu Phi và Nam Mỹ.

Việc người Việt Nam lưu vong trên thế giới đã diễn ra qua một số đợt và gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trước năm 1975, người Việt Nam chỉ mới lẻ tẻ di trú ở một vài nước. Những di dân đầu tiên dời khỏi nước Việt Nam hồi đó còn là thuộc địa, họ chủ yếu sinh cơ lập nghiệp ở Pháp với số lượng không lớn. Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ yếu vào những năm 1960-1970, các nhóm sinh viên từ miền Nam Việt Nam đến học ở Mỹ, Canada, Nhật, Ý và các nước tư bản khác theo kế hoạch trao đổi hoặc theo học bổng cũng như bằng tiền riêng của cá nhân. Một số sinh viên đã vĩnh viễn ở lại tại các nước đó.

Hiện nay một số lượng người Việt Nam đông nhất - gần 1 triệu người - đang sinh sống ở Mỹ. Xứ sở này được coi là một ví dụ về sự phát triển xã hội đa chủng tộc theo kiểu di trú. Trong số các nhóm tộc người vốn là bộ phận cấu thành  của Hợp chủng quốc Hoa kỳ hiện nay, người Việt Nam là một trong số những nhóm tộc người trẻ nhất. Sự hình thành của nhóm này bắt đầu từ nửa sau những năm 70 của thế kỷ XX, và gắn liền với một số đợt lưu vong chủ yếu từ các vùng ở miền Nam Việt Nam[2] .

Những người tị nạn ngay trước và trong thời gian Sài Gòn thất thủ (30-4-1975) đã tạo nên sự ra đi đông đảo nhất của dân chúng trong lịch sử nước Việt Nam. Đó là những quân nhân, công chức trong các cơ quan nhà nước của chế độ Sài Gòn và các thành viên trong gia đình của họ. Hầu như tất cả những người này đều di tản đến các nước tư bản phát triển, chủ yếu là đến Hợp chủng quốc Hoa kỳ.

Đợt di tản tiếp theo - đó là những người tị nạn trong thời kỳ cải tạo kinh tế ở miền Nam Việt Nam và xung đột Việt-Trung (1977-1978): cái được gọi là “những thuyền nhân” “những người vượt biên”.  Họ không thể thích nghi với những điều kiện mới của cuộc sống, khi chế độ cộng sản được thiết lập trên toàn lãnh thổ Việt Nam, bởi vậy họ dời khỏi Việt Nam bằng cách vượt qua biên giới Lào và Campuchia rồi sang Thái Lan. Nhưng phổ biến nhất là đường biển - họ ra khơi trên những chiếc thuyền mỏng manh để đến các nước láng giềng - Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Singapor, Philippin, Đài Loan, Hồng Công. Như một số nhà nghiên cứu đã viết, gần nửa triệu người tị nạn có thể đã bỏ xác giữa đại dương. Còn những ai sống sót thì phải kinh qua những thử thách cực kỳ khắc nghiệt: họ bị bọn hải tặc cướp bóc, đàn bà bị cưỡng hiếp rồi được chở đến Thái Lan để đưa vào nhà chứa, đàn ông bị giết chết rồi quẳng xuống biển. Do thiếu thức ăn và nước uống,  đã diễn ra những cuộc hỗn chiến thực sự. Và thậm chí khi những người tị nạn đã vào được tới bờ, họ lại gặp những tai hoạ mới: cảnh sát bản địa đánh đập họ, thường lại tống họ lên thuyền của chính họ để kéo ra ngoài khơi rồi đánh đắm ở đó. Đối với những ai sống sót thì những thử thách bi thảm ấy sẽ mãi mãi lưu lại trong ký ức.

“Các thuyền nhân” được phân vào các trại tị nạn ở các nước Đông Nam Á cũng như ở Nhật, Hồng Công, Đài Loan, tại đó, họ phải chờ đợi sự đồng ý của nước thứ ba cho phép họ nhập cư.

Phần lớn người tị nạn muốn đến Hoa Kỳ. Họ cần có sự bảo lãnh của những thân nhân đang sống ở nước này. Cả những cựu quân nhân của quân đội Sài Gòn cũng thuộc loại được hưởng sự chiếu cố ấy của Mỹ. Họ cũng có khả năng có tên trong danh sách của nhiều chương trình nhân đạo do Hoa Kỳ chủ trương.

Những người tị nạn còn lại được đưa đến những nước thứ ba theo tuyến đoàn tụ gia đình cũng như theo các lý do nhân đạo khác. Họ được phân bố khắp thế giới căn cứ theo một hiệp định riêng về những người tị nạn Đông Dương được ký kết ở Genève năm 1979.

Những đợt lưu vong tiếp theo xuất hiện vào những năm 80 và chủ yếu được thực hiện trong khuôn khổ của Chương trình xuất cảnh theo thứ tự (Orderly Departure Program) và Chương trình hoạt động nhân đạo  (Humanitarian Operation). Về số lượng người di tản thì chương trình đầu vượt trội hơn nhiều so với chương trình thứ hai.

Đợt lưu vong mới của người Việt Nam diễn ra vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90, khi phe xã hội chủ nghĩa tan rã tiếp theo sau việc phá dỡ bức tường Berlin (1989) và sự sụp đổ của Liên bang Xô-viết (1991). Trong số hàng vạn cư dân của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây chạy sang phương Tây, có cả những người Việt Nam từng lao động ở Tiệp Khắc, CHDC Đức, Hungari, Bungari và trong khuôn khổ của các hiệp định đặc biệt giữa các nước. Hồi đó, theo sự đồng ý của các nước tiếp nhận, họ có thể định cư tại CHLB Đức, Ý, Hà Lan, Anh và một số nước tư bản khác. Còn những ai không thể sang phương Tây thì buộc phải quay trở lại nơi ở cũ hoặc tìm cơ may tại các nước Đông Âu khác.

Hiện nay người ta quan sát thấy một hiện tượng mới trong thực tiễn di trú - đó là việc xuất khẩu có tổ chức lực lượng lao động từ Việt Nam, công việc này dưới hình thức có phần đổi mới tiếp tục thực tiễn của những năm trước. Điều đó trước hết gắn liền với tình hình “căng thẳng về mặt nhân khẩu” và  mức tăng khá cao của nạn thất nghiệp trong nước. Hiện nay, địa bàn của những chuyến xuất ngoại được mở rộng đáng kể, đó là Malaixia, Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc, các nước Trung, Cận đông. Người ta đang bàn luận về những kế hoạch đưa công nhân Việt Nam đến những nước công nghiệp phát triển ở phương Tây. Trước đây cũng như hiện nay, đa số những người xuất khẩu lao động là công nhân bình thường, là nhân viên phục vụ (người giúp việc, nhũ mẫu v.v.) tức là những người làm công việc lao động đơn giản. Họ chỉ đi trong một thời hạn nhất định, và sau khi kết thúc hợp đồng lao động lại trở về Tổ quốc. Tất cả những loại người đang sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời ở bên ngoài đất nước mình đều được giới thiệu trong văn học hải ngoại của Việt Nam. Đúng như một nhà văn Nga  hiện đang sống ở Đức là Boris Khazanov đã viết: “Từ khi có nền văn minh, từ khi có sự di cư, từ khi tồn tại biên giới thì từ đó có văn học hải ngoại”[3].

2. Những khó khăn trong việc tìm hiểu văn học Việt Nam ở hải ngoại

Hiện nay văn học Việt Nam ở hải ngoại được giới thiệu trong ba khu vực: ở Bắc Mỹ - Hợp chủng quốc Hoa kỳ và Canada, ở Châu Âu và Châu Úc. Đặc điểm đầu tiên này của nó vốn gắn liền với địa bàn rộng lớn của việc sinh sống và hoạt động của các nhà văn Việt Nam, tạo ra những khó khăn nhất định trong việc nghiên cứu. Ngoài ra, sự khiếm khuyết cơ sở khoa học mang tính chất hệ thống trong việc nghiên cứu văn học hải ngoại của Việt Nam cũng gây nên sự phức tạp không phải là nhỏ. Trên thực tế hiện chưa có một công trình riêng biệt nào nghiên cứu vấn đề này một cách đầy đủ và khoa học; chỉ có những bài viết lẻ tẻ được công bố trên các ấn phẩm định kỳ, chủ yếu là báo chí hải ngoại. Ở Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn chương của các tác giả hải ngoại chưa trở thành đối tượng của các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có lẽ trước hết là do nguyên nhân ý thức hệ[4].

Ngoài ra còn có những khó khăn mang tính chất tư liệu học thuần tuý: những tác phẩm của các tác giả Việt Nam sống ở hải ngoại không được hệ thống hoá, chúng rất tản mạn theo các địa điểm khác nhau, chủ yếu là trong các thư viện của trường đại học, của thành phố và của tư nhân. Có không ít tác phẩm được in ra không đề rõ năm và nơi xuất bản, một số tác phẩm nói chung không được bày bán trong các hiệu sách mà chỉ có trong các thư viện, không hiếm trường hợp chỉ có trong các thư viện tư nhân. Lại có những trường hợp các nhà xuất bản hải ngoại in ở Mỹ những tác phẩm đã được công bố ở Việt Nam trước năm 1975, nhưng ở địa phương mới chúng mang tên khác, điều này đánh lạc hướng độc giả cũng như các nhà nghiên cứu.

Và sau hết, vấn đề thứ ba là việc phân kỳ của văn học Việt Nam ở hải ngoại. Thông thường, những giai đoạn chủ yếu của sự hình thành và phát triển văn học hải ngoại về mặt thời gian trùng khớp với những sự kiện chính trị - xã hội quan trọng nhất trong đời sống ở nơi lưu vong cũng như ở Việt Nam và trên thế giới nói chung. Dưới đây, vấn đề này sẽ được trình bày một cách cụ thể.

Chỉ xin phép nói thêm là do một số nguyên nhân khách quan nên nước Mỹ  là địa bàn lưu hành chính, mà văn học Việt Nam ở Mỹ cũng mang những đặc điểm tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam ở hải ngoại[5]. Bởi vậy sự phân kỳ văn học hải ngoại nói chung sẽ dự chủ yếu vào văn học Việt Nam ở Mỹ.

3. Những giai đoạn hình thành của văn học Việt Nam ở hải ngoại

Thời kỳ những năm 1975-1980 gắn liền với sự khởi đầu của việc gây dựng văn học của những người di tản Việt Nam ở nơi đất khách quê người.

Sau năm 1975, đa số các nhà văn miền Nam Việt Nam đã dần dần định cư ở Mỹ, Pháp, Châu Úc, Canada và các nước khác. Ở đây cần lưu ý rằng đợt di tản đầu tiên gồm có những  người đại diện tiêu biểu nhất của văn học  nghệ thuật  miền Nam Việt Nam trước 1975. Đó là Mặc Đỗ, Nhật Tiến, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Duyên Anh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Thanh Nam, Túy Hồng, Nguyễn Tường Bách, Thế Uyên, Linh Bảo Nguyễn Thị Vinh,  Phan Lạc Phúc, Du Tử Lê, Viên Linh, Kiệt Tấn, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Duy( nhạc sĩ), Võ Đình( nhà văn và họa sĩ), Tạ Tỵ( họa sĩ và nhà phê bình), Đinh Cường(họa sĩ),  Khánh Ly( ca sĩ), v.v.

Nữ văn sĩ Mai Kim Ngọc từng kể lại rằng  những bước đi chập chững của mình  trong văn học được thực hiện ở trại tị nạn.

Hồi ấy, chúng tôi không nghĩ đến văn học… và có lẽ  đồng bào tôi cũng chưa nghĩ đến văn học. Tất cả những viết lách tôi thấy là những chuyện rất thiết thực, những bản tin chỉ dẫn nội quy của trại, những cẩm nang cho những người sắp rời trại về cách sinh hoạt trong một thành phố Mỹ, những chuyện đi xe buýt, chuyện gọi điện thoại, chuyện mua bán tại siêu thị vân vân và vân vân. Tóm lại những chuyện thuần túy thực dụng và cấp thời, chính xác và ngắn gọn như ngôn ngữ của những hoàn cảnh cấp cứu... Tuy tất cả những gì viết ra không phải là văn học, nhưng rất nhiều tác phẩm chúng ta đã viết với mục đích thực dụng, vẫn có giá trị văn học, không trực tiếp thì gián tiếp. Khi rời khỏi đất nước, ít ai trong số người đó nghĩ tới chuyện rồi đây sẽ sống ra sao. Lẽ cố nhiên, lúc đó chả còn đầu óc đâu mà nghĩ tới văn chương nữa. Nhiệm vụ chủ yếu đối với chúng tôi là sống được cái đã, bởi lẽ phải bắt đầu tất cả từ con số không?”[6].

Những người Việt Nam đến Mỹ, ngoài gánh nặng tình cảm vốn gắn liền với việc chạy trốn khỏi quê hương xứ sở, còn phải trải nghiệm một cú sốc mạnh mẽ về văn hoá khi họ tiếp xúc với một hiện thực mới mẻ, xa lạ và khó hiểu. Xin dẫn ra đây một trích đoạn nữa cho thấy rõ tâm trạng của những người di tản:

Sự việc là thuở mới đặt chân đến Mỹ, chúng ta sống như trong một khoảng chân không văn hóa và tình cảm. Xung quanh chúng ta là một khung cảnh khác, luật pháp khác, phong tục khác, ngôn ngữ khác. Những ngày đầu ra khỏi trại, tiếng mẹ đẻ của chúng ta chỉ  còn dùng được giữa vợ chồng con cái. Ra khỏi cái vòng phấn nhỏ ấy[7], tiếng Việt phải bỏ lại.

   Và tất cả cảnh sống ấy xa lạ không hẳn chỉ vì ngôn ngữ…Những người trong chúng ta thông thạo Anh ngữ ngay từ ở Việt Nam lại còn bàng hoàng hơn khi thấy các chương trình ăn khách trên các kênh TV, người Mỹ sinh hoạt với những quá trình hoàn tòan khác lạ, ta không hề dự phần… Họ xử án, họ vinh danh hay lăng mạ lãnh tụ của họ, họ giải trí họ vui họ buồn hoàn toàn khác chúng ta…

   Và ta nghĩ đến tâm sự riêng tư của mình. Cái vui cái buồn, cái làng xưa với bờ tre xanh với con sông nhỏ, với rừng dừa ven biển, với câu hát giọng hò…”[8].

Mặc dầu có sự hoang mang và bối rối trong tâm trạng của những người Việt Nam di tản sang Mỹ ngay từ hồi đó hoạt động văn học đã có những bước thể nghiệm đầu tiên. Một số nhà văn thuộc đợt tị nạn đầu tiên đã cố thử viết một cái gì đó để mong tiếp tục hành nghề như trước đây ở Sài Gòn, nhưng đã bị thất bại. Theo lời thú nhận của nhà văn và nhà nghiên cứu văn học Võ Phiến:

“Sự cố gắng ấy cũng chẳng lớn lao mấy. Sau cuộc đổi đời, một lớp người não nề thấy rõ. Các tác giả trong nhóm Quan điểm( mà nhà văn Mặc Đỗ  hiện đang ở Houston là một thành viên nòng cốt) từ chối tiếp tục, có viết chăng là thỉnh thoảng một bài thơ gửi cho báo bạn, hay một cuốn sách luận về kinh, vè đạo, thế thôi. Lớp trẻ hơn cũng không hẳn viết lách  suôn sẻ. Lê Tất Điều, Viên Linh, Túy Hồng Trùng Dương… có lúc hoạt động hăng hái có lúc tự dưng im bặt. Nhiều vị khác đứng ra chủ trương những tờ báo để phát huy sinh hoạt văn học, phát huy các tài năng mới, còn tự mình thì cũng chỉ lai rai một vài bài thơ, lâu lâu một thiên hồi ký. Văn nghiệp sau 1975 của họ không có gì đáng kể, phần chính thuộc về thời kỳ trước”[9].

Phần lớn tác phẩm văn học (truyện ngắn, tuỳ bút, thơ) vào những năm đó được công bố trên ấn phẩm định kỳ của người Việt ở hải ngoại, loại ấn phẩm này cũng kinh qua thời kỳ hình thành trên đất Mỹ. Thoạt tiên xuất hiện những tờ báo, điều này là lẽ tự nhiên trong những điều kiện ban đầu của cuộc sống định cư của những người di tản thuộc đợt thứ nhất, những chẳng bao lâu sau đó, những tờ tạp chí cũng được xuất bản. Cần phải nêu lên vai trò quan trọng của những ấn phẩm định kỳ vào thời gian đó như báo “Trắng đen” và “Người Việt”, tạp chí “Hồn Việt” và “Việt Nam hải ngoại” ở Mỹ, báo “Dân quyền” và “Lửa Việt” ở  Canada, báo “Độc lập” ở CHLB Đức lúc đó, báo “Người Việt tự do” ở Nhật.

Có lẽ tác phẩm đầu tiên của văn học Việt Nam ở hải ngoại tại Mỹ là tập truyện ngắn "Ly hương" của hai tác giả Võ Phiến và Lê Tất Đắc do báo "Người Việt" xuất bản. Tập sách gồm 85 trang này có 5 truyện ngắn, bốn truyện trong số đó được viết năm 1976, còn truyện thứ năm "Kéo cày trên đất Mỹ" của Lê Tất Đắc được viết sớm hơn một chút, vào năm 1975. Hai tác giả này cũng đã viết những truyện vừa đầu tiên trong văn xuôi hải ngoại: "Ngừng bắn giờ thứ 498" (Lê Tất Điều) và "Trọn vẹn" (Võ Phiến) do báo "Người Việt" xuất bản năm 1978[10].

Việc xuất bản những công trình chính luận được khởi đầu bằng cuốn "Làm gì?" của Trần Lê do nhóm "Việt Nam hải ngoại" ấn hành vào năm 1979. Năm 1981, tập thơ của Hoàng Phú Cương " Ngẩng đầu lên ta gọi mặt trời" được nhóm "Tổ hợp" cho phổ biến rộng rãi.

Văn học Việt Nam ở Mỹ đã có những bước đi đầu tiên trên các ấn phẩm định kỳ vừa được nhắc tới - trên các trang báo "Người Việt", tạp chí "Hồn Việt” (chủ nhiệm Nguyễn Hoàng Đoan, tổng biên tập - Phạm Kim Bình) báo "Độc Lập" tuần báo "Trắng đen".

Tuy vậy, mặc dầu có sự khởi động của đời sống văn học, không mấy ai trong số các Việt kiều tin tưởng vào sự thành công của sự nghiệp mà họ đã gây dựng. Những lời sau đây của nhà văn Võ Phiến trong phần mở đầu cuốn "Thư gửi bạn " (1976) là sự xác nhận cho những tâm trạng ấy:

Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa” Ông giải thích “ Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc.” Viết với Võ Phiến lúc này chỉ là  để thỏa mãn một “ nhu cầu lẩm cẩm” [11].

Bước ngoặt trong tâm trạng của giới văn chương đã diễn ra muộn hơn.

Thời kỳ thứ hai của văn học Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu vào năm 1980 và trùng hợp với sự xuất hiện của các "thuyền nhân" vốn mang theo gánh nặng của những thử thách và bi kịch khủng khiếp mà họ phải chịu đựng. Chính họ đã làm thay đổi nhận thức của những người đồng hương đến Mỹ từ đợt lưu vong thứ nhất, chính họ đã tạo ra tiền đề cho những thay đổi về chất và mang tính chất tiến triển trong đời sống văn học của cộng đồng người di tản. Trên các trang của tờ tạp chí "Văn", nhà văn Vũ Khắc Khoan đã so sánh những trang viết ấy với "luồng sinh khí ập đến từ Thái Bình Dương" và nhấn mạnh: "những người này - những "thuyền nhân tị nạn" - bằng sự xuất hiện của mình đã khuấy động văn học và nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại, đã thúc đẩy sự vận động của nó tới một giai đoạn mới trong sự hình thành và phát triển"[12].

Đối với các nhà văn thuộc diện thuyền nhân, tình hình ở nơi định cư mới có phần thuận lợi hơn so với những người tị nạn thuộc đợt thứ nhất. Họ rời bỏ Tổ quốc khi cộng đồng người Việt ở Mỹ về cơ bản đã hình thành, đã xuất hiện giới báo chí của nó, các nhà xuất bản của nó đã bắt đầu hoạt động. Đã có những độc giả muốn tìm hiểu về tấn bi kịch của "thuyền nhân", và về tình hình ở Tổ quốc họ sau năm 1975 – trong điều kiện của chế độ xã hội - chính trị mới. Do chú ý tới hoàn cảnh đã thay đổi nên sự tài trợ mà các tổ chức xã hội ở các nước sở tại chi cho những người tị nạn Việt Nam, đã gia tăng. Tất cả những điều đó bằng cách này hay cách khác đã góp phần tạo nên "bước nhảy vọt" về chất của văn học hải ngoại Việt Nam ở Mỹ.

Nếu như đợt di tản thứ nhất lo ngại về vấn đề bảo vệ tiếng mẹ đẻ và văn hoá Việt Nam ở nơi đất khách quê người thì đợt di tản thứ hai ("các thuyền nhân") lại bị ám ảnh bởi chính trị. Đợt thứ nhất có thái độ bị quan đối với việc hội nhập của mình vào cuộc sống ở Mỹ, đợt thứ hai đã phát triển hoạt động xã hội mạnh mẽ và muốn hướng tới cuộc đấu tranh chính trị. Nguyên nhân của sự khác biệt này, ngoài kinh nghiệm cuộc sống khác nhau ra, chính là những điều kiện di tản của hai nhóm người Việt Nam ấy ở Mỹ.

Phần lớn dân tị nạn thuộc đợt thứ nhất gồm những người có mối quan hệ nhất định với Mỹ. Họ được chuyên chở bằng tầu chiến và máy bay ra khỏi Việt Nam và được tạo điều kiện định cư ở bất cứ một nước nào, song họ chủ yếu đến sinh sống ở Hợp chủng quốc Hoa kỳ.

Đợt di tản thứ hai phải tự đi tìm cách dời khỏi Việt Nam. Sau khi đến một quốc gia này hay một quốc gia khác ở Đông Nam Á, họ phải chờ đợi khá lâu để nước thứ ba cho phép họ chuyển đến với tư cách là những người tị nạn chính trị. Và cái quy chế ấy của người tị nạn cũng như việc có được nó đã gây ra ở họ một cú sốc tinh thần sâu sắc, điều này, lẽ tất nhiên, đã được phản ánh trong sáng tác văn học sau này của họ.

Thời kỳ thứ ba (1982-1990) vốn được đánh dấu bằng sự cơ cấu hoá thể loại của văn học và tính năng nổ cao trong sáng tác của các tác giả đến từ đợt tị nạn tự do thứ hai, đã đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển tương đối ổn định của văn học Việt Nam ở hải ngoại. Hồi đó cũng đã hình thành vai trò của các tạp chí văn học như những người tham gia chủ yếu vào tiến trình văn học, đó chính là "Đất mới" do Thanh Nam phụ trách, "Văn học nghệ thuật" do Võ Phiến và Lê Tất Điều phụ trách, "Việt chiến" do Giang Hữu Tuyền, Hoàng Xuân Sơn và Ngô Vương Toại phụ trách, "Nhân chứng" do Du Tử Lê phụ trách, "Thời tập" do Viên Linh phụ trách. Trong số tất cả những ấn phẩm kể trên duy chỉ có tờ tạp chí "Đất mới" là có được số phận sáng tác và xuất bản tương đối thuận lợi, còn những tờ khác do không khắc phục được những khó khăn ( trước hết về mặt tài chính) nên đã dần dần đóng cửa. Sau một thời gian, đã xuất hiện những tờ tạp chí mới thay thế cho chúng: "Văn", "Văn học", "Làng văn", "Tân văn", "Thế kỷ 21" v.v.

Số tác giả mới và số lượng sách được xuất bản đã gia tăng, những nhà xuất bản chuyên nghiệp đã ra đời, và (điều này đặc biệt quan trọng!) đã xuất hiện một đời sống văn học thực thụ - phong phú và đa dạng. Có thể nói rằng thời kỳ này là thời kỳ thuận lợi nhất và có kết quả nhất trong lịch sử văn học Việt Nam ở hải ngoại.

Vào những năm đó số lượng tiểu thuyết được công bố còn ít. Tác phẩm đáng kể nhất trong thể loại này là bộ tiểu thuyết sử thi 5 tập "Mùa biển động" của Nguyễn Mộng Giác. Truyền thống của tiểu thuyết (theo cách hiểu của Châu Âu về thể loại này) trong văn học Việt Nam còn khá non trẻ. Để viết được những tác phẩm có quy mô như vậy cần phải có kinh nghiệm sống phong phú và tài năng, do đó, nhiều nhà văn lưu vong có thể bộc lộ mình rõ nét nhất trong các tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ. Với sự lưu ý tới tất cả những nhân tố đó, thể loại truyện ngắn về mặt lô gích đã trở thành thể loại dẫn đầu trong văn học Việt Nam ở hải ngoại. Hầu như tất cả các nhà văn mới đều là những cây bút truyện ngắn, trong số đó trước hết cần phải nêu lên những tên tuổi: Thế Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hương v.v.

Vào thời kỳ phát triển tiếp theo, thời kỳ thứ tư (1990-1995) nhịp độ phát triển văn học Việt Nam ở Mỹ đã chậm lại và hàng năm ngày càng ít những tác giả mới xuất hiện, ngày càng ít những tác phẩm hay và có giá trị về mặt nghệ thuật được công bố.

Trong giới báo chí hải ngoại, vấn đề về tình trạng đình đốn trong đời sống văn học nghệ thuật của cộng đồng người Việt ở hải ngoại được bàn luận sôi nổi. Và rất nhiều người đã đi đến nhận định cho rằng căn nguyên của nó là những biến đổi chính trị đã diễn ra ở Việt Nam và trên thế giới nói chung. Sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa kỳ vào năm 1995, nước Việt Nam cộng sản dần dần hoà nhập với thế giới đã buộc văn học Việt Nam ở hải ngoại phải thay đổi.

Được bắt đầu từ năm 1995 và được tiếp tục cho tới ngày nay, thời kỳ thứ năm trong sự phát triển văn học của cộng đồng người Việt định cư ở Mỹ và ở một số nước khác nhìn chung gắn bó chủ yếu với những vấn đề sau đây:

- Tiếp tục duy trì văn học Việt Nam bằng tiếng mẹ đẻ và bảo tồn những cơ sở văn hoá- văn học Việt Nam đã hình thành tại các nước cư trú hiện nay.

- Sự hoà nhập của các tác giả Việt Nam vào đời sống văn học của nước mà họ đang sinh sống (đối với những người viết bằng tiếng Anh ở Mỹ, Canada và Uc, bằng tiếng Pháp ở Pháp v.v.)

- Sự hồi hương (trở về Việt Nam) của các tác giả viết bằng tiếng Việt.

4. Những khuynh hướng chủ yếu của sự phát triển văn học Việt Nam ở hải ngoại

Nếu thử nêu lên vắn tắt tình hình văn học Việt Nam ở hải ngoại thì đó là sự phân chia rạch ròi của các nhà văn ra làm hai khuynh hướng mà quan điểm tư tưởng- nghệ thuật và sáng tác được định hướng vào quá khứ hay vào hiện tại. Từ khoá đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng đầu là hoài niệm, còn đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng thứ hai là hội nhập. Văn học Việt Nam ở hải ngoại được hình thành và tiếp tục tồn tại chính là trong cái hệ toạ độ ấy.

Trong những năm đầu tiên định cư trên đất Mỹ (1975-1979), hoài niệm đã trở thành chủ đề chính trong nhiều tác phẩm của các tác giả Việt Nam mà nét nổi bật là nỗi đau ly tán với quê hương xứ sở, sự cô đơn và sự vô vọng đối với tương lai. Những tình cảm ấy được thể hiện dễ dàng hơn trong thơ so với văn xuôi. Những sáng tác đầu tiên của các tác giả thuộc khuynh hướng này - như "Thơ" của Cao Tân và "Đất khách" của Thanh Nam -- đã xác nhận điều đó.

Những tình cảm tương tự của những người tị nạn xa xứ cũng được ghi lại trong văn xuôi - trong truyện ngắn và tùy bút của Võ Phiến (" Thư gửi bạn ", "Nguyên vẹn"), của các tác giả khác như Tuý Hồng, Trùng Dương, Thanh Nam. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan của những năm đầu lưu vong, khi việc ra báo định kỳ và hơn nữa, việc xuất bản sách mới chỉ có những bước đi đầu tiên thì chính thơ ca với hình thưc thích hợp về mặt thể loại và hình tượng đã cho phép thực hiện một cách kịp thời nhất một nhiệm vụ khó khăn là thông báo cho những người đồng hương xa xứ về nỗi đau khôn nguôi của mình đối với cố hương.

Dần dần, nét lạc quan đã trở lại với thơ ca hải ngoại, phạm vi những vấn đề do các tác giả đề cập tới được mở rộng và (điều này rất tiêu biểu) trình độ tư tưởng- nghệ thuật của tác phẩm được nâng cao rõ rệt. Niềm tin vào sức mình đã trở lại với mọi người. Cuộc sống của họ ở xứ lạ bắt đầu có ý nghĩa, và điều đó thực ra đã được phản ảnh trong văn học.

Những thay đổi ấy thể hiện rõ nét nhất trong truyện ngắn của Hồ Trường An, tiêu biểu nhất trong số đó là "Hợp lưu". Trong những truyện ngắn của mình, tác giả mong muốn truyền đạt nhịp độ và tâm trạng của cuộc sống mới, ở đó nỗi buồn và tiếng cười xen kẽ bên nhau, sự chiêm nghiệm trầm tư và sự hào hứng lao động "như Tây" vì hạnh phúc và sự phồn vinh tương lai của mình ở Mỹ ngày càng có hiệu quả. Nhờ những tác phẩm ấy, như nhận xét của một số nhà phê bình văn học, thái độ đối với quá khứ được ý thức một cách hợp lý hơn, còn thái đội đối với hiện tại và tương lai thì trở nên điềm tĩnh hơn.

Ngay từ đợt di tản thứ nhất, trong văn học Việt Nam ở hải ngoại đã hình thành khá rõ ba dòng: (1) dòng văn chương phong tục (một số nhà nghiên cứu đề nghị dùng các thuật ngữ hiện thực dân tộc  (etnorealism) hoặc văn hoá dân tộc  (etnokul'turalism), (2) dòng hồi ký và (3) dòng tư liệu - lịch sử

Dòng đầu tiên gồm đại đa số tác giả là người miền Nam Việt Nam. Cốt truyện trong sáng tác của họ (chủ yếu là thể loại truyện ngắn) gắn liền vói cuộc sống hàng ngày của tầng lớp dân nghèo và trung lưu trong những năm dưới chế độ thuộc địa của Pháp (Hồ Trường An, Xuân Vũ, Ngô Nguyên Dũng, Huyền Châu, Nguyễn Văn  Ba), trong thời kỳ tồn tại của chế độ Việt Nam cộng hoà trước ngày 30-4-1975 (Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hùng) cũng như trong những điều kiện của chế độ xã hội chủ nghĩa mới sau khi nước Việt Nam thống nhất (Nguyễn Đức Lạp, Võ Kỳ Điện, Nguyễn Văn Sâm). Bên cạnh sự phong phú của  những chi tiết sinh hoạt rực rỡ, giàu hình ảnh của cuộc sống quá khứ ấy, họ đã sử dụng rộng rãi "ngôn ngữ hội thoại", điều đó rõ ràng góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của văn học Việt Nam ở hải ngoại, trước hết đối với việc giải quyết những nhiệm vụ sáng tác về mặt tư tưởng- nghệ thuật và triết học.

Dòng hồi ký trong văn học Việt Nam ở hải ngoại được hình thành cùng một lúc với việc cuộc sống của họ dần dần ổn định về mặt kinh tế ở Tân thế giới. Những cuốn sách này đã ghi lại quá khứ mới đây của nhiều nhân vật cao cấp trong chính quyền Sài Gòn cũ các tướng lĩnh (Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Chánh Thi, Huỳnh Văn Cao, Trần Ngọc Nhuận v.v.) các chính khách (Bùi Diễm, Nguyễn Tiến Hưng, Trần Huỳnh Châu) và các văn nghệ sĩ (Phạm Duy, Duyên Anh, Nhã Ca). Tất cả những cuốn sách ấy chứa đựng (chăc chắn là ở mức độ khác nhau) tư liệu phong phú về các sự kiện và những cách đánh giá cá nhân rất đáng chú ý đối với độc giả bình thường, nhất là đối với các nhà nghiên cứu các nhà nghiên cứu các nhà lịch sử, các nhà xã hội học, các nhà nghiên cứu văn học v.v.

Trong những cuốn sách của mình, các tác giả ấy thường chỉ ghi lại hoặc kể lại các sự kiện; kinh nghiệm sống và sáng tác của họ chưa vươn tới tầm khái quát cao mang tính chất triết lý nghệ thuật cũng như chưa được tạo dựng để đưa họ trở thành các nghệ sĩ ngôn từ.

Có mối liên hệ trực tiếp với dòng hồi ký là những tác phẩm viết về đề tài lịch sử. Cho đến tận ngày nay, nội dung chủ yếu của văn học Việt Nam ở hải ngoại là quá khứ vốn có thể được lý giải và được phản ảnh thông qua số phận cụ thể của từng con người riêng biệt cụ thể cũng như dưới dạng tác phẩm sử thi đồ sộ.

Một cống hiến không thể phủ nhận vào văn học Việt Nam là những cuốn tiểu thuyết "Mùa biển động" và "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác, "Người đi trên mây" của Nguyễn Xuân Hoàng, "Giấc mộng" của Nguyên Sa v.v. Cũng phải nhắc tới những tác giả như Thích Nhất Hạnh và Nghiêm Xuân Hồng là những người viết về các vấn đề tôn giáo triết học. Sách của họ, mặc dầu mang tính chuyên biệt nhất định, có giá trị nghệ thuật cao và được phổ biến rộng rãi giữa các độc giả.

5. Những véctơ của sự phát triển văn học Việt Nam ở hải ngoại

 Khác với các tác giả được định hướng về mặt quan niệm và sáng tác vào những vấn đề của quá khứ (về họ đã được nói tới ở phần trên), khuynh hướng hội nhập trong văn học Việt Nam ở hải ngoại dần dần chiếm những vị trí đáng kể trong những quá trình xã hội và sáng tác đang diễn ra trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Và hiện tượng này có tính chất lô gích. Thế hệ đầu tiên của những người di tản vốn được định hướng vào những gia trị văn hoá truyền thống của Việt Nam và trước hết vào tiếng Việt, ngày một già đi, trong khi đó các thế hệ tiếp theo (thế hệ thứ hai và nhất là thế hệ thứ ba) ngày càng được Mỹ hoá và hầu như không gắn bó tương lai của mình với Việt Nam (mặc dầu ngay cả ở đây cũng có những ngoại lệ).

Nếu chú ý tới sự thống kê thì đa số tác tác phẩm viết về kinh nghiệm hội nhập của người Việt Nam vào cuộc sống Mỹ là do phụ nữ viết. Đó là Vị Khuê, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Phan Thị Trọng Tuyền, Vi Quỳnh Hương, Nguyễn Thị Ngọc Nhung v.v. Trong số các nhà văn nam giới viết về vấn đề này có Võ Phiến ("Thư gửi bạn "), Nguyễn Bá Trạc ("Ngọn cỏ bồng", "Chuyện một người di cư nhức đầu vừa phải") Võ Đình ("Xứ sấm sét", "Sao có tiếng sóng") v.v.

Trong sáng tác của mình, các tác giả viết về những vấn đề thông thường đối với bất cứ một cộng đồng di tản nào, nhất là ở những giai đoạn hình thành đầu tiên của nó. Đó là sự tan vỡ của cuộc sống yên ổn trước đây, những khó khăn của thế hệ những người di tản đầu tiên do sự khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ nên không thể hoà nhập nhanh chóng vào hiện thực Mỹ, sự cô đơn của người già, sự suy thoái hoá về đạo đức, hiện tượng lớp trẻ rút khỏi "cộng đồng người Việt", sự tan nát của gia đình, sự phân hoá xã hội sâu sắc trong nội bộ cộng đồng di tản v.v.

Mặc dầu trong đa số tác phẩm, sự thích nghi và hội nhập của người Việt được miêu tả với sắc thái bi quan - thông qua những dằn vặt lớn lao về đạo đức và những khó khăn vật chất, tuy thế vẫn có những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn, cây bút văn xuôi Hồ Trường An từng được nhắc tới ở phần trên, trong thiên truyện ngắn "Hoà hợp" đã lạc quan tiếp nhận cuộc sống mới mà ông ta và những người đồng hương của mình đành phải bắt đầu ở Mỹ. Trong truyện ngắn "Gió đêm" Trần Thị Kim Lan viết về sự hiểu biết lẫn nhau giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau. Trong những truyện ngắn của mình, Mai Kim Ngọc nhìn chung thiên về việc đánh giá một cách tích cực đối với cuộc sống của người Việt trong những đièu kiện xã hội - văn hoá mới.

Đa số những người di tản thuộc thế hệ đầu tiên không thể hoà nhập vào văn hoá của nước bản địa. Trong khi đó thì thế hệ thứ hai hoặc thế hệ thứ ba- những người dời khỏi Việt Nam từ hồi còn nhỏ hoặc đã sinh ra trên đất Mỹ, học trường bản địa - dễ dàng hoà nhập vào xã hội, và nền văn hoá mới. Đã xuất hiện những tác giả trẻ chỉ viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Những cuốn sách của họ tái hiện lại các cốt truyện Việt Nam có lẽ với chủ ý dành cho độc giả nước ngoài.

Kinh nghiệm hội nhập vào cuộc sống trở thành đề tài chủ yếu trong các tác phẩm (phần lớn là truyện ngắn) của các nhà văn thuộc thế hệ thứ hai viết bằng tiếng Việt và bây giờ đã từ 40 tuổi đến 50 tuổi trở lên. Ở Mỹ đó là Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Nam, Ngọc Khôi, Hoàng Mai Đạt, Dương Như Nguyện, Vũ Quỳnh N.H. Đỗ Kh., Bùi Diễm Âu, Võ Đình, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Hương, Nguyễn Danh Bằng; ở Pháp đó là - Thuỵ Khê, Trần  Vũ, Mai Ninh, Thuận; ở Canada, đó là - Nam Giao; ở Úc đó là - Hoàng Ngọc Tuân và Nguyễn Hưng Quốc; ở Đức đó là - Lê Minh Hà v.v. Trong tác phẩm của họ có ít cốt truyện về cuộc sống trước đây ở Tổ quốc, bởi lẽ họ đã ra đi từ hồi còn nhỏ và đối với họ, Việt Nam không phải là cái cảm nhận được và cái mong muốn như đối với thế hệ cha anh của họ. Bởi vậy họ viết về cuộc sống hiện tại của mình, dù đó là Mỹ, Pháp hoặc Nhật, xuất phát từ tình hình thực tế của cái thế giới hiện đại bao quanh họ. Họ rất tự tin, thoải mái trong việc thể hiện tình cảm và bộc lộ những nhận định. Sáng tác văn học không phải là cái chủ yếu trong hoạt động thực tiễn của họ, họ không đóng vai trò chủ chốt trong đời sống văn học của cộng đồng người di tản, tất cả những nỗ lực của họ đều hướng tới sự thành đạt trong xã hội mới. Khác với các nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên, đối với nhiều người trong số họ, văn học chủ yếu là sự tiêu khiển, sự giải trí về mặt tinh thần mà không phải là nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Hơn nữa, họ đang ở trong một tình thế đặc biệt - họ cần phải đi tìm độc giả của mình vốn, cũng như họ, thuộc về cái thế hệ mà họ có thể chia sẻ những suy nghĩ và tình cảm của mình thông qua các tác phẩm viết bằng tiếng Việt.

Không phải tất cả các nhà văn này nhất quán đi theo con đường đó - viết bằng tiếng Việt. Một bộ phận không nhỏ đã hoặc sẽ nhanh chóng chuyển sang tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác với tư cách là công cụ sáng tác và giao tiếp, bởi lẽ sự lựa chọn này giúp họ hoà nhập vào dòng chảy chung của văn học ở nước họ định cư và vào văn học thế giới nói chung. Nói một cách hình tượng, họ đang tìm sự cân bằng giữa hai thế hệ - thế hệ thứ nhất, lớn tuổi hơn và thế hệ tiếp theo sau họ, trẻ hơn, vốn hoàn toàn hướng tới sự hội nhập vào môi trường mới và ngôn ngữ mới. Cùng với thế hệ đầu tiên, họ sẻ chia lòng yêu mến tiếng Việt, nhưng không xẻ chia gánh nặng tình cảm đối với quá khứ. Cùng với thế hệ thanh niên, họ tiếp nhận một cách thực tế và thực dụng cuộc sống mà hiện nay họ phụ thuộc, nhưng tuy thế trong văn học họ bị ngăn cách bởi rào cản ngôn ngữ - bởi tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức. Hiện ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam đã hình thành cả một đội ngũ nhà văn đồng thời thuộc về hai nền văn hoá - văn hoá Việt Nam và văn hoá của nước mà nhà văn định cư. Ở Mỹ, một tác giả tiêu biểu nhất của văn học Việt Mỹ - là Andrew Lam -  một nhà chính luận nổi tiếng và một cây bút chuyên viết truyện ngắn bằng tiếng Anh cũng như Monich Trương, Aimee Phan, Lan Cao, Kien Nguyễn, Lê Thị Diễm Thuý, Dao Strom, Nguyễn Minh Bit, Mộng Lan v.v. Kim Lefevr và Linda Le đã viết những áng văn xuôi rất hay bằng tiếng Pháp. Những tác giả thuộc khuynh hướng này đã thu hút được sự chú ý của những nhà xuất bản sách và giới phê bình, đã nhận được các giải thưởng quốc tế.

6. Tương lai thuộc về độc giả

    (thay phần kết luận)

Tác phẩm văn học còn sống khi nó được mọi người đọc. Nếu không có độc giả thì văn học ắt bị lãng quên. Bậc trưởng lão của văn học Việt Nam ở hải ngoại là Võ Phiến đã nhiều lần nói rằng ở chốn xa xứ, văn học Việt Nam viết bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) không thể tồn tại lâu dài được nếu không có mối liên hệ với cội rễ của nó, tức là với Việt Nam. Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc đã biểu thị tình trạng đó một cách bi đát hơn:

"Lưu vong thường được mở  đầu bằng một bi kịch chích trị hoặc một bi kịch kinh tế nhưng kết thúc bằng bi kịch văn hoá. Càng ngày tôi càng thấm thía một điều: sống và viết ở hải ngoại không phải chỉ là sống và viết ở hải ngoại. Khi nhà văn rời quê hương để ra định cư và sáng tác ở một chỗ ở và một bàn viết mà còn thay đổi một thế giới với  mối liên hệ chằng chịt phức tạp để  rồi  - một cách tự giác  hay không -  dần dần thay đổi cách nghĩ, cách cảm từ đó cách viết và cuối cùng, không chóng thì chầy, thay đổi cả căn cước (identity) của chính hắn với tư cách nhà văn nữa"[13].

      Để không bị lâm vào tình thế của sự lựa chọn cơ bản như vậy, nhiều nhà văn Việt Nam ở hải ngoại đem tương lai tác phẩm văn học của mình gắn liền với công chúng độc giả ở Việt Nam, song điều đó không đơn giản. Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy rằng sách báo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì có thể dễ dàng tìm thấy trong các thư viện và hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả  người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở Việt Nam, và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là nguyên nhân ý thức hệ.

Nhà thơ Ba Lan nổi tiếng Milos Forman, giải thưởng Nobel, nhiều năm sống lưu vong ở My và cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận của nhà văn lưu vong: "Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi", tức là nhà văn đó và tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được với độc giả của mình ở trong nước. Song vào những năm gần đây tình hình trên thế giới đã thay đổi: đã xuất hiện Internet vốn vượt qua những khoảng cách khổng lồ và những biên giới quốc gia. Hiện nay tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học Việt Nam ở hải ngoại đã tới được Việt Nam. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở Việt Nam còn có sự kiểm duyệt khắt khe và sự giám sát của nhà nước đối với Internet vốn có thể cung cấp thông tin và sự tiếp cận với các tác phẩm văn học. Nổi tiếng hơn cả là hai tờ tạp chí mạng - Talawas (người phụ trách là nhà văn nữ có tên tuổi Phạm Thị Hoài hiện sống ở Đức) và Tiền Vệ (người phụ trách là nhà phê bình văn học nổi tiếng Nguyễn Hưng Quốc, hiện sống ở Úc) Nhiều tờ tạp chí in ấn ("Hợp lưu", "Văn học", v.v.) cũng có mạng riêng.

Đường lối chính trị của các nhà lãnh đạo CHXHCN Việt Nam hiện nay là tiếp tục phát triển sự hội nhập của nước này với cộng đồng thế giới. Những thay đổi diễn ra trong chính sách nhà nước đối với Việt kiều vốn cần phải trở thành nhịp cầu vững chắc giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài đã chứng tỏ điều đó. Chính sách mới này mà ý nghĩa chủ yếu là coi Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, được ghi trong bản Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 26-3-2004.

Ở Việt Nam hiện nay rõ ràng có sự chú ý tới sáng tác văn học của kiều bào đang sinh sống ở hải ngoại. Điều này được thể hiện trong một số bài viết hiếm hoi trên báo chí cũng như trong việc xuất bản sách của chính các Việt kiều.

Nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc, một trong những cây bút hàng đầu của văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ, cho rằng:

"…một tác phẩm viết bằng tiếng Việt, dù của bất cứ ai, viết bất cứ ở đâu, vào bất cứ thời gian nào, miễn là nó hay, thì đều là tài sản chung của dân tộc Việt Nam.. Những người Việt Nam  ở nước ngoài trong mấy chục năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được. Đó là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, và điều này chẳng có gì phải bàn cãi. Cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại làm nên diện mạo của văn học Việt Nam ngày nay.

Sẽ cực kỳ thiếu sót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết đến văn học Việt Nam hải ngoại. Vấn đề có lẽ chủ yếu  là ở những chỗ này: Sự đóng góp đáng kể nhất của bộ phận văn học này đối với văn học Việt Nam hiện đại là ở chỗ nào và triển vọng của nó ra sao?

 Theo tôi bộ phận văn học này phản ánh số phận của một bộ phận quan trọng trong dân tộc ta mà những người viết trong nước khó có khả năng tiếp cận, hiểu và viết được. Thiếu nó thì văn học chúng ta sẽ khuyết đi một mảng rất lớn và rất quan trọng của khuôn mặt  con người Việt Nam trong thời sóng gió hung bạo của lịch sử dân tộc như chúng ta đã và đang trải qua... Văn học Việt Nam  do vậy sẽ què quặt "[14].

 Hiện nay, vấn đề chủ yếu, theo nhà văn, là ở chỗ "phải làm thế nào cho cả hai bộ phận đó của văn học (trong nước và ngoài nước) "thông thương " được với nhau, phá dỡ những trở ngại vô lý giữa hai bộ phận của một cơ thể  văn học thực ra thống nhất"[15].

Trong thời gian gần đây, Trung tâm Văn hoá và ngôn ngữ Đông Tây, các công ty "Phương Nam" và "Nhã Nam", các nhà xuất bản của nhà nước, đã có những nỗ lực tích cực trong việc xuất bản ở Việt Nam tác phẩm của các tác giả Việt Nam ở hải ngoại. Trên con đường này cũng có những trở ngại nhất định, đó chính là: (1) thiếu sự chuẩn bị cho các tác giả Việt Nam để tiếp thu nội dung và những đặc điểm về phong cách nghệ thuật trong các tác phẩm của các tác giả hải ngoại, những tác phẩm này rất khác với sách của các nhà văn CHXHCN Việt Nam và (2) sự giám sát ngặt nghèo từ phía các cơ quan nhà nước đối với các tác phẩm "có những vấn đề  chính trị"15. Hiển nhiên, điều thứ hai thường trở thành yếu tố quyết định đối với số phận tác giả lưu vong trên Tổ quốc lịch sử của họ.

Tuy vậy, những ví dụ về việc công bố tác phẩm của các nhà văn lưu vong Việt Nam trên Tổ quốc lịch sử của họ mỗi ngày một trở nên nhiều hơn. Chẳng hạn, giáo sư Nam Dao hiện sống ở Canada, rất có uy tín trong giới khoa học và trong cộng đồng hải ngoại của ông. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, ông đã tích cực giúp đỡ Việt Nam, sau năm 1975, ông thường xuyên về nước. Ông là tác giả của những tập thơ và những tập truyện ngắn cũng như của những cuốn tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết lịch sử. Vào những năm gần đây, ông có hai cuốn tiểu thuyết được in ở Việt Nam - "Trăng nguyên sơ" và "Đất – trời".

Cây bút văn xuôi Đỗ Kh. thường xuyên sống ở Mỹ. Ở Việt Nam nhà xuất bản Văn hoá thông tin đã cho ra mắt độc giả cuốn " Ký sự đi Tây". Cuốn sách này bán rất chạy và mới đây đã được tái bản.

Năm 1998, bộ tiểu thuyết sử thi gồm 4 tập "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác được xuất bản tại Việt Nam. Tác phẩm này kể về một thời oanh liệt khi nhà Tây Sơn và Nguyễn Huệ trị vì đất nước. Tác giả viết bộ sách này tại Việt Nam, trước khi di tản sang Mỹ.

Vào những năm gần đây, tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam khác đang sống ở hải ngoại đã đến với bạn đọc trong nước: văn xuôi của Mai Ninh ("Ảo đăng"), khảo cứu triết học "Tư duy tự do" của Phan Huy Đường, khảo cứu lịch sử "Thần, người và đất Việt" của Tạ Chí Đại Trường, chuyên luận khoa học "Tôn giáo và xã hội hiện đại" của Cao Huy Thuần. Tại thành phố Hồ Chí Minh có in tập thơ của nhà thơ nổi tiếng Du Tử Lê hiện đang sống ở Mỹ.

Cần phải nói riêng về thế hệ nhà văn trẻ. Phan Việt có nghề chính là nhà xã hội học, hiện sống và làm việc ở Mỹ. Chị được trao giải nhì cho tập truyện ngắn "Phù phiếm truyện " tại cuộc thi "Văn học tuổi 20" do báo "Tuổi trẻ" và Nhà xuất bản "Trẻ" (thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức.

Nữ văn sĩ Thuận hiện sống ở Paris. Cuốn sách đầu tiên của chị "Made in Việt Nam" được xuất bản ở Mỹ. Trong ba năm gần đây, chị cho in một số tiểu thuyết " China Town", "Paris, 11 tháng 8", "T. mất tích". Tác phẩm sau cùng này được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng vào năm 2005. Hai năm sau, một nữ văn sĩ Việt kiều khác là Đoàn Minh Phượng cũng nhận được giải thưởng tương tự về cuốn tiểu thuyết "Và khi tro bụi". Ở tuổi 20, chị đã dời khỏi Việt Nam để sang Đức. Ngoài ra, chị còn là đạo diễn và nhà sản xuất những bộ phim "Hạt mưa rơi bao lâu", và "Tết Nguyên tiêu".

Rõ ràng là văn học Việt Nam ở hải ngoại rất khó sống nếu thiếu công chúng độc giả ở Việt Nam. Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế và văn hoá vốn càng ngày càng có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phải góp phần thúc đẩy việc bắc những nhịp cầu vững chắc giữa văn học ở trong nước và văn học ở ngoài nước, mà điều đó đến lượt nó, sẽ xúc tiến quá trình phục hồi sự công bằng lịch sử - trả lại cho các nhà văn Việt Nam và những tác phẩm của họ ở hải ngoại cho Tổ quốc lịch sử của mình.

Người dịch Lê Sơn

(Nguồn: Jugo  - Vostochnaja Azija:  aktual'nye problemy razvitija – ideologija, istorija, kul'tura, polilika, ekonomika. Vypusk XI (2007-2008). Moskva,  Institut Vostokovedenija RAN, 2008. Str.  233-254.)

Đông Nam Á: những vấn đề cấp thiết của sự phát triển – ý thức hệ, lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế. Tập XI (2007-2008). Mátxcơva, Viện Đông phương học trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAN), 2008. Trang 233-254.


[1] Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đã với người Việt Nam ở nước ngoài // www.mofa.gov.vn/vi/vdquantam/ns041215094400, ngày khai thác 21-12-2008. Theo những tài liệu khác, số người Việt Nam ở hải ngoại là hơn 3 triệu người.

[2] Chi tiết hơn, xem: Một số khía cạnh kinh tế - xã hội của việc hình thành cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ // Nước Việt Nam truyền thống. Matxcova, 2008. Tập 3. Trang 162-186.

[3] Boris Khazanov. Niềm hạnh phúc được làm người xa lạ // Báo Độc lập (Matxcova). 27-11-1997.

[4] Chẳng hạn, xem: Hoài Việt. Văn nghệ, báo chí của người Việt ở Mỹ // Báo Văn hoá (Hà Nội).  22-02-2002, v.v.

[5] Chẳng hạn: Nguyễn Mộng Giác. Hai mươi năm văn xuôi ở hải ngoại // Tạp chí Văn học (California). 1995, số 109; Nguyễn Thị Sông Hương. Sơ thảo 20 năm văn học Việt Nam hải ngoại // Tạp chí Văn học (California), 1995, số 109; Mai Kim Ngọc. Và cảm nghĩ về văn học hải ngoại // Tạp chí Văn học (California). 1995, số 109; Nguyễn Hưng Quốc. Hai mươi năm văn học Việt Nam ở hải ngoại // Tuyển tập Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-1995 / Chủ trương  Trương Đình Võ. California: Đại Nam, 1995. Tập 1-2. Trang 11-26,  v.v.

[6] Mai Kim Ngọc. Vài cảm nghĩ về văn học hải ngại // Tạp chí Văn học (California). 1995, số 109. Trang 4, 6.

[7] Ở đây muốn nói đến những loại tị nạn được lập ra trên lãnh thổ Hoa kỳ: tại các bang California,  Arcanzas, Florida, Pensilvania.

[8] Mai Kim Ngọc. Vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại  (tldd). Trang 12.

[9] Ngày nay (Huston). 15.08.1987. Số 142. Trích dẫn theo: Nguyễn Mộng Giác. Hai mươi năm văn xuôi ở hải ngoại // Tạp chí Văn học (California).  1995, số 109. Trang 16.

[10] Muộn hơn một chút, vào năm 1988 hai tác phẩm này cùng với truyện vừa "Ngài đàn ông" được in trong Hợp tuyển "Tiểu thuyết 2".

[11] Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc Hai mươi năm văn học Việt nam hải ngoại. Tuyển tập Hai mươi năm văn học Việt nam hải ngoại 1975-1995  / Chủ trương Trương Đình Võ.  Nhà xuất bản Đại Nam California, 1995. Tập 1. Trang 15.

[12] Nguyễn Hưng Quốc. Sống và viết như người lưu vong // Văn học Việt Nam từ điểm nhìn hậu hiện đại. California: Văn nghệ, 2000. Trang  222-234.

[13] Phỏng vấn Đài BBC 31-07-2003. Dẫn theo: Nguyên Ngọc. Văn học, nội lực, trong ngoài // hoiluan.vanhocvietnam.org, ngày khai thác:  13.03.2008.

[14] Sđd.

[15] Hoàng Hưng. Nghĩ về hội nhập giữa những người Việt Nam cầm bút // hoiluan.vanhocvietnam.org, ngày khai thác:  05.02.2008.

Anatoly  Sokolov, TS., Viện Đông phương học (Viện Hàn lâm khoa học Nga), Mátxcơva, Liên bang Nga 2010

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận Văn học, Niên san 2015

Thông tin truy cập

37972588
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
4234
9479
37972588

Thành viên trực tuyến

Đang có 274 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929