Giới thiệu hồi một tuồng hát bội Nôm đa hồi Tây du ký - Con người cần có một chí hướng để theo đuổi

20170724. Tuong Tay du ky

Tồng quan

Năm 1952, ở tận cực Nam nước Việt là tỉnh Châu Đốc, ông Nam Cư Nguyễn Đình Triêm, một người cháu nội của Nguyễn Đình Chiểu, khi giới thiệu tiểu sử Bùi Hữu Nghĩa trong quyển Bùi Hữu Nghĩa, Thi văn và vở tuồng Kim Thạch kỳ duyên có nhắc đến hai tuồng hát bội Tây DuMậu Tòng của Bùi Hữu Nghĩa. Tuy ông Nam Cư không nói gì đến nguồn tài liệu dẫn đến sự tuyên bố này, nhưng với cung cách làm việc của ông, chúng tôi tin tưởng  rằng  lời xác quyết trên mang nhiều giá trị khả tín cho đến khi có ai đó trình làng bằng chứng nói khác đi. Trước tới giờ, một vài tác giả khi nói tổng quát về hát bội cũng có nhắc đến tuồng Tây Du, nhưng không nhắc gì về tác giả, cũng không dẫn chứng một câu nào của tuồng đồ sộ 100 hồi (độ 4000 trang) này. Lý do là tuồng còn ở dạng chữ Nôm và hiện tại chỉ Thư viện Trường Viễn Đông bác cổ ở Paris lưu tồn được một bản viết tay thôi, không ai thấy ở đâu nữa một bản nào khác. Tuồng quá dài, sao chụp được toàn bộ cũng khá vất vả, phiên âm cũng mệt mà đọc hết chắc cũng ngất ngư, cho nên giới thiệu toàn bộ chưa chắc đã hữu ích về mặt giải trí… Chúng tôi tùy theo hoàn cảnh và khả năng phổ biến của mình mà giới thiệu từng hồi một, không nhứt thiết đi theo thứ tự nào, độc giả cũng không nhứt thiết phải đọc nguyên văn từng hồi sẽ được chúng tôi phiên âm sau này. Không nhứt thiết vì hát bội là thể văn xa xưa lời lẽ đã cao kỳ mà văn chương lại nhiều chữ cổ xưa khó hiểu tường tận. Giải quyết phần nào tình trạng đó bước đầu chúng tôi xin giới  thiệu tóm lược và nêu ra ý nghĩa mỗi hồi khi có  thể  được.

Cũng xin nhắc lại là tác phẩm được nhiều người thưởng thức của Trung Quốc vào Việt Nam dưới thể văn xuôi viết bằng Hán Văn. Người Việt ở những thế kỷ 18-20 mô phỏng theo đó lần lượt theo thời gian tạo nên những hình thức văn nghệ khác nhau:

  1. Thế kỷ 18 đầu 19 viết lại thành tuồng hát bội vì thời này loại văn nghệ trình diễn phổ biến đó chẳng những ăn khách lại còn gần như là thể loại giải trí độc nhất. Từ đây ta có những tuồng như Tây du ký, Tam quốc chí, Kim Thạch kỳ duyên, đi tiên phong và sau này xuất hiện cơ man nào là những tuồng pho như Chinh Đông, Chinh Tây, Bình Liêu hay nhưng tuồng đồ Hàm Hoà, Đinh Lưu Tú, Trần Trá Hôn, tuồng thầy Sơn Hậu.. Hầu hết những tuồng trong sưu tập hơn ba mươi tuồng mà Thư viện Hoàng gia Anh Quốc tặng cho Việt Nam trước năm 1975 đều là tuồng xuất hiện ở giai đoạn đầu thế kỷ 19.
  2. Sau giai đoạn tuồng thì đến thời đại của truyện-thơ tức là trích đoạn hay diễn nguyên một câu chuyện trong tác phẩm Trung Quốc ra thơ. Ban đầu là thơ thất ngôn Đường luật, trước 18, sau đó là lục bát ở cuối 18 sang đầu 19. Giai đoạn này là thời nở rộ của nhưng truyện thơ phóng tác rất có giá trị như Đoạn trường tân thanh, Phan Trần, Nhị độ mai, Lưu nữ tướng, Trung quân đối… có thể kể thêm Lục Vân Tiên… Đó là thế kỷ 19, khi người dân thích nằm nhà ngâm nga, trong thâm tâm ẩn tàng khuynh hướng đề cao sự biền ngẫu, tính ước lệ và sự nói ít hiểu nhiều của điển cố, thành ngữ. Họ lúc này đã bớt đi nỗi say mê trống kèn và rạp hát của hát bội như người của thế kỷ trước.
  3. Đầu thế kỷ 20, khi tiếp xúc với Tây phương thì hình thức truyện thơ lui bước, nhường chỗ cho truyện văn xuôi viết bằng Quốc ngữ. Truyện Tàu lúc này lan tràn vì dễ đọc, dễ hiểu. Những nhà xuất bản như Đức Lưu Phương, Tín Đức Thư Xã… phổ biến loại này đến cả những vùng hẽo lánh của cả nước. Những nhà Nho như Phan Kế Bính, Đông Châu ngoài Bắc, những nhà văn tiên phong như Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắt, Tô Chẩn trong Nam, đua nhau dịch, in truyện Tàu.
  4. Dĩ nhiên sau đó thì là giai đoạn của truyện Tàu dưới dạng tuồng cải lương (1923-1985), video

Tuồng Tây du ký mà chúng tôi dự định phiên âm nằm trong giai đoạn đầu tiên của sự xâm nhập truyện Tàu vô nước Việt. Vấn nạn đặt ra là ta có nên bỏ công làm chuyện này trong thời điểm hiện tại?

Câu trả lời tùy theo nhãn quan văn hóa, văn học hay chánh trị. Cũng có thể là quan niệm tồn cổ hay tân tiến. Riêng chúng tôi khi làm công việc rất ít được khích lệ này chỉ vì lý do thấy vàng rơi nên tiếc mà thôi.

Vâng, tác phẩm của ông bà mình xưa nên coi như vàng của toàn dân, không nên để cho rơi mất theo thời gian chỉ bởi vì chúng ta cách xa với người xưa về cảm quan thưởng thức cũng như trình độ văn chương dính dáng với vốn cỗ.

TÂY DU KÝ HỒI 1

Hồi Một theo đúng sự diễn tiến của nguyên tác Tây du ký tuy rằng tác giả dùng tài nghệ mình thêm vào những tư tưởng có tính cách triết lý và nhân văn khiến bổn tuồng trở nên có ý nghĩa và hay ho hơn nguyên bản.

Một viên chức của Thượng Đế có nhiệm vụ quan sát trần gian là Đại Lý Nhãn Thần một bữa kia ngó xuống trần gian thấy có sự kiện lạ: Một hòn đá nứt hai sanh ra một con khỉ, ông tâu trình với Thượng Đế và được dạy rằng đó là chuyện bình thường: khỉ đá do tinh khí của trời đất tạo thành nên chẳng có chi là quái dị.

               Dưới hạ giới vật sanh thiên vạn,

               Thạch Hầu chăng  thiên địa trữ tinh.

               Vậy thần mâu linh nhãn (1-2) riêng minh,

               Thử thường sự há tua quái dị!

Trong khi đó con khỉ đá Thạch Hầu sống vui vẻ hòa đồng với đàn khỉ bình thường ở núi Hoa Quả nước Ngao Lai. Một bữa kia chúng khỉ đến một cái thác lớn bèn thách thức nhau nếu khỉ nào vào trong thác mà ra được an toàn thì được tôn làm vua khỉ. Thạch Hầu nhảy xuống lặn qua bên kia thác, thấy một phong cảnh khác thường: Có thạch động, có cầu sắt ai đó xây dựng sẵn từ lâu:

Giang san kỳ dị giang san!

Cảnh vật lạ lùng cảnh vật!

Khái vô thủy, vô ba kinh lật,

Cánh hữu quang, hữu nhãn khả quan.

Có thiết kiều một tòa rõ ràng,

Trong cầu ấy thông vào thạch huyệt.

Thạch hầu lặn ra khỏi thác, rũ bầy khỉ vào cùng nhau khám phá và sau đó trụ nơi đây làm động của đàn sau khi bắt chúng giữ lời hứa tôn mình làm vua gọi là Thạch Hầu Vương. Từ đó các loài thú khác đều đến xưng thần như loài Vượn, loài Gấu, loài Ngựa… Hoa Quả sơn biến thành nơi qui tụ nhộn nhịp của loài thú mà đầu đàn là Thạch Hầu Vương.

Một hôm Thạch Hầu vương tâm sự với đàn khỉ rằng mình sung sướng hiện tại đó nhưng sợ rằng mai kia sẽ chết đi, về chầu Diêm Vương, không còn được sống ở nhân gian nữa.

 Ta an hưởng thiên phò địa trợ,

Khoát tay các biệt mấy thu.

(…) Sợ ngày sau vãng cảnh tang du,

Ắt bị gã Diêm vương lão tử.

Huống nhứt đán hoàng tuyền viễn khứ,

Sao đặng làm vật giữa nhân gian?

Chúng khỉ nghe xong bàn rằng chỉ có ba bậc khác phàm là Phật, Thần và Tiên mới thoát khỏi sanh tử mà thôi. Thạch Hầu Vương nghe vậy liền quyết chí rời bỏ Hoa Quả sơn ra đi cầu mong học được phép trường sanh bất tử. Trên đường đi cũng có những gian nan và phải ứng phó với đời. Đầu tiên là phải đóng bè vượt biển:

Chỉ non xanh bẻ một cành tùng,

Làm bè nổi qua miền đại hải.

Kế đến là phải sống chung đụng với người đời. Ở trong rừng núi ra lõa lồ thân thể nên phải có quần áo mặc vào thân trước là không khác người thiên hạ, sau là che chở những ấm lạnh của thời tiết. Chuyện này cũng không phải dễ dàng gì:

Có ngư nhân thả lưới buông câu,

Giả mãnh thú đoạt tha y phục.

Cuộc truy tìm nơi có Thánh Thần để học hỏi, Hầu Vương tốn gần cả chục năm ở Nam (Bộ) châu nhưng chẳng gặp được đấng mình mong tìm, chỉ thấy toàn là người đời với những lo lắng cho cuộc sống ngắn ngủi, những tranh danh đoạt lợi, tham sân si, những kẻ khinh người ngạo mạn, những kẻ vô tâm – tóm lại, chỉ gặp toàn người đời tầm thường, nên Hầu Vương lại quyết đi xa hơn nữa, đi ra biển, vượt đến vùng đất xa xôi hơn bên kia bờ đại hải là là nước Hóa Châu với lòng mong tìm được đạo:

Kể từ thửa Hoa Sơn viễn biệt,

Qua Nam Châu tám chín năm dư.

Ngỡ Thánh Thần Tiên Phật sở cư,

Hay những đứng công danh lợi lộc.

Dốc học đạo bao nài khó nhọc,

Nổi bè qua đại hải Tây dương.

Nghe Hóa Châu nhiều chốn thương lang,

Ắt có đứng Thần Tiên tại thử.

   Sự kiện có người đương trên đường tới đây tìm học đạo đã được vị Tiên trưởng đương dạy đạo ở Hóa Châu biết trước và cho đồ đệ ra đón. Có sự hiểu lầm xảy ra khi Thạch Hầu nói mình từ Đông Thắng Thần Châu đến, Tiên Trưởng không tin vì vùng đó quá xa, xưa nay chưa từng có ai từ đó đến đây được. Thạch Hầu trình bày rằng mình đã đi qua biết bao nhiêu sơn trùng đại hải, cả chục năm mới tới được chốn Tây Bộ Châu này. Cuối cùng thì Thầy cũng hiểu trò, hiểu luôn gốc gác đặc biệt của trò nên ưu đái đối xử thân tình sư phụ đối với đệ tử.

Hầu Vương:

Tôi vốn không danh tánh quê hương,

Ngụ Đông Thắng Thần Châu địa giới.

Non Hoa Quả ấy nơi qua lợi,

Động Thủy Liêm là chỗ nhàn du.

Bồ Đề:

Truyền Tiên chúng môn đồ,

Tương phàm trần cản xuất.

Thiệt những lời hư sức,

Vậy cũng gọi tu hành! 

Hầu Vương:

Lời tôi vốn thiệt chơn thành,

Cúi lạy tôn sư nghiệm lại.

Bồ Đề:

Nghe lời ngươi rất trái,

Sao còn gọi chơn thành.

Thắng Thần Châu biết mấy lộ trình.

Nam Chiêm Bộ lưỡng trùng đại hải.

Sao tới đặng Tây Ngưu địa giái,

Nhữ chơn thành tua khá thuyết lai.

Hầu Vương:

   Đệ tử biêu (1-18) dương đại hải nhai,

   Đăng lâm Tây Bộ thập niên tài.

   Na từ vạn thủy thiên sơn hiểm.

   Trá quá Thần-Tiên nguyện sát lai.

Bồ Đề:

   Việc lộ trình nhữ thuyết an bày,

   Nhữ bẩm thụ như hà tính khí?

   Thầy hỏi tánh tình thì Hầu vương trả lời rằng mình không có cái tánh - tầm thường - của con người, mình không khinh mạn, không sân hận. Một điều căn bản của người muốn học đạo Thần Tiên:

Người đều có thị phi liêm sỉ,

Tôi vốn không nhân vật tính tình.

Ai mắng tôi tôi chẳng mạn khinh,

Ai đánh mỗ mỗ không sân hận.

   Hỏi về cha mẹ thì Tiên Trưởng còn ngạc nhiên hơn khi nghe về thân thế của Thạch Hầu:

Cha mẹ đâu mà nói mà rằng,

Trời đất trổ nên hình nên tướng.

Hoa Quả sơn trung nhứt thạch sanh,

Tích thiên niên hậu sản ngô hình.

Cố vô phụ mẫu sanh thành đức.

Bị thực tiền do nguyện kiến minh.

Tiên Trưởng Bồ Đề rút ra được kết luận rằng đây là một nhơn vật đặc biệt thọ tinh khí của trời đất bèn có lòng thương nên suy tính lựa chọn cho Thạch Hầu một cái tên… Đặc biệt ban đầu ông tính đặt cho họ Hồ, nhưng ông suy nghĩ lại khi chiết tự chữ Hồ thấy không hay vì không thể dạy dỗ được bèn đổi lại, ban cho chữ Tôn:

Nhĩ thân tuy bỉ lậu trần ai,

Chân tiền kiếp hồ tôn thực quả.

Tựu thân thượng (1-19) thủ tha tính thị,

Ngô tứ lai nhĩ tánh viết Hồ ,

Nhưng mà:

…..Cổ giả lão dã,

Nguyệt giả âm dã.

Lão, âm bất năng hóa dục,

Giáo nhĩ tánh Tôn.

Và đặt cho một cái tên mang màu sắc triết lý căn bản của Phật và Đạo: Hiểu được sự vi diệu lẽ Không, Hư:

Ngươi chính dùng chữ Ngộ phân minh.

Tôn Ngộ Không tên gã chớ khinh,

Cho biết nẻo pháp danh không trọng.

Từ đây Tôn Ngộ Không ở lại động chăm chỉ học đạo với thầy Bồ Đề Tổ Sư. Tôn Ngộ Không không còn là một con thú trời sanh mà trở thành một người, một người đã hiểu lẽ Tính Không, một người đương rèn luyện để đạt được cái điều mà mình quyết đạt cho được bất cứ những khó khăn nào: Trường sanh bất tử, không sợ lão Diêm Vương bắt về khi hết số.

*

Đặc biệt của hồi 1 của tuồng Tây Du này về phương diện ý tưởng ta thấy có 4 điều đáng để ý:

  1. Sự quyết chí của nhân vật Thạch Hầu.
  2. Con người nói chung rất tầm thường.
  3. Ở đời có những hoàn cảnh không thể thực hiện cái chí mình được.
  4. Thần Tiên cũng có sự giận dữ hay phán đoán sai như con người.

Hai điều 1 và 4 đã được nói đến ở phần trên với nhưng câu trích dẫn từ nguyên văn của tuồng, nay xin giới thiệu đơn giản về những ý 2 và 3.

Trong khi đi đường gặp tinh những người mong tìm chút công danh như văn nhơn, như võ sĩ, thậm chí kẻ bất tài vô tướng cũng không ngoài mục tiêu đó:

Ta tuy rằng không chút tài năng,

Cũng lướt tới họa trúng khoa vô dụng!

Điều đặc biệt là những người này đều bị con quỷ vô tâm, ích kỷ ngự trị trong lòng nên không muốn giúp đở thiên hạ mặc dầu thấy người đó ngu ngơ cần giúp đỡ.

Nói chi đứa không hay không biết,

Điều đi ta kẻo tối kẻo trưa. (1-10)

Đàn ông đã thế, đàn bà cũng không khác gì. Hãy xem sự ngu ngơ của Thạch Hầu vương được đàn bà đối xử ra sao khi anh ta xuống nơi thị tứ, không biết chợ là cái gì, tại sao người ta đến đó đông quá…

Hầu Vương:

Xem việc chi cũng lạ,

Người ta họp rất đông.

Ớ người kia lại mỗ hỏi cùng,

Việc chi những đàn bà xao xác?

Thị nhân:

Thằng ở đâu bá-láp,

Sao không biết chợ đông!

Mặt mũi rất lạ lùng,

Hèn chi mà hỏi giả.

Hầu Vương:

Hỏi: Xóm chợ mà làm chi?

Thị nhân:

Xóm chợ đây bán tôm bán cá,

Xóm chợ phường đi bán đi buôn.

Cũng có người cầu lợi đến muôn,

Cũng có kẻ xâm hao đến vốn.

Lại nói:

Nói làm chi việc bán,

Về kẻo trẻ nó trông!

Vâng! Về kẻo trẻ nó trông, đó là tấm lòng của người mẹ, người vợ, nhưng sự kiện những người này không bỏ ra chút ít thời giờ tối thiểu giải thích cho người chưa biết chính là do lòng ích kỷ giật dây, do sự vô cảm điều khiển khiến họ chỉ nghĩ đến những thứ thuộc về mình…

Nói chung Thạch Hầu vương chỉ gặp những bá tánh tầm thường, nhưng bá tánh thời nào cũng vậy, tạo nên bức tường vô hình giửa người với người, bức tường đó được phá vỡ chút nào đó là nhờ những người từ bi, vị tha, có lòng với người khác…

Một nhân vật ngoài đời có đủ đức tánh trên là lão tiều phu mà Thạch Hầu Vương gặp khi đến Tây Bộ châu, ông này tuy nghèo nàn, công việc làm cực nhọc để sanh nhai, nặng gánh mẹ già nhưng khi ra ngoài thì vui thú thảnh thơi và sẵn sàng đứng lại lâu để trả lời những câu hỏi của Thạch Hầu vương, chỉ dẫn ân cần nơi cần phải đến:

Ngươi vốn đã có lòng phỏng bái,

Ta nỡ nào còn dạ ẩn tàng.

Chốn linh đài phương thốn cao san,

Miền tà nguyệt tam tinh có động.

Có một đứng Thần Tiên đạo thống,

Danh Bồ Đề đạo hiệu Tổ Sư.

Môn đồ đắc tam tứ bách dư,

Nhĩ tòng thử Nam hành bất viễn.

Nhờ sự hướng dẫn của Lão Tiều, Thạch Hầu đến được nơi mình cần đến như ta đã biết.

Ta thấy rõ lòng biết ơn của Hầu vương khi bịn rịn chia tay với Lão Tiều cùng nhau lộ thượng phân khâm, điều này có được vì hai người cùng chí hướng tuy mỗi cá nhơn mỗi hoàn cảnh, một đàng không gia đình, không thân thích nên thong dong thực hiện chí lớn của mình, một đàng vì gia cảnh đơn chiết nên quay qua giữ tròn hiếu đạo gọi là an ủi. Đời có sự bi đát trong sự kiện coi ra thiệt là bình thường!

Lời ngươi phân thậm đáng,

Khốn vận mỗ đa nan.

Vả cha đà sớm tách suối vàng,

Còn mẹ hỡi náu nương nhà bạc.

Thêm nỗi nhiều phen cơ khát.

Vậy nên hái củi dưỡng thân.

Trong thờ thân chưa đặng tấc phân,

Sao học đặng tiên nhân đại đạo?

Tác giả muốn nói gì khi đưa ra hình ảnh Lão Tiều với những trao đổi tâm tình cùng người khách lạ Thạch Hầu ở chỗ này? Tôi không muốn đi tìm chính văn Tây du ký phổ biến đầu thế kỷ 19 để kiểm chứng xem có đoạn nói về chi tiết này hay không. Dầu sao khi viết dông dài ở chỗ này Bùi Hữu Nghĩa chắc chắn là có lý do: Tạo cho người đọc một sự suy nghĩ, đó là điểm son của người phóng tác khôgn phải ai cũng có được…

 

           Tài liệu tham khảo

  1. Tuồng hát bội Tây du ký hồi 1, bản phiên âm của Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hiền Tâm.
  2. Nam Cư (1952), Bùi Hữu Nghĩa: Thi văn và vở tuồng Kim Thạch kỳ duyên, Nxb An Giang thơ xã.
  3. Trần Văn Hương chú thích, Lê Ngọc Trụ hiệu đính (1966), Nghi chi Bùi Hữu Nghĩa - tuồng hát bội Kim Thạch kỳ duyên, Nxb Khai Trí, Sài Gòn.

-------------

Nguyễn Văn Sâm, Nguyên giáo sư Đại học Văn Khoa Sài Gòn

Nguồn: Tạp chí Khoc học Văn hóa và Du lịch, Vol.7, số 2&3 (82&83), tháng 3&5/2016

Thông tin truy cập

37403214
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
5357
7811
37403214

Thành viên trực tuyến

Đang có 265 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929