04042026Sat
Last updateThu, 02 Apr 2026 5pm

The female court poets in the Hyakunin Isshu

Prof. Trần Thị Chung Toàn

Ha Noi University

 

『百人一首』における女流歌人への一考察』

 

 『百人一首』(小倉百人一首)は日本の詩歌集である。当書は1235年に京都の佐賀の小倉山において、藤原の定家、そして彼の後胤の為家により、『古今集』の天智天皇から鎌倉初頭に選出された『続勅撰集』の順徳院にかけて、奈良、平安、鎌倉の三期(約600年)に渡る時代の歌人、約13350首から百歌人のそれぞれが一首ずつ傑出された日本の王朝和歌集である。本稿はこの作品に取り入れた21女性(あるいは女流)歌人について次の側面を考察してみた。

1) 歌人の姓名と略歴

2) 日本文学においてこれらの歌人の主業績

3) 幾つかの歌の詠作事情や天才と美容を備えた歌人について

4) 歌の内容と情緒に共感を呼ぶベトナムの詩歌にある幾つかの特徴を比較

 日本の文学、文化に恵まれた21女性歌人を通して、『百人一首』を理解し、そして、この21歌人を育んだ日本の文学、文化を理解するのにも役立つ。日本文学はこのような女房を持ち、後世に優秀な人材を生まれ育ち、現在にいたるまで発展し続いている。ベトナムの読者にとっては日本文学が同じアジアにあり、地理的にはそれほど遠くないが、理解したり、触れたりすることはまだ遠くにあるようにあまり知られていない。そのため、地域をはじめ、世界の文学の発展に合流し、文化交流や文学、文化理解することはベトナム人にとって課題として取り上げるべきである。

 

VỀ CÁC NỮ THI SĨ TRONG TUYỂN TẬP HYAKUNIN ISSHU

PGS. TS Trần Thị Chung Toàn

Khoa Tiếng Nhật, Trường Đại học Hà Nội

 

Tóm tắt

 Hyakunin Isshu là một tuyển tập thơ ca cổ, ra đời vào năm 1235 tại vùng núi Ogura của Kyoto, Nhật Bản. Tác phẩm gồm 100 bài thơ của 100 thi nhân, được tuyển lựa từ khoảng 13.350 bài thơ trong 10 tuyển tập thơ đồ sộ của Nhật từ  thế kỉ 7, 8 đến đầu thế kỉ 13,  trong khoảng thời gian dài 600 năm, là  một tập sử thi thu nhỏ của thơ vương triều Nhật Bản. Bài viết khảo  cứu về 21 nữ thi sĩ được đưa vào trong tuyển tập này từ các góc độ : 1) Danh tính và thân nhân của các nữ thi sĩ ; 2) Sự nghiệp văn thơ và những đóng góp của họ đối với nền văn học Nhật Bản ; 3)Một số giai thoại về những nữ thi sĩ đa tài và đa tình ; 4) Chủ đề  thơ và những cung bậc tình cảm, những nét đồng điệu trong tâm hồn nhìn từ góc độ thơ Việt.

Qua hình ảnh các nữ thi sĩ, chúng ta hiểu thêm về tác phẩm Hyakunin Isshu, về nền văn học và văn hóa Nhật, về chiều sâu, độ cao và bề dày phát triển của một đất nước đã hun đúc, nuôi dưỡng những bà mẹ, bà vợ, những thi nhân tài hoa và đến lượt họ, họ lại đã góp phần sản sinh ra những thế hệ thi sĩ và nghệ sĩ, những người con tài hoa, hào kiệt nối tiếp cho chính đất nước Nhật Bản phát triển cho đến tận ngày nay. Đây là một kho tàng văn học và văn hóa của nhân loại, của một đất nước châu Á gần gũi nhưng thật sự vẫn chưa đến được nhiều với độc giả và văn học Việt Nam. Chúng ta  vẫn còn phải tiếp tục khám phá nhiều hơn nữa để có thể nắm bắt được tốt hơn, học hỏi được tốt hơn và hòa chung vào sự phát triển của văn học khu vực và thế giới.

 

 

 

Về các nữ thi sĩ trong tuyển tập Hyakunin Isshu

『百人一首』における女流歌人への一考察』

The female court poets in the Hyakunin Isshu

I. Khái lược về Tác phẩm Hyakunin Isshu

 Hyakunin Isshu là một tuyển tập thơ ca cổ, ra đời vào năm 1235 tại vùng núi Ogura của Kyoto, Nhật Bản.

Từ thời phong kiến, ở Nhật, các nhà quí tộc thường cho viết các bài ca ngâm vịnh nổi tiếng lên các loại giấy màu rồi dán chúng lên các bức bình phong hoặc vách ngăn giữa các phòng trong nhà. Đây là một trong những nét văn hóa trong trang trí nội thất nhà theo kiểu Nhật. Ngài Utsunomiya Yoritsuna, một hào tộc gia thế ở miền đông, có một ngôi biệt thự sang trọng vùng Saga -  một địa danh nổi tiếng ở Kyoto với núi Ogura, núi Arashiyama và Sông Ôi, cũng với mục đích trang trí cho các vách ngăn ngôi biệt thự này  bằng các khung giấy màu với những bài thơ waka trác tuyệt nên đã nhờ Teika, một học giả uyên thâm và một thi nhân tài ba về waka, tuyển chọn cho mình 100 bài thơ của 100 thi nhân kiệt xuất. Đây chính là lí do ra đời của quyển Hyakunin Isshu.  Chúng là  100 bài thơ mĩ miều dán lên các vách ngăn, tạo không khí cao sang cho một ngôi biệt thự sang trọng tại một danh thắng nổi tiếng của miền Tây nước Nhật.

 Fujiwara Teika (1162 -1241) đã chắt lọc, tuyển lựa từ khoảng 13.350 bài thơ trong 10 tuyển tập thơ đồ sộ của Nhật, từ Kokinshuu (thế kỉ 10) đến tuyển tập Shoku choku senshu (thế kỉ 13),  xuyên qua gần 4 thế kỉ, và ở đó, bao gồm cả những bài thơ từ thời cổ đại (từ thế kỉ 7, 8 được đưa vào trong tuyển tập đầu tiên - Kokinshuu), đến thời kì đương đại của thi nhân F.Teika. Đây là tập thơ của các thế hệ  thi nhân nối nhau hoạt động trên thi đàn Nhật Bản trong khoảng thời gian dài 600 năm. Phần lớn họ là các nhà quí tộc, các quan đứng đầu triều, hoặc làm việc trong nội các Triều đình, các quan được phái đi làm thống lĩnh hoặc phó thống lĩnh của các vùng[1], các Thái Thượng hoàng hoặc các vị hòa thượng, pháp sư vốn xuất thân từ các gia thế dòng dõi quí tộc. Các bài thơ trong tập thơ chủ yếu được sắp xếp theo trình tự thời gian sống và  hoạt động trên thi đàn của các thi nhân,  là một tập sử thi thu nhỏ của thơ vương triều Nhật Bản.

  Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên gọi tác phẩm  Hyakunin Isshu là “văn bản thơ xuyên thời gian, không gian, nối gần lại những tâm tình của nhân loại muôn chốn muôn thời”[6 :12], còn Suzuki Hideo, GS. về văn học cổ Nhật Bản của Trường Đại học Tokyo thì cho rằng tác phẩm “ như 100 viên ngọc lấp lánh tỏa sáng trong kho báu thơ ca Nhật Bản, và những lời ca điêu luyện được khắc sâu vào trong chúng đã tỏa ánh sáng soi rọi những rung động thầm kín thẳm sâu của con tim. Những lời ca ấy đã nuôi dưỡng,  vun trồng những ý tưởng và ý thức thẩm mĩ của người dân Nhật Bản ngày một phong phú hơn, nhuận nhàng hơn”[2] .

Với dòng dõi cao sang, với học vấn cao và tài thơ xuất sắc, mỗi tác giả trong tập thơ đều để lại cho ta một bài thơ mang một dấu ấn riêng, một hương sắc riêng của dư âm cuộc đời  họ. Có thể những bài thơ được lựa chọn vào tuyển tập này chưa phải là tác phẩm tiêu biểu nhất trong số các bài thơ của từng tác giả, nhưng ta vẫn có thể coi 100 bài thơ như một trăm bông hoa tỏa hương sắc riêng trong vườn thơ vạn ngàn hương sắc của thi đàn Nhật Bản. Và trong vườn thơ đầy hương sắc đó có sự góp mặt của 21 nữ thi sĩ mà chúng tôi muốn bàn đến trong nội dung của bài viết này.

2. Về các nữ thi sĩ trong tác phẩm

   Có 21 nữ thi sĩ của Nhật Bản đã được đưa vào trong tuyển tập Hyakunin. Vậy  họ là ai? Họ có vai trò thế nào trong dòng thơ waka của Nhật nói riêng và trong văn học Nhật Bản nói chung?  Chúng tôi khảo sát các nữ thi sĩ trong Hyakunin Isshu từ các góc độ như sau:

2.1. Danh tính và thân nhân của các nữ thi sĩ

Với cách nhìn đương đại, thử khảo sát những thông tin sơ lược có liên quan đến thân nhân của các tác giả này, ta có được như sau:

Bảng 1:  Danh sách 21 nữ thi sĩ trong tác phẩm Hyakunin Isshu

 

TT

Tác giả

Thân nhân

1.                   

Nữ Thiên Hoàng Jitou (645702)

持統天皇 

(bài số 2)

 

Công chúa thứ 2 của thiên hoàng Tenji, hoàng hậu của Thiên hoàng Temu. Sau khi Thiên hoàng Tenmu băng hà, đứng ra điều hành công việc và chính thức nhậm chức Thiên hoàng khi Hoàng tử Kusakabe qua đời.  Bà nhường ngôi lại cho Thiên hoàng Momu, tự xưng là Thái Thượng hoàng, khởi đầu cho cách xưng vương như thế này trong lịch sử của Nhật.

2.                   

Bà Ono no Komachi (Không rõ năm sinh năm mất)

小野小町   (bài số 9)

Một nhân vật mang tính huyền thoại, một giai nhân tuyệt sắc; có thời gian phục vụ trong cung, tuổi già cô độc trong cảnh góa bụa.

3.                   

 Bà Ise (877? -938?)

伊勢  ((bài số 19)

Con gái quan F. Tsugukage, được sinh ra trong lúc bố đang làm thống lĩnh vùng Ise,  đã từng phụng sự hoàng hậu của Thiên hoàng Uda trong cung Onshi

4.                   

 Bà Ukon

(không rõ năm sinh năm mất)

右近  (bài số 38)

Con gái của quan Thiếu úy đội Hữu Cận Vệ Thiếu Tướng Suenawa), theo hầu hoàng hậu Onshi  của Thiên Hoàng Daigo.

5.                   

Thân mẫu Hữu Đại Tướng Michitsuna (937? – 995)

右大将道綱の母  (bài sô 53)

Con gái của thống lĩnh vùng Ise Fujiwara Tomoyasu và là vợ thứ của Fujiwara no Kaneie, sinh được con trai là Michitsuna; đẹp và có tài thơ waka.

6.                   

Thân mẫu quan Tam cô Gidô Sanshi (? – 996 )

儀同三司母

(bài số 54)

Con gái của Takashina no  Naritada, quan nhị phẩm của Triều đình và là vợ của F. Michitaka, quan nhiếp chính của Triều đình, là mẹ của Korechika = quan Gido Sanshi, giữ chức đứng đầu các quan nữ trong triều. Bà cũng được gọi là Takashina no Takako高階 貴子

7.                   

 Bà Izumi Shikibu (966 ?– 1036? )

和泉式部

(bài số 56)

Con gái của Ôe no Masamune, kết hôn với Thống lĩnh vùng Izumi là Tachibana no Michisada,  theo hầu Hoàng Hậu Shôshi  và sau đó kết hôn với F.Yasumasa, từng yêu Hoàng thân Atsumichhi và nhiều đấng vương thân khác.

8.                   

Bà Murasaki Shikibu (973? – 1019)

紫式部

(bài số 57)

Con gái của Fujiwara no Tametoki = Shikibu no Jou 式部丞- hàng quan bậc 3, Phó 2 bộ Lễ thức, một trong 8 bộ của thời Luật lệnh)

9.                   

Bà Daini no Sanmi (999 -  ? )

大弐三位

(bài số 58)

Con gái của F.Nobutaka và Murasaki Shikibu (tác giả bài 57).  Chồng bà là  Phó Thống lĩnh của Phủ Dazai (Dazai no daini), tên là Takashina Nariakira ( hàng quan bậc ba = sammi), từng phục vụ Hoàng Hậu Shôko  của Thiên Hoàng Ichijô, sau trở thành vú nuôi của Thiên Hoàng Go-Reizen.

10.               

Bà Akazome Emon (958? - ? )

赤染衛門

(bài số 59)

Con gái của Akazome Tokimochi, từng được Triều đình cử đi làm Thống lĩnh ở vùng Osumi và làm việc ở  Zaemon (Phủ Cận vệ); là vợ của Ôe no Masahira, một thi nhân và là một học giả về Hán học; từng giúp việc cho phu nhân Rinshi của đại  thần Michinaga rồi được gửi vào trong cung hầu hạ con gái của họ, Hoàng Hậu Shôshi, vợ Thiên Hoàng Ichijô.

11.               

Cô Koshibu no Naishi (? – 1025)

小式部内侍

(bài số 60)

Con gái của nữ thi sĩ lừng danh Izumi Shikibu, phục vụ Hoàng Hậu Shôshi của Thiên Hoàng Ichijô, rất được các quan trong Triu yêu chuộng.

12.               

 Bà Ise no Taifu (không rõ năm sinh năm mất)

伊勢の大輔

(bài số 61)

Con gái của Onakatomi no Sukechika大中臣輔親, Tổng phụ trách nghi lễ của đền Ise là  Phó Ban Phụ trách nghi lễ của Triều đình-Taifu, theo hầu hoàng hậu Shôshi  của Thiên Hoàng Ichijô  sau đó kết hôn với quan Thống lĩnh vùng Chikuzen là Takahashi Narinobu.

13.               

Bà Sei Shounagon (966?-1027 (?)

清少納言

(bài số 62)

 

Con gái của Kiyohara no Motosuke, cháu nội của Kiyohara no Fukayab, theo hầu Hoàng hậu Teishi của Thiên Hoàng Ichijô, kết hôn với Tachibana no Norimitsu 橘則光  và F. Muneyo 藤原棟世. Sau khi Hoàng hậu Teishi mất, bà rời bỏ vinh quang và sống một tuổi già không mấy hạnh phúc.

14.               

Bà Sagami (không rõ năm sinh năm mất)

相模

(bài số 65)

Con gái (con nuôi?) của F. Yorimitsu, một võ tướng của Triều đình,  kết hôn với Oe Kinyori, quan Thống lĩnh vùng Sagami, li dị và sống phóng túng, có hầu hạ công chúa Shuushi.

15.               

Bà Suou no Naishi (không rõ năm sinh năm mất)

周防内侍

(bài số 67)

Con gái của Thống lĩnh vùng Suo; Phó nữ quan quản lí các Quí bà, Quí cô và các cung nữ trong Triều,  phục vụ trong cung qua 4 đời Hoàng đế. Tên thật của bà là Taira no Chuushi平仲子

16.               

Bà Yuushi Naishinnôke no Ki (không rõ năm sinh năm mất)

祐子内親王家紀伊  (bài số 72)

Phục vụ cho Công chúa Yuushi, công chúa cả của Thiên hoàng Gosuzaku,

17.               

Bà Taikenmon-in no Horikawa(không rõ năm sinh năm mất )

待賢門院堀河

(bài số 80)

Con gái của Minamoto no Akinaka, Trưởng Viện nghi lễ của Quốc gia, cháu của Hữu Đại thần (tể tướng) F.Akifusa, theo hầu công chúa ReishiHoàng hậu của Thiên hoàng Toba = Thái Thượng hoàng Taikenmon in.

18.               

Bà Bettou ở Kôkamon-in

(không rõ năm sinh năm mất)

皇嘉門院別当

(bài số 88)

Con gái   Minamoto no Toshitaka 源俊隆Phó chánh Cung Hoàng Thái Hậu Kokamonin Seiko, là một trong những nữ quan hầu hạ Hoàng hậu Kokamonin Seiko, sau đó xuất gia đi tu

19.               

Công chúa Shokushi

式子内親王

 ? – 1201 (bài 89)

 

Con gái thứ 3 của Thiên Hoàng Go Shirakawa, đã từng làm trinh nữ đền thần ở đền Kamo; cuối đời gặp nhiều nghịch cảnh: bị kéo vào các chính biến, cha bị giam cầm, anh chết đói.

20.               

Con gái quan Chánh cung Inpumon-in

(không rõ năm sinh năm mất) 1131? – 1200?  

殷富門院太輔 (bài số 90)

Con gái của phó quan F. Noboshige,  có thời gian  phục vụ trong cung Inbumon in

 

21.               

Bà Sanuki hầu hạ Thiên hoàng Nijô-in (1141? – 1217? )

二条院讃岐  (bài số 92)

 

Con gái của quan tam phẩm (chính) Fujiwara no Yorimasa, một võ tướng, thi nhân xuất sắc cuối thời Heian; hầu hạ Thiên Hoàng Nijô, Hoàng hậu Ninshi của Thiên Hoàng Go Toba

 

 Nhìn vào bảng trên, có thể thấy các nữ thi sĩ đều xuất thân ở địa vị cao sang, có cuộc sống gắn với Hoàng Cung, Hoàng tộc. Đứng đầu danh sách  là Nữ thiên hoàng Tenji (bài số 2), bản thân bà cũng đã là công chúa, và sau này bà đứng ra đảm trị việc nước. Bà còn là người khởi xướng cho cách xưng vương Thái Thượng Hoàng trong lịch sử Nhật Bản.

 Tác giả bài số 89 cũng là một công chúa, là con gái của Thiên Hoàng  GoShikawa.

Đây là 2 tác giả có dòng dõi cao sang nhất trong số 21 các nữ thi sĩ được tuyển chọn vào Tuyển tập.

Các nữ thi sĩ khác phần lớn cũng đều xuất thân từ dòng dõi cao sang, hơn nữa, bản thân họ cũng lại là vợ, là mẹ, là con của các quan lớn trong triều hoặc các quan Thống lĩnh, họ cũng đều có thời gian sống trong các cung điện hoặc là cùng với gia đình mình hoặc là để theo hầu phục vụ các Hoàng hậu, công chúa của Hoàng tộc.

Chúng tôi đã khảo sát cách gọi tên của F. Sadaie đối với 100  thi nhân trong tuyển tập Hyakunin Ishu nói chung và thấy có 3 cách chủ yếu để  gọi tên các thi nhân trong tác phẩm này là:

A-     Theo cách gọi thông thường:

Có 29 thi nhân được gọi theo cách gọi thông thường, chỉ gọi theo họ và tên bình thường.

Thí dụ: Abe no Nakamaro阿倍仲麻呂, Ono no Komachi小野小町, Funya no Yasuhide文屋康秀Oe no Chisato大江千里

B- Bên cạnh tên gọi có ghi thêm chức danh hoặc vị trí xã hội

Có 13 chức danh được ghi thêm vào 48 tên gọi của các thi nhân trong tác phẩm.

Thí dụ:

 “Phó Nội các中納言”, được ghi thêm vào trước tên gọi cho  3 thi nhân:  Phó nội các Yakamochi中納言家持, Phó Nội các Yukihira中納言行平và Phó Nội các Kanesuke中納言兼輔

“Tham nghị” được ghi vào trước tên gọi của 3 thi nhân: Tham nghị Takamura参議篁,Tham nghị Hitoshi参議等, Tham nghị Masatsune参議雅経

“Thái Thượng Hoàng” được ghi thêm vào sau tên của các thi nhân: Thái Thượng hoàng Yozei陽成院, Thái Thượng hoàng Sannyou三条院, Thái Thượng hoàng Sutoku崇徳院, Thái Thượng hoàng Gotoba後鳥羽院Thái Thượng hoàng Juntoku順徳院

C.      Không dùng tên gọi của thi nhân  mà thay vào đó là một ngữ định danh đặc biệt   

Có 25 thi nhân được gọi tên theo cách thứ 3 này. Chẳng hạn, với thi nhân Minamoto Toru, ông là tả đại thần của triều đình, hơn nữa, ông có một biệt thự nổi tiếng ở vùng Kawara, Kyoto nên ông được gọi theo chức danh và gắn với tên của nơi biệt thự là Tả đại thần Kawara   河原左大臣. Ở đây, không còn bóng dáng nào của họ tên ông nữa mà chúng được thay thế bằng những đặc điểm rất riêng, rất nổi tiếng, gắn kết với cuộc đời của thi nhân.

Trong 3 cách trên  thì các thi nhân nữ chủ yếu được gọi theo cách 3, cụ thể, họ được ghi danh vào Tác phẩm với các cách gọi có thể phân loại tỉ mỉ hơn như sau :

Bảng  2. Cách gọi tên các nữ thi nhân

TT

 

Thí dụ

1.                   

Theo cách gọi thông thường (2 người)

Ono no Komachi小野小町 (2), Sei Shounagon 清少納言(62)

2.                   

Cộng thêm chức danh, dòng tộc  vào  tên (2 người)

Thiên hoàng Jitou持統天皇(2),Công chúa Shokushi 式子内親王(60)

3.                   

Theo chức danh của bố

(3 người)

(bà Ukon右近(38)[3], bà Murasaki Shikibu紫式部(61), Con gái quan Chánh Cung Inpumon殷富門院太輔(90) 

4.                   

Theo nơi làm việc của bố

(3 người)

(bà Ise伊勢(19), bà  Suo no naishi周防内侍(67) , Akazome Emon赤染衛門(59) 

5.                   

 Kết hợp cả nơi làm việc lẫn chức danh công việc của  bố   (1 người)

Ise no Taifu伊勢の大輔(61

6.                   

Theo nơi làm việc của chồng (2 người)

Izumi Shikibu和泉式部(56), bà Sagami相模(65)

7.                   

Kết hợp cả chức danh  lẫn hạng bậc chức quan của chồng  (1 người)

Daini no Sammi  大弐三位(58).

8.                   

Gắn với tên mẹ và công việc của mình (1 người)

Koshikibu no Naishi  小式部内侍(60

9.                   

Gắn với chức vụ và  tên của  con trai ( 2 người)

Thân mẫu Đại Tướng Michitsuna 右大将道綱の母 (53) và Thân mẫu quan Tam cô Gidosanshi儀同三司母(54).

10.               

Gắn với tên của cung điện và chủ nhân của cung điện mà họ theo hầu  (4 người)

Bà Yuushi Naishi no Ki祐子内親王家紀伊 (67), Bà Taikemon in no Horikawa待賢門院堀河(80), Bà Bettto ở Kokamon in皇嘉門院別当(88)) Nijouin no Sanuki二条院讃岐(92) 

 

Qua bảng trên, ta thấy trong 21 người thì chỉ có 2 người được gọi theo cách 1, tức là theo cách gọi thông thường. Trong đó, có trường hợp bà Ono no Komachi thì là một nhân vật huyền thoại, người ta không rõ cả năm sinh năm mất của bà. Còn bà Sei thì mang họ của bố, Shonagon là chức Phó Nội các, phụ trách văn thư của triều đình nhưng không đúng với bà. Có thể người ta cho rằng ngọn bút và tài năng của bà tương đương với những vị quan như vậy chăng ? Còn lại có đến 19 người được gọi theo cách  2 và cách 3, tức là có gắn thêm các thông tin về dòng dõi, nơi chốn danh giá của mình, và trong đó, cách gọi 3 là cách phổ biến hơn cả và có thể chia chúng ra thành 7 kiểu tỉ mỉ hơn như ở trên. Qua đây, có thể thấy được cách nhìn nhận và đánh giá của F.Teika nói riêng và xã hội Nhật nói chung vào thời phong kiến với các phụ nữ nói chung. Dù họ là thi nhân, và là những thi nhân xuất sắc thời đó, nhưng  họ vẫn là phụ nữ, và đã là phụ nữ thì họ gắn kết với bố, với chồng và với con của họ. Họ cũng gắn kết với cả chủ nhân của họ trong Cung. Và những vinh quang của những người thân của họ đủ để khẳng định vị thế xã hội của họ, để cùng với họ tỏa sáng hơn nữa với tài thơ của mình.

2.2.  Những phác thảo về sự nghiệp văn thơ của các nữ thi nhân trong Tác phẩm

 Để được F. Teika lựa chọn một bài thơ đưa vào trong 100 bài thơ của 600 năm thi đàn thơ từ thời Cận đại đến thời Trung đại, các nữ thi nhân đều phải là những người khẳng định tên tuổi và sự nghiệp của mình trên thi đàn. Trước hết, các bài thơ này đã được các thế hệ trước sàng lọc và đưa vào trong 10 tuyển tập thơ trước đó ngay cả với chính những tác giả trong thời đại của ông, rồi đến lượt F. Teika,  ông lại tiếp tục tuyển lựa từ chính những sự sàng lọc và tuyển lựa trước đó.

 Phần lớn các nữ thi sĩ đều  xuất thân từ những gia tộc có tri thức, hoặc sống trong những môi trường có giáo dục về văn hóa nói chung và thơ ca, thẩm mĩ nói riêng. Bản thân họ cũng có tài năng, họ là những phụ nữ đẹp, quyến rũ về sắc và thu hút về tài. Trước hết, nói về gia tộc và tài thơ văn, có thể kể ra một số nét như sau :

Bảng 3 :   Tài thơ và sự nghiệp của các nữ thi nhân

Tác giả

 

Ono no Komachi  

 

Bà là nhà thơ nữ duy nhất được Kino Tsurayuki 紀貫之 xếp vào danh mục ‘sáu vị thần ca” đầu thời Heian và sau này được F. Kintou 藤原公任 đưa vào danh sách 36 nhà thơ xuất chúng tiêu biểu thời cổ đại.

Thơ của bà mềm mại và kiều diễm. Bà đã từng có thơ tình đối đáp với các tác giả Funyano Yasuhide  文屋康秀 (tác giả bài 22) và Souzouhenjou 僧正遍昭 (tác giả bài 12). Bà có khoảng 60 bài thơ được đưa vào trong các tuyển tập thơ của Triều đình, trong đó có 18 bài được đưa vào trong tuyển tập Kokin Shuu. Bà  có tập thơ riêng là Komachi shuu 小町集

 Ise

 

Bà được sánh ngang với tài thơ của Ki no Tsurayuki紀貫之 và Ono Komachi小野小町, là nữ thi nhân tiêu biểu của thời Kokinshu. Bà được F.kintou藤原公任 đưa vào danh sách một trong 36 vị thần ca của waka thời cổ đại. Bà có 180 bài thơ được đưa vào các tuyển tập của Triều định như Kokinshu và các tập thơ khác. Bà có tập thơ riêng là Ise-shuu伊勢.

 Ukon

 

Bà tham gia khá nhiều các cuộc thi thơ, kết thân với F. Atsutada敦忠 (tác giả bài 43), F. Asatada 朝忠 (tác giả bài 44) và các thi nhân nổi tiếng khác, để lại rất nhiều giai thoại trong Truyện cổ Yamato monogatari. Bà là một nữ thi nhân nổi tiếng trên thi đàn dưới triều Thiên hoàng Murakami村上天皇 (Thiên hoàng đời thứ 62), có 9 bài thơ được tuyển vào trong các tuyển tập thơ của Triều đình.

Thân mẫu Hữu Đại Tướng Michitsuna

Bà viết nhật kí đời mình trong tác phẩm Kagero Nikki 蜻蛉日記(Nhật Ký Phù Du). Bà có cô cháu gái gọi bằng dì là Sugawara no Takasue no Musume菅原孝標女, cũng là một nhà văn nữ có tài, tác giả tập Sarashina Nikki 更級日記 (Nhật Ký Sarashina). Đây là những tác phẩm nhật kí nổi tiếng trong dòng văn học nữ lưu thời đó.

  Izumi Shikibu

 

Bà cũng được coi là tác giả của quyển nhật kí nổi tiếng trong văn đàn cổ điển Nhật Bản là  Izumi Shikibu Nikki和泉式部日記. Bà có tuyển tập thơ văn riêng của gia đình lưu giữ là Izumi Shikibu Shuu和泉式部集.

Murasaki

 

Bà là nữ thi sĩ và là cây bút danh lưu danh muôn đời trong dòng văn học nữ lưu nói riêng và văn học Nhật Bản nói chung. Bà sinh ra trong một gia đình dòng dõi, học vấn uyên thâm. Thân phụ Bà rất có tài trong lĩnh vực thơ Hán và đã từng là Thống lĩnh vùng Etsuzen越前.  Được hưởng điều này từ dòng máu của mình nên ngay từ nhỏ Bà đã có tài sáng tác và thưởng bình thơ chữ Hán. Bà có tác phẩm Genji monogatari  源氏物語 (Truyện Genji) Nhật ký Murasaki Shikibu紫式部日記. Đây là những tác phẩm nổi tiếng trong dòng văn học nữ lưu và văn học cổ điển của Nhật Bản.

Akazome

 

Bà  là vợ của Oe no Masahira大江匡衡, một thi nhân và là một học giả về Hán họcCó thuyết cho rằng bà là tác giả tập truyện Eiga Monogatari 栄花物語(Truyện kiếp vinh hoa) nói về cuộc đời của Fujiwara no Michinaga.

Koshibu no Naishi

 

Bà được hưởng vẻ đẹp và tài thơ từ mẹ nên rất được các quan và các công tử trong Triều yêu chuộng. Nhưng không may, bà  lại chết trẻ, ra đi trước cả mẹ mình. Có lẽ vì thế mà bà đã không để lại được nhiều thơ để được đưa vào trong các Hợp tuyển sau này như các nữ thi sĩ khác thời đó.

 Ise no Taifu

 

Bà có 51 bài thơ được chọn vào tuyển tập Chokusen shu, là một tài thơ nữ xuất chúng thời đó. Bà cũng có tuyển tập thơ riêng của dòng họ là Ise no Taifu shu伊勢の大輔集

 Sei Shounagon

Là con nhà có học vấn cao nên từ sớm bà đã được giáo dưỡng và bộc lộ tài văn chương của mình và thường được nhắc đến cùng với tên tuổi của Murasaki Shikibu (theo hầu Hoàng hậu Shoshi) vì tài sắc ngang ngửa với Shikibu. Hai bà là 2 đại diện tiêu biểu cho dòng văn học nữ lưu, là những cây bút xuất sắc trong hậu cung.

 Bà là tác giả của tập tùy bút Makura no Soushi 枕草子và là một trong 36 vị Thần ca thời đó.

Sagami

 

Từ năm 1035, Bà bắt đầu  tham gia rất nhiều cuộc thi thơ và là một nhà thơ nữ đại diện cho dòng thơ nữ lưu vào giữa thế kỉ 11. Sau tập Goshuishu後拾遺集, bà có 108 bài thơ được tuyển chọn vào các tuyển tập thơ của Triều đình.

Suo no Naishi

 

Bà tham gia khá nhiều cuộc thi thơ. Là một trong 36  các vị thần ca của các quí bà nơi Hoàng Cung. Bà có 36 bài được lựa chọn vào trong các tuyển tập thơ của Triều  đình và cũng có tập thơ riêng Suou Naishi Shu. Là một trong những đại diện của dòng  văn học nữ lưu  thời Heian.

Yuushi Naishinnoke no Ki

Sinh ra trong một gia đình có cả anh và mẹ đều là các thi nhân về thơ waka, ngay từ nhỏ bà đã yêu thơ, thích làm thơ và để lại nhiều bài thơ diễm lệ.

 

Taikenmon-in no Horikawa

 

Bà có tham gia vào cuộc thi chọn 100 bài thơ do Thái Thượng hoàng Sutoku 崇徳院tổ chức. Bà có 65 bài thơ được đưa vào trong các tuyển tập thơ được tuyển chọn theo chiếu chỉ của Triều đình.

Bettô ở Kôkamon-in

Bà có tham gia vào khá nhiều cuộc thi thơ, có 2 bài được đưa vào Senzaishu 千載集và 2 bài được đưa vào Shin Chokusen Shuu 新勅選集và một số bài được đưa vào trong các tuyển tập thơ khác.

Công chúa Shokushi

Bà là nhà thơ nữ khá tiêu biểu trong thời Shin Kokin. Bà cũng có tập thơ riêng là Shikishi naishino shuu式子内親王集.

Bà Tai fu cung Inpumon-in

Bà được sánh ngang tài thơ với Sagami 相模(tác giả bài 65), là bạn thơ với Saigyo西行 (tác giả bài 86), Jakuren 寂蓮(tác giả bài 87) và Teika定家 (tác giả bài 97), xuất hiện nhiều ở các hội thi thơ, bình thơ, bản thân bà cũng đứng ra tổ chức các cuộc thi thơ. Bà  sáng tác và tự tuyển chọn thơ riêng cho mình là Inbumonin no taifu shuu殷富門院太輔集

Sanuki hầu hạ Thiên hoàng Nijô-in

Tiếp nhận ảnh hưởng và dòng máu thi ca từ người cha, bà là thi nhân xuất sắc thời đó. Bà tham gia khoảng 1500 cuộc thi thơ và là một  đại diện tiêu biểu cho các nữ thi sĩ cùng thời. Bà có tập thơ riêng là Nijouin Sanuki shuu二条院讃岐集.

 

 Waka (和歌) - một trong những thể loại  thơ tiêu biểu của người Nhật, tương đương với cách gọi “thơ quốc âm” trong tiếng Việt. Đây  là hình thức thơ được viết bằng hệ chữ kana, mỗi bài có số lượng 31 âm tiết, được phân ra thành các chuỗi ngữ đoạn có thứ tự 5-7-5-7-7 âm tiết.  Waka có một quá trình  thình thành và phát triển lâu đời cùng với bề dày của lịch sử đất nước Nhật Bản. Waka, về sau cũng được gọi là Tanka, được đối lập với thơ chữ Hán, là ngôn ngữ của người Nhật để nói lên tiếng nói tâm hồn của người dân Nhật. Chính những phụ nữ trong Hyakunin Isshu là những người có công đóng góp rất lớn cho sự phát triển chữ viết của tiếng Nhật, đưa thơ về với ngôn ngữ đời thường của người dân. Những vần thơ bất hủ cùng với sự nghiệp văn thơ của họ ở trên là những tấm bia lưu danh tên tuổi họ trong nền văn học và văn hóa Nhật Bản.

2.3. Một số giai thoại về những nữ thi sĩ đa tài và đa tình  

 Những bài thơ được tuyển lựa vào trong Tác phẩm Hyakunin Isshu đều gắn với những giai thoại còn lưu truyền đến tận ngày nay về tác giả hay chính bản thân tác phẩm của họ. Các thi sĩ không chỉ là những phụ nữ có tài. Có rất nhiều giai thoại về họ là những phụ nữ đẹp làm nghiêng ngả các đấng quan vương thời đó cả về tài thơ và những tình cảm mãnh liệt của mình.  Có thể kể ra một số giai thoại về một số tác giả và tác phẩm như sau :

1). Ono no Komachi : Bà được coi là một giai nhân tuyệt sắc của thời ấy. Bà đẹp đến nỗi bây giờ trong tiếng Nhật còn có thành ngữ komachi-musume 小町娘để chỉ một người con gái đẹp. Người đời sau còn truyền tụng rất nhiều giai thoại gắn với cuộc đời của bà, rằng bà đã từ chối lời cầu hôn của rất nhiều vị vương tôn công tử trong đó có thiếu tướng Fukakusa深草少将. Bà bắt ông phải đi lại nhà mình đủ 100 đêm nhưng ông chỉ đi được có 99 đêm nên chuyện không thành.  Nhưng cuối đời bà là một « hồng nhan bạc phận » và điều đó phản ánh vào trong tâm trạng thơ của một người buồn, cô độc, hiểu ra được sự phù du của kiếp sống :

Cả hoa đào cũng phai màu rực rỡ

Cả bóng mình cũng héo với thời gian

Bao đau khổ, buồn thương… chợt thành vô nghĩa

Trong mưa dầm và trước bụi thời gian

2) Thân mẫu Hữu Đại tướng Michitsuna 

 Trong Phả hệ đầu tiên về các dòng dõi ở Nhật 『尊卑分脉』Son pibunmyaku do Touin Kinsada biên tập vào thế kỉ 14, có ghi rằng, lúc đó bà là một trong 3 giai nhân tuyệt sắc của thời đó. Bà có dung mạo kiều diễm và tài thơ xuất chúng.

Trong tập Hyakunin Isshu, bài thơ của bà bộc bạch nỗi lòng đối với chồng mình là F.Kaneie藤原兼家. Trong quyển Nhật kí Kagero của mình, bà có chép rằng: Bà đã thức đợi chồng về suốt mấy đêm và thấy lạ khi ông không về. Sau đó, bà mới biết là ông đã đi lại với  người khác nên  rất giận. Khi ông trở về, gõ cửa, bà biết, nhưng mãi không chịu ra mở nên ông lại bỏ đi. Sau đó, bà đã làm bài thơ này để gửi tặng ông. Nhưng bài thơ không phải là một lời tạ lỗi mà là một bộc bạch tâm sự với người chồng đã có người tình mới về tình yêu và sự chờ đợi của mình.

Lại một đêm lòng ta cô quạnh

Khóc thương mình gối lẻ chăn côi

Chàng không đến đêm dài như bất tận

Nỗi niềm này có thấu tỏ người ơi!

3)  Bà mẹ và cô con gái : Izumi Shikibu và Ko Shikibu

Bà Izumi được coi là một phụ nữ “đa đoan” trong thời Heian, bà kết hôn, lần đầu là  với Tachibana no Michisada 橘道, Thống lĩnh vùng Izumi 和泉và sinh hạ được Koshikibu小式部  (tác giả bài 60). Sau đó, Bà theo hầu Hoàng Hậu Shoushi 昌子trong hậu cung của Thiên hoàng Ichijou 一条天皇và kết hôn với F.Yasumasa藤原保昌. Trong cuộc đời mình, bà đã từng yêu Hoàng thân Atsumichi 敦道và nhiều đấng vương thân khác.

Bài thơ được đưa vào trong tuyển tập  Hyakunin Isshu là bài thơ được coi là viết cho người chồng đầu tiên của bà, lúc bà đang nằm trên giường bệnh, nhớ về “một thời đã qua » của mình, và giờ  đây tình cảm với người chồng đầu tiên vẫn còn thắm đậm và càng trở nên nồng cháy hơn bao giờ hết:

Phút lâm chung về với cõi vĩnh hằng

Mong  gặp được anh thêm một lần thôi nữa

Làm hành trang  của một thời để nhớ

Của  kỉ niệm nơi này gắn mãi với hình anh

Còn về cô con gái của bà cũng có một giai thoại lưu truyền trong giới quí tộc thời đó như sau: Vì bà là con gái của Izumi Shikibu 和泉式部nên nhiều người đồn đại rằng thơ của bà đều do mẹ “gà” cho. Có một lần, khi  bà mẹ theo chồng sau là F. Yasumasa đi nhậm chức ở vùng Tango (nay là phía bắc tỉnh Kyoto) thì ở Kinh đô có một cuộc thi thơ, cô con gái  cũng được mời đến tham dự. Lúc đó, F. Sadayori藤原定頼 (tác giả bài 64), là một thi nhân danh tiếng, đi ngang qua, trêu chọc cô với ý là “được mẹ làm thơ hộ” cho như : “Không có mẹ ở đây cô có lo không? Việc nhờ mẹ ở Tango thế nào rồi? vv...”. Koshikibu định bỏ đi nhưng bị ông giữ lại. Vì thế, cô mới ứng khẩu làm bài thơ:

Vượt Ikuno, Oeyama mới đến vùng Tango

Núi cao, đường xa con chưa in dấu chân mình

Amano Hashidate con cũng nào đã tới

Mẹ ở xa vời vợi

Thư chưa kịp về như mong đợi của con.

 Việc phủ nhận tin đồn là ở tài khéo léo sử dụng  từ đồng âm đa nghĩa (kakekotoba): “fumi” trong câuまだふみもみず. Từ này vừa có nghĩa là “đặt chân đến” của động từ 踏むFumu, vì thế, khổ thơ có nghĩa là “chưa đặt chân đến vùng  mẹ ở” nhưng cũng có nghĩa là “thư từ” và khổ thơ đó lại có nghĩa là “chưa đọc thư mẹ gửi” (mẹ gà thơ).  Ngoài ra, từ Iku vừa chỉ địa danh Ikuno vừa có nghĩa là ‘đi” (đi đến vùng Tango nơi mẹ ở)

Ngoài ra, 3 địa danh ở Kyoto dẫn đến vùng Tango là Ikunoいく野, Oeyama大江山, Amano Hashidate天の橋立 đều được khéo léo lồng ghép vào trong một bài thơ là điều rất hiếm có.

Bài thơ vừa để nhẹ nhàng phủ nhận việc có mẹ giúp , vừa chứng tỏ tài thơ của mình. Bài thơ và giai thoại này sau đó được giới quí tộc lưu truyền mãi. Thật là mẹ nào con nấy!

4) Sei Shounagon 

  Bà và Murasaki Shikibu (theo hầu Hoàng hậu Shoshi) là 2 phụ nữ tài sắc ngang ngửa,  là 2 cây bút xuất sắc trong hậu cung đại diện tiêu biểu cho dòng văn học nữ lưu của Nhật.

Bài thơ được đưa vào trong tuyển tập Hyakunin Isshu có liên quan đến một điển tích của Trung Quốc trong Sử kí: vào thời Chiến quốc có Mạnh Thường Quân của nước Tề, khi bị nước Tần bắt, chạy trốn qua cửa ải Hàm Cốc lúc trời còn tối. Cửa ải này có qui định là phải có tiếng gà gáy báo sáng thì mới mở cổng thành, ông liền sai gia nhân giả làm tiếng gà gáy và nhờ thế cổng thành mới mở mà  thoát qua được.

Đây là một bài thơ ứng khẩu trong các sinh hoạt của Triều đình lúc đó. Trong Go shuishuu後拾遺集 có viết rằng: Sau khi chuyện trò đã khuya trong phòng thất của bà, quan Dainagon (quan Nhị phẩm, Phó 1 trong Nội các) F. Yukinari 藤原行成lấy cớ là ngày mai phải tham dự kì kiêng kị của Nội cung nên bỏ về. Sáng hôm sau, ông đến và nói lời xin lỗi rằng: “vì đêm qua nghe tiếng gà gáy nên phải về sớm, thật đáng tiếc...”, bà liền ứng khẩu bài thơ được dịch ra như sau :

Không có Thường Quân để qua Hàm Cốc

Trời đã sáng đâu mà giả tiếng gà

Ải tình đây còn chặt nhiều hơn thế

Khép lối đi về đâu dễ mà qua!

Cái hay của bài thơ là đã gắn được điển tích của cửa ải Hàm Cốc vào với cửa ải Ausaka vào Kinh đô và sử dụng biện pháp từ đồng âm khác nghĩa với nó là chỉ chuyện nam nữ gặp nhau (ải tình), Ngoài việc chỉ ra được cái cớ của người kia là không thật, tác giả còn tỏ ý thêm: “Cho dù anh có giỏi như Mạnh Thường quân, vượt qua được cả ải Hàm cốc  thì cũng khó mà vượt qua được cửa ải nơi đây”. Bài thơ cũng cho ta thấy kiến thức Hán học của bà trong việc sử dụng điển cố và tài làm thơ quốc âm của bà trong việc khéo léo đưa điển cố vào để nói chuyện mình.

5) Suou no Naishi

Vào một buổi tối mùa xuân, tháng 2 âm lịch, khi các bà các cô trong cung đang cùng nhau chuyện vãn trong cung của Hoàng hậu Shoushi章子 (vợ của Thái Thượng hoàng GoReizeiin) thì quan nữ Suo buột miệng lẩm bẩm: “muốn có một cái gối (để kê nằm) quá nhỉ”. Lúc đó, Quan Nhị phẩm F.Tadaie 藤原忠家đi ngang qua, nghe thấy thế mới chìa cánh tay ra dưới bức mành và nói “lấy cái này mà làm gối”. Nhân đó, bà  đọc bài thơ này.

Ngắn ngủi đêm xuân chuyện đùa vui

Như chuyện trong mơ qua nhanh thôi

“Gối tay” nào đã kề được gối!

Mà nhỡ mang danh khổ một đời!

Bài thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật tu từ kakekotoba (sử dụng từ đồng âm khác nghĩa) để chơi chữ: Từ “ Kaina” trong câu thứ 3  かひなく立たむ vừa có nghĩa là “dựng chuyện không đâu” vừa có nghĩa là “chìa cánh tay ra”. Trước việc ông F. Tadaie nói “lấy cánh tay làm gối” bà ứng đối ngay ra được bài thơ với cách nói này đã nhẹ nhàng tế nhị phản bác lại sự đùa cợt của ông một cách rất tài tình. Hơn nữa, với sự xuất hiện liên tiếp các từ “mùa xuân”, ‘buổi tối”, “giấc mơ”, “gối tay” là những “mĩ từ”, bài thơ khơi gợi không khí của cuộc sống nhung lụa, đài các nơi cung đình.

6) Yuushi Naishinnoke no Ki 

Bài thơ của bà Ki được đưa vào Tuyển tập là một trong những bài xếp trong cặp thơ tình sóng đôi đối đáp lại bài thơ của F. Toshitada藤原俊忠 (bố của F. Toshinari 藤原俊成và ông của F. Sadaie藤原定家):「人知れぬ思ひありその浦風に波のよるこそ言はまほしけれ」có nội dung là: Ta mang trong lòng một nỗi niềm không ai hay biết. Ta muốn kể chuyện mình vào buổi tối như cùng với gió những ngọn sóng cứ vỗ lên bờ vịnh Ariso.

 Đối lại bài này, bà viết bài thơ với nội dung: “Cũng giống như những ngọn sóng vô tích sự đánh lên bãi biển Takashi nổi tiếng chẳng làm ướt được ống tay áo của ta, ta cũng chẳng thèm để tâm đến những lời đồn đại về chuyện phong lưu của anh. Nếu ta để tâm vào những chuyện ấy, ta sẽ khóc đẫm ống tay áo mình mà điều ấy thì thật là chán, ta chẳng muốn thế đâu.”

Sóng có nghĩa gì đâu

Cứ vỗ hoài biển lớn

Chuyện phong lưu tình anh

Xin cứ trôi về biển

Em đâu để mình chìm

Trong sóng cồn của biển!

Tác giả đã dùng những phép đối rất đắt:

Vịnh Ariso荒礎>< Bãi Takashi 高師

Ari (trong Ariso, có nghĩa là “có”, vừa chỉ địa danh荒礎) và Yoru (cũng có nghĩa là “sóng vỗ”寄る, và cũng có nghĩa là “buổi tối”) >< Takashi  (vừa có nghĩa là “cao”- nghĩa từ vựng, vừa có nghĩa chỉ địa danh高師), kakeru (cũng có nghĩa là “đánh vào”掛ける)

Các từ cùng trường nghĩa: Vịnh, sóng, vỗ寄る >< Bãi biển, sóng, ướtぬれ

Đây được coi là một cặp bài “ăn ý”, đặc biệt là bài đối của bà Ki được coi là một bài đối hoàn hảo.

Lúc này, F.Toshitada 29 tuổi và Ki khoảng 17 tuổi nhưng cô đã bộc lộ một tài năng toả sáng. Tuy hai người không phải là cặp yêu nhau thật ngoài đời, nhưng cái dư vị của tình yêu mà họ gửi gắm vào trong thơ rất đặc sắc, làm rung động lòng người.

7) Taikenmonin no Horikawa

Bài thơ được đưa vào tuyển tập Hyakunin Isshu  là một bài trong số 100 bài thơ Kyuan Hyakuhsu 久安百首để dâng lên Thượng Hoàng Sutoku. Bài này được coi là bài đáp lại bài thơ ở dạng Kinuginu (bài thơ vào buổi sáng sau đêm nam nữ gặp nhau) của phía các quân vương gửi tặng. Đây là một trong những bài thơ tuyệt tác khi nói về sự mãnh liệt và nỗi bất an của tình yêu. Mái tóc của người con gái luôn đã là đề tài trong thơ, đặc biệt vào thời Heian thì “tóc đen” là một trong những yếu tố để đánh giá vẻ đẹp của người phụ nữ nên việc tác giả sử dụng hình tượng mái tóc đen bị rối sau một đêm “chia sẻ” với nhau quả là rất “đắt”, rất gợi cảm, sinh động và xác thực để nói về về tâm trạng ngổn ngang của người con gái khi không dám tin vào “Không biết tình anh có bền lâu được như anh nói không, nhưng sáng nay, sau khi ta gặp nhau và chia tay, em thấy lòng mình ngổn ngang bao ý nghĩ:

 Như tóc rối sáng nay

Em ngổn ngang trăm bề lo nghĩ

Bởi chẳng thể nào đo được tình anh!

8) Koukamonin no Betto

 Bài thơ của bà Betto nổi tiếng với các nghệ thuật chơi chữ trong bài. Đây là bài thơ làm theo chủ đề “Tình yêu gặp nhau nơi lều trọ”.

Để được cùng anh nơi lều cỏ Naniwa

Dù chỉ một đêm, mai này anh đi tiếp

Em nguyện dâng trọn đời hết kiếp

Đốt cháy mình trong khát vọng được yêu

Bài thơ cũng đã từng bị cho là “lạm dụng” nghệ thuật ngôn từ, dùng quá nhiều các biện pháp nghệ thuật như:

Jokotoba: định ngữ tự do: mở đầu bài thơ đến Ashi 難波江 (cây sậy ở vùng vịnh Naniwa) làm định ngữ cho phần Karine. 

Kakekotoba: biện pháp “chơi chữ”, sử dụng các từ đồng âm khác nghĩa:

(1). âm tiết Karine có thể viết bằng chữ Hán là 刈り根, có nghĩa là “chặt gốc sậy” và là 仮寝 , có nghĩa là “ngủ tạm qua đêm.

(2). âm tiết Hitoyo có thể viết bằng chữ Hán là 一節 , có nghĩa là “một khúc sậy được cắt ra” để liên kết với 刈り根 tạo nghĩa là :” ngắn ngủi như một khúc của cây sậy vùng Naniwa”, và cũng có thể viết là 一夜 , có nghĩa là “một đêm” để liên kết với cụm từ 仮寝 để tạo nghĩa: “một đêm ngủ tạm trong lều cỏ (trên đường du hành)”.

(3). âm tiết Mitsukushi có thể viết bằng chữ Hán là 澪標, có nghĩa là “những thanh gỗ cắm dọc đường đi vào vịnh làm biển hiệu cho tàu thuyền đi đúng luồng nước (không va vào đá tảng) vừa có thể viết là 身を尽くし, có nghĩa: hi sinh hết, dâng hết cả cuộc đời.

Engo:(sử dụng từ gợi liên tưởng trường nghĩa): từ Ninawa難波江 (vùng vịnh Osaka) gọi lên hàng loạt từ gắn với phong cảnh vùng vịnh như  ashi  (cây sậy), karine 刈り根 (gốc được cắt ra), hitoyo一節 (một khúc ngắn giữa 2 mắt), Mitsukushi澪標 (biển hiệu vào vịnh).

Tuy chỉ là một một tình yêu mong manh trên một chuyến du hành. Nhưng đối với người con gái thì sau đó, nàng đã cháy bỏng khát vọng được yêu và hiến dâng trọn cuộc đời cho tình yêu đấy. Thời đó, ở Osaka vốn có rất nhiều các quán trọ với các cô gái phục vụ hoặc các cô gái đi du hành đến xin việc và ngủ trọ. Tác giả đã đứng vào vị trí đó và nói về một tình yêu tuy thoáng qua phút chốc nhưng đã để lại dấu ấn trọn đời đối với một con người, một số phận như vậy.

9) Nijouin no Sanuki 

Bà được gọi là  “bà Sanuki của tảng đá nơi biển khơi” là ở bài thơ này:

Như tảng đá im lìm nơi trùng dương xanh thẳm

Mặc thủy triều lên xuống giấu mình riêng

Nước mắt em thấm đẫm tay áo nặng

Chỉ mình em biết với riêng em

Đây là bài thơ được sáng tác theo chủ đề “Tình yêu gửi gắm vào trong đá”, thể hiện nước mắt buồn của tình yêu làm cho ống tay áo không lúc nào khô được. Bài này cũng được làm theo thể thức Honkadori (lấy lại ý tưởng của một bài trước đây), dựa theo một bài trong tập thơ riêng của Izumi Shikibu 和泉式部 nói về ống tay áo không lúc nào khô vì người tôi yêu. Nhưng thay vì cách nói của Izumi chỉ là “tảng đá ở dưới nước”, ở đây, tác giả dùng hình ảnh “tảng đá ngoài biển khơi ngay cả lúc thủy triều rút đi mà vẫn không nhìn thấy được” làm cho bài thơ trở nên ý vị hơn. Với cách so sánh ống tay áo của mình như tảng đá ngoài biển khơi, giấu mình cả lúc thủy triều rút đi, và với các danh từ như “tảng đá ngòai khơi”, “người đời không biết được”, tác giả đã minh họa cho  tình yêu thầm kín của mình  bằng những hình ảnh rất cụ thể.

2.3. Chủ đề  thơ và những cung bậc tình cảm vang vọng, những nét đồng điệu trong tâm hồn nhìn từ góc độ thơ Việt.

21 bài thơ của các nữ thi sĩ nói về các chủ đề như dưới đây, trong đó thơ về tình yêu chiếm một tỉ trọng khá lớn :

Bảng 4. Các chủ đề thơ

Tác giả

Chủ đề - nội dung chính

Thiên Hoàng Jitou

Mùa hạ - Cảnh phơi áo ở núi Kaguyama

Ono no Komachi

Cuộc đời phù hoa – hoa anh đào

Ise

Tình yêu – tâm trạng oán trách

Ukon

Tinh yêu -  lời thề và sự phản bội

Thân mẫu Hữu Đại Tướng Michitsuna

Tình yêu – sự chờ đợi  suốt đêm (kinuginu)

Thân mẫu quan Gidou Sanshi

Tình yêu – sự bất an về hạnh phúc bền lâu

Izumi Shikibu

Tình yêu – cho thêm một lần cuối

Murasaki Shikibu

Tình bạn – vầng trăng

Daini no Sanmi

Tình yêu – nói về sự thay lòng đổi dạ

Akazome Emon

Tình yêu – sự chờ đợi – ánh trăng

Koshibu no Naishi

Thơ ứng khẩu – phủ nhận tin đồn qua chơi chữ

Ise no Taifu

Thơ ứng khẩu – Hoa anh đào – ca ngợi Hoàng Cung

Sei Shounagon

Thơ ứng khẩu –Tình yêu – điển cố Mạnh Thường quân

Sagami

Tình yêu –  khổ đau và danh tiếng

Suo no Naishi

Thơ ứng khẩu – Tình yêu – danh tiếng

Yuushi Naishinnouke no Ki

Tình yêu – nước mắt và ống tay táo

Taikenmon-in no Horikawa

Tình yêu – sự bất an

Bettô ở Kôkamon-in

Tình yêu – hiến dâng cả cuộc đời – du hành (Kinuginu)

Công chúa Shokushi

Tình yêu – sự đau khổ và giấu diếm

Con gái quan Chánh cung Inpumon-in

Tình yêu – nước mắt - ống tay áo

Sanuki hầu hạ Thiên hoàng Nijou-in

Tình yêu – nước mắt- ống tay áo – tảng đá trùng khơi

 

Nếu như Thiên nhiên và Tình yêu là 2 chủ đề lớn trong toàn tuyển tập Hyakunin Isshu[4] ,  thì ở đây, các nữ thi sĩ có đóng góp rất lớn để hình thành nên đặc trưng tiêu biểu như vậy của tập thơ này.

Chủ đề thiên nhiên chỉ có một bài duy nhất là của nữ Thiên Hoàng Tenji. Trong thơ waka nói chung, thiên nhiên thường được sắp xếp theo 4 mùa: Xuân – Hạ - Thu – Đông, và ở đây, bài thơ của nữ Thiên Hoàng thuộc về thơ mùa hạ.  

Đó là cảnh người dân phơi áo trên núi Yamano Kagu vào đầu mùa hạ. Cảnh đầu mùa hạ cũng là một trong những đề tài hay được nói đến trong thơ waka. Phơi áo vào đầu mùa hạ là một trong những phong tục của người dân núi Yamano Kagu.  Cũng có thể tác giả mượn lại ý tưởng này trong một bài thơ của tập thơ Manyoushuu, nhưng, mặt khác, tại cung điện Fujiwara no Miya của Thiên hoàng, có thể trông thấy núi Amano Kaguyama ở phía Đông Nam, nên cũng có thể nghĩ đến cả việc Thiên hoàng nhìn thấy cảnh phơi áo trên núi. Bài thơ nói lên cảm nhận về sự chuyển mùa lúc đầu hè: Đầu mùa hè, khi cây cối còn xanh tươi, màu áo trắng nổi bật lên trên màu xanh của cây cối, một cảm giác rất rực rỡ tươi sáng.

Bài thơ nhắc ta nhớ đến bức tranh về thiên nhiên trong bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, trong đó, cũng có những cảnh sắc chấm phá của thiên nhiên và cả cảnh người tiều phu xuất hiện, một hình ảnh gắn với cảnh núi rừng Việt Nam.

“Bước tới đèo ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Cả 2 nữ thi sĩ, qua ánh mắt và cảm nhận của con tim mình, đều vẽ nên những nét chấm phá về cảnh sắc núi rừng và thiên nhiên tươi đẹp và đều là những bài thơ sống mãi với thời gian trong lòng người dân của mỗi nước.

Hoa anh đào được nhắc đến trong  2 bài thơ với 2 cảm nhận khác nhau. Một là của bà Ise no Taifu, là bài tức cảnh, nói về một loài hoa quí, hoa mới được trồng ở Cung điện mới, rực rỡ. Đây  là một thời điểm của Hoa anh đào và là đặc trưng của Hoa đào nói chung. Tác giả đã mượn hình ảnh đấy để nói về sự hưng thịnh của triều vua Ichijou.

 Còn bài thơ thứ 2 là của Ono Komachi, tác giả cũng mượn hình ảnh Hoa anh đào, nhưng là vào thời điểm hoa tàn lụi, để nói về tuổi già của mình và kiếp sống nói chung.

Hoa anh đào là loại hoa tiêu biểu cho nước Nhật. Hoa anh đào đã đi vào thơ ca, văn học và văn hóa Nhật như một hình ảnh tượng trưng cho cái đẹp, đặc biệt là cái phù du của cuộc đời. Hai tác giả này, mỗi người một góc độ, nhưng cũng đã góp thêm những cái nhìn khác nhau trong chủ đề về hoa anh đào vào kho tàng văn hóa và văn học Nhật từ tài thơ của mình.

Hơn hết cả là chủ đề tình yêu xuyên qua rất nhiều các bài thơ. Có 17 bài trong số 21 bài nói về chủ đề tình yêu với những cung bậc khác nhau: Tình yêu một chút thoáng qua trên đường lữ hành của khách, ngủ với nhau một đêm rồi người con trai tiếp tục ra đi (bài số 88 của bà Betto), nhưng tình cảm của người con gái thì vô cùng mãnh liệt, nguyện dâng hết mình cho tình yêu đó;  tình yêu qua bao nhiêu sóng gió cuộc đời, qua bao nhiêu trải nghiệm với những cuộc tình khác nhau, nhưng đọng lại trong đời vẫn là “tình xưa nghĩa cũ”, trước lúc lâm chung vẫn quay về đau đáu chờ mong người cũ đến với mình để  “làm kỉ niệm” của kiếp sống nơi nhân gian (bài thơ số 56 của bà Izumi Shikibu). Bài thơ này gợi nhớ đến tình cảm của nghệ sĩ Xuân Quỳnh  trong tâm trạng chị nằm viện và viết bài thơ “Thời gian trắng” cho Lưu Quang Vũ:

“Ngoài cánh cửa với em là quá khứ

 gương mặt anh, gương mặt các con...”

  .... “Ngoài cánh cửa với em là quá khứ
       Còn hiện tại của em là nỗi nhớ”

 Quả là trước những nghịch cảnh trong cuộc sống, đứng giữa thời khắc cảm nhận sự chia lìa, với những hồn thơ vĩ đại, ta có thể bắt gặp sự đồng điệu trong tâm hồn họ, những cảm nhận rất phụ nữ, rất con người.!

Đó  là tình yêu  như “một khối tình con” không thể cứ để kéo dài mãi được trong tâm trạng lo lắng và giấu giếm mãi được, nó  mạnh hơn cả lí trí, chỉ còn phải “buông tay chấp nhận” cho mình thà chết đi, như sợi dây “ nếu đứt hãy đứt đi!”. (bài 89 của công chúa Shokushi); đó là tình yêu có  “nước mắt chảy trôi cả màu tay áo”,  là nước mắt của con tim yêu nên mạnh gấp ngàn vạn lần nước biển đánh lên ống tay áo của người ngư dân (bài 90 của bà Inpumonin no Taifu);  là tình yêu thiêng liêng, thầm lặng, thầm lặng như tảng đá nơi biển khơi (bài 92 của bà Sanuki); đó là tình yêu với tâm trạng chờ đợi vò võ suốt đêm thâu của Thân mẫu Hữu Đại tướng Michitsuna (bài 53), khắc khoải đợi chờ và oán hận (bài số 19 của Ise), đợi chờ đến lúc trăng mai lên (bài 59) của lời bà Akazome Emon, là tâm trạng bất an rối bời ngổn ngang muôn vàn ý nghĩ vì không biết tình anh có bền lâu được không? (bài số 80 của bà Taikenmonin no Horikawa), thậm chí bất an đến lúc muốn chết đi ngay trong lúc đang được yêu chiều để lời thề và tình yêu không thay đổi ở thế gian này của Thân mẫu quan Gidou Sanshi (bài 54). Dù cách nhìn nhận chung của bài thơ này có khác đi nữa, thì ở cái điểm không tin tưởng vào sự vĩnh viễn và viễn cảnh của tình yêu, chỉ hiện tại là đáng sống này, ta gặp lại 2 câu thơ bất hủ của  Xuân Diệu trong bài Giục giã :

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt

 còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”!

 Những bài thơ trên phần lớn là những bài thơ bộc bạch những xúc cảm của mình. Những người phụ nữ này đã cho thấy sự mãnh liệt trong tình cảm, sự tha thiết, sự hết mình cho tình yêu của họ và ở những điểm này, ta gặp đó đây những chia sẻ như vậy ở những nhà thơ lớn của Việt Nam.

 Tình yêu và sự thủy chung được bàn đến trong bài số38 của Bà Ukon và bài 58 của bà Daini no Sammi, nhưng những người phụ nữ này không oán hận, họ biết đứng lên ở sự cao thượng, một khía cạnh khác của tình yêu và sự hi sinh.

 Ta cũng thấy hình ảnh người phụ nữ Nhật mạnh mẽ trong bài thơ của bà Sei shonagon, am hiểu điển cố và sắc sảo ứng đối, bản lĩnh và  tài tình về câu chữ (bài 62), bà cho rằng  tình yêu nơi mình là một “cửa ải” không dễ vượt qua!

Cũng như vậy, trong bài số 72, bà Ki không chỉ giỏi đối đáp về câu chữ mà bộc lộ một tâm thế bản lĩnh không muốn để tâm vào những chuyện phong lưu của phía người con trai.

Với những bài thơ ứng khẩu trong đêm xuân của bà Suo về chuyện cái gối tay (bài 67) hay sáng tác theo chủ đề (bài 65 của bà Sagami), các phụ nữ Nhật cũng đều rất ý thức về ‘danh tiếng” của mình trong chuyện yêu. Họ có bản lĩnh của những phụ nữ đẹp và giỏi giang, và họ biết sử dụng nghệ thuật của con chữ, của thơ ca để bộc lộ những điều đó.

Cái bản lĩnh của phụ nữ và lại được phản ánh vào thơ như vậy, khiến ta nhớ đến nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương với những vần thơ thể hiện phong cách và bản lĩnh của một phụ nữ trong thời phong kiến với những bài thơ theo kiểu  “bà chúa thơ nôm” của bà.

Những cảm xúc của con người có thể tìm thấy ở nhiều thời gian và không gian, nhưng nếu chỉ là những sự nhạt nhòa, bình thường thì sẽ không đọng lại như những dấu ấn trong mỗi nền văn hóa, chỉ với những tâm trạng, xúc cảm thật tiêu biểu, điển hình mới trở thành những xúc cảm bất tử, sống mãi với thời gian. Hơn nữa, chúng lại phải được khắc họa bằng những ngôn từ, bằng biểu đạt tài hoa của người nghệ sĩ  mới trở thành những áng văn thơ bất hủ mọi thời đại.  Trong Hyakunin Isshu, dù là những tình cảm bộc bạch chân tình hay là thơ ứng khẩu, tức cảnh trong một tình huống bất ngờ, hay thơ để dự thi, các bà, các cô đều là những phụ nữ đẹp trong muôn mặt của tình yêu và những xúc cảm đó được đưa vào trong những vần thơ bất hủ với những ngôn từ, những luật thơ của đất nước và thời đại của họ, được sánh ngang tài thơ của các đấng quân vương, được sàng lọc để đưa vào là 21/100 thi sĩ tài hoa của đất nước Nhật Bản.

 Trong  lịch sử văn học Việt Nam, có 2 nữ thi sĩ lừng danh là Bà Huyện Thanh Quan婆縣清觀 (không rõ năm sinh năm mất) và Hồ Xuân Hương胡春香(1772-1822).  Tuy thời gian và không gian cũng như những điều kiện về kinh tế, chính trị xã hội có khác nhau, nhưng cũng có thể tìm ra được những nét tương đồng giữa họ với các nữ thi sĩ trong Hyakunin Isshu:  Họ  cùng ở trong xã hội phong kiến và đều là phụ nữ, và ở  xã hội Việt Nam, các bà cũng đều là những phụ nữ có học, con nhà gia thế, đều có chồng làm quan to. Hơn nữa, với Bà Huyện Thanh Quan, mặc dù bà  có tên thật là Nguyễn Thị Hinh,  nhưng bà vẫn được gọi theo chức danh và tên địa danh nơi chồng công cán, bà cũng có thời được vời vào Kinh để dạy học cho các công chúa và cung phi. Còn nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, cũng giống như các nữ thi sĩ Nhật đã đưa thơ waka phát triển mạnh mẽ hơn trong nền văn học Nhật, góp phần hình thành nên chữ viết của tiếng Nhật hiện nay, Hồ Xuân Hương được Vũ Quần Phương cho rằng  “Bà là nhà thơ bậc nhất trong việc làm giàu công năng của tiếng Việt. Tiếng Việt thật hơn và cũng kỳ lạ hơn trong thơ bà. Bà cho thơ Đường một cách diễn đạt Việt, phát huy được hết khẩu ngữ, tục ngữ, nói lái...của tiếng Việt. Có những âm trong tiếng nói thường ít dùng, khó dùng, vậy mà vào thơ bà lại thành thoải mái, đầy ý vị.” [4].  Cả Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương  đều là những thi sĩ tài ba, đẹp cả tài và sắc, đặc biệt, họ đều có vị trí rất đáng tự hào và sống mãi trong lòng người dân Việt Nam với những giai thoại về sắc đẹp, tình duyên và tài thơ của họ, về những đóng góp cho thi đàn và sự phát triển vẻ đẹp ngôn ngữ thi ca của dân tộc Việt.

Lời kết

21 nữ thi sĩ trong Hyakunin Isshu là 21 bông hoa đẹp trong vườn hoa ngàn vạn hương sắc của thi đàn Nhật Bàn thời Cổ đại và trung đại. Trong 100 thi nhân được lựa chọn vào trong Tác phẩm thì với 21 thi sĩ, con số đó không nhiều, nhưng cũng không phải là ít. Trong số đó, phần lớn họ đều  để lại cho hậu thế cả những sự nghiệp văn học lẫy lừng, nhiều người được đưa vào danh sách “36 vị thần ca” của thời cổ đại, thời trung đại và “36 vị thần ca của các quí bà, quí cô”, có thể coi họ là những đại biểu xuất sắc cho dòng văn học nữ lưu thời Heian và là niềm tự hào của thơ ca và của cả nền văn học và văn hóa của Nhật Bản. Ở Việt Nam, trong thời phong kiến, những điều kiện về kinh tế, xã hội chưa đủ để hình thành nên  dòng văn học nữ lưu với những tác gia, tác phẩm như của Nhật, vì vậy, qua hình ảnh các thi nhân này chúng ta hiểu thêm về nền văn học và văn hóa Nhật, về chiều sâu, độ cao và bề dày phát triển của một đất nước đã hun đúc, nuôi dưỡng những bà mẹ, bà vợ, những thi nhân tài hoa và chính họ lại đã góp phần sản sinh ra những thế hệ thi sĩ và nghệ sĩ, những người con tài hoa, hào kiệt nối tiếp cho đất nước Nhật Bản phát triển cho đến tận ngày nay. Đây là một kho tàng văn học và văn hóa của nhân loại, của một đất nước châu Á gần gũi chúng ta nhưng thật sự vẫn chưa đến được nhiều với độc giả và  văn học Việt Nam. Chúng ta  vẫn còn phải tiếp tục khám phá nhiều hơn nữa để có thể nắm bắt được tốt hơn, học hỏi được tốt hơn và hòa chung vào sự phát triển của văn học khu vực và thế giới.

Tài liệu tham khảo

1.       Suzuki Hideo, Hyakunin Isshu, Chikumabunko, 2004

2.       Suziki Hideo và các tác giả, Okura Hyakuni Isshu bản màu, Buneidou, 2004

3.       Miki yuki nobu,  Okura Hyakunin Isshu, chu giai và thưởng thức thơ, Kyoto shobou, 2004,

4.       Vũ Quần Phương, “Người Thăng Long - Hồ Xuân Hương: Hồn bản lĩnh, thơ tài năng”Báo Đại Đoàn kết, 24/10/2010

5.       Trần Thị Chung Toàn, Lại Hồng Hà, “Kokin shuu và những giá trị của tác phẩm trong dòng thơ dân tộc Nhật”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 12(94), 12/2008, Hà Nội, 2008

6.       Trần Thị Chung Toàn (dịch) Vườn thơ trăm hương sắc, Nxb Thế giới, 2010.



[1] Tiếng Nhật là Kuni, tương đương với một tiểu vương quốc của Triều đình

[2] Suzuki Hideo và các tác giả [2]

[3] Các con số để trong ngoặc đơn (  ) sau tên gọi chỉ tên tác giả ở số thứ tự bài trong 100 bài

[4] Chủ đề tình yêu có 43 bài và chủ đề thiên nhiên có 32 bài trong  100 bài của Hyakunin Isshu.