Sự phát triển của tiếng Việt văn học thế kỷ XVI qua cái nhìn đối sánh giữa "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi với "Bạch Vân quốc ngữ thi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

(Ảnh: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguồn: Google).

ĐẶT VẤN ĐỀ

 Nếu Quốc âm thi tập (QATT) phản ánh bước hội nhập tiên phong của tiếng Việt vào nền văn học bác học thì Bạch Vân quốc ngữ thi (BVQNT) của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là sự hưởng ứng, kế thừa đầy ý nghĩa đối với những thử nghiệm của người mở đường Nguyễn Trãi. Vẫn thấy rõ sự gần gũi giữa ngôn từ thơ Nôm trong QATT và BVQNT mà bằng chứng rõ ràng nhất là sự trùng lặp của một số bài thơ trong hai tập thơ này nhưng nhìn chung, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sáng, nhuần nhị, dễ hiểu hơn so với thơ Nôm Nguyễn Trãi. Điều này cho thấy tiếng Việt văn học đã có bước phát triển mạnh mẽ với ý nghĩa chuẩn bị cho sự phát triển đỉnh cao của văn học Nôm thế kỷ XIX. Để chứng minh cho ưu điểm của thơ Nôm trong BVQNT, nhất thiết phải có cái nhìn đối chiếu, so sánh với QATT ở phương diện lựa chọn, sử dụng các yếu tố ngôn từ thông qua quá trình khảo sát, phân tích các số liệu thống kê cụ thể như sau:

2. CÁCH SỬ DỤNG VÀ LỰA CHỌN NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM.

2.1. Từ Hán Việt

 Số lượng từ Hán Việt trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm giảm đáng kể so với số lượng từ Hán Việt trong thơ Nôm Nguyễn Trãi. Thống kê so sánh cho thấy trong 160 bài thơ đầu tiên của QATT có 538 từ Hán Việt trong khi 160 bài thơ của BVQNT chỉ có 321 từ Hán Việt[1]. Số liệu nêu trên không chỉ có ý nghĩa xác định phong cách nghệ thuật của tác giả mà còn phản ánh tình hình phát triển của chữ Nôm thế kỷ XVI khi loại chữ này qua thời gian đào luyện trong sáng tác văn học đã dần nhuần nhị, phong phú, tinh tế hơn, đáp ứng được nhu cầu miêu tả, biểu hiện của thi nhân. Tính chất cổ kính, xa xôi và ý nghĩa trừu tượng của từ Hán Việt khiến chúng trở nên khó hiểu và có phần xa lạ với tầng lớp bình dân. Vì vậy, khi sáng tác, bên cạnh việc giảm bớt loại từ này và tăng cường sử dụng vốn từ vựng tiếng Việt, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có xu hướng dùng những từ gốc Hán quen thuộc, phổ biến đến mức không cần phải giải thích gì thêm, người bình dân vẫn có thể hiểu được. Bảng thống kê dưới đây cung cấp vài số liệu cụ thể:

 

Từ Hán Việt

BVQNT

Số lần sử dụng

Bài thơ[2]

Anh hùng

6

28, 34, 40, 62, 119, 134

Công danh

16

9, 10, 15, 16, 18, 25, 32, 51, 70, 85, 109, 111, 125, 128, 129, 144

Nhân sinh

7

48, 109 (2 lần),  110, 144 (2 lần)

Phong Nguyệt

7

11, 45, 87, 117, 128, 143, 144

Phú quý

9

26, 40, 47, 73, 86, 87, 90, 141 (2 lần)

Thanh nhàn

8

31, 47, 84, 87, 90, 118 (2lần), 133

Tự tại

7

12, 14, 15, 23, 54, 66, 141

Vô sự

7

13, 19, 31, 42, 75 (2 lần), 90

Thế gian

6

40, 71 97, 132, 135, 147

 

Mặt khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có xu hướng cố gắng Việt hoá càng nhiều càng tốt các từ ngữ gốc Hán với mục đích tăng cường sự giản dị, tự nhiên của ngôn từ thơ, chẳng hạn:

- “Đòi thời đi đỗ mặc ai dầu” (9) (dịch từ chữ Hành chỉ)

- “Già mà luống phụ chí con trai” (14) (dịch từ chữ Chí nam nhi)

- “Được đạo thì hay đạo có mùi” (20) (dịch từ chữ đắc đạo)

- “Có dùng người trọng vì tài” (21) (Dịch từ chữ hữu dụng)

- “Đường tía đã qua bước ngại chen” (25) (dịch từ chữ tử mạch)

- “Được sủng xin chớ thờ ơ (27) (dịch từ chữ đắc sủng)

- “Vô sự chẳng hơn có sự ru (81) (dịch từ chữ hữu sự )

Việt hóa các yếu tố ngôn từ gốc Hán có thể dẫn đến hiệu ứng ngược khi câu thơ mất đi sắc thái trang trọng, uyên bác hoặc ý nghĩa triết lý hàm chứa trong từ ngữ lấy từ kinh sách Nho gia. Tuy nhiên, trong những trường hợp nêu trên, cần xét đến mục đích đáng trân trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong việc “đại chúng hóa”, “:bình dân hóa” ngôn từ thơ Nôm để tăng cường sự phổ biến, tầm ảnh hưởng, tác động giáo dục sâu rộng của tác phẩm.

2.2. Điển cố

 Số lượng điển cố trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ít hơn thơ Nôm Nguyễn Trãi. Thống kê cho thấy, trong 160 bài thơ đầu tiên của QATT, Nguyễn Trãi sử dụng đến 112 điển cố, trong khi toàn bộ BVQNT có 92 điển cố. Trừ một vài trường hợp đặc biệt, như bài 68 sử dụng đến 4 điển cố, còn lại, hiện tượng phổ biến là các bài thơ chỉ xuất hiện 1 hoặc 2 điển cố. Mặt khác, xu hướng phổ biến trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là vận dụng điển cố một cách sáng tạo, hoà nhập nhuần nhuyễn vào câu thơ bằng cách Việt hoá điển cố hoặc chỉ sử dụng một chi tiết, hình ảnh trong câu chuyện liên quan đến điển cố. Bài thơ Nôm 73 dẫn điển giấc mộng Nam Kha rất khéo léo khi Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ miêu tả cảnh ông ngồi tựa cội cây, uống rượu và nhìn đời ảo mộng:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Cách dùng điển ẩn rất khéo nếu ta so sánh với Nguyễn Trãi khi viết: “Ba chục năm trời danh tiếng hão- Ngoảnh đầu muôn việc giấc Nam Kha[3] hay Nguyễn Gia Thiều viết: “Giấc Nam Kha khéo bất bình- Bừng con mắt dậy thấy mình chiêm bao” (Cung oán ngâm).

Từ điển “Bạch câu quá khích” lấy từ Nam Hoa kinh (Trang Tử), ý nói thời gian trôi nhanh như bóng ngựa qua khe cửa, Nguyễn Bỉnh Khiêm gần như dịch lại và chỉ dùng hình ảnh “bóng ngựa qua” để gợi nhắc một cách kín đáo trong trường hợp sau:

“ Tuổi đã ngoại tám mươi già’

Thoăn thoắt xem bằng bóng ngựa qua” (Thơ Nôm- 14)

Từ điển “Bạng duật trương trì, ngư ông đắc lợi” (Trai cò đánh nhau, ngư ông hưởng lợi) trong Chiến quốc sách, Nguyễn Bỉnh Khiêm vận dụng thành:

“Duật nọ mựa còn đua với bạng

Lươn kia hầu dễ kém chi cò” (Thơ Nôm- 72)

Dẫn câu thơ cổ “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”, Nguyễn Bỉnh Khiêm dịch lại thành một câu thơ thuần Việt khá trong sáng, dễ hiểu khi khuyên răn người ham mê sắc đẹp:

“Cẩn cho hay, chẳng phải chơi

Sắc xem dường sóng dễ xiêu người” (Giới sắc).

 Với cách dùng điển cố hạn chế, chọn lọc và sáng tạo như vậy, ngôn từ nghệ thuật thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc chắn sẽ dễ hiểu, gần gũi hơn và vì vậy, hiệu quả phổ biến cũng sâu rộng hơn.

2.3. Từ láy

 Số lượng từ Hán Việt và điển cố trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm giảm so với QATT của Nguyễn Trãi nhưng số lượng từ láy lại tăng. Thống kê 160 bài đầu tiên trong QATT, thu được 140 lượt từ láy được sử dụng, trong khi  BVQNT có 150 lượt từ láy được sử dụng. Số lượng chênh lệch không đáng kể nhưng dù sao vẫn phản ánh được mức độ quan tâm, sự kế thừa và phát huy vốn từ láy phong phú trong hệ thống từ vựng thuần Việt của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lớp từ này rất giàu sắc thái miêu tả, biểu hiện, lại gợi vẻ đẹp sinh động, gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Vận dụng chúng, Trạng Trình đã viết được những câu thơ Nôm giản dị nhưng giàu sắc thái tạo hình, biểu cảm. Trong những dẫn chứng tiêu biểu dưới đây, sức mạnh và hiệu quả của từ láy là biểu hiện được một cách cụ thể, sinh động âm thanh vang vang của tiếng cười, hát sảng khoái hay cảm giác thích thú, tâm đắc khi thưởng thức câu thơ, chén rượu trong đời sống ẩn dật thanh cao; ánh sáng trong ngần của vầng trăng đêm hay tiếng gió nhẹ thoảng qua ngoài khung cửa sổ; sự gập ghềnh, trắc trở của đường đời hay sự tráo trở ngoa ngoắt của lòng người:

- “Đèo núi vỗ tay cười khúc khích

Rừng thông vắt cẳng hát nghêu ngao” (Thơ Nôm- 143)

- “Vếu váo câu thơ cũ rích

Khề khà chén rượu hăng xì” (Thơ Nôm- 84)

-“Trăng vằng vặc soi lòng đạo

Gió hiu hiu vỗ cửa Nho” (Thơ Nôm- 105)

-“Quanh queo thay bấy ruột ếch

Khúc khuỷu làm chi quả hoè” (Thơ Nôm- 111)

- “Tiền ròng bạc chảy tưng bừng đến

Nhà khó, tay không linh lỉnh đi” (Thơ Nôm- 102)

Mặt khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất hạn chế sử dụng những từ láy mang nhiều dấu vết của lớp từ cổ hoặc từ gốc Hán dễ tạo cảm giác khó hiểu. Chẳng hạn, một số từ láy sau đây được dùng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi nhưng không thấy xuất hiện trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm[4]: Bủi bủi (41), dặng dặng (4), khăn khắn (127), khô khao (66), khóng khảy (106), lầm cầm (141), lẳng đẳng (29, 45), lọt lọt (36), lểu thểu (3, 61), lưới thưới (68), nàm nàm (97), pháo phúc (138), quyền quyền (111), thê thê (109) trọc trọc (156), tranh tranh (123) thon von (87), vả vê (155),… 

Ngược lại, một số từ láy sau đây không thấy xuất hiện trong thơ Nôm Nguyễn Trãi nhưng lại được dùng rất thành công trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm: ngọt ngọt (3, 4), tanh tao (58, 65), khúc khích (83, 143), nghêu ngao (83, 133, 143), tả tơi (74), vòi vọi (6), vời vợi (7), vằng vặc (1, 105)…

Thực tế trên cho thấy thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế thừa được những kiểu tạo lập và sử dụng từ láy đặc sắc trong thơ Nôm Nguyễn Trãi nhưng phát huy hơn nữa sự trong sáng, giản dị của ngôn từ thơ bằng cách sử dụng những từ láy thuần Việt dễ hiểu và gạn lọc bớt những từ láy chịu ảnh hưởng của từ cổ hay từ gốc Hán.

2.4. Từ bình dân 

Vốn từ bình dân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng được sử dụng phong phú hơn so với thơ Nôm Nguyễn Trãi. Qua khảo sát so sánh, có thể thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bổ sung một số lượng lớn từ ngữ lấy từ đời sống hàng ngày vào kho từ vựng thơ Nôm. Chẳng hạn, những từ ngữ liệt kê dưới đây có thể tìm thấy trong BVQNT nhưng không thấy xuất hiện trong QATT:

            + Động từ: dòm (18), vắt (cẳng) (83, 143), nhá (rau) (89), nếm (ếch) (89), nguýt (112), gièm (112), bòn của (149)…

            + Tính từ: rẻ mạt (52), chua ủng (77), khôn lỏi (77), cũ rích (84), hăng xì (84), ngây si (94), đắng giốt (101), cóc bùi (101), áy (đất) (104),..

            + Danh từ, ngữ danh từ: nhện (26), ruồi (26, 43, 53, 57, 65, 115), kiến (43, 53, 57, 65, 75, 115), (75), bò cái (106), mật mỡ (53), mồi cá (62), dê chó (124), cóc khô, rùa mốc (134), ang (53, 57), bé vú, cả vú (112), cá tôm, củi đuốc (35)… 

            Những bài thơ viết về cuộc sống ẩn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm nơi làng quê, gắn bó với ruộng đồng, cây cỏ, với những công việc lao động, những thú vui, sinh hoạt đời thường, những món ẩm thực dân dã chính là môi trường tốt nhất để vốn từ bình dân hội nhập vào thơ ca bác học một cách phóng khoáng, tự nhiên và phong phú đến vậy. Trong những dẫn chứng tiêu biểu dưới đây, lời thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm dung dị, mộc mạc như lời nói thông thường, một kiểu nói bình dân, thô ráp nhưng gân guốc, sắc sảo khi đúc kết chân lý, quy luật của cuộc đời:

- ‘Người hàng thịt nguýt người hàng cá

Đứa bán bò gièm đứa bán trâu

Bé vú thở than người cả vú

Ít râu ánh ỏi kẻ nhiều râu” (Thơ Nôm- 112)

- “Thịt chó, chó ăn, loài chó dại

Lông chim, chim tiếc, ấy chim khôn

Bò đàn những bạn cái bò cái

Cá cả mong ăn con cá con” (Thơ Nôm- 106)

            Các từ xưng hô, từ chỉ nơi chốn đậm chất khẩu ngữ xuất hiện khá phong phú trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng góp phần tạo nên một giọng thơ hồn hậu, chắc khoẻ, sảng khoái, một cách nói mộc mạc nhưng không kém phần thi vị:

- “Cá tôm tối chác bên kia bến

Củi đuốc ngày mua né nọ đèo”  (Thơ Nôm- 35)

- “Đây cậy, đây khôn đây chẳng chịu

Đấy rằng, đấy phải, đấy không thua” (Thơ Nôm- 72)

- “Một am phong nguyệt, tớ vui tớ

Hai chữ công danh, ngươi mặc ngươi” (Thơ Nôm- 144)

2.5. Thành ngữ, tục ngữ

    Dấu ấn của thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đậm nét một phần do nhu cầu thể hiện những suy tưởng, trải nghiệm giàu chất triết lý, thế sự còn một phần khác lại chịu ảnh hưởng từ phong cách diễn đạt dung dị trong xu hướng bình dân hoá ngôn từ thơ ca của Trạng Trình. Tục ngữ vốn đã là tinh hoa của tư duy dân gian được trình bày trong cấu trúc ngôn từ suy lý sắc gọn, đúc kết kinh nghiệm, quy luật đời sống trong khi thành ngữ lại là cách nói giản dị, sinh động, giàu hình ảnh, giàu sức liên tưởng, định hình qua hoạt động giao tiếp ngôn ngữ trong môi trường bình dân. Chúng rất phù hợp khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cần vận dụng để trình bày những vấn đề triết học trừu tượng, những suy tư sâu sắc về nhân tình thế thái,.. trong dạng thức ngôn từ đăng đối nhưng vẫn gần gũi, dễ hiểu với đại chúng. Có thể tìm thấy dấu ấn của thành ngữ, tục ngữ khá rõ trong những câu thơ dưới đây nhưng chúng được vận dụng lại một cách linh hoạt, sáng tạo, cứ như những lời nói dân dã, thuận miệng thành thơ, không cần tu sức, bóng bẩy:

- “Gần son thì đỏ, mực thì đen

Sáng biết nhờ ơn thửa bóng đèn[5] (Thơ Nôm- 70)

- “Cáo mượn oai hùm mà nát chúng

Ruồi nương đuôi ký luống khoe người[6] (Thơ Nôm- 98)

- “Trời còn đấy, đất còn đấy

Bể cạn non dời, cạn lại sâu[7] (Thơ Nôm- 103)

- “Nhà dột bởi đâu? Nhà dột nóc

Nếu nhà dột nóc thế chon von[8] (Thơ Nôm- 106) 

- “Vuốt mặt còn chừa qua mũi nọ

Rút dây lại nể động rừng chăng[9] (Thơ Nôm- 89)

- “Dài ống tròn bầu ấy khá chiều

Há rằng lận, há rằng kiêu?” (Thơ Nôm- 96)

Nguyễn Bỉnh Khiêm còn tìm cách Việt hoá các thành ngữ gốc Hán khi sử dụng trong thơ Nôm, không phải bằng cách dịch máy móc mà bằng một lối “phóng tác” thoải mái dựa trên cơ sở nghĩa gốc của cấu trúc nhưng thay đổi phần lớn các dữ liệu căn cốt trong thành ngữ để gần gũi với người Việt Nam. Chẳng hạn, thành ngữ “thương hải tang điền” với lớp nghĩa đúc kết quy luật biến đổi đáng sợ của cuộc đời dựa trên hai hình ảnh cốt lõi: biển xanh hoá thành ruộng dâu. Tuy nhiên, trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, các dữ liệu gốc Trung Hoa đã bị Việt hoá hoàn toàn thành:

- “Vũng nọ ghê khi làm bãi cát

Doi kia có thuở lút hòn Thai” (Thơ Nôm- 2)

- “Thế gian cải vũng nên doi” (Thơ Nôm- 71)

Với thành ngữ “Sinh ký tử quy”, ông chỉ giữ lại nửa đầu, dịch nghĩa rồi gắn với chữ “nhân sinh” cho rõ ý để viết thành câu thơ giản dị, linh hoạt nhưng không kém phần thâm trầm :

“Làm người chen chúc nhọc đua hơi

Chẳng khác nhân sinh ở gửi chơi” (Thơ Nôm- 48)

Các kiến trúc đối được thực hiện trên cấp độ câu thơ hoặc một ngữ đoạn trong câu thơ cũng được chú ý sử dụng phổ biến trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, bởi nhà thơ triết học này đặc biệt quan tâm đến những cặp phạm trù đối lập phản ánh quy luật vận động của thế giới và đời sống. Hưng- vong, được- mất, giàu- nghèo, sang- hèn, dại- khôn,… những yếu tố này khi được đưa vào kiến trúc đối cũng mang dáng dấp của những câu thành ngữ, tục ngữ cô đọng, hàm súc, nhằm đúc kết chân lý, quy luật của lịch sử và nhân sinh: “Giàu cơm thịt/ khó cơm rau” (4), “Già càng khoẻ/ khó càng bền” (97), “Được chăng háo/ mất chăng âu” (28), “Chê người vắn/ cậy ta dài” (39), “Dầu được/ dầu thua” (40), “Giàu người họp/ khó người tan” (46), “Người hơn/ ta thiệt”- “Đấy thẳng/ đây chùng” (59), “Dầu trí/ dầu ngu” (61), “Giàu thì tìm đến/ khó tìm lui” (71), “Người ba đấng/ của ba loài” (79), “Chẳng khôn/ chẳng dại” (92), “Có dại/ có khôn” (94), “Chớ cho đục/ chớ cho trong” (104), “Giàu chê khó/ khó chê giàu” (111), “Khó chẳng âu/ giàu chẳng muốn” (119), “Phú quý lòng/ phú quý danh” (141), “Người gồng gánh/ kẻ lầm than” (142),…

Những kiến trúc đối xứng còn tạo các ngữ cố định quen thuộc rất sinh động, nhằm miêu tả một khung cảnh thiên nhiên bao la, trong sáng, hài hoà hay một nếp sinh hoạt đời thường nơi làng quê: “Khuya nằm/ sớm thức” (3), “Vun thông/ tưới cúc”- Chở lửa, hâm trà” (4), “Cày mây/ cuốc nguyệt” (17), “Bàn cờ/ cuộc rượu”- Bó củi/ cần câu” (29), “non xanh/ nước biếc” (37) (84) (116), “cày ăn/ đào uống” (50), “No lòng/ ấm cật” – “Gối vác/ nằm sương” (61), “Trăng thanh/ gió mát” (84), “Sao dời/ vật đổi” (99), “Thước bay/ cá nhảy”- “Thỏ dãi/ ô vần” (114), “Đêm thanh/ nguyệt bạc” (116), “Thuyền phong nguyệt/ gánh yên hà” (117), “Mây quyến khách/ nguyệt vô tình” (140),…

3. KẾT LUẬN

Hạn chế sử dụng từ Hán Việt và điển cố nhưng tăng cường sử dụng từ láy, từ bình dân, thành ngữ, tục ngữ; tìm cách Việt hoá từ ngữ, điển cố, thành ngữ Hán Việt; .. đó là những giải pháp tích cực giúp thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm vận động theo hướng bình dân hoá, một kiểu lựa chọn phù hợp với nhu cầu phản ánh tâm tình của người chủ yếu sống đời ẩn dật ở làng quê. Thực tế này cũng khẳng định sự tương đồng giữa thơ Nôm Nguyễn Trãi với thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều bình diện nhưng, quan trọng hơn, nó cho thấy rõ sự phát triển của tiếng Việt văn học ở thế kỷ XVI và vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người kế thừa, phát huy xuất sắc những thành tựu của dòng thơ quốc âm thế kỷ XV để trên cơ sở đó, tạo nên “một bước tiến, một dấu gạch nối giữa thơ Nôm thế kỷ XV và thơ Nôm thế kỷ XVII”[10]  

 

                                                                                                                                                    Nguyễn Kim Châu

                                                                                                           Khoa Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Cần Thơ 

 



[1] Những số liệu thống kê này không bao gồm số lượng các từ đơn. 

[2] Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đa số không có tựa đề ở từng bài mà chỉ được đánh số thứ tự. Vì vậy, trong bài viết, chúng tôi chỉ giới thiệu số thứ tự của bài thơ căn cứ nhất quán vào văn bản “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm”-  NXB Văn học, Hà Nội, 1997

[3] Nguyên văn: “Tạp tải hư danh an dụng xứ- Hồi đầu vạn sự phó Nam Kha”- Loạn hậu cảm tác

[4]  Để tiện trình bày, chúng tôi không nêu tựa đề bài thơ mà chỉ chú thích các số trong ngoặc đơn để chỉ vị trí bài thơ theo thứ tự sắp xếp trong Quốc âm thi tập. Văn bản lấy từ nguồn tài liệu “Nguyễn Trãi toàn tập tân biên” tập III- Trung tâm nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2001

[5] Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

[6] Cáo mượn oai hùm- Ruồi nương đuôi ký

[7] Biển cạn non mòn

[8] Nhà dột từ nóc

[9] Vuốt mặt nể mũi- Rút dây động rừng.

[10] Đinh Gia Khánh- Lời giới thiệu “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm”-  sđd, trang  64

Thông tin truy cập

43469939
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
1677
11609
43469939

Thành viên trực tuyến

Đang có 257 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website