Tìm kiếm danh phận (trích)

Với nhận thức khi một giá trị văn hóa nào đó lấn át các giá trị khác thì sẽ không có xã hội hài hòa hạnh phúc, tác giả Nguyễn Văn Trọng, qua bài viết này, muốn thử xem xét một giá trị văn hóa lâu đời của người Việt vốn xuất hiện từ xa xưa do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa-chính trị đặc thù của nước ta: sự tìm kiếm danh phận.

Trước các hiện tượng suy đồi văn hóa trong xã hội nước ta hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy hệ thống giá trị văn hóa của ta có vấn đề. Một số người muốn hệ thống lại những thói hư tật xấu của người Việt, phản tư nhìn nhận ra những khuyết tật cố hữu của cộng đồng đặng tìm cách khắc phục chúng. Tuy nhiên cách tiếp cận này khó đem lại kết quả mong muốn, vì khi cái xấu được vạch ra trần trụi thì không ai thấy mình có dính líu đến chúng mà chỉ nhìn thấy chúng ở những người khác. Vả chăng thói hư tật xấu của con người đều mang tính phổ quát, nên có thể thấy chúng biểu hiện ra ở nhiều nền văn hóa khác nhau. Cái xấu chỉ thật sự nguy hiểm khi nó khoác áo một ý tưởng biện minh cho một giá trị văn hóa nhất định. Thế nhưng đối với con người xã hội, giá trị văn hóa không phải duy nhất có một thứ mà là nhiều thứ tốt đẹp khiến người ta phải theo đuổi chúng. Triết học cổ điển phương Tây ngầm giả định rằng những giá trị văn hóa khác nhau không mâu thuẫn với nhau mà hòa hợp với nhau trong một lời giải đáp lý tưởng tổng thể cho xã hội loài người. Triết gia người Anh Isaiah Berlin (1909-1997) trong các công trình nổi tiếng của mình đã chứng minh rằng thực tế không phải như vậy: các giá trị văn hóa có thể không tương thích và xung đột với nhau; khi một giá trị nào đó lấn át các giá trị khác thì sẽ không có xã hội hài hòa hạnh phúc(1). 

Với nhận thức như vậy ta thử xem xét một giá trị văn hóa lâu đời của người Việt vốn xuất hiện từ xa xưa do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa-chính trị đặc thù của nước ta: sự tìm kiếm danh phận.

Tìm kiếm danh phận trong quá khứ

Thời kỳ Bắc thuộc nước ta được cai trị như một quận huyện thuộc vùng sâu vùng xa của Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa cử các thái thú đến cai trị. Tình thế ấy khiến những người bản địa cảm thấy bị khinh miệt, bị coi thường bởi các ông quan đến từ phương Bắc, dù trong số những viên thái thú người Hán cũng có những người cai trị tốt được sử sách Việt Nam ca ngợi như Tích Quang, Nhâm Diên triều Hán Quang Vũ. (2) Tình trạng này đã khiến cho Thứ sử Lý Tiến (năm 200) dâng lời tâu lên vua Hán: “Khắp cả thiên hạ đều là bề tôi của vua, thế mà nay làm quan ở triều đình đều là sĩ phu ở Trung Châu cả, chưa từng khuyến khích người ở xa”. Đại Việt sử ký toàn thư (gọi tắt là Toàn thư) nhận xét: “Lời lẽ thiết tha cảm động, lại viện dẫn nhiều bằng chứng.” Toàn thư kể tiếp chuyện Lý Cầm, một túc vệ đài người Việt, rủ 5, 6 người đồng hương, giữa ngày đầu năm các nước triều hội, đến quỳ lạy ở sân điện tâu rằng: “Ơn vua ban không đều”. Hữu ty hỏi vì cớ gì? Cầm nói: “Nam Việt ở xa không được trời che đất chở, cho nên mưa ngọt không xuống, gió mát không đến”. Lời ý khẩn thiết đau đớn. Vua Hán xuống chiếu yên ủi, lấy một người mậu tài nước ta làm Huyện lệnh Hạ Dương, một người hiếu liêm làm Huyện lệnh Lục Hợp (Cầm là người Giao Châu).(3)
 
Phải trải qua nhiều thế kỷ ý thức tự chủ dân tộc dần dần mới hình thành, được khẳng định trong “tuyên ngôn độc lập” “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” của Lý Thường Kiệt, rồi được phát triển trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Mặc dù vậy, trong động cơ khởi nghĩa của Lê Lợi ta vẫn nghe thấy tiếng gào thét đòi danh phận của một người bị bọn ngoại bang coi thường. Toàn thư ghi lại điều này:

-    Vua từng bảo mọi người:

Ta cất quân đánh giặc, không phải là có lòng ham muốn phú quý, mà chính vì muốn để ngàn năm về sau, người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược.


Bậc trượng phu sinh ra ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến?” 

Sau khi thành công rồi vị trang chủ vùng núi Lam Sơn - Lê Lợi - cảm thấy không yên tâm với các công thần tài giỏi xuất thân quý tộc như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi. Năm 1427 Lê Lợi đại hội định công ban thưởng cho tướng sĩ. Toàn thư ghi nhận: “Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; tư đồ Trần Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái bảo; đều được phong quốc tính.”(5) Năm 1429 Lê Lợi giết Trần Nguyên Hãn. Năm 1431 giết Phạm Văn Xảo. Toàn thư giải thích như sau: “…Thái tổ khi về già có nhiều bệnh, lại thêm Quận vương [Tư Tề] ngông cuồng, bậy bạ, vua thì còn trẻ thơ, mà Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều có công lao giúp nước, rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu nhà Trần và Văn Xảo cũng là người kinh lộ, lo rằng sau này họ có chí khác, nên bên ngoài thì đối xử theo lễ tiết hậu, nhưng trong lòng lại rất ngờ vực hai người…”(6) 

Nhưng đối tượng đe dọa vương quyền của nhà vua đâu chỉ có các công thần. Các con của nhà vua đều đăm đăm nhìn vào ngai vàng của vua cha với khát vọng được truyền ngôi. Quận vương Tư Tề bị giáng làm thứ dân. Các cuộc tranh đoạt ngôi vua của các cháu nội Lê Lợi: Bang Cơ, Nghi Dân, Khắc Xương, Tư Thành diễn ra thật khốc liệt. 

Có ngoại lệ nào trong lịch sử nước ta hay không? Tôi nghĩ rằng vương triều nhà Trần ở nước ta là một ngoại lệ tích cực. Vương triều Trần đoạt được ngôi vua từ Triều đình nhà Lý đã suy đồi bằng các thủ đoạn vô đạo đức của Trần Thủ Độ theo kiểu mục đích biện minh cho phương tiện. Thế nhưng ông vua khởi đầu của nhà Trần - Trần Thái Tông – lại là một người khá nhân văn, không coi danh phận làm vua là giá trị tuyệt đối. Trước những việc làm thất đức của Thủ Độ, Thái Tông trốn khỏi kinh thành lên núi Yên Tử. Thủ Độ phải dẫn các quan lên Yên Tử ép vua trở về kinh thành. (7) Toàn thư cũng ghi lại một chuyện xảy ra sau khi Thái Tông đã truyền ngôi cho con và trở thành thái thượng hoàng:

Mùa đông, tháng 10, vua cùng anh là Tĩnh quốc Đại vương Quốc Khang cùng vui đùa trước mặt Thượng hoàng lúc bấy giờ mặc áo vải bông trắng. Tĩnh quốc múa điệu của người Hồ, Thượng hoàng cởi áo ban cho Quốc Khang. Vua cũng múa điệu của người Hồ để xin chiếc áo ấy. Quốc Khang nói:”Cái quý nhất là ngôi hoàng đế, hạ thần còn không tranh với chú hai. Nay đức chí tôn ban cho thần vật nhỏ mọn này mà chú hai cũng định cướp lấy chăng?

Thượng hoàng cả cười nói: “Thế ra mày coi ngôi vua với cái áo xoàng này chẳng hơn kém gì nhau.”(8)

Trong triều Trần không có chuyện anh em tranh ngôi vua mà giết lẫn nhau. Chính vì vậy mà vua Dụ Tông đã ca ngợi Thái Tông khi so sánh ông với vua Đường Thái Tông của Trung Hoa: “...Kiến Thành tru tử Yên Sinh tại/ Miếu hiệu tuy đồng đức bất đồng”.(9)  Kiến Thành là anh em với Đường Thái Tông, bị ông này giết vì tranh đoạt ngôi vua. Yên Sinh tức là Trần Liễu - anh em với Thái Tông, nổi loạn chống lại Trần Thái Tông do bị Trần Thủ Độ cướp vợ gả cho Trần Thái Tông, nhưng Trần Thái Tông che chở Trần Liễu không cho Thủ Độ sát hại.

Điểm son này của nhà Trần là do ảnh hưởng của Phật giáo chăng? Tôi không dám cả quyết. Bởi vì Lý Công Uẩn xuất thân từ nhà chùa và được nhiều cao tăng Phật giáo giúp đỡ. Thế nhưng khi Lý Công Uẩn chết, thái tử Phật Mã bị ba người em đem quân vào cung mưu phản. Tướng nhà Lý là Lê Phụng Hiểu phải giết chết một người để dẹp yên. (10) Bản thân Lý Công Uẩn khi lên ngôi hoàng đế đã nhận tôn hiệu dài tới 50 chữ (!) cho oai. Sử gia Ngô Sĩ Liên đã phải thốt lên: “…Bấy giờ bề tôi dâng tôn hiệu đến 50 chữ, thế là không biết kê cứu cổ học mà chỉ biết nịnh vua. Thái Tổ nhận mà không từ, đó là muốn khoe khoang để cho đời sau không ai hơn được. Thế là sai. Sau, tôn Thái Tông cũng đến gần 50 chữ là vì bắt chước ở đây.”(11)  Dù sao thì đặc điểm tích cực này của nhà Trần chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho trong giới tinh hoa của thời đó có nhiều nhân vật cao thượng xuất chúng, hơn hẳn những đời sau. Trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” Lê Quý Đôn có viết một chương “Tài phẩm” đề cập đến chuyện này. Sau khi ca ngợi phẩm cách của 5 người cao sĩ triều nhà Trần (Chu An, Đặng Tảo, Trương Đỗ, Bùi Mộng Hoa, Trần Đình Thâm) Lê Quý Đôn nhận xét:

Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân tử đời Tây Hán, thật không phải người thường có thể theo kịp được. Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất. Ôi như thế! Người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được! Từ bản triều trở về sau, phong độ ấy dần dần không được nghe thấy nữa.

Tôi thường bàn luận, triều đại Tiền Lê, phong độ sĩ phu đại khái có ba lần biến đổi:

-    Hồi Lê sơ, vì sau loạn lạc, nho sĩ thưa thớt. Người đem thân chầu chực trong triều đường như Nguyễn Thiện Tích, Bùi Cầm Hổ, phần nhiều bộc lộ chí khí sáng suốt, có những lời nói quả cảm, còn những người ngao du nơi sông núi như Lý Tử Cấu, Nguyễn Thì Trung, giữ tiết tháo trong trắng, không mơ tưởng đến giàu sang. Đấy là một thời kỳ thay đổi.

-    Khoảng giữa niên hiệu Hồng Đức, mở rộng khoa cử, tuyển nhiều nhân tài, sĩ tử tập lối văn bóng bẩy, đục gọt từng câu, mong sao được đỗ để ra làm quan. Nay muốn tìm lấy hạng người khí tiết khảng khái trong thời nay xem ra có phần thưa thớt. Nhưng con đường bổng lộc đã mở ra, thì phương pháp thi cử cũng nghiêm ngặt, người điềm tĩnh được tiến lên, người cầu may bị sàng sảy, cho nên người tại chức ít thói cầu cạnh mà trong nước biết quý danh nghĩa. Đấy là một thời kỳ thay đổi.
 

-    Từ năm Đoan Khánh [Uy mục đế (1505-1509)] trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày mỗi thịnh, người có chức vị ít giữ được phong độ thanh liêm nhún nhường, trong triều không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè cẩu thả, thấy nước nguy thì bán nước để toàn thân, dầu người gọi là bậc danh nho, cũng đều nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ ca trao đổi, khoe khoang tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng, tệ hại biến đổi lần này không thể nào nói cho xiết được
.”(12)

Như thế ta có thể kết luận rằng một khi danh phận trở thành giá trị tuyệt đối để mọi người bon chen theo đuổi bất chấp thủ đoạn thì giới tinh hoa cũng tàn lụi và văn hóa phải suy đồi.

Người ta có thể đổ lỗi cho sự độc tôn của Nho giáo, nhất là Tống Nho, đã đoạn tuyệt với căn bản tâm linh của Phật giáo thời Lý Trần. Chắc đó cũng là một nguyên nhân. Nhưng thực ra Nho giáo cũng đòi hỏi ở kẻ sĩ những giá trị đạo đức khe khắt: Phú quý bất năng dâm, Bần tiện bất năng di, Uy vũ bất năng khuất, rồi là tấm lòng lo trước thiên hạ... Có vẻ như giá trị danh phận đã lấn át những giá trị khác. Tất nhiên cũng có những kẻ sĩ chân chính, không đánh đổi các giá trị đạo đức lấy danh phận của triều đình. Ta có một Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm,(13)  một La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp(14)  đã ứng xử khéo léo tuyệt vời trước các vua chúa đầy bạo lực đang lúc xung đột với nhau dữ dội. Đây là các vị Nho sĩ dấn thân, mong muốn khẳng định danh phận của mình với xã hội, nhưng họ không màng tới cái danh vị của một ông vua nào đó đang đắc thế ban cho họ và như vậy là họ đặt tính mạng mình vào chốn hiểm nguy. Họ tôn thờ các giá trị đạo đức Nho giáo, đặt những giá trị ấy cao hơn các danh vị của triều đình. Nhưng hai ông danh nhân ấy là những ngoại lệ xuất sắc đã thoát chết, những người khác học theo hai ông mà bị chết uổng dưới tay các vua chúa chuyên chế không chịu dung thứ cho nhân cách độc lập của kẻ sĩ, chắc là nhiều hơn. Ta không biết đến họ vì sử sách đâu có ghi chép các trường hợp như thế, mặc dù ít nhất ta cũng biết đến cái chết của Trần Công Xán. Ông này được vua Lê Chiêu Thống và Nguyễn Hữu Chỉnh phái đi trong một đoàn ngoại giao đến Phú Xuân gặp Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ để đòi lại đất Nghệ An. Trần Công Xán giữ được đạo đức “uy vũ bất năng khuất”, nhưng lại bị Nguyễn Huệ giết chết. Sự kiện này được ghi lại trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.(15) Tác phẩm này cũng ghi lại cái chết tự sát cua một nho sĩ khác là Lý Trần Quán. Ông này nhờ học trò của mình giúp chúa Trịnh Đoan nam vương đang chạy trốn quân Tây Sơn, nhưng tên học trò ấy lại nộp chúa Trịnh cho quân Tây Sơn để lĩnh thưởng. Tự thấy mình có trách nhiệm về việc này, Lý Trần Quán đã tự chôn sống mình.(16)  Hoàng Lê nhất thống chí cũng cung cấp cho ta một bức tranh thảm hại của kẻ sĩ Bắc Hà sau khi Nguyễn Huệ rút quân về phương nam. Đám quan lại này ngơ ngác không biết nên đến chầu ở cung vua hay đến chầu ở phủ Chúa!

Kể từ khi Lê Thánh Tông thiết lập khuôn mẫu triều đình theo tinh thần Nho giáo của Trung Hoa cho đến khi triều đình nhà Nguyễn để mất nước vào tay thực dân Pháp, trong khoảng thời gian hơn bốn trăm năm ấy, khuôn mẫu tìm kiếm danh phận cho giới tinh hoa Việt Nam hầu như không có gì thay đổi. Bức tranh “tài phẩm” mà Lê Quý Đôn mô tả về cơ bản cũng vẫn là như vậy: một số đông các ông nghè thỏa mãn với danh phận đạt được bằng hư học,“rồi nào thơ ca trao đổi, khoe khoang tán tụng lẫn nhau”. Bên cạnh đó là những sĩ phu có chân tài thực học, luôn luôn phải băn khoăn với câu hỏi về lẽ xuất xử, về chuyện “tùy thời co ruỗi” như lời của Nguyễn Thiếp.

Người ta có thể nói rằng chuyện này quá phổ biến, không phải hiện tượng lạ lùng gì trong các vương triều phong kiến theo kiểu Trung Hoa. Đúng vậy, nhưng những nguyên nhân văn hóa nào tạo ra sự phổ biến ấy? Có thể có nhiều nguyên nhân. Song địa vị tuyệt đối của danh phận trong các giá trị văn hóa mà xã hội đã chấp nhận, hẳn cũng là một trong những nguyên nhân ấy. Các hoạt động văn hóa như cầm kỳ thi họa, các tài nghề thủ công, ngay cả hoạt động kinh doanh làm giàu, tự thân nó chẳng làm cho người tài có được danh phận xã hội. Một thường dân chỉ có thể đạt được danh phận xã hội bằng con đường thi đỗ làm quan. Ngay cả thi trượt cũng vẫn có danh phận khóa sinh và được xã hội tôn trọng hơn “dân bạch đinh”. Triều đình của nhà vua không chỉ nắm quyền lực nhà nước mà còn là người độc quyền ban phát danh phận cho dân chúng. Khi thiếu tiền, triều đình có thể bán danh phận cho những người có tiền. Người bỏ tiền ra mua các phẩm hàm (không có quyền lực kèm theo) không phải chỉ là kẻ chuộng hư danh. Phẩm hàm ấy cho họ một danh phận khiến các chức sắc trong làng không thể đối xử với họ như “dân bạch đinh”. Thân phận “dân bạch đinh” là vô cùng khốn khổ, bất cứ ai cũng có thể bắt nạt họ.

Hồi còn thanh niên đọc truyện “Lều chõng” của nhà văn Ngô Tất Tố tôi luôn thắc mắc về nhân vật cô Ngọc trong truyện. Một cô gái con nhà gia giáo, xinh đẹp, nết na, giỏi công việc. Cuộc hôn ước của cô với anh khóa Long không thành do hai bên gia đình. Sau đó anh khóa Long đỗ ông nghè, võng kiệu đi qua làng. Cô Ngọc dễ thương ấy đã ngất đi vì tiếc cho danh phận vợ ông nghè bị tuột khỏi tay mình. Chuyện thật đáng xấu hổ! Thế nhưng các vị đạo cao đức trọng trong làng và ngay cả người chồng mà cô lấy sau đó là Vân Hạc có vẻ như không thấy đó là chuyện kỳ quái để coi thường cô. Họ đều thông cảm với cô như chuyện thường tình. Vân Hạc cố theo đuổi việc thi cử cũng một phần vì thương vợ, muốn thỏa mãn tâm nguyện ấy của vợ. Chắc đó cũng là thái độ của nhà văn Ngô Tất Tố.(17)

Nhiều người coi chuyện này như thói xấu háo danh của người Việt. Nhưng cũng đã có người phản bác lại rằng danh phận đạt được bằng chính tài sức của mình thì chẳng có gì là xấu. Tôi cũng cho rằng khao khát của con người cá nhân muốn khẳng định danh phận của mình trước xã hội là một nhu cầu nhân bản. Nhưng vì sao trong thực tế lịch sử ở xã hội ta nó lại luôn bộc lộ ra với nhiều nét tiêu cực kèm theo đến thế? Tôi ngờ rằng do nhiều nguyên nhân lịch sử mà giá trị danh phận ở xã hội ta đã bị đẩy lên thành một giá trị tuyệt đối lấn át mọi giá trị văn hóa khác. Ở địa vị tuyệt đối ấy danh phận đã bị méo mó đi, trở thành nỗi ám ảnh của mọi thành viên xã hội.

Cuối thế kỷ mười chín nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp với ba chế độ chính trị khác nhau ở ba kỳ. Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự xuất hiện văn hóa đô thị cùng với việc tiếp xúc với nền văn hóa Pháp. Có gì mới không trong việc tìm kiếm danh phận của giới tinh hoa?

Như mọi người đều biết trong thời kỳ đô hộ của Pháp đã diễn ra những biến đổi sâu sắc về các giá trị văn hóa truyền thống dưới tác động của những yếu tố mới: sự xuất hiện và phát triển của chữ quốc ngữ thay thế cho chữ nôm, sự xuất hiện và phát triển của báo chí bằng chữ quốc ngữ, sự phá sản của tư tưởng Nho giáo chính thống trước sự công kích của tân học, sự xuất hiện của những nghề nghiệp tự do gắn với sinh hoạt đô thị: nhà báo, nhà văn, nhà xuất bản, họa sĩ, nhạc sĩ… cùng với một số hình thức sơ khai của tổ chức hội đoàn dân sự. Do tình cảnh mất nước nên con đường thi đỗ làm quan đã mất đi tính chính danh. Những người có tài muốn tự khẳng định mình trước xã hội trước hết phải tự tìm cho mình những mục đích sống mới để theo đuổi. Họ phải thuyết phục xã hội về giá trị của những mục đích ấy. Dù họ rất khác nhau: nhà yêu nước hoạt động bí mật, nhà yêu nước vận động cải cách xã hội, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ, nhà doanh nghiệp…nhưng họ đều là những người mở đường, những người sáng tạo nên những giá trị mới. Đây là một tình huống tinh thần đặc biệt ở nước ta “có khoảng thời gian tạm thời khi nỗi e sợ đối với sự suy luận phi chính thống mất đi” và “có một nền chuyên chế tinh thần cũ bị xô đổ và chưa có nền chuyên chế mới nào thay thế”.(18)  Quyền uy tinh thần của các nhà Nho đã bị xô đổ, nhưng thực dân Pháp chủ yếu vẫn còn đang lo chuyện bình định nên chưa thiết lập được một “cấu trúc thượng tầng” cho chính quyền của họ. Khoảng trống quyền lực tinh thần ấy tạo điều kiện cho những người tài sáng tạo và thiết lập các giá trị văn hóa mới cho cuộc sống đô thị đang hình thành. Tuy nhiên, cũng cần nhận xét rằng những người tài sáng tạo giá trị văn hóa mới vẫn còn ở trong giai đoạn sơ khai tự phát, chưa liên kết được với nhau thành một giới nghề nghiệp để tạo thành một sức mạnh xã hội.  Thời kỳ có khoảng trống tinh thần ấy đã chấm dứt cùng với cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc chiến tranh kéo dài sau đó.

---

(1) Isaiah Berlin, Two Concepts of Liberty, in Liberty, Oxford University Press 2002, p 168-217.

(2) Đại việt sử ký toàn thư, NXB KHXH (Hà Nội 1993) (sau đây sẽ gọi tắt là Toàn thư) Tập I, tr.155

(3)  Toàn thư, Tập I, tr.161-2.

(4)  Toàn thư, Tập II, tr. 240.

(5)  Toàn thư, Tập II, tr. 293.

(6)  Toàn thư, Tập II, tr. 312.

(7)  Toàn thư, Tập II, tr.16.

(8) Toàn thư, Tập II, tr.37.

(9) Toàn thư, Tập II, tr. 41-2.

(10) Toàn thư, Tập I, tr. 248.

(11) Toàn thư, Tập I, tr. 239.

(12) Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, NXB VHTT (2006), tr. 299-300.

(13) Nguyễn Huệ Chi chủ biên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh nhân văn hóa, NXB VHTT và TT (Hà nội 1991)

(14) Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, NXB Văn học, in theo bản in Minh Tân, 1952.

(15) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, NXB Văn học, (1996), Tập II, tr. 45-58.

(16) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, NXB Văn học, (1996),Tập I, tr. 118-122.

(17) Vào những năm 80 của thế kỷ trước trong đợt phong học hàm đầu tiên của nước ta nghe nói cũng có một vị ứng viên nặng ký bị ngất xỉu vì không hội đủ phiếu bầu trong hội đồng chuyên ngành.

(18) J.S. Mill, Bàn về tự do, Nguyễn Văn Trọng dịch, chương II, tr. 87, 88, NXB Tri thức 2005 (in lần thứ ba 2009)

Nguồn: http://tiasang.com.vn/-van-hoa/tim-kiem-danh-phan-phan-1-4189

Thông tin truy cập

36755634
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
3440
5963
36755634

Thành viên trực tuyến

Đang có 306 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929