Phan Thị Bạch Vân và tinh thần phụ nữ

 1. Phan Thị Bạch Vân và Nữ lưu thư quán Gò Công:

Trong bài Xét về sự sinh hoạt của phụ nữ nước ta trên báo Phụ nữ Tân Văn  (PNTV) số 5 - 1929, Phan Khôi có viết một câu như sau: “Mới vài ba năm nay, trong xã hội ta, nhứt là trong làng ngôn luận, có nứt ra một danh từ mới mà nhiều người lấy làm chú ý, ấy là “vấn đề phụ nữ””.

Cách dùng “nứt ra một danh từ mới” rất ngộ nghĩnh của Phan Khôi cho thấy ấn tượng về sự khai sinh “vấn đề phụ nữ” vào những năm đầu thế kỷ XX. Với sự khai sinh này, lần đầu tiên, tinh thần phụ nữ từ chỗ là phát hiện của một trào lưu xã hội đến chỗ hình thành nền văn hóa tri thức mới với “thế lực phụ nữ”[1].

 Loạt bài viết của Phan Khôi về mối quan hệ giữa phụ nữ với văn chương đăng trên PNTV đã phản ánh một sự “thức tỉnh” bền bỉ và chắc chắn của giới nữ Nam kỳ. Sự xuất hiện của các tờ báo do phụ nữ viết và viết về phụ nữ (Nữ giới chung, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ trương Phụ nữ và nhi đồng của Đông Pháp thời báo…), sự xuất hiện đội ngũ sáng tác và dịch thuật là các nữ lưu ở nhiều nơi trên xứ Nam kỳ, sự nở rộ các hình thức “hội”, “viện”, “thư quán”, “học xá”… cho thấy xu hướng hợp tác vì tri thức và tiến bộ  tràn ngập trong mặt bằng học thuật và văn hóa thời bấy giờ.

Trong bối cảnh đó, Nữ lưu thư quán Gò Công do Phan Thị Bạch Vân phụ trách ra đời vào năm 1928, dưới sự bảo trợ của nhà thuốc gia truyền Võ Đình Dần – một thương hiệu nổi tiếng ở miền Nam từ 1921. Cần thấy tổ chức “thư quán” có sự gắn bó sâu sắc với các loại hình “hội”, “viện” như Hội Dục Anh, Nữ lưu học hội, Nữ công triển lãm hội trong thập kỷ 20… Trong nhiều bài phóng sự của Nguyễn Thị Kiêm (tức nữ sĩ Manh Manh) trên Phụ Nữ Tân Văn, chúng ta biết có cả Hội Phụ nữ Cái Vồn (chủ yếu tập trung vào việc tổ chức thể dục thể thao cho phụ nữ), Hội Cựu học sanh trường Nữ học đường, Hội Dục Anh xuất thân từ Viện Dục Anh do “các bà đầm” bên Tây “động lòng thương con nít Annam , cho nên mới rủ nhau tổ chức ra cơ quan kia, mục đích là sẽ lập những nhà nuôi con nít”[2]… Các “hội”, “viện” như thế dường như bộc lộ tính chất hoạt động xã hội của phụ nữ lẫn mục tiêu canh tân của họ. Và tất nhiên, từng “hội”, “viện” như vậy đều có những mục tiêu riêng.

Sự hình thành một “tinh thần phụ nữ” có màu sắc riêng của thư quán Gò Công nằm trong chuỗi hình thành tinh thần thời đại mà giới trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đang nỗ lực xây dựng cách này hay cách khác; trong đó nổi lên hai vấn đề lớn là luân lý và quốc học.

Tinh thần quốc học theo Lê Dư[3] bao gồm cả quốc văn, quốc sử và quốc túy. Việc giới thiệu sử truyện và học thuyết dân chủ, khoa học của người Pháp trong hoạt động của thư quán chứng tỏ người chủ nhiệm thư quán ý thức rất rõ con đường quốc sử và quốc túy thông qua quốc văn – dùng chữ quốc ngữ để dịch và giới thiệu các tư tưởng mới. Sự thu hút rất hiệu quả các cây bút sáng tác có tiếng lúc bấy giờ vào hoạt động chung của thư quán cũng là một đóng góp lớn của Phan Thị Bạch Vân trong việc tạo ra một hiệu ứng tinh thần quốc học từ các cây bút nữ lưu Nam và Trung kỳ.

Trong cuốn Văn học quốc ngữ Nam Kỳ 1865 -1930, Bằng Giang đã ghi nhận sự xuất hiện của Nữ lưu thư quán trong tiến trình cải cách tư tưởng người dân Nam kỳ: “…nội dung sách luân lý từ cuối thế kỷ XIX (chủ yếu là sách dịch) đến đầu thế kỷ XX lần hồi cũng có thay đổi  (sách biên soạn) tuy chậm. Mãi đến gần cuối thập kỷ 20 mới thấy hai tác phẩm ngay ở tên sách đã như là một tiếng trống báo hiệu một giai đoạn mới đã chín muồi trong tiến trình xã hội và văn học: Nam nữ bình quyền (1928) và Phụ nữ dự gia đình (1929), cuốn 12 của Nữ lưu thư quán) ra đời cùng một năm với Phụ Nữ Tân Văn …” (trang 293). Đoạn văn này nằm trong mục viết về sự suy thoái đạo đức của người Annam do quá trình giáo dục ráo riết dạy quốc ngữ của nước Đại Pháp vì mục tiêu “đọc thông tri, cáo thị của nhà cầm quyền thuộc địa để hiểu và làm cho đúng”. Chi tiết duy nhất nhắc đến Nữ lưu thư quán trong công trình nghiên cứu của Bằng Giang lại đặt trọng tâm ở phần tư tưởng. Tác phẩm của Nữ lưu thư quán Gò Công xuất bản và phát hành được nhắc tới bên trên ở một phương diện nào đó đã chạm đến một kiểu luân lý mới – luân lý gắn với sự tự ý thức mạnh mẽ của người phụ nữ trước vận mệnh của chính mình và cộng đồng. Từ cách đặt vấn đề trong sách Văn học quốc ngữ Nam Kỳ 1865 -1930 của Bằng Giang, chúng ta có thể hình dung tư tưởng tiến bộ ở tầm cao của người sáng lập và phụ trách mô hình Nữ lưu thư quán. Ngay chính trong lời đề tựa cho các tập sách do Thư quán thực hiện cũng đã nói lên tinh thần này: “Lựa chọn để bán ra cho cả thảy chị em bạn gái bằng cái giá thiệt hạ những truyện sách xuất bản trong xứ, có ích cho tinh thần đạo đức và nền luân lý nước nhà, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở mang tri thức, học vấn thêm cao”[4]. Không những thế, tinh thần “mở mang” mà những người hoạt động trong Thư quán đề xuất còn bao gồm cả “kíp đến cái địa vị quí đẹp chị em phải có”, “tấm lòng vì nòi giống”, “nỗi nước mất dân tàn”, “phong tục đồi tệ”, … , nghĩa là vươn đến những vấn đề sâu sắc và nghiêm trọng hơn đối với một trí thức thời thuộc địa, chứ không phải chỉ là những vấn đề của phụ nữ, cho phụ nữ.

Hiện chúng ta còn giữ được 8 cuốn Tinh thần phụ nữ do Phan Thị Bạch Vân chủ trương biên soạn bao gồm phần dịch thuật, giới thiệu tư tưởng các triết gia phương Tây như Darwin, Montesquieu, Rousseau, các tiểu thuyết của Hoàng Thị Tuyết Hoa (tức Phan Thị Bạch Vân), Nguyễn Bá Hạnh, các vấn đề về vệ sinh phụ nữ, kiến thức thường thức về gia đình… Phần Tự ngôn, Phan Thị Bạch Vân giới thiệu: “Bộ sách “Tinh thần phụ nữ” này dài đến một ngàn năm trăm trương, phân ra nhiều tập, chia ra nhiều thời kỳ, dễ xem dễ đọc cho chị em, vừa vui miệng, vừa mở trí”. Thế nhưng, bắt đầu từ cuốn thứ sáu, mặt bìa trong có một đoạn văn nhỏ như sau:

Cáo lỗi cùng chư độc giả

Bộ “Tinh thần phụ nữ” từ nay xin đổi tên là Sách-Nữ-lưu (Le livre des femmes) cho dễ hiểu cho cả thảy mọi người.

Duyên cớ bởi đâu, nếu nói ra hết càng thêm đau đớn. Thôi nói nó là sách cho chị em bạn gái đọc, thì kêu nó là Sách Nữ Lưu cho xong.

Xin chị em độc giả gần xa hãy hiểu cho như vậy, chúng tôi bây giờ chỉ có vắn tắt mấy lời, hẹn về sau sẽ còn khi thưa rõ”.

Lý do chính xác mà Phan Thị Bạch Vân hẹn sẽ “thưa rõ” chúng ta chẳng bao giờ được biết. Có hai chi tiết trong đoạn văn cáo lỗi trên rất đáng lưu ý. Một là đổi tên từ “Tinh thần phụ nữ” sang “Sách Nữ Lưu” – mất chữ “tinh thần”. Hai là “nếu nói ra hết càng thêm đau đớn”. Đoạn văn mơ hồ này cho thấy sự thất vọng kín đáo của người khởi xướng Nữ lưu thư quán trước sự kiện (bị buộc phải) cất bỏ chữ “tinh thần” trong cuốn sách thường xuyên của thư quán. Vì (bị buộc phải) cất bỏ như thế mới có chuyện “càng thêm đau đớn”. Phải chăng, đây là đòn “nhắc nhở”, “cảnh báo” trước của chính quyền thực dân trước khi quyết định đưa Phan Thị Bạch Vân ra trước tòa vì đã dám “phá rối cuộc trị an trong xứ bằng văn chương tư tưởng”. Hoàn toàn có thể nói, vấn đề “tinh thần”, “tư tưởng” là mấu chốt cho hoạt động của thư quán này.

Nữ lưu thư quán Gò Công nhìn chung là một mô hình hoạt động văn hóa với nhiều phương thức:

- Kết hợp thương mại và học thuật

- Phát huy khả năng văn học và báo chí của giới nữ

- Xây dựng quan niệm mới về người nữ trong xã hội tri thức

- Đi thẳng vào tinh thần phụ nữ, qua đó góp phần xây dựng tinh thần thời đại.

Với tôn chỉ và mô hình hoạt động của mình, Nữ lưu thư quán Gò Công trở thành một trong những hiện tượng phụ nữ làm văn hóa độc đáo nhất trong lịch sử văn hóa văn học Nam bộ đầu thế kỷ XX.

2. Tác phẩm của Phan Thị Bạch Vân:

Những dòng tiểu sử về Phan Thị Bạch Vân trong các công trình văn học sử Nam Bộ thường rất vắn tắt, trống hoàn toàn năm sinh và mất. Về nhân thân, bà được biết đến với tư cách là trợ bút cho Đông pháp thời báo, chuyên phụ trách mục Phụ trương phụ nữ và nhi đồng, viết xã thuyết, tiểu thuyết, thơ… Tuy xuất hiện ngắn ngủi trên văn đàn, bà cũng đã được trân trọng đánh giá: “Một điều gần như chắc chắn, bà là người phụ nữ đầu tiên trong thể kỷ XX ở Nam bộ nói riêng và trong cả nước nói chung biết kết hợp song song những hoạt động thương mại và hoạt động truyền bá văn hóa, văn học một cách tài tình và hiệu quả”[5].

Dựa vào các tư liệu ít ỏi được tìm thấy và được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu văn hóa văn học Nam bộ, có thể tạm đưa ra danh mục tác phẩm đã xuất bản của Phan Thị Bạch Vân như sau:

1. Gương nữ kiệt, Nữ lưu thư quán Gò Công, 1928.

2. Giám hồ nữ hiệp (bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa) Nữ lưu thơ quán Gò Công, 1928.

3. Nữ anh tài (bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa), Cảnh thế tiểu thuyết, Nữ lưu thơ quán Gò Công, 1928.

4. Lâm Kiều Loan, Tiểu thuyết ẩn tình xã hội Nam kỳ, cuốn 1 (trọn bộ 10 cuốn), Imp. Trần Trọng Canh, Sài Gòn, 1932.

5. Kiếp hoa thảm sử (bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa), Xã hội tiểu thuyết, trích đăng nhiều kỳ trong Tinh thần phụ nữ (từ số 6 trở đi là Sách Nữ Lưu), Nữ lưu thơ quán Gò Công, 1928-1929.

6. Phụ nghĩa tào khang, Đoản thiên tiểu thuyết, Đông Pháp thời báo, số 669, ngày 21.1.1928.

7. Vần quốc ngữ “Nữ lưu”, Nữ lưu thư quán Gò Công xuất bản.

8. Nam Kỳ cần phải có trường nữ công, Đông Pháp thời báo, số 695, ngày 15.3.1928.

9. Trường thương mãi cho Nữ lưu Việt Nam, Đông Pháp thời báo, số 698, ngày 22.3.1928.

10. Vài điều cần ích cho chị em bạn gái, Đông Pháp thời báo, số 704, ngày 5.4.1928.

11. Mưu trừ tuyệt nghề kéo xe, Đông Pháp thời báo, số 704, ngày 5.4.1928.

12. Kính gửi các nhà văn sĩ, Đông Pháp thời báo, số 709, 1928.

13. Gian nhà rách, Đông Pháp thời báo, số 640, 27.10.1927.

14. Đồng bạc Tây và đồng bạc Pháp, Đông Pháp thời báo, số 642, 1927.

15. Phụ nữ Việt Nam ta thử lập vài cái học bổng, Đông Pháp thời báo, số 650, 1927.

Về trường hợp hai cuốn Nữ anh tài Giám hồ nữ hiệp gắn với bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa, theo quan điểm một số công trình văn học sử về văn học Nam Bộ thì Phan Thị Bạch Vân và Hoàng Thị Tuyết Hoa là hai tác giả nữ được liệt kê song song nhau. Tuy nhiên, đọc lại cuốn Nữ anh tài, chúng tôi tìm được một thông tin liên quan đến việc chỉ ra Phan Thị Bạch Vân chính là Hoàng Thị Tuyết Hoa:

“Cùng chư độc giả yêu quí,

Bộ tiểu thuyết Nữ anh tài đến đây thì dứt (…) Tóm tắt câu chuyện về bộ ấy, thì toàn là chuyện về mặt phụ nữ với chức nghiệp. Vai chủ động ấy dẫu là vì cảnh thế éo le, nhưng thế nào cũng chẳng quên cái phận sự của mình đối với quốc gia, sao cho đáng một bực Nữ lưu tân tiến (…) Con người có ái tình mà gặp cảnh thế xã hội bất ưng ý, rồi đem cái ái tình ấy mà làm tình yêu nước, tình yêu dân, thì ôi thôi, đáng khen biết bao, đáng kính biết bao!...

(…)

Soạn giả PHAN –THỊ - BẠCH - VÂN

Biệt hiệu: HOÀNG - THỊ - TUYẾT - HOA

Kính bút,”

Đoạn văn nằm ở trang 25-26, cuốn thứ 6 bộ tiểu thuyết Nữ anh tài. Phần tên tác giả được in hoa. Chứng cứ này đã nối dài thêm danh sách các tiểu thuyết của Phan Thị Bạch Vân. Điều đáng nói nữa là các tiểu thuyết của bà (theo tư liệu hiện có) đều được tự tác giả phân định bằng cách tên gọi khác nhau: Cảnh thế tiểu thuyết (Nữ anh tài), Tiểu thuyết ẩn tình xã hội Nam kỳ(Lâm Kiều Loan), xã hội tiểu thuyết (Kiếp hoa thảm sử). Cũng trong cuốn thứ 6 của tiểu thuyết Nữ anh tài, bà ghi thêm dòng tái bút: “Kỳ tới sẽ hiến cho các bạn độc giả bộ Kiếp hoa thảm sử, tiểu thuyết về xã hội hiện thời. So với bộ Nữ anh tài, thì bộ này chuyên về một mặt khác, hành văn cũng tuân theo một lối khác, mời chư độc giả dượt xem” (trang 26). Như vậy, ít nhất từ sự định danh của tác giả, chúng ta có câu hỏi: xã hội tiểu thuyết (hay tiểu thuyết xã hội) thì khác thế nào với tiểu thuyết ẩn tình xã hội? Với cảnh thế tiểu thuyết? Ở đây, tác giả có ý nói rằng Nữ anh tài  phân biệt với Kiếp hoa thảm sử  về “mặt khác” và “hành văn khác”. Yếu tố “xã hội” và “cảnh thế” có thể là hai trọng điểm cảm hứng và quan niệm của tác giả về vấn đề phụ nữ chăng? Ý thức về sự “hành văn” khác, và cách đặt tiêu đề phụ dưới mỗi tiểu thuyết, theo chúng tôi, là những tín hiệu cho thấy nỗ lực sáng tạo của Phan Thị Bạch Vân gắn rất chặt với tinh thần cách tân không mệt mỏi và đầy tiềm lực của bà.

Đọc Lời dẫn đầu cuốn Gương nữ kiệt, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước sự táo bạo của người chủ nhiệm Nữ lưu thư quán vào thời điểm nhạy cảm lúc đó: “Đương lúc nước mất dân tàn, trông mong vào những bực trượng phu ra tay cứu chữa, mà cũng trông mong vào những trang nhi nữ ghé vai gánh lấy cái trách nhiệm chung; nước nào nam giới nữ giới đều có thì nước ấy hẳn không đến nỗi để cho người ngoài giày xéo. Chúng ta đọc truyện bà Rô-lăng nước Pháp, sao được không nhớ đến bà Trưng bà Triệu là những bà mẹ yêu quí của chúng ta, rồi lại nghĩ đến cái bổn phận , cái cảnh ngộ của chúng ta ngày nay mà ngậm ngùi đau đớn…”. Không có gì lạ khi cuốn sách bị chính quyền thực dân xếp vào danh mục cấm lưu hành. Cũng trong cảm hứng về chân dung nữ kiệt, Phan Thị Bạch Vân còn viết một tác phẩm nữa là Giám hồ nữ hiệp với bút danh Hoàng Thị Tuyết Hoa. Tác phẩm viết về Thu Cận, được chú thích là “nữ hiệp nước Tàu”. Hai nhân vật bà Roland và Thu Cận nằm trong tinh thần chủ đạo của Phan Thị Bạch Vân là truyền bá hình ảnh người phụ nữ mới: ý thức sự trỗi dậy của giới tính, dám làm việc lớn, và dám chịu chết cho lý tưởng. Bên cạnh đó là ý thức lập hội, tự làm kinh tế để duy trì sự nghiệp chính trị hoặc văn hóa. Giám hồ nữ hiệp có những câu viết “nguy hiểm”: “Cách mạng có cứ gì con trai con gái”, “hai tiếng nô lệ ở trong thiên hạ này còn có dân tộc nào mà chịu mang không”…

Bà cũng là tác giả của bốn tiểu thuyết (trong đó có 1 là đoản thiên tiểu thuyết). Truyện Lâm Kiều Loan  hiện chỉ còn 1 tập dài 32 trang. Nhân vật Lâm Kiều Loan được xây dựng trước hết ở tình cảnh bi thảm: con gái mất, chồng phản bội, gia đình chồng ác nghiệt. Rời bỏ cuộc hôn nhân bất hạnh, Lâm Kiều Loan đến Biên Hòa lập nghiệp với bạn Nguyễn Ngọc Anh, và lại chứng kiến tiếp một mảnh đời đau khổ của Bích Ngọc, chị của Bích Liên, một người bạn của của cô Ngọc Anh. Bích Ngọc cũng vì bị phản bội mà sinh ra diên dại. Câu chuyện ngưng lại ở đó. Như vậy, 9 tập còn lại hiện bị thất lạc đã không cho người đọc thấy được sâu xa hơn tư tưởng của nhà văn. Dựa vào các trước tác tìm thấy của Phan Thị Bạch Vân, cũng như tôn chỉ của Nữ lưu thư quán, ta có thể đoán định câu chuyện về nàng Lâm Kiều Loan không thể là một tấn bi kịch tuyệt vọng, mà ngược lại, là câu chuyện của ý chí nữ lưu. Sự tương phản về cách giải quyết giữa hai mảnh đời có cùng số phận (Kiều Loan và Bích Ngọc) ở cuốn đầu tiên cho thấy nhà văn có ý định xây dựng quan niệm sống của Kiều Loan dựa trên sự quan sát và suy gẫm về số phận của nhiều người phụ nữ khác, dựa trên sự thông cảm sâu xa đối với những bất hạnh có tính phổ biến của người nữ trong xã hội hiện thời, nghĩa là dựa trên “tinh thần” phụ nữ được cất giấu kỹ lưỡng trong đầu óc hoạt động của bà chủ nhiệm thư quán.

Kiếp hoa thảm sử là bộ tiểu thuyết nhiều kỳ đăng trên Tinh thần phụ nữ. Nhân vật chính Như Hoa không đối diện với bi kịch duyên phận cá nhân, mà với bi kịch của gia đình chung và xã hội. Chứng kiến hai cái chết kỳ lạ của người em ruột là Như Ngọc và em cùng cha khác mẹ là Minh Lang, Như Hoa quyết bỏ mẹ ghẻ ác nghiệt để ra đi tìm đường sống. Trên nẻo đường gian truân, Như Hoa chứng kiến thêm cuộc đời đau khổ của người bạn thân tên Lang. Số phận đẩy đưa cô bạn này đến chỗ chết. Như Hoa lại gặp vợ Tư Hiền, một người phụ nữ bị chồng đánh đến bầm tím cả người. Cách xây dựng cốt truyện và nhân vật của Phan Thị Bạch Vân có vẻ như theo một hệ thống. Nhân vật chính của bà được bao bọc rất kỹ trong ý thức bảo vệ mình và quan sát thời cuộc. Kiều Loan nhìn Bích Ngọc mà nghĩ cảnh mình, Như Hoa nhìn em mất, nhìn bạn chết, mà hiểu đời thêm. Dụng ý nghệ thuật của Phan Thị Bạch Vân gắn chặt với dụng ý về tư tưởng xây dựng từng bước tinh thần phụ nữ trong lòng người đọc, đặc biệt là nữ giới.

Cuốn Nữ anh tài  là điểm nhìn lạc quan nhất của Phan Thị Bạch Vân. Nhân vật chính Tú Anh có phần khác những nhân vật đầy bi kịch như Kiều Loan, Như Hoa. Tú Anh có bản lĩnh ngay từ chuyện tình yêu đôi lứa, chuyện hôn nhân, chuyện xử lý sự cố gia đình cho đến khả năng quản lý kinh tế, trau dồi tri thức học tập. Nhân vật Lê Tú Anh không gần gũi với những hình ảnh và số phận những người phụ nữ bình thường, mà có phần phản chiếu bóng dáng một “nữ kiệt, nữ hiệp” của riêng Việt Nam. Trong trường hợp này, gọi Nữ anh tài là tiểu thuyết luận đề, chúng tôi thấy cũng có lý.

Từ nội dung luân lý và quốc học như đã nêu, Nữ lưu thư quán Gò Công là sự xuất hiện đột phá của nữ giới Nam kỳ trong tiến trình hiện đại hóa ý thức văn học đầu thế kỷ XX. Với nhãn quan tiến bộ về lịch sử xã hội, với khả năng quản lý kinh tế tốt và tiềm năng học thuật cao, Phan Thị Bạch Vân là trụ cột tinh thần cho Nữ lưu thư quán Gò Công từ 1928 đến 1930 – một trong những hoạt động đầu tiên của phụ nữ Nam kỳ thể hiện bước chuyển mình chín muồi của thời đại đối với các vấn đề canh tân và chống đối ý thức hệ thực dân.

                                                                                                                       SG, 5.2006

Lê Tâm

 



[1] Chữ dùng của Phan Khôi trong bài Chữ quốc ngữ ở Nam kỳ với thế lực của phụ nữ – Từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Trai cho đến Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng, PNTV, số 28, tr. 8.

[2] Xem Mấy người biết tới Viện Dục Anh, Nguyễn Thị Kiêm, PNTV số 31 – 1929.

[3] Bài Vấn đề quốc học, PNTV, số 107 năm 1931, trang 15.

[4] Tôn chỉ của Nữ lưu thư quán trích từ trang đầu cuốn Gương nữ kiệt, Phan Thị Bạch Vân.

[5] Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nguyễn Kim Anh chủ biên, NXB Đại học Quốc Gia TPHCM, 2004, trang 604.

Thông tin truy cập

42879789
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
5210
7642
42879789

Thành viên trực tuyến

Đang có 160 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website