Công dư tiệp ký (CDTK) của Vũ Phương Đề có vị trí như là tác phẩm “nối mạch” cho dòng văn xuôi tự sự Việt Nam sau hơn hai thế kỷ dường như bị quên lãng (Hiện nay ta chưa biết đích xác Nguyễn Dữ hoàn thành tác phẩm Truyền kỳ mạn lục vào thời điểm nào. Nhưng hiển nhiên nó phải ra đời trước năm 1547, khi Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tác phẩm. Nếu tính từ năm 1547 đến năm 1755, khi Vũ Phương Đề đề tựa cho tác phẩm CDTK của mình thì cách nhau đến 208 năm. Trong khoảng thời gian này hiện ta chỉ thấy một tác phẩm là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm –ra đời vào đầu thế kỷ XVIII. Tác phẩm này không những mở đầu mà còn có tác dụng thúc đẩy dòng văn học này phát triển, nở rộ, đạt đến những thành tựu rực rỡ trong giai đoạn cuối của văn học trung đại Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, CDTK đã được dư luận chú ý, độc giả đón nhận. Và kể từ đó nó đã được người sau tục biên, tục bổ, bổ di làm cho tác phẩm ngày càng dày lên và cũng phức tạp thêm. Hơn thế nữa, người ta còn trích lục, sao chép nó thành những tập sách khác với những tên mới.

 

          Cùng với những tác phẩm như Việt điện u linh (VĐUL), Lĩnh nam chích quái (LNCQ),…CDTK đã góp phần đặt nền móng cho văn xuôi tự sự Việt Nam ở các giai đoạn tiếp sau. Điểm đặc sắc riêng của CDTK là nó không những mở ra thể loại tiệp ký (ghi nhanh) mà còn góp vào dòng văn học này một thể tài mới mẻ: loại truyện nhân vật được kể dưới màu sắc truyền thuyết, giai thoại dân gian lý thú và sinh động.

 

          Để góp phần ghi nhận công lao của tác giả CDTK, trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu thêm đôi điều về thân thế, sự nghiệp của Vũ Phương Đề với một số thông tin mới, đồng thời điểm qua những giá trị cốt lõi của tác phẩm này.

 

          1.Về tiểu sử của Vũ Phương Đề, từ trước đến nay chúng ta chỉ biết sơ lược qua một vài tài liệu đăng khoa lục, lịch sử và một số công trình nghiên cứu có đề cập đến tác phẩm CDTK.

 

          Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam thì Vũ Phương Đề đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời Lê Ý Tông. Làm quan đến chức Đông các học sĩ (1).

 

          Lược truyện các tác gia Việt Nam giớit hiệu: “Vũ Phương Đề, từ Thuần Phủ, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An (Bình Giang, tỉnh Hải Dương cũ, nay thuộc tỉnh Hải Hưng) là con của Vũ Phương Nhạc. Ông sinh năm 1697 và mất năm nào không rõ.

 

          Những thông tin như trên, chúng ta cũng thấy đề ngay sau lời tựa của tác phẩm CDTK kèm với chức quan (có thể là cao nhất) trên bước đường hoạn lộ của ông: “Tứ Bính Thìn khoa Tiến sĩ, Đông các hiệu thư, thự Sơn Nam xứ Tham chính, Vũ Thuần Phủ tự”. (Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), Đông các hiệu thư, kiêm Tham chính xứ Sơn Nam, Vũ Thuần Phủ viết tựa).

 

          Gần đây, Nguyễn Đăng Na trong tạp chí Hán Nôm, số 1-1989 (2) và trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1 (3) cũng đã cung cấp thêm một số chi tiết mới về Vũ Phương Đề. Nhưng nhìn chung tiểu sử của ông được giới thiệu hãy còn sơ lược. May thay, hiện tại chúng ta hảy còn lưu giữ được mấy bộ gia phả viết khá công phu về họ Vũ ở Đường An. Và trong cuốn Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích do Vũ Phương Lan, Vũ Thế Nho biên tập, chúng ta có thêm được 3 trang ghi về thân thế, sự nghiệp tác giả CDTK (4).

 

          Với những dòng ghi chép về Vũ Phương Đề trong cuốn gia phả này, và tham khảo, đối chiếu thêm một số nguồn tài liệu khác, chúng tôi sơ bộ dựng lại tiểu sử Vũ Phương Đề, như sau:

 

          Vũ Phương Đề, tự là Thuần Phủ (theo gia phả, ông còn có một tên tự nữa là Trạch Hiên). Ông sinh ra trong một dòng họ có truyền thống hiếu học và có tiếng trên đường khoa hoạn của làng Mộ Trạch, Đường An – mảnh đất tương truyền là “Tiến sĩ sào” (tổ Tiến sĩ). Ông nội của Vũ Phương Điền là Vũ Quốc Trân, cũng là người xuất thân khoa hoạn. Cha ông là Vũ Phương Nhạc (1673-1745), từng giữ chức Đông các hiệu thư dưới thời Lê Ý Tông. Mẹ ông là bà Vũ Thị Đại, con gái của Vũ Đăng Hiển (người đã được Vũ Phương Đề viết về thân thế sự nghiệp trong truyện Mộ Trạch luỹ trúng ở CDTK). Bà Đại, là vợ thứ hai của ông Vũ Phương Nhạc.

 

          Theo gia phả thì Vũ Phương Đề sinh vào giờ Thìn, ngày mồng 9, tháng 10, năm Mậu Dần –1698 (các tài liệu giới thiệu về Vũ Phương Đề từ trước đến nay thường ghi ông sinh năm 1697). Riêng các nhà khoa bảng Việt Nam ghi là ông sinh năm 1698. Có lẽ các nhà nghiên cứu căn cứ vào số tuổi năm của Vũ Phương Đề đỗ Đồng tiến sĩ để truy ngược năm sinh của ông, nhưng không lưu ý rằng người xưa chỉ tính tuổi âm, nghĩa là khi sinh ra đã tính 1tuổi. Chẳng hạn, khi ghi ông đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), năm 39 tuổi thì thực tế ông mới 38 tuổi. Có lẽ vì thế mà có sự chênh lệch này. Ở đây chung tôi xin căn cứ theo gia phả). Năm 16 tuổi, ông thi Hương trúng Tam trường khoa Giáp Ngọ (1714), Năm Canh Tý (1720), ông 22 tuổi, lĩnh Hương tiến. Năm sau thi Hội (khoa Bảo Thái 2), ông trúng Tam trường, và sau đó được giữ chức Quốc tử giám Lễ kinh học chính giám tập. Năm At Tỵ (1725), Vũ Phương Đề nhận chức Tri huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Khoa Bính Thìn (1736), niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (Lê Ý Tông) ông đỗ Đồng tiến sĩ. Sau đó nhậm chức Lại khoa cấp sự, Kỳ thi Hương khoa Mậu Ngọ (1738), Vũ Phương Đề được cử làm Đề điệu trường Nghệ An.

 

          Khoảng thời gian từ năm 1741-1744 trong gia phả không thấy ghi Vũ Phương Đề làm gì, nhưng theo Việt sử thông giám cương mục thì tháng 3, năm Tân Dậu (1741), ông được cử làm Hiệp đồng đạo Đông Triều Hải Dương. Việt sử thông giám cương mục ghi như sau: “Vì Hải Dương đã được bình định, nên chia làm bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức tuần phủ để chiếut heo địa phận vỗ về dân chúng. Bổ dụng Nhữ Đình Toản, Vũ Khâm Lân, Phạm Đình Trọng và Vũ Phương Đề đều giữ chức Hiệp đồng (5). Và vào tháng 5, năm Giáp Tý (1744), Hoàng Ngũ Phúc bao vây căn cứ Đồ Sơn thì Nguyễn Hữu Cầu phá vây tiến lên Kinh Bắc. “Trấn thủ Trần Đình Cẩm tiến quân từ Thiết Sơn đến Trai Thị, bị giặc đánh bại, tất cả quân lính đều tan vỡ. Đình Cẩm lui giữ Thị Cầu, giặc nhân thế thắng đuổi đánh, Đình Cẩm lại bị thua, giặc đuổi thao, bèn chiếm được trấn thành Kinh Bắc, tung lửa đốt phá doanh trại. Đình Cẩm cùng đốc đồng Vũ Phương Đề bỏ ấn tín chạy. Nửa đêm tin báo đến Kinh, trong Kinh thành nhốn nháo kinh sợ” (6). Những dòng ghi chép trên cho chúng ta biết đại lược là: từ tháng 3 năm 1741, Vũ Phương Đề giữ chức Hiệp Đồng đạo Đông Triều bà khoảng những năm 1744, ông làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc. Theo Nguyễn Đăng Na thì sau khi để mất trấn thành Kinh Bắc, Vũ Phương Đề bị cách chức. Không biết ông bị cách chức bao lâu, nhưng trong gia phả lại ghi:

 

          Năm Đinh Mão (1747), Vũ Phương Đề được thăng Đông các hiệut hư. Năm Canh Ngọ (1750), lại được thăng chức Tham chính xứ Sơn Nam và tại chức 7 năm. Năm Kỷ Mão (1759), ông lại được thăng Đông các học sĩ, kiêm Kinh Bắc Tham chính.

 

          Vũ Phương Đề mất ngày 26 tháng 4 năm Tân Tụ (1761) tại nhiệm sở, thọ 63 tuổi (Các tài liệu từ trước đến nay đều để trống năm mất của Vũ Phương Đề. Chúng tôi cho đây là một thông tin mới đáng lưu ý). Sau khi mất ông được truy tặng Hàn Lâm viện thị độc, gia tặng Đông các đại học sĩ, Xuân Trạch hầu.

 

          Nguyễn Đăng Na khi giới thiệu về CDTK có đặt vấn đề rằng: “Có lẽ CDTK được sáng tác trong thời gian mất chức này (tức năm 1744). Về sau, số phận của Vũ Phương Đề ra sao, không rõ” (7). Chúng tôi nghĩ, những thông tin trên của gia phả có thể bổ sung thêm khoảng thời gian còn “không rõ” trong cuộc đời của tác giả CDKT. Chưa chắc những gì ghi trong cuốn gia phả mà chúng tôi khai thác là chính xác, nhưng dù sao đây cũng là một cuốn gia phả được biên soạn khá nghiêm túc về một dòng họ đáng gọi là “cự tộc” trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam. Gia phả ghi rằng, năm 1747 Vũ Phương Đề được thăng Đông các hiệu thư, và năm 1750 ông lại được thăng Sơn Nam Tham chính và tại chức 7 năm, có thể hoàn toàn xác thực. Bởi như chúng ta đều biết, khi đề tựa cho CDTK (1755), họ Vũ có ghi rõ hai chức vụ mà mình đang giữ này. Hơn nữa, nếu đọc kỹ CDTK ta vẫn thấy có một vài chi tiết cho thấy khoảng thời gian nói trên Vũ Phương Đề vẫn đang tại chức. Chẳng hạn, ờ cuối truyện Bộ đầu linh từ ký, họ Vũ viết rằng:

 

          “Năm Giáp Tuất (1754), ta phụng mệnh đến trông coi việc đắp đê ở làng ấy. Đền ở nagy cạnh đê, ta vào thăm thì thấy tượng thần cũng y nguyên…”

 

          Hoặc ở truyện Xà tuyền ký, tác giả cũng để lộ một chi tiết như thế:

 

          “Năm Giáp Tuất (1754), ta phụng mệnh đi đón sứ giả [của Tàu] qua đấy, cũng có vào đền làm lễ. Nhân đó hỏi chuyện người trong ấp, người ta đã thuật lại đầu đuôi sự tích cho nghe, nên ghi chép đại lược ra đây”.

 

          Vậy, chúng ta có thể tin rằng, vào khoảng những năm 1754, 1755 Vũ Phương Đề vẫn đang tại chức, đang viết và sắp hoàn thành sách CDTK.

 

          2. Như ở trên chúng tôi đã nói, CDTK là tác phẩm có vai trò “nối mạch”, “hồi sinh” cho dòng văn xuôi tự sự Việt Nam sau hơn hai thế kỷ cơ hồ bị gián đoạn. Hơn nữa, nó còn là “tác phẩm mở đầu cho lối “ghi nhanh” –tiệp ký trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam” (8). Sau CDTK, dòng văn học này nở rộ chưa từng thấy. Có thể kể ra đây một số tác phẩm tiêu biểu như: Sơn cư tạp thuật, Kiến văn lục, Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tuỳ bút, Mẫn Hiên thuyết loại, Đại Nam kỳ truyện, Thính văn di lục…”. Khảo sát những tác phẩm trên, ngoài thể truyền kỳ truyền thống, ta bắt gặp nhiều khái niệm mới về thể loại, tức là về hình thức thể hiện như ký sự, tiệp ký, ký văn, tuỳ bút, tạp thuật, ngẫu lục, chí… Dĩ nhiên vào thời kỳ ấy các tác giả hẳn là chưa hình dung thật chính xác và cụ thể nội hàm của từng khái niệm, thậm chí có khi dùng hai khái niệm về thể loại nhưng không có gì khác nhau về bút pháp thể hiện. Ví dụ: Phạm Đình Hổ viết Vũ trung tùy bút rồi ông và Nguyễn An lại viết Tang thương ngẫu lục. Cả hai khái niệm tùy bút và ngẫu lục mà hai ông sử dụng chỉ muốn nói một điều là “họ đã dùng ngòi bút sao lục, ghi chép một cách ngẫu nhiên, tuỳ hứng, tự do chứ không có trước một ý đồ nào cả” (9). Có thể nói, xét về phương thức sáng tác, trên đại thể là phát triển theo lối viết của CDTK. Thực chất đây là những giai thoại, những câu chuyện lạ lưu truyền trong dân gian. Những câu chuyện này được các tác giả ghi lại  dưới hình thức “nghe sao ghi vậy” (dĩ nhiên là có sự gia công gọt giũa và cả khảo cứu). Rất nhiều thiên truyện các tác giả đã “thực thà” thể hiện tính chất “sưu tầm truyện dân gian” ấy. Chẳng hạn, ở truyện Xà tuyền ký, Vũ Phương Đề viết: “Năm Giáp Tuất, ta phụng mệnh đi đón sứ giả của Tàu qua đây, cũng có vào đền làm lễ. Nhân đó hỏi chuyện người trong ấp, người ta đã thuật lại đầu đuôi sự tích cho nghe, nên ghi chép đại lược ra đây”. Hoặc cuối truyện Ông Lê Thì Hiến, Nguyễn An cũng chua thêm: “Hai thuyết trên chưa rõ thuyết nào đúng. Vậy cứ chép cả ra đây” (10). Rất có thể đấy là những lời “đưa đẩy” của người viết, nhưng dù sao tính chất ghi chuyện truyền miện, đồn đại trong dân gian vẫn thể hiện rõ ràng qua cách viết của các tác giả. So với loại chí quái, truyền kỳ thì loại ký sự như thế này đã ít hoang đường, hư huyễn, mà đã đậm đà tính “thời sự” hơn, độ xác thực nhiều hơn, và đặc biệt có khi độ xác thực khá cao, chẳng kém những thiên ký sự hiện đại. Điều này ta có thể thấy rõ ở một số thiên trong Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng kinh ký sự và Hoàng Lê nhất thống chí.

 

          Chúng tôi xin quay trở lại với CDTK. Với cách nhìn hôm nay, đứng ở góc độ phương thức sáng tác mà xét, có thể gọi CDTK là một công trình sưu tầm, ghi chép truyện dân gian. Chẳng cần tìm đâu xa xôi, giở trang đầu tiên của CDTK ta đã thấy tác giả bộc bạch “thực chất công việc” của mình: “Phủ này ngày thường rất thích nói, cho nên trong lúc việc công rảnh rỗi bèn đem những điều mình biết sẵn và tìm hiểu thêm các bậc nghe rộng biết nhiều, hễ được chuyện gì cũng cứ sự thực ghi lại rồi xếp thành thiên, nhan đề là “Công dư tiệp ký” (Lời tựa CDTK). Nhưng ở đây tác phẩm không chỉ giới hạn trong khuôn khổ những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích đậm sắc thái hoang đường như LNCQ nữa, mà đã mở rộng ra, ghi chép khá nhiều những giai thoại dân gian, dã sử về các dòng họ và danh nhân lịch sử Việt Nam. Những mẩu truyện danh nhân thường đi kèm với những giai thoại văn học lý thú và sinh động. Đây là một điểm khá mới mẻ của CDTK so với các tác phẩm trước nó như VĐUL, LNCQ. Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà các tập truyện sao lục lại CDTK sau này (như Việt tuấn giai đàm, Lịch đ5I danh thần sự trạng…) phần lớn đều sao chép lại những truyện ký danh nhân đậm đà chất giai thoại ấy. Chúng tôi nghĩ rằng, những thiên truyện sinh động, đậm chất giai thoại này chính là linh hồn của CDTK. Chúng ta hãy đưa những thiên truyện này trở lại môi trường xã hội trước đây, khi mà hướng đi và ước mơ của một đấng “nam nhi chi chí” thường là: học hành –thi cử- đỗ đạt- làm quan, giúp vua “tề gia trị quốc”, có như thế chúng ta mới hiểu rõ hơn vì sao những câu chuyện về ông Cống, ông Nghè ấy đã cuốn hút, làm say sưa bao lớp độc giả. Đây chính là vấn đề môi trường văn hoá và tâm lý thời đại –cái mà chúng ta dễ dàng hụt hẫng nếu không lưu tâm đến khi tìm hiểu hay thưởng thức một tác phẩm của thời quá khứ.

 

          Cũng cần nói thêm, ở VĐUL, LNCQ, khi viết về các vị thần (những câu chuyện mang tính chất thần phả) thì những vị thần đó phải là những bậc “thông minh chính trực… không phải là hạng dâm thần, tà ma quỷ quái…” (Lời tựa VĐUL của Lý Tế Xuyên). Nhưng đến CDTK thì hình như tác giả không còn kén chọn quá “khắt khe” như thế nữa, và đã “cởi mở” hơn khi ghi chép một số câu chuyện về thần thánh. Ơ đây có những vị không những không được liệt vào tự điển, không được “thông minh chính trực” mà còn là “hạng dâm thần, tà ma quỷ quái” nữa. Trong CDTK ta bắt gặp một vị thần chuyên làm khổ dân chúng bằng cách phá đê, gây lụt lội, đến khi nào dân đen dựng cho các miếu thờ tự mới chịu yên (Kim Tông thuỷ thần ký); một vị thần quên cả bố mẹ, coi Ngọc hoàng Thượng đế chỉ “bé bằng hạt tiêu” như Cường Bạo Đại Vương, đã thế, khi chết rồi còn hoạnh hoẹ dân chúng, gây ôn tác dịch  cho súc loại và con người, đòi được một các đền mới chịu nghỉ (Cường Bạo Đại Vương ký). Không những thế, ở đây ta còn bắt gặp những thần thánh linh thiêng, chẳng biết linh thiêng tới đâu mà lại bị một gã lưu manh nhãi nhèp lừa cho thất điên bát đảo (Thanh Hoa linh từ ký). Bên cạnh những thần thánh uy nghiêm, những anh hùng dân tộc kỳ vĩ, ở CDTK ta đã thấy xuất hiện những con người bình thường, thế nhưng họ đã có những hành động yêu nước, mưu trí, dũng cảm phi thường. Đấy là những anh hùng vô danh như cô gái làm nghề xướng ca trong Đào nương ký, là người đàn ông không tên tuổi trong Hạ Bì dị nhân ký… Những trang sữ chính thống đã bỏ quên họ, nhưng “nghìn năm bia miệng” vẫn khắc sâu hình ảnh anh hùng cao đẹp của họ. Vũ Phương Đề là một trong những người đầu tiên đã đưa những con người bình dị nhưng không kém khí phách anh hùng ấy vào trang viết của nhà nho. Như chúng ta đều biết, ngọn bút của nhà nho dùng để “khuyến thiện, trừng ác” chứ nào phải để mua vui, họ Vũ cũng không nằm ngoài tư tưởng đó. Và tất cả chúng ta đều phải đồng ý với nhau rằng “ngay từ đầu, chiều hướng Nho hoá đã chi phối việc ghi chép truyện cổ một cách khó cưỡng, làm cho nhiều câu chuyện vốn rất ly kỳ bị đơn giản hoá, hoặc mỹ hoá, hợp lý hoá, theo kiểu sách vở nhà nho” (11). Tất nhiên, Vũ Phương Đề cũng không thoát khỏi chiều hướng đó. Nhưng nếu thử đối sánh một số câu chuyện mang tính thần phả ở CDTK với VĐUL thì ta thấy họ Vũ viết hồn nhiên và thoải mái hơn họ Lý nhiều. Đọc một số truyện như Đế Thích ký (phụ Trương Ba), Kim Tông thuỷ thần ký, Cường Bạo Đại Vương ký… ta thấy dường như dân gian kể thế nào thì tác giả chép lại như thế ấy. Có lẽ vì thế mà chúng đậm đà phong vị dân gian. Có thể nói, họ Vũ chưa “cải hoá” những “huyền thoại kỳ lạ chưa được giải mã, thành một loạt lý lịch “trong sạch”, “đẹp đẽ” nhưng cũng hết sức tẻ ngắt và nhàm chán” (12) như một số nhà nho khác đã làm. Giữ được màu sắc của huyền thoại, giai thoại dân gian, đấy là nét son đáng chú ý trên những trang viết của CDTK.

 

          Vì vậy, những câu chuyện này không những được người ta hứng thú truyền chép rộng rãi ở thời trung đại mà còn được các nhà sưu tầm, biên soạn truyện cổ diễn dịch lại bằng cả chữ Nôm (Truyện CDTK (AB.481), Vũ Xuân Tiên dịch 36/44 truyện của CDTK tiền biên; Nam Hải dị nhân liệt truyện diễn âm (AB.472), Phan Kế Bính chọn dịch Nôm 5 truyện trong CDTK tiền biên), chữ Quốc ngữ ở thời cận hiện đại. Độc giả ngày nay vẫn cảm thấy hết sức thú vị khi đọc những giai thoại về Lê Nại, Phạm Trấn, Đỗ Uông, Lương Hữu Khánh… được tuyển dịch trong cuốn Giai thoại văn học Việt Nam (13), và cũng chẳng kém phần thích thú khi đọc những truyện như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Sự tích hồ Ba Bể, Giáp Hải, Cường Bạo Đại vương… trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (14).

 

          Vũ Phương Đề sinh ra và lớn lên từ một dòng họ nổi tiếng trải bao đời kế thế đăng khoa trên một vùng đất có truyền thống hiếu học và vang danh trên trường khoa hoạn, một vùng đất xứng đáng với bốn chữ “địa linh nhân kiệt”, vùng đất mà chỉ riêng huyện Đường An, tính đến năm 1851 đã có đến 108 vị đỗ đại khoa. Trong đó, riêng làng Mộ Trạch của Vũ Phương Đề đã có đến 39 vị, và trong 39 vị này đã có 30 người họ Vũ (15). Thật chẳng ngoa tí nào khi người ta gọi đó là “tổ Tiến sĩ” (Tiến sĩ sào). Và CDTK ra đời cũng chính từ niềm tự hào ấy. Vũ Phương Đề sống vào thời buổi phong kiến suy tàn, đất nước một vua hai chúa, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, cửa Khổng sân Trình đầy rẫy những hạng “sinh đồ ba quan”; ánh hào quang của một thời thịnh trị đang lùi dần vào quá vãng. Vì thế, những giai thoại về những ông Nghè, ông Cống ấy không những “ngụ nhiều điều khuyến giới, ngõ hầu để xem trong lúc thư nhàn” (Lời tựa CDTK của Vũ Phương Đề) mà còn thể hiện những đồng vọng của quá khứ, “bởi vì quá khứ luôn phục sinh, quay trở lại và trở thành nội dung thực tại của hiện tại” (16). Đấy không những là niềm tự hào về một dòng tộc vang danh, một vùng đất thần thiêng mà còn là niềm tự hào về “địa linh nhân kiệt” của một đất nước. Từ VĐUL, LNCQ, TKML đến CDTK ta luôn thấy hiện diện niềm tự hào ấy. Có thể nói, đấy là niềm cảm hứng chủ đạo, quán xuyến các tác giả trong mạch chảy của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Niềm tự hào ấy không những bàng bạc trên những trang viết của các tác giả, hơn nữa còn hun đúc ngọn lửa nhiệt tình, lòng tự hào về quê hương đất nước cho những thế hệ độc giả nốit iếp sau. Quả vậy, một trong những người đọc sau đó đã thốt lên rằng: “Nước Việt ta lập quốc, sơn kỳ thuỷ tú, địa linh nhân kiệt, so với các nước trong toàn cầu, thực là anh vĩ đặc biệt, cố nhiên là không chịu nhường ai rồi […]. Cứ xem trong các sách Công dư tiệp ký, Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh nam chích quái, Tang thương ngẫu lục thì có thể thấy rõ” (Lời bạt sách Trùng bổ VĐUL Toàn biên của Tam Thanh Quán đạo nhân). Có lẽ cũng xuất phát từ niềm tự hào đó, mà VĐUL, LNCQ và CDTK đã được các thế hệ tục biên, tục bổ, bổ di… trải dài qua các thời đại. Không những thế, chúng còn tạo ra một loạt những tập sách trích lục, sao chép lại với những tên sách mới. Điều khá lý thú là khi khảo sát những thiên chuyện trong tập sách này chúng ta thấy có một sự “hỗn dung”, “giao thoa” khá đậm đà giữa LNCQ và CDTK. Ở đây chúng tôi muốn nói đến hiện tượng người trích lục đã sao chép lẫn lộn một cách “vô tư” các thiên truyện của LNCQ và CDTK trong cùng một tập sách. Chúng ta có thể thấy điều này qua các sách Việt tuấn giai đàm (A.3006), LNCQ (A.1752), CDTK (HV.74)… Qua đó có thể thấy rằng, CDTK đã bổ sung một mảng đề tài mà LNCQ còn thiếu vắng –đấy là những truyện viết về các “nhân kiệt” chưa được “thần thánh hoá”, hãy còn hết sức phàm trần, gần gũi với các thế hệ độc giả. Ở một mức độ nào đấy có thể gọi đây là những thiên ký sự “người thật, việc thật” sinh động, hấp dẫn, vừa cung cấp thêm tư liệu về đời tư của những người nổi tiếng, vừa góp phần củng cố thêm lòng tự hào “địa linh nhân kiệt” cho dân tộc. Đấy là cái đặc biệt, là thế mạnh, là linh hồn của CDTK.

 

          Có lẽ vì tính hấp dẫn ấy của CDTK mà theo đó Trần Quý Nha đã viết thêm Tục CDTK, và sau đó không ít người đã sao chép lại những truyện trong CDTK ở những quyển sách khác. Riêng về văn bản, hiện tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học, Thư viện Quốc gia Hà Nội còn lưu giữ đến 13 dị bản này của CDTK. Việc khảo sát, nhận định những dị bản này của CDTK là một vấn đề khoa học không kém lý thú.

 

 

 

CHÚ THÍCH:
(1)    Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Hữu Mùi: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, NXB Văn học, Hà Nội, 1993.
(2)    Nguyễn Đăng Na: Tục Công dư tiệp ký: tác giả và tác phẩm, Tạp chí Hán Nôm, 1/1989, tr.48-50.
(3)    (7) (8) Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1, NXB Giáo dục, 1997.
(4)    Vũ Phương Lan: Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích (ký hiệu: A.3132)
(5)    Việt sử thông giám cương mục, Tập 18, NXB Sử học, Hà Nội, 1960.
(6)    (9) Hoàng Hữu Yên: Tuyển tập truyện Việt Nam thế kỷ X-XIX, NXB ĐHTHCN, Hà Nội, 1987.
(10) Phạm Đình Hổ, Nguyễn An :Tang thương ngẫu lục –Ngô Văn Triện dịch, Trần Nghĩa giới thiệu (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Tập II, NXB Thế giới, Hà Nội 1997).
(11) (12) (14) Nguyễn Đổng Chi: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập V, NXB Văn học, 1993.
(13) Hoàng Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch: Giai thoại văn học Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988.
(15) Vũ Băng Tú: Về một bài văn bia của Tiến sĩ Vũ Tông Phan mới được phát hiện, Tạp chí Hán Nôm 4/1997, tr. 74-82.
(16) GURÊVICH. AJA: Những phạm trù văn hoá trung cổ –Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, 1996.

Phần này bàn về cách dùng đỗ như "đỗ trạng nguyên", xuống thuyền/lên đất, trên và dưới vào thời LM Alexandre de Rhodes sang An Nam truyền đạo, cụ thể là qua tự điển Việt Bồ La và các tài liệu chữ Nôm hay tiếng Việt cùng thời đại.

Với cách nhìn rộng ra hơn, từ trục không gian đến thời gian, ta có cơ sở giải thích các cách dùng đặc biệt này trong tiếng Việt. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ …) của các từ này. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn (xem link). Các chữ viết tắt khác là TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa Giê Su), KNLMPS (Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh), LM (Linh Mục), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm.

1. Đỗ trạng nguyên (VBL trang 225) 

1.1 Đỗ/đậu 

Ngay dưới mục đỗ trạng nguyên[1], VBL ghi đỗ cũng là đậu: điều này cho thấy hai cách đọc đỗ và đậu đã hiện diện vào thời VBL (1651). Động từ đậu HV có nghĩa là dừng lại, đùa giỡn, khiến - tiếng Việt thường dùng nét nghĩa thứ nhất. Chữ đậu 逗 (thanh mẫu trừng 澄 hay định 定, vận mẫu ngu 虞 hay hầu 侯 khứ thanh, hợp khẩu tam/nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

田候切 điền hậu thiết (TVGT, QV) - TVGT ghi 止也。从辵豆聲 chỉ dã, tùng sước đậu thanh. 

大透切,音豆 đại thấu thiết, âm đậu (TV, LT, VH, CV, TVi)

徒候切 đồ hậu thiết (TV, LT)

徒闘切 đồ đấu thiết (NT, TTTH)

音豆 âm đậu (LKTG, TNTTĐTA 精嚴新集大藏音)

持遇切 trì ngộ thiết (QV)

廚遇切, 音住 trù ngộ thiết, âm trụ (TV)

他候切, 音透 - 義同 tha hậu thiết, âm thấu - nghĩa đồng (TV/LT phiên thiết, KH)

去智切,音跂 khứ trí thiết, âm khí (TV, LT)

TNAV ghi vận bộ 尤侯 vưu hầu (khứ thanh)

CV ghi cùng vần/khứ thanh 豆 脰 逗 餖 酘 竇 窬 瀆 讀 投 (đậu *du đậu/độc *đầu)

大候切,音豆 đại hậu thiết, âm đậu (CTT) 

音住 âm trụ (CTT) ...v.v...

Giọng BK bây giờ là dòu tóu zhù qì tòu qí so với giọng Quảng Đông dau6 và các giọng Mân Nam 客家话:[海陆丰腔] teu5 teu6 [宝安腔] tiu5 | [梅县腔] teu5 [客英字典] teu5 [陆丰腔] teu5 [东莞腔] teu3 [台湾四县腔] teu5 teu5 [客语拼音字汇] teu4 潮州话:dau1, giọng Mân Nam/Đài Loan tou7, tiếng Nhật tou zu và tiếng Hàn twu.

VBL ghi "Chẳng đỗ lâu" là chẳng ở lâu ; "mà bay cho tao áo mặc cùng cho đỗ nhà" Đức Chúa Giê-Su quyển chi cửu/chi thập trang 140. Một dạng chữ Nôm dùng đỗ HV 杜 cho âm đọc đỗ hay đậu. Điều đáng chú ý là cách dùng "đỗ trạng nguyên" vào thời VBL.

1.2 Thi đậu và đỗ trạng nguyên

Động từ đậu hay đỗ (ở yên một chỗ, dừng lại - TVGT ghi là 止也 chỉ dã, NT ghi là 住也 trụ dã) để chỉ thi đậu hàm ý đã vượt qua các tiêu chuẩn thử thách của một kỳ thi và dừng lại. Ca dao VN đã ghi dấu ấn của cách dùng đỗ như "Học chẳng hay thi may thì đỗ" hay "Học trò đèn sách hôm mai, Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào" ...v.v... Tư duy tổng hợp và cụ thể của người Việt đã phản ánh quá trình học hỏi ngày đêm để dẫn đến đích là đậu các kỳ thi hương, hội hay đình: dừng ở đó tức là đã đạt được mục tiêu rồi (đỗ đạt). Ngược lại với đậu là rớt, động từ này ghi lại hình ảnh rất thực quá trình không đạt tới đích mà mình mong ước, hay không ở (đậu) được trên cao nên phải rơi xuống phía dưới (rớt ~ hỏng). Đây cũng là dấu ấn của không gian cụ thể (trên cao/dưới thấp) trong một hoạt động mang tính chất văn hóa trừu tượng. So sánh với cách nói (thi) đậu trong tiếng Trung Hoa là cập cách 及格 (hợp thức, đạt đến tiêu chuẩn) hay thông qua 通過; hay tiếng Anh là pass an exam (thi đậu) ~ passer un examen (tiếng Pháp); các ngôn ngữ này đều dùng động từ đi qua/thông qua so với dừng lại như tiếng Việt. Cách dùng thi đỗ (đậu) tiếng Việt phần nào cho thấy cứu cánh hay mục đích cuối cùng của giới sĩ (học trò), đỗ đạt thì ra làm quan, trong tứ dân: sĩ nông công thương. Cách dùng *vượt qua kỳ thi (pass an exam) phản ánh đi qua một chặng đường hay chỉ là phương tiện trong tiến trình học hỏi. Chúng ta có thể nhìn rộng ra hơn (tư duy tổng hợp) để thấy diễn tiến từ lúc học hành ôn luyện cực khổ cho đến khi thi (giai đoạn cuối và có tính cách quyết định), như một mũi tên bắn ra sẽ không ngừng di chuyển cho khi đến khi dừng lại vì đã đụng mục tiêu (đậu/đỗ ngay tại mục tiêu). Nếu mũi tên không chạm được mục tiêu, hay đến đích không đúng góc độ thì mũi tên sẽ rớt xuống (đất). 

Ngoài cách dùng (thi) đỗ, tiếng Việt thời VBL còn khiến các giáo sĩ Tây phương ngạc nhiên không kém, như cụm từ xuống thuyền, lên đất, trên trời.

2. Xuống thuyền/lên đất, trên trời

2.1 Xuống thuyền (descendere in navigium/L), VBL ghi xuống thuyền hai lần (mục xuống và mụclên): "đức Chúa Iesu thì xuống thuyền Pedro, là đầy tớ cả mình" PGTN trang 182, "ĐCGS xuống thuyền ông thánh Phê-Rô, dạy cho ra khỏi đất và giảng cho người ta trên đất nghe" KNLMPS quyển ba trang 71. Ngoài những nhận xét về phong tục, tôn giáo vào thế kỷ XVII ở VN, LM de Rhodes còn đặc biệt chú ý đến cách dùng ‘xuống thuyền’ (VBL - trang 899) và ‘lên đất’ (VBL - trang 409) qua các cách giải thích trong VBL. Đến Việt Nam bằng tàu và di chuyển trong nội địa (qua Đàng Ngoài) cũng bằng tàu, nên LM de Rhodes không thể không quan tâm đến các cách diễn đạt liên hệ đến phương tiện di chuyển phổ thông này vào thời VBL. Trong từ điển VBL, LM de Rhodes thường phải giải thích thêm khi chính mình có những nghi vấn trong phạm trù nghĩa hay cách dùng tiếng Việt. Trong trường hợp "xuống thuyền", thì mặt nước thường thấp hơn mặt đất (tính chất của chất lỏng thường tụ lại ở nơi thấp), cho nên từ đất liền qua đến thuyền bè thì là xuống - khắc hẳn với cách nói "lên đất". Đây quả là một cách dùng hoàn toàn khác biệt[2] với các ngôn ngữ mà LM de Rhodes đã biết qua (Pháp, La Tinh, Bồ Đào Nha ...). ‘Xuống thuyền’ thật ra là vào trong thuyền hay lên trên thuyền (tiếng Anh: get on a ship, go aboard ship, embark[3] on) như lên xe, lên ngựa, lên đồi, lên lầu, lên núi ... So với tiếng Pháp embarquer sur, để ý các giới từ (preposition) on và sur là trên. Ngữ pháp này rất khác với cách dùng "thượng thuyền" (lên thuyền) 上船 hay “đăng thuyền” 登船 trong tiếng Hán. Để ý “xuống thuyền” (hạ thuyền 下船) tiếng Hán nghĩa là rời khỏi thuyền hay lên đất liền! Cách dùng “lên đất liền” hay rời thuyền (débarquer/P - debark/A) cũng giống như “đăng lục” 登陸 (đăng là lên, lục là đất cao hơn mặt nước). Nhưng tiếng Việt lại dùng xuống vì nhìn từ vị trí người nói hay từ góc nhìn xa hơn, không phải nhìn từ vị trí người đang di động để lên đến một nơi cao hơn (lên thuyền). Điều này phản ánh một tư duy tổng hợp (nhìn rộng ra thấy nhiều chi tiết hơn) so với tư duy phân tích (chi tiết) hay nhìn ngay từ vị trí của đối tượng đang đi lên thuyền, vị trí lại này cho thấy sự việc chính xác hơn (độ phân giải/resolution cao hơn vì mắt nhìn gần hơn). Tuy nhiên, tiếng Việt hiện nay lại có khuynh hướng dùng lên tàu so với xuống tàu/thuyền như thời VBL, có lẽ để phù hợp với các cách dùng khác như lên xe, lên máy bay...


VBL – trang 899

VBL – trang 409

2.2 Lên đất (ascendere/L), VBL ghi lên đất hai lần (mục xuống và mục lên), cũng như giải thích thêm là xuống khỏi tàu để đi lên đất liền - một cách dùng rất đặc biệt của tiếng Việt :"Lên đất liền thấy ĐCGS cùng thấy một con cá" ĐCGS quyển chi cửu trang 46. Lên đất bây giờ không thấy dùng nữa so với lên (trên) đất liền, lên bờ, lên (trên) cạn ...

2.3 Trên (tlên, supra/L):"Vì chưng trên trời thì có thiên đàng … thì ta mới được lên trên thiên đàng" PGTN trang 8, 9 ... Trên trời tiếng Anh là in the sky (*trong trời) cũng như tiếng Pháp là dans le ciel("trong" trời). VBL ghi trên trời là in caelo (tiếng La Tinh in là trong, caelo là trời/thiên đàng). Khi học tiếng Việt, LM de Rhodes phải dùng các từ để ghép thành câu hay nhóm từ nhưng khó mà quên đi các ngôn ngữ của chính mình (tiếng mẹ đẻ). Trong phần "Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh", LM de Rhodes ghi lại các giới từ như trên (supra/L), dưới (infra/L), trong (intra/L) ... Để diễn đạt "trên hết mọi sự" thì ghép từ khá dễ dàng: super omnia (VBL trang 809), nhưng khi diễn dịch "trên trời" hay "trên/lên thiên đàng" (một cách dùng cốt lõi  của Thiên Chúa giáo) thì sự khác biệt cách dùng trở nên rất rõ nét! VBL phải nhắc độc giả là khi dời từ vị trí thấp tới chỗ cao hơn thì thêm chữ trên. Nếu hiểu được tư duy tổng hợp (xã hội truyền thống nông nghiệp) : nhìn ‘mục tiêu mình đến và vị trí khởi hành cùng môi trường chung quanh’ từ một vị trí xa hơn thì có thể cảm thông cách dùng trên trời so với *trong trời (tư duy phân tích). Qua vài thí dụ ở trên, ta hãy tóm tắt những đặc tính của tư duy tổng hợp trong xã hội nông nghiệp truyền thống và thể hiện cụ thể trong tiếng Việt - các tính chất này không nhất thiết độc lập với nhau.

2.4 Ra (exeo/L): "ĐCT ra đời cứu thế ... ĐCGS phán rằng: tao đã ra đời đến phán xét thế này" PGTN trang 143, 199 ; "ĐCGS ra đời chuộc tội cho thiên hạ" ĐCGS quyển chi cửu/thập trang 14. VBL ghi nhận cách dùng ra đây (egredere huc/L, egredere là đi ra/xuất, huc là ở đây), so với come here! (A) và viens ici! (P) đều có nghĩa là đến/lại đây. Đến hay tới đây là kết quả từ cách nhìn của người nhận lệnh/thừa hành (moving ego). LM de Rhodes ghi ra cửa là exire è portu (ra khỏi cửa/L) so với vào cửa là ingredi in portum (đi vào trong cửa/L) ...v.v... Và nhận xét là các giới từ này dùng giống như các ngôn ngữ quen thuộc của ông (La Tinh, Pháp, Bồ Đào Nha ...). Tuy nhiên, ông phải chép lại cách dùng ra Kẻ Chợ (VBL trang 631) và ra ngoài (VBL trang 806) mang ý nghĩa đặc biệt là đi vào (khu vực) Kẻ Chợ và đi vào (khu vực) Đàng Ngoài. Ra đời là đến với đời, vào đời hay ‘chào đời’ (in mundum venere/L): hai cách dùng ra đời và vào đời thoạt xem thì trái ngược nhau nhưng lại cùng một nghĩa. Một cách giải thích là tư duy tổng hợp từ truyền thống nông nghiệp, nhìn từ xa hơn để thấy đối tượng (đời) có thể là đến/tới hay vào, hay nhìn từ vị trí người nói và môi trường chung quanh thì là ra khỏi (để vào đời). Từ một tư duy tổng hợp, vai trò của người nói/phát ngôn trong câu nói ra thể hiện rất rõ nét khi xem kỹ các cách dùng trên trời (so với *trong trời), xuống thuyền/lên thuyền, ra đời/vào đời, ra Bắc vào Nam, ra đây /vào đây, ra trận/vào trận, ra chợ/đi chợ/vào chợ, đi khám bác sĩ, chợt/bất chợt, thình lình/bất thình lình, áo lạnh/áo ấm, Lê Lợi đánh thắng quân Minh ~ Lê Lợi đánh bại quân Minh...v.v...

3. Tư duy tổng hợp truyền thống

3.1 Trọng thiên nhiên (cụ thể là không gian/môi trường chung quanh): nhà nông để ý đến các mối liên hệ thay vì từng yếu tố đơn lẻ: nắng tốt dưa, mưa tốt lúa; Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Đông chết se, hè chết nước; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm; Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa ...v.v... Các câu ca dao trên phản ánh khả năng kết hợp không gian thiên nhiên (mưa, gió, động vật chung quanh) và thời gian (trồng trọt, gặt hái) để có lợi cho mùa màng và đời sống nhà nông. Không phải ngẫu nhiên mà tên 12 con giáp Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi dùng để chỉ thời gian (mùa, năm, tháng, ngày, giờ), không gian (Tý ~ phương bắc, Ngọ ~ nam, Mão ~ đông, Dậu ~ tây ...) và 12 loài động vật rất gần gũi với đời sống nhà nông. Vết tích của góc nhìn tổng hợp đã hiện diện trong cách gọi 12 con giáp từ ngàn năm trước mà vẫn còn lưu truyền cho đến nay.

Tư duy tổng hợp cho thấy người nói/phát ngôn có khuynh hướng dự phần vào câu nói cũng như người nghe, hay là tổng hợp của các điều kiện/ thành phần trong môi trường lúc nói. Điều này giải thích được phần nào về cách xưng hô trong gia đình và ngoài xã hội của người Việt (honorifics, mà có người cho là rất phiền phức), thí dụ như Nguyễn Văn Danh là bác sĩ (nghề nghiệp) thì trong gia đình có thể gọi là Danh (tên riêng), anh, em, chú, bác, cha/ba (tía ở Nam Bộ), cậu, ông … tùy vào liên hệ của người nói với đối tượng. Ra ngoài xã hội, Nguyễn Văn Danh có thể được gọi là bác sĩ Nguyễn Văn danh, bác sĩ Danh, ông Danh, ngài ...v.v...  Từ một tư duy tổng hợp, vai trò của người nói/phát ngôn trong câu nói ra thể hiện rất rõ nét khi xem kỹ các cách dùng trên trời (so với *trong trời), xuống thuyền/lên thuyền, ra đời/vào đời, ra Bắc vào Nam, ra đây /vào đây, ra trận/vào trận, ra chợ/đi chợ/vào chợ, đi khám bác sĩ, chợt/bất chợt, thình lình/bất thình lình, áo lạnh/áo ấm, Lê Lợi đánh thắng quân Minh ~ Lê Lợi đánh bại quân Minh...v.v... Tư duy tổng hợp cho ta thấy sự khác biệt giữa cách dùng tôi/ta, chúng tôi/chúng takhi người nghe hay đối tượng có dự phần trong câu nói hay không. Đây là một tính chất đặc biệt của tư duy phân tích, phản ánh qua các ngôn ngữ Ấn Âu chú trọng nhiều về cá nhân (cái tôi) khi so sánh với các ngôn ngữ khác trên thế giới (exclusive/inclusive distinction). "Cái tôi" trong một tư duy tổng hợp đã mờ nhạt đi vì các tương quan gia đình và xã hội: phản ánh qua cách xưng hô rất linh hoạt trong tiếng Việt. Khuynh hướng khiêm nhường (hạ thấp cá nhân) này rất khác biệt với ngôn ngữ Ấn Âu, thường tôn trọng cá nhân: René Descartes đã lên tiếng "Cogito ergo sum" (je pense, donc je suis/I think therefore I exist - Tôi tư duy nên tôi hiện hữu). Khi nói chuyện với cha mẹ

"Sáng nay tôi đi chợ" là có vấn đề! So với cách nói "Sáng nay con đi chợ"

Hay khi vợ chồng nói chuyện với nhau

"Tao muốn mày ở nhà coi con" thì không biết là có chuyện gì lấn cấn ở đây không?

3.2 Trọng cộng đồng (cụ thể là tập hợp con người sống dựa vào môi trường thiên nhiên/địa phương): vì dựa vào kinh nghiệm về thời tiết (yếu tố thiên nhiên – trúng hay được mùa so với trái hay mất mùa) từ các thế hệ trước, nên xã hội nông nghiệp tôn trọng gia đình, làng xóm - "phép vua thua lệ làng". Gia đình là nền tảng cơ bản nhất trong xã hội nông nghiệp, vì nghề làm ruộng cần nhiều sức lực nên gia đình đông con trở nên thuận tiện hơn – “an cư lạc nghiệp”. Đây là một nguyên nhân dẫn đến họ (cộng đồng, huyết thống) luôn đứng trước tên riêng trong tiếng Việt như Nguyễn Văn Danh - tương phản với tư duy phân tích (Tây phương, chú trọng đến cá nhân) dẫn đến thứ tự đảo ngược trong khi viết tên một người như Robert Redford; Robert là tên riêng/given name, Redford là họ/family name - vì đặt ở cuối nên family name/surname còn gọi là last name và tên riêng còn gọi là forename (tên đứng trước tên họ) ...v.v… Một khuynh hướng đáng chú ý là vì quá gắn bó với ruộng đất (đất đai có giới hạn) và gia đình, mà càng ngày dân số (gia đình, dòng họ) càng gia tăng, nên tư duy tổng hợp của người VN thu hẹp lại và trở thành tư duy tiểu nông, địa phương (cục bộ). Trong khi đó, tư duy phân tích lại thiên về (nguyên tắc/máy móc) kỹ nghệ hóa và lại có khả năng khuếch trương nông nghiệp lớn hơn và hiệu quả hơn. Tư duy tiểu nông còn dẫn đến khuynh hướng bảo thủ hơn (không thích thay đổi) và không thích mạo hiểm, tìm tòi các vùng đất mới lạ trừ khi phải bắt buộc làm như vậy vì khả năng sinh tồn (Nam Tiến).

3.3 Trọng quá khứ (cụ thể là thờ cúng tổ tiên): vì dựa nhiều vào thiên nhiên (nông nghiệp) nên cần phải học hỏi từ các chuyện xẩy ra trong quá khứ (ký ức tập thể truyền lại) - "áo mặc không qua khỏi đầu", "tiên học lễ hậu học văn" ... Trọng quá khứ dẫn đến phong tục thờ cúng tổ tiên, tổ của một ngành nghề ... Đây là bản sắc văn hóa đặc thù của người Việt. Tuy nhiên, không phải lúc nào ông bà tổ tiên cũng truyền lại kiến thức và kinh nghiệm đủ để giải quyết một vấn đề nào. Có khi than vãn hay phải nhờ đến một thế lực tối thượng/siêu nhiên thì "lạy trời", "nhờ trời", "trời ơi" ... Ca dao VN còn ghi lại lòng tin vào trời đất như

Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày

Lấy đầy bát cơm

 

...

Quá khứ là những chuyện đã xẩy ra, là nền cho hiện tại và tương lai (kinh nghiệm nhà nông) - nên ta còn thấy cách dùng trước (trước mặt/không gian) để chỉ quá khứ (thời gian) như ngày/tháng/năm trước, người trước ...

3.4 Trọng tình so với lý "Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình" (dù nhỏ đến đâu, "một tí" chính xác là bao nhiêu?): vì thường ở một chỗ cố định để chăm sóc ruộng vườn (khác với đời sống du mục) nên quan hệ tình cảm gia đình bè bạn trở nên gắn bó hơn. Ảnh hưởng của tình trở nên quan trọng so với lý, nhất là trong một vùng không gian giới hạn cùng lệ thuộc vào thiên nhiên:"Bầu ơi thươmg lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn", “Thương (yêu) nhau chín bỏ làm mười” - mức chính xác (chín/mười - định lương - đặc tính cốt lõi của khoa học tự nhiên của Tây phương) không còn quan trọng nữa

Thương nhau củ ấu cũng tròn, 

Ghét nhau đến quả bồ hòn cũng vuông

 

Không tình cảm gì rõ nét hơn quan hệ giữa con cái và các đấng sinh thành, không cách nào “định lượng” một cách chính xác công sức nuôi nấng và dạy bảo con cái

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
 
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

 

Tình cảm đạo đức thường tìm ẩn bên trong (phẩm), phù hợp với tư duy tổng hợp - so với những tính chất bên ngoài có thể quan sát và đo lường được như vẻ đẹp (màu da, khuông mặt, mũi dọc dừa, mắt to, chiều cao ...) phù hợp với tư duy phân tích hơn

Cái nết đánh chết cái đẹp 

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn 

…v.v…

Tóm lại, dựa vào tư duy tổng hợp của truyền thống nông nghiệp, ta có khả năng giải thích một số cách dùng trong tiếng Việt như đỗ/đậu (thi đậu), xuống thuyền/lên đất, trên trời, ra/vào đời ...v.v... Thoạt nhìn thì có vẻ không phù hợp với lý luận theo kiểu phân tách, nhưng nếu nhìn rộng ra hơn thì ta dễ cảm thông với 'bức tranh toàn cảnh' của các cách nói trên.

4. Tài liệu tham khảo chính

 

1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999).

2) Đỗ Quang Chính (1972) “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659” NXB Đuốc Sáng (Sài Gòn).

3) Huỳnh Tịnh Của (1895-1896) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d'Adran (SaiGon).

4) J. F. M. Génibrel (1898) "Dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon).

  

(1906) "Petit dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon).

5) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội).

6) Nguyễn Hồng (1959) "Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển 1 - Các Thừa Sai Dòng Tên 1615 - 1665" NXB Hiện Tại (Sài Gòn).

7) Halario De Jesu (thế kỷ XVIII) "Sách Các Phép" bằng 3 thứ chữ Nôm, La Tinh và quốc ngữ. Sách lưu hành nội bộ (1997).

8) Nguyễn Văn Khang (Chủ biên), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành (2002) "Từ điển Mường Việt" NXB Văn Hóa Dân Tộc (Hà Nội).

9) Phan Khôi (1954) "Việt ngữ nghiên cứu" NXB Đà Nẵng in lại (1997).

10) Vương Lộc (2002) "Từ điển từ cổ" NXB Đà Nẵng - Trung Tâm Từ Điển Học (Hà Nội).

11) Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí (1974) "Từ điển Tày-Nùng-Việt" NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội).

12) Nguyễn Thị Tú Mai (2012) "Chữ Nôm và tiếng Việt thế kỷ XVII qua Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Jeronimo Maiorica" Luận án TS Ngữ Văn - Đại Học Sư Phạm Hà Nội

13) Giêrônimô Maiorica (thế kỷ XVII) "Mùa Ăn Chay Cả", "Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển thượng", "Thiên Chúa Thánh Mẫu - Quyển trung", "Đức Chúa Giê Su - Quyển chi cửu & Quyển chi thập", "Thiên Chúa Thánh Giáo Hối Tội Kinh", "Kinh Những Ngày Lễ Phục Sinh - Quyển thứ ba". Sách lưu hành nội bộ (năm xuất bản 2002/2003).

14) Hoàng Thị Ngọ (1999) "Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh" NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội).

15) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên.

(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991).

“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).

"Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646" dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).

 

16) Nguyễn Ngọc San/Đinh Văn Thiện (2001) "Từ điển từ Việt cổ" NXB Văn Hóa Thông Tin (Hà Nội).

17) Thiên Nam Ngữ Lục (khuyết danh, chữ Nôm) xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII, có thể đọc trên mạng (xem link) 

18) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - "Dictionarium Annamitico-Latinum" Serampore (Bengale).

19) Nguyễn Cung Thông (2011) "A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?" - có thể xem toàn bài trên các trang (xem link)  ...v.v...

(2016) "Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài ... thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)" có thể xem toàn bài trang này (xem link)
 

(2016) "Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min ... Tiếng Việt thời LM de Rhodes" - có thể xem toàn bài trang này (xem link)

(2015) "Sinh thì là chết?" - có thể tham khảo ba bài viết này (đánh số 11.1 đến 11.3) trên các trang mạng như (xem link

(2012) "Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường tôn giáo - vài vết tích sau thời nhà Nguyên trong từ điển Việt Bồ La (phần 1.3)" - có thể xem toàn bài trang này (xem link)

- Nguyễn Cung Thông/Phan Anh Dũng (2016) "Tản mạn về nghĩa của mực tàu (phần 1)" - có thể xem toàn bài trang này chẳng hạn (xem link) hay trang  (xem link

 Nguyễn Cung Thông[4]

-------
[1] Trạng nguyên  là hạng nhất (đầu) trong hàng văn nhân, thuộc học vị tiến sĩ. Đậu trạng nguyên là đạt được bậc cao nhất trong hàng văn nhân, trong mục ghi dạng đỗ trạng nguyên VBL ghi đậu cùng nghĩa, cho thấy hai dạng đậu và đỗ đã hiện diện vào thời này. Không thấy VBL ghi bảng nhãn và thám hoa. Các cách dùng đỗ/đậu, mũ/nón, min, qua thời VBL cho thấy ảnh hưởng phương ngữ đã có mặt trong tiếng Việt.

 

[2] Học giả Phan Khôi cách đây hơn nửa thế kỷ cũng có vài nhận xét về cách dùng đặc biệt này:"Một điều rất đáng chú ý là có khi lên và xuống dùng cho cùng một động tác, có thể coi là đồng nghĩa, là khi nói lên thuyền xuống thuyền. Lên thuyền là ở đất bước lên thuyền, xuống thuyền là ở trên bờ bước xuống thuyền, hai cách nói đều chỉ nghĩa là đi đến thuyền cả. Cũng đáng chú ý nữa là: xuống xe là ở xe xuống, xuống ngựa là ở ngựa xuống, mà xuống thuyền không thể có nghĩa ở thuyền xuống, muốn tỏ cái nghĩa này người ta không nói thế mà chỉ nói ở thuyền lên, tức là lên bờ. Điều này thật là điều quá rắc rối lôi thôi trong ngôn ngữ văn tự của ta. Ước gì cải cách nó đi, bắt nó theo một loạt như lên xe xuống xe, lên ngựa xuống ngựa: nói lên thuyền tức là ở đất bước lên thuyền, nói xuống thuyền tức là ở thuyền bước xuống đất. Nhưng, ngặt một nỗi đất là bờ, phần nhiều cao hơn thuyền, nếu nói xuống thuyền để chỉ nghĩa ở thuyền bước xuống đất thì có lắm khi trái với luận lý. Có lẽ vì e dè đến luận lý mà tiếng nói của ta từ xưa đến nay phải dung nhận cái điều quá rắc rối lôi thôi ấy chăng” (1954) “Việt ngữ nghiên cứu” NXB Đà Nẵng in lại (1997). Học giả Génibrel (1898) cũng nhận ra cách dùng tiếng Việt rất đặc biệt này "Les Annamites disent Descendre à bord de n'importe quelle embarcation" (sđd, trang 984).

 

 [3] Embark/A, embarquer/P bây giờ thường thấy dịch ra tiếng Việt là lên tàu/xe ... Cách nói như vậy phản ánh phần nào kết quả của tư duy tổng hợp truyền thống đã thay đổi khi tiếp cận văn hóa và ngôn ngữ Tây phương, cũng như cách dùng con và cái - xem thêm các mục cái, đỗ ...

 

 [4] Nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Melbourne (Úc) – email This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Nguồn: http://conggiao.info/tieng-viet-thoi-lm-de-rhodes---cach-dung-do-trang-nguyen-trenduoi%E2%80%A6-phan-4-d-42592

Dien co          Trong văn học, một trong những biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến nhất là hình thức so sánh. So sánh là lấy phẩm chất của một cái này để làm nổi rõ đặc điểm của một cái khác. Tiến lên một bước, người ta không dùng hình thức so sánh, mà dùng hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Thông thường, trong so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, người ta thường lấy những hiện tượng thiên nhiên để làm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người. Về mặt nào đó, điển cố cũng có phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Nhưng có điều khác biệt là, điển cố như chất liệu dùng trong những hình thức ẩn dụ, hoán dụ không phải lấy trong thiên nhiên, mà lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ xa xưa.

20170911 Dong kinh nghia thuc

Ảnh: Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 chủ trương khai trí cho dân qua những lớp học chữ quốc ngữ

Gần đây nhiều người nói tới việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt tự thân nó vốn rất trong sáng, chỉ vì sự sử dụng bừa bãi bậy bạ của xã hội và quan niệm lệch lạc méo mó của những người quản lý và qui hoạch chính sách mới làm nó trở nên không còn trong sáng, điều này thể hiện một phần nơi thực tiễn văn tự mà cụ thể là chữ quốc ngữ Latin. Cho nên phải xem lại cái phương tiện đóng vai trò trung tâm trong việc thể hiện sự trong sáng của tiếng Việt ấy nó đang thế nào. Chính từ chỗ này, độ lệch giữa chữ quốc ngữ và tiếng Việt là một vấn đề có thể và cần thiết được đặt ra.

20171229 bia nam phong

Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX, xuất hiện nhiều tổ chức và cá nhân truyền bá chữ Quốc ngữ. Trong đó, phương tiện quan trọng để phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ, chính là sự xuất hiện và phát triển của báo chí Quốc ngữ. Tờ báo Quốc ngữ xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam là Gia Định báo, ra đời năm 1865, do Trương Vĩnh Ký điều hành. Trương Vĩnh Ký đã đưa ra ba mục tiêu cho tờ báo là “Truyền bá chữ Quốc ngữ trong nhân dân. Cổ động tân học trong nước. Khuyến khích nhân dân học chữ Quốc ngữ” (1). Đến cuối thế kỷ XIX, sau tờ Gia Định báo một số tớ báo chữ Quốc ngữ khác cũng được ra đời, như Phan Yên báo, (1868), Nhật Trình Nam kỳ (1883), Nam kỳ địa phận (1883).

Năm 1907, các nhà Duy tân trong Đông Kinh Nghĩa Thục sử dụng tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, sau này đổi thành Đăng cổ tùng báo in bằng hai thứ chữ, chữ Hán do Đào Nguyên Phổ phụ trách, chữ Quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách. Ngay trong số đầu tiên báo đăng tải bài “Người An nam nên biết chữ An nam”, của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, để tuyên truyền, cổ vũ việc học và sử dụng chữ Quốc ngữ trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân.

Song, chỉ đến khi Đông Dương tạp chí (1913) và Nam Phong tạp chí (1917) ra đời, thì vai trò truyền bá, phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ của báo chí mới thực sự nở rộ. Hai tờ tạp chí đều được xuất bản ở miền Bắc nên cách viết, cách sử dụng từ, sử dụng câu và cách phát âm có phần chuẩn hơn các tờ báo ở miền Nam. Cách viết tương đối thống nhất và hoàn chỉnh, dùng từ dễ hiểu, loại bỏ nhiều phương ngữ, góp phần không nhỏ vào quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ trên hai tờ tạp chí này.

Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh điều hành, được sự tài trợ của chính quyền thuộc địa. Mỗi tuần ra một số, có sự tham gia công tác của những cây bút xuất sắc nhất về Tây học lúc bấy giờ, như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn và những cây bút xuất sắc về Nho học, như Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục. Trên Đông Dương tạp chí, xuất hiện nhiều bài viết luận bàn về cái hay, cái đẹp, cái lợi ích của chữ Quốc ngữ so với chữ Hán, chữ Nôm, qua đó khuyến khích, cổ vũ nhân dân theo học. Tạp chí Đông Dương đưa ra mục tiêu “Phổ biến văn hoá Tây Phương, cổ động học chữ Quốc ngữ, giới thiệu kiến thức thực nghiệm như canh nông, công nghệ…” (2). Việc Đông Dương tạp chí đăng tải các bài có nội dung phê phán những hạn chế của chữ Hán, chữ Nôm và lối học khoa cử, bàn về tính tiện ích của chữ Quốc ngữ, về cách in ấn, cách thống nhất trong khi nói và viết, hay bàn về sự cần thiết phải tiếp nhận chữ Quốc ngữ – một sản phẩm của phương Tây ảnh hưởng đến Việt Nam.

Ngoài ra, Đông Dương tạp chí đăng tải nhiều vấn đề về cách dạy chữ Quốc ngữ từ cách đánh vần, viết chính tả, cách phát âm, tư thế ngồi viết đến phân biệt cách phát âm giữa tiếng miền Nam với miền Bắc. Những bài luận bàn về chữ Quốc ngữ trên Đông Dương tạp chí, tiếp tục góp phần tích cực trong tiến trình cổ vũ, phổ biến và xác lập vị trí chủ đạo của chữ Quốc ngữ trong xã hội Việt Nam.

Người đóng góp lớn lao vào quá trình truyền bá, cổ vũ cho chữ Quốc ngữ trên Đông Dương tạp chí là Nguyễn Văn Vĩnh. Ông và những cộng sự trong tạp chí Đông Dương nhận thấy chữ Quốc ngữ là một lợi khí, một phương tiện để mở mang dân trí, nâng cao dân khí và phục hưng nền văn hoá dân tộc. Nên Nguyễn Văn Vĩnh đã tích cực viết nhiều về vấn đề này, tiêu biểu như: “Chữ Quốc ngữ”, “Cách viết chữ Quốc ngữ”, “Chữ Nho nên để hay nên bỏ”, “Tiếng An nam”….Qua đó, phân tích, lý giải để khẳng định, đối với nhân dân Việt Nam, việc cần thiết phải sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Ông khuyên nhân dân bỏ chữ Hán, chữ Nôm mà học ngay lấy chữ Quốc ngữ, vì chữ Hán và chữ Nôm khó học, tốn nhiều thời gian không phải ai cũng học được, còn “Chữ Nho chỉ nên giữ lại để mà dạy ở khoa trung đẳng nam học mà thôi…Bây giờ trẻ con xin nhất quyết đừng cho học chữ Nho nữa, mà các tràng Pháp việt cũng xin bỏ lối dạy chữ nho đi” (3). Theo ông, người biết chữ Quốc ngữ  đọc được, hiểu được mà người không biết chữ nghe người biết chữ đọc cũng hiểu ngay. Ông khẳng định, việc học chữ Quốc ngữ ai có chí thì vài ngày, ngu đần một tháng cũng biết đọc, viết viết. Trong khi, việc học chữ Hán, chữ Nôm mất hàng nửa đời người, mà trăm người học không được một người hay, học được cũng chỉ ích lấy một mình. Công cuộc Truyền bá chữ Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh nhận thấy, một mình ông thực hiện, thì không thể mang lại nhiều thành công và ông đã kêu gọi “những bậc tài hoa, những người có học thức trong nước, phải chuyên vào nghề văn quốc ngữ” và đề xuất “nào báo quốc ngữ, nào sách học quốc ngữ, nào thơ quốc ngữ, nào văn chương quốc ngữ, án kỳ, hành trình, tiểu thuyết, nghị luận, tờ bồi việc quan, đơn từ kiện tụng, nên làm bằng toàn chữ Quốc ngữ hết cả” (4). Ngoài việc kêu gọi, cổ vũ mọi người tham gia học và sử dụng chữ Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh còn đưa vấn đề ngữ pháp ra bàn luận, nhằm cố gắng làm cho hoàn thiện chữ viết này. Ông nêu vấn đề cách đặt câu, chấm câu, cách viết, cách nói thống nhất trong cả ba miền “nay bản quán lấy việc cổ động cho chữ Quốc ngữ làm chủ nghĩa, tưởng cũng đem hết các khuyết điểm, các nơi không tiện ra mà bàn lại” (5).

Vai trò của của Nguyễn Văn Vĩnh đối với chữ Quốc ngữ và văn Quốc ngữ được nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét “Nguyễn Văn Vĩnh là một người rất có công với quốc văn nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch trên này mà ông có công ấy. Ông có công lớn với quốc văn là vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học vào buổi mà đối với văn chương, mọi người còn bỡ ngỡ. Ông lại hội họp được những cây bút có tiếng, gây nên được phong trào yêu mến quốc văn trong đám thanh niên trí thức đương thời, vì ngoài một vài quyển tạp chí có giá trị, thanh niên hồi xưa không làm gì có những sách quốc văn như bây giờ để đọc. Mà Đông Dương tạp chí hồi đó như thế nào? Người Tây học có thể thấy trong đó những tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà nước ta đã chịu ảnh hưởng lâu đời; người Hán học có thể thấy trong đó những tư tưởng mới của Tây phương là những tư tưởng mà người Việt Nam ta cần phải biết rõ để mà thâu thái. Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương tạp chí, ngày nay giở đến người ta vẫn còn thấy là những bài có thể dựng thành những bộ sách biên tập rất vững vàng và có thể giúp ích cho nền văn học Việt Nam hiện đại và tương lai” (6).

Tiếp sau Đông Dương tạp chí, là sự ra đời của Nam Phong tạp chí, vào năm 1917, do Louis Marty, thanh tra mật thám Đông Dương sáng lập. Trong đó, Phạm Quỳnh phụ trách về phần chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác chịu trách nhiệm về phần chữ Hán. Tạp chí nhanh chóng cuốn hút được nhiều cây bút xuất sắc lúc bấy giờ, như Nguyễn Bá Học, Lê Dư, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến… Trong việc cổ vũ, truyền bá chữ Quốc ngữ trên Nam Phong, là sự kế tiếp và phát triển mạnh mẽ hơn Đông Dương tạp chí. Các tác giả trên Nam Phong tiếp tục nghiên cứu, biên soạn từ điển, dịch nhiều tác phẩm nước ngoài ra chữ Quốc ngữ, nhất là mạnh dạn đề nghị việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong công văn giấy tờ và đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường học. Nam Phong tạp chí còn có công lớn trong việc xây dựng và hệ thống hoá, chuẩn hoá kho từ vựng, bổ sung các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật hiện đại.

Nam Phong tạp chí đăng tải nhiều nội dung bàn về các vấn đề liên quan đến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu như “Công văn phải dùng bằng chữ Quốc ngữ”, “Quốc ngữ Cổ”, “Khảo về chữ Quốc ngữ”, “Quốc ngữ quốc văn”, “Phan Châu Trinh đối với chữ Quốc ngữ” hay “Sự tiến hoá của tiếng An nam”, “Tiếng An nam có cần phải thống nhất không”, “Văn Quốc ngữ”, “Văn chương Quốc ngữ”, “Bảo tồn Quốc ngữ”…

Người nổi bật nhất trong Nam Phong tạp chí, không ai khác, chính là chủ bút Phạm Quỳnh, ông đã góp phần vào công việc truyền bá, cổ vũ và sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm, để xây dựng một nền quốc văn cho đất nước. Trong bài “Khảo về chữ Quốc ngữ”, đăng trên Nam Phong tạp chí, số 122, Phạm Quỳnh đã khảo sát về sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Ông khẳng định, các nhà truyền giáo người châu Âu khi đến Việt Nam đã tìm mọi cách nhằm sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, để phục vụ cho công việc giảng kinh, truyền đạo. Ông nêu lên quá trình ảnh hưởng, phát triển của chữ Quốc ngữ đến với nhân dân, nhất là, khi thực dân Pháp sử dụng nó trong công việc hành chính. Phạm Quỳnh nhận thấy sự tiện ích và phù hợp của chữ Quốc ngữ đối với nhân dân Việt Nam, mà các nhà duy tân Đông Kinh Nghĩa Thục đã nêu ra hồi đầu thế kỷ XX. Và khẳng định, sự cần thiết phải cổ vũ, truyền bá chữ Quốc ngữ đến với nhân dân “Ngày nay chữ Quốc ngữ đã nghiễm nhiên thành thứ chữ Viết, cái văn tự chung của dân tộc Việt Nam vậy. Học vừa dễ vừa mau, dùng vừa hay vừa tiện, thật là một cái lợi khí để truyền bá sự học trong quốc dân. Nay chúng ta được dùng cái chữ thần diệu đó…” (7).

Ngoài ra, Phạm Quỳnh không khoan nhượng trước một bộ phận người Việt Nam có tư tưởng xem thường chữ Quốc ngữ, coi chữ Quốc ngữ là thứ chữ không đáng học, không thể bằng chữ Pháp “chữ Quốc ngữ được thí nghiệm trong ba trăm năm được tiện lợi như thế, vậy mà còn có người bài bác, bao phen vận động muốn sửa đổi lại. Những nhà muốn cải cách ấy chỉ có câu nệ rằng trong chữ Quốc nữ có nhiều vần không hợp với tiếng Pháp: nhưng tiếng Pháp là tiếng Pháp, Quốc ngữ là Quốc ngữ” (8). Không dừng lại việc bàn luận về tính tiện ích của chữ Quốc ngữ trong công cuộc nâng cao dân trí, chủ bút Nam Phong nêu lên mối quan hệ giữa chữ Quốc ngữ với tiếng Việt, và dùng chữ Quốc ngữ ghi âm tiếng Việt có thành văn chương như các thứ tiếng khác. Thời của Phạm Quỳnh, việc cổ vũ sử dụng chữ Quốc ngữ viết sách, báo là một khó khăn, thách thức lớn. Bởi một bộ phận người Việt Nam luôn cho có quan điểm: “Phàm văn tự, có khó khăn mới thâm thuý. Nay chữ Quốc ngữ dễ quá, đứa bé lên năm, học trò sơ học mở quyển sách ra cũng đọc lau láu được ngay, thì cái văn chương sản xuất bằng thứ chữ ấy tất là thô thiển bỉ tiện, không xứng đáng là văn chương được” (9), mà họ không biết rằng “chính chữ Quốc ngữ là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy” (10). Nhưng chủ bút Nam Phong với niềm tin “hậu vận nước Nam ta hay hay dở là ở chữ Quốc ngữ, ở văn Quốc ngữ” và ông tiếp tục viết báo, dịch thuật, diễn thuyết và cổ động cho chữ Quốc ngữ phát triển trong xã hội. Trước nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam nên sử dụng chữ Pháp làm quốc văn, làm văn tự chính thức cho dân tộc. Nhưng, Phạm Quỳnh phân tích, lý giải cả chữ Hán và chữ Pháp. Rồi đi đến kết luận, hai thứ chữ viết trên không thể dùng làm quốc văn, làm chữ viết chính thức cho dân tộc Việt Nam, vì “chữ Hán cũng như chữ Pháp, chỉ có một số người học làm một chuyên khoa, không thể cho quốc dân học làm quốc văn được” và ông khẳng định “chỉ duy còn có chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ nói sao viết vậy. Mà cách viết ấy học rất mau, chỉ sáu tháng một năm là biết được cả” (11). Ông xem chữ Quốc ngữ là một thứ chữ “mầu nhiệm” cho nhân dân Việt Nam mở mang dân trí và tin rằng vận mệnh chữ Quốc ngữ sẽ gắn chặt với tiếng Việt, với người Việt và quốc văn cũng nhờ đó mà mỗi ngày một tiến lên rực rỡ. Cuối cùng, Phạm Quỳnh khẳng định, chính chữ Quốc ngữ là công cụ tuyệt diệu giải phóng trí tuệ và thâu thái các khoa học mới cho nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra, vào những thập niên đầu thế kỷ XX, xuất hiện nhiều bài viết đăng tải trên các báo chí bàn về các vấn đề: thống nhất tiếng nói, chữ viết, cải cách văn tự để tiếng Việt và chữ Quốc ngữ trở thành phương tiện cho người Việt biểu hiện tình cảm, tư duy, tư tưởng. Cuộc tranh luận về vấn đề này diễn ra rất sôi nổi vào những năm đầu thế kỷ XX, mà tiêu biểu như; “Chữ Quốc ngữ ở Nam kỳ và thế lực của phụ nữ”, “Vấn đề viết chữ Quốc ngữ cho đúng”, “Viết chữ Quốc ngữ phải đúng”, “Phải viết chữ Quốc ngữ cho đúng, dùng danh từ cho đúng”, “Vấn đề viết chữ Quốc ngữ”, hay, “Muốn viết chữ Việt Nam cho đúng phải phát âm cho đúng”, v.v của nhiều tác giả. Trong cuộc tranh luận liên quan đến chữ Quốc ngữ, Phan Khôi đưa ra nhiều lập luận sắc sảo và chính xác. Ông nêu ra việc viết chữ Quốc ngữ sao cho thống nhất trong cả nước, khi mà việc phát âm tiếng Việt vẫn còn những dị biệt ở các địa phương. Ý kiến của ông gặp phải sự phản đối quyết liệt của một số trí thức bảo thủ, cố chấp nhưng phần lớn đều đồng tình và ủng hộ. Trong bài “Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ Quốc ngữ và phải viết cho đúng”, đăng trên báo Trung lập, tác giả Phan Khôi đã thẳng thắn phên phán những quan điểm xem thường chữ Quốc ngữ, đồng thời ông phân tích sự tiện ích, phù hợp của chữ Quốc ngữ đối với nhân dân Việt Nam. Quan điểm của Phan Khôi về chữ Quốc ngữ cũng như Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí. Mặc dù, họ đều đề cao và yêu mến chữ Pháp, nhằm nâng cao sự hiểu biết về văn minh Pháp và văn minh phương Tây, song giới trí thức trong Nam Phong và Đông Dương tạp chí không chủ trương dùng chữ của người Pháp làm văn tự chính thức cho dân tộc. Theo họ, tiếng Pháp không phải là lợi khí, là phương tiện hữu dụng để mở mang dân trí, nâng cao nhận thức cho nhân dân Việt Nam. Và khẳng định, chỉ duy nhất chữ Quốc ngữ mới là thứ chữ phù hợp với con người và văn hóa  Việt “chữ Quốc ngữ là một thành tựu mới so với chữ Nôm, phải nắm lấy nó, củng cố vững chắc của nó trong sự tồn tại và phái triển của dân tộc” (12).

Lê Văn Phong

Chú thích:

  1. Nguyễn Quang Ân (1998), Lịch sử văn hóa Việt Nam những gương mặt trí thức. Tập 1. Nxb Văn Hóa Thông Tin, tr.371.
  2. Nguyễn Văn Vĩnh (1913), Chủ nghĩa. Đông Dương tạp chí, tr.137.
  3. Hoàng Tiến (2003), Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX. Nxb Thanh Niên, tr.148.
  4. Hoàng Tiến (2003), Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX. Nxb Thanh Niên, tr.158.
  5. Hoàng Tiến (2003), Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX. Nxb Thanh Niên, tr.8.
  6. Vũ Ngọc Phan (2005), Nhà văn hiện đại. Tập 1. Nxb Văn Học, tr.52, 53.
  7. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về chữ Quốc ngữ. Tạp chí Nam Phong, tr.335.
  8. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về chữ Quốc ngữ. Tạp chí Nam Phong, tr.335.
  9. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về chữ Quốc ngữ. Tạp chí Nam Phong, tr.337.
  10. Phạm Quỳnh (2005), Thượng chi văn tập. Nxb Văn Học, tr.59.
  11. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về chữ Quốc ngữ. Tạp chí Nam Phong, tr.338.
  12. Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, tập 1 (2001). Nxb Lao động, Hà Nội, tr.32.

Nguồn: Tạp chí Xưa và nay, ngày 03.10.2016.

20170821. Semantics

Nhà ngôn ngữ học Anna Wierzbicka đã từng khẳng định nghĩa của từ cung cấp bằng chứng rõ nét nhất về thực tế văn hóa, giống như cách nói, cách nghĩ và cách sống của dân tộc đó. Trong xu thế mở rộng giao lưu, hợp tác, khu vực hóa, quốc tế hóa và hội nhập, cùng với xu thế nghiên cứu kết hợp ngôn ngữ và văn hóa thì việc phân tích đối chiếu ngữ nghĩa của nhiều ngôn ngữ càng trở thành một nhu cầu cấp thiết. Với xu hướng nghiên cứu liên ngữ xuyên văn hóa, thông qua việc phân tích đối chiếu dung lượng nghĩa của một số nhóm từ khóa (key word), sẽ làm sáng rõ những thành tố văn hóa, những nét đặc trưng của từng quốc gia.

Theo tên gọi thì đây là chữ để ghi tiếng nước nhà, cách gọi đó là do các nhân sĩ yêu nước đề xuất vì thấy nó dễ học, có lợi cho việc canh tân nước nhà. Thực ra đây là chữ của các giáo sĩ Cơ đốc đặt ra để phiên âm tiếng Việt, để học tiếng Việt nhằm mục đích truyền đạo cho người bản xứ.

Họ từ Châu Âu tới một khu vực có nền văn hóa cao như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam. Họ không thể đối xử như người Tây Ban Nha với người da đỏ ở Nam Mỹ. Buộc lòng họ phải thích nghi.

Tại Nhật, F.Xavier (1548) đã phiên một quyển giáo lý ra tiếng Nhật. Họ đã in nhiều sách vào cuối thế kỷ 16 như Ngữ pháp tiếng Nhật và Từ vựng Nhật – Bồ tại Nagasaki (1603). Ở Trung Hoa, giáo sĩ người Ý đã dịch Bộ Tứ thư ra chữ La tinh. Chính ông và một giáo sĩ khác đã soạn Từ điển Bồ - Hán (trong đó có chữ Bồ, chữ Hán gốc, chữ Hán phiên âm). Giáo sư người Pháp là Trigault (1626) đã cho in “Âm vận kinh vi toàn cục”, trình bày các phụ âm, nguyên âm, thanh điệu của tiếng Hán và sự kết hợp của chúng.

Như vậy là việc phiên âm tiếng bản địa bằng chữ La tinh nhằm mục đích truyền giáo là hiện tượng phổ biến, mang tính khu vực, chứ chữ quốc ngữ không phải là hiện tượng độc đáo, chỉ có ở Việt Nam như một số người đã lầm tưởng. Mặt khác, cần thấy rằng trong số các giáo sĩ Châu Âu có một số trước khi đến Việt Nam đã từng sống ở Nhật Bản. Việc phiên âm tiếng bản địa không phải là xa lạ với họ. Đương nhiên việc phiên âm này phụ thuộc vào trình độ tiếng Việt của họ. Bước đầu họ phải mò mẫm thử nghiệm. Đấy là chữ quốc ngữ ở giai đoạn manh nha.

Minh chứng cho thứ chữ phiên âm tiếng Việt ở thời kỳ này chỉ có thể tập hợp những bức thư, những bản tường trình lẻ tẻ viết tay bằng tiếng Ý, tiếng Bồ gửi cho cấp trên. Chẳng hạn João Roiz đến Cửa Hàn viết một báo cáo bằng tiếng Bồ gửi về La Mã (1621) trong đó có từ Annam (viết liền), unsai: ông sãi, ungue: ông Nghè (Nghè bộ - chức quan cai trị về địa ba tài chính), Cacham: Kẻ Chàm (Thanh Chiêm, Quảng Nam).

Văn kiện của Gaspar Luis viết từ Macao gửi về La Mã (đề ngày 17/11/1621) thuật lại các việc xảy ra ở miền Nam Việt Nam có những tên riêng như Facfo: Hải phố (Hội An), Tuson: Đà Nẵng, Cachiam: Kẻ Chàm, Noiicman: Nước Mặn (Bình Định) và danh từ chung như Ungue: ông Nghè, Ontrum: ông Trùm. Năm 1626, Gaspar Luis trong bản tường trình hàng năm, viết bằng tiếng La tinh ghi một số địa danh Dinhcham, Cacham, Nuocman, Quanghia, Quinhin, Ranran: Đà Nẵng. 

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Gaspar d’Amaral, người Bồ được cử đi Nhật năm 1623 sau đến Việt Nam (1630) và ở lại làm trưởng phái đoàn tại Kẻ Chợ (Thăng long). Ông đã viết bản tường trình hàng năm về cho Cha Giám sát các tỉnh Nhật Bản và Trung Hoa (1632).

Ở đây, chữ viết phiên âm đã có dấu ghi thanh điệu như đàng tlão, đàng ngoày, đàng tlân: Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đàng Trên(vùng Cao Bằng do nhà Mạc cai trị), Oũ nghè: ông Nghè, nhà phũ: nhà Phủ (mỗi xứ có nhiều nhà Phủ), nhà huyện: nhà Huyện(mỗi Phủ có một số Huyện), đức vương: Đức Vương (thời đó người dân gọi Chúa Trịnh Tráng là Đức Vương), giỗ: giỗ, ngày giỗ, chai: chay, ăn chay, ma chay, chặp: chạp, tháng chạp, Kẻ uạc: Kẻ Vạc (ở gần Kẻ Nộ trong tỉnh Thanh Hóa).

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Đến đây kể như chữ Quốc ngữ đã được hình thành. Alexandre de Rhodes, tác giả cuốn Từ điển Việt – Bồ - La đã có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, gần như đồng thời với Gaspar d’Amaral. Ông truyền giáo ở miền Bắc. Sau do Chúa Trịnh trục xuất, ông rời Bắc vào Nam. Truyền giáo được 5 năm (1640 – 1645). Rồi Chúa Nguyễn Phúc Loan cũng cấm đạo, ông đành trở về Châu Âu. Ngoài nhiều bài viết, ông để lại Từ điển Việt – Bồ - La, Ngữ pháp tiếng Việt và “Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chịu phép rửa tội mà beào đạo thánh Đức Chúa Blời”.

Về Từ điển Việt Bồ La ta sẽ xem xét vị trí của nó sau. Trong Ngữ pháp tiếng Việt có 2 chương trong 8 chương là 1 và 2 giới thiệu về lai lịch các con chữ, về các dấu trên nguyên âm và thanh điệu. Tác giả cho biết:

Về chữ viết như vậy là khá rạch ròi.

Còn trong Từ điển ta sẽ thấy diện mạo của các từ Việt vào thế kỷ 17 (không đơn thuần là cách ghi mà là cách phát âm của thời kỳ đó)

Có nhiều từ không khác ngày nay như: đi đây đi đó, dưa gang, ghen ghét, thơm tho. Có những từ khác cả về cách ghi lẫn cách phát âm: chuầng trâu bò, cớ gì cớ sao, blái giứa (trái dứa), tlả (trả), tlứng (trứng)…

Chữ Quốc ngữ thực sự trở thành một công cụ ghi chép với đầy đủ khả năng ghi phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu mà bằng chứng là những tài liệu của Igesico Văn Tín và Bento Thiện, mặc dù thứ chữ phiên âm ấy không giống với chữ viết hiện đại.

Đến đây chữ Quốc ngữ được coi là bước vào giai đoạn hình thành. Từ điển Việt – Bồ - La là một cái mốc để gọi tên một thời điểm trong quá trình tiến hóa liên tục của thứ chữ phiên âm.

Sau thế kỷ 17 có “Sách sổ sang chép các việc” của Philiphê Bỉnh (bản viết tay năm 1822). Cuốn Từ điển Việt – La tinh của Pigneaux de Béhaine, trước tưởng rằng bị thất lạc trong một vụ hỏa hoạn ở Cà Mau, may có một bản sao được lưu trữ ở Văn khố Hội Truyền giáo ngoài.

Chữ Quốc ngữ trong từ điển này có những thay đổi cơ bản. Cuốn “Nam Việt Dương hiệp từ vựng” của JL.Taberd xuất bản tại Sérampore 1838 đã có cách ghi gần đúng với chữ Quốc ngữ ngày nay. Vậy mà tác giả đã nói rõ là ông chỉ sửa sang lại, còn bảo lưu cách viết của Pigneaux De Béhaine. Thấy có cách viết gần gũi với chúng ta ngày nay thì thật đáng mừng nhưng giải thích sao về sự đột biến này.

Từ điển Việt – Bồ - La thuộc thế kỷ 17. Từ điển Việt – La thuộc thế kỷ 19. Người viết bài này hiểu rằng giữa hai thế kỷ ấy có một khoảng trống vắng tư liệu cần phải lấp đầy và nếu làm được thì mới giải thích được cặn kẽ những biến đổi kia.

Quả thực trong kho lưu trữ của Hội Truyền giáo nước ngoài Paris còn bảo tồn được những bức thư của các giáo dân gửi bề trên hoặc ngược lại với niên đại rõ ràng từ 1702 đến 1792. Những tài liệu này đã được công bố trong cuốn sách “Chữ Quốc ngữ thế kỷ 18”(do Đoàn Thiện Thuật sưu tầm và chủ biên, Nxb Giáo dục, 2008).

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Về phần vần, xét qua những vần mà ngày nay ghi là ung, ông, ong, ta thấy như sau:

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Cách viết của tác giả Việt – Latinh dù sao cũng chỉ là cách viết của một người chứ không phải của tất cả mọi người. Nói như vậy để khỏi ngộ nhận là vào thời kỳ của ông, mọi người đều viết như thế. Bên cạnh ông vẫn có người viết khác, nhưng ông đã chấp nhận một cách thì ông luôn luôn nhất quán, ông làm cho hệ thống chữ viết tiết kiệm và xóa đi được dấu vết của hệ thống chữ Bồ.

Nhưng cách viết của ông còn lâu mới thắng thế được và giành được địa vị độc tôn nếu không được JL Taberd tiếp tay.

Từ điển Nam Việt Dương hiệp Từ vựng ra đời là rất quan trọng. Nó là chỗ dựa cho mọi người muốn học chữ Quốc ngữ. Nó điển chế hóa chính tả và làm cho cách viết của Pigneaux De Béhaine lưu truyền đến ngày nay.

GS Đoàn Thiện Thuật (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)

                                                ***************************

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Trước khi có những đề xuất cải tiến, chữ Quốc ngữ đã được công nhận là văn tự chính thức của Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhà cầm quyền cũng có nhiều động thái để thúc đẩy sự truyền bá chữ quốc ngữ như đưa vào quy định bổ nhiệm, thăng tiến cho quan chức hay miễn thuế cho dân ở Nam Kỳ.

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?

Thực hiện: Diễm Anh - Nguyễn Thảo - Ngân Anh

Nguồn: Vietnamnet.vn, ngày 03.12.2017.

20170818. Cac sai lam tchu Han

Đã nhiều năm nay, thuyết “chữ Hán ưu việt” rất thịnh hành ở Trung Quốc. Thuyết này trái ngược nghiêm trọng với các nguyên lý khoa học kỹ thuật, gây ra sự ngộ nhận lớn trong xã hội, và cho sự phát triển khoa học và công nghệ thông tin Trung văn. Do vậy, Trung Quốc cần phải tiến hành dọn sạch các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”.

Tình hình nghiên cứu tiếng Việt, cụ thể là làm từ điển Việt ngữ trước Pháp thuộc, tức là trước nửa sau thế kỷ 19, như thế nào khi chữ nôm còn là chữ viết chính thức của tiếng Việt ? Câu hỏi này đáng được quan tâm và giải đáp.

Bắt đầu từ thế kỷ 15 với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, kế đến thế kỷ 16 với Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tiếng Việt đã chứng tỏ có nhiều khả năng diễn tả không những tình cảm mà còn tư tưởng nữa. Nhưng tiếng Việt được ghi dưới dạng chữ nôm chưa từng bao giờ là một đối tượng được nghiên cứu và tích trữ những tư liệu về chính nó.

20171030 Bung Binh ThienẢnh: Búng Bình Thiên (nguồn: wikipedia)

1. Khái quát

Nam Bộ là địa bàn sông nước nên các từ chỉ địa hình hầu hết đều gắn với sông nước. Đặc biệt, ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), do địa hình nhìn chung bằng phẳng nên các đường nước thường có hình dạng rất phức tạp, dẫn đến có rất nhiều từ chỉ địa hình mà phần lớn chúng đều mang tính địa phương nên không phải ai cũng hiểu rõ.(1) Cá biệt, trong số đó, có những từ chỉ địa hình “kỳ dị” mà ngay cả dân địa phương cũng ít có người hiểu rõ, do đó dễ dẫn đến hiểu lầm.(2) Hiểu lầm tức hiểu sai nguồn gốc/ ý nghĩa của địa danh và gây bất nhất về mặt chữ viết, làm trở ngại về mặt thông tin.

Từ chỉ địa hình trong địa danh Nam Bộ đã được giới thiệu trong một số bài viết(3) và trong Lê Trung Hoa (2015), Từ điển địa danh Nam Bộ (bản thảo). Tuy nhiên, trong các công trình này, các từ chỉ địa hình chỉ được giới thiệu chung chứ chưa chú trọng vào các từ dễ bị hiểu lầm. Do đó, trong bài viết này, chúng tôi tập trung cắt nghĩa những từ chỉ địa hình khá “kỳ dị” ở Nam Bộ có nguy cơ bị hiểu lầm như: búng + X, cái + X, cống + X, gãnh + X, tràm + X, voi + X.

 

2.  Các từ chỉ địa hình dễ hiểu lầm 

2.1.  Búng + X

Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của định nghĩa: Búng “chỗ nước sâu làm ra một vùng”. Theo chúng tôi, búng chính là biến âm của bung/ bụng, là chỗ sông sâu và phình rộng ra như cái bụng, cũng gọi là bùng binh. Chữ búng này được ghi trong Dictionarium Anamitico-Latinum (1772) của P. J. Pigneaux và Dictionarium Anamitico-Latinum (1838) của J. L. Taberd (mục từ Búng, Búng nước).

Do là một đoạn sông phình to nên búng có xoáy nước rất nguy hiểm cho ghe thuyền. Ngoại trừ búng Bình Thiên ở An Giang có hình dáng hơi khép kín, là dấu tích của một khúc sông bị chuyển dòng, các búng khác ở Nam Bộ không có hình dạng gì đặc biệt lắm. Về mặt cắt ngang, nó chỉ là khúc sông phình ra; về mặt cắt dọc thì (có khi) nó sâu hơn những đoạn khác, do đó tạo nên các luồng nước xoáy, có nguy cơ làm chìm ghe thuyền. Chẳng hạn: búng Bò, búng Đình, búng Xuyến (Vĩnh Long), búng Tàu (Hậu Giang, Sóc Trăng), xẻo Búng, búng Bình Thiên (An Giang)…Búng là tiếng Nôm, vốn chỉ hình dáng vật phình ra (có khuynh hướng tròn):

Chung búng má kèn chỉ vẻ mặt không hài lòng (sụ mặt), hai má hơi phình ra;

Miệng nhai cơm búng(4) chỉ hành động người lớn nhai cơm và thức ăn trong miệng rồi lừa ra để đút trẻ con ăn;

Búng ngón tay là hành động dùng đầu ngón tay cái kềm chặt đầu ngón còn lại tạo thành hình tròn rồi đột ngột buông ra. Đây cũng là cách đo kích thước của một vật nhỏ gọn: Con cá lóc bự (to) bằng một búng tay.

Hiện nay có nhiều trường hợp do không hiểu nghĩa của từ búng nên người ta tưởng lầm là bún (món ăn làm bằng bột gạo chín, có hình sợi) vì dân Nam Bộ phát âm hai từ này giống nhau. Chẳng hạn: rạch Búng Bò bị viết sai thành rạch Bún Bò (huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long), Búng Xáng bị viết sai thành Bún Xáng (quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ). Sông Sài Gòn, đoạn chảy ngang thị xã Thuận An (tỉnh Bình Dương) cũng một chỗ phình rộng ra gọi là Búng, nên chợ gần đó cũng gọi là chợ Búng, nhưng có người không hiểu nên gọi/ viết là chợ Bún.

2.2. Cái + X

Từ cái trong những địa danh có cấu tạo cái + X đã được Lê Trung Hoa nghiên cứu khá kỹ trong bài viết “Tìm hiểu ý nghĩa và nguồn gốc thành tố chung cái trong địa danh Nam Bộ”.(5) Trong bài viết này, Lê Trung Hoa đã dùng nhiều cứ liệu để bác bỏ các quan điểm sai lầm sau đây:

-  Quan điểm cho cái này nghĩa là “lớn” (vì thực tế ở Nam Bộ toàn bộ đường nước có tên gọi cái + X đều nhỏ);

-  Quan điểm cho rằng cái này là biến âm của kẻ, chỉ nơi, xứ, chỗ (vì thực tế nó để chỉ đường thủy chứ không phải chỉ vùng đất);

-  Quan điểm cho rằng cái này có nguồn gốc Khmer (vì tiếng Khmer gọi là prêk [rạch], không có đối ứng về ngữ âm với cái).

Từ đó, ông chứng minh rằng “Cái là danh từ, có nghĩa là nhánh sông hay con rạch. Về nguồn gốc, cái không thể phát xuất từ tiếng Khmer hay tiếng Hán, vì trong hai ngôn ngữ này không có từ hay từ tổ nào có âm na ná mà có ý nghĩa là con rạch. Có lẽ đây là một từ Việt cổ mà đến thế kỷ XIX, nó đã không còn khả năng dùng độc lập, chỉ còn xuất hiện trong các từ ghép hay từ tổ và trở thành địa danh.”

Thế nhưng trong công trình Lột trần Việt ngữ (1972), Bình Nguyên Lộc đã chứng minh rằng, trong ngữ hệ Mã Lai (mà theo ông thì tiếng Việt 100% có nguồn gốc Mã Lai) không có từ cái, mà đó chính là cách dịch âm của từ 个 (bính âm: ), danh từ đơn vị trong tiếng Hán mà người Việt tiến hành từ thời Bắc thuộc. Thật ra, ngữ nguyên này đã được ghi nhận từ năm 1898, trong Dictionnaire annamite - français của J. F. M. Génibrel: Cái []: cái nhà, cái bàn.(6) Trong chữ Hán,

个  và 個 được dùng như nhau (âm ) nhưng chữ Nôm thì dùng 個 để ghi âm cái.

Từ đó có thể suy đoán rằng từ cái chỉ nhánh sông hay con rạch ở Nam Bộ có nguồn gốc từ tiếng Hán chứ không phải bản địa.

Trong Di cảo Trương Vĩnh Ký (tr. 252-264), danh mục đối chiếu các địa danh Việt-Khmer có 9 địa danh có sự đối ứng giữa từ cái (Việt) và prêk (Khmer): Cái Cát - Prêk khsắc, Cái Lá - Prêk cau pona càk, Cái Thia - Prêk lau tie, Cái Muối - Prêk ambil, Cái Dầu Thượng - Prêk chotal khpòs, Cái Mơn Lớn - Prêk mơn thom, Cái Tàu Thượng - Prêk sampou lơ, Cái Cối - Prêk thbàl, Cái Trầu - Prêk mlu.(7) Prêk trong tiếng Khmer được dịch âm sang tiếng Việt là rạch. Như vậy, từ cái này tương đương về nghĩa với từ rạch. Bằng chứng là hầu hết các thủy lộ có tên cái

+   X đều có thể thay bằng rạch + X. Chẳng hạn: Cái Bát → Rạch Bát, Cái Bần → Rạch Bần, v.v... Tuy nhiên, không thể dịch dứt khoát cái = rạch, vì cái có khi còn chỉ nhánh sông, tức sông nhỏ đổ ra sông lớn, chẳng hạn: sông Cái Cỏ, sông Cái Dầu Thượng, sông Cái Mơn Lớn, sông Cái Muối, v.v... Đồng thời, không phải con rạch nào cũng có thể gọi là cái + X, ngoại trừ những con rạch đổ nước ra sông lớn.

Ngoài ra, cũng phải xác định rằng cái này ra đời trước rạch, bằng chứng là có thể nói Rạch Cái X chứ không thể nói Cái Rạch X.

Tóm lại, cái này chính là đường thủy nhỏ tự nhiên(8) ăn ra sông lớn chứ không có nghĩa là lớn như nhiều người tưởng lầm. Cái này là loại từ (cái + X) chứ không phải tính từ như trong trường hợp X + Cái (như sông Cái, đường Cái, bờ Cái, v.v.). Ở Nam Bộ có nhiều sông lớn và nhiều nhánh sông nhỏ hay rạch ăn thông với nó nên số đường thủy có tên cái + X rất nhiều (hơn 350 tên). Miệt vườn Nam Bộ nằm dọc theo hệ thống sông Mekong nên là khu vực có mật độ cái đổ nước ra sông cao nhất: Cái Bè, Cái Cối, Cái Lá, Cái Lân, Cái Nhỏ, Cái Nứa, Cái Rắn, Cái Sơn, Cái Thia (Tiền Giang); Cái Cấm, Cái Cát, Cái Cau, Cái Chát Lớn, Cái Chát Nhỏ, Cái Cối, Cái Gà, Cái Hàng, Cái Lứt, Cái Mít, Cái Mơn, Cái Muồng, Cái Ngang, Cái Nhum, Cái Nứa, Cái Ớt, Cái Quao, Cái Sơn, Cái Tắc, Cái Tôm, Cái Tre, Cái Trê, Cái Ván, Cái Xoài (Bến Tre); Cái Bần, Cái Bát, Cái Bầu, Cái Cá, Cái Cầu, Cái Chúc, Cái Cơ, Cái Cui, Cái Dầu, Cái Đôi, Cái Lá, Cái Lóc, Cái Sâu, Cái Sơn, Cái Tháp, Cái Tàu, Cái Tràm Dưới, Cái Tràm Trên (Vĩnh Long); Cái Hạt, Cái Bè Cạn, Cái Da Nhỏ, Cái Dao Dưới, Cái Dao Trên, Cái Dầu, Cái Dầu Bé, Cái Đôi, Cái Dứa, Cái Gia Nhỏ, Cái Hạt, Cái Nín, Cái Sao, Cái Sâu, Cái Sơn, Cái Tắc, Cái Tàu, Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, Cái Xép (Đồng Tháp); Cái Hóp, Cái Già, Cái Già Bến, Cái Già Trên (Trà Vinh), v.v...

Bảng 1: Tiêu chí phân biệt sông, kinh (kênh), cái và rạch

Kích thước đường thủy Thiên tạo / Ăn ra sông Cách gọi tên
Nhân tạo
Lớn Thiên tạo Ăn ra sông lớn hơn hoặc không Sông
Lớn hoặc nhỏ Nhân tạo Ăn ra sông hoặc không Kinh (kênh)
Nhỏ Thiên tạo Ăn ra sông Cái (hoặc rạch)
Nhỏ Thiên tạo Không ăn ra sông Rạch

2.3. Cống + X

Hiện nay, ở Nam Bộ có hàng trăm địa danh cống + X. Phần lớn các cống này đều là công trình thủy lợi ngầm dưới đất(9) giúp nước lưu thông. Cống hiểu theo nghĩa đó là các loại cống hiện đại, vừa đáp ứng nhu cầu thủy lợi (tưới tiêu nước) vừa phục vụ giao thông đường bộ.

Tuy nhiên, từ mấy trăm năm trước, khi vùng đất Nam Bộ còn thưa vắng người và giao thông đường thủy là chủ yếu, giao thông đường bộ hầu như chưa đặt ra, nghĩa là chưa có các cống ngầm như hiện nay, vậy mà khi đó đã có địa danh cống. Chẳng hạn: Cống Môn 槓門 ở thôn Tân Kiểng, tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An thời Gia Long.(10) Vậy chắc hẳn cống này không giống như các cống ngầm hiện nay chúng ta biết mà phải là một dạng địa hình đặc biệt nào khác.

Thật vậy, hai chữ 槓門 này được Lý Việt Dũng (Sđd) dịch là cống Môn (nghĩa là tên một cái cống) còn Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh và Đào Duy Anh dịch là cửa cống,(11) nghĩa là cả hai nhóm dịch giả đều thống nhất dịch 槓 là cống. Tuy nhiên, 槓 là chữ Hán được chữ Nôm mượn dùng để ghi âm cổng. Do đó chữ 槓 được các tự điển/ tự vị trước đó như Dictionarium Anamitico - Latinum (1772) của P.J. Pigneaux, Dictionarium Anamitico - Latinum (1838) của J. L. Taberd và Đại Nam quấc âm tự vị (1895-1896) của Huình Tịnh Paulus Của đọc là cổng, nghĩa là lối ra vào.

Chữ (Nôm) cổng 槓 này phải được hiểu là lối ra vào (đường tưới tiêu nước cũng chính là lối ra vào của nước) chứ không thể hiểu là cái cửa cổng, vì đương thời các ngôi chợ ở Nam Kỳ thậm chí còn chưa có mái che thì làm gì có cửa cổng.(12)

Ở  vùng Đồng Tháp Mười ngày trước có nhiều địa danh cống + X kiểu này. Đây là một bồn trũng nước tự nhiên nhiễm phèn nặng, không thể canh tác, do đó cần phải đào kinh tiêu úng rửa phèn thoát nước ra sông. Từ thời Nguyễn đã có nhiều đồn điền được lập ven Đồng Tháp Mười để tiến hành công việc này: Đào các kinh nhỏ từ nội đồng ra kinh lớn để tháo nước trong bồn trũng ra sông. Do đó, khảo sát ở địa bàn tỉnh Tiền Giang hôm nay, tức vùng ven Đồng Tháp Mười, thấy có nhiều địa danh xưa như: cống Bà Kỳ (xã Tân Phú, huyện Cai Lậy), cống Bà Láng (xã Mỹ Lợi A, huyện Cái Bè), cống Bà Xá, cống Cả Sơn (xã Thanh Hòa, huyện Cai Lậy), cống Bộng, cống Đình, cống Ông Chủ, cống Tượng (xã Hưng Thạnh, huyện Tân Phước), cống Chùa (xã Phú Cường, huyện Cai Lậy), cống Dứa (xã Tân Hội, huyện Cai Lậy), cống Huế (xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy), cống Trâu (xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè). Vùng đất này thuộc Đồng Tháp Mười, trước năm 1975 còn hoang vu, đường bộ chưa phát triển, nhưng các địa danh cống + X thì có trước đó từ rất lâu. Điều đáng nói hơn nữa là, từ xưa tới nay, tại các địa điểm tương ứng với các địa danh này chưa từng có cái cống ngầm nào được xây dựng cả. Nhất là đối với trường hợp cống Trâu, cống Tượng thì rõ ràng các cống này không thể là dạng cống ngầm như ngày nay (vì nếu như vậy thì trâu và voi/ tượng không thể chui vào đó(13)). Vậy các cống này là dạng địa hình gì?

Khảo sát thực tế tại các địa điểm có các địa danh nêu trên, dễ nhận thấy đây chính là các con kinh nhỏ tiêu nước từ nội đồng ra kinh lớn. Vậy các cống đang đề cập ở đây hoàn toàn khác với cống ngầm như ta biết ngày hôm nay, mà chính là các con kinh nhỏ dùng để thoát nước ở Đồng Tháp Mười. Các cống này là đường kinh nhỏ lộ thiên nên mới được sách Gia Định thành thông chí ghi bằng chữ các tự điển/ tự vị xưa nêu trên đọc theo âm Nôm là cổng (lối ra vào).

Hiện nay, ở Đồng Tháp Mười, người dân vẫn còn dùng từ cống để chỉ các con kinh thoát nước nhỏ này. Con kinh nào có quá nhiều cống thoát nước nhỏ kiểu này thì sẽ có hình dáng giống như các khoanh dây buộc dày khít trên đòn bánh tét, nên gọi là kinh Bánh Tét.(14) Khi đó, các cống (kinh nhỏ) này được gọi là cựa gà.(15)

Đồng thời, do đường bộ đã phát triển song song với nhu cầu thủy lợi và giao thông thủy nên nhiều cống ngày xưa giờ đã được nạo vét rộng ra và bắc cầu lớn hẳn hoi tại những điểm có đường bộ đi ngang. Do đó, từ vài chục năm nay đã xuất hiện các tên gọi: cầu Cống Bộng, cầu Cống Chùa, cầu Cống Huế, cầu Cống Tượng, v.v..., hiểu là cây cầu bắc ngang cống (kinh) Bộng, cống (kinh) Chùa, cống (kinh) Huế, cống (kinh) Tượng, tương tự như cầu Rạch Tượng. Như vậy, các địa danh mới này cũng góp phần cho biết các cống này có trước cầu (nên mới gọi là cầu Cống X) và nó vốn là con kinh, bởi nó là con kinh thì người ta mới bắc cầu ngang qua, chứ nếu đã là cái cống ngầm thì còn bắc cầu qua nó làm chi nữa.

Cuối cùng, điều đáng nói nữa là, cái cống (kinh nhỏ) thoát nước ngày xưa vốn chủ yếu xuất hiện ở vùng mới khai hoang để tiêu úng, đến sau này, khi các đô thị phát triển dẫn đến nhu cầu thoát nước tại đây rất cao, thì hàng loạt cống ngầm thoát nước mới xuất hiện và vẫn gọi là cống. Hệ quả là, ngày nay người ta biết đến cống (ngầm) chủ yếu ở các đô thị, trong khi nó vốn có xuất xứ từ xưa ở những vùng xa xôi hẻo lánh vừa mới khai hoang. 

2.4. Gãnh + X

Từ gành

Việt Nam có rất nhiều sông ngòi, địa hình lại phức tạp nên dòng chảy của các con sông thường không được suôn sẻ mà nhiều trường hợp có đá ngầm nổi lên dưới lòng sông, khiến cho dòng nước bị co thắt lại, chảy xiết và tạo nhiều xoáy nước rất nguy hiểm. Rất nhiều từ điển/ tự điển tiếng Việt gọi các đoạn sông như vậy là ghềnh (miền Bắc) hay gành (miền Trung và Nam Bộ), tức hầu hết đều cho gành là biến âm của ghềnh.(16)

Xét trên khía cạnh duy danh thì quả thực trải dài từ Bắc vào Nam có sự chuyển biến dần từ ghềnh sang gành. Khảo sát các địa danh từ Bắc vào Nam có thể nhận thấy: ở miền Bắc chỉ có địa danh mang yếu tố ghềnh, không có địa danh mang yếu tố gành; ở miền Trung vừa có địa danh mang yếu tố ghềnh, vừa có địa danh mang yếu tố gành còn ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố ghềnh(17) mà chỉ có địa danh mang yếu tố gành.

Bảng 2: Sự phân bố tên gọi ghềnh/ gành ở ba miền

Địa danh miền Bắc Địa danh miền Trung Địa danh Nam Bộ
Yếu tố ghềnh + +/ - -
Yếu tố gành - +/ - +

Tuy nhiên, thực tế cho thấy gành ở Nam Bộ có nghĩa khác hẳn so với ghềnh

ở  Bắc và Trung: “Gành: chỗ đất đá gio gie bên mé biển”.(18) Lý do vì Nam Bộ có địa hình nhìn chung bằng phẳng, ngoại trừ một vài đoạn ngắn ở thượng nguồn sông Đồng Nai ra, hầu như khắp Nam Bộ không có ghềnh sông nào nguy hiểm như ở miền Bắc và Trung. Ngược lại, hầu hết các sông ở Nam Bộ đều có lượng phù sa cao, bồi đắp nên các bãi sông ven biển, tạo thành các doi đất lấn ra mé biển. Phương ngữ Nam Bộ gọi các doi đất này là gành. Khảo sát địa danh Nam Bộ chúng tôi ghi nhận được 10 địa danh mang yếu tố gành: Gành Hào, Gành Hào Lớn, Gành Hào Bé, Gành Rái (huyện Cần Giờ, TP HCM); Gành Dao, Gành Dầu, Gành Dinh Cậu, Gành Lớn (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang); Gành Hào (huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau); cầu Gành (xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

…  đến gãnh

Ngoài 10 địa danh có yếu tố gành nói trên, ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre còn có 4 địa danh bắt đầu bằng yếu tố gãnh: gãnh Mù U (xã Bảo Thạnh), gãnh Bà Hiền(19) (xã An Thủy), gãnh Trên gãnh Dưới (xã An Hòa Tây).

Vậy gãnh là gì? Gãnhgành có liên hệ gì về nghĩa với nhau không?

Tra bản đồ, dễ nhận thấy các gãnh nói trên đều nằm sát cửa sông thuộc hệ thống sông Mekong. Nơi đây có lượng phù sa lắng đọng cao nhất nên hình thành các doi đất lấn dần ra cửa sông, hướng ra biển. Do là khu bãi bồi mới định hình, hẻo lánh và nước nhiễm mặn nặng khó canh tác nên cư dân thưa thớt, là nơi định cư của dân nghèo khó, sa cơ.

Như vậy, gãnh đích thực chính là gành, tức dạng địa hình doi đất gie ra ở cửa sông.

Nơi chôn nhau cắt rốn của Phan Thanh Giản ở gãnh Mù U nên ông lấy hiệu là Lương Khê 梁溪,(20) biệt hiệu là Mai Xuyên 梅川. Lương 梁 là dải đất doi ra mé sông, Khê 溪 là dòng nước, vậy Lương Khê nghĩa là nơi dòng nước có doi đất ở mé sông, tức là cách dịch Hán hóa từ gãnh trong tiếng Việt. Còn Mai Xuyên chính là con sông ven bờ có nhiều cây nam mai (tức cây mù u). Tóm lại, hiệu và biệt hiệu của Phan Thanh Giản chính là cách dịch Hán hóa của gãnh Mù U, nơi chôn nhau cắt rốn của ông.

Nói cách khác, hiệu và biệt hiệu của Phan Thanh Giản đã góp phần minh định nghĩa của địa danh gãnh Mù U: gãnh đây chính là gành (doi đất ven sông/ biển), còn mù u (cũng gọi là nam mai - cây mai phương nam) là tên một loài cây thân gỗ thường mọc ở mép nước, lá tròn, cứng, hoa trắng, trái tròn màu xanh, khi chín chuyển sang màu nâu.(21)

Nhưng tại sao dân địa phương không gọi là gành như những nơi khác mà lại gọi là gãnh?

Có thể lý giải như sau:

Ở  vùng này có hai doi đất lớn ven cửa sông, lẽ ra gọi là gành Mù Ugành Bà Hiền (gành Trên gành Dưới nhỏ hơn nhiều nên không bàn tới). Tuy nhiên, hai tổ hợp này (gành Mù Ugành Bà Hiền) toàn vần bằng, riêng gành Bà Hiền toàn thanh huyền, gây khó khăn trong việc phát âm. Trong trường hợp này tiếng Việt sẽ xuất hiện luật dị hóa (dissimilation) về mặt phát âm, biến gành thành gãnh, tức biến thanh huyền thành thanh ngã cùng âm vực.(22) Hiện tượng biến thanh huyền thành thanh ngã để tạo ra từ mới đồng nghĩa là khá phổ biến trong tiếng Việt, chẳng hạn: cồi (còi)→ cỗi, hầm → hẫm, rồi → rỗi.

Hiện tượng đắp đổi giữa hai thanh điệu cùng âm vực(23) như vậy là rất phổ biến để cấu tạo nên từ láy và chi phối quy luật biến âm trong tiếng Việt, đến mức trở thành một thứ mẹo luật chính tả.(24)

Một khi gành Mù U biến âm thành gãnh Mù U, gành Bà Hiền biến âm thành gãnh Bà Hiền thì tự nhiên gành Trên gành Dưới ở bên cạnh cũng sẽ bị “hưởng ứng” cái đà dị hóa này mà biến âm thành gãnh Trên, gãnh Dưới. Kết quả là trong khi 10 gành khác vẫn cứ là gành thì riêng 4 cái gành ở Ba Tri bị biến âm thành gãnh mà trong đó thường được nhắc tới là gãnh Mù U.

Nói tóm lại, các gãnh này là biến âm của gành, tức doi đất lớn sát mé

sông, gần cửa biển. Có nhiều người không hiểu điều này nên giải thích sai lầm, rằng gãnh này là biến âm của rãnh, tức đường nước nhỏ hẹp. Cách giải thích này tưởng chừng như hợp lý, vì nó xuất hiện ở miền Tây, nơi hiện tượng nói trại âm “g” thành “r” vốn khá phổ biến. Nhưng nếu căn cứ vào thực địa nơi có các địa danh có yếu tố gãnh + X sẽdễ nhận ra ở đó không có rãnh (đường thoát nước nhỏ) nào cả, vì là doi đất bồi ven cửa sông.

2.5. Tràm + X

Nam Bộ là vùng đất thấp nên thuận lợi cho cây tràm phát triển, do đó mà có hàng trăm địa danh có yếu tố Tràm. Tuy nhiên, phần lớn các yếu tố Tràm này đứng sau một loại từ khác theo công thức X + Tràm, chẳng hạn: rạch Tràm, lung Tràm, cầu Tràm, v.v... Cá biệt, ở Nam Bộ lại có vài chục địa danh mà yếu tố Tràm lại đứng đầu để làm loại từ theo công thức Tràm + X. Trong trường hợp này, Tràm vốn là danh từ khối lại được dùng làm loại từ.

X + Tràm: Tràm là danh từ khối;

Tràm + X: Tràm là loại từ.

Con số thống kê Tràm + X này lên tới 29 tên (Tràm Cát, Tràm Chẹt, Tràm Chim, Tràm Chúc, Tràm Cù Lao Dài, Tràm Chúc, Tràm Cù Lao Dung, Tràm Cu, Tràm Cứa, Tràm Dơi, Tràm Gộc, Tràm Lạc, Tràm Láng, Tràm Lầy, Tràm Lớn, Tràm Lụt, Tràm Một, Tràm Mù, Tràm Sập, Tràm Sình, Tràm Soái, Tràm Thẻ, Tràm Thuật, Tràm Tròn, Tràm Tôm, Tràm Trích (Tràm Chích), Tràm Tróc, Tràm Trổi, Tràm Xuyên,…), cho thấy đây chính là một hiện tượng chuyển loại của từ đáng quan tâm.(25)

Học giả An Chi, trong một loạt bài viết,(26) đã ra sức chứng minh rằng các địa danh nói trên thực ra có công thức Chằm + X, bị siêu chỉnh Chằm thành Tràm, vì ông cho rằng chỉ có Chằm mới có tư cách loại từ còn Tràm thì không.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chủ trương rằng trong Tràm + X thì Tràm là loại từ chứ không phải do Chằm bị nói trại thành. Bởi lẽ, từ xưa tới nay ở Nam Bộ không hề có bất kỳ địa danh nào có công thức Chằm + X cả. Và cho tới hôm nay cũng chưa có ai chỉ ra được ở Nam Bộ (từng) có cái chằm nào, ngược lại có đến ít nhất 29 địa danh Tràm + X.

Hơn nữa, giả sử cứ cho là Chằm Chim bị siêu chỉnh thành Tràm Chim thì tại sao cho tới hôm nay ở Nam Bộ vẫn còn ít nhất 2 địa danh có công thức tương tự như Tràm Chim (Loại từ “Tràm” + danh từ khối), mà yếu tố sau không thể nào tương hợp được về nghĩa với yếu tố đứng trước nếu yếu tố đứng trước là Chằm:

-  Tràm Kiến (xã Châu Hưng, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng). Nếu là Chằm Kiến thì kiến sao lại ở nơi chằm là vùng ngập nước?

-  Tràm Lựu (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau). Nếu là Chằm Lựu thì lựu làm sao sống được dưới chằm nước?

Vả lại, xét về mô hình trọng âm thì Chằm Chim [sic] là một danh ngữ có cấu tạo danh từ + định ngữ nên có mô hình trọng âm [0 – 1](27) (nghĩa là trọng âm nằm

ở  âm tiết sau). Mô hình này cho thấy tiếng đầu (Chằm) bị nhược hóa (reduction) nên chịu sự đồng hóa (assimilation) mạnh mẽ về ngữ âm của tiếng sau (Chim), mà trước hết là âm CH-. Ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có con rạch tên là Tràm Sập.(28) Chính danh là Tràm Sập nhưng dân gian thường nói trại thành Sầm Sập [sic], tức là tiếng đầu (Tràm) yếu nên bị tiếng sau (Sập) đồng hoá, biến TR-thành S-.

Theo quy luật đồng hóa này, giả sử có tồn tại địa danh Chằm Chim thì âm CH- trong Chằm phải được bảo lưu để đồng hóa với âm CH- trong Chim. Vậy mà ông An Chi lại chủ trương ngược lại: Âm CH- ở đây bị “siêu chỉnh” thành TR-, tức là dị hóa (dissimilation). Một âm tiết yếu, đang bị đồng hóa, có khi nào bỗng dưng “vùng dậy” để dị hóa như vậy hay không, nếu không có chủ ý cá nhân của một người nào đó?

Nếu lập luận như ông An Chi thì, tại sao 100% dân Nam Bộ lại phải “quyết tâm” từ bỏ âm CH- (âm mặt lưỡi, dễ phát âm) để đổi lấy âm TR- (âm quặt lưỡi, khó phát âm)?(29) Tại sao lại có chuyện chuyển đúng thành sai, chuyển dễ thành khó như vậy được?

Do đó, về các địa danh Tràm + X, chúng tôi vẫn chủ trương rằng Tràm này ban đầu là danh từ khối nhưng được chuyển thành loại từ dùng để chỉ một loại địa hình trũng thấp bao la mà cây tràm chiếm ưu thế. Kiểu loại từ này kể ra cũng khá đặc biệt và mang đậm dấu ấn sáng tạo của lưu dân người Việt ở địa bàn mới phương Nam buổi đầu, nơi mà cây tràm đóng vai trò chủ đạo.(30) Đặc biệt và mới mẻ không có nghĩa là không có tư cách ra đời và tồn tại. Trái lại, như thế đó mới thực là biểu hiện của quy luật sáng tạo không ngừng của ngôn ngữ.(31)

Tóm lại, trong các địa danh Tràm + X ở Nam Bộ, Tràm là loại từ chỉ một dạng địa hình, tương tự như lung, láng… chứ không phải là từ chỉ chủng loại (cây tràm).

2.6. Voi + X

Nếu để ý sẽ thấy hầu hết các địa danh Voi + X đều đối ứng với các mõm đất gie ra ở mé sông thuộc ĐBSCL như: (cầu) Voi Cái Mòi (xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau), voi Chùa (xã Tam Giang Đông, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau), (ấp) Voi Đình (xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, Long An), (ấp) Voi Lá (thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, Long An), (ấp) Voi Lá (xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, Long An), (kinh) Voi Vàm (xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau), (chợ) Voi Vịnh Lở (xã Phú Thuận B, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp).

ĐBSCL là vùng châu thổ trũng thấp được phù sa sông Mekong bồi đắp, nên địa hình nhìn chung trũng thấp, không thuận lợi cho loài voi sinh sống. Vả lại, người dân ĐBSCL có thói quen dùng tượng phổ biến hơn là voi, chẳng hạn: cống Tượng, láng Tượng, lung Tượng, núi Tượng,(32) v.v…

Nhưng quan trọng hơn, xét về mặt ngữ pháp, nếu voi là danh từ khối thì không thể kết hợp chặt với danh từ khối khác phía sau để làm thành địa danh, mà chỉ có thể nhìn nhận voi là loại từ, tức do doi bị nói trại thành, vì trong phương ngữ Nam Bộ voi với doi được phát âm giống nhau. Nói cách khác Voi + X này chính là hình thức viết sai chính tả từ Doi + X: (cầu) Doi Cái Mòi, doi Chùa, (ấp) Doi Đình, (ấp) Doi Lá,(33) (kinh) Doi Vàm, (chợ) Doi Vịnh Lở.

3. Một vài nhận xét

Địa danh, ngay bản thân danh xưng này đã mang nội hàm tính địa phương và tính thực tiễn sâu sắc. Do đó, nghiên cứu địa danh, ngoài những kiến thức chung về ngôn ngữ học ra, còn phải vận dụng một loạt kiến thức về địa phương như: lịch sử địa phương, địa lý địa phương, ngữ âm địa phương v.v… Những vấn đề về địa phương như thế buộc người nghiên cứu phải ra công đi điền dã để thâm nhập thực tế địa bàn thay vì chỉ trông cậy vào từ điển/ tự điển và các công trình khảo cứu sẵn có. Một bộ từ điển/ tự điển dù có uy tín đến đâu cũng không thể thay thế cho thực tiễn địa lý và thực tiễn ngôn ngữ, xã hội.(34)

Đặc biệt, Nam Bộ là địa bàn mới, có quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, ngôn ngữ mạnh mẽ, cách phát âm địa phương lại khá dễ dãi nên dễ dẫn đến nhầm lẫn, ngay cả đối với chính quyền địa phương. Địa danh dân gian thì có thể chấp nhận những hình thức đa dạng, phong phú, nhưng một khi nó trở thành địa danh hành chính và địa danh chỉ công trình xây dựng thì cần phải chuẩn hóa để bảo đảm tính chính xác, tránh trở ngại về mặt thông tin. Thực tế cho thấy các địa danh có công thức búng + X, cái + X, cống + X, gãnh + X, tràm + X, voi + X ở Nam Bộ đang bị rất nhiều người hiểu lầm, kể cả một số chuyên gia về tiếng Việt và chính quyền địa phương. Do đó, nội dung bài viết này, như đã nêu trên, cần phải được quan tâm tranh luận để chỉnh lý, bổ sung hay phủ chính.

L C L

CHÚ THÍCH

  1. Chẳng hạn: ao, bãi, bàu, bùng binh, búng, bưng, cái, cạnh, cổ cò, cổ hũ, cồn, cù lao, đầm, đảo, đập, đìa, dớn, gành, gãnh, gãy, giáp nước, giồng, hồ, hố, hóc, hòn, khém, kinh/ kênh, láng, lòng, lung, mũi, mương, ngã, ngọn, rạch, rộc, rỏng, sình, tắc/ tắt, tràm, trấp, ụ, vàm, vịnh, vũng, xáng, xẻo/ xép, v.v…
  2. Thậm chí chính quyền địa phương có khi cũng hiểu lầm, hiểu sai địa danh, dẫn đến viết sai địa danh. Chẳng hạn, viết Búng Xáng thành Bún Xáng (quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ), Tràm Một thành Trầm Một (xã Tân Hòa Thành, Tân Phước, Tiền Giang), Doi Vàm thành Voi Vàm (xã Tam Giang Tây, Ngọc Hiển, Cà Mau), viết Doi Lá thành Voi Lá (thị trấn Bến Lức và xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, Long An), v.v…
  3. Chẳng hạn: Nguyễn Hữu Hiệp (2011), “Diện mạo các thủy hình, thủy mạch đặc trưng; khẩu ngữ về trạng thái nước và những tiếng người Nam Bộ thường dùng trong sinh hoạt đời sống có cội nguồn từ sông nước”, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 4 (41); Nguyễn Hữu Hiếu (2014), “Ở đồng bằng sông Cửu Long chưa bao giờ có nước lũ”, Ấn phẩm Đồng Tháp xưa & nay, số 38; Lê Trung Hoa (2012), “Từ địa phương Nam Bộ chỉ địa hình trong địa danh Việt Nam” (bản thảo).

(4)                          “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương” (Ca dao).

  1. Trong Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
  2. Imprimerie de la Mission à Tân Định, Saigon, p. 61. Việt ngữ chánh tả tự vị của Lê Ngọc Trụ cũng ghi nhận ngữ nguyên này.
  3. Trích trong Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Tác giả xb, Sài Gòn, tr. 255-264.
  4. Đường thủy nhân tạo gọi là kinh (kênh). Tuy nhiên, trong quá trình làm thủy lợi, người ta thường dựa theo các con rạch (thiên tạo) để đào thành kinh, làm xuất hiện các tên gọi phức tạp như Kinh Rạch + X (như kinh Rạch Cơ, kinh Rạch Dinh, kinh Rạch Già, v.v...) hoặc Kinh Cái + X (như kinh Cái Hố, kinh Cái Nước, kinh Cái Sắn, v.v...).
  5. Hoặc có khi lộ thiên.
  6. Theo Trịnh Hoài Đức (1820?, tái bản 2005), Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, tr. 121 (phần dịch), 245 (phần nguyên văn).
  7. Theo Trịnh Hoài Đức (1820?, tái bản 1999), Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 86.
  8. Trong hồi ký Xứ Đông Dương (L’Indo-chine française, 1905), Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cho biết: “Ở Nam Kỳ chưa có khu chợ nào có mái che trước khi chúng ta đến. Ngày xưa chợ họp ngay trong làng hoặc trên một mảnh đất rìa làng”. Paul Doumer (1905, tái bản 2016), L’Indo-chine française (Xứ Đông Dương), Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 122.
  9. Trường hợp này chỉ có thể hiểu cống Trâu là con kinh nhỏ có trâu lội hay nằm vùng ở đó. Tương tự đối với cống Tượng.
  10. Chẳng hạn: kinh Bánh Tét ở xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, Tiền Giang.
  11. Chẳng hạn: Cựa Gà ở xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang.
  12. Chẳng hạn: Văn Tân chủ biên (1967), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Lê Ngọc Trụ (1967), Việt ngữ chánh tả tự vị, Khai trí xb, Sài Gòn; Lê Văn Đức-Lê Ngọc Trụ (1972), Tự điển Việt Nam, Khai trí xb, Sài Gòn; Huỳnh Công Tín (2007), Từ điển từ ngữ Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Hoàng Phê chủ biên (2008), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng; Vũ Văn Kính (2002), Đại tự điển chữ Nôm, Nxb Văn nghệ, TP HCM, v.v...
  13. Ở xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vốn có địa danh cầu Gành, nhưng do cách viết của người miền Bắc nên hiện nay bảng hiệu cầu được viết cầu Ghềnh. Theo Phan Đình Dũng-Nguyễn Thanh Lợi (2010), Hỏi đáp về Biên Hòa - Đồng Nai, Nxb Đồng Nai, tr. 402.
  14. Huình Tịnh Paulus Của (1895-1896, tái bản 1998), Đại Nam quấc âm tự vị, Nxb Trẻ, TP HCM, tr. 348. Định nghĩa này được Lê Ngọc Trụ chép theo trong Việt ngữ chánh tả tự vị.

(19)                        Tiếng đồn gái gãnh Bà Hiền,

ăn thuần hậu, ấy duyên với mình (Ca dao).

  1. Tập san Sử địa, số 7 (năm 1967), tr. 175.
  2. Địa bàn Bến Tre có mật độ sông nước cao nhất ĐBSCL (cả tỉnh là 3 dải cù lao) nên có rất nhiều mù u. Chính Lãnh binh Thăng (Nguyễn Ngọc Thăng) xuất thân từ Bến Tre đã có sáng kiến dùng trái mù u làm vũ khí để đánh Pháp, gọi là “trận chiến mù u”.
  3. Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín (Sđd, tr.536) ghi nhận gảnh (dấu hỏi) là biến âm của gành, tức là đã vi phạm luật biến âm cùng âm vực.
  4. Âm vực cao gồm các thanh: ngang, sắc, hỏi; âm vực thấp gồm các thanh: huyền, nặng, ngã.
  5. Để viết đúng dấu hỏi, dấu ngã xưa nay có mẹo luật được phát biểu bằng đôi câu lục bát theo kiểu khoán yêu như sau: “Anh Huyền mang nặng ngã đau,/ Em Ngang sắc thuốc hỏi đau chỗ nào”. Thí dụ: đằng đẵng (huyền - ngã), chậm rãi (nặng - ngã), trắng trẻo (sắc - hỏi), thăm thẳm (ngang - hỏi).
  6. Từ năm 2013 đến nay, học giả An Chi có tới 5 bài viết về địa danh Tràm Chim (huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) đăng trên Năng lượng mới/ Petrotimes (các số ra ngày 15/4/2013, 06/6/2014, 22/3/2015, 11/4/2015, và 19/4/2015). Đó là chưa kể bài của ông trước đó trên Kiến thức ngày nay số 599 (1/4/2007). Sở dĩ ông An Chi phải viết nhiều bài như vậy là vì có nhiều bài tranh luận với ông về đề tài này, mà tiêu biểu là hai ông Nguyễn Hữu Hiếu và Nguyễn Thanh Thuận.

Trong 5 bài đăng trên Năng lượng mới, ông An Chi dùng rất nhiều lý lẽ và dẫn chứng để bảo vệ quan điểm: “Gút lại, xin khẳng định rằng “tên cúng cơm” của Vườn Quốc gia Tràm Chim chỉ đơn giản và chính xác là Chằm Chim chứ không phải “Trầm Chim” hay “Tràm Chim” gì cả” (Petrotimes ngày 15/4/2013). Và ông đưa ra công thức mà ông cho rằng theo đó địa danh Chằm Chim [sic] bị “siêu chỉnh” (hypercorrection): Chằm Chim → Trầm Chim

Tràm Chim.

Trong khi đó, các quan điểm tranh luận với ông An Chi thì ra sức bảo vệ danh xưng “Tràm Chim”: “Tên gọi Tràm Chim, trong đó Tràm là một dạng địa hình sông nước đặc biệt ở Nam Bộ… chỉ nơi trũng thấp, nước ngập quanh năm” (Nguyễn Hữu Hiếu, “Bàn về địa danh Tràm Chim”, Xưa & Nay số 447, tháng 5/2014).

Vấn đề tưởng phức tạp đó cuối cùng được ông An Chi gút lại: “Nếu… tác giả Nguyễn Hữu Hiếu mà chứng minh được rằng trong tiếng Việt, người ta có thể nói theo cách của những danh ngữ trên đây [Xoài Chim, Mít Chim, Nhãn Chim] thì chúng tôi sẵn sàng tuyên bố rằng những bài chúng tôi đã viết về “Tràm Chim” đều vô giá trị” (Petrotimes ngày 22/3/2015).

Như vậy, cả hai quan điểm đối lập trên đều thống nhất nhau ở chỗ nhìn nhận địa danh Tràm Chim/ Chằm Chim [sic] có cấu tạo theo công thức: Loại từ + danh từ khối

Vấn đề chỉ còn là: Một bên (ông An Chi) thì cho rằng, trong “Tràm Chim” thì “Tràm” không thể là loại từ còn một bên (ông Nguyễn Hữu Hiếu) thì cho rằng “Tràm” chính là loại từ.

Do phủ nhận loại từ “Tràm” nên ông An Chi cho rằng “Tràm Chim” là “một cái tên méo mó, vô nghĩa” (vì nó không tuân theo quy tắc ngữ pháp tiếng Việt) và ông đề nghị tên khác là “Chằm Chim” (với loại từ “chằm” là “vùng đất thấp và rộng bỏ hoang, thường bị ngập nước”).

Phía ông Nguyễn Hữu Hiếu thì cho rằng tràm là một dạng địa hình sông nước” nên có tư cách là loại từ, xuất hiện trong các địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp như: Tràm Dơi, Tràm Sình, Tràm Cù Lao Dung, Tràm Thầy Ba Vỹ. Để củng cố thêm lập luận, ông Nguyễn Hữu Hiếu cho rằng, “Người Việt Nam Bộ thường phát âm /tr/ thành /ch/ chớ không ngược lại; [] phương ngữ Nam Bộ không có từ tố [sic] chằm để chỉ vùng ngập nước hoang hóa đầy lau sậy”. Và ông kết luận: “Địa danh Chằm Chim chỉ là một địa danh ảo”.

  1. Như ở chú thích số 25.
  2. [0] là khinh âm, [1] là trọng âm.
  3. Nằm ở ranh giới giữa hai xã Phú Mỹ và Hưng Thạnh.
  4. Mặc dù vẫn có một bộ phận phát âm lẫn lộn, nhưng phần lớn dân Nam Bộ vẫn phát âm phân biệt CH- và TR-. So với CH-, TR- khó phát âm hơn nhiều. Trẻ con tập nói thường nói âm môi (“mẹ”, “má”, “mum”…) và âm mặt lưỡi (“cha”, “chơi”…) trước, các âm tiết khác thường nói đớt quy về một trong hai âm này. Riêng phần lớn người dân tỉnh Bến Tre đều không phát được âm TR-.
  5. Ở Nam Bộ hiện nay vẫn còn hàng trăm địa danh có từ Tràm đã chứng tỏ điều này.
  6. Thực tế phương ngữ Nam Bộ còn có một loại từ chỉ địa hình còn đặc biệt hơn nữa là từ gãy trong địa danh gãy Cờ Đen ở xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Đầu thế kỷ XX, tại đây chỉ có 2 con kinh là kinh Lagrange và kinh Quatre Bis hợp thành một góc nhọn gãy khúc. Tại đây người ta cắm một cây cờ đen làm hiệu, nên gọi là gãy Cờ Đen. Ngôi chợ mọc lên tại đó gọi là chợ Gãy tương tự như chợ Giồng, chợ Gò, chợ VàmGãy ở đây đích thị là loại từ chỉ một dạng địa hình sông nước, tương tự như Tràm trong Tràm Chim.
  7. Địa danh núi Tượng đã có từ lâu đời còn tên xã Núi Voi (huyện Tịnh Biên, An Giang) chỉ xuất hiện từ năm 2003.
  8. Doi Lá là doi đất ven sông có nhiều cây dừa nước mọc (loại cây dùng để lấy lá lợp nhà). Ở Nam Bộ, ngày trước người ta dùng lá dừa nước để lợp nhà rất phổ biến, nên từ thường để chỉ là dừa nước, chẳng hạn Đám lá tối trời (nơi Trương Định lập căn cứ chống Pháp) chính là vùng rừng lá dừa nước.
  9. Không thể biện luận như ông An Chi: Trong các thế kỷ trước, ở Nam Bộ có vài bộ từ điển ghi nhận từ chằm thì nhất định thời đó ở Nam Bộ phải có chằm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. An Chi (2007, 2015), các bài viết về địa danh Tràm Chim đăng trên Kiến thức ngày nay số 599 (1/4/2007) và Năng lượng mới/ Petrotimes (các số ra ngày 15/4/2013, 06/6/2014, 22/3/2015, 11/4/2015, và 19/4/2015).
  2. Bình Nguyên Lộc (1972), Lột trần Việt ngữ, Nxb Nguồn xưa, Sài Gòn.
  3. Hoàng Phê chủ biên (2008), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
  4. Huình Tịnh Paulus Của (1895-1896, tái bản 1998), Đại Nam quấc âm tự vị, Nxb Trẻ, TP HCM.
  5. Huỳnh Công Tín (2007), Từ điển từ ngữ Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  6. J.L. Taberd (1838), Dictionarium Anamitico - Latinum, J.Marshnam, Serampore (Bengale).
  7. J. F. M. Génibrel (1898), Dictionnaire annamite - français, Imprimerie de la Mission à Tân Định, Saigon.
  8. Lê Công Lý (2015), “Tại sao gọi là gãnh Mù U?”, tạp chí Xưa & Nay, số 466, tháng 12/2015.
  9. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Tác giả xb, Sài Gòn.
  10. Lê Ngọc Trụ (1967), Việt ngữ chánh tả tự vị, Khai trí xb, Sài Gòn.
  11. Lê Trung Hoa (2005), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  12. Lê Trung Hoa (2015), Từ điển địa danh Nam Bộ, Đề tài Quỹ Nafosted (bản thảo).
  13. Lê Trung Hoa (2016), “Từ địa phương Nam Bộ chỉ địa hình trong địa danh Việt Nam” (bản thảo).
  14. Lê Văn Đức-Lê Ngọc Trụ (1972), Tự điển Việt Nam (2 quyển), Khai trí xb, Sài Gòn.
  15. Nguyễn Hữu Hiệp (2011), “Diện mạo các thủy hình, thủy mạch đặc trưng; khẩu ngữ về trạng thái nước và những tiếng người Nam Bộ thường dùng trong sinh hoạt đời sống có cội nguồn từ sông nước”, tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 4 (41).
  16. Nguyễn Hữu Hiếu (2014), “Ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa bao giờ có nước lũ”, Ấn phẩm Đồng Tháp xưa & nay, số 38.
  17. Nguyễn Hữu Hiếu (2014), “Bàn về địa danh Tràm Chim”, tạp chí Xưa & Nay số 447 (tháng 5/2014).
  18. Nhiều tác giả (1967), tập san Sử địa, số 7, Sài Gòn.
  19. Paul Doumer (1905, tái bản 2016), L’Indo-chine française (Xứ Đông Dương), Nxb Thế giới, Hà Nội.
  20. Phan Đình Dũng - Nguyễn Thanh Lợi (2010), Hỏi đáp về Biên Hoà – Đồng Nai, Nxb Đồng Nai.
  21. P.J. Pigneaux (1772), Dictionarium Anamitico - Latinum, bản chép tay.
  22. Trịnh Hoài Đức (1820?, tái bản 1999), Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  23. Trịnh Hoài Đức (1820?, tái bản 2005), Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch, Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
  24. Văn Tân chủ biên (1967), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  25. Vũ Văn Kính (2002), Đại tự điển chữ Nôm, Nxb Văn nghệ, TP HCM.

*    Lê Công Lý, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại TP HCM.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129), 2016

 

Các từ điển – tự điển chữ quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX thể hiện hai dòng chính tả -ngoại nhập và Việt hóa.


Thời gian qua, vấn đề dạy chữ Hán (tức mảng từ Việt Hán) trong nhà trường được báo chí đề cập nhiều lần và dư luận quan tâm. Có điều dạy chữ Hán trong trường phổ thông hay đại học thì từ việc đào tạo giáo viên tới xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình v.v sẽ rất tốn tiền, mất nhiều thời gian, mà cung cách nhồi nhét phổ biến trong nhà trường hiện nay chỉ làm công việc ấy trở thành một chuỗi các hành vi bị động, thiếu hứng thú và ít sáng tạo ở phần đông chủ thể tiếp nhận, trong khi đó phải là một quá trình tự nhiên và tự nguyện được nhất hóa vào hoạt động sống của từng cá nhân. Cho nên phải nhìn nhận từ một góc độ khác, hành động theo một cách thức khác.

Thượng đế sinh ra muôn loài . Chỉ có loài người Ngài ban cho họ tiếng nói . Tiếng nói để giúp họ hiểu nhau. Lời nói gió bay , chỉ có chữ viết mới khiến cho tiếng nói được truyền đi mọi lúc mọi nơi, bất chấp không gian và thời gian . Nước Việt và Do Thái là hai quốc gia thông minh nhưng bị mất nước lần lượt là 1000 năm và hai ngàn năm. Tại sao hướng đi của hai dân tộc này càng lúc càng ly tâm . Một bên tốt hơn . Một bên " như Xê .! . Đau! . Người Do Thái đã tìm ra đáp số và họ đã giải quyết được tốt đẹp . Họ có chữ viết trong khi ta vay mượn, cho mãi đến năm 1916 chúng ta mới tạm thống nhất bằng thứ chữ quốc ngữ này . Lời chào mỗi ngày của người Do thái , " hẹn gặp tại JEUSALEM " với lòng quyết tâm . Người Việt chào mỗi ngày " anh/chị khỏe không ? " . Lời chào này có nghĩa là anh chị có " ổn "không. Ổn về sức khỏe , ổn về vật chất, ổn về tinh thần. Đất nước này còn long đong lắm về mặt tinh thần . Rằng có một cái gì đó không " khỏe " - Việt Nam khỏe không ? - không khỏe chút nào! . Một trong các lý do khiến Việt Nam không khỏe là -ngôn ngữ. !. Trong đó có hai âm Mít đặc đầy ma lực mà nay trên thế giới này không có một từ nào của bất cứ quốc gia nào có nghĩa tương đương . Vậy mà trong Từ điển Tiếng Việt của quốc gia ghi rằng nó là một từ Thông tục . Thông tục!..Tại sao nó lại là thông tục. Sự gán ghép này do chính các nhà làm từ điển " áp đặt lên " , quả thật đây là một tắc trách , do người lại không am tường độ đa nghĩa, độ sâu của nó, cho nên thuận tay phán bừa một cách VÔ TRÁCH NHIỆM chăng?

I-Mít đặc là gì ? - Anh từ đâu đến ngôn ngữ quê hương tôi ?

I--Cấu tạo

Theo cách lý giải thông thường thì Mít đặc gồm hai từ "mít" và "đặc" có nghĩa riêng biệt kết hợp lại với nhau . Mít ==> theo từ điển Tiến Đức năm 1931 . MÍT là kín lắm ,không hở . Nghĩa bóng là ngu tối, không hiểu,không biết cái gì . Ví dụ: hỏi đâu mít đó ( trang 345 ) . Sau này các Từ điển , Việt Nam Tân từ điển của Thanh Nghị SG 1952 ,Tự điển Việt Nam của Khai Trí SG ,1971 hay Tự điển Việt Ngữ Hoàng Phê 2003 sau 75 cũng đều định nghĩa như thế .

Mít có nghĩa trên do từ sụ biến âm từ mít hay không ?

Mít có liên thông với Mịt và Mật từ chữ Hán hay không hay không ? . -Tự điển Tiến Đức đã định nghĩa Mịt là tối lắm và không đề cập đến nghĩa bóng. Lưu ý rằng Mít của Việt Nam là âm ,đa nghĩa , mật của Tàu tuy cùng một âm , nhưng mật trong "ba la mật " có hai ký tự khác nhau . Một từ có nghĩa là mật ngọt ,có bộ trùng ,và mật là kín có bộ Miên .

Đặc là gì? ==>Đăc là đông lại, đọng lại, cứng lại,

Đặc là một từ hậu tố ( suffix) -hàm ý tăng cường độ cho từ đi trước nó . Mít đặc là "mít" hoàn toàn, mít 100% , Việt Nam Tân từ điển của Thanh Nghị đã định nghĩa ignorer complètement. Khẩu ngữ Quảng Nam có câu " nhìn tề , -Người đâu mà đôngđặc ". Có nghĩa là người ở đâu mà đông quá ,đông đen .

II- từ mít có từ bao giờ?

Chúng ta cần phân biệt Âm và chữ . Âm có trước chữ viết. Mít là âm Việt có từ thời rất xa xưa . Khi mà cây Mít theo các tăng sĩ người Ấn thả thuyền theo dòng hải lưu đến Giao châu truyền bá đạo Phật . Từ này có thể xuất hiện đồng thời với âm Bụt . Bụt là từ thu gọn của từ Buddha ( hai âm ).Mít là từ thu gọn của từ paramita ( 4 âm ) . Từ này vừa chỉ cây mít ,vừa là một thuật ngữ Phật giáo mà người Tàu phiên âm là ba la mật đa ( đủ 4 âm ) - người Việt gọi là Mít - người Tàu không gọi Mật là cây mít .Họ gọi đủ ba âm . Tàu gọi cây mít là 菠 蘿 蜜 "bō luó mì" / âm hán Việt là "ba la mật" nhưng ,mật ở đây là có nghĩa là ngọt ,như mật ngọt như đừơng , 蜜 bộ trùng trùng 虫,trong khi Mật là bí mật ,là đông đúc thì mật là 密, bộ miên 宀 . Vậy nó không hề liên quan nhau . Việt là Việt, Hán là Hán, Tàu là Tàu . Mít là mít . Mật là mật .

Trong ngôn ngữ Việt , mít xuất hiện dưới hình thức chữ nôm khá lâu . Thời vua Minh Mạng lệnh truyền trồng cây mít trên khắp đất nước . Vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 vua Minh Mạng ban chiếu có đoạn "Chiếu sai các thành trấn, thành phủ và đường quan đều trồng cây mít, cách 5 thước trồng một cây. Đê sông lớn, đê sông nhỏ (d)ều trồng cây liễu; các vườn tược bỏ hoang đều phải trồng đay gai". Và cửu đỉnh ở Đại Nội HUẾ ́ có khắc cây mít. HUẾ ,Thừa thiên và Quảng Nam có lẽ là hai nơi hưởng úng nhiệt liệt nhất. Nhà nhà đều trồng mít do bởi đất đai và thổ nhưỡng tại hai nơi này khắc nghiệt ,và mít là cây dễ sống , chịu hạn tốt và không kén đất, kể cả những chỗ đất đai cằn cỗi. . Từ đây từ Mít được nhắc nhở trong từng bửa cơm gia đình . "Mít đẹt và mắc địt " xuất hiện trong Khẩu ngữ Quảng Nam ,từ đó có âm "Mít đặc" do việc gom hai từ thành một . Tại Quảng Nam âm mít xuất hiện khá đều đặn, họ có câu ca dao

"Ai về nhắn với bạn nguồn , 
Mít non chở xuống cá chuồn chở lên "

Còn Mít đặc thì sao? . Mãi đến khi Quôc văn giáo khoa thư viêt năm 1935 do Nhà cầm quyền ĐÔNG PHÁP giao cho cụ TRẦN TRỌNG KIM viết ,thì hai từ Mít đặc xuất hiện trong Quốc văn Giáo khoa thư,trở thành bài học thuộc lòng cho trẻ .

Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài 
Cũng thành vô dụng cũng hòai ngọc đi 
Con người ta có khác gì 
Học hành qúy giá ngu si hư đời 
Những anh mít đặc thôi thời 
Ai còn mua chuộc đón mời làm chi!

Ngữ cảnh trong bài học thuộc lòng này là gì ?. Mít đặc có thể là dốt nát do vì lười biếng không chịu học. Anh ta không phải là loại NGU ĐẦN mà anh có thể là người sáng dạ đàng khác. Hai là cũng có thể là anh chỉ biết mỗi thứ chữ Nho,thứ chữ Hán lúc chợ về chiều , nay không chịu học chữ quốc ngữ, anh ta ,"không thức thời ". Anh cũng là một người ngu vậy !.

Điểm đặc biệt cần để ý là từ Mít đặc lại không được nhiều người Nam Bộ thường xuyên xử dụng, một vài nơi ."Bọn trẻ hay nói " lêu lêu cái đồ mít đặc" ,chủ yếu bọn trẻ dùng mít đặc vì âm nói lái đầy thú vị với trẻ ,sau đó là tiếng cười dòn và rượt chạy " , theo LẠC NGUYỄN người Sóc Trăng . Ngoài ra người miền Nam không khai thác và suy nghĩ nhiều về âm đầy "ma thuật" này. Tự điển Phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái không có . Từ điển đồ sộ có tên là "Từ Ngữ Nam Bộ" -của tiến sĩ giảng dạy Huỳnh Công Tín mới đây cũng không thấy có. Có lẽ cây mít không chịu đất ngập nước ở đồng bằng Nam bộ chăng? . Một khi trái mít không phải là thứ cây trái của nhà nghèo thì âm và từ mít không thường xuyên xuất hiện trong ngôn ngữ giao tế hằng ngày của người Nam bộ chăng?, âu cũng là điều dễ hiểu. Nhiều nơi ở Nam bộ đất thấp , nước ngập mít khó sống, nhà vườn không trồng . Người Đàng Trong ngoài mít ráo ,mít mật ,mít nghệ , họ còn thích ăn mít ướt, bởi chính "mít ước" khiến họ ăn được nhiều và thấy ngon .Từ đó từ "mít ướt" cũng trở thành một từ trong kho tàng ngôn ngữ của họ . "mít ướt <==> mít ước " là một danh từ chỉ người mau nước mắt. Nhiều người Việt ,trẻ có già có khi nghĩ đến "Chuyện gì đó ,mà mình thầm ước ao nay chưa đến , họ rơi nước mắt-"Mít ướt ==> mít ước ==> Mít đã là từ tình cảm trong tâm trí người Việt, điều này khiến cho ai đó lấy HÁN làm TRUNG ( chữ của anh Nguyễn Cung Thông ) -không có đất sống.

Trong cảnh cùng khổ, trên đe dưới búa,thời tiết và thổ nhưỡng khắc nghiệt, người Đàng Trong thường mau rơi nước mắt khi thấy trong chén cơm của mỗi thành viên trong gia đình mình, chiều nay không có gì ăn . Họ "mít ướt ==> mít ước" , Người Quảng Nam nói riêng và người đàn ông thuộc sắc dân Lạc Việt nói chung, ngó vậy mà Họ đều mau rơi nước mắt. Họ dễ bị " dụ " bởi hai từ yêu nước. "?" . Hiểu ra thì mới hay mình đã NGU "?" . Chết cho quê hương "? Hay ! "., Chết cho đồng bào mình sống "?hay !" . Trẻ thơ Việt Nam nay đang "được" học bài "Quê hương" trong SGK , với câu cuối vô cùng tình cảm, dạy điều khôn dại ... " là chùm khế ngọt " thơ của ĐTQ . Họ đâu biết rằng, khế ăn một ai lát thì không sao, dùng vài lát để át mùi tanh của cá biển, khử mùi đắng của các ion Ca2+ , Mg 2+ vị tanh của Fe 3+ , ...tồn tại trong muối hạt muối rang của các xứ quê nghèo Trung eo ; thế nhưng, " cho ta trèo hái mỗi ngày , TRẺ tử vong là chắc! . Bởi người lớn không dạy cho trẻ biết trong khế có chứa 1% Oxalic acid trong 100 gam nước cốt ( theo giáo sư Võ Quang Yến , Paris ) . Ngoài ra Khế còn chứa một độc tố dữ dội khác là "neurotoxin, có thể gây ói mửa, rối loạn tâm thần, hôn mê, động kinh hay thậm chí là tử vong. Độc tố này cũng tìm thấy trong một số loài rắn hay nhện..." theo trang web "tokhoe.com". Vậy mình chọn nên chọn Mít để yêu quê hương hay là chọn khế hở các Bạn hiền?

"Mít và mít đặc" và Mít ướt không phải là từ xa lạ với người miền Nam yêu thương nhưng quả thật là từ họ rất ít khi dùng đến khi giao tiếp hay suy nghĩ về nó. Họ chỉ dùng để châm chọc nhau lúc nhỏ .Dù gì thì gì thì từ mít vẫn là từ tình cảm trong tâm trí họ . 
  

Và người Tàu thì sao? .Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông cho rằng, người Tàu, phương Bắc không có âm MÍT, nếu có chỉ là âm ngoại nhập vào ngôn ngữ của họ mà thôi, bởi Cây Mít không chịu được nhiệt độ lạnh, chính các ..." điều kiện môi trường này loại trừ Trung Quốc là một nguồn của loài mít, do đó không thể nào có cơ sở liên hệ bất cứ hiện tượng ngữ âm nào giữa tiếng Hán/TQ với loài mít! Ngoại trừ tiếng Hán/TQ nhập cảng tiếng nước ngoài vào ngôn ngữ mình " ,Nguyễn Cung Thông. Theo ngu ý, có thể nhà ngôn ngữ học người Tàu tên là Vương Lực, vào năm 1942 có qua Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội làm việc chừng một năm; tại đây ông đã tìm lại cội nguồn tiếng nói của dân tộc ông . Ông cho là người Bắc là nơi còn ghi dấu " ngôn ngữ Tàu từ thời xưa , từ đời Ðường, mà sau này người Tàu Bắc kinh không còn ai dùng nữa" . Việc này cũng tương tự như người Việt chúng ta tìm về ngôn ngữ người MƯỜNG để tìm lại tiếng Việt xưa . Chính từ công trình của Vương Lực mà chúng ta cần giác từ các bài viết về từ nguyên học của các "nhà tự phong mình là nhà từ nguyên học ", bởi họ là "nhà từ nguyên học đường phố " đa phần là các anh Tàu sặc mùi Ðại Hán viết , Nhà Ngôn ngữ Ðông Phương trường lớp Nguyễn Cung Thông tặng cho họ " mỹ danh " này .

III Xét về thuộc tính của âm "ít" trong MÍT

Trong Âm mít , nếu ta để ý đến việc phân âm , cấu tạo từ khi đánh vần . Mờ (M) + ít sắc mít .Trong đó có phần tạo âm là ÍT . Thuộc tính của âm "it" là gì? . Đa phần các từ có cấu tạo "Phụ âm + ít " đều chỉ sự nhỏ nhoi, chật hẹp . Từ sẽ mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn. Sự sinh động dãn nở vắng bóng . Bưng bít , vung vít , mít ,khít rịt , tíu tít ( quắn lấy nhau trong không gian hẹp) ,ghịt ,vít đầu xuống vv . Âm "ít " chỉ thuôc tính tiêu cực .

Mít đã để lại trong ngôn ngữ Việt Nam một lời nhắc nhở " buòn phiền " cho toàn dân tộc này. Rằng Bạn hiền " phải lận lưng cho đến lúc chết ,rằng DÂN TỘC NÀY hãy " trưởng thành lên " , để từ này mất hẳn trong ngôn ngữ Việt . Trước 75 tại Miền Nam Việt Nam có từ Mẽo ,từ gọi người Mỹ một cách xách mé ,nay đã mất hẳn , do Người Mỹ không hề xấu xa ,mọi sự bêu rếu đều vô nghĩa . Thế nhưng câu Khẩu ngữ mà mình phải nghe " _Lại một anh MÍT!" . Anh Mít là một anh "annamite " ,Người Việt đã bị người Pháp dè bỉu . Từ Annam đã xấu xa do Tàu đặt cho,sau khi người Việt mình mất nước 1000 năm , nay người Tây thêm âm "íte" vào sau 100 năm đô hộ . Hai lần vong quóc sử!. Lần trước 1000 năm , rước lấy tên AN NAM - mà Tàu đọc trài trại, nghe như là Ố NHÂN , bọn người xấu xa! . Nay đến phiên người Pháp thêm cho nó một suffix là "ITE" nữa .Vậy mà nay đến phiên các nhà ngữ học , các nhà ngôn ngữ học lại làm thinh cho " người ta bêu rếu dân tộc mình bằng cách phân tích từ nguyên đầy chất xỏ lá " .Xin đọc phần sau -Nhà từ nguyên học lừng lấy trong nước ANCHI*.

Với Tây , "Kẻ xâm luợc Tàu - hỗ lốn - gọi chúng tôi là An Nam, các học giả thực dân chỉ thêm một tiếp vĩ từ (suffixe)  "ite".  Theo văn học Pháp thế kỉ XVIII thì "ite" và "iens" là để chỉ những dân tộc lạc hậu, yếu kém, hoặc môt vùng nhỏ, ví d : Les Indiens, les Cambodgienes, les Moscovites;... Sao các ông không gọi chúngtôi là Vietnamais cũng như Francais, Anglais, Japonais;... Bà và ông thấy thế nào?" ,trích lại từ một blogger .

IV - Vài tạp nghĩ

Trong Từ Điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Việt ngữ này được xem như từ điển của người trong nước sau 75 , xếp từ Mít đặc vào nhóm từ thông tục .Thông tục là gì ? tại trang 953

Thông tục là 1- phù hợp với trình độ của quần chúng đông đảo ,quàn chúng dễ hiểu ,dễ tiếp thu .2- Quá thông thường ,tự nhiên ,thuộc từ ngữ chỉ quen dùng trong lớp người gọi là kém văn hóa (kém văn hóaLaiquangnam tô đậm ) . Điều này chỉ rằng đây là từ mà giới " có học thức không dùng " . quả thật ta không thấy nó được dùng trong ngôn ngữ trang trọng, không xuất hiện trong cac văn bản "nghiêm túc " của giới học giả hay trong văn bản của người được gọi là " trí thức " . Thật đáng tiếc.

`Chúng ta thử đọc và nghe các câu thoại dưới đây . Đây là mẫu đối thoại giũa hai người tạm gọi là A và B về sự hiểu biết .

Ví dụ: thứ nhất

1-A : Này B , 2 cộng bới 2 là mấy con ?

B- là năm

A-Đồ ngu ! , đồ "mít đặc *"

2- Ví dụ: thứ hai

1-A: - Này B , ngày nay theo anh chế độ chính trị nào là tốt nhất cho Việt Nam

B- Theo tôi là chế độ độc tài, phong kiến cha truyền con nối. Bởi người lãnh đạo quốc gia cần phải có gien di truyền

A- "mít đặc**! "

3- Ví dụ: thứ ba

1-A: này B , niết bàn ( Nirvana) là gì Bạn hiền.

B- Chuyện này tôi "Mít đặc*** "

Qua ba mấu đối thoaị đó , Chúng tôi lần lượt phân tích lại. Cả ba tình huống đều dùng ký tự tạm ghi là " Mít đặc" .Như Bạn hiền đã thấy , ứng với với ba tình huống khác nhau laiquangnam có ghi với dâu sao * khác nhau

1-Tại Ví dụ thứ nhất, từ " đồ ngu ! ", Mít đặc* có thể thay bằng Đần, ngốc ngếch.Trong trường hợp này khẩu ngữ của Quảng Nam dùng đúng là "mít đẹt ". ĐẸT , ET thay vì ẶC là mít đặc* . Từ này được dùng trong giới người thân trong gia đình trong nhà . Họ nói vói con cháu mình bằng thứ ngôn ngữ của người trưởng thượng, có chút ngậm ngùi, bất lực,cảm thương .

Vậy Mít đẹt là gì? . Mít là loại cây trái ta đã biết . Đẹt là không lớn lên nổi . Thứ này còn gọi là "Dái mít" lớn bằng cở ngón tay cái . Không lớn thêm . Người ta hái và ăn non , nó có vị chát đặc biệt, ăn non còn hơn là để nó tự rụng

2- Tại Ví dụ thứ hai , từ " Mít đặc** " "không thể thay bằng "Đần" , "ngốc ngếch" được bởi đây, là câu hỏi dành cho một người có ăn học tử tế . Nó liên quan đến thể chế quốc gia . Khi mình ở một trình độ nào đó thì câu hỏi này mới được đặt ra . Trong trường hợp này, khẩu ngữ của Quảng Nam là "mắc địt " . Từ mắc địt này được dùng khi người thân trong nhà nghe con cháu mình nói lời khó nghe, rất chướng tai. Người bình thường nào đó ,không quá đần đều cũng cảm thấy chướng tai như họ . Câu khẩu ngữ thường dùng của người Quảng Nam là " Mi nói Tau nghe muốn mắc địt! " . Tại sao lại mắc địt? , bởi khi nghe xong , trong bụng người nghe liền cảm thấy lình bình ,khó tiêu hóa, Họ chỉ mong được địt /tức đánh rấm ( BẮC ) một cái thì cái bụng mình mới nhẹ được . Ngữ cảnh của nó là , người phát ngôn dùng nó ở trạng thái chê bai, đầy chất miệt thị . Lời này được tặng cho viên chức , cho giáo sư tiến sĩ mà nói lời khó nghe , trái với lương tâm và công lý thương tình . Bạn hiền, bạn vào Facebook sẽ gặp hàng ngày các vị này .

Trong ngôn ngữ của người phát ngôn, âm " mắc địt " có chút gì trưởng thượng, đầy chất miệt thị khinh thường . Vậy cái ngu của B trong trường hợp này là cái ngu của một anh có được ăn học , không thể dùng từ ngu ,đần ,ngốc , dại ,khờ thay cho từ "Mít đặc **" được

3-Tại ví dụ thứ ba, từ " Mít đặc " không hàm ý mĩa, bởi ở đây không ai mĩa ai . Tự thân ngừoi phát ngôn nhận mình " không biết hoàn toàn " về điều mà A vừa hỏi . Có thể B biết Niết bàn là gì , nhưng biết một cách mơ hồ , không đủ để A thoải mãn nếu như B chịu khó trả lời cho A. Trong trường hợp này từ " MÍT " lại càng khòng dính dáng gì với định nghĩa mà từ điển Tín Đưc đã ghi. Nó không liên quan gì đến Mít ==> mịt ==> Mật ( Hán ) .Lần này nó liên quan đến một từ từ Phạn ngữ , thuật ngữ Phật giáo .

Bạn hiền cùng laiquangnam đọc lại đoạn này trên Chim Việt Cành Nam năm xưa ,bài do Thầy Minh Chí viết .

" Tôi muốn nói từ mít. Các tăng sĩ Nam Ấn Ðộ, vào đầu kỷ nguyên, khi đạo Phật đại thừa đã hưng khởi, thường hay đi truyền giáo nơi xa, đến đâu họ thường đem hạt giống cây trồng theo, khi họ đến Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa họ có đem theo hạt giống loại cây mà không hiểu sao họ gọi là cây Paramita. Paramita, Hán dịch âm Ba la mật chỉ cho đức hạnh bồ tát, mà bồ tát, như chúng ta biết, là nhân vật tiêu biểu của Phật giáo đại thừa, tức Phật giáo Bắc truyền. Một hình thức Phật giáo rất năng động, sáng tạo, đầy nhiệt tình truyền giáo, hưng khởi vào những thế kỷ đầu công nguyên. Paramita có nghĩa là đức hạnh hoàn thiện. Hán dịch âm đầy đủ là Ba la mật đa. Có thể là các tăng sĩ Ấn Ðộ thời ấy gọi cây đó là Paramita để tự nhắc nhủ mình về hạnh bồ tát chăng, về hạnh nguyện của các vị bồ tát không ngại đường xa gian khổ đi khắp nơi, cùng trời cuối đất để truyền bá giáo lý của Phật đà chăng? Từ đó về sau, người dân miền Nam Trung Quốc cũng theo các tăng sĩ truyền giáo Ấn Ðộ, gọi đó là cây Ba la mật (họ bỏ âm đa, theo thói quen). Còn người Việt ta thì bỏ cả những âm đầu và cuối, chỉ gọi là cây mít (Paramita: giản âm hóa thành cây mít). Cây mít thường trồng nhiều xung quanh chùa, gỗ mít được xem là gỗ thiêng, chỉ dùng làm mõ, làm bàn thờ v.v...

Nhưng tôi xin phép hỏi các nhà ngôn ngữ học có mặt ở đây, vì sao người Việt ta lại có từ mít đặc, để chỉ người dốt, hỏi gì cũng không biết: mít đặc. Phải chăng đây là một trường hợp biến nghĩa, thường gặp trong ngôn ngữ. Một từ ngữ bác học, sau khi đã xâm nhập vào dân gian, thì hay bị biến nghĩa. Cũng như từ thiên binh, chỉ cho binh đội nhà trời của nước Trung Quốc ngày xưa. Vua Trung Quốc gọi là thiên tử, triều đình của vua Trung Quốc gọi là thiên triều, còn binh đội của vua Trung Quốc gọi là thiên binh, là quân đội nhà trời, đáng lẽ người dân Việt Nam phải kính nể, khiếp sợ. Ấy thế mà người dân Việt Nam lại nói: chuyện thiên binh, như một chuyện khôi hài, láo khoác, không có thật, không đáng sợ. Có thể đây là trường hợp cũng giống như từ mít đặcnói trên chăng? Paramita, là hoàn thiện, siêu việt lại dám dùng trong trường hợp mít đặc, để chỉ sự dốt nát không biết gì hết."

Mít lần này là mít trong từ cây mít ==> paramita .Cũng do thói quen tinh gọn , nuốt âm thuòng ngày của người Việt . Như âm BỤT vốn là Buddha , hai âm còn một âm .Gọn nhẹ. Một âm nếu đã đủ thì tại sao lại không dùng một âm cho ngắn ngọn ! . "Mít đặc " ,có âm "mít" là một âm gọn trong từ thuộc từ Phạn ngữ là paramita . Đặc là làm đông cúng lại . Mít đặc từ đó thành hình và tặng độ lớn ,độ dãn cho từ Mít đặc vốn có từ trước trong Khẩu ngữ Quảng Nam. Lần này có nghĩa là , cho dù ông là người, một bậc thức giả, cho dù ông đã thông hiểu sâu về Tánh Không, về dòng Bát nhã Ba la mật đa ,thế nhưng với cái đầu "Mít đặc", ông không chịu xả bỏ "cái đã có trong đầu mình" để đón nhận một minh triết mới hơn, tốt hơn , thì đó là một cái đầu không " ngu"là gì ! . Một cái đầu NGU của một anh dại chữ . Ngu vì ngoan cố và cố chấp. Họ đã lọt vào vùng U minh khác. Hoàng Phong là một tiến sĩ khoa học nay sống tại Pháp đã viết : "vô minh" trong tiếng Phạn gọi là Avidya và tiếng Pa-li là Avijja, nghĩa từ chương của chữ này là sự "thiếu hiểu biết", thế nhưng cũng có thể hiểu đấy là một sự "nhầm lẫn". "Thiếu hiểu biết" không có nghĩa là thiếu sự hiểu biết mang lại từ sự học hỏi từ chương trong sách vở, hay sự thiếu hiểu biết mang tính cách thông thái của một nhà bác học. Vô minh là một cách "nhìn sai" hay "hiểu sai" của bất cứ ai cho dù họ là một người học vấn uyên bác hay một người thất học .

Sự lầm lẫn này có thể từ một hình thức thấp là liên hệ đến những biến cố và sự kiện thường tình trong đời sống cho đến một hình thức cao là liên hệ đến một sự quán thấy lệch lạc, không nhận biết được bản chất đích thật của chính mình và của mọi sự vật, không quán thấy được ảo giác của mọi hiện tượng đang biến động chung quanh mình và những xung năng trong tâm thức mình" . Hoàng Phong

Vậy trong trường hợp này Mít đặc không thể dùng bất cứ từ nào khác ,cho dù tiếng Hán ,tiếng của người Phương Tây * ? có thể thay thế được .

*Quả thật tôi không biết trong thuật ngữ Phương Tây /ANH PHÁP MỸ có từ nào nào tương đường với từ Mít đặc như trường hợp này của Việt ngữ hay không. Nhưng tôi nghĩ rằng tiếng Tàu không hề có một từ có thể thay thế nó. Trong Việt ngữ , cụm Khẩu ngữ hằng ngày là "dại chữ " . Từ dại chữ này được áp đặt cho người biết chữ Hán nhưng không thông về Việt ngữ mà nói chuyện từ nguyên .

"Ai đó" đã giảng Gần ( tiếng Việt ) phát xuất từ âm Cận của Tàu, bởi vì sự biến âm C <=> G trong khoa ngôn ngữ học . Tôi nghĩ không đúng, bởi Gần là một từ cơ bản của người Việt. Nó là từ sinh tồn, bởi ước độ khoảng cách thì GẦN và XA cùng xuất hiện cùng lúc ; Tàu thì Cận Viễn. Cận và Gần có thể có bà con xa gần ,có thể vì từ thuở hồng hoang rất xa xôi ,họ có cùng cội nguồn . Ví dụ dễ hiểu , giả định việc này xảy ra; sau 75 tại miền Nam Việt Nam có hai chiếc thuyền cùng thả ra biển. Họ trôi dạt vào hai hải đảo xa xôi ,không còn liên lạc với nhau được. 10 ngàn năm sau dó ,"Ai đó" khảo sát ngôn ngữ về hai sắc dân này , họ gặp vài âm trùng nhau một cách kỳ lạ, thế nhưng vào lúc này hai sắc dân đã có các thuôc tính hoàn khác nhau . Ta,người Giao châu ,Lạc Việt và Tàu thuộc dòng Nam Việt hay Mân Việt cũng thế . Không thể nói ai đã chịu ảnh huỏng của ai .Một ví dụ khác , "Ai đó" cho rằng Bố trong Bố Cái Đại Vương liên quan đến âm Phụ của Tàu Hán là một liên tưởng TRẬT , do bởi Bố và Phụ là từ cơ bản của dân tộc Việt và Tầu .Bố /Bu là cập từ chỉ song thân của Việt . Phụ Mẫu cũng là từ chỉ song thân của Tàu . Âm có trước , chữ viết có sau, sự nhập nhằng do cách tìm từ nguyên qua ngôn ngữ kiểu như giáo sư Nguyễn Tài Cẩn chỉ đúng với các từ Hán Việt thật sự , nay còn tồn tại trong ngôn ngữ của ta. Lý luận này không đúng lắm với các nhóm từ cơ bân của người Việt .

Kết luân

Vậy từ nguyên của từ Mít Đặc là gì ?

Có hai giả thiết

1-Một là, mít đẹt .Đó là một âm Quảng Nam , chỉ sự Ngu ,Đần do thiểu năng trong một thể trạng không phát triển cho nên, Ngu bẩm sinh ,khó khai hóa

2-Hai là, từ khẩu ngữ Quảng Nam "MẮC ĐỊT" . Do âm thô tục quá , và rõ quá , không thích nghi trong đối thoại trong một xã hội cần lịch sự hơn . Từ mang tính chất miệt thị rõ quá cho nên phải "nói lái" thành MÍT ĐẶC lại cho dễ nghe hơn ,lúc này thì âm và ngũ nghĩa MÍT đã khá rõ ràng . Dần dần theo luật LUẬT DARMESTETER về Ngôn ngữ Sinh hóa mà tăng dần độ " thâm và kỳ ảo " mà nay trên thế giới này không có một từ nào có thể tương đương với nó .

3- Ba là, từ một thuật ngữ Phật giáo về dòng BÁT NHÃ. Từ Paramita ==> âm mít là từ thu gọn của một từ Phạn ngữ gồm 4 âm, gom còn một từ MÍT .Sau đó ,từ Mít được gia cố bằng một hậu tố (suffĩx) - vốn là một tính từ "đặc" . Từ Mít đặc nay có nghĩa KHÔNG BIẾT 100% . Không biết không phải vì dại ,vì ngu ,vì đần mà vì DẠI CHỮ và vì cố chấp . Đây là cái NGU của một anh DẠI CHỮ. Và điều quan trọng cuối cùng nó chả liên quan gì đến Hán ngữ như MẬT hay Độn ,hay Đần gì cả .

Vậy,Ta không thể dùng cách giải Từ Nguyên Học thuộc từ trường phái Ngôn ngữ học lúc ban sơ , đặt trên nguyên lý " Cận âm" ,hoặc do nói đớt , nói ngọng , nói nặng hoặc do khi phát âm các phụ âm gần nhau do vùng bật môi ,vv ...theo giản đồ hình V ngược , mà "Kẻ lưu manh dấu mặt "nhất quán cho rằng ngôn từ Việt là Đứa Con Lai của Tàu. Bọn họ đã dựa trên công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã dùng khi viêt về mối liên hệ ngôn ngữ Hoa Việt như một công cụ tuyệt đối đúng, bởi cách lý giải đó xuất hiện trong giai đoạn đầu về khoa từ nguyên học . Nay là thế kỷ 21 đã có những lý thuyết khả tín hơn nhiều .

Như vậy cho dù trong kho Việt ngữ xưa kia đã có các từ chỉ sự Ngu là " Ngu ,ngốc ,ngớ ,đần ,khờ ,dại , khạo , thộn, độn , chậm tiêu , con bò , bí rị , đực mặt ,đồ điên,u mê ,cà chớn... ". Thế nhưng từ Mít đặc vẫn là từ có thể thay cho các từ trên mà không sai lệch ngũ cảnh mà không có hiện tượng ngược lại .

SAIGON cuối tháng 9 . 
Lòng đầy nhớ thương .

Laiquangnam


=====o0o0o00===========

Phần chú thích và tham khảo

1-Minh Chi,Bàn về sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa Việt Nam

http://chimviet.free.fr/dantochoc/chung/chp0054.htm

2-Tiêu chí nghiên cứu từ nguyên học tiếng việt - Tạp chí khoa học Cần Thơ

https://sj.ctu.edu.vn/ql/docgia/download/baibao-4875/21-tran%20thanh%20ai.pdf

3- http://thuvienhoasen.org/a13717/khai-niem-vo-minh-trong-phat-giao#cmm_item_383698

4-Không phân biệt được các từ gốc Hán đã Việt hoá và các từ "thuần Hán" 

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4143&rb=06

5-Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt-Nam Tự-Điển, Trung-Bắc Tân-Văn, 1931.

6-Từ điển tiếng Việt hay Từ điển Hoàng Phê, NXB DANANG , năm 2003)

7-https://khoahocnet.com/2013/11/25/bui-xuan-dang-vietnam-hay-annamite/

8-https://thongism.wordpress.com/toi-la-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-vi%E1%BB%87t-nam/vietnamais-va-annamite/

9- không quên Vi-WIKIPEDIA và GOOGLE SEARCH .

10 - luật LUẬT DARMESTETER về Ngôn ngữ Sinh hóa

NGÔN NGỮ SINH HÓA , LUẬT DARMESTETER :

......" NGÔN NGỮ SINH HÓA là sự biến nghĩa theo thời đại, theo tác giả, theo vị trí lời văn....."

Định luật Darmesteter : "Ngôn ngữ có sinh hóa như một sinh vật. Nếu một sinh vật trải qua 3 thời kỳ ấu trĩ, trưởng thành, lão suy thì ngôn ngữ cũng có 3 thời kỳ : thô sơ với một vài nghĩa, phong phú với nhiều nghĩa tế nhị và cuối cùng mất hẳn nghĩa sâu xa chính yếu." trích nguồn từ Giáo sư Thạch Trung Giả

II - Phần đọc thêm

Mít đặc là gì ? .Do nhà TỪ NGUYÊN HỌC AN CHI viết

Khi bạn gỏ GOOGLE SEARCH "Anchi, ông là ai?"

Bạn sẽ gặp các bài viết ngợi ca này ,

http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/an-chi-lam-rung-dong-nen-hoc-thuat.html

2- AN CHI - NHÀ NGHIÊN CỨU - Thư viện 
http://nhavantphcm.com.vn/an-chi-nha-nghien-cuu-thu-vien.html

3- Học giả An Chi 82 năm vẫn... rong chơi 
http://thanhnien.vn/van-hoa/hoc-gia-an-chi-82-nam-van-rong-choi-753033.html

Tuy nhiên với các bạn đã là bạn đọc của Chim Việt Cành Nam hay www.art2all.net thì không mấy xa lạ với nhà Từ nguyên học này, Các Bạn tôi, nếu đã chưa đọc thì nay xin đọc

1-Laiquangnam , tai sao goi Họ la người Tàu 
www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_taisaogoiholanguoitau.htm

2- bạn gõ " Đêm đêm Hàn Thực,ngày ngày Nguyên Tiêu,( Kiều,942 )"

3-hay khi bạn gỏ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan mới đây.

Từ bài đọc thêm này bạn sẽ hiểu tại sao nhà ngôn ngữ học trường lớp NGUYỄN CUNG THÔNG tặng cho Anchi nick name "nhà Từ Nguyên Học đường phố " .

--o0o0o—

Trong tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số 580 trang 47, mục Truyện Đông Truỵện Tây, ANCHI, nhà từ nguyên học lừng lấy trong nước hiện nay đã trả lời câu hỏi của một bạn đọc như sau, laiquangnam sao lục

20171013

 Nguồn: Chim Việt Cành Nam

20170724. Northrop Frye statue

Ảnh: Tượng của Northrop Frye ở thư viện Moncton Public Library (MPL) in Moncton, New Brunswick, Canada

 

1. Northrop Frye với con đường lý thuyết ngôn ngữ và văn học

Thế kỷ XX chứng kiến ngã rẽ vào ngôn ngữ của triết học và văn học. Wittgenstein nhìn thế giới dưới các quy tắc và đặc điểm ngôn ngữ, M.Heidegger xem ngôn ngữ là ngôi nhà của chủ thể, F.D.Saussure quan tâm nghĩa tạo ra giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, M.Foucault lại tập trung vào dòng chảy ngầm vận động sau ngôn ngữ, Barthes tuyên bố cái chết tác giả, Derrida nhấn mạnh kết cấu vẫy gọi của văn bản. Từ trò chơi ngôn ngữ, qua tường giải học, cấu trúc rồi hậu cấu trúc, giải cấu trúc… con đường định tính ngôn ngữ, văn bản, văn học như trận chiến không hồi kết của các chuyên gia. Công chúng dường như phải chờ đến Northrop Frye mới dự phần vào. N. Frye (1912-1991) có lẽ là nhà phê bình, lý thuyết văn học Canada có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Điểm qua hành trình nghiên cứu của Frye, có thể nhận thấy nổi lên hai trọng tâm: Lãng mạn và Cổ mẫu – hai cực hút xung quanh nó những đề tài thứ cấp như Tưởng tượng, Eliot, Shakespeare và Kinh Thánh, Thiên đường đã mất, Huyền thoại, Ngôn ngữ…

Từ công trình nghiên cứu về thơ Blake, người ta đã thấy N.Frye định hình một lý thuyết về kỹ thuật và nguyên lý phê bình như chiếc cầu nối hai bờ nghệ thuật và khoa học thông qua giáo dục trí tưởng tượng.  Ông đề cập một khung quan niệm toàn vẹn, không bó hẹp trong phạm vi nhà văn hay nghệ thuật đơn lẻ mà mở đến nhân chủng, lịch sử… nhằm hé lộ khuynh hướng chung từ cổ đại đến các hình thức cổ điển chuẩn mực. Nhờ đó, người ta có thể thấy một trật tự tự nhiên đằng sau các khoa học, văn học không chỉ là một “đống chữ” mà là một hệ thống trật tự của từ, ngữ. Ngôn ngữ, từ đó, cũng mang tầm vóc rộng hơn. Đó là cấu trúc mà người đọc và văn học dựa vào tưởng tượng, căn cứ văn cảnh mà hoàn thành, là những cổ mẫu bao gồm ẩn dụ và huyền thoại quy ước. Nhà phê bình phải tìm ra cái khung toàn thể trong lòng văn chương, không khen chê mà phải làm rõ khung của nó nói gì và trật tự ngôn ngữ của nó như thế nào. Phê bình văn học nhưng quan tâm đến giáo dục sinh viên, công chúng và người đọc, phương pháp của Frye vừa hướng tâm vừa ly tâm: thơ ca là hướng tâm, tiểu thuyết là ly tâm, phê bình bao hàm tất cả, đúng với chức năng kép: thẩm mỹ - xã hội của văn học.

Nằm ở trung tâm lý thuyết của Frye dường như là giấc mơ đẹp mà nhà Lãng mạn xây dựng trong tiểu thuyết, trong thơ tình nay được vận dụng thành nguyên lý phê bình văn học: Thuyết Tưởng tượng. Frye đề cao tưởng tượng và cảm nhận cá nhân. Ông quy các phạm trù như nghi lễ, huyền thoại và cổ tích vào dạng thức tiền văn học, có khả năng kích thích trí tưởng tượng. Văn học là phần trung tâm và mở rộng nhất của huyền thoại, nó vận hành trong một thế giới những quy tắc, bởi những trạng thái, biểu tượng, huyền thoại và loại thể đặc thù. Huyền thoại cấp cho văn học cái khung phổ quát vì văn học là dạng thay thế huyền thoại: Câu chuyện là trung tâm, của cả văn học và xã hội; trong khi đó nền tảng xã hội chính là huyền thoại và tự sự.

Chọn Frye và The Educated Imagination để khảo sát, chúng tôi lưu ý tính chất giáo dục xã hội đậm nét trong sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy của ông. Frye ý thức rõ mình viết tác phẩm này dành cho sinh viên và công chúng chứ không phải cho các chuyên gia. Ông khẳng định mình đang nói với tư cách là một nhà phê bình văn học về vấn đề giảng dạy văn học (105), rồi đề xuất vị trí thực sự của văn học trong quá trình giáo dục (124), thậm chí ông còn quan tâm đến việc nên đọc cái gì và quy đó là một vấn đề giáo dục (64). Đóng góp quan trọng nhất của Frye cho giáo dục chắc hẳn là lộ trình dạy và học cái gì, lúc nào từ tiểu học đến đại học. Những đề xuất này chắc hẳn gợi mở nhiều điều trong quá trình đổi mới căn bản giáo dục mà ngành đang tiến hành.

2. Northrop Frye và Educated Imagination

Educated Imagination ra đời sau hai công trình là Fearful Symmetry (1947) và Anatomy of Criticism (1957), khi hệ thống lý thuyết văn học gắn với hoàn cảnh lịch sử và văn cảnh xã hội, những trọng tâm: thể loại, huyền thoại, cổ mẫu… cơ bản đã thành hình. Năm 1962, N.Frye được mời tham gia chương trình CBC Massey Lectures(1) và liên tục trong 06 tuần, ông trình bày những vấn đề như Sức mạnh của ẩn dụ, Dàn đồng ca (mã văn hóa của văn học), Những gã khổng lồ thời đại (nhìn văn học từ các văn hào như Shakespeare, Worthword, Ionesco…), Chìa khóa vào cõi mơ (tính mơ tưởng của văn học), Những cột trụ của Adam (cổ mẫu văn học) và Thiên hướng tu từ (các khuynh hướng ảo tưởng xã hội). Những nội dung này vận động trong một hệ thống kép kín từ cơ sở nội tại, đẩy về quá khứ, đến hiện đại, tập trung tâm điểm và phóng chiếu ra toàn xã hội; cả hai trục đồng đại và lịch đại của lý thuyết, vì thế, được đảm bảo. Do là chương trình phát thanh nên tác giả luôn có phần tóm tắt vào cuối mỗi chương và nhắc lại vào đầu chương mới nội dung phần trước bằng một văn phong trong sáng và gần gũi. Frye ví dụ một vụ đắm tàu lạc trên hoang đảo và phân tích những giai đoạn nhận thức con người ứng với loại ngôn ngữ và thể loại văn học nhất định để truy tìm những nguyên mẫu, những hệ hình huyền thoại có tính chu kỳ trong tự nhiên và xã hội. Bản thân ông cũng đặt các tiêu đề nhỏ như sự tái lặp các mẫu hình sáng tác khác.

2.1. Câu hỏi bản mệnh: văn học là gì?

Là một nhà lý thuyết, Frye không quên xác định bản chất văn học: …Văn học không phải một thế giới mơ tưởng, bởi nó có đến hai giấc mơ, một là giấc mơ mong mọi điều tốt viên thành, hai là thế giới mơ của nỗi lo âu khắc khoải, văn học tập trung vào cả hai mặt này, như hai tròng kính và trở nên một cảnh tượng ý thức đầy đủ (99). Theo đó, những mẫu gốc được khảo sát kéo dài từ thời nghệ thuật tự do đến văn chương nhân văn Phục Hưng nhằm xây dựng một thế giới khác lạ bởi đơn giản văn chương thuộc vào thế giới nhân tạo, không phải thế giới người ta trông thấy. Đây chính là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan mà lý luận văn nghệ Marxist nói đến nhưng khác biệt là Frye nhấn mạnh khả năng tưởng tượng làm nên sức mạnh văn học.

Trí tưởng tượng không phải trò trẻ con mà là nguồn sức mạnh cấu trúc ngôn ngữ, văn học và cả xã hội. Giới hạn của tưởng tượng là do thế giới con người tức hệ thống quan niệm. Văn học cũng chỉ có thể phát sinh từ bản thân nó những hình thức từng tồn tai, giới hạn của tưởng tượng nếu có là chính văn học. Sự mở rộng được thực hiện bằng hệ thống trích dẫn, đọc và lý giải các tác phẩm văn học. Vai trò của tưởng tượng trong đời sống hằng ngày là sản sinh ra xã hội ta sống, tạo nên một hình tượng xã hội mà ta muốn bằng sự hòa hợp giữa cảm xúc và trí tuệ. Chính hai thành tố này giúp người ta có ý tưởng (trên cơ sở liên kết những mẫu gốc có sẵn), hiểu và sáng tạo để không rơi vào đám đông hỗn tạp hay ảo ảnh xã hội – kiểu những quảng cáo mà ta (bị) tiếp nhận hằng ngày, nhờ đó có một diễn ngôn độc lập chống lại mọi ước định ràng buộc. Tưởng tượng không phải trên mây mà là "cung cấp một thế giới tốt đẹp hơn hoặc xấu xa hơn cái mà ta thường sống, và yêu cầu ta tiếp tục quan sát kiên nhẫn cả hai” (104), có nghĩa là phải nhìn trong tổng thể. Tính tổng thể của văn học được quy định do đặc trưng tiếp nối, tái sinh liên tục các mẫu gốc. Frye cho rằng nếu ta không biết Kinh Thánh và các câu chuyện thần thoại Hy Lạp La Mã thì ta cứ đọc nhưng khả năng tưởng tượng sẽ không tiến triển. Huyền thoại là nguyên ủy của văn chương khi nó kể lại câu chuyện thần linh, anh hùng phiêu lưu, thắng lợi, thất bại chết rồi tái sinh như khi người ta nghĩ về chu kỳ mặt trăng, mặt trời.

Như vậy, tưởng tượng không chỉ tốt cho văn học mà còn cho cả khoa học. Không tưởng tượng được thì không thể làm khoa học nhưng tưởng tượng khoa học phải đến đích thực nghiệm nếu không thì bị loại bỏ, tưởng tượng của văn học lại khác. Ta không quy chiếu tưởng tượng văn học với đời sống mà là giữa chúng với nhau. Thật ra Frye quy giản văn học vào mối quan hệ bản thân chúng và bỏ quên mất nhiều chức năng khác của văn học như nhận thức, giáo dục… là có phần cực đoan nhưng lại phục vụ hữu hiệu cho ý đồ nhấn mạnh mẫu thức chung mà ông hướng văn học đến. Không chỉ thế, xác định giá trị văn học có quy vào văn hóa hay thực dụng đều phải xuất phát từ tổng thể mà chúng ta đọc, lâu đài ngôn ngữ xây dựng theo kiểu Frye là đọc kiểu chuyên gia, trong khi chức năng trải nghiệm, thỏa mãn cảm xúc cũng quan trọng không kém đối với công chúng, mà công chúng thì khó có thể đọc tác phẩm trong tổng thể như nhà phê bình. 

2.2. Ngôn ngữ cấu trúc xã hội như thế nào?

Frye xác định có ba dạng ngôn ngữ. Ngôn ngữ khoa học cung cấp thông tin, kiến thức nên tác động trực tiếp đến đời sống với tiêu chí là đúng (Chân). Loại ngôn ngữ này nặng tính miêu tả và cá nhân, nó mang những đặc điểm khu biệt, cho phép hình thành cái riêng đến tận cùng, nó tạo tính phong phú bởi đây là “ngôn ngữ của danh từ và tính từ” (11). Thứ hai là dạng ngôn ngữ hành động, hướng đến cái thiện, lành tốt, thúc người ta hành động theo định hướng xã hội. Đây là dạng ngôn ngữ tỉ lệ thuận, là các quy chuẩn, khế ước xã hội. Nó là nơi khoa học kết thúc và khởi đầu của nghệ thuật. Dạng ngôn ngữ mang ý nghĩa thực dụng của động từ, ví dụ như ngôn ngữ quảng cáo. Dùng một mã ngôn ngữ cùng loại với thần thoại, tức hiểu theo một nghĩa khác, quảng cáo là hành động nhấn mạnh, khuếch đại giá trị và thúc giục người nghe thực hiện hành động mua nằm ở trung tâm. Đây là dạng ngôn ngữ kết nối xã hội, tạo ra các mối quan hệ liên nhân. Dạng thứ ba là ngôn ngữ văn chương. Chúng tác động đời sống một cách rất riêng theo sở thích và nhu cầu con người, hướng đến cái đẹp. Buổi sơ khai nhân loại, khả năng tưởng tượng phát huy, nếu khả dĩ nó trở thành hành động, đi vào đời sống theo kiểu ước mơ thành hiện thực: máy bay, điện thoại; nếu không nó sẽ để lại dấu vết trong văn chương. Ngôn ngữ đậm tính tưởng tượng. Hiểu được điều này giúp chủ thể nói đúng lúc, đúng chỗ, hiểu đúng ý nghĩa kép đạo đức - thẩm mỹ.  Ngôn ngữ được tri nhận như thế sẽ mang tính mềm dẻo, dung hòa và phân hóa những cực điểm. Chính xác nó là dạng ngôn ngữ điều chỉnh các cực đoan: quá tin lời quảng cáo, khăng khăng phiến diện…

Ba dạng ngôn ngữ trên xuất phát từ ba cấp độ nhận thức của con người. Thứ nhất là tự thể hiện, tương ứng dạng ngôn ngữ ý thức – phân biệt bản thân và sự vật hiện tượng xung quanh. Đây là cơ sở cho dạng ý thức tự mình, tự do; tồn tại trong ngôn ngữ đối thoại thông thường của tư duy con người. Đôi khi nó là ngôn ngữ của cái tôi cá nhân thầm kín và sâu sắc, bản năng nhất, là huyền thoại cá nhân. Thứ hai, ngôn ngữ hành động song hành cùng cấp độ gia nhập xã hội của nhận thức. Trong thế giới thực tế, hành động có giá trị hơn ngôn ngữ, đây là hành động biến đổi tự nhiên theo sở thích của con người vì sẽ luôn có một khoảng cách giữa những gì xã hội đề xuất và những gì cá nhân ước mơ. Xã hội tạo những huyền thoại để cá nhân chấp nhận dù không tin nhằm giữ tính ổn định cho chính nó. Cá nhân phải có trí tưởng tượng tạo ra một thế giới thực độc lập xã hội, thế giới của nghệ thuật, văn chương để hiểu và chấp nhận nó. Cấp độ thứ ba, hiển nhiên là tưởng tượng. Đây là dạng ngôn ngữ/ý thức định hướng giá trị xã hội để tư duy tự thể hiện có thể gia nhập xã hội tốt. Bắt nguồn từ hình mẫu tự nhiên, con người bắt đầu ý thức và muốn làm hài hòa cuộc sống bằng cách tái lập các chu kỳ tự nhiên, sinh học thành thẩm mỹ. Mối quan hệ của dạng ngôn ngữ này với đời sống là phức tạp bởi đặt trên cơ sở sự kết hợp giữa ngôn ngữ thể hiện và ngôn ngữ hành động, giữa ý thức và kỹ năng thực hành.

Có thể thấy cấu trúc này như mô hình tâm lý Freud đề xuất: cái Tôi trung hòa, nối liền, chuyển hóa Tự ngã và siêu tôi của con người và xã hội, tự tập trung vào bản thân nó theo những quy tắc nhất định để thực hiện chức năng điều chỉnh thẩm mỹ của văn học. Hiểu như vậy thì ngôn ngữ mà Frye đề xuất rất gần với hệ thống diễn ngôn khi nó giữ lại cấp độ hệ thống tín hiệu và ứng dụng vào hoàn cảnh, văn bản cụ thể. Nhìn cụ thể mối quan hệ văn học và ngôn ngữ, có thể thấy điểm tương đồng ở hành trình tìm lại bản ngã nhất thể giữa con người và tự nhiên khi tái lặp những mẫu hình quen thuộc, từ đây cái khung chung cho chủ đề văn chương và ngôn ngữ hé lộ: tái lặp những phương tiện có sẵn thành những mô hình tương tự theo kiểu thế giới được cấu trúc như một ngôn ngữ. Trong đó, tưởng tượng là thành tố quan trọng của hành động nói. Tưởng tượng cấu trúc hội thoại, lời nói chia thành “thứ ta có thể nói và thứ ta không thể nói”, trí tưởng tượng phân biệt điều này để ta nói đúng lúc đúng chỗ.

3. Mối quan hệ ngôn ngữ và văn học - Ứng dụng vào giáo dục

Cả đời hoạt động giáo dục, N.Frye ý thức rõ vai trò của giáo dục đến sự phát triển của cá nhân và xã hội: Giáo dục là thứ ảnh hưởng toàn thể cá nhân, không phải từng phần hay cục bộ. Giáo dục không chỉ đơn thuần định hình suy nghĩ mà thúc đẩy sự phát triển của xã hội và đạo đức (151).

Frye cho rằng dạy văn học nên đi từ trung tâm hướng ra bên ngoài tức bắt đầu với nghệ thuật sử dụng từ ngữ hay chiến lược giao tiếp hiệu quả của thơ, đến các văn bản tự sự sau đó đến ngôn ngữ ứng dụng vào thương mại hay đời thường. Bởi thơ là phương tiện đơn giản và chính xác nhất thể hiện bằng ngôn ngữ, các cộng đồng sơ khai nhất đã có thơ trong khi có nhiều cộng đồng vẫn không có văn xuôi; văn xuôi ít tự nhiên hơn thơ. Nhưng đây là bậc đại học. Còn tiểu học thì trước hết nên dạy hài kịch và truyện lãng mạn bởi chúng mang tính giải trí. Từ cấp hai trở lên thì nên dạy bi kịch và thể loại châm biếm để bước đầu học sinh phân tích, vận dụng ngôn ngữ. Với bậc đại học thì thơ là quan trọng trước nhất. Dạy thơ cho sinh viên trước hết là làm cho họ cảm nhận chuyển động vật lý bởi lẽ thơ không in thành dòng như văn xuôi mà có cấu trúc đặc biệt, gần với khiêu vũ và âm nhạc. Tính nhịp nhàng này về sau còn truyền cả sang văn xuôi dù bị thoái hóa dần. Nhà giáo dục cần quan tâm cách chọn từ và hình ảnh thơ. Các biện pháp tu từ, dùng hình ảnh tối thiểu để nói lượng nghĩa tối đa, hiểu như vậy thì thơ chính là một kiểu thần thoại và vì vậy cần đọc cho ra câu chuyện của nó. Tóm lại, văn học là những kiểu mẫu mà sinh viên đã biết qua. Ở đây không nên đánh giá hơn kém giữa các tác phẩm, dạng thức kể chuyện bởi mỗi thứ đều có câu chuyện và cần được đọc theo cách nó là một câu chuyện. Đây chính là nghệ thuật lắng nghe câu chuyện, là khâu cơ bản trong rèn luyện trí tưởng tượng ở bậc đại học. Khâu cuối cùng của quá trình này là dạy cho sinh viên viết thứ mình nghĩ, dù ít hay nhiều, điều đó giúp anh ta đọc tốt và dần hoàn thiện khả năng ngôn ngữ - văn chương.

Quan trọng nhất ở giáo dục đại học là trí tưởng tượng: Rõ ràng kết quả quá trình giảng dạy văn học không đơn giản là sự ngưỡng mộ văn chương, nó phải là thứ gì giống với việc chuyển giao năng lượng tưởng tượng từ văn học đến sinh viên (127).  Nhờ đó, sinh viên mới có thể hiểu và thưởng thức nghệ thuật, sống và thích ứng đúng đắn với xã hội. Con đường đi từ hiểu đến sống này nhắc nhở nhà giáo dục về mục tiêu học tập của UNESCO: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Để giáo dục trí tưởng tượng, Frye đề xuất phương pháp đọc tác phẩm văn học, sử dụng văn học để am hiểu và cấu trúc cá nhân, thích nghi xã hội. Đây chính là khả năng Đánh giá (thẩm định, phê bình, so sánh) mà Bloom trong Taxonomy of educational objectives: The classification of educational goals đã xây dựng từ 1956 bao gồm Biết – Hiểu – Vận dụng – Phân tích – Tổng hợp – Đánh giá. Giáo dục trí tưởng tượng, như Frye nhấn mạnh, bao hàm mối quan hệ hài hòa giữ cảm xúc và trí tuệ. Trong đó có niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, đau khổ; có những bài học nhận thức, trí tuệ, triết học; kỳ diệu là văn học có thể cung cấp tất cả những điều đó. Hai yếu tố cảm xúc và trí tuệ kết hợp với nhau theo mỗi kiểu đều có tác dụng. Hướng đồng đại: một con người hoàn thiện phát triển đầy đủ mọi mặt; hướng lịch đại: cảm xúc cho ta biết thích gì, không thích gì và trí tuệ cho ta khả năng để thay đổi điều không thích; cá nhân, như vậy, chính là động lực cho xã hội phát triển. Ngược lại, xã hội muốn phát triển phải đầu tư giáo dục trí tưởng tượng, những hoạch định vĩ mô lâu dài đều có thể tìm thấy bước đầu tiên trong việc tiếp xúc và thưởng thức văn chương, nghệ thuật. Kết quả là khả năng tưởng tượng hình thành nơi người học sự kết hợp trọn vẹn giữa ý thức (logic, tri thức) với kỹ năng thực hành.

Nhận thức mối quan hệ ngôn ngữ và văn học trên diện tâm lý, nhà giáo dục cũng lưu ý đến quá trình chuyển hóa giữa ý thức và vô thức để tìm ra cấu trúc ngầm, mô hình trung tâm nằm đằng sau những dạng thức ngôn ngữ và cổ mẫu văn học. Sự chuyển hóa này đi từ vô thức ngôn ngữ đến ý thức văn học khi ta phát hiện ra các mẫu gốc Kinh Thánh bởi thần thoại tiếp cận và chuyển hóa. Thần thoại thành cấu trúc chính của truyện kể, cấu trúc thần thoại là hành trình đi tìm lại của con người mất bản ngã mà tiêu biểu nhất là Kinh Thánh – dạng thức văn học cơ bản nhất. Thật ra xác định như vậy chỉ tương hợp phương Tây, trong khi ở phương Đông thì các câu chuyện cổ dân gian chiếm vai trò này, nếu cần một cấu trúc thì người Ấn có Kinh Phật, người Ả Rập có Qu’ran… và bản thân Kinh Thánh cũng là sự tập hợp của nhiều nguồn khác nhau. Vấn đề là Kinh Thánh không chỉ ảnh hưởng rộng, thành nếp nghĩ, có ý nghĩa giáo dục và tôn giáo mà còn có một cấu trúc tổng thể hoàn chỉnh từ khởi nguyên đến khải huyền chuyển tải toàn bộ lịch sử con người dưới những cái tên biểu tượng Adam, Israel… Ngược lại, việc giảng dạy Kinh Thánh phải do những người thông thạo cấu trúc văn học đảm nhiệm chứ không chỉ minh họa ý tưởng như hiện nay (trong Nhà thờ).

Tóm lại, những quan niệm khá mới mẻ về văn học và ngôn ngữ của Frye, tuy còn phải tranh luận nhiều, đã định hình một khung lý thuyết hữu hiệu trong hệ thống hóa thể loại văn học. Trên cơ sở đó, quá trình giá dục có thể được hoạch định từ tiểu học đến đại học với chương trình, tác phẩm giảng dạy và định hướng giáo dục trí tưởng tượng nhằm phát triển cá nhân hoàn bị.

Chú thích

(1) Chương trinh phát thanh hằng năm của Canada, được phát sóng từ năm 1961 để vinh danh Toàn quyền Canada Vincent Massey, bao gồm những bài nói chuyện chính trị, văn hóa triết học do các học giả danh tiếng trình bày. Bài thuyết trình đầu tiên là Nước giàu và Nước nghèo của Barbara Ward.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Frye, N. (1964), The educated imagination, Bloomington, IN: Indiana University Press, 156 pages.

-------------

ThS. Nguyễn Thành Trung, Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận Văn học, Niên giám 2016.

TTO - Trước sự phát triển của các chuyên ngành khoa học kỹ thuật, vốn từ tiếng Việt trong lĩnh vực này cũng đang ngày càng được cập nhật.

Việt hoá từ chuyên ngành cũng là làm quốc văn hay đẹp hơn lên... - Ảnh 1.

Sau 100 năm, kể từ tập sách giáo khoa Thiệt hành điển học (1917), đến nay đã có hàng chục vạn từ nước ngoài thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật được Việt hóa - Ảnh: L.M.Q. - Nhã Linh

Khi đánh chiếm Nam Kỳ, từ thời điểm nào người Pháp đã mở trường bá nghệ nhằm dạy nghề cho người bản xứ. 

"Ngày 11-4-1904, toàn quyền Đông Dương ra nghị định mở trường học nghề ở Sài Gòn. Trường gồm ba ngành: nguội, mộc, đúc loại nhỏ. Thời gian học: 3 năm.

Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1918 của Viện Sử học - NXB Giáo Dục, 1999, tr.284

 

Từ Danh từ khoa học...

Không rõ thuở ấy các học trò được học giáo trình nào do người Pháp biên soạn. 

Nhưng có một điều chắc chắn đã có không ít nhà giáo tâm huyết với chương trình học đã biên soạn sách giáo khoa nhằm phục vụ một môn học còn quá xa lạ, mới mẻ đối với người Việt nói chung.

Trong tài liệu sưu tập, người viết còn giữ được quyển sách giáo khoa Thiệt hành điển học do Alexis Lân, Ingénieur Électricien A. & M - I.E.G biên soạn, Imprimerie F.H Schneider xuất bản năm 1917 tại Sài Gòn: 

"Sách dạy những điều cần kíp cho những thợ Annam làm các máy điển khí và những học trò các trường bá nghệ". 

Sách in hai thứ tiếng Pháp - Việt, dạy tương đối đầy đủ môn học về điện mà học trò cần phải biết.

Chẳng hạn, đây là bài toán số 8: "Hai cái đèn thắp bằng than sức nó là 10 ampères mà câu en série theo một mạch hơi là 120 volts. Mình biết cái différence de potentiel của mỗi cái đèn không có quá trên 45 volts phải độ một cái résistance mà câu en série với hai cái đèn đó đặng cầm bớt volts cho vừa theo sức nó". 

Qua ví dụ trên, ta có thể thấy được vốn từ của tiếng Việt bấy giờ vẫn còn hạn chế đối với một số từ khoa học kỹ thuật.

Mãi đến năm 1942, nhà bác học Hoàng Xuân Hãn mới soạn xong quyển Danh từ khoa học (toán, lý, hóa, cơ, thiên văn) nhằm Việt hóa các từ cần thiết để người đọc/học dễ dàng tiếp thu. 

Ông tâm tình: "Tập Danh từ khoa học này mục đích là để người giảng với người nghe có một ngôn ngữ tương đồng khi bàn về khoa học". 

Có thể ghi nhận đây là một trong những đóng góp quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam và cả sự phát triển, bổ sung vốn từ cho tiếng Việt.

Nối tiếp vai trò tiên phong của Hoàng Xuân Hãn, đến nay đã có nhiều từ điển thuộc lĩnh vực khoa học, ngành nghề được thực hiện.

 

Vài thuật ngữ sáng tạo

- "Précipiter về hóa học là nói lúc ta rót một chất nước trong vào một chất nước trong khác, tự nhiên ta thấy một chất đặc hiện ra tua tủa và dần dần lắng xuống...

Tuy là một hiện tượng rất quen, ta không có danh từ để gọi. Tôi lấy 2 ý: kết thành và tủa ra mà gọi là "kết tủa" (Hoàng Xuân Hãn - Danh từ khoa học, NXB Trường Thi tái bản năm 1959, tr.XXXI).

- "Tunneling (Anh): Chui đường hầm - một thuật ngữ thường đi kèm với cổng dữ liệu VPN (tr.70).

Stellglied (Đức), Final control element (Anh): Cơ cấu tác chỉnh / cơ cấu tác động (tr.394)".

(Khảo sát từ chuyên ngành cơ điện tử - NXB Trẻ, 2017).

...đến bộ sách chuyên ngành Nhất nghệ tinh

Mới đây nhất, trong chương trình hợp tác Việt - Đức Đổi mới đào tạo nghề Việt Nam, Nhà xuất bản hàng đầu của Đức Europa Lehrmittel đã cung cấp tài liệu về một số ngành nghề, theo đánh giá của TS Đặng Xuân Phúc - vụ trưởng Vụ Dạy nghề chính quy, Tổng cục Dạy nghề, Bộ LĐ-TB&XH, nhằm "cung cấp kiến thức kỹ năng để có thể đạt đến tiêu chuẩn quốc tế".

Một trong những rào cản khiến người dịch không thể trình bày đầy đủ, chuẩn xác các chi tiết đơn giản chỉ vì trong tiếng Việt chưa có từ tương đương. 

Mỗi người chọn lấy từ theo cách nghĩ của riêng mình, thiếu nhất quán - nhất là sách dạy nghề.

Nhằm khắc phục điều này, từ tháng 2-2010, Quỹ Thời báo kinh tế Sài Gòn, Ủy ban tương trợ người Việt tại CHLB Đức và NXB Trẻ đã lập dự án sách dạy nghề Nhất nghệ tinh. 

Họ đã "huy động" đội ngũ dịch giả gần 100 kỹ sư, trí thức gốc Việt ở Đức và một số nước khác. Ông Nguyễn Minh Nhựt - giám đốc Nhà xuất bản Trẻ - cho biết một chi tiết thú vị: 

"Làm sách khoa học thì tranh luận khoa học là chuyện xảy ra hằng ngày. Và để tăng thêm sự đồng thuận trong nhóm dịch, các anh chị dịch giả và một số nhà khoa học khác đã soạn ra trước mắt một từ điển trực tuyến Việt - Đức - Anh khoảng 20.000 từ và đang dần bổ sung".

Như vậy, trong vòng bảy năm với 4 cuốn sách Cơ khí (2013), Điện - điện tử (2014), Ôtô và xe máy hiện đại (2016), Cơ điện tử (2017) được dịch, đã có ngần ấy vốn từ chuyên môn tiếng Anh, Đức được chuyển ngữ sang tiếng Việt. 

Rồi sắp đến đây, với những bộ sách đang dịch như Cẩm nang hóa công nghiệp, Nhựa và sinh học thì cuốn từ điển trên càng đa dạng hơn nữa. Âu cũng là một tín hiệu, một đóng góp mới đáng mừng về sự phong phú của tiếng Việt.

Về phía người đọc, được hưởng các thành quả này, thật tâm đắc với lời dặn dò của một nhân vật trong truyện dài Một đứa con đã khôn ngoan của nhà văn Nguyễn Công Hoan: 

"Mình không có tài làm cho quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút khuyến khích những người có công quý hóa ấy vậy".

Tác động của văn hóa còn là sự quyết liệt góp phần thay đổi về một nhận thức: Lâu nay, ai cũng biết "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" nhưng tại sao giới trẻ hiện nay thờ ơ, không hăm hở học nghề?

Do nhiều lý do, trong đó không ngoại trừ vì họ phải tiếp cận giáo trình quá cũ kỹ, lạc hậu, không theo kịp sự phát triển khủng khiếp của các chuyên ngành khoa học kỹ thuật.

Chưa kể một khi tham khảo tài liệu nước ngoài, họ phải "đối đầu" với không ít thuật ngữ, vốn từ chưa được Việt hóa.

LÊ MINH QUỐC
Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 3.10.2017

 

 20170714 Manuel de Franco Tonkinois  20170714 Elements de Grammaire Annamite

“Manuel de conversation Franco – Tonkinois.

Sách dẫn đàng nói truyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam” (Cuốn 1).

“ Éléments de Grammaire Annamite” - Những yếu tố văn phạm tiếng Annam.(Cuốn 2).

 

1. Mở đầu

Để học được một thứ tiếng, người học cần hội đủ nhiều yếu tố, giáo viên, tài liệu học tập, môi trường học, các điều kiện về thời gian, mục đích học,… Trong các yếu tố đó, tài liệu học tập, tức là sách để học thường được coi là điểm khởi đầu cho quá trình học. Rất nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy tiếng, nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhấn mạnh yếu tố này như: Palmer. H. (1964) [8]; Hornby, A.S. (1973) [3]; Fries, C.C. (1954) [1]; Lado, R. (1964)[6]…Tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ có số người học đang ngày càng tăng lên do nhu cầu giao lưu, nghiên cứu quốc tế ngày càng được mở rộng. Các sách tiếng Việt cho người nước ngoài đã ngày càng được thay đổi về số lượng cũng như về chất lượng cùng với sự phát triển của các phương pháp dạy tiếng cũng như sự cải tiến của phương pháp biên soạn sách. Chúng tôi có ý định thực hiện một công trình khảo cứu về diễn trình của các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài từ xưa đến nay, ít nhất là từ giữa thế kỉ XX trở lại đây. Thật may mắn là chúng tôi hiện đang có được 2 cuốn sách có thể gọi là cổ, xuất bản vào cuối thế kỉ XIX, được dùng để dạy tiếng Việt cho người dùng tiếng Pháp. Chúng tôi hi vọng rằng, qua việc khảo sát sơ bộ 2 cuốn sách này, chúng ta sẽ có được một vài hình dung về quan niệm giảng dạy, phần nào về cách lí giải tiếng Việt của giai đoạn cuối thế kỉ XIX, có thể thấy được một số yếu tố từ vựng, ngữ pháp hiện không còn được sử dụng nữa, cũng có thể thấy được đôi nét của đời sống xã hội thời đó qua nội dung những câu ví dụ, qua những đoạn thoại chi tiết và khá sinh động. Hai cuốn sách được khảo sát, đó là: Cuốn (1) “Manuel de conversation Franco – Tonkinois” (Sách dẫn đàng nói truyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam)vàcuốn hai (2): “ Éléments de Grammaire Annamite” (Những yếu tố văn phạm tiếng Annam). 

2. Khảo sát

2.1. Cuốn một (1): Manuel de conversation Franco – Tonkinois    

Tác giả  của cuốn sách này là 2 nhà truyền giáo của tòa thánh:  Bon (Cố Bần) và Dronet (Cố Ân). Đây là cuốn sách giáo khoa dạy Hội thoại tiếng Việt cho người nước ngoài, (cụ thể đây là người nói tiếng Pháp) cổ nhất mà chúng tôi có được. Sách được xuất bản ở Bắc kì vào năm 1889, cách nay 124 năm, khổ 12x18, 466 trang, cỡ chữ khoảng 11.  Sách gồm phần mở đầu và 3 phần nội dung:

(i) PHẦN MỞ ĐẦU gồm 15 trang với Lời nói đầu (Avant-propos), bảng chữ cái (Alphabet), phần ngữ âm (Prononciation). Trong phần ngữ âm, sách giới thiệu về phụ âm (consonnes), nguyên âm (voyelles), thanh điệu và ngữ điệu (tons et accents) và một bảng chữ viết tắt (abbreviations).

(ii) PHẦN THỨ NHẤT (PREMIÈRE PARTIE) là phần tự vị - (vocabulaire) theo chủ đề. Các từ được giới thiệu qua cột thứ nhất là tiếng Pháp ứng với cột thứ hai là tiếng Việt với 38 chủ đề chính, một số chủ đề chính lại bao gồm nhiều chủ đề nhỏ, ví dụ chủ đề “về những đồ thường dùng trong nhà” gồm 4 chủ đề cụ thể là: 1. Các đồ trong phòng ở. 2. Đồ dùng khi ăn cơm. 3. Đồ dùng trong nhà bếp. 4. Những đồ về hầm rượu. 38 chủ đề chính đó bao gồm tổng cộng 74 chủ đề nhỏ.

Phần tự vị song ngữ Phalangsa – Annam này gồm 261 trang, khoảng 6500 đơn vị từ vựng. Điều thú vị là có nhiều từ hiện nay không hoặc không thường được sử dụng nữa, ví dụ tên các quốc gia: nước Phalansa, nước Phú lãng sa, đại Pháp quốc; Đan Mạch thì gọi là Liên quốc, Lệ ni quốc, nước Dania, Ấn độ thì gọi là nước Thiên Trúc… Từ trang 261 đến trang 272 là 2 mục ngữ pháp, giải thích và liệt kê về (1) Numeraux –lượng từ = những từ mà hiện nay được gọi là danh từ đơn vị hoặc giới dạy tiếng gọi là loại từ và (2) Du pronom personnelĐại từ nhân xưng.

Phần Numeraux, sau khi đã dành 9 dòng để giải thích, (Tiếng Annam không có các mạo từ - articles nhưng có một số lượng lớn các từ mà thường được gọi là Numeraux) các tác giả đã giới thiệu 164 Numeraux tiếng Việt (theo quan niệm của tác giả) xếp theo ABC và kèm theo lời dịch một hoặc một số ý nghĩa tương đương trong tiếng Pháp. Ví dụ:Con, numeral des êtres animés, des instruments tranchants, des cours d’eau, des cachets,.etc.(chỉ những vật hoạt động, những dụng cụ sắc, dòng nước, con dấu…).

Phần Pronom Personnel, các tác giả dành hơn 3 trang (269-272) để giải thích và giới thiệu về các đại từ nhân xưng tiếng Annam. Ngoài những đại từ thường gặp, chúng ta có thể thấy một đại từ ngôi thứ nhất là MIN, hiện nay không còn được sử dụng. Ngay cả thời đó, tác giả cũng chú giải là ít được dùng hơn “Tôi s’emploie entre égaux, et surtout d’inferieur à supérieur. Min, d’ailleurs assez peu usité, a presque le même sens, mais indique un léger degré de supériorité dans selui quy l’emploi.” (Trang269). Chúng ta có thể thấy từ MIN được sử dụng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du [7] một lần ở câu 964 “Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi” (với nghĩa tôi). Trong cuốn “Tự vị An nam La tinh – Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1773” của Pierre Pigneaux de Béhaine Bá Đa Lộc Bỉ Nhu [11], được Hồng Nhuệ và Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu , ở trang 293, từ MIN cũng xuất hiện và có nghĩa là tôi, ta, với một sự cao sang nào đó.

Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình cũng được giới thiệu khi dùng để xưng hô như cha mẹ, cụ, cố…Thời đó chắc chắn còn chế độ quân chủ nên cuốn sách này cũng giảng giải cách nhà vua xưng hô là Trẫm (trang 270). Cuốn sách cũng phân chia ra những đại từ kính trọng và những đại từ không kính trọng, như : ông lí-monsieur le maire, bà lí-madame l’espuose du maire, ông lớn-monsieur le grand mandarin, anh ấy, chị ấy, kẻ ấy, người ấy hoặc thằng ấy, đứa ấy, quân ấy, tên ấy, con ấy, con mẹ ấy…tao mày, chúng tao, chúng mày…(Trang 271). Cuốn sách giải thích cách dùng những lượng từ chỉ số nhiều trước các đại từ số ít nhưng: chúng, các, những,…Ví dụ: CHÚNG NÓ, CÁC ĐỨA ẤY, PHÔ ÔNG ẤY, PHÔ BÀ ẤY, CÁC KẺ ẤY, NHỮNG KẺ ẤY, BẤY NHIÊU KẺ ẤY, …(trang 272). Điều thú vị ở đây là chúng ta có thể bắt gặp từ phô với nghĩa gần như những, các mà hơn 1 thế kỉ nay không còn xuất hiện. Về từ phô này, xin xem thêm bài Một vài nhận xét về cách dùng các từ “một, phô, thay thảy, cả và v.v…” trong văn xuôi cuối thế kỉ XIII đầu thế kỉ XIX (cứ liệu rút từ “Sách sổ sang chép các việc”)  mà chúng tôi thực hiện vào năm 1981 [11] .

(iii) PHẦN THỨ HAI (DEUXIÈME PARTIE) từ trang 273 đến trang 291 được gọi là MẤY CÂU DỄ, PHRASES ÉLÉMENTAIRES. Phần này bao gồm những câu thông dụng về những chủ đề thông dụng như: về khí giời (trời), về tuổi (annam), về tuổi (tây), những câu xin, những câu dâng, những câu chối, những câu ưng, những câu giã ơn, những câu nhận lời giã ơn, những câu chỉ sự lấy làm lạ, những câu tỏ ra lòng buồn hay là đau đớn, những câu tỏ ra lòng mừng, những câu tỏ ra không được bằng lòng; câu quở trách… Khi giảng giải về cách hỏi tuổi, sách viết: Bên Annam, dù không được tròn năm, thì cũng kể là một tuổi; cho nên những câu in vào đoạn này, thì đặt kiểu Annam cả. Về đoạn này và các đoạn sau những tiếng ngoặc đi ngoặc lại (ngoặc đơn) thì phải đổi tùy tiện:

Quel âge avez-vous? Quel est votre âge?    (Con) mấy tuổi?/J’ai douze ans                                       (Tôi) lên mười hai tuổi)…(Trang 275)

(iv) PHẦN THỨ BA (TROISIÈME PARTIE) từ trang 293 đến trang 440 được gọi là MẪU NÓI TRUYỆN, CONVERSATION. Phần này gồm 22 chủ đề hội thoại, tuy nhiên với nội dung và cấu trúc văn phạm tương đối tự nhiên, gần giống như lời của vở kịch, vì vậy khá phức tạp. Ví dụ ở đề mục Ra chơi ngoài vườn, chúng ta hãy quan sát đoạn thoại sau: NGHĨA: - Anh Minh, có muốn ra chơi vuối tôi một chốc ngoài vườn chăng?/ MINH: - Tôi bằng lòng đi; nhưng mà xin anh đợi tôi một nhát./ N: - Sao lôi thôi thế vậy?/ M: - Tôi  có ý biên mấy điều khí khó thày giáo ta cắt nghĩa lúc nãy./ N. - Sao anh viết xấu thế?/ M. – Vì tôi viết vội quá…/M. – Đất vườn ưa thứ phân nào hơn?/ N. – Tôi nghĩ rằng: phân ngựa đã ải thì tốt nhất. Phân lợn cũng khá; song le phân trâu xấu vì nó nóng quá. Có muốn bỏ gio và phân bắc cũng được nhưng mà phải bỏ ít vậy. (Trang 340-341)

Nhìn chung, đã hơn một trăm năm nhưng chúng ta hoàn toàn hiểu được nội dung của những cuộc thoại này. Có một số cách dùng khác với hiện nay như cách viết chữ với được thể hiện bằng vuối, cách dùng từ song, song le với nghĩa là nhưng, nhà tràng thay cho nhà trường… Điểm thuận lợi của cuốn sách đối với người học thời đó là toàn bộ nội dung đều được dịch sang tiếng Pháp. Đúng hơn là người viết đã lấy tiếng Pháp làm hệ quy chiếu, sau đó viết tiếng Việt. Việc nhồi từ ngữ và câu thoại liên tục trong 300 trang chữ nhỏ chắc chắn tạo sự lặp lại từ cũng như cấu trúc câu cho người học. Cuốn sách không có bài tập và cũng không có giải thích ngữ pháp, ngoại trừ phần giải thích về NumerauxPronom personnel. Với một khối lượng chủ đề và từ vựng phong phú, với hàng loạt cuộc thoại có nội dung cụ thể, gần như có cốt truyện, cuốn sách có lẽ có giá trị ứng dụng cao trong việc truyền giảng tiếng Annam lúc bấy giờ.

2.2. Cuốn hai (2): Éléments de Grammaire Annamite

Tác giả là Édouard Diguet, một Trung tá Lục quân Thuộc địa Pháp (Lieutenant-colonel D’infanterie coloniale).

Cuốn này gồm 136 trang, cỡ chữ khoảng 12. Rất tiếc là trang in năm xuất bản và nơi xuất bản thì bị mất. Tuy nhiên, quan sát ngôn ngữ được thể hiện trong sách thì chúng tôi phỏng đoán cuốn này ra đời có lẽ cùng thời hoặc sau cuốn “Sách dẫn đàng nói truyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam” một chút. Chúng tôi phỏng đoán như vậy vì một vài nguyên do sau: (i) Trong sách vẫn có cách sử dụng chữ vuối biểu thị nghĩa với hiện nay:    Tôi mời các ông ăn cơm vuối tôi (trang 79) ; (ii) Sự xuất hiện của từ cả và trong nhóm từ mà tác giả gọi là Adjectifs numéraux indéfinis tính từ chỉ số lượng bất định (trang 66): Cả, tout, tous; cả và, tout, tous; hết, tout, tous; hết thảy, tout, tous; hết cả, tout, tous; mọi, chaque, tous; mỗi, chaque (se répète souvent après le nom)… ;(iii) Không thấy xuất hiện từ MIN với nghĩa tôi và không thấy xuất hiện từ PHÔ với nghĩa những, các… ;(iv) Tuy bị mất trang có năm xuất bản nhưng tại trang 65, trong một ví dụ về ngày tháng năm thì đã có xuất hiện năm 1892) như vậy ít nhất tác giả đã xuất bản cuốn sách này sớm nhất là năm 1892).

Cuốn sách này gồm 9 bài.

(1)  Bài thứ nhất, từ trang 1 đến trang 9, giới thiệu về cách phát âm thanh điệu tiếng Việt và được đặt tên là De L’intonation (ngữ điệu). Bài này giới thiệu về cao độ và cách phát âm của 6 thanh điệu với trật tự là : sắc, ngang, huyền, hỏi, ngã, nặng: má, ma, mà, mả, mã, mạ.

(2) Bài thứ hai, từ trang 10 đến trang 38, giới thiệu về ngữ âm (De la Pronomciation). Từ trang 11 đến trang 23, tác giả dạy cách phát âm các nguyên âm và các phụ âm. Về nguyên âm gồm có A (có kết hợp với các ký hiệu để trở thành các nguyên âm khác, mà có lẽ lúc đó tác giả chưa phân biệt được: Ă, Â), E, Ê, O, Ơ, Ô, U, Ư, và các kết hợp mà tác giả cho là nguyên âm đôi như: ao, eo, iê, oi, ôi, ơi, oai. Về phụ âm, tác giả dạy các từ có các phụ âm sau: Ch, Đ, D, Gh, Gi, Kh, H, Ng, Ngh (đối với kết hợp 3 chữ cái Ngh, tác giả viết: A la même pronunciation queng – phát âm giống ng), và Nh, S, Th, Tr, V, X. Như vậy, tác giả chỉ lấy những nguyên âm, phụ âm đó làm đại diện mà không dạy hết. Tuy nhiên, dưới mỗi nguyên âm hoặc phụ âm được dạy đều có 2 phần, 1 phần ví dụ gồm khoảng 5 đến 10 từ có chứa nguyên âm hoặc phụ âm đó, 1 phần bài tập (exercice) gồm 10 đến 15 câu song ngữ Việt Pháp.

(3) Bài thứ ba , từ trang 39 đến trang 53, giới thiệu về Mạo từ và Danh từ (DE L’ARTICLE ET DU SUBSTANTIF). Tác giả giới thiệu rằng, trong tiếng Annam cùng một từ có thể thỉnh thoảng là danh từ, và động từ hoặc như tính từ, trạng từ hay giới từ.  Ví dụ:  Nó lấy một cái cưa mà cưa cái ván. Il prend une scie pour scier la planche./ Tôi tới Sài gòn. J’arrive à Saigon./ Nó đi tới cái nhà.Il va jusqu’à la maison./ Cha bảo đi tới.Le père dit de marcher en avant./ Nó lên trên cái giường.Il monte sur le lit./ Treo cái áo lên.Suspendez la veste (en haut). (Trang 39). Tác giả đã giải thích rất chính xác nghĩa của hai từ “cái” và “con” (trang 41) : Il y a en annamite deux articles quy sont:Cái, pour les choses inanimées; (dành cho những vật không hoạt động). Con, pour les êtres animés (dành cho những sự vật hoạt động).Ví dụ: Cái hoa ấy đỏ. Cette fleur-là est rouge./ Ở trong cái chuồng có hai con trâu. Dans l’étable, il y a deux buffles. (Trang 41). Tác giả cũng chỉ ra sự phân biệt đực, cái mà hiện nay hầu hết sách dạy tiếng Việt của chúng ta lại quên đưa vào và một số trường hợp ngoại lệ về con: Par exeption, quelques noms d’objets inanimés se font précéder de l’article con des êtres animés (Trang 44). Có ngoại lệ là đôi khi có một số danh từ sự vật không hoạt động nhưng có mạo từ con của sự vật hoạt động đặt trước. Ví dụ: Con nước, la marée/ Con mắt, l’oeil/ Con dao, le couteau/Con ốc, la vis/Con cò, le chien du fusil/Con dấu, le cachet. Tiếp đó là các ví dụ khá sinh động: Bây giờ con nước lớn/Thợ mọc vặn một con ốc vào cái xe./ Cái tay nắm con cò súng/Thằng này có ăn trộm con dấu của ông phủ. (Trang 44)

Tiếp đó tác giả đã giới thiệu một số danh từ chủng loại (Des noms génégiques) tiêu biểu, những từ mà hiện chúng ta có thể gọi là danh từ đơn vị. Có tất cả 20 danh từ chủng loại được giới thiệu là: Bánh, bộ (bộ bài), bong, cây, chiếc, củ, cuốn, đám (ruộng, ma), điều, đồng, đứa, hòn, miếng, ống (điếu), phát (bảy phát súng), phiên, quả, sợi (dây), tấm, thằng. Sau danh từ chủng loại là 8 danh từ ghép-Des substantifs composes: Bề (bề ngoài), đồ (đồ ăn), lòng (lòng thật thà), phép (phép toán), sự (sự chết), thầy (thầy sãi, thầy thông-l’interprète), thợ (thợ may, thợ rèn), việc (việc quan, việc làm).

(4) Bài thứ tư (từ trang 54 đến trang 73) giới thiệu về tính từ (DE L’ADJECTIF). Tác giả đã giới thiệu khá cụ thể và dễ hiểu với 19 tiểu mục của các tính chất, đặc điểm, cách dùng và các loại tính từ. Ví dụ:

Mục 1, tính từ được cho là không biến hình và được đặt sau danh từ, với một số ví dụ: Tôi có một cái giường rộng.  J’ai un large lit./Tôi mua một đôi giày đẹp. J’achète une paire de soulier noir. (Trang 54)

Mục 2 là so sánh hơn của tính từ:  Nó giàu hơn là tôi. Il est plus riche que moi./ Thằng nầy dại hơn thằng kia. Cet individu est plus stupide que celui-là. (Trang 55)

 Mục 3 là so sánh bằng của tính từ: Người này cao cũng bằng cha. Cet home est aussi grand que le père. (Trang 55)

 Mục 4 là so sánh không được… bằng:  Cái nhà không đặng gần bằng cái cây. La maison n’est pas aussi proche que l’arbre.. (Trang 56)

Mục 5 là từ chỉ mức độ lắm: Tôi gặp một con gái đẹp lắm.Je rencontre une très jolie fille.

Mục 6 là từ chỉ mức độ cực cấp: Du superlative excessif. Ngoài từ quá, tác giả còn liệt kê 13 từ và kết hợp từ với tính từ để chỉ mức độ cực cấp: dữ, hung, quá chừng, quá lẽ, thấy mẹ, thấy cha… : Thợ bạc là người khéo dữ.L’orfèvre est un home excessivement habile./ Việc nầy khó hung.Ce travail est extrêmement difficile./ Cha đánh nó mạnh thấy mẹ.  Le père le bat très fort.

Mục 7 là những từ như hơn hết, hơn hết thảy : Chỗ này là mát nhứt.  Cet endroi-ci est plus frais.(Trang 58)

Mục 8 là các số từ…. Mục 9 là cách nói tuổi, nói số lượng. Mục 10 là ví dụ về cách dùng số từ. Mục 11 là cách nói số thứ tự. Mục 12 là cách nói phân số. Mục 13 là cách nói bằng hai, bằng ba, bằng rưỡi. Cha cao bằng rưỡi tôi.

Mục 14 nói về tháng, ngày: Ngày hai mươi ba tháng giêng, năm một nghìn tám trăm chín mươi hai . Le 23 du premier moir, 1892/ Ngày thứ tư, tôi muốn đi thăm chú lí trưởng. Mercredi, je veux aller voir le maire. (Trang 65)

Mục 15 là nói về tính từ chỉ số lượng bất định (Adjectifs numéraux indéfinis) với 20 từ: cả, cả và, hết, hết thảy, hết cả, mọi, mỗi, mỗi một, trót hoặc sốt (tout), những, các, mấy, bao nhiêu (tout les), một hai, vài, ít, một ít, nhiều, bấy, bấy nhiêu. Điều đáng chú ý nhất ở mục này là từ cả và, hiện nay không còn sử dụng nhưng trong những cuốn từ điển, tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của. 1895, 1896; J. F. M. GÉNBREL. 1898 mà chúng tôi tra cứu, từ cả và này cũng được giới thiệu và giải thích hoặc dịch với ý nghĩa như cả, tất cả. Như vậy cả và ít nhất đến cuối thế kỉ 19 vẫn chưa mất hẳn.

Mục 16 là bài tập nêu các câu mẫu cho mục 15: Anh làm việc cả và năm. Vous travaillez tout l’année./ Tôi không biết gì sốt. Je ne sais rien du tout. (Trang 67).

Mục 17 giới thiệu về tính từ sở hữu (Des adjectifs possessifs), từ của : Nó đánh con chó của tôi.

Mục 18 giới thiệu các tính từ liên kết và nghi vấn (Des adjectifs conjonctifs et interrogatifs) như nào (quell), gì, chi (quell, quelconque): Mầy về làng nào? De quel village es-tu?/Làng này gọi là làng gì? (Village celui-ci s’appeller village de quoi.) Comment s’appelle ce village? (Trang 69).

Mục 19 giới thiệu tính từ chỉ định (Des adjectifs démonstratifs) như: nầy, kia, nọ, ấy, khác, một, thể ấy. Có thể thấy những từ này hiện nay vẫn được sử dụng, chỉ có từ thể ấy nay được ghi là thế ấy, từ nầy hiện nay thường được ghi là này : Cha thể nào, con thể ấy . Tel père, tel fils./ Đám ruộng nầy khô hơn đám ruộng kia. Cette rizière-ci est plus sècheque celle-là. (Trang 70)

Mục 20 giới thiệu các tính từ phủ định – Les adjectifs négatifs như vô, bất, không, chẳng, mất : Mầy vô phép lắm. Tu est très impoli/ Con tôi mất trí khôn.Mon enfant est inintelligent. (Trang 71)

Mục 21 giới thiệu một số tính từ tiếng Pháp có đuôi ard, âtre, ble, eux được dịch sang tiếng Annam bằng một périphrase : Người hay giận. Homme irritable/ Những người đàn bà hay nói. Les femmes sont bavardes. (Trang 72)

(5) Bài thứ năm từ trang 75 đến trang 83, giới thiệu về đại từ (Du Pronom). Tác giả đã chia ra ba loại đại từ nhân xưng trong một bảng:1 là người trên nói với người dưới ( Supérieur à inférieur); 2 là người ngang hàng nói với nhau (Égal à égal); 3 là người dưới nói với người trên (Inférieur à Supérieur). So với ngày nay, có một số khác biệt như sau: tác giả đưa vào một số từ trong một số cách nói mà ngày nay có thể mang tính bộ phận, cá nhân, ví dụ: đây, đây ta, người ta (ngôi thứ nhất), thím (ngôi thứ hai), thím ấy (ngôi thứ ba); những từ mà nay không còn dùng: quan lớn, ông lớn, bà lớn (ngôi thứ hai và ngôi thứ ba). Tác giả đã dành 4 trang để giải thích về cách dùng của đại từ nhân xưng tiếng Việt theo cách hiểu của tác giả.

(6) Bài thứ sáu từ trang 84 đến trang 104 giới thiệu về động từ - Du verbe. Tác giả cũng đã dựa vào động từ tiếng Pháp rồi đối chiếu, chia ra 10 mục chi tiết trong bài động từ này như Thức (Des modes) với những từ như: hãy, phải, nên; Thời (Des temps passes, Des temps futures) với những từ như đã, đang, sẽ;  Phủ định (De la négation) với những từ như: không, không có, chẳng, chả, đừng, đừng có; Nghi vấn (De l’interrogation) với những hình thức như “có + động từ + không/hay không?”, “đã + động từ + chưa?”, vì làm sao? Làm sao, sao mà, phải không?;  Động từ bị động (Du verbe passif)kết hợp với những từ như được, chịu, bị, mắc, phải; động từ phản thân (Du verbe réfléchi) kết hợp với từ mình; Động từ tương hỗ (Du verbe réciproque) kết hợp với từ nhau;, Động từ vô nhân xưng (Du verbe impersonnel) với những từ như: cháy nhà, nổi gió, nó nhức cái đầu; Động từ phức (Des verbes composes) với những từ như ăn ở, ăn cướp, ăn cắp, chạy thuốc, chạy tiền, chạy ăn, làm tôi, làm thịt, làm mướn, làm bộ, làm biếng, làm giặc...

(7) Bài thứ bảy từ trang 106 đến trang 120 giới thiệu về trạng từ với 14 mục nhỏ. Chẳng hạn như: (1) Trạng từ chỉ nơi chốn (Adverbes de lieu) với những từ như đâu, ở đâu, đây, ở đây, đấy, trên, dưới, trong ngoài ; (2)Trạng từ chỉ thời gian (Adverbes de temps) với 31 từ một âm tiết như chưa, còn, đã, đoặn (đoạn), hoài, sớm, trưa và 61 từ 2 âm tiết như bây giờ, ban ngày, đến tết, mai mốt…(3) Trạng từ phương thức (Adverbes de manière) với 2 từ cách cho. (Ở đây có lẽ tác giả muốn nói tới từ một cách : Người nầy ăn ở cách thật thà. Cet home vit simplement) ; (4) Trạng từ tính chất (Adverbes de quantité) với những từ như bằng như, cũng như, càng, lắm, nhiều, ít… ; (5) Những từ tương đương với từ oui là (người trên trả lời người dưới), (trả lời một câu hỏi), phải (dùng khi tán đồng), dạ ( dùng khi người dưới nói với người trên), vâng (cũng dùng khi nói với người trên). ; (6)Những cách thức kính trọng (Formules de respect).  Ví dụ, khi nói với quan (En parlant à un mandarin): Bẩm quan lớn/ Lạy quan lớn/ Bẩm lạy quan lớn. (Trang 116); các từ: thưa, trình ; (7)Các trạng từ khác dùng để xác nhận-Autres adverbs d’affirmation như: Chẳng sai (sans manquer), Chắc (certainenment), Mà (à la fin de la phrase a un sens affirmative), một hai (malgré tout), thật (vraiment) ; (8)Đáng chú ý là từ cũng được tác giả chú ý và liệt vào loại xác nhận, kiểu như nhấn mạnh sự xác nhận: Tôi nhớ chắc tôi gặp người nầy hôm kia mà. Je me souviens parfaitement avoir rencontré cet home avant-hier.(Trang 118) ; (9)Các trạng từ phủ định (Adverbes de negation): Bất (san), chả (ne pas), chẳng, chẳng có (ne pas), chớ (ne pas), đừng, đừng có (ne pas), không, không có (ne pas), vô (sans) ; (10)Các trạng từ nghi vấn và ngờ vực (Adverbes d’interrogation et de doute): Bao (combien), biết? (savoir?), chi, gì? (quoi? Pourquoi?), họa, họa là? (peut-être, quy sait?), chớ? (est-ce que?), làm sao? (Pourquoi?), vì làm sao? (puorquoi?), mấy? (combien?), nào? (comment? est-ce que?), sao? (puorquoi? Comment?).

(8) Bài thứ tám từ trang 121 đến trang 127 giới thiệu về giới từ. Tác giả chia bài này thành 3 mục nhỏ: Các giới từ nơi chốn (prepositions de lieu); các giới từ khác (autres prepositions); bài tập.

Ở mục giới từ chỉ nơi chốn, tác giả đã giới thiệu 30 từ mà tác giả quan niệm là giới từ. Trong đó có 6 từ hiện nay không được dùng hoặc không thông dụng nữa: 1. Bát (à tribord) nghĩa là bên mạn phải tàu. 2. Cạy (à bâbord) nghĩa là bên mạn trái tàu. 3. Bên tả (à gauche). 4. Bên hữu (à droit). 5. Bởi (de, hors de, par). 6. Đàng (dans la direction de.).

Từ bởi được dùng với nghĩa từ: Anh ấy bởi trong nhà mà ra. Il sort de la maison./ Anh bởi đâu lại? D’où venez-vous?/Mầy làm biếng lắm, mày làm việc bởi sợ. Tu es très paresseux, tu travailles par crainte.(Trang 123). Có thể thấy trong ba ví dụ trên thì từ bởi ở hai ví dụ đầu hiện nay có nghĩa là “từ/ở” và từ bởi trong ví dụ thứ ba thì có thể dùng được nhưng từ hay dùng hơn là do hoặc bởi vì, vì.

Ở mục các giới từ khác, tác giả giới thiệu 15 từ mà tác giả gọi là giới từ ví dụ như: ban (pendant), bằng (en, de, avec), cho (à, puor), của (à, de), cùng (avec), nghịch (contre), về (de, au sujet de),vuối, với (avec)…

Trong 15 giới từ này thì cách viết giới từ “vuối, với” được thể hiện bằng 2 cách, và đây là lần đầu chữ “với” được xuất hiện. Trong quyển “sách dẫn đàng nói truyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam cũng chỉ có hình thức “vuối”. Như vậy có thể thấy ở đây dường như có sự cạnh tranh giữa cách viết “vuối”“với”. Ngoài ra, giới từ “nghịch”  với nghĩa là lại, chống lại, có thể do tác giả dịch nhầm nghĩa ngữ cảnh và không được người bản ngữ chữa giúp. Câu ví dụ chứa từ nghịch này là: Lính ta đang đánh nghịch lũ giặc.  Nos soldats sont à se batter contre une bande pirates. ( Giặc đây nghĩa là cướp biển). (Trang127)

(9) Bài thứ chín từ trang 128 đến trang 137, giới thiệu về liên từ và thán từ (De la conjunction et de l’interjection). Trong bài này, tác giả chia làm 6 mục nhỏ là: 1. Liên từ liên hợp (Conjonction de coordination), 2. Bài tập, 3. Liên từ phụ thuộc (Conjonctions de subordination), 4. Bài tập, 5. Thán từ (De l’interjection), 6. Bài tập.

Ở mục liên từ liên hợp tác giả giới thiệu 20 liên từ, là những từ như: và (et); cùng, cùng là (et, ainsi que); đều (ensemble); lại (et, encore, de pus); thì (alors); mà, nhưng mà (mais), song, song le (mais)…Ví dụ: Hai sự đều trọng cả.Les deux choses sont également importantes./Anh có trí khôn, nhưng mà anh làm biếng. Vous êtes intelligent, mais paresseux. (Trang 129). Trong những liên từ này, chỉ có liên từ song le là bây giờ không còn được dùng.

Ở mục liên từ phụ thuộc, tác giả giới thiệu 33 liên từ như: Bằng không, chẳng vậy (sinnon); dầu, dầu mà (quoique); dầu…mặc lòng (quoique); như (comme, si); nếu, nếu mà (si); càng…bao nhiêu, càng…bấy nhiêu (plus…plus…); khi…rồi hoặc là đoặn (lorsque-passé); đặng, cho đặng (pour, affine de) giả như, thí dụ, ví bằng (supposé que)… Ví dụ: Cha có bảo làm việc, bằng không sẽ hay. Le père a dit de travailler, sinon il avisera./ Dầu anh ấy nghèo mặc lòng, anh ấy cũng mạnh giỏi. Quoiqu’il soit pauvre, il est bien portent./ Anh tránh ra, đặng họ đi. Écartez-vous puor qu’on passé. (Trang 133). Trong những liên từ trên thì những liên từ như bằng không,… mặc lòng, đoạn, đặng hiện không còn được sử dụng nữa.

Ở mục thán từ (De l’interjection), tác giả đưa ra 20 từ mà tác giả gọi là thán từ như: nầy! (eh! Dites donc!); ớ, bớ! (cri d’appel); ôi, ơi! (placé après le nom); á ngộ! (comme c’est curieux!); cơ khổ! (malheur); ố hộ! (ce n’est rien!)…Ví dụ: Ớ! Thuyền ôi! Ghé lại đây cho tôi xuống. Eh! Le bateau! Accostez-ici que je monte./ Á ngộ! xe máy hai bánh chạy mau dữ. Oh! Que c’est curieux! Comme cette bicyclette (voiture machine deux roués) marche vite./ Ố hộ! khoan đã, sẽ hay. Ce n’est rien! Attendez un peu, je vais voir. (Trang 136, 137)

Trong những thán từ được tác giả liệt kê, có 2 thán từ không còn thấy được sử dụng, hay nói chính xác hơn là không được ghi âm lại như thế nữa. Đó là á ngộ, ố hộ. Riêng bớ cũng là một từ nay dường như không còn được sử dụng. Có điều đáng chú ý là tác giả có đưa vào danh sách thán từ một câu: Anh đi chơi đâu? Où allez-vous vous promener? Với nghĩa là bonjour! Và tác giả đã giải thích là trong tiếng Annam, không có những cách nói như; bonjour, bonsoir, bonne nuit,…mà thay vào đó thường dùng những câu hỏi để chào kiểu Anh đi chơi à? (Vous vous amusez-là?)…Ví dụ này chứng tỏ tác giả đã khá tinh tế khi quan sát cách sử dụng ngôn ngữ của người Việt lúc đó.

 20170714 Muc luc cuon 1  20170714 Bang dai tu cuon 2
Mục lục của cuốn 1 Bảng đại từ  của cuốn 2

3. Nhận xét chung

Hai cuốn sách này xuất hiện vào những năm cuối thế kỉ XIX. Cuốn (1) là cuốn được đặt tên là “Manuel”-sách giáo khoa mà tác giả gọi là sách dẫn đàng nói truyện và cuốn (2) là cuốn giảng về ngữ pháp như chính bản thân tên sách đã chỉ rõ.

1) Cả hai cuốn được xuất bản cách nhau chừng 3 năm. Cuốn (1) lấy tiếng Bắc kì làm chuẩn trong khi đó cuốn (2), tức cuốn ngữ pháp, lại sử dụng khá nhiều từ Nam kì.

2)  Cuốn (1) chủ yếu giới thiệu từ mới theo chủ đề và các đoạn thoại với mức độ khó tăng dần. Đây là một cuốn sách song ngữ Pháp-Việt, ngoại trừ một số trang giới thiệu bằng tiếng Pháp về ngữ âm, giải thích ngữ pháp về Numeraux và Pronom personel thì cuốn (1) này không có những chỉ dẫn ngữ pháp cho từng bài.

3) Cuốn (2) lại là một cuốn sách chỉ dẫn khá chi tiết về ngữ pháp. Những nội dung ngữ pháp được tác giả giới thiệu dựa vào sự quy chiếu từ hệ thống từ loại của tiếng Pháp. Tuy nhiên, có lẽ nhờ ngữ cảm của người đã từng học tiếng và thành thạo tiếng Việt, tác giả đã giải thích một cách dễ hiểu, rất thực tế, rất có tính ngữ dụng những vấn đề ngữ pháp khá phức tạp của tiếng Việt. Đặc biệt là khác với cuốn (1), tác giả của cuốn (2) đã rất nhiều lần so sánh cách dùng từ của 2 tiếng địa phương Bắc kì và Nam kì. Tác giả thường chú thích, ghe, Bắc kì (Tonkin): thuyền; heo, Bắc kì: lợn; hoài, Bắc kì: mãi (Trang 28), chúng tôi thống kê được 36 trường hợp giải thích cách dùng từ khác nhau giữa Tonkin và Cochinchine.

4) Cả hai cuốn đều cho chúng ta thấy một hiện tượng là có một số yếu tố ngữ pháp hoặc từ vựng hiện nay không còn được sử dụng nữa. Đó là trường hợp các yếu tố như: cả và, min, phô…Chúng tôi đã tra cứu cuốn Đại Nam Quấc Âm tự vị TOME I (1895) [4] và TOME II (1896) [5] của Huình-Tịnh Paulus Của, xuất bản tại Sài gòn cũng như cuốn Dictionnaire Vietnamien-Francais, Từ điển Việt – Pháp xuất bản lần thứ 2 (1898) [2] của J. F. M. GÉNBREL, thì đều thấy có ba từ này (cả và có nghĩa là chung tất; min có nghĩa là tôi, ta với địa vị cao sang; phô với nghĩa như những, các, dùng trước các đại từ chỉ người: phô ông, phô bà). Có một số yếu tố vẫn còn trong các văn bản của nửa đầu thế kỉ 20 nhưng hiện không còn dùng: đặng (để), song le (nhưng), đoạn (rồi sau đó),… Ngoài ra, có nhiều từ chỉ sự vật hiện nay đã không còn được sử dụng nữa hoặc tên riêng hiện nay đã được thay thế bằng cách dịch hoặc ghi âm khác. Ví dụ: cơ lính trấn thủ, lính thị vệ (vệ binh) ngũ sắc (màu sắc), con hát (ca sĩ)…

5)Tác giả của 2 cuốn đều là người nước ngoài giỏi tiếng Việt. Viết được sách bằng tiếng Việt chắc chắn phải giỏi. Tuy vậy, vì là người nước ngoài, cho dù phần nhiều là trước khi đưa in, cả hai cuốn sách hẳn đều đã được người Việt đọc và chữa giúp nhưng có thể vẫn còn một số lỗi, không giống cách diễn đạt của người Việt, ví dụ: Cái đường đê đi theo cái sông (trang 125); Khi tôi sẽ có bặc, tôi mới mua hoa tai cho em được (trang 130).

6) Hai cuốn sách này, một cuốn nặng về dữ liệu từ ngữ và hội thoại, một cuốn nặng về giải thích ngữ pháp và ví dụ minh họa. Nếu người học thời đó, cùng lúc sử dụng 2 cuốn này, sẽ là một sự kết hợp tốt. Có thể những người viết sách không quan tâm đến phương pháp, nhưng cả hai cuốn sách có ảnh hưởng của phương pháp ngữ pháp dịch một cách không đầy đủ.

7) Chúng ta có thể thấy được cảnh sinh hoạt của thời đó: phu xe kéo tay, cảnh bài trí trong trại lính, sinh hoạt trong trường học, ẩm thực…Chúng tôi hi vọng rằng, những nội dung khảo sát trên đây về hai cuốn sách dạy tiếng Việt hồi cuối thế kỉ 19 có thể đem đến đôi điều bổ ích cho công cuộc nghiên cứu Việt Nam học của chúng ta ngày nay.

 20170714 Phan thu nhat tu vi  20170714 Phan thu 2  20170714 Gioi tu
Phần thứ nhất, tự vị, quyển 1 Phần thứ 2, mấy câu dễ, quyển 1 Giới từ, quyển 2

____________________

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Fries, C.C. (1954), Teaching and learning English as a foreign language, University of Michigan Press.

2. J. F. M. GÉNBREL. (1898), Dictionnaire Vietnamien-Francais, Từ điển Việt-Pháp, Deuxième Édition. Saigon: Imprimerie de la mission à Tân Định.

3. Hornby, A.S. (1973), The teaching of structural  word and sentence patterns, Oxford University Press.

4. Huình,-Tịnh Paulus Của. (1895), Đại Nam Quấc Âm tự vị, TOME I. Saigon: Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, Rue d’Adran, 4.

5. Huình,-Tịnh Paulus Của. (1896), Đại Nam Quấc Âm tự vị, TOME II. Saigon: Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, Rues Catinat & d’Ormay.

6. Lado, R. (1964), Language teaching: A scientific approach, Mc Graw-Hill.

7. Nguyễn Du (1820-1825), Truyện Kiều, Bản do Việt Chương chú giải, NXB Văn hóa thông tin in lại năm 2000.

8. Palmer, H. E. (1964), The principles of language study, Oxford University Press.

9. Philipphê Bỉnh (1822), Sách sổ sang chép các việc. Viện Đại học Đà lạt xuất bản bản chụp lại năm 1968.

10. Pierre Pigneaux de Béhaine Bá Đa Lộc Bỉ Nhu. (1772-1773), Tự vị An nam Latinh – Dictionarium anamitico latinum. Hồng Nhuệ và Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu. Nhà xuất bản trẻ in lại năm 1999.

11. Trần Thị Mĩ & Nguyễn Thiện Nam (1981), Một vài nhận xét về cách dùng các từ “một, phô, thay thảy, cả và v.v…trong văn xuôi cuối thế kỉ XIII đầu thế kỉ XIX (cứ liệu rút từ “Sách sổ sang chép các việc”.Tạp chí Ngôn ngữ, số 1.

 

Tài liệu dùng để khảo sát

1. Bon et Dronet (1889), Manuel de conversation Franco – Tonkinois. Sách dẫn đàng nói truyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam. Tonkin Occidental: Ke-So Imprimerie de la mission.

 2. Édouard Diguet (1892),  Éléments de grammaire annamite” - Những yếu tố văn phạm tiếng Annam. Imprimerie National.

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận văn học, Niên san 2013

20170925 Lysenko

Ảnh: Con tem có in hình viện sĩ Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934), tác giả của “học thuyết mới về ngôn ngữ”, tuy gây ấn tượng mạnh cho người không phải chuyên gia, nhưng thực chất chứa đựng rất nhiều sai lầm, gượng gạo, thậm chí là hư ngụy.

Ngày 20.6.1950 báo “Pravda” tại Moskva đăng bài báo “Chủ nghĩa Marx và ngôn ngữ học” của Stalin, nhà lãnh đạo tối cao của đảng và nhà nước Liên Xô, một động thái trợ giúp một số nhà ngôn ngữ học trẻ nhằm lật đổ “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Viện sĩ đã quá cố Nikolay Yakovlevich Marr (1865-1934), từng nhận được sự ủng hộ chính thống của nhà nước Liên Xô trong gần ba thập kỷ. Sự kiện này như sự giải cứu ngành ngữ học Xô-viết khỏi cái ách những lý thuyết ý thức hệ hóa phi lý.

Nikolay Yakovlevich Marr xuất thân từ Gruzia (như Stalin), học tập và sống đến cuối đời ở Petersburg. Tại Đại học Petersburg, Marr học đồng thời tất cả các ngành của Khoa Đông phương học và học tất cả các ngôn ngữ được dạy tại khoa này. Năm 1888 ông tốt nghiệp, trở thành một nhà nghiên cứu có những đóng góp đáng kể vào các ngành sử học, khảo cổ, dân tộc học về Gruzia, Armenia và vùng Kavkaz, đào tạo nhiều chuyên gia Đông phương học, trong đó có những người xuất sắc. Ông được bầu làm giáo sư (1902), trưởng Khoa Đông phương học Đại học Petersburg (1911), rồi trở thành Viện sĩ đặc cách Viện Hàn lâm Đế chế Nga từ 14.1.1912. Sau cách mạng tháng 10.1917, Marr tiếp tục là giáo sư đại học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Nga, có uy tín lớn trong giới trí thức Liên Xô. Ông sáng lập Viện nghiên cứu Japhetic tại Petrograd (sau là Viện Ngôn ngữ và Tư duy mang tên ông); tháng 3.1930 ông được bầu làm Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; được tặng Huân chương Lenin nhân 45 năm hoạt động khoa học (1933)…

Từ những năm đầu hoạt động khoa học, Marr đã quan tâm đến vấn đề liên hệ nguồn gốc giữa các ngôn ngữ vùng Kavkaz và đề xuất một loạt giả thuyết về sự thân thuộc giữa chúng về ngữ nghĩa, từ vựng. Ông gọi chúng là “những ngôn ngữ Japhet”, theo tên Japhet, con trai thứ ba của Noah trong truyền thuyết Kinh Thánh. Tháng 11.1923, Marr công bố “học thuyết mới về ngôn ngữ”, còn được gọi là “thuyết Japhetic”, “Japhetologia”, “Marrism”, “thuyết về tính giai đoạn”, với một số nội dung chính như sau:

1/ Các ngôn ngữ Japhetic. Marr cho rằng tồn tại cái mà ông gọi là “những ngôn ngữ Japhetic”, gồm những thứ tiếng như tiếng Gruzia (là bản ngữ của ông và ông buộc học trò phải học), các ngôn ngữ Kartvelian vùng nam Kavkaz, một số ngôn ngữ như Burushaki, Basque, v.v. Chúng được Marr lý giải như một giai đoạn phát triển ngôn ngữ, hiện diện trên toàn thế giới, gắn với cấu trúc giai cấp của xã hội.

2/ Bản chất giai cấp của ngôn ngữ. Marr khẳng định ngôn ngữ có bản chất giai cấp do nó là “thượng tầng” bên trên “hạ tầng” là các quan hệ kinh tế xã hội. Các giai đoạn ngôn ngữ gắn với các giai đoạn phát triển xã hội theo chủ nghĩa Marx: xã hội tiền giai cấp, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ quân chủ phong kiến, chủ nghĩa tư bản; và do vậy, sẽ cần phải nảy sinh một ngôn ngữ mới của xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó sẽ là “ngôn ngữ mới và duy nhất, ở đó cái đẹp đẽ cao nhất được hòa quyện với sự phát triển trí tuệ cao nhất”.

3/ Nguồn gốc của ngôn ngữ. Các ngôn ngữ đều có nguồn từ “những tiếng kêu trong lao động”, do “cách mạng âm thanh” và gắn với ngọn nguồn hoạt động lao động của con người. Nó có trước ngôn ngữ ra hiệu (ngôn ngữ cử chỉ). Mọi từ vựng của mọi ngôn ngữ đều chung nguồn gốc xuất xứ (monogenesis), chính là bốn yếu tố vốn là những tiếng kêu khởi đầu lao động: SAL, BER, ION, ROSH (thoạt tiên “không có bất cứ hàm nghĩa gì” và nhắm tới các mục đích ma thuật); bộ môn gọi là “cổ sinh học ngôn ngữ” có thể quy bất cứ từ vựng nào vào một trong số 4 yếu tố ấy.

Những quan niệm thông thường về lịch sử ngôn ngữ cho rằng một ngôn ngữ nguyên sơ (proto-language) duy nhất phân rã dần thành những ngôn ngữ đơn lẻ nhưng có liên hệ thân thuộc với nhau về nguồn gốc. Nhưng Marr lại cho rằng ngôn ngữ đi từ đa dạng, đa bội đến thống nhất, duy nhất. Theo ông, các ngôn ngữ nảy sinh độc lập với nhau: chẳng những tiếng Ukraina và tiếng Nga từ xa xưa không hề thân thuộc họ hàng với nhau, mà đến mỗi phương ngữ, biệt ngữ tiếng Nga trong quá khứ cũng đều là những ngôn ngữ nảy sinh độc lập. Về sau sẽ diễn ra quá trình gặp gỡ, giao cắt, lai ghép nhau, biến thành những ngôn ngữ con cháu; ví dụ tiếng Pháp là do ngôn ngữ Japhetic và ngôn ngữ Latin lai ghép nhau. Do nhiều giao cắt, lai ghép mà số lượng ngôn ngữ giảm dần và đến xã hội cộng sản thì quá trình này hoàn tất bằng việc tạo ra một ngôn ngữ toàn thế giới, khác với mọi ngôn ngữ đã tồn tại. (1)

Học thuyết của Marr còn nhiều nội dung khác nữa, ở đây tạm không đề cập.

Các luận điểm do Marr đề xuất với một khối tài liệu rộng lớn các ngôn ngữ xứ lạ, tuy gây ấn tượng mạnh cho người không phải chuyên gia, nhưng thực chất chứa đựng rất nhiều sai lầm, gượng gạo, thậm chí là hư ngụy, và thường có lối trình bày rối rắm, hay lướt từ đề tài này qua đề tài kia – đôi khi những điều đó gắn với bệnh trạng tâm lý của Marr.

Sự ủng hộ của Nhà nước

Ngay sau khi xuất hiện (1923), học thuyết của Marr lập tức thu được sự chú ý đặc biệt của nhiều quan chức cấp cao các ngành khoa học và giáo dục Liên Xô. Ngay trong thập kỷ 1920 có A. Lunacharsky, M. Pokrovsky, P. Lebedev-Polyansky, V. Friche, V. Bryusov, v.v. Dân ủy (bộ trưởng) giáo dục A. Lunacharsky viết rằng, “bộ óc sáng tạo hiệu quả của nhà ngữ văn vĩ đại nhất Liên bang chúng ta và có lẽ là vĩ đại nhất trong số những nhà ngữ văn đang còn sống” chính là Marr. Nhà vật lý, Viện sĩ Hàn lâm Abram Ioffe thì truyền bá giai thoại rằng Marr có thể, trong một ngày, học xong một ngôn ngữ trước đó ông chưa biết. Giám đốc Đại học Quốc gia Moskva khi đó là A. Vyshinsky yêu cầu đưa học thuyết của Marr vào giảng dạy.

Cuối những năm 1920, Marr bắt đầu trích dẫn Marx và Engels vào các bài viết của mình, khẳng định học thuyết của mình chính là “ngôn ngữ học Mác-xít”, quay lại lên án các bộ môn ngữ học đang có ở Tây Âu mà bản thân ông từng chịu ảnh hưởng. Ông tuyên bố ngữ học so sánh lịch sử là “khoa học tư sản”, học thuyết về ngữ hệ Ấn-Âu là “sự hỗ trợ về tư tưởng cho chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa chủng tộc”.

Năm 1930, Marr lên đọc báo cáo tại Đại hội 16 Đảng Cộng sản Liên Xô và ngay sau đó vào Đảng, là người duy nhất trong số các Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học đế chế cũ gia nhập Đảng Cộng sản, lại là trường hợp rất hiếm được miễn thời gian là đảng viên dự bị.

“Học thuyết mới về ngôn ngữ” chẳng những được ủng hộ bởi những cá nhân lãnh đạo cấp cao mà còn được tuyên truyền tích cực khắp Liên Xô và được vận dụng như “một lý thuyết duy nhất đúng đắn về mặt giai cấp”. Trong khi nhìn chung giới khoa học châu Âu hoàn toàn im lặng lảng tránh nó thì ở Liên Xô hình thành xung quanh Marr một “trường phái” những người tuyên truyền học thuyết của ông. Hầu hết đó là những kẻ háo danh, những “chuyên gia trẻ”, đôi khi không có chút học vấn nào về ngữ học, cũng không làm nghiên cứu mà chỉ chú trọng phỉ báng những ai phản đối lý thuyết của Marr bằng những quy chụp chính trị (“bọn theo Trotskyism”, “tư sản buôn lậu”, v.v.). Tuy nhiên, một số nhà khoa học có trình độ cao ở Liên Xô cũng tỏ ra đồng tình với đám tuyên truyền viên này.

Cuối năm 1929 xuất hiện một bản báo cáo kịch liệt phê phán học thuyết ngữ học của Marr, do một học giả Nga, E.D. Polivanov, viết, nhưng không được đồng nghiệp ủng hộ. Vì báo cáo này, ông bị phái đi Trung Á rồi tại đấy ông bị bắt, bị xử bắn (1938). Một ý đồ nữa chống học thuyết của Marr là của nhóm “Mặt trận ngôn ngữ” (của T. Lomtev, P. Kuznetzov) nhưng đến đầu 1932 thì bị các môn đồ học thuyết Marr đè bẹp.

Sau khi Marr qua đời (20.12.1934), và nhất là vào những năm 1940, những người tự coi là học trò và kế tục Marr (I. Meshchaninov, S. Katznelson, M. Gukhman, v.v.) trên thực tế đã vứt bỏ những quan điểm sai lầm trong “học thuyết mới về ngôn ngữ” của ông. Một số luận điểm được cho là “diễn giải chưa hoàn chỉnh” của Marr, được họ tuyên bố bảo lưu; một số luận điểm đã lộ rõ là hoang tưởng thì họ đem gán cho không phải Marr mà là một số “kẻ dung tục” vô danh.

Trong phạm vi cuộc đấu tranh gọi là “chống chủ nghĩa thế giới” (“Cosmopolitanism”, diễn ra những năm 1948-1953, nhắm vào lớp trung lưu trí thức, bị coi là đại diện xu hướng hoài nghi và thân phương Tây), khá đông tuyên truyền viên của học thuyết Marrism (như F. Filin, G. Serduchenko) mở chiến dịch chống “những kẻ giả danh của lý thuyết tư sản” trong ngữ học, trên thực tế là nhắm vào tất cả các nhà ngữ học lớn (V. Vinogradov, D. Bubrikh, thậm chí cả những người kế tục học thuyết của Marr). Lúc này, học thuyết Marrism được coi như một lý thuyết “yêu nước”, các công trình của Marr được đưa vào dạy ở bậc đại học, thậm chí cả ở trường phổ thông.

Gió xoay chiều và kết thúc một “huyền thoại”

Đầu năm 1950, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô lập ra một ban trù bị cho việc kỷ niệm 15 năm ngày mất của Marr. Nhưng ngay trong hai tháng 5 và 6, nhật báo “Pravda” mở cuộc thảo luận công khai về “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr. Mở đầu là bài viết của A. Chikobava (lúc đó đang phụ trách Khoa Nghiên cứu Kavkaz, Đại học Tbilisi) kịch liệt phê phán học thuyết Marrism; đồng thời cùng theo hướng đó là các ý kiến của L. Bulakhovsky, G. Kapantzyan, B. Serebrenikov. Báo cũng đăng các ý kiến bảo vệ học thuyết ấy (I. Meshchaninov, N. Chemodanov, F. Filin, V. Kudryavtzev), và những ý kiến nhân nhượng, điều hòa (V. Vinogradov, G. Sanzheev, A. Popov, S. Nikiforov).

Khi cuộc thảo luận gần kết thúc thì xuất hiện bài báo của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Liên Xô, J. Stalin, đăng ngày 20.6.1950 với nhan đề “Về chủ nghĩa Marx trong ngữ học”. Ngày 4.7 báo đăng tiếp đoạn văn Stalin trả lời nữ phóng viên E. Krasheninnikova. Ngày 2.8 báo đăng đoạn văn Stalin trả lời thư một bạn đọc. Sau đó, tất cả các phần đăng tải này được soạn thành một văn bản dưới nhan đề “Chủ nghĩa Marx và vấn đề ngữ học”, được xuất bản với số lượng in lớn và được tuyên bố là “tác phẩm thiên tài”.

Trong bài báo của Stalin, ý tưởng xem ngôn ngữ là “kiến trúc thượng tầng”, “tính giai cấp của ngôn ngữ” do Marr đề xuất, đều bị bác bỏ; ngôn ngữ được xem như công cụ giao tiếp toàn dân; “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr được khẳng định “không phải là ngữ học Mác-xít”.  

Chikobava sau này kể lại rằng bài của ông đăng báo “Pravda” là theo chỉ thị của Stalin(2). Trước đó Chikobava có thư gửi Stalin khi ông bị một số môn đồ học thuyết Marrism săn đuổi. Theo Chikobava, ông viết bức thư đó là do đề xuất của Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Đảng Cộng sản Gruzia Kandid Nesterovich Charkviani (1907-1994) và qua ông ta được gửi cho Stalin. Vậy có thể đây là sáng kiến của Charkviani, người che chở nhà ngữ học Chikobava.

Người ta nêu ra vài giả thuyết lý giải Stalin can thiệp sâu vào ngữ học như vậy. Một là với việc này, ông có thể củng cố vinh dự một lý thuyết gia của chủ nghĩa Marx. Hai là tư tưởng của Marr vốn nhắm vào tâm trạng những năm 1920 đã không còn tương thích với đường lối chính trị của Stalin thời hậu thế chiến.

Hầu như mọi công trình ngữ học ở Liên Xô sau đó đều trích dẫn bài báo của Stalin, đồng thời “học thuyết mới về ngôn ngữ” của Marr chính thức bị coi là phản khoa học. Những môn đồ của thuyết Marrism cũng bị đả kích đôi lúc quá đà, có người bị buộc thôi việc, hoặc buộc phải đi tỉnh lẻ, tuy nhiên nhìn chung không có sự trừng phạt nặng nề.

Giới ngữ học tại Liên Xô và cả nước ngoài đều đánh giá sự kiện này như sự giải cứu ngành ngữ học Xô-viết khỏi cái ách những lý thuyết ý thức hệ hóa phi lý. Tạp chí “Language” của Mỹ nhận định rằng, với vụ việc này, “ngành ngữ học Xô-viết đã bước được một bước theo hướng đúng, nhưng vẫn còn chưa bước khỏi bóng tối để ra ánh sáng, bởi vì tư tưởng Stalin, bất kể nội dung nào của nó, vẫn là giáo điều được tuyên ngôn bằng văn kiện chính thống”.(3) Mặc dù Stalin nói trong khoa học cần có tự do ý kiến, nhưng từ phía chính thống, người ta vẫn áp dụng sự phân giới giữa khoa học “đúng đắn”, “mác-xít” với mọi khuynh hướng còn lại, bị coi là “tư sản”, “lệch lạc về tư tưởng”.

Từ sau đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), việc bàn luận về học thuyết Marrism mất hẳn tính thời sự. Vào những năm 1960, liên quan đến việc phê phán Stalin cũng xuất hiện một số ý đồ phục hồi học thuyết Marrism, nhưng không có kết quả. Người ta càng thấy rõ, khi không còn sự ủng hộ từ phía chính thống, học thuyết này sẽ biến mất khỏi chân trời khoa học.

Nói gọn lại, có thể so sánh tác hại của thuyết Marrism với tác hại của thuyết Lysenko trong sinh học và nông học Liên Xô. Chính sự ủng hộ mang tính nhà nước đối với học thuyết này đã cản trở sự phát triển của khoa ngữ học Xô-viết.

Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận chính nó đã khiến giới nghiên cứu ngữ học đương thời thấy không thể thỏa mãn với bộ môn nghiên cứu so sánh lịch sử, và thấy cần nghiên cứu tính quy luật đồng đại của ngôn ngữ, xã hội học ngôn ngữ, loại hình học ngôn ngữ.
--------
(1) Xem: V.M. Alpatov, Marr, Marrizm, Stalinism[Marr, học thuyết Marr, chủ nghĩa Stalin] // Filosofskiye Issledovahiya [Nghiên cứu triết học], 1993, № 4, tr. 271-288 [chữ Nga]
(2) Chikobava, A.S., Điều đó xảy ra lúc nào và như thế nào. // Niên giám Ngữ học Iberiisk-Kavkaz, XII, Tbilisi, 1985. [chữ Nga]; theo Alpatov, bài đã dẫn.
(3) Rubinstein H. The Recent Conflict in Soviet Linguistics.//Language.V.27, 1951, № 3. [chữ Anh]; theo Alpatov, bài đã dẫn.

Chỉ một tháng sau khi đăng ở Moskva, bài viết “Chủ nghĩa Marx và ngôn ngữ học” của Stalin đã có bản dịch Hoa văn mà dịch giả là một cán bộ cấp cao Trung Quốc lục địa, Lý Lập Tam (1899-1967), đăng báo “Đại Công” (số ra ngày 21.7.1950) ở Hương Cảng, khi đó đang thuộc quyền quản lý của Anh quốc. Ở Việt Nam, tại “thủ đô gió ngàn” Việt Bắc, ngay trong năm ấy, thường trực Ban Ngôn ngữ văn tự của Hội Văn hóa Việt Nam đã nhận được số báo “Đại Công” Hương Cảng kể trên. Người phụ trách Ban Ngôn ngữ văn tự lúc ấy là Phan Khôi đã bắt tay dịch ngay bài báo của Stalin ra tiếng Việt. Vừa lúc dịch xong, ông lại nhận được một bản dịch chữ Pháp đã đánh máy bài kể trên của Stalin, không ghi tên người dịch; ông đã đối chiếu một số điểm và thêm một vài chú thích vào bản dịch của mình. Bản dịch của Phan Khôi được công bố dưới dạng sách in, đứng tên Bộ Quốc gia Giáo dục và Ban Văn học Vụ Văn học nghệ thuật. Sách in xong và phát hành ngay trong năm 1951 tại Việt Bắc. Thái độ nhất quán của Phan Khôi trong và sau khi dịch bài này là cần rất mực thận trọng, rất mực dè dặt. Ông nhắc lại điều này ở lời ghi thêm cuối tập sách: “nhất là bạn nào để tâm về ngôn ngữ học nên đọc thật kỹ”. Tất nhiên, người ta biết, đương thời, uy danh của nhà lãnh đạo tối cao Liên Xô là cực lớn, hầu như mọi động thái phát ngôn của ông đều được truyền tin khắp Liên Xô và “phe” XHCN, lại cũng được các giới báo chí, truyền thông các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa chú ý khai thác, đưa tin, bình luận. Tuy nhiên, một thông tin học thuật về một lĩnh vực tri thức tương đối hẹp là ngữ học, mà được lan truyền từ Moskva qua Hồng Kông đến một vùng rừng núi Việt Bắc trong thời gian ngắn như trên, quả là việc hiếm thấy. Báo chí ở vùng kháng chiến thường chú trọng nhiều sự kiện và vấn đề khác, quan thiết hơn các chuyện học thuật, nên ta khó tìm thấy phản hồi nào về tập sách dịch này. Dù sao, Phan Khôi cũng đã thực hiện được một thông tin về một sự kiện hệ trọng đời sống học thuật mà khá lâu về sau người ta mới biết đến.

Nguồn: Tạp chí Tia sáng, ngày 25.9.2017.

1. Dẫn nhập

1.1. Quá trình hình thành và phát triển tiếng Việt, xét theo quan điểm giao lưu (interchange) và tương tác (interaction), là quá trình tiếp xúc ngôn ngữ (TXNN). Ở thời kì hình thành đó là sự giao lưu và tương tác giữa các thứ tiếng thị tộc, bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc để hợp thành hạt nhân của tiếng Việt. Bắt đầu thời kì phát triển, cùng với các bước lưỡng phân(1), là những giai đoạn tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ ngoại lai - được hiểu như các thứ tiếng ngoài gia đình ngôn ngữ Nam Á (AA) và Nam Thái (AT) (P.Benedict, 1996). Ở thời kì phát triển, sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán hay Việt–Trung (từ đây gọi chung Việt–Hán) là dài lâu nhất và hình thái tiếp xúc cũng có nhiều kiểu loại nhất. 

1.2. Trong bài viết này có mấy từ (ngữ) khoá sau đây được sử dụng: tiếp xúc ngôn ngữ, ứng xử ngôn ngữ, yếu tố gốc Hán. Thuộc số đó có từ (ngữ) đã quen thuộc, nhưng khi xuất hiện trong bài viết này một đôi trường hợp mang một sắc thái hơi khác.

Tiếp xúc ngôn ngữ là “sự tiếp giao nhau giữa các ngôn ngữ do những hoàn cảnh cận kề nhau về mặt địa lí, tương liên về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (O.S. Akhmanova, 1966). TXNN còn được hiểu là “sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ. Những điều kiện xã hội của sự TXNN được quy định bởi nhu cầu cần thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v.v. thúc đẩy” (V.N.Jarceva, 1990). Với tình hình TXNN ở Việt Nam, cũng như với một số nước từng có sự xâm lược và chiếm đóng của một thế lực ngoại quốc, ta còn có thể thêm vào đoạn dẫn trên: nhu cầu giao tiếp giữa cư dân bản địa với những người thuộc bộ máy cai trị và đội quân xâm lược hoặc chiếm đóng ngoại quốc. Trong hình thái TXNN này, sự ứng xử ngôn ngữ của cư dân bản địa là vấn đề hết sức tế nhị. Trong nhiều trường hợp nó làm nổi rõ bản sắc dân tộc của cả một nền văn hoá.

Ứng xử ngôn ngữ (Language Treatment) có nội dung khái niệm thuộc lĩnh vực xã hội ngôn ngữ học. Cách diễn đạt này được xem là tương đương với Kế hoạch hoá ngôn ngữ (Language Plan/Planning). Ứng xử ngôn ngữ là sản phẩm của những quyết định có ý thức về sự lựa chọn mã (code) trong hoạt động giao tiếp (John Gibbons, 1992 ). Ứng xử ngôn ngữ mang tính xã hội được thể hiện trong chính sách ngôn ngữ của nhà nước hoặc một tổ chức xã hội. Chẳng hạn chính sách ngôn ngữ hiện nay của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; chính sách ngôn ngữ của Đảng Cộng sản Đông Dương được thể hiện trong Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943. Ứng xử ngôn ngữ cũng có thể là sự lựa chọn của một người về ngôn ngữ mà mình dùng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn từ. Sự ứng xử ngôn ngữ của mỗi người được quy định bởi nhiều nhân tố vừa khách quan vừa chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan có tính quyết định. Ứng xử ngôn ngữ là một thành phần về ứng xử văn hoá. Do đó, truyền thống văn hoá, truyền thống ứng xử ngôn ngữ của cộng đồng, của dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ ứng xử ngôn ngữ của các thành viên trong cộng đồng.

Yếu tố gốc Hán không chỉ là những từ bắt nguồn từ tiếng Hán xưa nay được gọi là từ Hán - Việt. Trong bài này yếu tố gốc Hán được hiểu là tất cả những đặc điểm hoặc thành tố ngôn ngữ nào mà qua sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán tiếng Hán có thể có ảnh hưởng đến tiếng Việt ở mặt này hay mặt khác. Chẳng hạn các đặc điểm về ngữ âm, đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp, các thành tố từ vựng ngữ nghĩa. Tuy trong bài viết này các thành tố từ vựng ngữ nghĩa là ngữ liệu được đề cập đến nhiều hơn, nhưng các phương diện khác của tiếng Hán cũng sẽ được nhắc đến khi cần.

1.3. Trong nhiều trường hợp bài viết sử dụng các dẫn liệu ngôn ngữ rút từ những công trình đã công bố và được thừa nhận rộng rãi của các tác giả khác cùng với những ngữ liệu mà người viết bài này dùng trong các lập luận của mình. Đề cập đến một vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội - ngôn ngữ học, khi cần thiết chúng tôi cũng đụng chạm đến những dẫn liệu thuộc các lĩnh vực ngoài ngôn ngữ để làm rõ thêm cho những lập luận liên quan với hiện tượng nội tại ngôn ngữ.

2. Tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán

2.1. Các giai đoạn tiếp xúc và đặc điểm

Trong khoa học nói đến thời kì hoặc giai đoạn tức là bàn về sự phân kì có tính lịch đại (diachronic division of events into periods) về diễn tiến hay quá trình phát triển của một hiện tượng, một sự kiện nào đó. Mỗi sự phân kì nhằm vào một/vài mục đích nhất định và có tiêu chí định hướng cho sự phân kì. Sự phân kì hiện tượng TXNN dựa vào các hình thái tiếp xúc, điều kiện xã hội - lịch sử và hệ quả mà sự TXNN dẫn tới về mặt cấu trúc cũng như về chức năng xã hội của ngôn ngữ.

2.2. Theo các định hướng trên đây ta có thể hình dung sự phân chia quá trình tiếp xúc Việt–Hán thành sáu giai đoạn (hoặc thời kì):

  • Giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang chuyển sang Âu Lạc.
  • Giai đoạn Triệu Đà sáp nhập lãnh thổ Âu Lạc vào Nam Việt.
  • Giai đoạn Nam Việt bị Đế quốc Hán khuất phục và lãnh thổ cũng như cư dân Âu – Lạc (từ đây gọi một cách quy ước là Việt Nam)(2) trong cương vực Nam Việt cũng bị đế quốc Hán thôn tính. Trong chính sử Việt Nam giai đoạn này được gọi là Thời kì Bắc thuộc.
  • Giai đoạn nền độc lập (trong lịch sử có khi gọi là nền tự chủ) Việt Nam được khôi phục và xây dựng nhà nước Việt Nam theo chế độ vương quyền.
  • Giai đoạn Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa Pháp trên đất Việt Nam.
  • Giai đoạn Việt Nam giành quyền độc lập từ tay thực dân Pháp cho đến nay.

2.2.1. Có thể xem giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang (VL) và từ VL chuyển sang nhà nước Âu - Lạc (ÂL) là khởi điểm quá trình TXNN trên miền đất Việt thời kì mở cõi, dựng nước này. Đây là thời kì của các huyền thoại và giả thiết, giống như ở bất kì dân tộc và đất nước nào trên thế giới. Vì vậy nơi đây tồn tại nhiều truyền thuyết, huyền thoại và trên cơ sở đó mà các nhà nghiên cứu đã có những giả thiết khác nhau về dân tộc Việt Nam hiện nay và về quá trình hình thành vùng khai nguyên của Việt Nam hiện đại. Tiếp cận từ lí thuyết TXNN ta có thể hình dung trước hết đó là quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ bản địa mà kết quả là sự hình thành của tiếng Việt thời cổ(3). Tiếp theo đó là sự tiếp xúc với các thứ tiếng đến từ ngoài vùng đất khai nguyên.

Về mặt này giả thiết mà K.W.Taylor đưa ra, theo tôi, là đáng chú ý hơn cả. Trong sách Sự ra đời của Việt Nam, ngay trang đầu chương I, tác giả đã dựa vào truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân trong Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ) và Đại Việt sử kí toàn thư (TT), để giải thích cuộc hôn phối giữa hai nhân vật huyền thoại này. K.W. Taylor hình dung rằng Lạc Long Quân là một người dòng dõi đế vương vốn ở phương bắc, Trung Hoa (A Monarch from the North, China...) từ biển xâm nhập vào lục địa và khi nhận thấy nơi đây không có vua bèn xưng vương để cai quản. Nhưng cư dân địa phương không chấp nhận và nhân vật ngoại bang này buộc phải ra đi(4). Qua mối liên kết tượng trưng đó ta có thể hiểu: đây là sự tiếp xúc Việt–Hán đầu tiên trong lịch sử. Có điều là giai đoạn tiếp xúc này ắt là không lâu bền và chưa tạo nên tác dụng gì sâu sắc về mặt ngôn ngữ, nếu có.

Cách hình dung như K.W.Taylor, theo tôi, rõ ràng là có sức hấp dẫn, và cách hiểu dựa vào sự hình dung ấy là hợp lô gích. Tuy nhiên, tất cả những điều đó đều thuộc phạm trù huyền thoại và giả thuyết, gắn với giai đoạn dã sử, phải chờ đợi những cứ liệu hiện thực chứng minh. Dẫn sao giả thuyết này cũng gợi cho ta một hướng suy nghĩ lí thú.

2.2.2. Trong lịch sử Việt Nam giai đoạn Triệu Đà chinh phục và sáp nhập Âu Lạc vào phạm vi quốc gia Nam Việt rồi chia đất đai Âu Lạc ra làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân được xác định là từ 179 đến 111 TCN. Vốn là con nhà tướng gốc Hán, cuối đời nhà Tần, Triệu Đà lên thay Nhâm Ngao cầm quyền, rồi khi nhà Tần bị diệt, tự xưng làm Nam Việt Vương. Việc Triệu Đà có thể tập hợp để làm chỗ dựa cho quyền lực của mình những người Hán từ phía bắc di cư vào cương thổ này (K.W.Taylor, tr.23-24; Phan Huy Lê, 1983, tr.234) chứng tỏ số lượng cư dân gốc Hán ở đây đã có một số lượng đáng kể. Và với tư cách những thành phần cư dân trong cùng phạm vi quốc gia Nam Việt, dĩ nhiên người dân Âu Lạc có quan hệ giao tiếp với toàn bộ cư dân của quốc gia này, trong đó gồm cả bộ phận người Hán. Sự giao tiếp này hẳn là có giới hạn. Lịch sử Việt Nam ghi nhận. Sứ giả nhà Triệu tiến hành lập sổ cư dân Giao Chỉ, Cửu Chân... "Giúp việc sứ giả, có thể có một số quan chức, cả Hán lẫn Việt” (sđd tr.234). Từ sự kiện đó có thể suy ra, đây là lần đầu tiên sử sách ghi lại có sự TXNN Việt–Hán. Đặc điểm của sự TXNN Việt–Hán trong giai đoạn này là nó được gộp trong bối cảnh tiếp xúc chung với các ngôn ngữ trong “quốc gia li khai” Nam Việt, ở đó bao gồm các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc Bách Việt. Tiếng Hán lúc này một mặt là ngôn ngữ của giới cầm quyền và mặt khác là tiếng nói của một nhóm dân di cư từ phương bắc tới. Sự cai trị của nhà Triệu chưa kịp đụng chạm nhiều đến cơ cấu xã hội Âu Lạc trước đó. Do vậy ảnh hưởng ngôn ngữ qua sự tiếp xúc có tính đa hướng hơn là song phương Việt–Hán và chưa sâu sắc mấy.

2.2.3. Giai đoạn từ khi Nam Việt bị đế quốc Hán khuất phục trở đi trong sự phân kì của các tác giả khác nhau có cách gọi không giống nhau đối với phần lãnh thổ và cư dân trước đây thuộc Âu - Lạc. Với mục đích nghiên cứu của mình, tôi tán thành cũng như dùng theo cách phân kì của John DeFrancis và gọi chung là giai đoạn Bắc thuộc.

Đặc điểm của giai đoạn TXNN Việt–Hán này về mặt văn tự và tiếng nói đã được John DeFrancis và Nguyễn Tài Cẩn chỉ rõ (Mặc dù Nguyễn Tài Cẩn chỉ giới hạn “vào khoảng các thế kỉ 8,9”, TLTK đã dẫn, tr.8. H Maspéro chỉ ghi chung là trước thế kỉ 10). Một đặc điểm khác về chính trị – xã hội nên được lưu ý là giai đoạn này không phải diễn ra xuyên suốt, mà bị cách quãng bởi hai cuộc khởi nghĩa, đánh đuổi quân xâm lược giành lại quyền độc lập.

1. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Hai Bà Trưng lên ngôi các năm 40-43 Công nguyên.

2. Cuộc khởi nghĩa Lí Bí và sự thành lập nhà nước Vạn Xuân (542-602) Giai đoạn này chính sách Hán hoá của phương bắc ngày càng được đẩy mạnh và được các quan thái thú thực hiện chính sách đó triệt để tại miền đất họ chiếm đóng. Số lượng người Hán ở đây không chỉ có các quan chức trong bộ máy cai trị, đội quân chiếm đóng, mà cả gia đình con em của họ. Ngoài ra còn có lớp người Hán theo chính sách di dân cũng lần lượt kéo đến định cư nơi đây. Họ bao gồm những người lao động thường, người có tay nghề thuộc các nghề nghiệp khác nhau. Dù hình thái cư trú trên miền đất cùng chung sống này là thế nào (biệt lập của người Hán, kề cận với các đơn vị hành chánh cư dân Việt, hay có mức độ sống xen kẽ nhất định) thì cũng đều phải có sự giao tiếp Hán – Việt. Chính do đó mà sự TXNN Hán – Việt trở nên ngày càng sâu sắc hơn. Hệ quả của sự TXNN này là trong sinh hoạt ngôn ngữ và trong đời sống xã hội hình thành tình thế các cộng đồng Hán di cư đến kết giao với các cộng đồng cư dân bản địa, tạo nên hình thái song ngữ song văn hoá Việt–Hán.

2.2.4. Các giai đoạn tiếp theo của quá trình tiếp xúc Việt–Hán, tuy cách gọi của John DeFrancis có ít nhiều không giống với những sự phân kì của H.Maspéro, Nguyễn Tài Cẩn, D.J.Whitfield, nhưng ở ông các nhận xét về trạng huống ngôn ngữ và văn tự hầu như không có gì khác. Trạng huống đó vào thời kì Bắc thuộc (111 TCN đến 939 CN) là trong xã hội Việt Nam có hai ngôn ngữ Việt và Hán, và một văn tự là chữ Hán hoạt động trên mọi lĩnh vực giao tiếp. Kế đến là:

1/ Giai đoạn độc lập, xây dựng chế độ vương quyền (939-1651) Hai ngôn ngữ: Việt và Hán

Hai hệ thống văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Chữ Hán được tiếp tục sử dụng với hình thức Hán – Việt. Xây dựng chữ Nôm theo loại hình chữ ghi ý (ideographic).

2/ Giai đoạn độc lập dưới chế độ vương quyền và có một bộ phận cư dân theo công giáo (1651-1861)

Hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Hán

Ba hệ thống văn tự: chữ Hán – Việt, chữ Nôm và chữ La tinh hoá, tức là dùng hệ chữ viết La tinh ghi tiếng Việt.

3/ Giai đoạn trở thành thuộc địa Pháp (1861-1945)

Ba ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp

Bốn hệ thống văn tự: chữ Hán–Việt, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp.

4/ Giai đoạn độc lập dân tộc, từ 1945 đến nay

Một ngôn ngữ: tiếng Việt

Một văn tự: chữ Quốc ngữ.

(John DeFrancis, xem phần Mục lục)

Điều đáng nhấn mạnh là, tuy mức độ có khác nhau, nhưng sự TXNN Việt–Hán vẫn tiếp tục ở tất cả các giai đoạn đã nêu. Trên cơ sở đó mà chúng ta có thể thảo luận về thái độ ứng xử ngôn ngữ của các thế hệ người Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử TXNN.

________________

(1) Trong bài Thử phân kì lịch sử thế kỉ 12 của tiếng Việt; tác giả Nguyễn Tài Cẩn viết: “Tiếng Việt có một lịch sử chỉ khoảng hơn 12 thế kỉ. Sự hình thành tiếng Việt là một kết quả của 2 bước lưỡng phân, một trước, một sau. Bước lưỡng phân đầu là bước chia ngôn ngữ mẹ Proto – Việt – Chứt thành hai nhánh: nhánh Việt – Mường ở phía bắc và nhánh Pọng – Chứt ở phía Nam... Ảnh hưởng của tiếng Hán không những mạnh ở Bắc hơn Nam mà ở đồng bằng sông Hồng cũng mạnh hơn ở miền núi. Do đó lại nảy sinh một bước lưỡng phân thứ hai bắt đầu từ khoảng thế kỉ 18, tạo ra sự đối lập giữa hai ngôn ngữ mới, một bên là Proto Việt, một bên là Proto Mường" (N.T.Cẩn, 1998, tr.7)

(2) Trong lịch sử, tuỳ từng thời kì lịch sử tên gọi chỉ nước Việt Nam hiện nay có sự thay đổi Giao Châu, Giao Chỉ, Đại Cồ Việt, Đại Việt... Tên gọi Việt Nam về sau mới xuất hiện. Tuy nhiên, để tiện cho việc trình bày, trong bài này chúng ta có thể lấy tên gọi Việt Nam mà hiện nay đang dùng để đại diện chung cho tất cả các tên gọi có trước, nếu không có nhu cầu phân biệt chính xác.

Thảo luận về đề tài này, chúng tôi sử dụng các công trình của một số tác giả. Ở những công trình đó, căn cứ vào những chỗ dựa ít nhiều khác nhau, các tác giả đã đề nghị cách phân kì tuỳ theo sự tiếp cận của mình.

I. Dựa vào sự hình thành tiếng Hán–Việt, cuốn An Nam dịch ngữ và cuốn từ điển Alexandre de Rhode (1651), H.Maspéro chia thành:

A) Proto Việt trước thế kỉ 10

B) Việt tiền cổ: thế kỉ 10 (hình thành tiếng Hán - Việt)

C) Việt cổ: thế kỉ 15 (An Nam dịch ngữ)

D) Việt trung đại: thế kỉ 17 (từ điển A.de Rhôde 1651)

E) Việt hiện đại: thế kỉ 19

(Dẫn lại theo Nguyễn Tài Cẩn, 1998, tr.8)

II. Dựa vào thế tương tác giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau trong mỗi giai đoạn N.T.Cẩn (1998) có bảng phân kì:

A) Giai đoạn Proto Việt Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ của lãnh đạo) và tiếng Việt; 1 văn tự: chữ Hán Vào khoảng các thế kỉ 8, 9.
B) Giai đoạn tiếng Việt Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán; 1 tiền cổ văn tự: chữ Hán Vào khoảng các thế kỉ 10,11,12
C) Giai đoạn tiếng Việt cổ Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán; 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Vào khoảng các thế kỉ 13, 14, 15, 16
D) Giai đoạn tiếng Việt trung đại Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán; 3 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Vào khoảng các thế kỉ 17, 18 và nửa đầu thế kỉ 19
E) Giai đoạn tiếng Việt cận đại Có 2 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán; 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm, Quốc ngữ Vào thời gian Pháp thuộc
G) Giai đoạn tiếng Việt hiện nay Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt; 1 văn tự: chữ Quốc ngữ Từ 1945 trở đi

III. John DeFrancis (1977) trong Colonialism and Language Policy dựa vào sự thể hiện chính sách ngôn ngữ từ 111 TCN trở đi chia sự phát triển tiếng Việt thành 4 giai đoạn với các đặc điểm về trạng huống ngôn ngữ và văn tự khác.

IV. Keith W.Taylor (1983) trong sách The Birth of Vietnam, tuy không trực tiếp đề cập đến sự phân kì về quan hệ tiếp xúc Hán - Việt nhưng những cứ liệu của tác giả này về thời kì hình thành Việt Nam trước khi bị đế quốc Hán xâm chiếm và đặt ách thống trị cũng có nhiều cứ liệu và ý tưởng soi sáng cho sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán.

(3). Cách dùng “tiếng Việt thời cổ” ở đây được hiểu như tiếng nói của “người Việt Cổ” (L.sử I) về hạt nhân đầu tiên của tiếng Việt hiện đại mà ngành ngôn ngữ học lịch sử Việt Nam chưa có những công trình nghiên cứu vượt khỏi các giả thuyết.

(4). Theo Taylor, qua huyền thoại Âu Cơ–Lạc Long Quân ta có thể biết về quan niệm trong dân gian xưa về quan niệm huyết thống giữa các vua Hùng và Lạc Long Quân (LLQ). LLQ từ phía biển thâm nhập vào đồng bằng sông Hồng. Đến đây LLQ chế phục “các yêu quái” trong miền rồi khai hoá họ, dạy họ trồng trọt, bắt đầu biết ăn mặc. Sau đó trở về biển cả và dặn lại rằng khi nào gặp nguy khó thì hãy lên tiếng và LLQ sẽ trở lại… Rất có thể Lạc Long Quân là hoàng tử xứ biển cả và Âu Cơ là một Mị Nương của vùng núi đồi. Khi Lạc Long Quân ra đi, Mị Nương ở lại và sinh hạ các vua Hùng. Người Việt Nam đời nối đời xem Lạc Long Quân và Âu Cơ là tổ tiên của mình.

Taylor viết tiếp: Huyền thoại bao quanh câu chuyện Lạc Long Quân và Hùng Vương ngụ ý về một nền văn hoá từ đất liền hướng ra phía biển. LLQ là nhân vật văn hoá mang nền văn minh đến từ biển. Nhân vật này chạm trán với quyền lực từ đất liền, liên kết với đối thủ ấy bằng một cuộc hôn nhân và cuối cùng kẻ vốn là đối thủ trở thành mẹ của người thừa kế mình. Chủ đề về nhân vật văn hoá bản địa có cách ứng xử để vô hiệu hoá sự đe doạ từ phương bắc bằng cách dung hợp cội nguồn chính thống của nền văn minh ấy cũng phù hợp với mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc (K.W.Taylor, 1977, tr.1).

3. Thái độ ứng xử ngôn ngữ của người Việt

3.1. Không giống như một số quốc gia hoặc dân tộc khác, thái độ ứng xử ngôn ngữ của các thế hệ người Việt không bị ảnh hưởng của chính sách do bộ máy cai trị của thế lực chiếm đóng ngoại bang hoặc tâm lí dân tộc cực đoan. Ngược lại, theo ý chúng tôi, thái độ ứng xử đó được chi phối bởi tiềm thức về nhu cầu giao tiếp xã hội. Tiềm thức này ngày càng tăng do thực tiễn giao tiếp xã hội cho thấy giá trị đích thực của các yếu tố gốc Hán, nói chung là tiếng Hán, chứ không phải do sự áp đặt, ép buộc từ một chính sách của lực lượng chiếm đóng.

3.2. Ứng xử ngôn ngữ đầu tiên của người Việt được quy định, có thể nói, một cách khách quan bởi nhu cầu giao tiếp với lớp người Hán di cư vào đất Việt. Trong Sự ra đời của Việt Nam, K.W. Taylor tỏ ra khách quan khi có nhận xét đại ý: Không phải tất cả người Hán di cư đến miền đất Âu Lạc trước đây đều thuộc tầng lớp quan quyền. Nhiều di dân là lính tráng (ở lại sau khi mãn hạn lính), những người lao động bình thường, những người thợ có tay nghề. Tầng lớp di dân ở vị trí xã hội thấp này có xu hướng kết nhập với giới xã hội người Hán còn ở lại làm ăn sinh sống sau cuộc hành quân Mã Viện. Nhiều người Hán di cư có xu hướng kết hợp giá trị Hán chính thống của họ với các đặc điểm xã hội tại chỗ. Điều này được thể hiện trên thực tế bằng các cuộc hôn nhân hỗn hợp và các hoạt động của người Hán di cư với tư cách đại diện cho cộng đồng từng khu vực trong các cuộc khởi nghĩa địa phương nổ ra vào thế kỉ thứ hai.

Hoàn toàn có lí khi cho rằng người Hán di cư dần dần trở thành các thành viên thuộc xã hội tại chỗ. Họ gầy dựng cuộc sống của riêng mình theo mô thức văn hoá Hán. Họ mang đến Việt Nam vốn từ ngữ và kĩ thuật Hán, nhưng họ phát triển tất cả theo quan điểm riêng, dựa rất nhiều vào di sản thuộc miền đất họ đến sinh sống. Tiếng Việt tiếp tục tồn tại, và lẽ đương nhiên là sau một vài thế hệ, con cháu người Hán di cư nói tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong giao tiếp. Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, có thể nói, hầu như tách biệt hoàn toàn với văn minh Hán, và xã hội Hán–Việt tồn tại như một chi thể của thế giới văn hoá tự trị. Người Hán di cư trải qua quá trình “Việt Nam hoá” một cách có hiệu quả hơn (more effectively) là người Việt Nam bị Hán hoá (John DeFrancis, p.53).

Về phần mình, ngoài sự giao tiếp và quy hợp ở các tầng lớp dưới của xã hội, một số nhân vật ở tầng lớp trên do yêu cầu của hoàn cảnh hoặc chức trách, cũng có thể do chủ động, tiếp xúc ngày càng sâu bền hơn với ngôn ngữ, văn tự và nói chung là văn hoá Hán. Đó là khi các Thái thú Hán, bắt đầu từ Sĩ Nhiếp, cho mở trường dạy học. Đầu tiên người học ở các trường này chủ yếu là con em quan chức Hán, kế đó trường cũng dần dần thu nhận thêm viên chức Việt; và cuối cùng con em các gia đình Việt khá giả cũng được đến học. Từ cơ hội ấy mà dần dần hình thành tầng lớp trí thức Việt xuất thân từ Hán học, trong số này đã có những nhân tài xuất hiện. Và “Như thế nhân tài nước Việt cũng được tuyển dụng như người Hán, mở đầu là Lí Cầm, Lí Tiến” (Dẫn theo bản dịch tiếng Việt: Đại Việt sử kí toàn thư, Hà Nội, 1983, tr.182)(5).

3.3. Sau thời Bắc thuộc, sang giai đoạn tự chủ xây dựng chế độ vương quyền của mình, các triều đại phong kiến Việt Nam dùng tiếng Hán–Việt, chữ Hán như ngôn ngữ và văn tự văn hoá đương nhiên của Việt Nam. Dấu chỉ của thực tế đó là những văn kiện chính thức hoặc huyền thoại, cắm mốc cho các sự kiện lịch sử, đều bằng tiếng Hán–Việt và ghi lại bằng chữ Hán: Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, bài thơ thần Nam quốc sơn hà vang vọng trên bờ sông Như Nguyệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, và Bình Ngô đại cáo vàQuân trung từ mệnh tập dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi thời Lê. Trong lĩnh vực phục hưng nền văn hoá dân tộc tiếng Hán–Việt và chữ Hán là công cụ để ông cha ta thời Lí – Trần xây dựng cả một gia tài văn học chữ Hán đồ sộ. Nền giáo dục cổ điển Việt Nam bắt đầu từ triều Lí (1076) cũng được xây dựng theo mô hình Nho học, ngôn ngữ dùng trong giáo dục cũng là tiếng Hán–Việt và chữ Hán. Các học quan, thày dạy đều xuất thân từ Hán học. Nền giáo dục này góp phần chủ yếu đào tạo nên các thế hệ trí thức hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống một quốc gia độc lập thời phong kiến Việt Nam tồn tại mãi đến triều Nguyễn.

Nếu khảo sát hệ thống từ ngữ dùng trong quá trình xây dựng chế độ phong kiến Việt Nam – từ tên gọi các cơ chế tổ chức, hệ thống quan chức, hệ thống luật pháp v.v. – ta có thể thấy số từ ngữ Hán–Việt chiếm phần lớn. Đó cũng là tình hình trong lĩnh vực khoa học quân sự, lĩnh vực kinh tế và nhiều ngành khoa học xã hội khác. Nói tóm lại trong giai đoạn này tiếng Hán và chữ Hán là ngôn ngữ và văn tự của nền hành chánh và của giới trí thức Việt Nam giống như tiếng Hi lạp và La tinh đối với xã hội Châu Âu thời kì tiền hiện đại. Trong quá trình đó người Việt Nam vừa sử dụng vừa chọn lọc từ vốn từ ngữ vay mượn ấy để làm phong phú cho ngôn ngữ và văn hoá của mình.

3.4. Một trong những biểu hiện thành công của quá trình tiếp biến văn hoá và TXNN Việt–Hán là sự xây dựng chữ Nôm Việt Nam (khoảng thế kỉ 13). Từ thành công đó một nền văn học Hán–Nôm ra đời tiếp tục giai đoạn văn học cổ điển sáng tác chỉ bằng tiếng Hán–Việt và chữ Hán. Các nhà văn hoá Việt Nam xuất thân từ Hán học là tác gia lớn, vừa có tác phẩm bằng tiếng Hán–Việt, chữ Hán, vừa sáng tạo những kiệt tác bằng tiếng Việt và chữ Nôm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Họ cùng với đông đảo tác giả khuyết danh của các truyện thơ Nôm làm phong phú cho kho tàng văn chương chữ Nôm, góp phần chung vào dòng văn học Hán–Nôm xuất hiện từ thế kỉ 15 trở đi. Hiện tượng văn hoá ấy là một bước phát triển mới của thái độ ứng xử ngôn ngữ đúng đắn ở người Việt Nam.

3.5. Có chữ Nôm, rồi chữ Quốc ngữ được chế tác và được điển chế hoá dần bằng các từ điển, sách ngữ pháp(6), số người biết chữ Quốc ngữ ngày càng tăng, đầu tiên là trong giáo dân, trong nhà thờ công giáo. Tiếp đến là các viên chức trong bộ máy của chính quyền thuộc địa. Từ đầu thế kỉ 20 chính quyền thuộc địa có quyết định bãi bỏ nền giáo dục cựu học. Hệ thống giáo dục tân học, tức theo mô hình hiện đại Tây phương được thiết lập từng bước trên toàn cõi Việt Nam. Giới trí thức tân học Việt Nam lần lượt tăng lên về số lượng và chất lượng và dần dần chiếm ưu thế trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà đã có lời than:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co...

Nhưng nhìn vào tầng sâu của văn hoá xã hội Việt Nam thì không phải như vậy. Những trí thức cựu học như Nguyễn Lộ Trạch, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... vẫn là những đại thụ về mặt tinh thần trong xã hội. Chữ Hán, tiếng Hán vẫn tiếp tục được các vị ấy sử dụng để trước tác nhằm giáo dục tinh thần yêu nước của đồng bào (Hải ngoại huyết thư), bàn thảo về những điều làm cho dân giàu, nước mạnh (Thiên hạ đại thế luận), bảo vệ nền văn hoá dân tộc.

Trong quá trình tiếp nhận nền giáo dục theo kiểu mới để xây dựng nền khoa học kĩ thuật cho mình các trí thức tân học, cũng không phải vì thế mà bỏ quên vốn quý có nguồn gốc Hán. Tiêu biểu cho thái độ ứng xử ngôn ngữ này là cố GS. Hoàng Xuân Hãn với đề nghị của ông nên “lấy gốc chữ Nho” làm một trong ba “phương sách đặt danh từ khoa học”. Phương sách ấy hiện nay vẫn còn nguyên giá trị và trở thành một trong những quy tắc xây dựng thuật ngữ khoa học kĩ thuật đang phát triển rất nhanh chóng ở nước ta và khoa học kĩ thuật Việt Nam ngày càng tiếp cận nhiều với khoa học kĩ thuật qua các ngôn ngữ Ấn - Âu.

3.6. Về thái độ ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán, nhân vật văn hoá tiêu biểu nhất là chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta. Trên cơ sở của truyền thống văn hoá Hán học của gia đình, Người bước vào lịch sử hấp thụ thêm nguồn học vấn phương Tây, tích luỹ sự hiểu biết từ tinh hoa của nhiều dân tộc, nhiều đất nước trên bước đường hoạt động cách mạng. Dầu vậy, trong quá trình tiếp thu những bài học cách mạng từ Người, những lời giáo huấn của Người, và nhất là đọc các tác phẩm trong di sản của Người, chúng ta luôn luôn cảm nhận được qua vốn văn hoá đa dạng đó, tinh hoa văn hoá, tinh hoa ngôn ngữ Hán được Người tinh lọc, tiếp biến thành các giá trị Việt Nam. Trong tù Người viết Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù). Người dùng danh ngôn, tục ngữ Hán khi trao đổi ý kiến với các bậc đại nho Việt Nam. Trong kháng chiến Người cũng đã có những bài thơ tuyệt tác viết bằng chữ Hán. Thái độ ứng xử ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các yếu tố gốc Hán là lĩnh vực có ý nghĩa khoa học lớn, vượt ngoài khuôn khổ bài viết nhỏ này và phải là một đề tài nghiên cứu riêng.

_____________

(5) Lí Cầm là người Giao Châu, đậu tiến sĩ, làm quan đến Tư lệ hiệu uý. Lí Tiến đậu tiến sĩ, là người Giao Chỉ đầu tiên giữ chức thứ sử năm 187 CN, dưới triều Hán.

(6) Cuốn Từ điển Việt–Bồ–La, có phần giới thiệu về cơ cấu tiếng Việt ở đầu sách do A.de Rhode biên soạn và ấn hành năm 1651 là công trình đầu tiên. Từ đó dần dần loại sách này ngày càng xuất hiện nhiều hơn để cung ứng cho nhu cầu học chữ Quốc ngữ, học tiếng Việt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. O.S. Akhmanova (1969). Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (bằng tiếng Nga). Nxb Từ điển Bách khoa Xô viết Moskva.
  2. Paul Benedict (1996). Interphyla Flow in Southeast Asia, In Proceeding of the Forth. International Symposium on Languages and Linguistics. 8 - 10, 1996. Vol. V, pp.1579-1590.
  3. Bùi Khánh Thế (2000). Tiếp xúc ngôn ngữ Việt - Hán và hệ quả tích cực của quá trình đó đối với sự phát triển tiếng Việt. Kỉ yếu Hội thảo Việt–Trung.
  4. John DeFrancis (1977). Colonialism and Language Policy in Vietnam. Monton Publishers - The Hague, Paris. New York.
  5. John Gibbons (1992). Sociology of Language. In International Encyclopedia of Linguistics, Vol.4, pp.22-24, William Bright (Editor in Chief).
  6. Hứa Tuyên (1994). Sơ lược về việc sử dụng chữ Hán ở Việt Nam và Đông Á.
  7. V.N.Jarceva (chủ biên, 1990). Từ điển bách khoa về ngôn ngữ học (bằng tiếng Nga). Nxb Từ điển Bách khoa Xô Viết Moskva.
  8. Nguyễn Đình Đầu (1997). Công lao của G.S Hoàng Xuân Hãn trong quá trình xây dựng và hoàn chỉnh nền quốc học nước ta bằng chữ quốc ngữ và tiếng Việt. Trong Kỉ yếu Hội nghị khoa học: Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, tháng 3/1997, tr.174-184.
  9. Nguyễn Tài Cẩn (1998). Thử phân kì lịch sử 12 thế kỉ của tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ, số 6/1998, tr.7-12.
  10. Tập san khoa học, A.Annals of HCM University, số 1/1994.
  11. Keith Weller Taylor (1983). The Birth of Vietnam. University of California Press, Berkeley, Los Angeles - Oxford.
  12. Danny J.Whitfield (1976). Historical and Cultural Dictionary of Vietnam. The Scarecrow Press, Inc. Metuchen, N.J.

Nguồn: Tập san khoa học Trường ĐHKHXH&NV (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), số 38 (2007), trang 3–10.

20170916

 

TTCT - Giáo sư Nguyễn Lân là một tên tuổi lớn trong làng chữ nghĩa, nhất là về phương diện từ điển.

Đọc lý lịch của ông, thấy những nơi ông từng học, từng làm việc, ai cũng phải kiêng nể: tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (đồng môn với các giáo sư Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Ca Văn Thỉnh...), từng giảng dạy văn sử ở Trường Thăng Long, Chu Văn An (Hà Nội), Quốc Học (Huế), từng học ở khu học xá Quảng Tây (Trung Quốc), từng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội từ ngày đầu thành lập, từng được phong là Nhà giáo nhân dân...

Sai sót đã được chỉ ra từ lâu

Các công trình để lại của ông cũng thật đáng nể: nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ từ năm 1941, tham gia biên soạn cuốn từ điển tiếng Việt nổi tiếng nhất ở miền Bắc trước 1975: Từ điển tiếng Việt do giáo sư Văn Tân chủ biên (1967).

Ông là tác giả của hàng chục cuốn từ điển nổi tiếng: Muốn đúng chính tả (1949), Từ điển chính tả phổ thông (1963, viết chung), Từ điển từ và ngữ Hán Việt (1989), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam(1989), Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000)...

Các công trình về giáo dục học và từ điển tiếng Việt của ông được giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2001.

Thế nhưng ngay từ khi từ điển của giáo sư Nguyễn Lân ra đời không lâu, đã có phản ứng của giới học thuật.

Trên tạp chí Văn ở TP.HCM số 6, tháng 9 và số 8, tháng 11-2000, Huệ Thiên trong bài viết Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, mới ở các vần A, B, C (chiếm 1/5 quyển sách) đã chỉ ra 117 mục từ sai.

Tiếp đó, Lê Mạnh Chiến chỉ ra 170 sai lầm trong một cuốn từ điển để đăng nhiều kỳ trên tạp chí Thế Giới Mới... và nhiều bài phê bình khác nữa.

Mặc dù đã có một số người vạch ra chỗ sai cụ thể với số lượng rất lớn như thế, nhưng các nhà xuất bản (NXB) vẫn liên tục in với số lượng lớn:

Từ điển từ và ngữ Hán Việt được NXB TP.HCM in năm 1989, tái bản 1999; NXB Từ Điển Bách Khoa in lại, 2002; NXB Văn Học tái bản 2003, 2007; Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, xuất bản lần đầu năm 1989, NXB Khoa Học Xã Hội tái bản năm 1993.

Riêng NXB Văn Học năm 2003 tái bản lần thứ nhất, sau đó liên tục các năm 2014, 2015, 2016, 2017 tái bản tổng cộng đến gần 10.000 cuốn; Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Tổng Hợp TP.HCM xuất bản lần đầu năm 2000, tái bản 2006; Muốn đúng chính tả, Thịnh Đức xuất bản, 1949; NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản 2010, 2012...

Quyển sách Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân - Phê bình và khảo cứu của Hoàng Tuấn Công sửa chữa hàng ngàn lỗi trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Muốn đúng chính tả của giáo sư Nguyễn Lân (NL).

Với mỗi mục từ giải thích sai, Hoàng Tuấn Công (HTC) đều trưng ra các cách hiểu đúng trong các từ điển uy tín khác, bằng tiếng Việt cũng như tiếng Hán hay ngoại ngữ khác, rồi biện luận nó.

Xin đưa vài ví dụ dễ thấy nhất và chỉ ở 3 mục A, B, C:

NL: Ái nam, ái nữ. Có cả hai bộ phận sinh dục ngoài của nam và nữ.

HTC: Nếu theo cách mô tả của giáo sư Nguyễn Lân, có lẽ đây là một ca sinh đôi có “cả hai bộ phận sinh dục ngoài” của một người nam và một người nữ nhưng chung một cơ thể chăng?

Theo Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức: “Ái nam. Tiếng gọi đàn ông hay đàn bà không đủ bộ phận sinh dục. Có khi gọi ái nam, ái nữ, cũng là người bán nam, bán nữ”.

Từ điển tiếng Việt của nhóm Hoàng Phê giải nghĩa: “Ái nam, ái nữ. Có bộ phận sinh dục ngoài không giống của nam, cũng không giống của nữ”. Như vậy cách “hình dung” về bộ phận sinh dục người ái nam, ái nữ của soạn giả không đúng và nghe thật đáng sợ!

NL: Anh hùng nhất khoảnh (khoảnh: thời gian ngắn). Nói người tự cho mình là hơn cả mọi người trong một thời gian: Ở bến xe có tên lưu manh tự mình cho là anh hùng nhất khoảnh.

HTC: Chữ “khoảnh” trong câu thành ngữ gốc Hán này tự dạng là (頃), có nhiều nghĩa: khoảng ruộng 100 mẫu; thoáng chốc, khoảnh khắc... Ở đây, khoảnh (nghĩa đen = khoảng rộng 100 mẫu) được hiểu là một vùng, một địa phận, khu vực (chỉ không gian) chứ không phải khoảnh khắc (chỉ thời gian) như giáo sư lầm tưởng.

Thành ngữ nói kẻ chỉ (dám) xưng hùng xưng bá, làm mưa làm gió trong một khu vực nhất định. Cái “bến xe” mà tên lưu manh tự xưng anh hùng trong câu dẫn chứng của giáo sư chính là “nhất khoảnh” (chỉ không gian) đấy thôi.

NL: Bất chắc. Không chắc nhưng có thể cũng sẽ diễn ra: Phòng khi bất chắc dụng binh (Tú Mỡ).

HTC: Người Việt chỉ nói không chắc chứ không dùng kết hợp từ: bất (không) + chắc (chắc chắn) = không chắc. Hơn nữa, soạn giả đã lẫn lộn giữa bất chắc (từ do tự giáo sư Nguyễn Lân nghĩ ra) có nghĩa không chắc và bất trắc với nghĩa không lường được trong câu thơ của Tú Mỡ.

Sai sót này xuất phát từ lỗi phát âm không phân biệt “ch” và “tr” dẫn đến lỗi chính tả, và cuối cùng là lỗi từ vựng của chính người làm từ điển.

NL: Cầm cương nảy mực (cầm cương ngựa và nảy mực lên mặt gỗ để cưa). Điều khiển và chỉ dẫn những người dưới quyền làm theo: Trong những năm Hồ Chủ tịch cầm cương nảy mực.

HTC: Nhầm lẫn. Cầm cân chứ không phải “cầm cương”. Có lẽ giáo sư cho rằng người cầm cương điều khiển để con ngựa rẽ theo ý muốn, còn người nảy mực nảy lên mặt gỗ để chỉ dẫn thợ mộc cứ thế làm theo?

Thế nhưng người ta dùng chiếc cân để so sánh với công lý, và nảy mực tàu được ví với cách làm thẳng thắn, khách quan, không thiên, không lệch (có câu Thẳng mực tàu làm đau lòng gỗ là vậy).

Hai vế của thành ngữ đều nói về sự thẳng thắn, công bằng, không thiên, không lệch, chứ không phải nói về sự dẫn đường chỉ lối. Cũng nên lưu ý soạn giả: người ta chỉ nảy mực lên mặt gỗ để xẻ (dọc) cho thẳng. Còn “cưa” (ngang) không ai nảy mực làm gì.

NL: Cử tọa (cử: cất lên; tọa: ngồi). Tất cả những người dự một buổi họp: Lời tuyên bố đó khiến cử tọa vỗ tay như pháo nổ.

HTC: Ở đây giáo sư giảng sai nghĩa của cả hai từ “cử” và “tọa”. Cho dù đều có tự dạng là 舉, nhưng chữ “cử” trong cử tọa nghĩa là hết thảy, tất cả, chứ không phải là “cất lên”.

Ví như cử quốc = cả nước (Hán Việt tự điển - Thiều Chửu). Hán Việt tự điển - Trần Văn Chánh giải nghĩa chữ “cử”: “Cả, khắp, tất cả đều, mọi, hết thảy mọi người: 舉座 Tất cả những người dự họp; 舉國歡騰 Khắp nước tưng bừng”. Thứ hai, chữ “tọa” (座) đây là chỗ ngồi chứ không phải chữ “tọa” (坐) là “ngồi”.

Về chính tả, sách giáo sư Nguyễn Lân sai sơ đẳng quá, không hiểu nổi:

Trỗi dậy, (sai) là: Chỗi dậy; Rớm máu, sai thành: Dớm máu; Quyến rũ, sai thành Quyến dũ; Sàm sỡ, sai thành: Xàm xỡ; Sặc sỡ, sai thành Xặc sỡ; Màu sẫm, sai thành Màu xẫm; Con rạ, sai thành Con dạ; Xơ cứng, sai thành Sơ cứng; Muỗi như trấu, sai thành Muỗi như chấu; Nõ điếu, sai thành Lõ điếu...

“Học phiệt” - chuyện xưa nay

Tại sao tác giả Nguyễn Lân sai nhiều như vậy? Theo tôi nghĩ, có ít nhất 4 nguyên nhân:

(1) Ông không có mẫn cảm về ngôn ngữ nhưng vẫn làm từ điển, ông không rành chữ Hán mà vẫn làm từ điển từ ngữ Hán - Việt. Làm từ điển tiếng Việt mà không rành chữ Hán là tử huyệt của nhiều người làm ngôn ngữ ở nước ta;

(2) Thiếu cẩn trọng: thực ra thì trước và cùng thời với từ điển của Nguyễn Lân đã có không ít từ điển tiếng Việt tốt, nếu ông cẩn trọng tra cứu, chỗ nào không rành thì chép của người ta cũng không đến nỗi sai;

(3) Thiếu kỹ năng làm từ điển: làm từ điển là một ngành học, phải có hiểu biết nhất định về từ điển học mới có thể làm từ điển được;

(4) Thiếu một thái độ cầu thị: khi người ta chỉ ra sai lầm của mình thì cần nghiêm túc xem xét lại, không được tự ái, cái gì sai thì nhận, cái gì đúng thì trao đổi lại cho rõ.

Rất tiếc là dưới những sai sót lớn như vậy của tác giả Nguyễn Lân, nhiều người bênh vực ông vẫn không cầu thị, còn phê phán người chỉnh sửa với thái độ cố chấp.

Rồi có quan chức trong ngành xuất bản còn nói như những người ngoại đạo hoàn toàn để bênh vực: “Chỉ có nhân dân hiệu chỉnh, còn nhà khoa học này không thể hiệu chỉnh nhà khoa học khác mà chỉ có thể trao đổi” (!) (cục trưởng Cục Xuất bản - in và phát hành Chu Văn Hòa trong trả lời phỏng vấn của VOV ngày 11-8-2017).

Chúng ta đều biết nhân dân là một khái niệm trừu tượng, làm sao họ sửa? Trong khoa học có sai có đúng, có những cái sai mà chỉ những người có chuyên môn sâu về lĩnh vực ấy mới hiểu được, nhưng cũng có cái sai mà người có hiểu biết ở trình độ phổ thông cũng hiểu, thậm chí có những cái sai mà một học sinh cũng có thể sửa được (như sai chính tả).

Trong khoa học hay trong đời sống cũng vậy, không ai biết hết được, sai thì sửa, không nên tự cao tự đại, tự ái, mình chỉ có đúng, không ai sửa được mình.

Năm 1930, trên Phụ Nữ Tân Văn (số 62 ngày 24-7), Phan Khôi lúc bấy giờ mới hơn 40 tuổi đã viết bài Cảnh cáo các nhà “học phiệt” nhắm tới Phạm Quỳnh, một học giả lừng danh bấy giờ.

Ông viết: “Học phiệt” là “Hạng người ấy ỷ có học rộng, tri thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như là bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi.

Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hết. Ừ, cái dư luận nào không chánh đáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái nầy, khi người ta công kích họ một cách chánh đáng, mà họ cũng làm thinh.

Làm thinh, không phải tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét.

Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ có ý kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chánh trị bên Tàu”.

Ngay cả cuốn Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân - Phê bình và khảo cứu của Hoàng Tuấn Công không phải không có sai sót, không phải không ít chỗ phải bàn lại, nhưng điều đáng ghi nhận là ở thái độ khoa học sòng phẳng.

Công trình này đã làm được công việc mà Phan Khôi nói trước kia: trong khoa học chỉ có đúng sai, không có chỗ cho học phiệt, nhờ thế nhận thức của con người mới tiến lên. ■

Nguồn: Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 13.9.2017

1.Trong tiếng Việt có một hiện tượng rất đáng quan tâm mà chúng tôi tạm gọi là “mượn âm”. Hiện tượng này diễn ra trong các từ ngữ hằng ngày và cả địa danh. Trước khi miêu tả hiện tượng xảy ra trong địa danh, chúng tôi đề cập đến một số trường hợp trong từ ngữ thông thường.  

Thông tin truy cập

38244303
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
6544
7293
38244303

Thành viên trực tuyến

Đang có 465 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929