Tóm tắt. Mười hai con giáp hay thập nhị chi đã hiện diện trong văn hoá Á Đông qua bao ngàn năm, nhưng chưa ai xem lại vấn đề về nguồn gốc phi Trung Hoa của các tên gọi này - nhất là nguồn gốc Việt Nam của chính các tên này như Tý/Tử-chuột, Mão/Mẹo-mèo (phần 4), Ngọ-ngựa, Hợi-gỏi-cúi phần 5)… Liên hệ của tên loài vật và tên các chi khác như Thân, Dần, Thìn, Tuất … không rõ nét và cần nhiều lý giải hơn.Phần này đi vào chi tiết của liên hệ chi thứ 9 (Thân) và tên con khỉ.

 

1.Cũng giống như các hiện tượng ngữ âm, các hiện tượng về ngữ nghĩa mang tính quy luật cũng có thể dùng để xác định từ nguyên tiếng Việt. Trong bài này chúng tôi xin nều bốn hiện tượng tiêu biểu là ẩn dụ, hoán dụ, láy nghĩa và chuyển nghĩa.Trong bốn hiện tượng này, hai hiện tượng đầu phổ quát hơn.

Trên đường Phan Đình Phùng có chợ Phú Nhuận. Tên chợ này mới đổi sau ngày thống nhất đất nước. Còn trước đó, chợ mang tên Xã Tài. Xã Tài là ai? Đó là xã trưởng Lê Tự Tài, người chủ trương lập chợ này vào cuối thế kỷ XIX. Có lẽ việc đổi tên từ Xã Tài sang Phú Nhuận này là do có người cho rằng những viên chức dưới thời Pháp thuộc chỉ là công cụ của thực dân.

1.     Đặt vấn đề

Trong cuốn “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659” của tác giả Đỗ Quang Chính [1] chúng tôi thấy tác giả cho in nguyên bản và dịch ra chữ quốc ngữ hiện nay ba tài liệu viết tay bằng chữ quốc ngữ vào năm 1659 của hai người Việt Nam là Igesico Văn Tín và Bento Thiện. Nhờ có bản dịch của Đ.Q.Chính, chúng tôi đọc nguyên bản và nhân thấy rằng về con chữ và cách ghép các con chữ thành vần, thành chữ (âm tiết) ít nhiều có khác với con chữ và cách viết chữ quốc ngữ trong cuốn Từ điển Việt – Bồ - La 1651 của A. de Rhodes [4], và tất nhiên có những điểm khác so với con chữ và cách viết chữ quốc ngữ hiện nay. Việc khảo sát các văn bản viết chữ quốc ngữ giai đoạn mới sáng tạo và dùng thử nghiệm (1620-1659) sẽ cho ta thấy được một cách cụ thể hơn quá trình đặt chữ viết, diện mạo hệ thống các âm vị tiếng Việt giai đoạn đó, cách xác định âm / âm vị để đặt chữ viết và đây cũng là một cách để chúng ta định hướng, cân nhắc khi lựa chọn để đưa những con chữ mới như: z, j, f, w vào bộ chữ cái quốc ngữ hiện nay.

Gần một nghìn năm cộng cư với người Chăm, người Việt đã tiếp thu hàng trăm địa danh ở dọc dải đất miền Trung. Cà Ná là tên núi ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cao 339m. Sau đó, Cà Ná trở thành tên xã của huyện Thuận Nam cùng tỉnh. Cà Ná, có nhiều cách lý giải, nhưng cách được tin tưởng nhiều là Canah/Canaq Klou (Canah: tẽ ra; Klou : ngã ba) vì hòn núi nằm ở chỗ có ngã ba tẽ ra.

 

Alexandre De Rhodes (1591-1660) là một giáo sĩ Dòng tên, người Pháp và sinh ở Avignon. Ông học hành ở Roma. Ông sống và truyền đạo ở Cochichine (Trung và Nam Kỳ) hơn ba năm (1624-1627), sau đó ông đi Tonkin (Bắc kỳ) và ở đó khoảng ba năm (1627-1630). Ông rời Annam đến sống ở Macao mười năm (1630-1640). Ông trở lại Cochichine sau 13 năm và ở lại đó bốn năm (1640-1645) trước khi ông sang Ba Tư.

Truyền thuyết về đời Hùng Vương thứ 6 kể lại chuyện tổ nghề dệt lụa là công chúa Thiều Hoa, không những đặt nền tảng cho giá trị văn hoá vật chất nhưng còn để lại những vết tích trong ngôn ngữ của dân tộc. Cụ thể là chữ cửi, một dạng chữ Nôm viết bằng bộ mịch  hợp với chữ cải hài thanh như câu '... cửi mắc văng mấy đoạn sầu ...' (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập) hay '... đường sá bằng mắc cửi ...' (Truyền Kỳ Mạn Lục). Ca dao tục ngữ Việt Nam dùng nhiều hình ảnh và ý tưởng về khung cửi như

 

Tóm tắt

Viết tắt (cũng như Nói tắt) là một hiện tượng mang tính phổ quát ở nhiều ngôn ngữ. Lí do sâu xa của nó là con người muốn tiết kiệm trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, và tiết kiệm như nhà ngữ học Pháp A. Martinet nhấn mạnh là một nguyên lí cơ cấu và hành chức ngôn ngữ. Trong truyền thống Việt ngữ học, việc nghiên cứu Nói tắtViết tắt chủ yếu bó hẹp trong phạm vi những ‘từ ngữ tắt’ (nội sinh hay ngoại nhập) đã được ‘xã hội’ sử dụng, đã thành ‘quy ước’ như: ATK (An toàn khu), VAC (Vườn - Ao -Chuồng), Nxb. (Nhà xuất bản);  WTO (World Trade Organization), V.I.P. (Very Important Person) v.v.. Báo cáo này của chúng tôi đi theo một đường hướng khác: khảo sát những cách thức viết tắt mang tính chất ‘cá nhân’, chưa thành ‘quy ước’ trong môi trường học tập của sinh viên Việt Nam. Kết quả bước đầu cho thấy: có những quy luật, quy tắc nhất định trong cách viết tắt của sinh viên – chứ không phải hoàn toàn tùy nghi, ‘tự tung tự tác’ ở mỗi cá nhân.

Truyện Kiều là một tác phẩm lừng danh hàng đầu trong văn học cổ điển Việt Nam. Tác phẩm này đã được hàng trăm nhà khoa học trong nước và thế giới, cả trăm năm qua, quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề mà các nhà nghiên cứu chưa thể nhất trí với nhau.

Chữ quốc ngữ Latinh hóa (CQN) của tiếng Việt từ khởi đầu được du nhập vào Việt Nam đến nay đã gần 4 thế kỉ (từ thế kỉ 17). Ngày nay, sau bao thăng trầm duy trì tồn tại, thứ chữ viết này đang chiếm địa vị hàng đầu về tính phổ biến, tiện dụng trong so sánh với hai thứ chữ tồn tại trước đó (chữ Hán và chữ Nôm) ở Việt Nam. Cũng chính vì thế mà ngày nay cần xem xét đánh giá CQN tiếng Việt không chỉ là phương tiện, công cụ của tiếng Việt mà còn cần được đánh giá như một thành tựu, một thành tố của văn hóa Việt Nam.

           Tóm tắt: Cũng giống như một số ngôn ngữ khác, tiếng Việt thường dùng miền ý niệm nguồn là thực phẩm để kiến tạo nên những ý niệm trừu tượng ở miền đích. Tuy nhiên, nếu như trong tiếng Anh, từ qui trình chế biến, đặc điểm chất liệu, đến mùi vị thực phẩm được khai thác một cách đều đặn thì tiếng Việt, thang độ ưu tiên thiên về việc lựa chọn phẩm chất ngon/dở nhằm mục đích đánh giá. Việc ý niệm hóa như thế, một mặt cho thấy cách tư duy phổ quát của nhân loại, mặt khác còn thể hiện cách lựa chọn riêng của người Việt.

 

(Trần Thị Thuý An, In trong " Những vấn đề ngữ văn " (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN))

Để hoàn thiện bức tranh phương ngữ vô cùng phong phú của tiếng Việt, việc tìm hiểu và miêu tả ngữ âm các địa phương là rất cần thiết và mang nhiều ý nghĩa khoa học. Mục đích nghiên cứu vấn đề này không chỉ góp phần định hướng sử dụng đúng chính âm, chính tả của người dùng phương ngữ mà còn hướng đến tiếng Việt thống nhất trên toàn quốc. Theo đó, việc tìm hiểu miêu tả ngữ âm địa phương là hoàn toàn hợp lí và cấp thiết. Trước tình hình như trên, trong báo cáo “Hệ thống vần cái trong thổ ngữ Lý Sơn (Quảng Ngãi)”, tác giả -dựa trên những chứng cứ ngữ liệu điền dã được- chưa đi trình bày đặc điểm ngữ âm của vùng này mà tiến hành liệt kê, miêu tả và nhận xét bước đầu về các đơn vị gọi là vần cái (thành tố trực tiếp trong cấu trúc âm tiết, bao gồm từ đỉnh âm tiết cho đến kết thúc âm tiết, không kể âm đệm và thanh điệu) có đối chiếu với tiếng Việt toàn dân. Sở dĩ người viết chọn giọng Lý Sơn để khảo sát và nghiên cứu vì đây là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ngãi, nơi mà đặc điểm ngữ âm còn mang nhiều nét dị biệt so với tiếng Việt toàn dân và cả với tiếng Quảng Ngãi.

            Ở những vùng sinh sống  của đồng bào các dân tộc thiểu số, loại địa danh chỉ sông, núi thường xuất hiện trước. Rồi cuộc sống đã ổn định, các đơn vị hành chính mới hình thành. Sau cùng, các công trình công cộng xuất hiện và địa danh chỉ các đối tượng này lần lượt ra đời.

(Lê Trung Hoa, Kiến thức ngày nay, số 900, ngày 10-8-2015, tr. 16-19)

1.Theo phỏng đoán cá nhân, ở Việt Nam có ít nhất ba trăm nghìn địa danh. Trong số này, có vài trăm địa danh thú vị nhất. Trong bài này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến vài chục đơn vị được nhiều người quan tâm.

 (Lê Trung Hoa, Kiến thức ngày nay, số 908, ngày 1-11- 2015, tr. 16, 17 và 26)

Sau hơn 300 năm cộng cư với người Khmer, người Việt đã tiếp thu một số từ chỉ tên các loại cây của người Khmer cho tiện việc sử dụng. Nhiều tên cây đã biến thành địa danh nên dù cây đã không còn nhưng vẫn tồn tại trong địa danh.

(Trịnh Sâm, Tạp chí  Ngôn ngữ số 7/ 2015)

1. Dẫn nhập

Do nhiều lý do khác nhau, hình thức và nội dung, mối quan hệ giữa chúng, là những vấn đề đã được nhiều ngành khoa học quan tâm và lý giải rất khác nhau. Quan điểm Maxism lý luận rằng, nội dung quyết định hình thức, hình thức tác động lại bình diện nội dung, còn cấu trúc luận lại biện giải, nội dung và hình thức thống nhất ngay trên mặt hình thức của nó. Liên quan đến vấn đề này, từ lâu ngôn ngữ học đã đề cập đến mối quan hệ giữa âm và nghĩa, giữa năng biểu (signifiant) và sở biểu (signifié) và thường nhìn nhận đó là mối quan hệ có tính võ đoán, ngoại trừ các trường hợp mô phỏng âm thanh như róc rách (tiếng suối chảy), xình xịch (tiếng xe lửa chạy), meo meo (tiếng mèo kêu) và mô phỏng cấu âm, đơn cử như trường hợp liên hội giữa phát âm chúm môi vần um trong bụm, chụm, chúm, núm, túm, xúm, khúm núm và hiệu quả ngữ nghĩa do chúng mang lại.

Thông tin truy cập

36575830
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
6142
7405
36575830

Thành viên trực tuyến

Đang có 344 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929