20260605 4

Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編 là một sách ghi chép hơn 40 tác phẩm trong thời nhà Nguyễn từ đời vua Gia Long đến vua Tự Đức với những nội dung đa dạng phong phú, bao gồm những tác phẩm đề cập đến các vấn đề đương thời như khuyên dạy quan lại, binh pháp, chế độ thi cử, biên soạn lịch sử, văn hóa, phong cảnh một số địa phương,... Tuy nhiên, giá trị của nó vẫn chưa được khai thác khi chưa có công trình nghiên cứu về tác phẩm này được công bố. Bài viết này thông qua việc khảo sát và phân tích 07 tác phẩm liên quan trực tiếp đến Nam Bộ (gồm: 1/Võ công bi ký 武功碑記 (Văn bia ghi võ công), 2/An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 (Văn bia ghi võ công yên định cõi tây), 3/Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 (Bài ký vâng mệnh vua đào cảng mới), 4/Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 (Văn bia núi Thoại), 5/Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記 (Bài ký ghi việc đồn cũ Hồi Thuỷ (nước xoáy), 6/ Tiên Sơn tự ký僊山寺記 (Bài ký chùa Tiên Sơn), 7/ Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 (Bài ký thành trấn Hà Tiên)), để tập trung phân tích những dấu ấn sâu sắc của triều Nguyễn tại vùng đất Nam Bộ trong nỗ lực bình định, khai phá, kiến tạo hệ thống thủy lợi, và quản lý của nhà Nguyễn tại vùng đất chiến lược này, qua đó góp phần khẳng định tầm quan trọng của Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編 trong việc nghiên cứu toàn diện về triều Nguyễn và vùng đất phương Nam.

1. Giới thiệu tác phẩm Đại Nam anh nhã tiền biên

Hình thức văn bản: Đại Nam anh nhã tiền biên大南英雅前編(1) [Lời hay ý đẹp nước Đại Nam, phần tiền biên] là tác phẩm tuyển chọn những bài văn hay triều Nguyễn, từ đời vua Gia Long đến đời vua Tự Đức. Văn bản có ký hiệu A.2286, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN). Sách có kích thước 22x13Cm, toàn sách gồm 96 tờ (192 trang), dạng thức viết tay, sách không chia quyển, không có tựa bạt và mục lục. Toàn sách chép theo lối Khải thư pha lẫn Hành thư, chữ tương đối rõ ràng, dễ đọc. Sách ngoài ký hiệu của VNCHN, còn có dấu của Viện Viễn đông bác cổ Pháp (dấu hình elip).  

Niên đại văn bản: Do văn bản ĐNANTB 大南英雅前編 không cho biết thông tin về niên đại hoàn thành cũng như niên đại xuất bản, do vậy chúng tôi phải dựa vào các thông tin nội tại chứa đựng trong văn bản để xác định niên đại. Tên văn bản là ĐNANTB 大南英雅前編, tên gọi văn bản cho chúng ta biết được rằng, văn bản này thành thư phải từ sau năm 1838 – tức là năm vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu từ Việt Nam sang Đại Nam. Sử liệu triều Nguyễn cho biết:

 “Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía Đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong bản đồ, bờ biển rừng sâu khắp nơi đều theo về cả. Trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam thì càng tỏ nghĩa lớn… Chuẩn từ nay trở đi, Quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô phải chiếu theo đó tuân hành. Giả hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam về lẽ vẫn phải, không được nói hai chữ Đại Việt. Còn Hiệp kỷ lịch năm nay trót đã ban hành thì không phải thay đổi hết thảy… Lấy năm Minh Mạng thứ 20 bắt đầu đổi thành chữ Đại Nam mà ban hành để chính tên hiệu cho các nơi xa gần đều biết”. (Đại Nam thực lục 大南寔錄, Chính biên, Đệ nhị kỷ, Q.190).


Thông tin trên đây cho chúng ta biết được rằng, văn bản ĐNANTB 大南英雅前編 nếu được thành thư sớm nhất cũng phải là sau năm 1838, tức sau thời điểm vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu Đại Nam.

Khảo sát chi tiết trong văn bản, chúng tôi thấy xuất hiện các chữ huý Nhậm , Thì 時, đều là những chữ huý có liên quan đến vua Tự Đức. Chữ Nhậm任, xuất hiện 2 lần ở trang 25b,d7(2) và 73b,d2. Đây là chữ tên vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 阮福洪任), cách kiêng huý là đổi sang chữ đồng nghĩa 寄 và đổi sang chữ khác có cùng âm đọc 壬Nhậm (Nhâm). Chữ Thìn辰, là chữ huý xuất hiện nhiều nhất trong ĐNANTB (1a,d6; 9a,d3; 14b,d1;29a,d3; 31a,d1; 4b7,d3, 27a,d7; 86a,d7; 88b,d1; 89a,d2), đó là kiêng huý chữ Thì 時 tên vua Tự Đức.

“Vua Tự Đức là con nuôi thứ hai của vua Thiệu Trị, sinh năm Kỷ Sửu (1829), lúc còn nhỏ được đặt tên là Hồng Nhậm 洪任. Ngày tháng 10 năm Đinh Mùi (11-1847) vua Thiệu Trị mất, hoàng tử Hồng Nhậm là người được chọn kế vị… Trong ngày đăng quang, vua dẫn các đại thần lên Chính điện kính cẩn mở Kim đằng lấy sách đặt tên (御制命名册Ngự chế mệnh danh sách) do vua Minh Mạng soạn để chọn chữ đặt tên một chữ. Căn cứ theo câu đầu bài thơ đó là chữ Thì 時. Câu đầu của bài thơ Hai mươi chữ bộ Nhật (日字部二十Nhật tự bộ nhị thập) mở đầu với câu “Tuyền 暶Thì 時 Thăng 昇Hiệu 昊 Minh 明”. Tự Đức kế vị Thiệu Trị chọn chữ Thì 時 là chữ thứ hai, tiếp theo chữ Tuyền… Như vậy, sau khi Tự Đức lên ngôi, chữ Thì 時là tên chính thức của vua, tên thủa nhỏ là Hồng Nhậm 洪任 chuyển làm tên tự(3)”. 

Các chữ huý trên đây là minh chứng cho việc, ĐNANTB 大南英雅前編 phải được biên soạn sau khi vua Tự Đức lên ngôi (1848). Khảo sát chi tiết trong văn bản, chúng tôi thấy từ tờ 62b đến 65a có bài dụ của vua Tự Đức về việc sát cử (bài này vốn không có nhan đề, nhan đề là do chúng tôi căn cứ vào nội dung để đặt), bài dụ được viết vào ngày tháng 10, năm Tự Đức thứ 18 (1865). Trong tổng số 41 tác phẩm được tuyển chọn trong ĐNANTB 大南英雅前編, thì tác phẩm nêu trên có niên đại biên soạn muộn nhất. Từ thông tin trên đây, có thể khẳng định văn bản ĐNANTB 大南英雅前編 phải được biên soạn thành thư là sau tháng 10 năm 1865.  

Tác giả văn bản: ĐNANTB 大南英雅前編 không cung cấp thông tin nào về tác giả biên soạn ngoài những tác giả của từng tác phẩm cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào các tác phẩm được tuyển chọn, cũng như hệ thống tác giả của từng tác phẩm cụ thể đa phần là vua và các vị đại thần hay những vị đại khoa của triều Nguyễn, cùng với hai chữ “anh nhã” (lời hay ý đẹp), có thể gợi ý cho chúng ta phần nào khẳng định tác giả biên soạn của ĐNANTB 大南英雅前編 có thể là một cơ quan như Hàn Lâm viện hoặc Nội các, hay Quốc Sử quán triều Nguyễn thực hiện.  

Cấu trúc số lượng tác phẩm cụ thể: Tiến hành khảo sát chi tiết ĐNANTB 大南英雅前編, chúng tôi xác định được tổng cộng 41(4) đơn vị tác phẩm, bao gồm nhiều thể loại như văn tế, sớ điệp, tựa bạt, phú, ngự đề và bi ký. Danh mục và sự phân bố 41 bài trong văn bản cụ thể như sau: 1/賜祭文太保郡公阮文張文- Tứ tế văn Thái bảo Quận công Nguyễn Văn Trương văn/ Văn tế Thái bảo Quận công Nguyễn Văn Trương do vua ban. Các Đình thần ở bộ Lễ phụng soạn vào năm Gia Long thứ 9 (1810), tờ 1a-1b; 2/ 賜祭掌營阮廷得文 - Tứ tế Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc văn/ Văn tế Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc do vua ban. Bộ Lễ biên soạn vào năm Gia Long thứ 10 (1811), tờ 1b-2a; 賜祭太傅郡公阮黃德文 - Tứ tế Thái phó Quận công Nguyễn Huỳnh Đức văn/ Văn tế Thái phó Quận công Nguyễn Huỳnh Đức do vua ban. Bộ Lễ biên soạn vào năm Gia Long thứ 18 (1819), tờ 2a-3a; 4/賜祭太傅郡公阮德川文 - Tứ tế Thái phó Quận công Nguyễn Đức Xuyên văn/ Văn tế Thái phó Quận công Nguyễn Đức Xuyên do vua ban. Hàn Lâm viện biên soạn vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), tờ 3a-4a; 5/賜祭協辨大學士鄧德超文 - Tứ tế Hiệp biện Đại học sĩ Đặng Đức Siêu văn/ Văn tế Hiệp biện Đại học sĩ Đặng Đức Siêu do vua ban. Hàn Lâm viện soạn vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825), tờ 4a-4b; 6/賜祭名山大川壇文 - Tứ tế danh sơn đại xuyên Đàn văn/ Văn tế Đàn danh sơn đại xuyên do vua ban. Hàn Lâm viện soạn vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), tờ 4b-5a; 7/附代黃鎮守祈雨文 - Phụ đại Hoàng trấn thủ kì vũ văn/ Phụ bài Văn cầu mưa viết thay cho trấn thủ Hoàng. Bùi Dương Lịch soạn, không đề năm, tờ 5a-6a; 8/天姥寺齋壇疏牒 - Thiên Mụ tự trai đàn Sớ điệp/ Sớ điệp trai đàn chùa Thiên Mụ. Bộ Lễ soạn vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tờ 6a-8b; 9/覺皇寺修齋疏牒 - Giác Hoàng tự tu trai Sớ điệp/ Sớ điệp tu trai chùa Giác Hoàng. Hàn lâm viện phụng soạn vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), tờ 8b-11a; 10/定內閣官制議 - Định Nội các quan chế nghị/ Bàn về việc định quan chế Nội các. Đình thần tấu nghị vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), tờ 11-13b; 11/ 止善堂詩集跋 - Chỉ Thiện đường thi tập bạt/ Bài bạt Tập thơ Chỉ Thiện đường. Trương Đăng Quế viết vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), tờ 14a -18a; 12/聖製裁成輔相先天後天詩集跋 - Thánh chế tài phụ tướng tiên thiên hậu thiên thi tập bạt/ Bài Bạt Tập thơ Thánh chế tài thành phụ tướng tiên thiên hậu thiên. Nguyễn Văn Siêu soạn vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), tờ18-22a; 13/聖製文二集跋 - Thánh chế văn nhị tập bạt/Bài bạt Thánh chế văn nhị tập (Văn vua làm, tập 2). Vũ Phạm Khải soạn vào năm Tự Đức nguyên niên (1848), tờ 22a-25b; 14/附讀艮齋詩集跋 - Phụ độc Cấn Trai thi tập bạt/Phụ bài bạt đọc Cấn Trai thi tập. Cao Huy Diệu soạn vào năm Gia Long thứ 17 (1818), tờ 25b-29a; 15/雷聲賦 - Lôi thanh phú/ Bài phú tiếng sấm. Lê Duy Thái soạn, không đề năm, tờ 29a-30b; 16/象陣賦 - Tượng trận phú/Bài phú voi đánh trận. Lê Duy Thái soạn, không đề năm, tờ 30b-33a; 17/御製賦誌事 - Ngự chế phú chí sự/Bài phú nói chí do vua làm. Không đề tên tác giả và năm biên soạn, tờ 33a-37a; 18/御題覓象搏虎行 - Ngự đề mịch tượng bác hổ hành/Bài hành tìm voi đánh hổ do vua đề. Bề tôi ở Viện Tập hiền – Phan Nhật Tỉnh phụng soạn, không đề năm, 37a-39b; 19/御題躬耕籍田賦考韻 - Ngự đề cung canh tịch điền phú khảo vận/Bài phú đích thân cày ruộng do vua đề, theo vần Khảo. Quan Tư nghiệp Vũ Duy Thanh soạn, không đề năm, 39b-45a; 20/御製五王宅歌 - Ngự chế Ngũ vương trạch ca/ Bài ca Ngũ vương trạch do vua làm. Vua Thiệu Trị soạn, không đề năm, 45a-46b; 21/開史局 - Khai sử cục/ Mở sử cục. Nội các soạn, năm Tự Đức thứ 8 (1855), 46b-48b; 22/ 文臣不愛錢論- Văn thần bất ái tiền luận/Luận về văn thần không ham tiền. Nội các thần Nguyễn Tư Giản vâng mệnh ứng chế, 48b-53b; 23/御題二十八日第二期覈 - Ngự đề nhị thập bát nhật đệ nhị kì hạch/ Đề thi do vua ra vào ngày 28, kỳ hạch thứ 2. Vua Thiệu Trị, 54a-56a; 御題十月初四日第期三覈 - Ngự đề thập nguyệt sơ tứ nhật đệ kỳ tam hạch/ Ngự đề khảo hạch kỳ thứ 3, ngày mùng 4, tháng 10. Vua Thiệu Trị, 56a-58a; 25/和王維觀獵詩 - Họa Vương Duy Quan liệp thi/Họa thơ Quan liệp thi của Vương Duy. Đông Dương Phạm đại nhân (Vũ Phạm Khải), 58a; 26/和高啟詠岳武穆事 - Họa Cao Khải vịnh Nhạc Vũ Mục sự/ Họa thơ Cao Khải vịnh việc Nhạc Vũ Mục. Đông Dương Phạm đại nhân (Vũ Phạm Khải), 58a-58b; 27/明高啟弔岳武穆墓原韻 - Minh Cao Khải điếu Nhạc Vũ Mục mộ nguyên vận/Theo nguyên vận bài của Cao Khải đời Minh viếng mộ Nhạc Vũ Mục. Đông Dương Phạm đại nhân (Vũ Phạm Khải), 59a; 28/擬韓愈進學解 - Nghĩ Hàn Dũ Tiến học giải/Phỏng theo bài Tiến học giải của Hàn Dũ. Quan Vũ Đông Dương soạn (Vũ Phạm Khải), không đề năm, 59a-62b; 29/ Bài dụ của vua Tự Đức về việc sát cử (bài này vốn vô đề), Vô danh vâng soạn theo dụ vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 18 (1865), 62b-65a; 30/御製示諸雅士及考官等絕句二首 - Ngự chế thị chư nhã sĩ cập khảo quan đẳng tuyệt cú nhị thủ/Hai bài tuyệt cú do vua ngự chế để khuyên bảo các nhã sĩ và khảo quan. Không đề năm, 65a; 31/武功碑記 - Võ công bi ký/Văn bia ghi võ công. Hàn Lâm viện soạn, không đề năm, 65b-66b; 32/安西武功碑記 - An Tây võ công bi ký/ Văn bia ghi võ công yên định cõi tây. Hàn Lâm viện soạn, không đề năm, 66b-71a; 33/海陽風俗記 - Hải Dương phong tục ký/Bài ký phong tục Hải Dương. Phạm Quý Thích soạn, không đề năm, 71a-73a; 34/奉開新港記 - Phụng khai tân cảng ký/ Bài ký vâng mệnh vua đào cảng mới. Trịnh Hoài Đức soạn vào năm Mậu Dần, 73a-74b; 35/瑞山碑記 - Thoại Sơn bi ký/Văn bia núi Thoại. Cao Huy Diệu soạn, không đề năm, 74b-76b; 36/廻水舊屯記 - Hồi Thủy cựu đồn ký/Bài ký ghi việc đồn cũ Hồi Thuỷ (nước xoáy), Lê Duy Thái soạn, không đề năm, 76b-80a; 37/僊山寺記 - Tiên Sơn tự ký/Bài ký chùa Tiên Sơn, Lê Duy Thái soạn, không đề năm, 80a-82a; 38/河僊鎮城記 - Hà Tiên trấn thành ký/Bài ký thành trấn Hà Tiên, Lê Duy Thái soạn, không đề năm, 82a-85a; 39/協順神祠碑記 - Hiệp Thuận thần từ bi ký/Văn bia ghi về đền thiêng Hiệp Thuận, Lê Văn Đức soạn, không đề năm, 85a-90a; 40/西湖寺碑記 - Tây Hồ tự bi ký/Văn bia ghi về chùa Hồ Tây, Phạm Quý Thích soạn, không đề năm, 90a-91a; 41/顯尊皇帝御製天姥寺碑記銘 - Hiển tôn Hoàng đế ngự chế Thiên Mụ tự bi ký minh/Bài minh trên bia ghi chép về chùa Thiên Mụ do Hiển tôn Hoàng đế soạn, Chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Tôn Hiếu Minh Hoàng đế) soạn, 91b-96b.

Từ kết quả thống kê trên đây cho biết, ĐNANTB 大南英雅前編 là một tác phẩm rất đáng nghiên cứu, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử quý giá, nội dung liên quan đến đến các chủ đề chính là lịch sử - văn hoá, khoa cử - giáo dục, văn học và phong tục - địa lý. Tuy nhiên, trong phạm vi và chủ đề bài viết này, chúng tôi muốn tập trung phân tích về những dấu ấn của triều Nguyễn ở vùng đất Nam bộ.

2. Dấu ấn triều Nguyễn ở vùng đất Nam bộ qua Đại Nam anh nhã tiền biên

Như đã giới thiệu, trong 41 bài được tuyển chọn trong ĐNANTB 大南英雅前編, chúng tôi đã thống kê được 7 bài có liên quan trực tiếp đến những dấu ấn của triều Nguyễn ở vùng đất Nam Bộ, bao gồm các bài sau: 1/Võ công bi ký 武功碑記 (Văn bia ghi võ công), 2/An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 (Văn bia ghi võ công yên định cõi tây), 3/Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 (Bài ký vâng mệnh vua đào cảng mới), 4/Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 (Văn bia núi Thoại), 5/Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記 (Bài ký ghi việc đồn cũ Hồi Thuỷ (nước xoáy), 6/ Tiên Sơn tự ký僊山寺記 (Bài ký chùa Tiên Sơn), 7/ Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 (Bài ký thành trấn Hà Tiên).

Nam Bộ (tên cũ là Gia Định Thành) được xem là đất “khởi nghiệp vương” của triều Nguyễn, có vị thế chiến lược đặc biệt trong quan hệ với Chân Lạp, Xiêm La cùng các quốc gia phía nam khác. Đây là vùng đất màu mỡ, giàu có về tư liệu sản xuất và được coi là “hậu phương chính trị ổn định” cho nhà Nguyễn. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí 嘉定城通志 cũng thừa nhận tính chiến lược trong vị trí địa lý của thành Gia Định: “Thành Gia Định nước Việt Nam ta, đất rộng lương thực nhiều, không lo về đói rét”. Tuy nhiên, Nam Bộ không phải là vùng đất dễ dàng thâu tóm. Dân cư nơi đây không thuần nhất, bao hàm nhiều giai tầng như Hoa kiều, người Công giáo, đại địa chủ, thương nhân, cho thấy sự phức tạp trong việc cố kết các tộc người. Vùng đất này luôn nằm trong “tầm ngắm” của các nước lân cận, minh chứng là sau khi vua Minh Mạng băng hà, Xiêm La lập tức đưa quân sang đánh chiếm và cai quản Chân Lạp, đồng thời xâm lược nước ta (1841-1845). Nhà Nguyễn đã phải rất vất vả trong việc đối phó và giữ vững bờ cõi.

2.1. Dấu ấn bình định và bảo vệ biên cương

Các bài ký trong ĐNANTB 大南英雅前編 như An Tây võ công bi ký 安西武功碑記, Võ công bi ký 武功碑記, Hồi Thuỷ cựu đồn ký 廻水舊屯記 đã ghi lại những chiến công hiển hách của triều Nguyễn trong việc bình định và bảo vệ Nam Bộ, thể hiện ý thức hệ dân tộc của vương triều.

An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 – Bản hùng ca về sự nghiệp bình định Trấn Tây: Bài An Tây võ công bi ký (Văn bia ghi chép võ công yên định cõi Tây) là một trong những tư liệu lịch sử đặc biệt quý giá, bởi bản văn bia gốc tại Huế hiện nay đã thất lạc, và nhờ sự sao chép lại trong ĐNANTB 大南英雅前編 mà nội dung của nó vẫn được bảo tồn đầy đủ. Tác phẩm này ghi lại công lao của các tướng lĩnh và quan quân triều đình nhà Nguyễn trong việc đánh dẹp, bình định Trấn Tây (Campuchia ngày nay), phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Quan điểm của triều Nguyễn về Trấn Tây được thể hiện rõ nét trong tác phẩm: xem Trấn Tây như một vùng đất lệ thuộc và có trách nhiệm bảo hộ. Nhà Nguyễn coi việc Xiêm can thiệp vào Trấn Tây là hành động bạo ngược, làm đảo lộn trật tự vốn có, buộc triều đình phải ra quân để khôi phục sự ổn định. Điều này khẳng định tư duy về chủ quyền và ảnh hưởng của Đại Nam đối với khu vực. Tác phẩm cũng nhấn mạnh chiến lược quân sự của triều Nguyễn. Triều đình đã điều động và phối hợp chặt chẽ giữa nhiều tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Nguyễn Hoàng, Vũ Văn Giải. Các chiến dịch được tiến hành bài bản, phân công rõ ràng, chia quân thành nhiều hướng tiến công để tiêu diệt kẻ địch. Tác phẩm liệt kê chi tiết các trận đánh quyết định tại Ba Xuyên, Lạc Hóa, Vĩnh Tế, Ô Đông, Thiết Thằng, cho thấy sự củng cố quyền kiểm soát của triều đình ở Nam Bộ và Trấn Tây.

Kết quả chiến dịch được ghi lại cụ thể: hàng ngàn quân địch bị tiêu diệt, hàng vạn quân đầu hàng, các thủ lĩnh Xiêm như Chất Tri phải xin hàng, và Sá Ong Giun(5)  buộc phải quy phục, tiếp tục triều cống. Sau chiến thắng, triều đình nhà Nguyễn áp dụng chính sách “ân uy tịnh dụng 恩威並用”. Việc tha tội cho Sá Ong Giun và cho ông tiếp tục giữ ngôi vương là cách để duy trì ổn định lâu dài và thu phục lòng dân, thể hiện tư tưởng khoan dung(6). Vua Thiệu Trị còn ban thưởng công lao, phong tước hiệu và khắc bia để ghi công cho các tướng lĩnh, nhằm vinh danh quân công và nhắc nhở các thế hệ sau về tầm quan trọng của việc bảo vệ biên cương(7).

Võ công bi ký 武功碑記 Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記– Ghi dấu công lao dẹp loạn, giữ đất: Nếu An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 ghi lại chiến công bình định Trấn Tây, thì Võ công bi ký 武功碑記 cũng góp phần khắc họa công lao của các tướng sĩ trong việc bình định, dẹp loạn, giữ vững biên cương. Tác phẩm này thể hiện sự trân trọng và tự hào của nhà Nguyễn đối với các chiến công ở vùng đất Nam Bộ(8). Bài ký này cũng cho thấy tinh thần “trung quân” và tầm quan trọng của việc phụng sự quốc gia trong bối cảnh dựng nghiệp gian nan của triều Nguyễn.

Bài ký Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記 (Bài ký ghi việc đồn cũ nước xoáy) của Lê Duy Thái mô tả địa hình hiểm trở của vùng Hồi Thủy, nơi từng là cứ điểm quan trọng trong các cuộc chiến, đặc biệt là với Tây Sơn và Xiêm La. Tác phẩm cho thấy sự gian nan trong công cuộc bình định và xây dựng vương nghiệp ở phương Nam, đồng thời thể hiện sự ngưỡng mộ đối với các công thần đã dốc sức vì đất nước tại nơi này. Theo bài ký, nơi đây là ngã ba sông chảy xuống Sa Đéc, thông ra Hậu Giang và ngược lên Tiền Giang, tạo thành dòng nước xoáy – chính là “Hồi Thủy(9)”. Tác giả Lê Duy Thái cũng kể lại những khó khăn mà triều Nguyễn phải đối mặt khi quân Tây Sơn xâm nhập Gia Định nhiều lần, và công lao của Thế tổ Cao Hoàng đế cùng các tướng sĩ trong việc bình định, giữ vững các đồn như Hồi Thủy. Bài ký khẳng định rằng Hồi Thủy, dù ngày nay chỉ là đất của một trong số vùng ngoại thành phía Nam, nhưng trong quá khứ là nơi chứng kiến sự mở rộng lãnh thổ đến tận cùng Nam Bắc, điều mà “hơn ba nghìn năm từ thời Hồng Bàng” chưa từng có được(10). Tác phẩm còn ghi nhận những người theo hầu vua ở Vọng Các và Hồi Thủy, cho thấy sự hy sinh và lòng trung thành của họ, với một số lượng người sống sót sau 30 năm theo phò giúp Gia Long ở Vọng Các là rất ít ỏi.

2.2. Dấu ấn mở cõi, khai phá và xây dựng công trình thủy lợi

ĐNANTB 大南英雅前編 là nguồn cứ liệu “khả tín” trong việc nghiên cứu địa chí, ghi dấu hành trình mở cõi của nhà Nguyễn về phương Nam.

Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 – Bức tranh tổng quan về đất Hà Tiên

Bài Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 (Bài ký thành trấn Hà Tiên) là một tác phẩm quan trọng của Lê Duy Thái, được chia làm ba phần. Phần đầu kể lại lịch sử hình thành vùng đất Hà Tiên và nêu bật vai trò của dòng họ Mạc (Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ) trong sự phát triển của vùng đất này, từ việc chiêu tập dân lưu tán, lập thôn xã, xây thành lũy, quy hoạch phố phường, cho đến việc mở Tao đàn Chiêu Anh Các. Tác giả đặc biệt ca ngợi công lao và tài năng của họ Mạc trong việc khai mở và phát triển Hà Tiên. Phần thứ hai miêu tả một số địa danh, thắng tích nổi tiếng của Hà Tiên, bao gồm núi Tô Châu 蘇州山, núi Lộc Trĩ 鹿峙山 (Mũi Nai), núi Bình San 屏山, chùa Phù Dung 芙蓉, và chùa Di Đà 彌陀. Đây là những địa danh đã đi vào thơ văn của các thi nhân trong Tao đàn Chiêu Anh Các. Phần cuối cùng thể hiện sự cảm nhận và đánh giá của tác giả về trấn thành Hà Tiên. Tác giả cảm phục trước sự bồi dưỡng và giáo hóa của hai vị chủ nhân vùng đất (ý chỉ Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ), giúp Hà Tiên định yên hơn sáu bảy mươi năm, thành hào được sửa sang, kho lẫm đầy đủ(11).


Bài Hà Tiên trấn thành ký trong ĐNANTB 大南英雅前編

Ngoài ra, bài ký còn cung cấp thông tin giá trị về chuyến đi kinh lược của Tổng trấn Lê Văn Duyệt đến vùng đất này vào năm Nhâm Ngọ (1822), cũng như số liệu về tổng, huyện, xã, thôn, điếm của trấn Hà Tiên vào đầu thế kỷ XIX(12). Điều này cho thấy sự quan tâm của triều Nguyễn trong việc nắm bắt và quản lý chi tiết vùng đất phương Nam. Lê Duy Thái, với tư cách là người theo hầu Lê Văn Duyệt, đã có dịp quan sát và tìm hiểu về Hà Tiên để sáng tác bài ký này. Tác phẩm cũng bộc lộ nỗi bùi ngùi của tác giả khi chứng kiến những biến cố lịch sử (như binh hỏa của quân Xiêm năm 1771) đã khiến nhiều tư liệu về họ Mạc bị thất lạc, cho thấy sự trân trọng của ông đối với di sản văn hóa của vùng đất này.

Tiên Sơn tự ký 僊山寺記 – Ghi nhận vẻ đẹp và công đức khai phá: Bài Tiên Sơn tự ký 僊山寺記 (Bài ký chùa Tiên Sơn) của Lê Duy Thái là một bài ký danh thắng quý giá, đặc biệt hiếm hoi khi viết về một thắng cảnh ở cuối trời Nam. Tác phẩm mô tả chi tiết cảnh đẹp của chùa Tiên Sơn và núi Lộc Trĩ (Mũi Nai) ở Hà Tiên, với hình dạng núi như cái chuông úp, hang động kỳ vĩ, và cảnh biển đảo mênh mông, ẩn hiện trong khói sóng, gợi cảm giác siêu thoát.

Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật, bài ký còn dẫn dắt người đọc từ danh thắng đến suy tư về kiếp người, về sự vô thường của vạn vật và cái còn mất của đời người. Đoạn cuối tác giả chuyển bút sang ca ngợi công đức của Mạc Thiên Tứ – người đã tạo dựng nên vùng đất Hà Tiên văn hiến với Tao đàn Chiêu Anh Các và Hà Tiên thập cảnh mộng mơ. Tác giả khẳng định Mạc Thiên Tứ được người đời nhớ đến không phải nhờ bia đá, mà là do “cái mà chính cuộc đời ngài truyền lại(13)”. Bài ký cũng thể hiện niềm cảm phục của tác giả khi lưu bút về nơi này, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu liên ngành khi tìm hiểu về triều Nguyễn. Tác phẩm tuy ngắn nhưng giàu văn học tính, đem lại nhiều cảm xúc cho người đọc.

Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記  – Tôn vinh công lao khai kênh: Bài Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 (Văn bia núi Thoại Sơn) của Cao Huy Diệu 高輝曜 ca ngợi công lao của Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại) trong việc đào kênh Thoại Hà, mở mang vùng đất An Giang. Tác phẩm này cho thấy sự quan tâm sâu sắc của triều Nguyễn đến việc khai phá, phát triển kinh tế vùng Nam Bộ.

Văn bản Thoại Sơn bi ký瑞山碑記 trong ĐNANTB, tờ 74b-75a.

Bài ký mô tả núi Thoại Sơn, ban đầu có tên là núi Sập 垃山 (tục danh Lạp Sơn) thuộc vùng phiên bang, nhưng sau này nhờ ơn vua mà được đổi tên thành Thoại Sơn, gắn liền với tên tước hiệu Thoại Ngọc của Thoại Ngọc Hầu. Tác giả Cao Huy Diệu tự hào khi tên Nguyễn Văn Thoại được đặt cho ngọn núi, xem đó là một vinh dự lớn lao, trường tồn cùng trời đất, không bị tiêu mòn. Bài ký cũng nhắc đến quá trình Thoại Ngọc Hầu được giao nhiệm vụ quản lý trấn Vĩnh Thanh, giám sát việc đào kênh Đông Xuyên (nay là kênh Thoại Hà), giúp thuyền bè qua lại thuận tiện. Tác phẩm không chỉ ghi lại công trạng mà còn thể hiện nỗi trăn trở của người làm quan Nho sĩ về việc lập công danh, sợ sau này khi về hưu thì “khác gì như cây cỏ tàn tạ”. Cuối bài ký, tác giả bày tỏ mong muốn dựng miếu sơn thần và khắc bia ghi rõ tên “Thoại Sơn” cùng lai lịch, để lưu truyền muôn đời bất hủ.

Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 – Chứng tích của công cuộc thủy lợi quy mô: Bài Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 (Bài ký vâng mệnh vua khai thông cảng mới) là một tư liệu vô cùng quý giá, ghi lại chi tiết công cuộc đào kênh Bảo Định ở Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Tác phẩm này thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và sự nỗ lực của triều Nguyễn trong việc cải tạo địa hình, phát triển giao thông thủy lợi ở Nam Bộ.

Theo bài ký, vào tháng Chạp năm Mậu Dần (1818), triều đình ra dụ chuẩn bị đào cảng sông ở Định Tường vào mùa xuân tới. Đến tháng Giêng năm Kỷ Mão (1819), công trình chính thức khởi công, với việc điều động 3.225 dân đinh của trấn Định Tường. Việc giám sát và đốc thúc được giao cho nhiều quan lại cấp cao như Khâm sai Chưởng cơ lãnh Giám thành sứ Nhậm Tín hầu, Khâm sai Trấn thủ trấn Định Tường Bửu Thiện hầu, Khâm sai Phó Tổng trấn Thị trung Thống chế thành Gia Định Lý Văn hầu, và đặc biệt là Khâm sai Tổng trấn Chưởng Tiền quân Bình tây tướng quân Đức Quận công (Lê Văn Duyệt) cùng Khâm sai Hiệp Tổng trấn Lại bộ Thượng thư An Toàn hầu(14). Điều này cho thấy tầm quan trọng và sự phối hợp quy mô của triều đình trong công trình này. Công việc được tiến hành từ ngày 28 tháng Giêng, đào từ chợ Thang Lung đến bến Mỹ Tho, bao gồm cả việc đào thẳng ruộng bằng, đắp đập bờ sông, khơi sâu chỗ cạn, nắn thẳng chỗ cong, biến hai bờ thành đê, tạo nên một tuyến đường thủy thẳng tắp. Công trình hoàn thành vào ngày 10 tháng 4 nhuận, giúp nước sông thông chảy và cảng với sông thông nhau. Tác giả bày tỏ sự ngưỡng mộ Thánh thượng vì đã sáng suốt nhận thấy sự quanh co, hiểm yếu và bùn tắc của các dòng sông, gây bất tiện cho việc giao thông công tư. Tác phẩm khẳng định rằng, việc chịu khó nhọc trong mươi ngày một tháng đã tạo nên sự tiện lợi “lâu dài cả ngàn vạn năm”. Thành quả này là sự kết hợp của mưa nắng thuận hòa, sức người đồng lòng, và tầm nhìn của nhà vua, thể hiện sự cần mẫn trong việc “lý hội địa đạo” và sự nỗ lực của con dân, đáng được “bất hủ” và ghi vào đá để truyền lại lâu dài. Bài ký này là minh chứng hùng hồn cho chính sách trọng nông và nỗ lực kiến thiết hạ tầng của nhà Nguyễn nhằm phát triển kinh tế Nam Bộ.

2.3. Dấu ấn về tác giả và tài năng văn học Nam Bộ

ĐNANTB 大南英雅前編 còn là một tư liệu quý giá, cung cấp cứ liệu đầu tiên cho việc nghiên cứu về những tác giả ít được biết đến, tiêu biểu là trường hợp của Lê Duy Thái 黎維泰. Mặc dù tiểu sử của ông vẫn là một khoảng trống trong lịch sử triều Nguyễn và các tài liệu hiện nay chưa thể xác định được chi tiết, nhưng các sáng tác của ông được chép lại trong ĐNANTB 大南英雅前編 đã phần nào chứng tỏ tài năng văn học của ông.

Lê Duy Thái là tác giả của năm bài ký trong ĐNANTB 大南英雅前編, nhiều nhất trong số các tác giả được tuyển chọn. Qua các bài ký như Tiên Sơn tự ký 僊山寺記 và Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記, Lê Duy Thái không chỉ tái hiện lịch sử hình thành trấn Hà Tiên, ghi nhận các biến cố lớn, mà còn dẫn dắt người đọc từ danh thắng đến suy tư về kiếp người. Hai bài phú Lôi thanh phú 雷聲賦 (Bài phú tiếng sấm) và Tượng trận phú 象陣賦 (Bài phú voi đánh trận) của ông với hình ảnh nghệ thuật sống động, thể hiện sự linh hoạt trong bút pháp nghệ thuật lẫn nội dung, là tư liệu nghiên cứu hữu ích trong việc tìm hiểu phong cách hành văn của Lê Duy Thái. Dựa vào những ghi chép trong Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 về việc ông theo hầu Tổng trấn Lê Văn Duyệt đi kinh lược Hà Tiên vào năm Nhâm Ngọ (1822), các nhà nghiên cứu có thể xác định Lê Duy Thái sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long đến Minh Mạng. Điều này khẳng định sự đóng góp của ĐNANTB 大南英雅前編 trong việc truy nguồn tiểu sử còn bỏ ngỏ của ông, mở ra hướng nghiên cứu quan trọng về giá trị văn học, phong cách bút pháp và tư duy nghệ thuật của một trí thức nửa đầu thế kỷ XIX.

Không chỉ có giá trị trong nghiên cứu triều Nguyễn ở Nam Bộ, ĐNANTB 大南英雅前編 còn chứa đựng nhiều giá trị khác trong nghiên cứu khoa cử giáo dục và văn hóa phong tục. Về khoa cử và giáo dục: ĐNANTB 大南英雅前編 sưu tập các bài “Ngự đề 御題” của vua Thiệu Trị và Tự Đức, phản ánh sự đổi mới trong chế độ khảo thí nhằm khuyến khích Nho sinh bộc lộ tư duy và kiến giải, tránh học thuộc lòng. Về văn hóa phong tục và địa chí: Về văn hóa phong tục, ĐNANTB 大南英雅前編 cung cấp thông tin về quá trình hình thành các vùng đất qua các bài như Hải Dương phong tục ký 海陽風俗記 (Bài ký phong tục Hải Dương), Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記, Tây Hồ tự bi ký 西湖寺碑記 (Văn bia ghi về chùa Hồ Tây). Điều này bổ sung tư liệu cho các nhà sử học, văn hóa học khi tìm hiểu về nền lịch sử văn hóa của triều Nguyễn nói riêng và Việt Nam nói chung. Tác phẩm cũng khai thác vấn đề giao hòa của Nho - Phật trong văn hóa tôn giáo (Hiển tôn Hoàng đế ngự chế Thiên Mụ tự bi ký minh 顯尊皇帝御製天姥寺碑記/Bài minh trên bia ghi chép về chùa Thiên Mụ do Hiển tôn Hoàng đế soạn) giúp người đọc hiểu thêm về tín ngưỡng Phật giáo và cách triều Nguyễn dung hòa việc tôn Nho và kính Phật trong trị nước. Các bài ký về địa chí và phong tục khắc họa sinh động bối cảnh văn hóa, sự hòa hợp tín ngưỡng Nho - Phật và phong tục địa phương, tạo tư liệu tham khảo quý giá cho các nghiên cứu liên ngành về văn hóa, xã hội và tôn giáo.

Tóm lại, khảo cứu ĐNANTB 大南英雅前編 không chỉ làm phong phú kho tàng tư liệu Hán Nôm mà còn cung cấp cái nhìn đa chiều, khách quan về triều Nguyễn trên nhiều phương diện lịch sử, văn hóa, giáo dục và văn học, góp phần bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm Việt Nam. Những dấu ấn của triều Nguyễn ở Nam Bộ qua tác phẩm này là minh chứng rõ nét cho nỗ lực của một vương triều trong việc xây dựng và bảo vệ bờ cõi, để lại di sản văn hóa và lịch sử vô cùng quý giá cho hậu thế.

3. Kết luận

Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編 thực sự là một tác phẩm rất đáng nghiên cứu, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử quý giá. Qua khảo sát và phân tích 7 bài ký liên quan đến vùng đất Nam Bộ, có thể thấy rõ những dấu ấn sâu đậm và đa diện của triều Nguyễn trong công cuộc bình định, khai phá và kiến tạo vùng đất chiến lược này. Tác phẩm này không chỉ ghi lại công cuộc bình định gian nan để bảo vệ biên cương trước các thế lực ngoại xâm, mà còn khắc họa rõ nét nỗ lực khai phá, kiến tạo hệ thống thủy lợi quy mô như việc đào kênh Bảo Định, và phát triển các trung tâm kinh tế, văn hóa như Hà Tiên. Đồng thời, ĐNANTB 大南英雅前編 còn là nguồn sử liệu quan trọng để tìm hiểu về đời sống văn hóa, phong tục, và đặc biệt là tài năng văn học của các tác giả gắn liền với vùng đất phương Nam như Lê Duy Thái. Những ghi chép này không chỉ làm phong phú kho tàng Hán Nôm mà còn góp phần bảo tồn và làm sâu sắc thêm nhận thức về vai trò lịch sử của triều Nguyễn trong việc hình thành và phát triển Nam Bộ.

Hoàng Ngọc Cương

Nguồn: Nghiên cứu Hán Nôm 2025, Nxb Thế giới, 2025, tr.294-311.

 

Tài liệu tham khảo

1. Đại Nam anh nhã tiền biên大南英雅前編, Ký hiệu A.2286, VNCHN.

2. Hoàng Ngọc Cương, (2018), Tuyển Tập thơ văn Trương Đăng Quế, NXB. Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

3. Ngô Đức Thọ, (1997), Nghiên cứu chữ huý Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

4. Ngô Đức Thọ & Trịnh Khắc Mạnh, (2007), Cơ sở văn bản học Hán Nôm, Nxb. KHXH, Hà Nội.

5. Nhiều tác giả, (2013), Triều Nguyễn và lịch sử của chúng ta, in lần thứ 3, Tạp chí Xưa và Nay - NXB. Hồng Đức, Hà Nội.

6. Quốc sử quán triều Nguyễn, (2004-2007), Đại Nam thực lục, Bản dịch, 10 tập, Viện KHXH Việt Nam, Viện Sử học, NXB. Giáo dục, Hà Nội.

7. Trần Nghĩa & François Gros, (1993), Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, 3 tập, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

8. Trịnh Hoài Đức, (1999), Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội. 

 

Chú thích:

(1)Từ đây trở đi xin được viết tắt là ĐNANTB.

(2) 25b,d7: Tức là chỉ dẫn tờ số 25, mặt b, dòng thứ 7.

(3) Ngô Đức Thọ. (1997). tr.151.

(4) Sách Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu (t.1, tr.474-475), cho biết sách này gồm “37 bài văn của vua quan nhà Nguyễn”, tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 41 bài.

(5) Preah Bat Ang Duong (1796-1860), tiếng Khmer là ព្រះបាទ អង្គ ឌួង, phát âm tiếng Khmer: [ʔɑŋ duəŋ]), (trị vì trong 2 giai đoạn 1841-1844, và 1845-1860).  Sử sách Việt Nam thường gọi là Nặc Ông Đôn, Nặc Ong Đuông (匿螉?) hay Nặc Ong Giun, Sá Ong Đuông (詫螉?), là vua của Cao Miên (Campuchia). Danh hiệu chính thức của ông là Preah Raja Samdach Preah Hariraksha Rama Suriya Maha Isvara Adipati. Ong Giun là em trai cùng cha khác mẹ với Nặc Ong Chăn.

(6) 帝乃下詔赦其罪,許以自新,勅武文解等升帳受降,所遣使臣準其詣阙奉表献欵,既乃復 其國號,俾詫螉?續其舊藩王之封,世世奉聀貢/ Vua bèn hạ chiếu tha cho, để y tự mình hối lỗi. Sắc cho Vũ Văn Giải thăng trướng tiếp nhận quân địch đầu hàng, sai sứ thần chuẩn cho chúng đến cửa khuyết dâng biểu quy thuận, cho được phục lại quốc hiệu, để cho Sá Ong Giun vẫn nhận phong làm phiên vương như trước, đời đời phụng chức cống. (ĐNANTB, tờ 68b).

(7) 邊事既蕆命諸臣振旅凱還飲至,策勳班賞,武文解賜忠武将,封安邊伯; 阮知方賜智勇将,封壮烈子; 尹蘊賜謀畧将,封綏靖子;  阮黃賜駿健将,封武含子; 段文策,尊室議前以病卒于軍皆已贈都統。段文策因其故裏封邑,晋封延祐伯; 尊室議封隆平子。餘将校吏士,大者封拜,小者賜賚各有差。寔惟聖恩體臣,不自有其美,歸功于下,寸效涓劳,無微不錄/Việc biên cương đã xong, mệnh chư thần chỉnh đốn đội ngũ, ca khúc khải hoàn, tế cáo tông miếu, ghi công ban thưởng. Vũ Văn Giải ban cho Trung Vũ tướng, phong tước An Biên bá; Nguyễn Tri Phương ban cho Trí Dũng tướng, phong tước Tráng Liệt tử; Doãn Uẩn ban cho Mưu lược tướng, phong tước Tuy Tĩnh tử; Nguyễn Hoàng ban cho Tuấn Kiện tướng, phong tước Vũ Hàm tử; Đoàn Văn Sách, Tôn Thất Nghị trước vì bệnh mất trong quân đều đã tặng Đô thống. Đoàn Văn Sách vì phong ấp cố hương, nên tấn phong tước Diên Hựu bá; Tôn Thất Nghị phong Long Bình tử. Các tướng, hiệu, lại, sĩ còn lại, công lớn phong tước thăng quan, công nhỏ ban đồ khen thưởng, đều có khác biệt. Thực nhờ ơn thánh xét kẻ bề tôi, chẳng tự khen mình; chỉ những quy công cho kẻ thần hạ, thành hiệu nhỏ, chút công bé, chẳng đâu không xét. (ĐNANTB, tờ 69a-69b).

(8) 鴻惟! 我世祖高皇帝,龍興之會,當辰奮庸佐命恒不乏人。明命初年,曾奉摘其勳烈,炳著者升之從祀庙庭矣….眷其劳能,列爵宣封,復舉行夫鉅典 。爰諭兵部臣,敘其勳伐,再采諸僉議,錄其武功,最著者取張明講等十人,列為两碑,分豎于武庙庭前之左右。 特 命翰林院臣等記其事,併将十臣之官爵,姓名,事状開列于左。豊功偉績彪炳千秋,非惟于古有光,又是以為千萬世有功者勸云。/Đoái nghĩ! Thế tổ Cao Hoàng đế ta, vận hội Long Hưng, đương thời ra sức giúp mệnh, thường chẳng thiếu người. Những năm đầu thời vua Minh Mạng, đã vâng mệnh chọn những người có công, công hiển hách sẽ được tòng tự nơi miếu đình… đoái nghĩ công lao của họ, ban phong thăng thưởng chức tước, lại cử hành theo đại điển triều đình. Bèn dụ cho các bề tôi bộ Binh, nêu công lao của các tướng sĩ, lại chọn lựa ý kiến của quan lại, ghi chép võ công của họ, công lao rực rỡ nhất thì chọn mười người là bọn Trương Minh Giảng, xếp vào hai bia, chia ra mà dựng ở hai bên trái phải trước sân Võ miếu. Đặc sai các bề tôi viện Hàn lâm ghi lại việc này, đồng thời đem quan tước, tên họ, sự nghiệp của 10 công thần liệt kê ra ở sau. Công lao to lớn rực rỡ nghìn năm, chẳng phải chỉ đời xưa mãi sáng tỏ, mà còn để khuyến khích cho những người có công ở muôn vạn đời sau. (ĐNANTB, tờ 65b, 66a-66b).

(9) 此江三岐下沙的,南通後江,西溯前江,两水交會端溯廻旋所謂廻水也/Đây là nơi phân nhánh của ba sông để chảy xuống Sa Đéc, phía Nam thông Hậu Giang, phía Tây ngược dòng về Tiền Giang, hai sông giao nhau, dòng chảy bị ngược hai đầu thì trở về, đó được gọi là Hồi Thủy (Nước Xoáy). (ĐNANTB, tờ 77b).

(10)凢我越昔辰所謂阻絕不可至之域盡入版圖, 若廻水者今特南阃中一土耳, 由此而溯新疆達河僊, 尚有數百里之逺, 自鴻厖三千餘年以来之所未闢, 猗欤盛哉!/Các vùng đất của nước Việt ta ngày trước cho là hiểm trở không thể đến được, toàn bộ nhập vào bản đồ ta, giống như đồn Hồi Thủy ngày nay chỉ là đất của một trong số vùng ngoại thành phía Nam mà thôi. Từ nơi này mà ngược dòng Tân Cương thì đến Hà Tiên, vẫn còn xa vài trăm dặm, là nơi chưa khai khẩn từ thời Hồng Bàng hơn ba nghìn năm đến nay, ôi thật huy hoàng thay! (ĐNANTB, tờ 78b).

(11) 余觀河仙之地,除要足恃,加以地主二公涵養,安佚六七十年之餘,城堡修,倉廩寔,自可旬日守以待朝兵之援,暹人必無能為矣./Ta xem địa thế Hà Tiên, ngoài được cái thế hiểm yếu nương tựa, lại thêm được hai vị chủ nhân đất ấy bồi dưỡng giáo hóa, định yên hơn sáu bảy mươi năm, thành hào sửa sang, kho lẫm đủ đầy, có thể tự giữ được trong mươi ngày để đợi viện binh triều đình, người Xiêm ắt không thể làm được gì. (ĐNANTB, tờ 79a).

(12) 鎮在城之西南,水行六日,該六百九十九里,鎮二縣四總,百三社村店隊耨庯屬所滀。其地東接永清,南臨海,北極界高蠻,為嘉定城關塞之大去./Trấn ở phía Tây Nam thành, đi đường thủy chừng 6 ngày, thành đó [rộng] 699 dặm, toàn trấn có 2 huyện 4 tổng, 103 xã thôn thôn điếm đội nậu bộ tụ tập. Đất ấy phía Đông giáp [trấn] Vĩnh Thanh, phía Nam tới biển, cùng cực phía Bắc giáp giới Cao Miên, là nơi trấn giữ vùng biên cho thành Gia Định. (ĐNANTB, tờ 83a).

(13) 夫公之名節固不待峒而傳,而峒之所以名亦不待碑而顯。今人之所以悲公,此正公之所以傳也。/Ôi, danh tiết của ngài hẳn nhiên chẳng phải nhờ động này mà truyền lại, và động sở dĩ vang danh cũng chẳng phải nhờ bia đá. Người thời nay sở dĩ cảm thương ngài, ấy là do cái mà chính cuộc đời ngài truyền lại. (ĐNANTB, tờ 83a).

(14) 照起定祥鎮三千二百二十五丁。欽差掌奇領監城使壬信侯按圖指授。定祥鎮欽差鎮守寶善侯奉督丁夫開作。欽差嘉定城副總鎮侍中左統制理文侯奉就處董督在城。欽差總鎮掌前軍平西將軍德郡公,欽差協總鎮吏部尚書安全侯協心照料。/Lấy dân đinh ở trấn Định Tường gồm 3.225 người. Khâm sai Chưởng cơ lãnh Giám thành sứ Nhậm Tín hầu chiếu theo bản vẽ để chỉ bảo. Khâm sai Trấn thủ trấn Định Tường Bửu Thiện hầu vâng mệnh đốc thúc dân đinh trai tráng đào mở khơi thông. Khâm sai Phó Tổng trấn Thị trung Thống chế thành Gia Định Lý Văn hầu nhận việc đến nơi đôn đốc thêm ở thành. Khâm sai Tổng trấn Chưởng Tiền quân Bình tây tướng quân Đức Quận công, Khâm sai Hiệp Tổng trấn Lại bộ Thượng thư An Toàn hầu cùng hiệp tâm lo liệu sự việc. (ĐNANTB, tờ 73a).

 

Đến với Đời rất đẹp tập 21, khán giả sẽ được gặp gỡ và lắng nghe những chia sẻ đầy tâm huyết của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận – một người thầy đã dành phần lớn cuộc đời mình cho việc nghiên cứu, quảng bá và truyền dạy chữ Nôm. Qua lăng kính của ông, một miền ký ức sống động về dòng chữ cổ của dân tộc được mở ra, khơi dậy niềm tự hào sâu sắc về trí tuệ của thế hệ đi trước.

Ký ức Truyện Kiều và cái hay độc đáo của chữ Nôm

Mở đầu chương trình, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận mang đến hai quyển sách cổ Truyện Kiều viết hoàn toàn bằng chữ Nôm (phiên bản gốc có tựa Thúy Kiều Truyện Tường Chú do học giả Chiêm Văn Thị chú đính). Đối với ông, đây không chỉ là tư liệu chuẩn xác để giảng dạy cho các thế hệ sinh viên, học viên cao học mà còn là một kho tàng văn chương vô giá.

'Đời rất đẹp': Công trình 10 năm ròng rã về Cao Bá Quát và sứ mệnh giữ hồn cốt ngôn ngữ Việt

Ông bộc bạch rằng dù Truyện Kiều đã được hậu thế nghiên cứu suốt mấy trăm năm qua, nhưng chỉ khi đọc trực tiếp vào văn bản Nôm gốc, người ta mới thấu cảm hết những điều thâm thúy trong cách dùng từ, sử dụng điển tích điển cố của tổ tiên. Qua đó, chữ Nôm chứng minh một giá trị lịch sử to lớn: thể hiện cách mà cha ông chúng ta đã sáng tạo một cách độc lập để ghi lại chính xác tiếng nói của dân tộc mình.

Mối duyên từ giảng đường và sự nể phục của thế giới

Chia sẻ về cơ duyên đến với chữ cổ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận nhớ lại những ngày đầu sau giải phóng khi ông bước chân vào năm nhất trường Đại học Văn khoa. Nhờ có năng khiếu đặc biệt với chữ Hán và chữ Nôm, ông được các Giáo sư định hướng đi sâu vào chuyên ngành Hán Nôm. Sự động viên và khen ngợi từ các bậc học giả lớn chính là ngọn lửa sưởi ấm và giữ chân ông trên con đường nghiên cứu đầy thử thách này.

'Đời rất đẹp': Công trình 10 năm ròng rã về Cao Bá Quát và sứ mệnh giữ hồn cốt ngôn ngữ Việt

Bên cạnh đó, ông cũng tự hào chia sẻ về tầm vóc của chữ Nôm trên bản đồ học thuật thế giới. Thuộc nhóm các nước "đồng văn" (cùng sử dụng chữ khối vuông như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên), Việt Nam đã xuất sắc chế tác ra chữ Nôm từ thế kỷ 13 để ghi chép tiếng nói dân tộc, thậm chí từng được chọn làm văn tự chính thức dưới triều nhà Hồ và triều đại Quang Trung. Sự sáng tạo độc đáo này khiến giới khoa học quốc tế vô cùng kính nể. Kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông là tại cuộc hội thảo chữ Nôm tại Đại học Temple (Hoa Kỳ) năm 2015, bài tham luận của ông nhận được sự hoan nghênh lớn đến mức nhiều nhà khoa học quốc tế đã xếp hàng mang USB đến xin sao chép tư liệu nghiên cứu.

Luận án 10 năm về Cao Bá Quát và những cống hiến để đời

Điểm nhấn xúc động nhất trong chương trình là khi Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận chia sẻ về bộ sách Cao Bá Quát Toàn Tập. Để hoàn thành luận án Tiến sĩ về danh nhân Cao Bá Quát, ông đã phải mất đúng 10 năm ròng rã (hoàn thành vào năm 2005).

20260526 6

Sứ mệnh gìn giữ dòng chữ cổ cho thế hệ mai sau

'Đời rất đẹp': Công trình 10 năm ròng rã về Cao Bá Quát và sứ mệnh giữ hồn cốt ngôn ngữ Việt

Kết thúc chương trình, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận xúc động đón nhận bó hoa tươi thắm từ MC Ngọc Lan như một lời tri ân sâu sắc của thế hệ đi sau dành cho những nỗ lực thầm lặng của ông. Hành trình bền bỉ của thầy chính là lời nhắc nhở quý báu về ý thức bảo tồn nguồn cội văn hóa trước dòng chảy của thời gian.

Tập 21 Đời rất đẹp sẽ phát sóng lúc 19h15, thứ bảy ngày 23/5/2026 trên VTV9.

Mi Ty

Nguồn: Thế giới Điện ảnh, ngày 23.5.2026.

Một hình ảnh trong sách giáo khoa lớp 8 có hình chữ Hán nhưng bị ngược, học sinh và cả giáo viên đều lắc đầu không hiểu nổi.

20240410 2

Hình ảnh (phía phải) về mộc bản mà học sinh cho là lật ngược. Với hình ảnh toàn chữ Hán và chú thích như vậy, nhiều học sinh và giáo viên đọc xong không biết sách giáo khoa đang viết gì - Ảnh: Mỹ Dung

Trong bài 19 sách giáo khoa Lịch sử - Địa lý (bộ sách Chân Trời Sáng Tạo do Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành), trang 77 có một hình ảnh về "mộc bản" của triều Nguyễn. Học đến bài này, nhìn thấy hình "kỳ kỳ", một số học sinh lớp 8 tại TP.HCM đã so sánh với chữ viết tiếng Trung hiện đại và thấy chữ bị trái chiều.

Theo ghi nhận, trang 77 sách Lịch sử - Địa lý 8 bộ Chân Trời Sáng Tạo thuộc bài 19, mục 4. Tình hình văn hóa. Trong đó, dưới hình 19.9 ghi: "Châu bản và mộc bản. Châu bản: Bản dụ năm 1835 của Minh Mạng về thưởng phạt những người đi Hoàng Sa làm nhiệm vụ vẽ bản đồ. Mộc bản: Bìa bộ Hoàng Việt luật lệ năm 1813".

Hình 19.9 gồm hai hình liền nhau đều bằng chữ Hán, trong đó một hình chụp lại như một tấm gỗ được khắc 4 chữ Hán mà nhiều học sinh cho là "sách giáo khoa in ngược hình vì chữ bị trái".

Toàn bộ trang 77 của sách Lịch sử - Địa lý 8 bộ Chân Trời Sáng Tạo do Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành - Ảnh: MỸ DUNG

Toàn bộ trang 77 của sách Lịch sử - Địa lý 8 bộ Chân Trời Sáng Tạo do Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành - Ảnh: Mỹ Dung

"Em nghĩ sách giáo khoa in hình ngược nên hỏi cô giáo có phải không? Hình này có nghĩa là gì? Cô giáo xác nhận nó bị ngược nhưng cô nói để cô trả lời về ý nghĩa sau" - một học sinh lớp 8 tại một trường THCS ở TP.HCM nói với phóng viên báo Tuổi Trẻ và cho biết nhiều học sinh ở lớp em hoàn toàn không hiểu gì về hai hình ảnh bằng chữ Hán được đăng tải ở trang 77 này.

"Em học tiếng Trung nên khi nhìn hình em băn khoăn tự hỏi sao chữ Hán này nó bị ngược vậy. Ở nhà đọc sách mãi nhưng em cũng không hiểu, đến lớp em hỏi nhiều bạn thì các bạn đều nói hình này bị ngược và chúng em đều không hiểu gì cả", một học sinh khác nói thêm.

Một giáo viên THCS dạy môn lịch sử nhận xét: "Với hai hình vẽ về các chữ ngày xưa (chữ Hán) và chú thích kiểu đó, nói thật ngay cả giáo viên chúng tôi cũng không hiểu gì. Học sinh hỏi tôi cũng "ngớ người" luôn.

Đã là sách giáo khoa thì phải tường minh, chú thích rõ ràng nhưng ở đây học sinh và giáo viên cũng không biết hình nào với hình nào, châu bản là gì, mộc bản là gì. Vì thiếu chú thích như vậy nên học sinh và cả giáo viên đều tưởng sách giáo khoa in bị lỗi, bị ngược".

Trả lời Tuổi Trẻ, TS Vũ Thị Thanh Trâm, giảng viên bộ môn Hán Nôm - khoa văn học Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM), cho biết hình ảnh 19.9 bị học sinh cho là ngược chính là hình mộc bản của bìa bộ "Hoàng Việt luật lệ" dưới triều Nguyễn.

"Hình 19.9 phía phải trong sách giáo khoa lịch sử lớp 8 nói trên không phải bị in ngược mà in đúng chiều. Mộc bản là những bản gỗ khắc chữ ngược dùng để in ra các sách được sử dụng phổ biến dưới triều Nguyễn.

Mộc bản phải khắc ngược thì khi bôi mực lên, dập giấy mới cho ra những cuốn sách đúng chữ, mới đọc được. Vì thế, nếu người nhìn không biết đây là hình về mộc bản thì cứ tưởng là hình bị ngược. Với chữ Hán, vì giáo viên, học sinh và nhiều người không biết loại chữ này nên sẽ tưởng bị ngược", cô Trâm nói.

Vì thế, cũng theo TS Vũ Thị Thanh Trâm, để tránh hiểu nhầm cho học sinh, giáo viên, sách giáo khoa cần chú thích rõ ràng cho hình ảnh được sử dụng. Ngoài ra, đối với hình ảnh mộc bản như thế này, sách giáo khoa nên in cả hình mộc bản và hình của bản giấy để học sinh, giáo viên có thể hiểu thêm về ý nghĩa của hình ảnh mang lại.

"Mộc bản" sách Hoàng Việt luật lệ là gì?

Mộc bản sách Hoàng Việt luật lệ là những tài liệu gốc rất đáng tin cậy đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử pháp luật Việt Nam nói riêng. Mộc bản sách Hoàng Việt luật lệ là những bản gỗ khắc chữ Hán ngược để in ra sách Hoàng Việt luật lệ.

Mỹ Dung

Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 29.3.2024

Giữa năm 1915, Vua Duy Tân và các cận thần lên kế hoạch nổi dậy nhằm giành lại độc lập cho đất nước. Thông qua các thị vệ, vua Duy Tân đã có mối quan hệ bí mật với các thủ lĩnh quân sự ở trong và ngoài nước để ủng hộ Ngài. Tuy nhiên, do có kẻ phản bội nên kế hoạch bất thành. Sau thất bại, một số bị bắt và Vua Duy Tân bị Pháp đày đến đảo Réunion ở Ấn Độ Dương…

Bí mật trong tờ chiếu của nhà vua

Theo căn cứ hiệu lịch sử cho biết: Vua Duy Tân là con thứ 8 của Vua Thành Thái và bà Hoàng phi Nguyễn Thị Định. Vua Thành Thái có nhiều con trai, đáng lẽ phải chọn người con trưởng kế vị, nhưng người Pháp sợ một vị vua trưởng thành khó sai khiến nên chọn một người nhỏ tuổi.

Khi Khâm sứ Fernand Ernest Lévecque cầm danh sách các hoàng tử con Vua Thành Thái vào hoàng cung chọn vua, lúc điểm danh thiếu Vĩnh San. Triều đình cho người đi tìm thấy Vĩnh San đang chơi đùa, mặt mày lem luốc. Không kịp đưa về nhà tắm rửa, Vĩnh San ra trình diện quan Pháp. Người Pháp trông thấy đồng ý ngay vì thấy Vĩnh San có vẻ nhút nhát. Triều đình thấy vua quá nhỏ nên xin tăng thêm 1 tuổi thành 8, đặt niên hiệu cho Vĩnh San là Duy Tân.

Ngày 5/9/1907, Vĩnh San lên ngôi lấy niên hiệu là Duy Tân. Và chỉ một ngày sau lễ đăng cơ, Duy Tân đã đổi khác. Một nhà báo Pháp đã thuật lại: Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên 8.

Việt Nam Quang Phục hội được Phan Bội Châu thành lập từ năm 1912. Biết được Vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên quyết định móc nối. Hai lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên bỏ tiền vận động tài xế của Vua Duy Tân xin thôi việc. Thay vào đó là Phạm Hữu Khánh, thành viên của hội, tham gia vai trò này để cận kề nhà vua.

Tháng 4/1916, khi Vua Duy Tân ra bãi tắm Cửa Tùng nghỉ mát, Phạm Hữu Khánh đưa cho vua bức thư của hai lãnh tụ trên. Duy Tân đọc thư và muốn gặp. Hôm sau, 3 người cùng đến câu cá ở Hậu Hồ, Vua Duy Tân đồng ý tham gia cuộc khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3/5/1916.

Tuy nhiên, thiên cơ bị lộ, cuối tháng 4, một thành viên của Việt Nam Quang Phục hội ở Quảng Ngãi là Võ An đã làm lộ tin. Chiều ngày 2/5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi là De Taste mật điện báo với Khâm sứ Trung Kỳ. Nghe tin, Khâm sứ Charles ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt cất vào kho và cấm trại không cho mọi người ra ngoài.

Đêm 2/5/1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón Vua Duy Tân. Nhà vua cải trang thường dân đi cùng 2 người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang Phục hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến 3 giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa Vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi nhưng sáng 6/5/1916, họ bị bắt.

Pháp bắt triều đình Huế phải xử, Thượng thư Bộ học Hồ Đắc Trung được ủy nhiệm thảo bản án. Trần Cao Vân khi đó bị giam trong ngục, nhờ được người đưa tin cho Hồ Đắc Trung xin được lãnh hết tội và xin tha tội cho vua. Hồ Đắc Trung làm án đổ hết tội cho Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. 4 người bị xử chém ở An Hòa. Năm 1916, vua Duy Tân bị đày đi đảo Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái.

Bà Nguyễn Thị Minh Thâm (nguyên Hiệu phó Trường THPT Yên Hòa, có ông nội là một yếu nhân của phong trào Đông Du) khi tra cứu tại thư viện Mediathequa ở TP Hồ Chí Minh đã tìm thấy cuốn sách tiếng Pháp nhan đề: “Les Sociétés Secrètes en Terre d’Annam” (Các tổ chức bí mật ở vùng đất An Nam) của tác giả Georges Coulet, xuất bản tại Sài Gòn năm 1926 viết về cuộc khởi nghĩa năm 1916, ở trang 22 có đoạn: “Ngay trong đêm 3 rạng sáng 4/5, Khâm sứ được báo động về cuộc đảo chính của Vua Duy Tân. Vùng bao quanh Hoàng thành được canh gác ngay. Dưới một tấm gạch lớn của nền nhà, tìm thấy tờ chiếu của nhà vua, kêu gọi mọi người nổi dậy chống quân Pháp và  phong tướng cho Nguyễn Đức Công, bí danh là Hoàng Trọng Mậu…”.

Trong quyển sách “Monarchie et fait colonial au Vietnam” (Chế độ quân chủ và thực dân ở Việt Nam), Giáo sư Nguyễn Thế Anh đã cho chụp nguyên bản lời kêu gọi của nhà vua Duy Tân và bốn người được vua phong tướng. Đó là các ông Nguyễn Đức Công được phong Tả tướng quân thống lĩnh toàn thể; Nguyễn Bùi Lễ ở tỉnh Quảng Nam; Trần Phu ở Bình Định; Vũ Đình Xán ở Nghệ An chỉ huy các cánh quân tại chỗ. Theo nhận xét của Giáo sư Thế Anh qua “lời kêu gọi” này cho thấy “những thành viên của phong trào Phan Bội Châu đã có một đường dây liên lạc bí mật với vua…”.

Những chi tiết này đã không hề được chí sĩ Phan Bội Châu nhắc tới trong hồi ký của mình sau này, có lẽ là do ông muốn bảo vệ an toàn cho những người đang còn hoạt động. Và nó mới được biết đến gần đây khi gia đình chí sĩ Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) thu thập các tài liệu của người ông nội oai hùng của họ tộc Nguyễn Đức (Nghi Trung – Nghi Lộc – Nghệ An).

Nguyễn Đức Công là ai?

Chí sĩ Hoàng Trọng Mậu tên thật là Nguyễn Đức Công, tự là Báu Thụ, sinh năm 1874 trong một gia đình nho học tại xã Cẩm Trường, tổng Kim Nguyên, nay là xã Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An, một miền quê nghèo khó nhưng hiếu học và cách mạng. Thân phụ ông là cụ Nguyễn Đức Tân, đậu cử nhân, làm quan Hành tẩu trong triều đình nhà Nguyễn - một nhà nho yêu nước từng tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp. Hoàng Trọng Mậu được xem là người đặc biệt thông minh, thông thạo cổ văn Trung Quốc. Ông đỗ đầu trong kỳ thi toàn tỉnh Nghệ An, nên thời đó gọi ông Đầu xứ Công.

Gặp lúc Phong trào Đông Du nổi lên, ông hăng hái tham gia từ rất sớm. Năm 1908, ông sang Nhật học trường Đông Á Đồng Văn Thư viện tại Tokyo. Ông là người làm ghi chú và viết lời tựa cho cuốn “Việt Nam Quốc sử Khảo” của Phan Bội Châu. Năm 1909, Hiệp ước giữa Pháp và Nhật được ký kết. Theo đó, Pháp cho Nhật vào Việt Nam buôn bán; đổi lại, Nhật không cho các nhà cách mạng và học sinh Việt Nam lưu trú ở Nhật nữa. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật Bản, Hoàng Trọng Mậu sang học và tốt nghiệp Trường Võ bị ở Trung Quốc.

Năm 1912, ông tham gia sáng lập Việt Nam Quang Phục Hội, giữ chức Bí thư và Quân ủy viên (Ủy viên phụ trách quân sự). Hoàng Trọng Mậu cùng với Phan Bội Châu thảo “Việt Nam Quang Phục quân phương lược” (Chiến lược cách mạng của Việt Nam Quang Phục quân).

Ở Trung Quốc, cách mạng Tân Hợi thoái trào, Viên Thế Khải làm Tổng thống Trung Hoa Dân quốc thay Tôn Trung Sơn; Việt Nam Quang Phục Hội lâm vào tình cảnh vô cùng khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, Hoàng Trọng Mậu vẫn tiếp tục kiên trì hoạt động. Ông đến Quảng Tây tìm cách liên kết với lực lượng dân quân.

Tháng 3/1915, theo sự chỉ đạo của Phan Bội Châu, Hoàng Trọng Mậu chỉ huy cánh quân tấn công quân Pháp ở đồn Tà Lùng (cửa khẩu ở huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng). Theo tài liệu mật thám Pháp, mới đầu Quang Phục Hội định tấn công Đông Khê (Lạng Sơn) nhưng sau Nguyễn Hải Thần có nội ứng tại Tà Lùng nên chọn Cao Bằng.  Cánh quân  này có gần 100 tay súng (theo hồ sơ lưu trữ của Pháp) Nhưng cuộc tấn công thất bại do không liên lạc được với nội ứng trong đồn. 

Ngày 28/5/1915, khi đang ở Hương Cảng đợi tàu đi Thái Lan để tiếp tục quyên góp cách mạng, Hoàng Trọng Mậu bị mật thám Pháp phát hiện và nhờ cảnh sát Anh bắt. Sau đó chúng đưa ông về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Sau 8 tháng giam cầm tra tấn, kết hợp với dụ dỗ mua chuộc, thực dân Pháp không thể khuất phục được ý chí kiên cường của nhà chí sĩ yêu nước, ngày 24/1/1916, chúng đã đưa ông ra xử bắn tại trường bắn Bạch Mai. Trước khi hy sinh ông để lại câu đối tuyệt mệnh để tỏ ý chí anh hùng không khuất phục. Nhiều nhà cách mạng ở nước ngoài như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền đã có những áng thơ lâm ly khóc ông.

Nhà thơ Anh Ngọc là cháu nội chí sĩ cho biết, trong nhiều năm gia đình đã đi tìm các tư liệu về chí sĩ Hoàng Trọng Mậu thì đã phát hiện tài liệu bí mật về mối quan hệ của Vua Duy Tân với phong trào Đông Du. Tờ chiếu này do mật thám Pháp tìm được khi bắt và lục soát nơi ở của Vua Duy Tân.

Trong buổi lễ kỷ niệm 100 năm ngày chí sĩ Hoàng Trọng Mậu hy sinh, Giáo sư Sử học Lê Văn Lan nói: “Như vậy khi đọc bản di bút này của Vua Duy Tân, chúng ta đã xác định rõ ràng có mối quan hệ bí mật giữa phong trào Đông Du và cuộc khởi nghĩa bất thành của Vua Duy Tân. Người Việt mình dù ở trong nước hay ngoài nước, nhà vua hay thường dân cũng đều có một tấm lòng yêu nước  nồng nàn  như nhau. Đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”.

 Dịch nghĩa tờ Chiếu của Vua Duy Tân:

20240404 5

Kính thừa Thiên mệnh

Hoàng đế truyền rằng:

Trẫm thấy tỏ rằng trong khắp đất nước Đại Nam ta, biết bao những thần dân can trường, dũng cảm, tận tụy, tràn đầy lòng hy sinh cao cả cho non sông đất nước, đang phải trôi dạt  lẩn khuất giữa chốn núi rừng. Những thần dân cao cả đó giờ đây đang rời nơi ẩn náu để cùng nhau tiến hành cuộc chiến đấu chống lại bọn người Tây phương.

Hỡi các Ngươi! Các thần dân can trường bất khuất của Vương quốc. Tất cả các ngươi đều là những thần dân dũng cảm, giàu lòng ái quốc, sôi sục bầu nhiệt huyết cao quý. Nếu các ngươi muốn thấy gia đình dòng tộc được bền vững dài lâu và còn muốn bảo vệ Đức Vua của đất nước Đại Nam, các ngươi hãy cùng tụ hội về lãnh địa làng Văn Xá phủ Thừa Thiên. Đó là nơi vốn có một ngọn núi nhỏ.

Trẫm chỉ định các thần dân dưới đây được lãnh trọng trách làm tướng:

- Một người là Ông Nguyễn Đức Công ở tỉnh Hà Tĩnh.

- Một người là Ông Nguyễn Bùi Lễ ở tỉnh Quảng Nam.

- Một người là Ông Trần Phu ở tỉnh Bình Định.

- Một người là Ông Vũ Đình Xán ở tỉnh Nghệ An.

Trẫm phong cho Ông Nguyễn Đức Công làm Tả quân chính đạo thống lãnh toàn thể các đạo quân cánh trái; phong các ông Lễ, Phu, Xán làm Thư toán, chỉ huy các đạo quân.

Ngày 22 tháng 3 năm Duy Tân thứ 9.

Ngự bút.

Nguyễn Thiên Việt

Nguồn: An ninh thế giới giữa và cuối tháng, ngày 25.3.2024.

K.VH&NNH - Vào ngày 27.01.2026, tại Văn phòng Khoa (phòng A.214, cơ sở Sài Gòn, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM), Ban Chủ nhiệm Khoa Văn học và Ngôn ngữ học cùng các giảng viên chuyên ngành Hán Nôm đã có buổi tiếp đón và làm việc với PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Tiếp đón PGS. TS Nguyễn Tuấn Cường, có PGS.TS Phan Mạnh Hùng, Trưởng khoa, PGS.TS Lê Quang Trường, Trưởng ngành Văn học, và các cán bộ giảng viên chuyên ngành Hán Nôm.

Buổi làm việc diễn ra trong không khí học thuật chuyên sâu nhưng không kém phần ấm cúng. Đại diện Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, PGS.TS Phan Mạnh Hùng, cùng các giảng viên của chuyên ngành Hán Nôm đã trực tiếp tham gia trao đổi các vấn đề chuyên môn về nghiên cứu Hán Nôm và hợp tác quốc tế.

20260203 2

Tháng 11/2023, không gian trưng bày “Châu bản triều Nguyễn - Ký ức một triều đại” đã được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước) tổ chức với nhiều tư liệu quý lần đầu được công bố. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, hàng trăm ngàn tài liệu gốc quý giá có niên đại từ trên 200 năm đang được lưu giữ, bảo quản trong điều kiện tốt nhất tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và vẫn đang tiếp tục được “giải mật”...

“Lênh đênh” như Châu bản triều Nguyễn

Trải qua 143 năm tồn tại (1802 - 1945), triều Nguyễn đã lưu dấu ấn trong lịch sử về thống nhất giang sơn, xác lập chủ quyền, quan hệ bang giao, kiến thiết kinh đô, văn hóa giáo dục, đời sống xã hội, thiết chế hành chính, chế định luật pháp, khoa cử thư tịch, giữ gìn chủ quyền biển đảo… Tất cả các hoạt động này đều được phản ánh khá rõ nét và chính xác qua hệ thống Châu bản triều Nguyễn còn lưu giữ được đến ngày nay.

Mở đầu

Từ thế kỷ XVI các giáo sĩ dòng Tên bắt đầu đến truyền giáo ở Trung Quốc. Cùng với Kinh Thánh, giáo lý Thiên chúa giáo, họ mang đến tri thức khoa học của phương Tây, chủ yếu là các tri thức thời Phục hưng, trong đó quan trọng nhất là tri thức về y khoa, thiên văn học và địa lý thế giới. Trong bài viết này chúng tôi giới thiệu các sách địa lý thế giới viết bằng Hán văn, những sách này có tính chất khai sáng đối với phương Đông về thế giới năm châu. Đó là các sách: giới thiệu bản đồ thế giới theo cách vẽ phương Tây của Lợi (Lị) Mã Đậu 利瑪竇/  Mateo Ricci (1552-1610), các sách địa lý thế giới bằng Hán văn của Ngải Nho Lược 艾儒略/ Giulio Aleni (1582 – 1649), Nam Hoài Nhân 南懷仁/ Ferdinand Verbiest (1623 - 1688), Hợp Tín 合信/ Benjamin Hobson (1816-1873)… Từ đó các học giả Trung Quốc cũng hình thành nên các sách địa lý thế giới của mình. Các sách được các nhà nho Việt Nam biết đến, tiếp thu với tinh thần khoa học, có phê phán, bước đầu tạo thành phong trào khai sáng ở Việt Nam. 

 1. Các sách địa lý thế giới bằng Hán văn của các học giả phương Tây và Trung Quốc thời Minh Thanh

1.1. Sách địa lý thế giới của các giáo sĩ phương Tây:

1.1.1. Khôn dư vạn quốc toàn đồ 坤輿萬國全圖 (Bản đồ các nước trên trái đất)

Bản đồ do Lợi (Lị) Mã Đậu 利瑪竇/ Matteo Ricci (1552-1610) giới thiệu. Đây không phải sách mà là bản đồ thế giới, tấm bản đồ thế giới đầu tiên ở Trung Quốc. Matteo Ricci, tự Tây Thái 西泰,người Ý, nhà truyền giáo, học giả. Năm 1582, thời Vạn Lịch nhà Minh, ông được phái sang Trung Quốc truyền giáo. Ông ở Trung Quốc 28 năm, mất năm 1610 ở Bắc Kinh. Ông là một trong những giáo sĩ truyền giáo sớm nhất ở Trung Quốc. Lúc đầu ông đến Áo Môn, Quảng Đông, sau đi Nam Xương, Nam Kinh, Bắc Kinh truyền giáo. Chủ trương của ông là tôn trọng tôn giáo, tư tưởng bản địa, dùng tiếng Trung Quốc để truyền giáo, nhờ thế mà truyền bá Thiên chúa giáo rất thành công. Về học thuật, ông là người tiên phong mang tri thức khoa học phương Tây vào truyền bá ở Trung Quốc như toán học, địa lý... Đồng thời cũng là người giới thiệu học thuật Trung Hoa đến với Phương Tây: ông là người đầu tiên dịch Tứ thư ra tiếng Latin.

Khôn dư vạn quốc toàn đồ là bản đồ thế giới theo kiểu phương Tây lần đầu tiên được giới thiệu ở Trung Quốc, đương thời được khắc in đến 12 lần.

20250806Khôn dư vạn quốc toàn đồ

1.1.2. Chức phương ngoại kỷ 職方外紀 (Ghi chép những điều mà sách địa lý cổ không ghi)

Đây là trước tác tiêu biểu của địa lý học châu Âu, tác giả là nhà truyền giáo người Ý  Giulio Aleni/ Ngải Nho Lược 艾儒略 (1582 – 1649), hoàn thành vào năm 1623, dựa trên bản thảo của Long Địch Ngã 龐迪我/ Diego de Pantoja (1575 – 1620) và Hùng Tam Bạt 熊三拔/ Sebatian de Ursis (1575 – 1620). Giulio Aleni đến Trung Hoa năm 1610 (thời Vạn Lịch), ở Áo Môn, làm giáo sư thần học. Năm 1613 truyền giáo ở Phúc Kiến. Ông nổi tiếng là nhà Hán học uyên bác, được xưng tụng là “Khổng Tử phương Tây” (Tây lai Khổng Tử 西来孔子). Ông nghiên cứu sâu về thiên văn, lịch pháp. Sách Chức phương ngoại kỷ là công trình thứ hai giới thiệu địa lý thế giới tiếp theo Khôn dư vạn quốc toàn đồ của Lợi Mã Đậu nói ở trên. Sách có 5 quyển:      

Quyển 1: Tổng thuyết về châu Á, châu Á và các đảo biển Nam và Địa Trung Hải (Á Tế Á, Nam dương hòa Địa Trung Hải các đảo 亞細亞,南洋和地中海各島).

Quyển 2: Châu Âu (Âu La Ba 歐羅巴)

Quyển 3:  Châu Phi (Lợi Vị Á 利未亞)

Quyển 4:  Châu Mỹ (Á Mặc Lợi Gia 亞墨利加)

Quyển 5: Tổng thuyết về 4 biển.

Phụ lục Bảy bản đồ: (1) Vạn quốc toàn đồ, (2) Bắc dư toàn đồ (Bắc bán cầu), (3) Nam dư toàn đồ (Nam bán cầu), (4) Châu Á, (5) Châu Âu, (6) Châu Phi, (7) Nam-Bắc Mỹ.

20250806 2Chức phương ngoại kỷ

1.1.3. Khôn dư đồ thuyết 坤輿圖說 (Thuyết minh bản đồ trái đất) 

Sách địa lý do Nam Hoài Nhân南 懷 仁 (Ferdinand Verbiest) TK.XVII viết bằng chữ Hán, và được xuất bản năm 1674. Sách chia ra làm 2 quyển: Thượng - Hạ, nhằm giải thích cho tập bản đồ khắc in cùng năm là Khôn dư toàn đồ.

Nam Hoài Nhân/ Ferdinand Verbiest (1623-1688), người Bỉ, lúc nhỏ học ở trường dòng. Năm 1657 theo cha là M.Martin đến Áo Môn, Trung Quốc truyền giáo, ở Trung Quốc nhiều năm. Sau vua Minh là Sùng Trinh đưa ông về Bắc Kinh phụ trách việc lịch pháp và toán pháp. Năm 1669 ông được vua Thuận Trị nhà Thanh phong chức Khâm Thiên Giám. Năm 1675 ông giúp vua Thanh chế tạo pháo và bình được loạn Ngô Tam Quế, nên càng được vua Thanh tín nhiệm. Verbiest tinh thông thiên văn, địa lý, toán pháp, thường được mời vào dạy cho vua Khang Hy nhà Thanh, được vua Thanh cho chức Công Bộ hữu thị lang. Lúc mất ông được ban cho tên thụy là Cần Mẫn.

Nội dung Khôn dư đồ thuyết bao gồm 2 quyển: Quyển thượng chủ yếu trình bày về thường thức địa lý tự nhiên, Quyển hạ chủ yếu về địa lý nhân văn. Sách ghi chép về những điều liên quan đến năm châu, đa số là lấy từ Chức phương ngoại kỷ 職方外紀 (Ngải Nho Lược 艾儒略 Giulio Aleni, 1582 – 1649) lược chép và gia công thêm.

Chi tiết hơn thì thấy: Quyển thượng bao gồm: Trái đất hình tròn, địa cầu có hai cực nam bắc, động đất, núi non, sự chuyển động của nước biển, hải triều, sông ngòi, các con sông lớn trên trái đất, sự lưu chuyển của không khí, gió, mây mưa, nhân vật…. Quyển hạ bao gồm: Châu Á và các nước, các đảo chia ra 14 tắc; Châu Phi và các nước, các đảo chia ra 14 tắc; Châu Mỹ và tổng quan về bốn biển. Cuối quyển hạ có phụ các vật lạ: động vật (chim, thú, cá, sâu…) tổng cộng 23 loại cùng 7 kỳ tích trên thế giới, tất cả 32 bức.

20250806 3Khôn dư đồ thuyết

1.1.4. Bác vật tân biên 博物新編 (Sách mới về vạn vật)

Bác vật tân biên là sách giới thiệu khoa học phổ thông do bác sĩ người Anh Benjamin Hobson (1816-1873) biên soạn.

Hobson có tên Trung Hoa là Hợp Tín 合信, là bác sĩ đồng thời là giáo sĩ người Anh. Sau khi tốt nghiệp ngành y khoa, năm 1839 ông được cử đến Áo Môn (Trung Quốc) làm bác sĩ truyền giáo ở bệnh viện của Giáo hội. Năm 1843 được phái đến Quảng Châu phụ trách công tác ở hiệu thuốc và bệnh viện. Năm 1855 ở Quảng Châu ông biên soạn sách Bác vật tân biên để giới thiệu tri thức khoa học tự nhiên của phương Tây. Ông còn biên soạn nhiều sách khoa học nữa bằng tiếng Hoa: Toàn thể tân luận全體新論 (giải phẫu sinh lý người), Tây y lược luận西醫略論 (sơ lược về Tây y), Phụ anh tân thuyết婦嬰新說 (sách mới về phụ khoa, nhi khoa), Nội khoa tân giới 內科新誡 (giới thiệu mới về nội khoa)…sách đều do Thượng Hải Mặc Hải thư quán xuất bản. Sách ông được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, từng được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Hàn. Năm 1859 ông về Anh sống cho đến cuối đời.

Bác vật tân biên tập trung giới thiệu khoa học cận đại Phương tây, toàn bộ có  3 tập:

-         Tập 1: Vật lý: nhiệt, nước, ánh sáng, điện, các thể khí…

-         Tập 2: Thiên văn, Địa lý (mặt trời, sao chổi, quả đất, kinh tuyến, vĩ tuyến, các châu lục và đại dương…)

-         Tập 3: Động vật (các giống cầm thú trên trái đất)

20250806 4Bác vật tân biên

1.1.5. Hàng hải kim châm 航海金針 (Sách chỉ cách đi biển)

Sách chỉ cách đi biển do Daniel Jerome Macgowan (1814-1893) biên soạn. Ông có tên Trung Quốc là Mã Cao Ôn 瑪高温là bác sĩ và nhà truyền giáo người Mỹ, được phái đến Trung Quốc năm 1859. Sau đó được phái đến Nagasaki (Nhật Bản) dạy tiếng Anh. Năm 1862 về nước làm quân y trong cuộc chiến Nam Bắc ở Mỹ. Sau ông lại quay lại Trung Quốc, biên soạn sách giới thiệu khoa học phương Tây bằng tiếng Hán, rồi sang Nhật nghiên cứu văn hóa Nhật Bản. Năm 1893 mất ở Thượng Hải. Hàng hải kim châm航海金針giới thiệu từ những tri thức nhập môn về khí tượng học (nguyên lý phát sinh bão), sau đó là các tri thức địa lý cần thiết cho việc đi biển. Sách được Ái Hoa Đường xuất bản ở Trung Quốc năm Hàm Phong thứ 3 (1853).

20250806 5Hàng hải kim châm

1.1.6. Địa cầu thuyết lược 地球説略 (Sơ lược về trái đất)

Sách do nhà truyền giáo người Mỹ là Richard Quarterman Way (1819 -1895) tên Trung Hoa là Huy Lý Triết 褘理哲biên soạn. Richard Quarterman Way đến Ninh Ba, Trung Quốc truyền giáo năm 1844. Ở Trung Quốc 15 năm biên soạn sách Địa cầu thuyết lược bằng Hán văn, xuất bản lần đầu 1848, chỉnh sửa xuất bản 1856. Sách được truyền sang Nhật, năm 1878 được huấn điểm bởi Mitsukuri Genpo 箕作阮甫 (1799 - 1863), là nhà Lan học, quê ở Okayama, từng làm giáo sư ở Phiên sở điều sở của Mạc phủ.

Sách có 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ

- Quyển thượng: Bản đồ Đông-Tây bán cầu, giới thiệu địa lý tự nhiên trái đất; châu Á

- Quyển trung: Châu Âu

- Quyển hạ: Châu Phi, châu Mỹ.

Sách từng được lưu hành rất rộng rãi.

20250806 6Địa cầu thuyết lược

Trước khi có các sách địa lý thế giới do người phương Tây giới thiệu, trí thức Trung Quốc hình dung ra thế giới chỉ bao gồm Trung Hoa và các nước xung quanh: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, các nước Đông Nam Á, xa nữa thì Tây Trúc (Ấn Độ) và Tây vực (Nam Á, Trung Cận Đông). Nhờ có các sách địa lý phương Tây mà họ biết đến thế giới năm châu, các đại dương, trái đất hình cầu với kinh tuyến và vĩ tuyến. Những sách ấy mở đường cho phong trào khai sáng ở Trung Quốc và từ đó lan ra các nước khu vực văn hóa chữ Hán: Nhật, Hàn, Việt. 

1.2. Sách địa lý thế giới của các học giả Trung Quốc:

Kế thừa các sách phương Tây, để đáp ứng tình hình hiểu biết thế giới, người Trung Quốc cũng bắt đầu soạn các sách địa lý thế giới.

1.2.1. Đông Tây dương khảo 東西洋考 (Khảo về các xứ phía đông và tây của biển Đông Nam Á):

Sách do Trương Nhiếp 張燮người đời Minh biên soạn, hoàn thành năm 1617. Thời Minh, Đông dương chỉ phía đông của biển Đông Nam Á; Tây dương chỉ phía Tây của biển Đông Nam Á, cụ thể là các nước và địa phương như ở dưới.

Sách Đông Tây dương khảo có 12 quyển:

- Quyển 1 đến quyển 4: Tây dương liệt quốc khảo: Ghi chép về địa lý, lịch sử, khí hậu, danh thắng, sản vật của các nước, các thành phố, địa phương: Giao Chỉ 交阯, Chiêm Thành占城, Tiêm La暹羅 (Thái Lan), Hạ Cảng 下港 (tức Banten Sultanate, phía tây đảo Java 爪哇岛 của Indonesia), Giản Phố Trại 柬埔寨 (Campuchia), Đại Nê 大泥 (cũng viết Thái Nê 太泥, ở bán đảo phía nam của Thái Lan), Cựu Cảng 舊港(cũng gọi Cự Cảng 巨港 (Palembang) phía tây nam Malaysia), Ma Lục Giáp麻六甲 (cảng ở Malaysia), Á Tề 啞齊(cảng ở Malaysia), Bành Hưởng彭亨 (Pahang, Malaysia), Nhu Phật柔佛 (Johor, Malaysia), Đinh Cơ Nghi丁機宜(Trengganu, Malaysia), Tư Cát Cảng思吉港(thuộc đảo Java, Indonesia), Văn Lang Mã Thần文郎馬神 (đảo Kalimantan, Indonesia), Trì Muộn 遲悶 (phía nam quần đảo Malaysia). 

- Quyển 5, 6: Đông dương liệt quốc khảo: Ghi chép về Lữ Tống吕宋 (Philippines), Tô Lộc 蘇祿 (Sulu, Philippines), Miêu Lý Vụ 貓里務 (thuộc Philippines), Sa Dao沙瑤 (Sayao, Philippines), Nột Tất Than 吶嗶嘽 (Dapitan, Philippines), Mỹ Lạc Cư 美洛居 (Maluku, thuộc Indonesia), Văn Thái 文莱 (Brunei), Nhật Bản日本, Hồng Mao Phiên紅毛番 (Đài Loan).  

- Quyển 7 đến quyển 12: Các hạng mục thuế má, hải quân, văn nghệ, chuyện cổ.

Trương Nhiếp xem rộng các sách: Thủy kinh chú, Tống sử, Đường thư, Đảo di chí 島夷志, Đại Minh nhất thống chí, Doanh nhai thắng lãm瀛涯勝覽, Chân Lạp phong thổ ký 真臘風土記và các loại sách chỉ dẫn cách đi biển để viết nên công trình này.  

20250806 7Đông Tây dương khảo

1.2.2. Hải quốc văn kiến lục 海國聞見綠 (Ghi chép những điều tai nghe mắt thấy về các nước ven biển)

Sách do Thủy sư đề đốc đời Thanh là Trần Luân Quýnh 陳倫炯 (1687-1751) viết, hoàn thành năm 1730. Trần Luân Quýnh (1687-1751), người thôn Cao Phố, xã An Nhơn, huyện Đồng An, tỉnh Phúc Kiến (nay thuộc quận Tập Mỹ, thành phố Hạ Môn). Thuở nhỏ theo cha đi biển, quen sóng gió, biết rõ hình thế trên biển. Thời Thanh Khang Hy được tập ấm, làm chức Túc vệ. Từng theo vua Khang Hy săn bắn, vua bất ngờ hỏi tình hình các nước, ông đều đối đáp trôi chảy. Sau nhờ có công dẹp loạn nên được thăng làm Đài Loan Nam lộ Tham tướng. Thời Ung Chính được phong Tấn Bành Hồ phó tướng, rồi bổ làm Đài Loan trấn Tổng binh. Sau lên đến Thủy sư đề đốc Chiết Giang, Ninh Ba. Ông dùng hiểu biết của mình mà viết sách Hải quốc văn kiến lục.  

Sách Hải quốc văn kiến lục viết về các nước và đường đi ven biển khắp năm châu. Sách vừa kế thừa sách vở Trung Quốc vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc sách và bản đồ phương Tây. Hải quốc văn kiến lục chia làm 2 quyển.

- Quyển thượng có 8 thiên: ghi chép hình thế ven bờ các vùng biển: Đông dương (phía đông biển Đông Nam Á), biển Đông Nam, biển Nam, Tiểu Tây dương (Ấn Độ), Đại Tây dương, Côn Lôn, Nam Áo khí.

- Quyển hạ có 6 bức địa đồ bao gồm: Tứ hải tổng đồ, Duyên hải toàn đồ, Đài Loan đồ, Đài Loan Hậu sơn đồ, Bành Hồ đồ, Quỳnh Châu đồ.  

Với tính thực tiễn và xác thực, Hải quốc văn kiến lục có ảnh hưởng rất lớn đối với Trung Quốc và các nước trong khu vực.

 20250806 8

 20250806 9

Hải quốc văn kiến lục

 1.2.3. Doanh hoàn chí lược 瀛寰誌略 (Ghi chép sơ lược về thế giới)

Sách do Từ Kế Dư 徐 繼 畬 người đời Thanh biên soạn, hoàn thành vào năm 1849 thời Đạo Quang, toàn bộ có 10 quyển. Từ Kế Dư (1795-1873), người Sơn Tây. Thủa nhỏ ông được thụ hưởng nền giáo dục tốt, năm 31 tuổi thi đậu tiến sĩ, làm Hàn lâm viện biên tu, Giám sát ngự sử Thiểm Tây. Năm 1836 ông làm chức Tri phủ Tầm Châu tỉnh Quảng Tây, rồi làm quan ở Phúc Kiến đúng vào lúc xảy ra Chiến tranh nha phiến. Năm 1842 Từ Kế Dư lãnh chức Tào vận sứ (vận chuyển lương thực, hàng hóa trên sông biển), rồi Án sát sứ Quảng Đông, Bố chánh sứ Phúc Kiến, Tuần phủ Phúc Kiến, rồi Tổng đốc Mân Chiết (Phúc Kiến, Chiết Giang). Do tiếp xúc nhiều với người Tây phương, hiểu rõ tình hình các nước, nên ông đã biên soạn ra công trình Doanh hoàn chí lược. Năm 1852 do bị kết tội, ông bị cách chức cho về quê. Sau lại được bổ làm quan. Năm 1869 xin về hưu, năm 1873 mất ở quê nhà.

Mở đầu sách là giới thiệu địa cầu, sau đó là giới thiệu các châu: châu Á (Á Tế Á), châu Âu (Âu La Ba), châu Phi (A Phi Lợi Gia), châu Mỹ (Á Mặc Lợi Gia), trong đó giới thiệu phong thổ, nhân vật của các nước. Từ Kế Dư còn giới thiệu nền dân chủ của phương Tây, và ông là người Trung Quốc đầu tiên giới thiệu điều ấy. Bên trong có 42 tấm bản đồ, trừ bản đồ nhà Thanh, Triều Tiên, Nhật Bản, còn lại đều là các bản đồ do người châu Âu vẽ ra.

20250806 10Doanh hoàn chí lược

1.2.4. Hải quốc đồ chí 海國圖志 (Ghi chép bản đồ các nước ven biển) 

Sách do Ngụy Nguyên 魏源soạn. Ngụy Nguyên là người huyện Thiệu Dương tỉnh Hồ Nam, là nhà tư tưởng tiêu biểu cho Trung Quốc cuối đời Thanh. Năm Ngụy Nguyên 21 tuổi, cha ông được bổ làm quan ở Bắc Kinh, ông theo cha đến đó. Ông thường giao thiệp mật thiết với các trí thức yêu nước có tư tưởng canh tân bấy giờ như Lâm Tắc Từ 林則徐, Cung Tự Trân 龔自珍, nên chú trọng vào cái học giúp đời. Năm 1841 Ngụy Nguyên gặp tể tướng Lâm Tắc Từ mới bị cách chức ở Chiết Giang, hai người bàn luận thâu đêm. Được Lâm Tắc Từ ủy thác, ông soạn một bộ sách để khích lệ quốc dân, phản đối chính sách xâm lược của phương Tây. Dựa vào bộ sách Tứ châu chí 四洲志do Lâm Tắc Từ làm chủ biên, Ngụy Nguyên sưu tập rộng thêm các tư liệu khác, làm thành bộ Hải quốc đồ chí 50 quyển. Sau đó trong vòng 10 năm ông chỉnh lý, bổ sung, khiến bộ sách lên đến 100 quyển.

Hải quốc đồ chí được đánh giá là trước tác của thời đại khai sáng Trung Quốc. Với tư tưởng cơ bản “Sư Di chi trường kỹ dĩ chế Di” (師夷長之技以製夷: Học sở trường của phương Tây để đánh phương Tây) mà ông đề xuất, Hải quốc đồ chí đã đả phá những tư tưởng lạc hậu truyền thống như: tư tưởng nội hạ ngoại di (Trung Quốc là văn minh, phương Tây là dã man), trời tròn đất vuông, thiên triều Trung Hoa là trung tâm; từ đó ông đã xác lập một cái nhìn mới bằng tri thức khoa học phương Tây như: thế giới bao gồm năm châu bốn biển, những kiến thức khoa học tự nhiên và các loại văn hóa phương Tây khác. Công trình của ông đã hướng người Trung Quốc đến thời đại học tập phương Tây.

Hải quốc đồ chí có các thiên quan trọng sau đây: Trù hải thiên (Thiên Phòng thủ ngoài biển); Đông Nam dương; Tây Nam dương; Các nước Hồi giáo tổng khảo; Lợi Vị Á châu (châu Phi) các quốc đồ chí; Đại Tây Dương; Bắc Dương; Ngoại Đại Tây Dương; Quốc địa tổng luận; Di tình lược thái (Sơ lược về tình hình Tây Dương); Tây Dương khí nghệ tạp thuật.

 20250806 11  20250806 12
Hải quốc đồ chí

2. Sự tiếp thu các sách địa lý thế giới với tinh thần phê phán của các nhà nho Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

Người biết đến loại sách địa lý thế giới này đầu tiên ở Việt Nam là học giả Lê Quý Đôn (1726-1784). Trong Vân đài loại ngữ 芸臺類語 ông có nhắc đến Khôn dư đồ thuyết 坤輿圖說 của Ferdinand Verbiest, so sánh nó với thuyết Lý - Khí của Tống Nho và thấy nó thống nhất:

“Sách Khôn dư đồ thuyết của người Tây Dương nói: “Nếu không có khí thì bầu trời là hư không, làm sao đất có thể lủng lẳng ở giữa hư không được?” Sách ấy lại nói: “Giống chim lấy cánh gạt gió mà bay, cũng như người lấy tay gạt nước mà nổi lên trên”. Cũng lại nói: “Người ta hướng vào chỗ không mà vẩy tay tất thấy có tiếng vang, nếu ở trong đó không có khí, tất không có vật gì khác để sinh ra tiếng ấy được”. Sách ấy lại nói: “Kho trong không im lặng không có tiếng, ta thấy trong ánh sáng khe cửa có bụi bay lên bay xuống lung tung, chắc là do Khí gây nên như thế”. Tôi kể ra vài việc ấy để chứng minh rằng Khí là có thực, thế mà người ta lại còn ngờ cho là lạ! Nay xét sách Thông luận của Tiết Huyên đời Minh (1368 – 1643) có nói: “Phẩy cái quạt thấy có gió, thế đủ biết trong khoảng trời đất không chỗ nào là không có Khí”. Sách ấy lại nói: “Trong khoảng trời đất, bụi bay tơi bời không ngừng, không gián đoạn. Ấy đều do Khí sinh ra thế, xem ánh mặt trời chiếu vào cửa sổ thì biết” – Thuyết ấy cùng với đoạn trên này giống nhau: Sách Tố vấn cũng nói: “Khi lên xuống, khi ra vào, ta thấy đâu cũng đều có khí cả.”1

Hiện nay chúng tôi chưa biết chắc con đường lưu truyền sách Khôn dư đồ thuyết và các sách tương tự vào Việt Nam, tuy nhiên có thể phỏng đoán Lê Quý Đôn đi sứ Trung Quốc đã mua đem về.

Từ giữa thế kỷ XIX trở đi, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trước nhu cầu tìm hiểu nước Pháp và học thuật phương Tây để canh tân đất nước, các Nho sĩ cấp tiến đã tìm đọc sách địa lý thế giới bằng Hán văn rất nhiều. Nếu như trước kia thời Lê Quý Đôn chỉ có rất ít người đọc, đọc chủ yếu là tò mò muốn hiểu biết về một ngành học lạ, thì đến nay số người muốn tìm hiểu thế giới và học thuật phương Tây tăng lên đột ngột. Việc tìm đọc các sách về địa lý thế giới do các học giả phương Tây soạn đã thực sự mở ra phong trào Khai sáng ấy ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX. Theo tôi phong trào Khai sáng ấy được hình thành từ ba bộ phận:

 (1) Các nhà nho, đa số là quan viên có quan điểm canh tân như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Nguyễn Lộ Trạch, cùng những người gần gũi với khuynh hướng này như: Đặng Huy Trứ, Phan Thanh Giản, Ngụy Khắc Đản, Trần Tiễn Thành, Trần Đình Túc, Bùi Viện, Phạm Phú Đường...

(2) Các trí thức Thiên Chúa giáo mà tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ

 (3) Nhà trường Pháp-Việt và các học giả Tây học như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký.

Dưới đây xin trình bày việc ba nhà nho tiêu biểu Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Nguyễn Lộ Trạch đã tiếp thu các sách địa lý thế giới có tính khai sáng như thế nào.

Phạm Phú Thứ (1821-1882): người Quảng Nam, đậu Tiến sĩ, làm quan đến Thự Thượng thư bộ Hộ, Tổng đốc Hải An. Trước đó ông từng làm Phó sứ trong phái đoàn do Phan Thanh Giản dẫn đầu sang Pháp và Tây Ba Nha đàm phán chuộc đất năm 1863. Chuyến đi thất bại, về nước ông cho in sách Vạn quốc công pháp 萬國公法 (Pháp luật các nước). Trong lời tựa sách ấy, ông đề nghị in 6 cuốn sách sau để cho nho sĩ trong nước đọc2:

  1. Khai môi yếu pháp 開煤要法(Cách thức khai mỏ than): Tác giả là: Smyth, Warington Wilkinson/ Sĩ Mật Đức 士密徳 (1817-1890), nhà địa chất học người Anh và nhiều người khác viết, Vương Đức Quân 王徳均 dịch. Sách chỉ dẫn tường tận cách khai mỏ than, cách dẫn nước, thoát nước, lấy ánh sáng, dự phòng nguy hiểm. Công trình được coi là tư liệu quan trọng về kỹ thuật tiên tiến của châu Âu cuối đời Thanh. Sách do Lý Hồng Chương chủ trương biên dịch, khắc in. Đương thời tôn vinh là “Sách dịch khẩn cấp đặc biệt”.
  2. Doanh hoàn chí lược 瀛寰誌略 (Từ Kế Dư 徐 繼 畬): đã giới thiệu ở mục 1
  3. Địa cầu thuyết lược 地球説略 (Richard Quarterman Way/ Huy Lý Triết 褘理哲 (1819 - 1895) soạn): đã giới thiệu ở mục 1  
  4. Cách vật nhập môn 格物入門, sách do người Mỹ William Alexander Parsons Martin/ Đinh Vĩ Lương丁韙良soạn, gồm 7 quyển, xuất bản năm 1868. Sách do Từ Kế Dư 徐継畬, Đổng Tuân 董恂 đề tựa. Xuất bản ở Trung Quốc 1868, ở Nhật 1869. Quyển 1: Thủy học 水學, Quyển 2: Khí học 気學, Quyển 3: Hỏa học 火學, Quyển 4: Điện học電學, Quyển 5: Lực 力學, Quyển 6: Hóa học 化學, Quyển 7: Toán học hỗ trợ cách vật 算學協助格物.
  5. Bác vật tân biên 博物新編 (bác sĩ người Anh là Hợp Tín 合信Benjamin Hobson (1816-1873) biên soạn): đã giới thiệu ở mục 1
  6. Hàng hải kim châm 航海金針 (của Mã Cao Ôn 瑪高温/ Daniel Jerome Macgowan (1814-1893) biên soạn): đã giới thiệu ở mục 1

Trong các sách trên thì sách số 2, 3, 6 là sách địa lý thế giới; sách số 1 là sách dạy cách khai mỏ; sách số 4 và 5 là sách nhập môn về các ngành khoa học phương Tây. Tất cả các sách này đều là sách có tính Khai sáng.

Nói thêm về sách Vạn quốc công pháp. Sách do nhà ngoại giao, học giả luật pháp quốc tế người Mỹ tên là Henry Wheaton/ 惠頓Huệ Đốn (1785 - 1848) soạn, nhan đề tiếng Anh là Elements of International Law (Các nguyên tắc của luật pháp quốc tế). Sách được soạn xong vào năm 1836, sau đó được nhà truyền giáo người Mỹ là William Alexander Parsons Martin/ 丁韙良 Đinh Vĩ Lương (1827-1916) dịch ra Hán văn, và Kinh sư Đồng văn quán xuất bản năm 1864 (Đồng Trị thứ 3). Sách có 4 quyển:

- Quyển 1: Giải thích về Luật pháp quốc tế, nguồn gốc và những vấn đề quan yếu của nó. Quyển này có 2 chương bàn về luật pháp quốc tế, quyền tự chủ và tự trị của các quốc gia.

- Quyển 2: Bàn về quyền tự nhiên của các nước. Có 4 chương bàn về quyền tự chủ và tự vệ của các quốc gia, quyền chế định pháp luật, quyền bình đẳng giữa các nước, quyền sở hữu của các nước. 

- Quyển 3: Quyền về giao tế giữa các nước trong thời bình. Có 2 chương bàn về quyền của các công sứ, quyền ký kết các điều ước giao thương.

- Quyển 4: Bàn về quy định giao chiến. Có 4 chương bàn về khai chiến, quyền của các nước tham chiến, quyền trung lập, việc ký hiệp ước hòa bình.

Vạn quốc công pháp có ảnh hưởng rất lớn đến các nước Đông Á.

Một số học giả còn nói Phạm Phú Thứ đề nghị in sách Tùng chính di quy 從政遺規của nhà triết học, chính trị gia đời Thanh Trần Hoằng Mưu 陳弘謀 (1696-1771) nói về phép tu thân và kinh nghiệm chính trị của người làm quan.

Hiện nay Thư viện Hán Nôm còn lưu 4 quyển sách khai sáng do Phạm Phú Thứ tổ chức in ấn, đó là: Bác vật tân biên, Hàng hải kim châm, Khai môi yếu pháp, Vạn quốc công pháp.3

Nguyễn Thông (1827-1884): người Gia Định, đậu cử nhân, làm Bố chánh Quảng Ngãi, Bình Thuận. Ông từng tham khảo Đông Tây dương khảo 東西洋考 của Trương Nhiếp 張燮, Hải quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh và nhiều sách khác để viết nên cuốn Việt sử thông giám cương mục khảo lược 越史通鑑綱目考略. Trong sách này có nhiều chỗ ông phê  bình sai lầm trong Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của Cố Viêm Vũ, Doanh hoàn chí lược của Từ Kế Dư, Hải quốc đồ chí của Ngụy Nguyên, như:

- “Cố Đình Lâm (Viêm Võ), Từ Tòng Kham (Kế Dư), những chỗ chân không đi đến nơi, mắt không nhìn thấy cũng biên vào sách, cho nên sai lầm nhiều cũng phải.”4

- “Ngụy Nguyên muốn khảo cứu mà không biết, đem chỗ ngày nay đến chỗ đời xưa, phỏng đoán bâng quơ, đọc đi vài lượt, khiến cho ta phải bật cười.”5  

Nguyễn Lộ Trạch (1853-1898): người Thừa Thiên, là con trai của quan Thượng thư bộ Hình Nguyễn Oai, con rể quan Thượng thư bộ Binh Trần Tiễn Thành, nhưng không đi thi để làm quan, ông chú trọng ở thực học, xem rộng sách báo Đông Tây và trở thành nhà canh tân nổi tiếng. Nguyễn Lộ Trạch chắc chắn có đọc Hải quốc đồ chí của Ngụy Nguyên, ông cũng nghiền ngẫm và chịu ảnh hưởng thiên Trù tính mặt biển (Trù hải thiên) trong sách ấy khi viết điều trần Thời vụ sách. Tuy nhiên trong dâng kế sách chống Pháp lên triều đình, ông không đồng ý với chủ trương của Ngụy Nguyên về quan điểm phòng thủ: 

“Ngụy Nguyên có nói ‘Giữ ngoài biển không bằng giữ cửa biển, giữ cửa biển không bằng giữ trong sông’. Ngược lại, tôi cho rằng: giữ trong sông không bằng giữ cửa biển, giữ cửa biển lại không bằng giữ ngoài biển”.

Nguyễn Lộ Trạch phân tích tiếp:

“Ngay cả Trung Quốc dốc toàn lực để thủ ở trong sông đã là một kế sai, huống chi nước ta biển lại như biên giới, mối lợi tàu buôn vận chuyển đều nhờ phía biển. Nếu bỏ biển không giữ thì không còn có làng mạc đâu để mà làm “vườn không, nhà trống”, không còn có thành trì đâu mà cố thủ. Lúc ấy đồng bằng phì nhiêu sẽ trở thành thừa, mà lui vào ở chốn ma thiêng nước độc, thì dầu có hiểm trở cũng chỉ là vùng sỏi đá khô cằn, trông cậy vào đâu để dựng nước được. Cho nên nếu bỏ mặt biển mà nói thủ thì thật sẽ không có chỗ nào có thể thủ được nữa.

Thủ ngoài biển không phải là chiến thì là gì? Nhưng ngày nay nói chiến, tôi cũng tự biết là nói càn? Vì sao vậy? Vì ta pháo thì tồi, thuyền thì chậm, không phải là cách để giành chiến thắng được. Nếu ta có thể học được cái sở trường của họ, suy nghĩ làm cách nào cho thế lực ngang với họ, thì nay dầu chưa thể chiến nhưng không phải không có cơ hội có thể chiến được. Cho nên việc thủ ngoài biển là kế sách trọng yếu ngày nay, mà muốn thủ được ngoài biển thì ngoài tàu và pháo ra, thật chẳng có kế gì khác cả.”6

Ông phân tích mối quan hệ biện chứng giữa 3 chủ trương Chiến-Thủ-Hòa. Sức ta yếu nên chưa thể chiến, thủ được, nên phải hòa. Nhưng hòa phải trên cơ sở thủ, thủ để đợi cơ hội có thể chiến. Mà thủ thì thủ trong sông không bằng thủ cửa biển, thủ cửa biển không bằng thủ ngoài mặt biển. Mà thủ mặt biển thì phải có tàu máy để đua tranh với địch. Như thế cũng là một hình thức chiến. Vậy công-thủ phải tương hỗ lẫn nhau.

Những phân tích tình hình, thế lực địch ta trong chủ trương chiến thủ hòa thật sắc bén, có sức thuyết phục cao. 

Kết luận

Từ thế kỷ XVI các nước phương Tây đã trở nên vượt trội về kỹ thuật và tiềm lực kinh tế nên đã mở rộng thế lực đến phương Đông. Theo tàu buôn của các công ty Đông Ấn, các nhà truyền giáo cũng đã đến được vùng Viễn Đông xa xôi. Cùng với Kinh Thánh, họ mang đã đến các tri thức khoa học phương Tây trong đó có các sách địa lý thế giới. Nhờ có Khôn dư vạn quốc toàn đồ, Chức phương ngoại kỷ, Khôn dư đồ thuyết, Hàng hải kim châm, Địa cầu thuyết lược…mà người vùng Viễn Đông mới bắt đầu biết đến thế giới năm châu, mới biết những người Tây dương từ đâu tới, nước họ lớn nhỏ mạnh yếu ra sao. Từ các sách và bản đồ địa lý năm châu, người Trung Quốc mới bắt đầu soạn ra các sách về thế giới như: Đông Tây dương khảo, Doanh hoàn chí lược, Hải quốc đồ chí. Các sách ấy được đón nhận nồng nhiệt ở các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam như là một phần của tri thức khai sáng. Việc tìm hiểu nhóm thư tịch này giúp cho chúng ta hiểu thêm về một phần của lịch sử khai sáng Đông Á, đồng thời cũng hiểu thêm về cách tiếp nhận có phê phán của các nho sĩ canh tân Việt Nam đối với các sách địa lý thế giới, nhất là sách của các học giả Trung Quốc.

Đoàn Lê Giang

PGS.TS., Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 4 (173) năm 2022, ISSN 8066-8639, tr.53-64

Chú thích

  1. Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích, NXB.Văn hóa thông tin tái bản, 2006, tr.54-55
  2. Phạm Phú Thứ, Phạm Phú Thứ toàn tập, tập 2, Phạm Ngô Minh chủ biên, NXB.Đà Nẵng, 2014, tr.425
  3. Trần Nghĩa, Francois Gros, Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu, tập 3, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, các tr.723, 782, 801, 949
  4. Nguyễn Thông, Việt sử thông giám cương mục khảo lược, Đỗ Mộng Khương dịch, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2019, tr.95
  5. Nguyễn Thông, sđd, tr.162
  6. Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Lộ Trạch – Điều trần và Thơ văn, NXB. KHXH, Hà Nội, 1995, tr.95-96

Tổng kết tọa đàm quốc tế

“Đông phương nhã vận: nghiên cứu về kịch và ký lục Việt Nam – Trung Quốc”

(Ngày 10 tháng 5 năm 2025)

20250518

Kính thưa toàn thể quý vị;

Toạ đàm quốc tế “Đông phương nhã vận: nghiên cứu về kịch và ký lục Việt Nam – Trung Quốc” khép lại các phiên với hai chủ đề chính: 1) nghiên cứu nghệ thuật truyền thống Trung Quốc và Việt Nam, Kinh kịch, hý khúc, Côn kịch (Trung Quốc), tuồng, cải lương, đờn ca tài tử (Việt Nam) từ phương diện cải biên từ tác phẩm văn học sang các loại hình nghệ thuật sân khấu, gợi mở cho chúng ta những nghiên cứu liên ngành từ văn bản văn học, ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ hình thể, ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ nghệ thuật tượng trưng/ biểu trưng và cả vấn đề lịch sử tiếp nhận. 2) nghiên cứu tư liệu địa chí và ký lục thời Minh-Thanh Trung Quốc liên quan đến các vấn đề lịch sử, văn hoá, xã hội Việt Nam.

Các bài viết của các học giả Trung Quốc như: GS. CHEN Jun 陳均 教授 Đại học Bắc Kinh: “Đào hoa phiến” (Quạt hoa đào) và lịch sử cảm xúc Trung Quốc thế kỷ 20; GS. ZHANG Jing 张静教授, Viện Nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc: Tìm hiểu lịch sử của Côn kịch qua tranh; GS. GU Shu-guang 谷曙光教授, Đại học Nhân dân Trung Quốc: Hắc tịch oan hồn: từ tiểu thuyết, đến sân khấu kịch nửa cải cách và điện ảnh; GS. LI Ling 李玲博士, Viện Nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc: Các màn trình diễn “cuồng ngôn” mang tính tranh luận của Nhật Bản và văn bản tác phẩm "Trà và Rượu" ở Trung Quốc và Nhật Bản; TS. FEI Bi 菲比博士, Đại học Bắc Kinh: Sức hút của Côn khúc: đôi điều cảm nhận đến từ lưu học sinh (昆曲的魔力:来自一位留学生的感悟与思考). Một sự hô ứng với các tham luận của học giả Trung Quốc là các tham luận của các học giả Việt Nam và nước ngoài đang công tác tại Việt Nam: TS. CHUANG Chiu-chun 莊秋君博士, Đại học Thăng Long, Sự chuyển thể và lưu truyền của Nhị Độ Mai trong các loại hình hí kịch truyền thống của Việt Nam; TS. NGUYỄN Thanh Phong, Tìm hiểu kịch bản tuồng hát bội Tam quốc điễn nghĩa ở Nam Bộ, Việt Nam; TS. PHAN Thu Vân: Danh tác Trung Quốc trên sân khấu cải lương Việt Nam; TS. LÊ Hồng Phước: Âm nhạc miền Nam Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế; TS. NGUYỄN Phúc An, NGUYỄN Đoàn Tuyết Anh, TRẦN Thị Sang: Ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản trong Tiếng hạc trong trăng: Từ nhan đề đến bối cảnh kịch; TS. NGUYỄN Hoàng Yến: Nghiên cứu kịch bản cải lương Tây sương ký.

Các tham luận trên cho chúng ta hình dung có tính đối chiếu giữa các loại hình nghệ thuật truyền thống Trung Quốc và Việt Nam, sự ảnh hưởng và tiếp biến, vận dụng trong kịch nghệ truyền thống (văn bản, sân khấu, điệu bộ, âm nhạc, nhạc cụ…) của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam.

Các bài viết tham luận cho chủ đề chiều nay là: TS. VŨ T. Thanh Trâm: Nghiên cứu Việt Nam du lịch ký; TS. NGUYỄN Văn Hoài: Tư liệu văn học trong tác phẩm Việt Nam tập lược của Từ Diên Húc; TS. HOÀNG Ngọc Cương, PGS.TS. LÊ Quang Trường, Việt Nam qua tư liệu Thù vực châu tư lục; TS. NGUYỄN Đông Triều: Lịch sử Việt Nam qua Bình định Giao Nam lục; PGS.TS. LÊ Quang Trường, LÊ Quốc Tín: Khảo sát tác phẩm An Nam đồ thuyết và Trùng đính Việt Nam đồ thuyết; TS. TRẦN Thị Diệu Hiền: Hình ảnh Việt Nam qua một số tác phẩm ký lược của các học giả nhà Thanh, Trung Quốc; TS. ĐỖ Thuý Hà: Khảo sát tiếng Việt cổ trong Hoa di dịch ngữ…

Các tham luận đã tập trung nghiên cứu phê phán các vấn đề sử liệu, văn bản, các giá trị nội dung, giá trị tư liệu nhằm so sánh và bổ sung các nguồn sử liệu của hai bên, đặc biệt là sự nhận thức nhìn từ bên ngoài các vấn đề lịch sử, nhân vật, địa chí, văn hoá, xã hội Việt Nam.

Từ những nghiên cứu gợi ý trên, các vấn đề cần sẽ tiếp tục nghiên cứu trong tương lai. Văn học là nền tảng của nghệ thuật sân khấu. Sân khấu nghệ thuật làm sống động thêm tác phẩm văn học. Từ ngôn ngữ văn học, kịch bản văn học đã chuyển thành ngôn ngữ hình thể, điệu bộ, âm nhạc, kịch bản sân khấu. Do đó chúng ta cần có thêm các nghiên cứu để làm sáng tỏ sự chuyển thể từ kịch bản văn học sang kịch bản sân khấu, nghiên cứu ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ sân khấu, nghiên cứu sự chuyển đổi ngôn ngữ từ tác phẩm văn học đến sân khấu, những ảnh hưởng của kịch truyền thống và hiện đại, nghệ thuật kể chuyển bằng hình thể, vấn đề sân khấu hoá tác phẩm văn chương, nghiên cứu vai trò âm nhạc trong việc chuyển tải tư tưởng văn học qua sân khấu… Văn học và sân khấu có mối quan hệ bổ trợ, làm giàu cho nhau, tạo nên mối quan hệ đa chiều từ nghệ thuật đến xã hội. Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và nghệ thuật có thể cho ta những nhận thức sâu sắc, những khám phá thú vị về sức sống của tác phẩm văn học khi bước ra khỏi trang giấy, cách công chúng tiếp nhận nghệ thuật qua nhiều hình thức đọc, xem, nghe. 

Và từ những nghiên cứu tư liệu địa chí ký lục của các học giả Việt Nam có thể cho chúng ta thấy sự phức tạp và thú vị do những tư liệu bên ngoài mang lại. Nguồn tư liệu của hai nước có chỗ dị đồng. Bởi xuất phát từ thực tiễn và việc thu thập thông tin khác nhau, từ lập trường chính trị, văn hoá khác nhau, những ảnh hưởng từ chính trị bang giao khác nhau, sự khác biệt về văn hoá và tập quán của hai bên…

Sự khác biệt từ nguồn tư liệu Trung-Việt là hệ quả của việc hạn chế thông tin, sự khác biệt ngôn ngữ, tập tục và lý do khá quan trọng là mục đích chính trị ngoại giao của hai bên. Trải từ hàng ngàn năm, nguồn sử liệu Trung Quốc luôn ghi chép và coi Đại Việt là phiên thuộc, trong khi đó Việt Nam luôn bức phá và khẳng định độc lập lãnh thổ dân tộc. Các nghiên cứu phê phán tư liệu này cho ta hình dung nhận thức về một cuộc tranh quyền giải thích lịch sử giữa hai quốc gia, đồng thời cho thấy tầm quan trọng của việc so sánh đối chiếu đa nguồn sử liệu khi nghiên cứu. 

Nghiên cứu và giao lưu nghệ thuật truyền thống giữa hai nước; nghiên cứu so sánh nguồn tư liệu cổ của Trung Quốc về Việt Nam, vì vậy có giá trị khoa học nhất định trong việc tái nhận thức và khẳng định bản sắc văn hoá, khẳng định các giá trị văn hoá trường tồn, phát huy mối quan hệ giao lưu giữa hai nước trong một bối cảnh hiện đại và hoà bình. 

Chúng tôi chân thành cảm ơn quý vị lãnh đạo, đại biểu, quý giáo sư, nhà nghiên cứu đã viết bài tham gia buổi toạ đàm và giao lưu văn hoá hôm nay.

Kính chúc quý vị hạnh phúc, khoẻ mạnh và thành công.

Lê Quang Trường

Sáng ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại Hội trường 606, số 1B, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Thông tin Khoa học xã hội (ISSI) thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (Viện Hàn lâm-VASS) tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề “Cơ sở dữ liệu Kho Trung Quốc cổ: Tiềm năng khai thác giá trị khoa học”. Hội thảo được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến nhằm giới thiệu thực trạng Kho Trung Quốc cổ, đánh giá giá trị tư liệu và tiềm năng nghiên cứu với hy vọng mở ra cơ hội hợp tác quốc tế nhằm quảng bá, phát huy giá trị kho tài liệu quý hiếm, để có thể chia sẻ và lan toả tri thức, di sản mà thế hệ đi trước để lại.

Nhiều sinh viên tỏ ra thích thú khi lần đầu tiên được học, hoá thân thành "bác sĩ" phục chế sách cổ và tự tay sửa từng chi tiết bị hư hỏng trên trang giấy của sách Hán Nôm cổ.

Không giống như những lớp học thông thường khác ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, các sinh viên chuyên ngành Hán Nôm của Khoa Văn học được trải nghiệm phục chế những trang sách cổ ngay tại trường. 

Lớp học hơn 15 sinh viên. Ở đây, ngoài việc học lý thuyết, sinh viên còn được thực hành, hóa thân thành "bác sĩ" và tận tay phục chế những trang sách cổ hư hỏng. 

20230525

20250325 3

Ảnh: Chùa Tiên Sơn

Trong văn học cổ Việt Nam thể tài du kí, danh thắng kí nói chung là khá ít. Loại kí này ở vùng đất mới phương Nam lại càng hiếm thấy hơn nữa. Trong tình hình đó, có được một bài kí viết về một danh thắng ở mảnh đất cuối trời Nam thật là đáng quý, và càng đáng quý hơn nữa vì đấy là một bài kí giàu chất văn chương: bài Tiên Sơn tự kí của Lê Duy Thái 黎維泰 là một bài kí như vậy.

Bài kí này được chép trong quyển Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編, kí hiệu A.2286, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội. Nguyên tác chữ Hán được viết trên 5 trang (từ trang 81a – 83a), nhưng tính ra số chữ tương đương với 4 trang vì phần đầu và cuối chỉ chiếm nửa trang giấy.

Bài kí tuy ngắn nhưng giàu văn học tính, đem lại nhiều cảm xúc cho người đọc. Nội dung bài kí hết sức uyển chuyển. Tuy là một bài danh thắng kí, nhưng người viết không chỉ chú tâm giới thiệu về danh thắng mà còn dẫn dắt người đọc đến với con người và với những suy tư vượt ra ngoài cảnh vật. Mở đầu tác giả miêu tả khá chi tiết về núi Tiên Sơn (hay Vân Sơn – Hòn Mây), về Thạch Động với Tiên Sơn tự và Vân Sơn tự. Tiếp theo tác giả nói về mối quan hệ giữa danh thắng và danh nhân, rồi từ đó chuyển mạch suy tư về những bể dâu đổi dời trong cõi trần thế. Người đọc khá bất ngờ khi thấy ở đoạn cuối tác giả chuyển bút hẳn, viết về Mạc Thiên Tứ - người đã tạo dựng nên mảnh đất Hà Tiên vang danh với Tao đàn Chiêu Anh Các, với Hà Tiên thập cảnh mộng mơ. Mạch suy tư được chuyển tiếp từ cái vô thường của vạn vật đến cái còn mất của đời người. Ôi, “trăm năm bia đá còn mòn”! “Lập bia làm chi, dựng bia làm gì!”. Mạc Thiên Tứ sở dĩ được người đời nhớ đến, họ tên không tan biến cùng thân xác, “ấy là do cái mà chính cuộc đời ngài truyền lại”. Không hiểu sao chúng tôi lại nghĩ đến những bài kí của các đại gia thời Đường-Tống khi đọc bài kí này. Nó quả là một áng văn chương đầy dư vị.

Lê Duy Thái là ai? Chúng tôi đã bỏ công tra cứu tìm lai lịch của tác giả trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu, Gia Định thành thông chí,… nhưng vẫn chưa thấy dòng nào viết về ông. Qua những ghi chép ngắn ngủi ở đầu bài Tiên Sơn tự kí thì Lê Duy Thái giữ chức Công bộ lang trung thời Nguyễn. Theo quan chế lục bộ thời Nguyễn thì lang trung là chức quan đứng đầu một ty, dưới chức quan thị lang, trật chánh tứ phẩm.

Trong bài Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 cũng do Lê Duy Thái viết, được chép tiếp sau bài Tiên Sơn tự kí trong sách Đại Nam anh nhã tin biên, có đoạn tác giả viết rằng: “Năm Gia Long nguyên niên (1802), định yên bờ cõi, cho cháu là Thiêm làm Trấn thủ Hà Tiên, vẫn ban cho đất đó, nối truyền về sau cùng được ngang với các trấn khác. Năm Nhâm Ngọ, ta theo hầu quan Tổng trấn đi kinh lược đến trấn này, mới được thong dong du lãm,…” (嘉隆元年,大定,以孫添為河僊鎮守,仍賦其地,嗣後與諸鎮同嵗.壬午,余奉陪總鎮官經略抵鎮,遂得縱步遊,…). Ở đoạn sau, nói về sự kiện Phi Nhã Tân đem quân đánh chiếm, đốt phá Trấn thành Hà Tiên vào năm Tân Mão (1771), tác giả viết: “…từ sau cuộc binh hoả của người Xiêm, một tờ giấy cũng không tìm lại được, những thứ còn lại nói chung chỉ mới cách nay năm sáu mươi năm thôi” (… 則自暹人兵火之後,片紙無復,存者蓋距今纔五六十年耳 ).

Qua những năm tháng do chính tác giả ghi ở trên, chúng ta có thể xác định được năm Nhâm Ngọ khi ông theo hầu quan Tổng trấn đi kinh lược trấn Hà Tiên là năm 1822 (nếu năm 1882, tức năm Nhâm Ngọ tiếp theo thì quá muộn). Sự kiện năm 1771 cách thời gian ông đến Hà Tiên là năm sáu mươi năm, tính ra cũng hoàn toàn trùng khớp (1771 + 50 = 1821).

Vậy ta có thể kết luận rằng, Lê Duy Thái sống vào thời Gia Long đến Minh Mạng, tức khoảng nửa đầu của thế kỉ 19. Hiện tại những gì chúng tôi tìm được về lai lịch tác giả chỉ vẻn vẹn như trên. Rất mong các bậc thức giả biết sâu đọc rộng quan tâm bổ cứu.

Dưới đây là bài Tiên Sơn tự kí của Lê Duy Thái. Bản phiên dịch của chúng tôi chắc không tránh khỏi sai sót, nên cũng rất mong các bậc thức giả phủ chính cho.

NGUYÊN TÁC:

僊山寺記

僊山寺在河僊鎮城之西三里許.地為高蠻東下延袤鰔藪千餘里,臨于海突起鹿峙山,五嶺迤邐橫插,如飛鳳翅黏(1)頭起石山一嵿.狀如覆鐘,高可十餘丈,周圍倍之.脚下稍平者為僧房,有石磴疊級以上.峒門懸石乳,鍾一金匾曰仙山寺,蹤跡未古.峒廣十餘尺,長二十尺,高稱之,設佛像,一背後石壘橫截.右竇有通天谷,梯之可出山嵿.左竇有透地谷,狹不可入,所謂後峒也.從左右竇燭行可出前峒,高廣較勝後峒.脊上硬石稍加斧斵磚隙,並用灰板蓋塞中構一寺三間,四圍以板蓋以瓦制亦簡古次第排置佛像,墨匾曰雲山寺.屋瓦漸漸剝落,石色皺古不甚鮮麗,年久無復修理也.峒口高與脊等,石壁直峻不可下前.

臨滄海一碧萬里,島嶼出沒煙波中,如臥如立,如起如伏,如屏如城,如飛如沿,徙倚四裡,真令人有絕塵之想.土人語余曰: “峒莫知其始.自二鄚公(2)來始點出眉目峒,而寺之寺(3),而匾之則自鄚國老公始”.上下百年于今矣,欲寔其事蓋無碑記可傳人,咸以為創者缺事.噫,物各有教辰至皆盡.雖天地日月莫能逃而何有於山.詎知數百年之前,此山不自滄桑結構,又安知千百年之後,此山不與江河相推移而復歸于無.何有此豈塵泯之能為久遠而何有其傳.

余聞鄚家二公世濟忠義,國凶身竄,避地南來,開拓斯土.是豈志於斯峒之傳與不傳哉.他鄕寞落,借景自寬.邀子陵一線之清風;寄王子登樓之遐想.使百世之下知有鄚公也可,不知有鄚公也可.碑何為哉,碑何為哉.夫公之名節固不待峒而傳,而峒之所以名亦不待碑而顯.今人之所以悲公,此正公之所以傳也.悲夫.

PHIÊN ÂM:

Tiên Sơn tự kí

Tiên Sơn tự tại Hà Tiên Trấn thành chi tây tam lí hứa. Địa vi Cao Man đông há diên mậu cảm tẩu thiên dư lí, lâm vu hải đột khởi Lộc Trĩ sơn, ngũ lĩnh dĩ lị hoành tháp, như phi phượng xí niêm đầu khởi thạch sơn nhất đính. Trạng như phúc chung, cao khả thập dư trượng, chu vi bội chi. Cước hạ sảo bình giả vi tăng phòng, hữu thạch đặng điệp cấp dĩ thướng. Động môn huyền thạch nhũ, chung nhất kim biển viết “Tiên Sơn tự”, tung tích vị cổ. Động quảng thập dư xích, trường nhị thập xích, cao xứng chi, thiết Phật tượng, nhất bối hậu thạch luỹ hoành tiệt. Hữu đậu hữu thông thiên cốc, thê chi khả xuất sơn đính. Tả đậu hữu thấu địa cốc, hiệp bất khả nhập, sở vị hậu động dã. Tùng tả hữu đậu chúc hành khả xuất tiền động, cao quảng giảo thắng hậu động. Tích thượng ngạnh thạch sảo gia phủ trác chuyên khích, tịnh dụng hôi bản cái tắc trung cấu nhất tự tam gian, tứ vi dĩ bản cái dĩ ngoã chế diệc giản cổ thứ đệ bài trí Phật tượng, mặc biển viết “Vân Sơn tự”. Ốc ngoã tiệm tiệm bác lạc, thạch sắc trứu cổ bất thậm tiên lệ, niên cửu vô phục tu lí dã. Động khẩu cao dữ tích đẳng, thạch bích trực tuấn bất khả hạ tiền.

Lâm thương hải nhất bích vạn lí, đảo tự xuất một yên ba trung, như ngoạ như lập, như khởi như phục, như bình như thành, như phi như duyên, tỉ ỷ tứ lí, chân linh nhân hữu tuyệt trần chi tưởng. Thổ nhân ngữ dư viết: “Động mạc tri kì thuỷ. Tự Nhị Mạc công lai thuỷ điểm xuất mi mục động, nhi tự chi tự, nhi biển chi tắc tự Mạc Quốc Lão công thuỷ”. Thượng hạ bách niên vu kim hĩ, dục thực kì sự cái vô bi kí khả truyền nhân, hàm dĩ vi sáng giả khuyết sự. Y, vật các hữu giao thời chí giai tận. Tuy thiên địa nhật nguyệt mạc năng đào nhi hà hữu ư sơn. Cự tri sổ bách niên chi tiền, thử sơn bất tự thương tang kết cấu, hựu an tri thiên bách niên chi hậu, thử sơn bất dữ giang hà tương suy di nhi phục quy vu vô. Hà hữu thử khởi trần mẫn chi năng vi cửu viễn nhi hà hữu kì truyền.

Dư văn Mạc gia Nhị công thế tế trung nghĩa, quốc hung thân thoán, tị địa Nam lai, khai thác tư thổ. Thị khởi chí ư tư động chi truyền dữ bất truyền tai. Tha hương mịch lạc, tá cảnh tự khoan. Yêu Tử Lăng nhất tuyến chi thanh phong; kí Vương tử đăng lâu chi hà tưởng. Sử bách thế chi hạ tri hữu Mạc công dã khả, bất tri hữu Mạc công dã khả. Bi hà vi tai, bi hà vi tai! Phù công chi danh tiết cố bất đãi động nhi truyền, nhi động chi sở dĩ danh diệc bất đãi bi nhi hiển. Kim nhân chi sở dĩ bi công, thử chính công chi sở dĩ truyền dã. Bi phù!

DỊCH NGHĨA:

Bài kí chùa Tiên Sơn

Chùa Tiên Sơn nằm ở phía tây Trấn thành Hà Tiên khoảng 3 dặm. Đất này từ Cao Miên chạy xuống phía đông, kéo thành một dải cỏ cây rậm rạp trù phú suốt hơn ngàn dặm, ra đến biển nổi lên núi Lộc Trĩ (Mũi Nai), 5 ngọn giăng ngang quanh co liên tiếp, như dáng con chim phượng bám trên một đỉnh núi đá vươn cao tung cánh bay. Núi hình dạng như cái chuông úp, cao khoảng trên 10 trượng, chu vi gấp mấy lần chiều cao. Dưới chân núi chỗ khá bằng phẳng làm tăng phòng, có bậc đá nhiều tầng để đi lên. Cửa động thạch nhũ rủ xuống, gắn một tấm biển bằng kim loại đề “Tiên Sơn tự”, dấu tích chưa xưa lắm. Động rộng trên 10 thước, dài 20 thước, chiều cao tương đương với chiều dài, đặt tượng Phật, phía sau là một bức vách đá chắn ngang. Bên phải động có hang thông lên trời, trèo lên có thể ra bên ngoài đỉnh núi. Bên trái động có hang thấu xuống đất, hẹp không thể vào, được gọi là hậu động. Cầm nến theo bên trái và bên phải động mà đi thì ra được tiền động(4). Tiền động cao hơn hẳn hậu động. Đá cứng trên trần động đục đẽo, trám gạch vào các khe hở thêm một ít, rồi dùng gạch ngăn dựng thành một ngôi chùa ba gian, bốn bên dùng gạch ngói tạo thành một ngôi cổ tự đơn sơ lần lượt đặt bày tượng Phật, có tấm biển đen đề “Vân Sơn tự”. Mái ngói tróc vỡ theo thời gian, màu đá xỉn ố không còn tươi đẹp nữa, đã lâu năm rồi không được tu sửa lại. Cửa động cao ngang trần động, vách đá thẳng cao vút không thể xuống phía trước. 

Núi đứng trông ra một vùng biển xanh vạn dặm, đảo lớn đảo nhỏ ẩn hiện trong khói sóng, hình dáng như nằm như đứng, như vươn dậy như ẩn mình, như bình phong như thành trì, như bay lên như men theo, nhấp nhô bốn bên, thật khiến cho người ta có cảm tưởng ra khỏi cõi trần. Người địa phương bảo với ta rằng: “Động này chẳng biết có từ bao giờ. Từ khi Nhị Mạc công(5) đến, khởi đầu tạc vẽ mày mắt cho động, rồi làm cho nó thành chùa. Kế đến đề biển hiệu cho nó thì bắt đầu từ Mạc Quốc Lão công(6)”. Đến nay đã khoảng một trăm năm rồi, muốn biết rõ chuyện ấy nhưng không có bi kí để truyền lại cho người, tất cả đều cho rằng người tạo lập chùa là chuyện chẳng rõ. Ôi, sự vật mỗi thứ đều có lúc đến ngày cùng tận. Dẫu là trời đất nhật nguyệt cũng chẳng thể thoát được, nói chi đến chuyện có gì ở ngọn núi này. Làm sao biết được mấy trăm năm trước, ngọn núi này chẳng từ bể xanh ruộng dâu mà thành hình, và cũng nào biết được trăm ngàn năm sau, ngọn núi này không đổi thay cùng sông suối mà trở về với hư vô. Có gì ở đây, há cõi bụi tiêu tán có thể trở thành vĩnh cửu và có gì đó để truyền lại.

Ta nghe Nhị công họ Mạc(7) là bậc trung nghĩa giúp đời, nước nguy thân trốn, tránh nạn mà đến phương Nam, mở mang đất này. Vậy chí của ngài há để vào việc truyền lại với không truyền lại của động này hay sao? Đất khách quạnh hiu, mượn cảnh tiêu sầu. Mời khách Tử Lăng(8) hưởng một làn gió mát; gửi bậc Vương tử(9) ý nghĩ cao xa trong lúc lên lầu. Để cho trăm năm sau biết đời có Mạc công cũng được, không biết có Mạc công cũng được. Lập bia làm chi, dựng bia làm gì! Ôi, danh tiết của ngài hẳn nhiên chẳng phải nhờ động này mà truyền lại, và động sở dĩ vang danh cũng chẳng phải nhờ bia đá. Người thời nay sở dĩ cảm thương ngài, ấy là do cái mà chính cuộc đời ngài truyền lại. Thương thay!  

Nguyễn Văn Hoài

Nguồn: Tạp chí Xưa và Naysố 489 (11-2017),  tr. 48-50.

Chú thích

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong mã đề tài số VII 1.2-2012.26

(1) 黏: Chữ này bản nguyên tác viết không rõ ràng. Chúng tôi tạm đoán theo hình chữ.

(2) Các chữ Mạc 鄚 trong bài đều bị viết nhầm thành Trịnh 鄭. Chúng tôi chữa lại.

(3) Chúng tôi nghĩ chữ 寺 thứ 2 này là thừa.

(4) Nếu đọc chữ 行 là “hàng” thì câu này cũng có thể dịch là: Đi theo hàng nến bên trái và bên phải động thì ra được tiền động.

(5) Nhị Mạc công, (7) Nhị công họ Mạc (nguyên văn: Mạc gia Nhị công): chỉ Mạc Cửu. Có thể đây là cách dịch một cách gọi Việt là “Ông Hai”.

(6) Mạc Quốc Lão công: chỉ Mạc Thiên Tứ (Tích). Mạc Thiên Tứ được phong tước là “Quốc Lão Quận Công”.

(8) Tử Lăng: tên tự của Nghiêm Quang 嚴光, một ẩn sĩ nổi danh thời Đông Hán.

(9) Vương tử: chỉ Vương Xán 王粲, một trong bảy tác gia lớn thời Kiến An (Kiến An thất tử), có bài phú Đăng lâu  登樓賦  nổi tiếng.

Theo thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, vào lúc 12 giờ 30 (10 giờ 30 giờ Việt Nam) ngày 26/11/2022 tại Kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) diễn ra ở Thành phố Andong (Hàn Quốc), đã thông qua hai hồ sơ "Bia ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng" và "Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (1689-1943)" là Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) diễn ra ở Thành phố Andong (Hàn Quốc).
Kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) diễn ra ở Thành phố Andong (Hàn Quốc).

Kỳ họp lần này được tổ chức dưới hai hình thức trực tuyến và trực tiếp, với 116 đại biểu đến từ 20/28 quốc gia thành viên. Đoàn Việt Nam tham dự có đại diện của Ủy ban UNESCO Việt Nam, Ủy ban quốc gia Chương trình Ký ức thế giới của Việt Nam, Cục Di sản văn hóa, Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Hà Tĩnh.

Kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) diễn ra ở Thành phố Andong (Hàn Quốc).

Nội dung của Hội nghị toàn thể tập trung đánh giá các hoạt động của MOWCAP đã triển khai từ năm 2018 đến 2022 thông qua báo cáo của Ban Thư ký và các quốc gia thành viên; góp ý và thông qua một số nội dung sửa đổi trong Quy chế hoạt động và Hướng dẫn bảo vệ di sản tư liệu của Chương trình; phần quan trọng nhất là xem xét và thông qua các hồ sơ đề cử ghi vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương; tham quan Viện Nghiên cứu Hàn Quốc và dự lễ khai trương Văn phòng Ban Thư ký của MOWCAP đặt tại đây.

Sau 3 ngày làm việc liên tục, Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đã thông qua 12/13 hồ sơ ghi vào Danh mục Di sản tư liệu châu Á - Thái Bình Dương thuộc các quốc gia: Singapore (1), Indonesia (1), Iran (1), Hàn Quốc (2), Trung Quốc (2) và Việt Nam (2).

Danh mục Di sản tư liệu châu Á - Thái Bình Dương của Việt Nam được ghi danh năm 2022, gồm:

Bia Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng: Là kho tàng di sản tư liệu quý giá bằng chữ Hán và chữ Nôm, với số lượng lớn, gồm 78 bia Ma nhai (trong đó có 76 bia chữ Hán và 2 bia chữ Nôm).

Nội dung, phong cách biểu hiện đa dạng, hình thức độc đáo, với nhiều thể loại như: ngự bút, bia ký, tán, thơ văn, đề từ, đề danh, câu đối… của các vị vua, quan triều Nguyễn, cao tăng, cùng bao thế hệ tao nhân, mặc khách đã từng dừng chân lưu đề trên vách đá, hang động tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, từ nửa đầu thế kỷ XVII đến thập niên 1960.

Bia ma nhai là những tư liệu cực kỳ giá trị, chân xác và đặc sắc, thể hiện rõ tính giao thoa, hòa điệu về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia như Nhật Bản - Trung Hoa - Việt Nam tại Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Đây là các tác phẩm trên đá độc đáo ấn tượng, nhiều kiểu chữ viết như Chân, Hành, Thảo, Triện, Lệ…

20221127 3

Bia Ma nhai tại Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng)

Bia Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn là tài liệu gốc duy nhất được vua Minh Mạng ngự bút và cho khắc lên các vách núi, hang động. Sự kiện này được ghi chép lại trong các tài liệu lịch sử như Đại Nam Nhất Thống chí, Đại Nam Thực lục, Đại Nam dư địa chí ước biên…

Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (1689-1943): Là bộ sưu tập độc bản được viết bằng tay, gồm: 26 sắc phong gốc do các vua triều Lê, Nguyễn ban tặng; 19 tờ văn bằng và 3 bức trướng bằng lụa, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ năm 1689 đến năm 1943.

Việt Nam có thêm hai Di sản tư liệu được ghi vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương ảnh 2
Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh.

Với giá trị nguyên gốc, độc bản, các văn bản có nguồn gốc rõ ràng và các sự kiện liên quan… đã từng làm nguồn tư liệu để biên soạn sách, vì vậy nhiều thông tin có thể kiểm chứng, đối chiếu qua các tài liệu chính sử của Việt Nam như Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục; cũng như qua các sách khảo cứu như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch.

Chất liệu mang thông tin đa dạng: giấy dó, giấy dó đặc biệt và lụa, Chữ viết đẹp, rõ ràng. Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu là tư liệu quý hiếm về văn hóa và giáo dục của một làng quê ở miền Trung Việt Nam, trải qua nhiều biến cố, vẫn được lưu giữ. Đây là các tư liệu gốc giúp nghiên cứu quan hệ xã hội, lịch sử phát triển của làng thời xưa, đặc biệt trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX.

Trong bộ sưu tập có 6/48 tư liệu liên quan đến bình đẳng giới, trong đó có 5 sắc phong vinh danh phụ nữ, đã được Văn phòng UNESCO tại Bangkok đưa vào giới thiệu ở Triển lãm "Women in History - Telling HERstory through Memory of the World" từ ngày 8/3/2021.

Với việc có thêm 2 Di sản tư liệu được Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO ghi danh, đến nay Việt Nam đã có 9 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh (gồm 3 di sản tư liệu thế giới và 6 di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương).

Linh Khánh

(Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Nguồn: Nhân dân, ngày 26.11.2022.

20241022 2

Tóm tắt: Di sản vǎn hoá thành vǎn Hán Nôm chiếm giữ một vị trí quan trọng, có ý nghĩa như là cốt lõi tinh hoa của vǎn hoá Việt Nam. Bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị của di sản này là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đòi hỏi sự tham gia, phối hợp đồng bộ một cách khoa học của nhiều giới, nhiều ngành. Trong đó, việc đưa tri thức Hán Nôm vào nhà trường các cấp là một phương cách tối ưu và lâu dài, nhằm thực tế hoá và làm sống động lại vốn tinh hoa này của dân tộc. Hình thành nǎng lực và nhân cách cho người học thông qua tri thức vǎn hoá Hán Nôm là cách đặt vấn đề không mới, và thực tế đã từng tồn tại những ý kiến xung đột, trái chiều. Do thế, một nhận thức mang tính học thuật và tính sư phạm về vấn đề này cần được tiếp tục đặt ra và dần tháo gỡ.

***

1. Ở một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt trong quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ - vǎn tự - vǎn hóa Việt Hán, chữ Hán dần đã trở thành hệ thống vǎn tự quan phương của nhà nước phong kiến Việt Nam. Dùng chữ Hán như một thứ chuyển ngữ để chuyển tải tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, tâm lí của dân tộc mình là sự lựa chọn thông minh của cha ông ta. Song song với việc dạy học và sử dựng chữ Hán, thực tế đời sống ngôn ngữ của nhân dân cùng với nhu cầu tự thân của vǎn hóa dân tộc đã thúc đẩy quá trình chế tác ra chữ Nôm - loại hình vǎn tự hình thành trên cơ sở vay mượn chất liệu vǎn tự Hán - để ghi lại tiếng nói người Việt. Chữ Nôm nhanh chóng tham gia vào hoạt động sáng tạo vǎn hóa. Trong hơn 10 thế kỉ xây dựng, bảo vệ và sáng tạo, chúng ta có được một kho sách Hán Nôm đồ sộ. Tuy phần nhiều đã mất mát, nhưng với hàng chục vạn đơn vị vǎn bản ở nhiều lĩnh vực còn đang lưu giữ được cũng đủ cho thấy tầm cỡ và ý nghĩa lớn lao của nó. Giá trị đặc biệt của di sản Hán Nôm trong tiến trình vǎn hóa Việt Nam thể hiện ở chỗ, đây là kho tư liệu thành vǎn đồ sộ, có hệ thống, bao quát tất cả các phương diện của đời sống - lịch sử dân tộc trong quá khứ, là minh chứng hùng hồn về truyền thống tự chủ, tinh thần tự cường dân tộc. Nó thể hiện sâu sắc ý thức dân tộc, mà ý thức dân tộc là bộ phận cấu thành nên quốc gia và vǎn hóa của quốc gia. Các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học nhân vǎn đều có lịch sử phát triển của nó, lúc này, di sản Hán Nôm chính là nguồn tư liệu của các ngành khoa học ấy. Bao quát hầu khắp các lĩnh vực: lịch sử - chính trị, tư tưởng - triết học, luân lí - đạo đức, ngôn ngữ - vǎn học, y dược, kinh tế, địa lí, quân sự…, nguồn tư liệu Hán Nôm và Hán Nôm học có ý nghĩa như là một chuyên ngành cổ vǎn hiến học, làm cơ sở cho nhiều ngành học khác, nên nó có một vị thế quan trọng trong khoa học xã hội và nhân vǎn Việt Nam hiện nay. Cố nhiên, để phát huy được vị thế ấy, cần đòi hỏi những điều kiện nhất định, mà trước hết là nỗ lực của các nhà khoa học chuyên ngành và khoa sư phạm ngữ vǎn.

Với tư cách là một trong những quốc gia đồng vǎn với vǎn hoá Hán, Việt Nam cùng với một số quốc gia Đông Á trong khối vǎn tự chung này đã có cách ứng xử riêng của mình trong việc lợi dụng vǎn tự đó để cải hoán và sáng tạo thành chữ viết riêng, và trên hết là chống lại mưu đồ Hán hóa. Đối với Việt Nam, sau khoảng 2000 nǎm kể từ khi chữ Hán du nhập, 1000 nǎm dùng chữ Hán với tư cách là quốc gia vǎn tự và cũng gần chừng ấy thời gian tuổi đời của chữ Nôm - được coi là chữ quốc ngữ, sự tác động của nó đến nay vẫn không hề mai một, mặc dù kể từ nǎm 1945, nhà nước Việt Nam mới đã tuyên bố chấm dứt sử dụng với tư cách là quốc gia vǎn tự. Thực tế, môn học (về) Cổ văn hay Hán văn, Hán Nôm, Ngữ văn Hán Nôm vẫn trở lại liên tục, với việc được giảng dạy chính thức trong các trường sư phạm, ở những phạm vi và mức độ nhất định. Tuy nhiên, ở nhà trường phổ thông, từ khi nền giáo dục Nho học kết thúc (1919), ngoại trừ một số ít trường phổ thông thời thuộc Pháp vẫn có dạy học môn Quốc vǎn - trong đó có dạy chữ Hán và tác phẩm Hán Nôm, còn thì tất thảy cho tới nay đều “học chay”, học “hớt ngọn” (qua bản phiên âm, bản dịch) đối với di sản vǎn học này. Mặc dù, tư tưởng dạy học mới theo hướng đọc hiểu văn bản đã triển khai, nhưng sự cách bức về ngôn ngữ vǎn tự và tư tưởng khiến cho việc tổ chức dạy học tác phẩm vǎn học Hán Nôm không thực sự đạt được hiệu quả. Trong bối cảnh giao lưu và hợp tác toàn cầu cũng như khu vực hiện nay, việc dạy và học chữ Hán chữ Nôm nói riêng và về di sản Hán Nôm nói chung đang đứng trước những thách thức và cơ hội mới. Cũng vì thế, thực tiễn lại đòi hỏi cần phải có những thay đổi trong phương pháp nghiên cứu, học tập, tư duy để thích ứng, tiếp cận và nhận thức về vấn đề. Di sản ngữ vǎn Hán Nôm Việt Nam là kết quả của cả một quá trình đấu tranh, xây dựng và bảo vệ nền vǎn hiến Việt Nam trong suốt diễn trình lịch sử lâu dài của dân tộc. Cùng với thời gian, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, di sản “một đi không trở lại” ấy ngày càng bị hư hao, mất mát. Cho nên, nhiệm vự bảo lưu, khai thác giá trị của nó đang được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Trong việc thực hiện nhiệm vụ này, truyền bá tinh hoa vǎn hiến cổ xưa qua con đường giáo dục ở nhà trường là hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho di sản Hán Nôm phát huy được giá trị thực tế cao nhất. Trong một bài viết gần đây [1], chúng tôi đã bàn về việc giảng dạy môn Ngữ vǎn Hán Nôm tại các cơ sở đào tạo giáo viên; ở bài viết này, xin góp bàn tiếp mấy ý kiến về vấn đề đưa tri thức Hán Nôm vào nhà trường phổ thông, từ góc độ hướng tới nǎng lực người học.

2. Hệ thống tri thức Hán Nôm đối với/ trong tổng thể năng lực văn hoá cần có của học sinh

Dạy học theo định hướng phát triển nǎng lực người học là một xu thế tất yếu, hiện đại mà công cuộc đổi mới giáo dục của chúng ta đang tiến hành [2]. Đối với học sinh phổ thông Việt Nam, liệu các tri thức Hán Nôm (vẫn được cho là uyên áo, hàn lâm…) sẽ có thể tham gia đóng góp gì, đóng góp như thế nào trong việc hình thành nǎng lực tổng thể của thế hệ trẻ? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời. Nếu giới chuyên môn và các nhà giáo dục xác định không đúng, rất có thể sẽ dẫn đến tình trạng/ tâm lí né tránh/ xa lánh, thậm chí coi thường vốn tri thức này, như bấy lâu nay vẫn từng như vậy. Vậy, trước hết phải nhìn từ nǎng lực tổng thể cần có của người học (học sinh phổ thông: cơ sở và trung học) để xem xét. Nǎng lực là tổng hợp hữu cơ của các thành tố “kiến thức”, “kĩ nǎng”, “thái độ” giúp chuyển hoá/ hiện thực hoá vào giải quyết một tình huống, một vấn đề trong cuộc sống thường nhật hoặc trong học thuật. Nǎng lực của người học thường được các nhà giáo dục tạm tách thành hai loại chính: năng lực chung (cơ bản, thiết yếu để mỗi người có thể chung sống và cùng làm việc bình thường trong một môi trường xã hội nhất định) và năng lực cụ thể/ chuyên biệt (được hình thành, phát triển bởi một lĩnh vực hay môn học nào đó). Hệ thống các nǎng lực của học sinh thường được các nhà giáo dục thống nhất cao độ bao gồm 8 nhóm (hay thành tố): (1) Nǎng lực tư duy phê phán, tư duy logic; (2) Nǎng lực giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ; (3) Nǎng lực tính toán, ứng dụng số; (4) Nǎng lực đọc - viết; (5) Nǎng lực làm việc/ ứng xử (trong) nhóm; (6) Nǎng lực công nghệ thông tin- truyền thông; (7) Nǎng lực sáng tạo, tự chủ; (8) Nǎng lực giải quyết vấn đề.

Soi chiếu quan điểm lí luận giáo dục trên vào phạm vi tri thức – vǎn hoá Hán Nôm, có thể thấy: Vì Hán Nôm học/ tri thức Hán Nôm liên quan đến tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực khoa học xã hội và nhân vǎn; trong nhà trường, tri thức Hán Nôm cũng thể hiện ở nhiều bộ phận, bao quát các lĩnh vực (như: văn học, ngôn ngữ, lịch sử, tư tưởng, đạo đức luân lí…) nên có thể nói, tất cả các môn học trong nhà trường (toàn bộ chương trình học) đều giúp hình thành và phát triển tri thức Hán Nôm; và ngược lại, tri thức Hán Nôm thông qua chương trình học sẽ giúp hình thành các năng lực chung cho người học. Một mặt khác, vì Hán Nôm vốn là một lĩnh vực học thuật có đặc trưng riêng, chuyên sâu, nên nếu có tri thức nền tảng Hán Nôm sẽ góp phần giúp người học có được năng lực riêng để có thể giải quyết các công việc/ vấn đề chuyên môn hẹp. Cụ thể hơn, với 8 “thành tố” nǎng lực cần có nói trên, xét rộng ra, tri thức Hán Nôm liên quan đến tất cả; xét chi tiết thì ít nhất nó có thể góp phần trực tiếp hình thành các nǎng lực tư duy (logic, hình tượng), giao tiếp - làm chủ ngôn ngữ, đọc viết…

Tri thức Hán Nôm gắn chặt với di sản vǎn học cổ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm. Di sản vǎn học Hán Nôm là một thực thể trong chỉnh thể vǎn hóa - vǎn học truyền thống Việt Nam. Việc chọn lựa và phương pháp đưa những tác phẩm vǎn học này vào nhà trường với mục đích giáo dục nhân cách cho học sinh cần được theo dõi bởi một trình độ ưu việt của khoa học giáo dục. Đứng ở vị trí biểu trưng cho giá trị vǎn hóa dân tộc, tác phẩm vǎn học Hán Nôm của ta với những tác giả đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến,… có ý nghĩa như những dấu mốc lịch sử. Khai thác tốt giá trị của những sáng tác ấy sẽ góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, bồi dưỡng lương tâm - đạo đức - trí tuệ - tâm hồn cho học sinh. Nếu không chúng sẽ biến thành những kí hiệu chết và khi đó việc nắm bắt giá trị đích thực của tác phẩm không tuân theo quy luật cảm thụ vǎn chương nữa, mà được thay thế bằng sự sơ đồ hóa giản đơn những kiến thức cố định, ôm đồm. Nghĩa là không có tri thức về phương pháp luận thì việc dạy học vǎn học cổ Hán Nôm nói chung sẽ nhanh chóng tạo ra những phản giá trị. Việc đòi hỏi một hệ thống kiến thức chuẩn, thể hiện qua việc cải tiến, chỉnh lí, bổ sung các bộ sách giáo khoa ngữ vǎn, cũng như hướng khai thác giá trị các tác phẩm vǎn học Hán Nôm trong nhà trường đã được đặt ra từ lâu. Nhưng nghiêm ngặt mà nói, những hạn chế nhiều mặt còn tồn tại không phải là ít. Việc chọn lọc tác phẩm vǎn học Hán Nôm và phân phối chúng vào chương trình ở các lớp học, cấp học chưa cân đối, chưa có tiêu chí đồng bộ: Nhiều tác phẩm ưu tú chưa được điểm tới, trong khi có nhiều tác phẩm chưa thực sự tiêu biểu lại được chọn dùng… Hoặc giả, có nhiều loại vǎn bản quá khó, ít tính hữu dụng, ít tính thiết thực với thực tiễn hiện đại vẫn được lựa chọn một cách máy móc… Bên cạnh đó là các bất cập trong các vấn đề cụ thể như: vấn đề giảng dạy từ Hán Việt, từ Việt cổ; vấn đề chú giải, phân tích, bình giá các tác phẩm vǎn học Hán Nôm, nhất là ở tác phẩm có nhiều điển tích điển cố hay những cấu trúc từ ngữ đa nghĩa. Nếu theo dõi sẽ thấy nhiều hạn chế, vướng mắc, sai sót liên quan đã không ngừng được phát hiện trên các sách báo chuyên ngành. Đây rõ ràng không bao giờ chỉ là những chuyện bếp núc của việc dạy học ngữ vǎn, bởi vì sự chi phối rất lớn của nó đối với quá trình nâng cao nǎng lực tiếng Việt vǎn hóa nói chung và tiếp nhận tri thức vǎn chương nói riêng là điều không thể phủ nhận.

Một cái nhìn có ý nghĩa đối sánh trong quan điểm/ tư duy/ triết lí về vai trò/ vị trí của môn học về Hán vǎn (cổ) trong nhà trường phổ thông Nhật Bản và Hàn Quốc thời hiện đại có thể giúp gợi ý cho chúng ta những bài học quý giá. Môn học về Hán tự và Hán vǎn ở các nước này liên tục được đưa vào giảng dạy trong nhà trường các cấp một cách đồng bộ, hệ thống. Giáo dục Nhật Bản quy định lượng chữ Hán phải học trong nhà trường phổ thông là 1945 chữ, là lượng chữ được lựa chọn/ tính toán khoa học, phân bổ cho từng cấp học, đảm bảo giúp học sinh sau khi tốt nghiệp (ít nhất) có thể sử dụng/ lí giải phần lớn từ Hán Nhật trong tiếng Nhật hiện đại; bên cạnh đó, tổng số tác phẩm chữ Hán trong chương trình quốc vǎn hiện tại chiếm gần 30% số lượng các tác phẩm vǎn học; việc tổ chức đào tạo giáo viên và dạy học vǎn học chữ Hán hết sức quy củ, có sự ổn định từ hàng chục nǎm nay. Ở Hàn Quốc, bên cạnh môn Quốc vǎn (tương đương môn Ngữ vǎn của ta) có dạy học tác phẩm chữ Hán (của Hàn Quốc), còn tổ chức một môn học tự chọn (từ cấp 2) là Hán vǎn chuyên dạy về chữ Hán cổ và tác phẩm vǎn học chữ Hán, với hệ thống sách giáo khoa đồng bộ và yêu cầu chặt chẽ về phương pháp. Đặc biệt, kì thi quốc gia vào đại học của Hàn Quốc cũng tổ chức môn thi Hán vǎn từ hơn 40 nǎm nay (dẫn ý theo [8]). (Bản thân chúng tôi những nǎm gần đây cũng nhiều lần được Bộ Giáo dục Hàn Quốc mời tham gia ban ra đề/ thẩm định đề thi quốc gia thuộc tiểu ban Ngoại ngữ và Hán vǎn này). Xem thế, trong các nước đồng vǎn với vǎn hoá Hán, ở thời hiện đại, chỉ riêng giáo dục phổ thông Việt Nam còn “lúng túng” trong nhận thức và ứng xử với chữ Hán (cổ) nói riêng và di sản ngữ vǎn Hán Nôm nói chung. Thành tựu của người khác liệu có nhắc nhở chúng ta dũng cảm nhìn nhận lại mình?

3. Một vài đề xuất trong việc đưa tri thức Hán Nôm vào nhà trường phổ thông

Như đã nói trên, đến đầu thế kỉ 20, chữ Hán chữ Nôm tuy đã kết thúc vai trò lịch sử của mình, nhưng nền văn hóa Hán Nôm nói chung và tri thức Hán Nôm nói riêng thì vẫn hiện tồn và song hành cùng với lịch sử dân tộc. Theo đó, một cách lí tưởng thì học sinh cần được học môn học về chữ Hán chữ Nôm (như nhiều ý kiến trước đây đã đề xuất, cũng giống như việc Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn liên tục tổ chức dạy học bắt buộc môn học về chữ Hán, Hán vǎn). Nhưng trong điều kiện trước mắt, chúng ta chưa thể chuẩn bị thực thi điều này thì việc cung cấp tri thức – hình thành nǎng lực về Hán Nôm cho học sinh cần theo hướng linh hoạt: Kết hợp các mức độ giữa chương trình chính khoá và chương trình bổ trợ.

3.1. Đưa tri thức Hán Nôm vào chương trình chính khoá:

Chương trình chính khoá được hiểu là bắt buộc thực hiện theo phân phối chương trình môn học, được giáo viên giảng dạy và hướng dẫn, có kiểm tra đánh giá. Một số môn học được giới thiệu để học sinh tự chọn cũng thuộc chương trình chính khoá này. Sau đây là những khía cạnh có thể cần được lưu ý khi thực hiện:

- Tiếp tục thực hiện ở liên môn (ngữ vǎn, lịch sử…) và xuyên môn (tự nhiên, xã hội) nhưng lấy môn Ngữ vǎn làm trục chính. Đồng thời phải đảm bảo có hệ thống nhất quán giữa các lớp và bậc học.

- Bộ phận vǎn học cổ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm cần có một tỉ trọng tương xứng với các mảng khác. Có thể tǎng cường cả ở phần đọc thêm hay tham khảo. Hệ thống các chú thích dẫn giải về vǎn bản kèm theo phải chi tiết, chuẩn xác.

- Sách giáo khoa Ngữ vǎn cần có bảng tra cứu từ và yếu tố Hán Việt, gắn với (hình thể) chữ Hán (hiện nay chỉ có phiên âm). Lượng hoá việc cung cấp một số lượng yếu tố (chữ) Hán/ từ Hán Việt theo từng lớp, từng cấp học.

- Bổ sung các hình ảnh (kèm giải thích) về vǎn bản Hán Nôm cổ có liên quan. Hiện nay chỉ có lác đác, đôi khi cũng không ghi chú.

- Cần hình thành các bài học chuyên biệt về từ Hán Việt, cách sử dựng và sáng tạo từ Hán Việt trong tạo lập vǎn bản.

- Cần biên soạn Từ điển giải thích từ Hán Việt và từ Việt cổ dùng trong nhà trường như một tài liệu tham khảo bắt buộc. Hiện nay cũng có một vài cuốn từ điển Hán Việt dùng trong nhà trường nhưng không phải loại từ điển giải nghĩa từ mà chỉ để tra nghĩa. Từ điển giải nghĩa từ ít nhất phải đáp ứng/ tổ hợp được: tra hình thể chữ (Hán, Nôm), tra âm đọc, giải nghĩa cấu tạo (tự và từ), giải nghĩa từ nguyên, giải thích các lớp nghĩa theo cấu tạo, dẫn vǎn liệu… Có thể nghiên cứu để tích hợp tra cứu về điển cố dùng trong nhà trường vào cuốn sách này.

Như trên đã dẫn giải, lí tưởng nhất, học theo cách làm của Hàn Quốc, chúng ta có thể tổ chức một số môn học tự chọn. Môn học về chữ Hán và Hán Nôm Việt Nam sẽ được tổ chức chính quy, khoa học, bài bản hơn, với đầy đủ hệ thống giáo khoa, học liệu, kiểm tra đánh giá một cách hệ thống.

3.2. Đưa tri thức Hán Nôm vào chương trình bổ trợ:

Chương trình bổ trợ được hiểu là không có/ không bắt buộc thực hiện theo phân phối chương trình môn học, nhưng có thể được giáo viên giảng dạy và hướng dẫn, có hình thức kiểm tra đánh giá riêng. Thời gian dành cho ngoại khoá, chương trình địa phương, tổ chức câu lạc bộ, sinh hoạt hè theo hình thức học - vui, vui - học… đều có thể tận dụng.

-                Lực lượng tham gia giáo dục chương trình bổ trợ có thể rất đa dạng, gồm tất cả những người biết và yêu thích Hán Nôm. Tuỳ vào điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương, có thể khuyến khích một bộ phận học sinh (thường là học sinh có nǎng khiếu các môn xã hội) tham gia.

-                Đề nghị Bộ Giáo dục cho phép tổ chức biên soạn một bộ giáo khoa tham khảo dạy về Hán Nôm, sử dụng song hành và phụ trợ cho sách giáo khoa, sách giáo viên chính thức. Trước mắt, có thể hình thành một nhóm nghiên cứu – biên soạn để thực hiện thí điểm. Chúng tôi cho rằng, việc làm này sẽ đặc biệt hữu ích trong điều kiện hiện thời.

-                Bộ giáo khoa tham khảo dùng để dạy và hướng dẫn tự học về Hán Nôm nói trên, trước mắt, trong giai đoạn thử nghiệm có thể chỉ cần 2 quyển, một quyển dùng cho Trung học cơ sở, một quyển dùng cho Trung học phổ thông. Cố nhiên, để được giới thiệu dùng (tham khảo, bổ trợ) trong nhà trường, bộ sách cần phải tuân thủ những nguyên tắc khoa học về chương trình giáo dục.

-                Một hệ thống học liệu mở với các tài liệu/ công cụ tra cứu tĩnh (sách) và động (mạng internet) liên quan đến Hán Nôm cần được biên soạn, thẩm định và được Bộ Giáo dục giới thiệu dùng cho nhà trường. Hệ thống học liệu này có thể giúp giáo viên và học sinh sử dụng thuận tiện, hữu hiệu trong mọi trường hợp và tình huống giáo dục.

-               Khuyến khích xã hội hoá giáo dục, tận dụng các nguồn lực xã hội trong dạy học về Hán Nôm với nhiều hình thức khác nhau: Câu lạc bộ Hán Nôm, câu lạc bộ thư pháp, các nhóm và trung tâm Hán Nôm tình nguyện, tổ chức các giải thưởng…

-               Một vài ý kiến mà chúng tôi đề xuất, bàn góp ở trên cần tiếp tục được thảo luận và (nếu cần thiết) chúng ta sẽ trình bày một bản kiến nghị với Bộ Giáo dục, trên danh nghĩa một tổ chức khoa học chuyên ngành về Hán Nôm. Chắc chắn, chúng ta không thể “chờ đợi trong hi vọng” một cơ chế đặc biệt nào đó dành cho môn học này, trong khi bản thân những “người trong cuộc” như chúng ta không có những đề xuất/ những phương án cụ thể.

3.3. Những nguyên tắc căn bản trong việc đưa tri thức Hán Nôm vào nhà trường:

Dẫu là đưa tri thức Hán Nôm vào nhà trường theo phương thức nào, cũng cần chú ý các nguyên tắc cơ bản. Dưới đây là một số đề nghị bước đầu:

(a) Học chữ Hán, chữ Nôm tức là tiếp nhận (và qua đó, lí giải về) vǎn hoá dân tộc. Việc tiếp nhận các tri thức này cần diễn ra như một nhu cầu tự thân, tự nhiên của người học. Học sinh cần được hướng dẫn tiếp nhận các kiến thức từ dễ đến khó, gắn lí thuyết với thực hành.

(b) Học chữ gắn với giảng nghĩa từ. Việc giải nghĩa từ cần xuất phát từ hình thể, cấu tạo… để hiểu được nghĩa từ nguyên và diễn biến các lớp nghĩa của chúng, gắn với các vǎn bản cụ thể. Tri thức về từ pháp, cú pháp Hán vǎn, vǎn Nôm cổ được trình bày theo hệ thống bài học về vǎn bản.

(c) Các vǎn bản được lựa chọn đưa vào chương trình, giáo khoa phải tiêu biểu cho các loại thể; nhưng mặt khác, qua các vǎn bản đó cần cung cấp được tối thiểu 3000 chữ thông dụng, gắn với hệ thống từ Hán Việt cơ bản trong tiếng Việt hiện đại.

(d) Lí giải các vǎn bản tác phẩm tiêu biểu: cần nhất quán theo hướng minh giải văn bản, với các thao tác cụ thể, chi tiết, đầy đủ. (Về điều này, xin tham khảo bài viết của chúng tôi về công tác minh giải vǎn bản Hán Nôm trong [7]).

(e) Tài liệu giáo khoa phải được biên soạn theo nguyên tắc hướng dẫn tự học, dạy việc tự học, với hệ thống các bài tập thực hành phong phú; tài liệu tham khảo và thường thức về cổ vǎn cần tinh xác.

Để Hán Nôm học thực sự gắn kết với nhà trường, nhằm thực hiện tốt yêu cầu giáo dục và phát huy giá trị của di sản Hán Nôm trong tương lai, việc quan tâm đồng bộ đến tất cả các vấn đề có liên quan, bắt đầu từ tổ chức thiết kế chương trình ngữ vǎn Hán Nôm, biên soạn sách và tư liệu tham khảo, đào tạo đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn, tổng kết kĩ nǎng - phương pháp truyền thụ tri thức vǎn hóa Hán Nôm… là những khâu đoạn then chốt.

4. Di sản văn hóa thành văn Hán Nôm là một bộ phận đặc sắc của vǎn hóa truyền thống Việt Nam. Giữ gìn, khai thác, giới thiệu… giá trị của nó là một nhiệm vụ trọng yếu của khoa học xã hội nhân vǎn trong xu thế hội nhập vǎn hóa hiện nay. Theo đó, việc tổ chức dạy học tác phẩm văn học Hán Nôm - phần tinh hoa của di sản Hán Nôm - và cung cấp các tri thức vǎn hóa Hán Nôm nói chung ở nhà trường các cấp cần không ngừng được đổi mới, cả về quan điểm, cả về nội dung và phương pháp. Chỉ khi chúng ta nhìn nhận và xem xét vấn đề một cách hệ thống thì những vướng mắc, bất cập trong việc bảo tồn - phát huy giá trị của bộ phận di sản này, cũng như việc truyền thụ tri thức liên quan trong nhà trường, mới dần được tháo gỡ. Tự chủ dân tộc trước hết là ý thức tự chủ vǎn hóa, vǎn hiến. Do thế, bảo tồn và phát huy tốt giá trị vǎn hóa - vǎn hiến của di sản Hán Nôm cũng tức là hướng đến mục đích bao trùm: làm sao để các thế hệ con người Việt Nam biết mình trong mối quan hệ với dân tộc, có ý thức chiếm lĩnh nền vǎn minh hiện đại trên cơ sở bản sắc vǎn hóa của dân tộc mình. Vấn đề này, chính sách giáo dục của ta đã đặt ra và giải quyết từng bước nhưng còn thiếu những giải pháp thích hợp để thực thi có hiệu quả. Có vận dụng được vào thực tế giáo dục, nhất là trong nhà trường các cấp thì việc nghiên cứu di sản vǎn hóa truyền thống, trong đó có di dản Hán Nôm mới có ý nghĩa thiết thực.

PGS. TS Hà Minh

(Đại học Sư phạm Hà Nội)

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Vai trò của Hán Nôm trong văn hoá đương đại (The Role of Sino-Nom in Contemporary Culture), Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức, 27/8/2016, tr.316-322.

Bài viết đã được tác giả đồng ý cho đăng tải trên website Khoa Văn học.

 

Tài liệu tham khảo:

[1]. Hà Minh (2016), Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm trong nhà trường sư phạm hiện nay: thực trạng và yêu cầu đổi mới, In trong: Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Ngữ vǎn trong nhà trường Sư phạm (Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc gia), NXB GDVN, H. Tr 328 – 335.

[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới cǎn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Hà Nội.

[3]. Lê Trí Viễn (cb) (1984 - 1987), Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Đặng Chí Huyền. Cơ sở ngữ văn Hán Nôm, 4 tập, NXB Giáo dục. H.

[4]. Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San (1987, 1988, 1989). Ngữ văn Hán Nôm, 3 tập, NXB Giáo dục. H.

[5]. Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San (chủ biên), Hà Minh, Dương Tuấn Anh, Nguyễn Thanh Chung, Hà Đǎng Việt (2007, 2008, 2009). Ngữ văn Hán Nôm, 3 tập, NXB ĐHSP. H.

[6]. Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San (chủ biên), Hà Minh, Nguyễn Thanh Chung, Nguyễn Tú Mai, Hà Đǎng Việt (2014). Giáo trình Văn bản Hán văn Việt Nam, NXB GDVN. H.

[7]. Hán Nôm học trong nhà trường – Những vấn đề trao đổi (2013), Kỉ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc, NXB ĐHSP. H.

[8]. Cho Jae Hyun, Bùi Mạnh Hùng (2008), Sách giáo khoa Ngữ văn của Hàn Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam - Tạp chí Ngôn Ngữ và đời sống, số 2 (158).

Chuyện này lâu nay không ai đề cập đến nữa bởi dường như các nhà nghiên cứu đều nhất trí với quan điểm phủ nhận bắt đầu từ cụ Vũ Tuân Sán: Chiêu Hổ không phải/ không thể là Phạm Đình Hổ(1). Kể cả cố PGS. Đào Thái Tôn, người có những nghiên cứu chuyên sâu về Hồ Xuân Hương cũng không có ý kiến khác.

Tôi nghiên cứu về Phạm Đình Hổ nên vẫn băn khoăn vấn đề này. Cũng như cụ Vũ Tuân Sán, ban đầu tôi cũng nghĩ, cái người đã tự bạch là “Dù có đem các tích truyện Nôm hoặc các trò cờ bạc ca múa rê ta thì ta cũng bịt tai lại chẳng muốn nghe. Ta đã học qua sử thư vậy mà chữ Nôm chẳng biết hết, câu ca bản đàn qua tai rồi lại chỉ nhớ láng máng…” (Vũ trung tùy bút) thì khó lòng mà thích được “cái kiểu” Hồ Xuân Hương.

Gần đây, tìm đọc được một số tài liệu liên quan đến Phạm Đình Hổ tôi lại có suy nghĩ khác.

Chân dung ngài Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ Phạm Đình Hổ (范廷琥, 1768 - 1839), quàn tại từ đường Phạm Đình tộc (thôn Hòa Ché, xã Hùng Thắng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Việt Nam). Ảnh wikipedia

1. Phạm Đình Hổ được phép xưng là Chiêu Hổ

Cụ Vũ Tuân Sán cho rằng, chữ “Chiêu” chỉ dùng cho con của những người đỗ Tiến sĩ, mà thân phụ Phạm Đình Hổ không đỗ Tiến sĩ, nên Phạm Đình Hổ khó có thể được gọi là Chiêu. Thực ra, chính Phạm Đình Hổ trong sách Châu Phong tạp thảo có nói về chữ Chiêu này. Ông cho biết, điển chế thời Hồng Đức nhà Lê quy định, con trai của các quan ở ban văn từ hàm tam phẩm trở lên được bổ vào học ở Sùng Văn quán. Thời Trung hưng, đổi Sùng Văn quán làm Chiêu Văn quán, cho con các quan từ hàm ngũ phẩm vào học. Thời Lê mạt, chế độ thụ nghiệp ở Chiêu Văn quán bị bỏ bê, không được thực hiện nữa, nhưng người ta vẫn theo thói quen gọi con các quan hàm ngũ phẩm trở lên là Chiêu… Phạm Đình Hổ có cha là quan hàm Tam phẩm, theo điển chế, mẹ ông được gọi là Cung nhân, và ông - vốn là một người rất am hiểu điển lễ và thích chứng tỏ mình là loại con nhà nên đương nhiên sẽ không bỏ qua cơ hội tự xưng là Chiêu - Chiêu Hổ.

2. Phạm Đình Hổ là bậc tài tử

Sách Quốc sử di biên (QSDB) (vừa rồi do nhóm Nguyễn Thị Oanh dịch chú và đã xuất bản), ở tờ 23b (trang 96, QSDB) chép: “Bấy giờ, Thành Quận công là người chuộng văn học, cho nên các văn sĩ ở Bắc Hà như Nguyễn Hồng ở Hải Dương, Phạm Hổ ở Đan Loan, Vũ Dĩnh ở Mộ Trạch, Phan Hoành Hải ở Sơn Nam… đều là khách thường xuyên trong phủ của Quận công, đều là bạn văn chương, được gọi là bậc tài tử”.

Tờ 57a (trang 307, QSDB) chép: “Vua triệu Phạm Hổ vào làm Thự Quốc tử giám Tế tửu. Phạm Hổ là tài tử của đất Đan Loan. Khoa thi năm Kỷ Mão ông đỗ Sinh đồ, đến năm Ất Dậu được đổi là Tú tài. Năm Tân Tỵ được vời vào bái yết nhà vua. Bề trên rất trọng người này, vì thế đem bạc lụa đến mời ra làm quan”.

Như vậy theo tài liệu này, đương thời, Phạm Đình Hổ được xem là bậc tài tử. Mà chữ tài tử thì từ xưa đến nay vẫn thường dùng để chỉ những người có tài, tính cách phóng túng, tự do. Từ điển cũng định nghĩa như vậy.

Cụ Vũ Tuân Sán cho rằng “Toàn bộ văn chương của Phạm Đình Hổ chứng minh rằng ông lúc nào cũng là một học giả chín chắn… không thể là một nhà nho có một đời tư bừa bãi hoặc một nhà nho ngông cuồng…”, cho nên “khó lòng hợp với tính cách của Hồ Xuân Hương, là một người muốn phá phách lễ giáo phong kiến”. Nhưng ở đây Phạm là một tài tử trong một nhóm tài tử nổi danh ở Bắc thành đương thời. Ông từng nhiều lần đi chơi, đi hát cùng bè bạn. Bài thơ Vấn Phan Hoành Hải kể việc ông hẹn Phan đến nghe hát ở đình Chèm nhân dịp tế thần nhưng Phạm không đến:

“Hoành Hải kim tiêu hà vãng

Thiên vương từ lý thính ca

Mặc khách hồng nhan tương đối

Đăng tiền nguyệt hạ như a”

[Hoành Hải đêm nay đi đâu

Trong đền Thiên vương nghe hát

Để khách thơ với người đẹp ngồi nhìn nhau

Trước đèn dưới trăng thế này ?]

Thơ ông còn có nhiều bài rất hay kể về các cuộc hát xướng, nhắc đến đào nương, vậy thì không thể nói là ông không thích hát xướng; ông lại từng làm cả cuốn tự điển chữ Nôm Nhật dụng thường đàm nên cũng không thể bảo là không biết nhiều chữ Nôm.

Với việc Phạm Đình Hổ được liệt vào hàng tài tử, nhận định Phạm Đình Hổ là một nhà nho nghiêm nghị chuẩn mực cần phải xem lại.

3. Phạm Đình Hổ là kẻ thị tài

Phạm Đình Hổ là người thị tài và cũng rất ngang ngược, sự thị tài của ông đã khiến ông bị đồng liêu ghét. Sách Quốc sử di biên chép: “Thự Tế tửu là Phạm Hổ xin từ chức, Hổ là người thẳng tính, giáo pháp rất nghiêm, các học trò từng theo học thầy khác ông không cho nhập môn. Bấy giờ ông đang ở Giám, có vị công tử ra học, ông rút guốc ra ném. Công tử vặn rằng: “Đánh roi là hình phạt trong dạy học, nay ông rút guốc ném tôi là thế nào”. Liền lấy guốc ném trả. Lại nói: “Không phải đại khoa thì không đủ làm khuôn mẫu cho người. Hổ thẹn quá dâng biểu xin về Bắc thành dưỡng bệnh, vua ban cho 100 quan tiền” tờ 64a (318).

Tờ 79b (377) chép: Tháng 8, lại triệu Phạm Hổ thực thụ Quốc tử giám Tế tửu. Trước đó năm Đinh Hợi, Hổ xin về Bắc thành dưỡng bệnh. Nhà vua trọng người ấy nên để trống vị trí đó đợi. Đến đây mệnh cho Quyền Tri phủ Diễm cùng thầy thuốc đến thăm khám. Thấy bệnh đỡ hạ chiếu triệu vào. Hổ từ chối, lấy cớ là chưa thấu suốt sách vở thánh hiền, chưa thỏa lòng mong mỏi của sĩ phu từ sông Gianh trở ra Bắc. Vua không cho, ông lại trở về kinh.

Khi Hổ ở Bắc thành gặp kì thi Hương, con ông làm văn hộ người khác, bị Giáo thụ Hoài Đức đánh roi. Hổ giận nói: “Ta hận không được làm đại quan thôi, chứ còn như đám giáo thụ thì môn đồ ta khối”. Người đời cho là ông quá quắt.

Lại có viên ở đội Cẩm y xin tiền không được, ra đường nói hỗn. Hổ đánh cho chảy máu. Viên Cẩm y ngã xoài ra, ông liền mang nồi đồng ra treo vào cổ anh ta, vu là ăn trộm giữa ban ngày, làm bản cáo trạng tố lên Hình tào Nghi. Nghi sai Quyền Tri phủ Diễm tra hỏi. Diễm đến xử, chỉ bắt tội khi quân và nói: “Hoàng thượng nhiều lần hạ chiếu triệu khanh, khanh lấy cớ dưỡng bệnh từ chối. Đang lúc dưỡng bệnh nặng mà có thể đánh ngã người khỏe mạnh thì ai khỏe đây?” Hổ giận quá đập đầu vào bàn. Diễm cười mà nói: “Cho dù khanh cởi khăn ra đập vỡ đầu cũng không thể vu cho ta tội bức tử khanh, huống hồ đầu vẫn còn quấn khăn thì có đập vào bàn cũng chẳng phương hại gì”. Rồi bắt trói viên Cẩm y cùng chứng cứ, lập án trạng xong bảo với Hổ rằng: “Khanh có quan phẩm, lại được hoàng thượng trọng dụng, Hình tào ở Bắc thành không dám xét xử, phải chờ làm bản sách tấu lên, sự thể phải như vậy”. Hổ sợ, cố xin giảng hòa nên được miễn tội.

Khi Hổ được phục chức thường qua lại Lục bộ đường, bị quan Ngự sử đề tấu lên mách với nhà vua. Nhà vua tha cho và nói: “Hiểu biết, rèn luyện, du chơi và nghỉ ngơi vốn là bản sắc của bậc Nho giả”. Rồi miễn nghị tội. Có viên nhậm tử nọ ở Bối Khê từng chê trách Hổ rằng: “Ông nổi tiếng về văn học, được hoàng thượng trọng dụng, thế mà xuất xử đều sai trái. Bị trong triều ngoài nội đàm tiếu, chỉ riêng ông là không hối chăng?”

4. Phạm Đình Hổ và Hồ Xuân Hương là cặp đôi tài tử - tài nữ

Phạm Đình Hổ và Xuân Hương thân nhau trong khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XIX.

Qua một số tài liệu mới phát hiện gần đây, có thể phác ra đôi nét tiểu sử Hồ Xuân Hương như sau: Bà sinh vào cuối thế kỷ XVIII, khoảng từ năm 1770 - 1780, là con gái thuộc dòng họ Hồ nguyên quán làng Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Họ Hồ là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan ở thời Lê. Theo bài tựa tập thơ Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương do Tốn Phong thị viết thì bà là em gái Hồ Sĩ Đống (1739 - 1785), một đại thần đầu triều thời Lê Hiển Tông - Trịnh Sâm. Nếu vậy thân phụ bà là Hồ Sĩ Danh (1706 - 1783). Hồ Sĩ Danh đỗ Hương cống năm 1732, ông không ra làm quan nhưng nhờ uy vọng của con mà được ban chức Hàn lâm viện Thừa chỉ(2), hàm Thái bảo, cuộc sống gia đình khá dư dả. Có thể khi Hồ Sĩ Đống làm quan to ở kinh, Hồ Sĩ Danh thường đi về giữa Nghệ An và Thăng Long, tại Thăng Long, ông lấy một người thiếp rồi sinh Hồ Xuân Hương, Xuân Hương là em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống. Năm 1783, ông Hồ Sĩ Danh mất. Năm 1785, Hồ Sĩ Đống bị trọng bệnh qua đời. Năm 1786, quân Tây Sơn vào Thăng Long phò Lê diệt Trịnh rồi không bao lâu nhà Lê sụp đổ. Gia đình Xuân Hương cũng như nhiều gia đình quan lại ở Thăng Long đang quen sống bằng bổng lộc nhà Lê, sau những biến động dữ dội, trở nên sa sút cơ cực. Từ thời kỳ này bà sống cùng mẹ trong nếp nhà cũ của họ Hồ là Cổ Nguyệt đường(3) ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (khu vực gần Hồ Tây Hà Nội), cha và anh đều đã mất, không còn chỗ dựa, cuộc sống của hai mẹ con khá chật vật, mẹ bà phải buôn bán ngoài chợ để sinh sống. Tuy nhiên, sinh ra trong một dòng họ quyền thế, có truyền thống Nho học, Hồ Xuân Hương lúc nhỏ được đi học và được thừa hưởng nhiều tri thức Nho học từ sách vở của cha anh để lại, vốn là bậc thông minh mẫn tiệp, bà dần có tiếng trong đám văn nhân tài tử đất kinh thành.

Đầu niên hiệu Gia Long nhà Nguyễn, Hồ Xuân Hương đã là một phụ nữ trên dưới 30 tuổi. Bài tựa tập thơ Lưu hương ký cho biết, trong con mắt kẻ sĩ đất cố kinh bấy giờ, Xuân Hương là một người “học rộng và giỏi văn, nhà nghèo mà đẹp, tư tưởng lạ mà diễm lệ, thơ đúng luật mà thanh thoát, xứng đáng là một tài nữ”. Sách Quốc sử di biên cũng chép: “Xuân Hương giỏi thơ văn, hiểu chính sự nên được người đời xưng tụng là bậc tài nữ”. Với tài năng như vậy, bà được nhiều văn nhân tài tử mến mộ. Cổ Nguyệt đường là nơi lui tới xướng họa thơ văn của họ.

Như vậy Phạm Đình Hổ hơn Hồ Xuân Hương chừng chục tuổi. Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, Hồ Xuân Hương sinh khoảng năm 1775 - 1780. Một người là tài tử, một người là tài nữ, tuổi tác đủ để có thể chơi được với nhau, không có gì đáng để nghi ngờ nếu cho rằng Phạm Đình Hổ chính là người viết hai câu thơ chiết tự tài tình để đùa Xuân Hương:

“Người Cổ lại còn đeo thói Nguyệt

Vườn Xuân sao để lạnh mùi Hương”.

Hoặc làm những bài thơ trêu chọc nhau như kiểu Xuân Hương xướng:

“Sao nói là năm lại có ba

Trách người quân tử ở sai ngoa

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt

Nhớ hái cho xin nắm lá đa”.

Và Phạm Đình Hổ họa:

“Rằng gián thì năm quý có ba(4)

Trách người thục nữ tính không ra

Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt

Cho cả cành đa lẫn củ đa”.

Như vậy đương thời, Xuân Hương là bậc tài nữ, Phạm Đình Hổ là hàng tài tử. Việc hai người quen biết qua lại ngâm vịnh xướng họa với nhau ở Thăng Long cho đến trước khi Phạm vào Huế làm quan 1822 là điều hoàn toàn có thể xảy ra, và Phạm Đình Hổ chính là anh chàng Chiêu Hổ tinh quái trong thơ Hồ Xuân Hương.

 Chú thích:

(1) Xem Vũ Tuân Sán: Chiêu Hổ và Phạm Đình Hổ - Tập san Nghiên cứu Văn học số 3/1962.

(2) Là hư chức, không phải thực chức.

(3) Đặt tên theo lối triết tự cổ và nguyệt ghép lại thành chữ Hồ, chỉ nhà họ Hồ.

(4) Tiền thời cổ, năm quan tiền gián mới bằng ba quan tiền quý./.

 Nguồn: Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.444-457.

K.VH - Trong vòng sáu tháng (từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020), nhóm giảng viên và sinh viên chuyên ngành Hán Nôm thuộc Khoa Văn học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đã tiến hành điền dã, sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại các cơ sở thờ tự ở Bình Thuận và Ninh Thuận kết quả sưu tầm được 289 sắc phong, kết quả khảo sát số sắc phong ngày cho thấy được một số thông tin có giá trị về lịch sử, văn hóa, đồng thời cũng nhận biết hiện trạng di sản Hán Nôm - sắc phong đang được lưu giữ tại địa phương.

1. Lê Văn Đức 黎文德 (1793 - 1842) là danh thần đầu triều Nguyễn, phụng sự ba đời vua: Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị. Quê ông ở cù lao Bảo thuộc tổng Tân An - châu Định Viễn - dinh Phiên Trấn (nay thuộc tỉnh Bến Tre)(1). Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Dậu (Gia Long năm thứ 12 - 1813), sau đó được bổ làm Tri huyện ở Tri Viễn. Từ năm 1822 đến năm 1828 (Minh Mệnh năm thứ 3 đến năm thứ 9), ông lần lượt giữ nhiều chức vụ khác nhau: Lang trung Bộ Công, Thiêm sự, Ký lục trấn Bình Hòa sung Giám thị trường Nam Định, Hữu Thị lang Bộ Công, Hữu Thị lang Bộ Binh, Toản tu bách quan chức chế, Tham tri Bộ Binh, Thự Thượng thư Bộ Binh.

Sinh ra ở vùng đất Nam bộ, do sự đưa đẩy của thời cuộc, suốt cả cuộc đời, Lê Văn Đức bôn ba khắp mọi nẻo đường đất nước. Từ Nam ra Bắc, từ Bắc lại vào Nam, ông đã trải qua nhiều thăng trầm, gian khổ, thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng(2). Tuy nhiên, ở cương vị nào, ông cũng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình, lập được nhiều công trạng to lớn: trị thủy ở kinh đô Huế (1839), trấn áp các cuộc nổi dậy của người Chân Lạp (1840), hai lần đánh dẹp giặc Xiêm La (1840, 1842)… Nếu không qua đời sớm ở tuổi 49 (năm 1842) thì chắc chắn ông sẽ còn lập thêm nhiều công trạng(3).

Một trong những chiến công nổi bật của ông là hai lần dẹp tan được loạn Nông Văn Vân (1833 - 1835). Tháng 7 âm lịch năm 1833, một Thổ ty người Tày ở Bảo Lạc (Tuyên Quang) tên là Nông Văn Vân khởi binh chống lại sự cai trị của triều Minh Mạng(4), Lê Văn Đức liền được sung chức Tham tán quân vụ đại thần, lãnh nhiệm vụ tiễu trừ loạn tặc. Đánh giải vây được thành Tuyên Quang, vua Minh Mệnh sung ông làm Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên (5), đồng thời cử Nguyễn Công Trứ làm Tham tán, để cùng dẫn đại binh đi đánh Vân Trung (Bảo Lạc), là nơi đặt đại bản doanh của Nông Văn VânTháng 6 năm Giáp Ngọ (1834), sau khi củng cố lại lực lượng,Nông Văn Vân cùng với các thuộc hạ dẫn cả ngàn quân đi đánh chiếm Cao Bằng. Hốt hoảng, các quan đầu tỉnh đều bỏ chạy. Hay tin, nhà vua lại cử Lê Văn Đức làm Tổng đốc đạo Tuyên Quang để cùng với các tướng lĩnh khác mang quân đi trấn áp. Thua trận, Nông Văn Vân trốn trong rừng Thẩm Pát ở Tuyên Quang, rồi bị quân triều đình phóng lửa đốt rừng. Theo sử nhà Nguyễn thì sau đó (tháng 3 âm lịch năm 1835), Nông Văn Vân bị chết cháy (6).

Xét công lao, Lê Văn Đức được phong là Ân Quang tử, thăng trật Hiệp biện Đại học sĩ, nhưng vẫn lĩnh chức Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, để tiếp tục truy bắt các thuộc hạ của Nông Văn Vân hiện vẫn còn đang lẩn trốn.

Với những công trạng trên, Lê Văn Đức nhiều lần được ban thưởng xứng đáng. Năm 1835, tên ông được cho khắc vào bia đá đặt trước sân Võ miếu Huế vừa thành lập. Cùng năm ấy, vua Minh Mệnh ban thưởng cho ông một phần thưởng đặc biệt: ôm gối vua (7). Đến năm Tự Đức thứ 10 (1857), sau khi mất 15 năm, Lê Văn Đức được thờ trong đền Hiền Lương.

20220508 7

Văn bản 周原雜詠 - Chu nguyên tạp vịnh

Tuy là một võ tướng, nhưng Lê Văn Đức cũng có tài làm thơ. Tác phẩm của ông còn truyền lại là tập Chu nguyên tạp vịnh và một bài văn tế các tướng sĩ trận vong và bệnh vong trong cuộc chiến chống bọn Nông Văn Vân, được chép trong Tế văn tập do một vị Cử nhân họ Hoàng ở Nhuế Giang biên soạn.

2. Sau khi bình được loạn Nông Văn Vân, vua Minh Mệnh vui mừng ban thưởng cho Lê Văn Đức và mở tiệc khao quân. Tuy cuộc bình loạn đại thắng, nhưng phía triều đình cũng tổn thất nhiều tướng sĩ, người thì tử trận, kẻ thì bệnh chết trong quân. Cho nên, vua sai Lê Văn Đức viết một bài văn tế để tỏ lòng tưởng nhớ, thương tiếc và ghi khắc công lao của các tướng sĩ đã anh dũng hi sinh vì đại cuộc. Bài văn tế có tên đầy đủ là Sơn Hưng Tuyên Đốc hiến Lê Văn Đức tuân chỉ tế trận vong bệnh cố tướng sĩ văn. Xét thấy đây là bài văn tế hay, có giá trị văn học và lịch sử, chúng tôi xin phiên dịch, chú thích để giới thiệu cùng quý độc giả xa gần.

Nguyên văn:

山興宣督憲黎文德遵旨祭陣亡病故將士文

某年月日官爵姓名,欽奉恩旨,軫及進征逆雲辰陣亡病故之將士兵勇等,準賜祭一坛,具牲酒庶饈之品,設坛為位以告于行陣病亡者之靈曰:

嗚呼!疆場敵愾,因盡節以成忠;覆載垂慈,無微而不燭。

雖蒙國恩死國事,臣心庸恤其他;然孤人子寡人妻,兵革本非所欲。

繄爾等之驕雄;為國家之容蓄。

奮身堅銳,以膂力而爪牙;矢念尊親,如手足於頭目。

許久虎皮包戟,譙楼之角吹方閒;何期狼燧傳鋒,戎壘之征轅乍促。

修尔戈同澤同袍;出我車于郊于牧。

三秋出入屡戰頻攻;萬状艱難重溪疊谷。

飛鳶跡跡,空驚壯士之魂;瘏馬行行,疇畫征夫之軸。

惟其想逆渠之犯順,孰不衝冠;是以[?](8)予勇以争先,人思八服。

踰嶺以臨泉;亦緣崖而攀木。

連峰似戰桓桓,臨玉帽以奚辭;薰雨如湯恍恍,指雲中而不縮。

霜林戰處,曷禁矢石之紛飛;霧磴躋餘,易惹烟嵐之誤觸。

吳將之金瘡列背,神醫何所旋丹;蜀泉之水瘴居肓,鬼伯豈須登籙。

故破竹走風之勢,則莫我承;而埋輪鷙馬之雄,返為尔毒。

嗟哉,衽不厭之金;忽乃,委俱焚之玉。

想尔之九泉齎志,有不勝於猿呌鵑啼;乃彼之一旦傾巢,亦窮技於驢鳴鼯伏。

是能雪尔恨于窈冥全伏我朝之威福。

且此三軍奏凱,正騰闕下之歌;寧絕塞含凄,尚滯天顏之哭。

仰高厚之普施;悉往存而涵肓。

千里封疆不遠,宸思乍動于磬聞;九重渥澤有加,卹典式周于矢後。

今則:以饗以奠欽自天恩;或肆或將治于庖祝。

庶精爽之有知;俾宠光之共沐。

嗚呼!太山比重,不孤馬革之難懷;天日向光,久慰泉臺之衷曲。

尚享!

Phiên âm

SƠN HƯNG TUYÊN ĐỐC HIẾN LÊ VĂN ĐỨC TUÂN CHỈ TẾ TRẬN VONG BỆNH CỐ TƯỚNG SĨ VĂN

Mỗ, niên nguyệt nhật, quan tước tính danh, khâm phụng ân chỉ, chẩn cập tiến chinh nghịch Vân thời trận vong bệnh cố chi tướng sĩ binh dũng đẳng, chuẩn tứ tế nhất đàn, cụ sinh tửu thứ tu chi phẩm, thiết đàn vi vị dĩ cáo vu hành trận bệnh vong giả chi linh viết:

Ô hô! Cương trường địch khái, nhân tận tiết dĩ thành trung; Phú tái(9) thùy từ, cái vô vi nhi bất chúc.

Tuy mông quốc ân tử quốc sự, thần tâm dong tuất kỳ tha; Nhiên cô nhân tử quả nhân thê, binh cách bản phi sở dục.

Ế nhĩ đẳng chi kiêu hùng, vi quốc gia chi dung súc.

Phấn thân kiên nhuệ, dĩ lữ lực nhi trảo nha(10); Thỉ niệm tôn thân, như thủ túc ư đầu mục(11).

Hứa cửu hổ bì bao kích, tiều lâu(12) chi giác xúy phương nhàn; Hà kỳ lang toại(13) truyền phong, nhung lũy chi chinh viên sạ xúc.

Tu nhĩ qua đồng trạch đồng bào(14); Xuất ngã xa vu giao vu mục.

Tam thu(15) xuất nhập, lũ chiến tần công; Vạn trạng gian nan, trùng khê điệp cốc.

Phi diên tích tích, không kinh tráng sĩ chi hồn; Đồ mã hàng hàng, trù họa chinh phu chi trục.

Duy kỳ tưởng nghịch cừ chi phạm thuận, thục bất xung quan; Thị dĩ ? dư dũng dĩ tranh tiên, nhân tư bát phục.

Ký du lĩnh dĩ lâm tuyền; Diệc duyên nhai nhi phàn mộc.

Liên phong tự chiến hoàn hoàn, lâm ngọc mạo(16) dĩ hề từ; Huân vũ như thang hoảng hoảng, chỉ vân trung nhi bất súc.

Sương lâm chiến xứ, hạt cấm thỉ thạch chi phân phi; Vụ đặng tễ dư, dị nhạ yên lam chi ngộ xúc.

Ngô tướng chi kim sang liệt bối, thần y hà sở toàn đan; Thục tuyền chi thủy chướng cư hoang, quỷ bá khởi tu đăng lục.

Cố phá trúc tẩu phong chi thế, tắc mạc ngã thừa(17); Nhi mai luân(18) chí mã chi hùng, phản vi nhĩ độc.

Ta tai, nhẫm bất yếm chi kim(19); Hốt nãi, ủy câu phần chi ngọc(20).

Tưởng nhĩ chi cửu tuyền tê chí(21), hữu bất thăng ư viên khiếu quyên đề; Nãi bỉ chi nhất đán khuynh sào, diệc cùng kỹ ư lư minh ngô phục(22).

Thị năng tuyết nhĩ hận vu yểu minh; Cái toàn phục ngã triều chi uy phúc.

Thả thử tam quân tấu khải, chính đằng khuyết hạ chi ca; Ninh giao tuyệt tái hàm thê, thượng trệ Thiên nhan chi khốc.

Ngưỡng cao hậu chi phổ thi; Tất vãng tồn nhi hàm dục.

Thiên lý phong cương bất viễn, thần tư sạ động vu khánh văn; Cửu trùng ác trạch hữu gia, tuất điển thức chu vu thỉ hậu.

Kim tắc: Dĩ hưởng dĩ điện khâm tự thiên ân; Hoặc thích hoặc tương trị vu bào chúc.

Thứ tinh sảng chi hữu tri, tỷ sủng quang chi cộng mộc.

Ô hô! Thái Sơn tỷ trọng, bất cô mã cách(23) chi nan hoài; Thiên nhật hướng quang, cửu úy tuyền đài chi trung khúc(24).

Thượng hưởng!

Dịch nghĩa:

BÀI VĂN TẾ DO ĐỐC HIẾN SƠN HƯNG TUYÊN LÊ VĂN ĐỨC TUÂN THEO LỆNH VUA VIẾT ĐỂ TẾ CÁC TƯỚNG SĨ TRẬN VONG VÀ BỆNH VONG

Mỗ, ngày tháng năm, chức tước và họ tên, kính vâng ân chỉ của vua, ban một đàn lễ tế, đầy đủ lễ vật, rượu thịt và thức ngon, tưởng nhớ các tướng sĩ đã anh dũng trận vong và bệnh vong trong cuộc tiến đánh bọn nghịch tặc Nông Văn Vân. Nay lập đàn tế cáo với linh hồn các tướng sĩ rằng:

Than ôi! Lòng địch khái nơi chiến địa, thà tử tiết để vẹn giữ lòng trung; Ân phú tái đấng hiền minh, dù đại tiểu cũng dày ban ân phúc.

Tuy đội ơn nước, chết vì việc nước, kẻ bề tôi đâu hối tiếc điều chi; Nhưng con xa cha, vợ phải xa chồng, cơn binh cách vốn trầm luân địa ngục.

Kia sĩ binh anh dũng kiêu hùng, chính quốc gia tài bồi hun đúc.

Rèn thân rắn sắc, mong thành gân cốt tướng trảo nha; Chặt dạ tôn thân, chẳng khác tay chân quan đầu mục.

Bấy lâu cung kiếm yên da hổ, tiếng tù chòi gác vắng thinh thinh; Bây giờ lang khói ngút trời xanh, trận địa trống đồn đang thôi thúc.

Sửa sang giáo mác, mặc cùng áo đắp cùng chăn; Chỉnh đốn ngựa xe, ruổi mọi đường xông mọi góc.

Ba thu dầu dãi, công phá nhiều phen; Vạn nỗi gian truân, san bằng hiểm hóc.

Quạ diều quần đảo, luống kinh hồn tướng sĩ mơ màng; Xe ngựa liêu xiêu, khéo họa bức chinh phu vũ khúc.

Riêng nghĩ đến tặc đồ phản nghịch, nộ khí xung thiên; Nên phát dương ý chí tranh hùng, tám phương úy phục.

Đã lội suối lại trèo non; Thêm thiên nhai rồi lâm cốc.

Từng đỉnh núi giống rừng gươm uy vũ, đầu mang mũ trụ chẳng lùi chân; Mỗi giọt mưa như dòng nước trào sôi, tay chỉ trời xanh không bỏ cuộc.

Chiến trường khói tỏa, đâu thoát vòng đá dội tên bay; Vách đá sương giăng, sao kham cảnh rừng thiêng khí trọc.

Ngô tướng kiếm đao xuyên áo giáp, thần y thúc thủ hoàn sinh; Thục tuyền nước độc ngấm tâm tì, quỷ bá nhanh bài chiêu phục.

Cho nên, khí thế tro bay trúc chẻ, loạn thần không thể giương oai, phách lạc hồn kinh; Thế nhưng, oai hùng chống giặc chôn xe, tướng sĩ đành cam nuốt hận, xương tan thịt róc.

Thương ôi, mệnh đương sống chết, khi ăn ngủ cũng chẳng rời gươm; Bỗng đâu, lửa đốt núi Côn, chí kiên trinh sẵn sàng nát ngọc.

Nghĩ rằng, các ngươi ngậm hờn nơi chín suối, chỉ tiếc lòng vượn hú quyên than; Thật ra, mỗi người tận lực thuở can qua, đã hết cách lừa kêu chuột rúc.

Như vậy cũng đủ: Sáng ngời tinh phách hồn thiêng; Khôi phục cơ đồ đại quốc.

Đây là lúc ba quân báo tiệp, khuyết môn nô nức khải hoàn ca; Kia là nơi biên tái thê lương, Thánh chúa âm thầm tuôn lệ khóc.

Ngưỡng ân sâu đức cả cao dày; Khắp kẻ mất người còn mãn túc.

Tâm khảm ai hoài trong tiếng khánh, đâu đây ngàn dặm sơn hà; Sự vong trịnh trọng buổi đăng đàn, trên dưới chín từng mưa móc.

Nay thì: Kính vâng vương mệnh, lễ tế đã an; Nhờ sức trù nhân, hương phần sung túc.

Hồn thiêng hầu đã chứng tri; Ân điển cùng nhau hưởng lộc.

Ôi thôi! Thái Sơn vĩ đại, dẫu rằng da ngựa khó bọc thây; Nhật nguyệt thường soi, mãi chiếu dạ đài cơn trung khúc.

Thương thay! Thượng hưởng!

3. Một bộ phận quan trọng của văn tế Hán Nôm là những bài văn tế tướng sĩ trận vong. Qua một số bài văn tế tiêu biểu thuộc bộ phận này đã được biết đến từ trước tới giờ, có thể chia thành hai loại:

3.1. Văn tế tướng sĩ trận vong trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm: Tiêu biểu là bài văn tế viết bằng chữ Hán Phụng nghĩ tứ tế tiết thứ chinh di trận vong tướng sĩ văn (Bài văn thay mặt vua tế các tướng sĩ hi sinh sau mấy trận đánh nhau với Pháp - Lê Khắc Cẩn). Sau mấy trận đánh nhau với Pháp ở Đà Nẵng và Cần Giờ, quân tướng ta hi sinh rất nhiều. Vua Tự Đức sai quan đặt tuần tế và giao cho Lê Khắc Cẩn (người tỉnh Nam Định, đỗ Hoàng giáp) soạn bài văn tế này để tưởng nhớ các tướng sĩ đã hi sinh. Ngoài bày tỏ lòng tiếc thương và biểu dương tinh thần anh dũng kiên cường của các tướng sĩ, bài văn tế với giọng điệu hùng hồn đã góp phần vào việc cổ vũ tinh thần chiến đấu của các tầng lớp nhân dân, tiếp tục chiến đấu đưa đến thắng lợi sau cùng.

3.2. Văn tế tướng sĩ trận vong trong các cuộc nội chiến: Tiêu biểu là bài văn tế viết bằng chữ Nôm Tế trận vong tướng sĩ (Nguyễn Văn Thành). Sau khi đánh thắng Tây Sơn và bình định xong toàn cõi, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành. Nguyễn Văn Thành viết bài văn tế này để tưởng nhớ đến công ơn các chiến sĩ đã tử trận. Đây là một trong những bài văn tế xuất sắc, ngoài giá trị về văn học, lịch sử, nó còn nói lên những cảnh đau khổ, mất mát do chiến tranh gây nên, bày tỏ niềm cảm thông và lòng thương xót của tác giả trước cái chết của những người lính. Do đó, bài văn tế mang một giá trị nhân đạo rất sâu sắc.

Cùng với hai loại trên, đến nay, bài Sơn Hưng Tuyên Đốc hiến Lê Văn Đức tuân chỉ tế trận vong bệnh cố tướng sĩ văn sẽ góp phần làm phong phú thêm cho bộ phận văn tế tướng sĩ trận vong với loại thứ ba: Văn tế tướng sĩ trận vong trong các cuộc bình nội loạn. Ở đây không có giặc ngoại xâm, cũng không diễn ra cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến, nhưng các tướng sĩ phải chịu hi sinh vì sự nổi dậy của một Thổ ty vùng cao Tuyên Quang chống lại sự cai trị của triều đình. Bài văn tế một mặt nêu cao lòng tiết nghĩa, trung thành của các tướng sĩ, mặt khác, do tính chất và hoàn cảnh ra đời, nó còn ca ngợi triều đình, ca ngợi nền thống trị nhân hòa đức độ của người đứng đầu đất nước. Tuy không thể sánh với bài của Lê Khắc Cẩn và Nguyễn Văn Thành, nhưng đây cũng là một bài văn tế đáng được chú ý về nội dung và nghệ thuật, góp phần làm phong phú thêm cho thể loại văn tế Hán Nôm Việt Nam.

Nguyễn Đông Triều

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm; Số 4(113) 2012; Tr.69-76

Chú thích:

(1) Buổi đầu, châu Định Viễn thuộc dinh Long Hồ nên Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 19) ghi Lê Văn Đức là người Vĩnh Long.

(2) Theo Đại Nam chính biên liệt truyện(quyển 19, tr.394), sau khi dẹp được loạn Nông Văn Vân lần thứ nhất, Lê Văn Đức cùng Tham tán Nguyễn Công Trứ dẫn quân tiến đánh sào huyệt của Nông Văn Vân ở Vân Trung. Sau nhiều tháng hành quân gian lao và nguy hiểm, vì địa hình hiểm trở lại thường xuyên bị phục kích, nên đến cuối năm (1833), đại binh của ông mới vào phá được Vân Trung. Kết quả được tấu lên, Lê Văn Đức được thưởng quân công. Nhưng trên đường trở về thành Tuyên Quang, bị đối phương phục kích, làm chết và bị thương nhiều lính, khiến ông bị triều đình khép vào tội tử. Song nghĩ đến công lao của ông, vua Minh Mạng chỉ cho giáng bốn cấp, cắt hết lương bổng, tước bỏ mũ áo và buộc phải lấy công chuộc tội.

(3) Tháng 11 âm lịch năm 1842, vua Thiệu Trị cử Lê Văn Đức làm Kinh lược đại thần đi xem xét việc quân ở 6 tỉnh Nam kỳ. Tuy bị bệnh nhưng ông vẫn cố gắng lên đường, nhưng đến Quảng Nam thì qua đời ở tuổi 49.

(4) Về nguyên nhân cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân, GS. Nguyễn Phan Quang cho biết như sau: “Vào đời vua Minh Mạng, ở một số tỉnh miền núi như Tuyên QuangThái NguyênLạng SơnCao Bằng... nhà vua đặt chức Lưu quan do người Kinh nắm giữ bên cạnh các quan đứng đầu là người dân tộc. Do họ thường hay ức hiếp, nhũng nhiễu, nên các thổ quan và người dân rất căm ghét, chỉ chờ dịp nổi lên đánh đuổi.” (Lịch sử Việt Nam 1427-1858, quyển 2, tập 2, tr. 180). Sau cuộc khởi binh của em vợ Nông Văn Vân là Lê Văn Khôi (tháng 5 âm lịch năm Quý Tỵ, 1833) bị đánh dẹp, vua Minh Mệnh sai quan lính truy nã vợ con và họ hàng Lê Văn Khôi đang cư ngụ ở đó. “Viên Án sát Cao Bằng là Phạm Đình Trạc liền ra lệnh bắt 2 con, 1 người em ruột và 14 người thân của Lê Văn Khôi. Lại sai đào mả ông nội (Bế Văn Sĩ) và cha đẻ (Bế Văn Kiện/ Viên) của Lê Văn Khôi, đốt hài cốt ra tro. Nông Vân Vân lúc bấy giờ đang làm Tri châu Bảo Lạc cũng bị truy nã vì là anh vợ Khôi.” (Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, tr.203). Sẵn lòng căm ghét, Nông Văn Vân liền vận động các tù trưởng bất mãn và những người dân bị áp bức cùng đứng lên chống lại triều đình. Xét ra sự việc có một phần lỗi của quan lại người Kinh và triều đình, có lẽ nhận ra điều đó nên sau này vua Tự Đức bãi bỏ chế độ Lưu quan.

(5) Sơn Hưng Tuyên là 3 tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang.

(6) Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 19, tr.1051-1051. Xin nói thêm, theo gia phả họ Nông thì Nông Văn Vân không chết mà đi phiêu bạt vùng biên giới Việt - Trung. Tuy nhiên, thông tin này chưa được kiểm chứng.

(7) Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, để ban thưởng cho các bề tôi có công, vua Minh Mạng đã ban một bản dụ trong đó nói rằng vua nghĩ ra một nghi lễ mới dành cho những người có công, qua đó bày tỏ lòng yêu mến trọng vọng. Bản dụ có đoạn viết: “…Trẫm lẽ nào quên đi mà không hậu đãi, ngoài việc ban thưởng, phong tước đã có chỉ dụ thi hành rồi, nay cho Bộ Lễ bày nghi lễ, chọn ngày tốt, trẫm ngự ở cửa Đại Cung, cho các quan đại thần vào chầu và cho Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức làm lễ ôm gối để tỏ ý trẫm coi như hoàng tử vui đùa dưới gối.”

(8) Chữ mờ, không đọc được, ở phần sau chúng tôi tạm dịch.

(9) Phú tái: Che chở. Tuân Tử - Tâm thuật hạ có câu: “Thị cố Thánh nhân nhược thiên nhiên, vô tư phú dã; nhược địa nhiên, vô tư tái dã.” (Cho nên, bậc Thánh nhân ví như trời vậy, vô tư che khắp vạn vật; ví như đất vậy, vô tư chở khắp vạn vật.) Về sau thường dùng chỉ ân đức của các bậc đế vương đối với dân chúng.

(10) Trảo nha: vuốt nanh. Loài cầm thú có vuốt nanh để tự vệ. Các võ thần cũng được gọi là trảo nha, hộ vệ nhà vua, bảo vệ đất nước.

(11) Đầu mục: đầu, mắt. Dùng chỉ người đứng đầu, thống soái.

(12) Tiều lâu: cái chòi cao dựng trên cổng thành để theo dõi thế trận của địch.

(13) Lang toại: dùng phân sói phơi khô trộn với chất đốt, khi có biến thì dùng đốt lửa lên để cấp báo.

(14) Tu nhĩ qua đồng trạch đồng bào: câu này lấy ý từ Thi kinh - Tần phong - Vô y “Khởi viết vô y, dữ tử đồng bào, vương vu hưng sư, tu ngã qua mâu, dữ tử đồng cừu” (Há bảo không áo, mặc chung áo bông, vua sắp dấy binh, tu chỉnh giáo mác, đánh kẻ thù chung) và “Khởi viết vô y, dữ tử đồng trạch, vương vu hưng sư, tu ngã mâu kích, dữ tử giai tác” (Há bảo không áo, mặc chung áo thô, vua sắp dấy binh, tu chỉnh cung tên, cùng xông lên trước). Sau dùng chỉ lòng vui thương lẫn nhau đủ khiến cho người ta cùng nhau xả thân vì nước.

(15) Tam thu: ba mùa thu, tức ba năm, khoảng thời gian dẹp loạn 1833 - 1835.

(16) Ngọc mạo: mũ trang sức bằng ngọc, ở đây chỉ loại mũ đội khi đi đánh trận.

(17) Tắc mạc ngã thừa: lấy từ Thi kinh - Lỗ tụng - Bí cung “Nhung Địch thị ưng, Kinh Thư thị trừng, tắc mạc ngã cảm thừa, tý nhĩ xương nhi xí, tý nhĩ thọ nhi phú” (Đánh rợ Nhung rợ Địch, trị nước Kinh nước Thư, thì ai dám chống lại ta, khiến ngài được tốt lành, hưng thịnh, sống lâu và giàu có).

(18) Mai luân: chôn chặt bánh xe, tỏ ý tử thủ không lùi bước.

(19) Nhẫm bất yếm chi kim: lấy ý từ câu “Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm” trong Trung dung, nghĩa là nằm ngủ cũng đeo gươm mặc giáp, vào chỗ chết cũng không nề chi. Ý nói các tướng sĩ vì đại cuộc sẵn sàng chiến đấu không sợ hi sinh.

(20) Ủy câu phiền chi ngọc: Lấy ý từ Thượng thư - Dận chinh: “Hỏa viêm Côn cương, thạch ngọc câu phiền” (Lửa đốt núi Côn, ngọc đá đều cháy). Ở đây, ngọc chỉ các tướng sĩ, đá chỉ bọn phản loạn, ý nói các tướng sĩ kiên trung chấp nhận tử chiến cùng quân phiến loạn.

(21) Tê chí: chí hướng chưa thực hiện được nhưng đã chết, đem theo xuống cửu tuyền.

(22) Lư minh ngô phục: lừa hí chuột nấp, ý nói đã tìm đủ mọi cách để chống giặc nhưng sức cùng lực kiệt đành chịu hy sinh.

(23) Mã cách: da ngựa. Nói đầy đủ là “Mã cách khỏa thi” (Da ngựa bọc thây), xuất xứ từ câu nói của Mã Viện đời Đông Hán: “Nam nhi yếu đương tử ư biên dã, dĩ mã cách khỏa thi hoàn tang nhĩ…” (Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn…” (Hậu Hán thư). Chỉ nghĩa vụ làm trai phải xông pha, sẵn sàng bỏ thân nơi chiến địa.

(24) Trung khúc: Tình tự, nỗi lòng.

Tài liệu tham khảo

1. Phong Châu - Nguyễn Văn Phú, Văn tế cổ và kim, Nxb. Văn hóa, 1960.

2. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, 1993.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 19, Nxb. Văn học, H. 2004.

4. Quốc sử quán triều Nguyễn Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên) Cao Xuân Dục tổng tài, Nxb. Văn học, 2002.

5. Nguyễn Phan Quang: Lịch sử Việt Nam (1427-1858), tập 2, Nxb. Giáo dục, 1977.

6. Tế văn tập, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.524.

7. Nguyễn Khắc Thuần: Thế thứ các triều vua Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 2001.

8. Danh công biểu tuyển, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.582./.

Chùa Dâu thuộc tổng Dâu, nay thuộc phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, được biết đến là ngôi chùa cổ khởi nguồn của đạo Phật ở Việt Nam.

20240524 5Một trong 107 mộc bản ván khắc chùa Dâu.

Trải qua gần 300 năm, những ván khắc ở chùa Dâu (huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) vẫn còn nguyên vẹn, sắc nét, thể hiện những ý nghĩa đặc biệt của Phật giáo cũng như nền văn hóa Việt Nam.

Chùa cổ thờ chị cả

Nhân lễ hội chùa Dâu năm 2024 diễn ra từ ngày 13 đến 15/5, UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ công bố quyết định của Thủ tướng về việc công nhận bảo vật quốc gia đối với mộc bản chùa Dâu.

Chùa Dâu thuộc tổng Dâu, nay thuộc phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, được biết đến là ngôi chùa cổ khởi nguồn của đạo Phật ở Việt Nam. Chùa là một trong bốn ngôi chùa thuộc hệ thống Tứ Pháp ở Bắc Ninh bao gồm: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện - cùng do Phật mẫu Man Nương sinh ra.

Trong mối quan hệ huyết thống ấy, bà Dâu là người con đầu - chị cả của Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Vì vậy mà chùa còn có tên gọi chùa Cả, Cổ Châu tự (viên ngọc quý).

Sở dĩ ngày nay chùa Dâu là tên gọi chính vì xưa kia ngôi chùa nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn trồng dâu nuôi tằm. Cũng có thuyết nói, sau khi tượng bà Dâu tạc xong thì không ai có thể di chuyển được đi nơi khác nên bà được thờ tại đây, và ngôi chùa có tên là chùa Dâu từ đó.

Ngày nay, chùa Dâu không chỉ là một danh tích thu hút đông đảo Phật tử và khách thập phương, mà còn được ví như một “bảo tàng Phật giáo”. Cổ tự đang lưu giữ bộ tượng Phật Tứ Pháp được công nhận là bảo vật quốc gia ngày 25/12/2017, cùng nhiều tài liệu, cổ vật quý giá khác.

Vào tháng 1/2024, mộc bản chùa Dâu được Thủ tướng ký quyết định công nhận là bảo vật quốc gia. Bộ mộc bản gồm 107 ván khắc, hiện vật gốc duy nhất, độc bản, toàn vẹn và có tính xác thực.

Trong đó có 92 ván được khắc 2 mặt và 15 ván khắc 1 mặt. Tổng số mặt ván thuộc bộ mộc bản chùa Dâu hiện là 199 mặt ván với nhiều loại hình văn bản như: Truyền thuyết, kể hạnh, kinh sách, các nghi lễ cầu mưa, cầu tạnh, cúng tế...

Các nhà nghiên cứu đã tạm phân loại mộc bản thành 13 bộ khác nhau gồm: Cổ Châu hạnh, Cổ Châu lục, Cổ Châu nghi, Âm chất giải âm, Nhân quả quốc ngữ, Kỳ vũ kinh, Kỳ vũ hồng ân công văn, Thỉnh Long Vương nghi, Công đức, Mục Liên, Tam giáo, Phù chú và Tồn nghi.

Mỗi ván khắc có tiết diện hình chữ nhật, hầu hết đều có kích thước trung bình dài từ 40 - 47cm, rộng từ 19 - 24cm, độ dày ván từ 1,5 - 2,5cm. Một số ván khắc đan xen những đồ hình minh họa được bố cục chặt chẽ, hài hòa với phần văn tự.

Hồ sơ di sản cho biết, mộc bản chùa Dâu được san khắc vào thời Lê trung hưng và Tây Sơn kéo dài đến thời nhà Nguyễn. Chữ trên mộc bản đều là chữ Hán cổ và chữ Nôm được khắc âm bản, đường nét mềm mại, có tính thẩm mỹ cao nên khi in ra giấy dó rất sắc nét.

Chất liệu ván in đều được làm bằng gỗ cây thị, để chống cong vênh, người xưa đã cho xẻ một đường dọc theo đầu ván (chiều ngang ván), sâu vào khoảng 2 - 2,5cm rồi găm cật tre già vào. Trải qua gần 300 năm, những ván khắc ở chùa Dâu vẫn còn khá nguyên vẹn, đủ số chữ, rõ ràng.

Pháp Vân là con gái cả của Phật mẫu Man Nương.

Pháp Vân là con gái cả của Phật mẫu Man Nương.

Mộc bản song ngữ Hán - Nôm

Theo cuốn sách “Sự tích đức Phật chùa Dâu” của GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng, mộc bản chùa Dâu được chế tác theo quy trình truyền thống: Chọn văn bản khắc in, chuẩn bị vật liệu (ván, giấy, mực in), khắc ván. Mỗi công đoạn cụ thể được phân việc cho từng người từ người viết chữ, thợ khắc ván.

Ví dụ: Bộ ván Cổ Châu nghi do một người họ Nguyễn ở xã Kiêu Kỵ viết chữ Hán, hiệp thợ Hồng Lục khắc chữ. Cũng bộ ván này cho biết nhà sư Thích Quảng Điều là người biên tập lại văn bản “dựa theo khoa nghi cũ mà sửa chép lại”.

Mộc bản chùa Dâu có bản là kết hợp hài hòa giữa đồ hình minh họa và văn tự theo dạng trên hình dưới chữ, hay một trang chữ một hình. Hình thức này giúp người đọc, người xem dễ hiểu dễ nhớ nội dung tác phẩm. Các bức đồ hình được chạm khắc một cách tỉ mỉ, trau chuốt, sống động.

Với việc công nhận mộc bản chùa Dâu, hiện Bắc Ninh đang có 18 bảo vật quốc gia.
Với việc công nhận mộc bản chùa Dâu, hiện Bắc Ninh đang có 18 bảo vật quốc gia.

Ở mộc bản Mục Liên, mỗi mặt có khắc hình đồ minh họa được bố trí theo kiểu trên hình dưới chữ, mỗi mặt ván có 25 dòng văn tự diễn tả nội dung bức tranh phía trên. Mộc bản Nhân quả quốc ngữ, một trang là tranh Phật Thích Ca ngồi trên đài sen tay cầm hoa sen, phía dưới là An Nan Tôn Giả quỳ nghe thuyết pháp.

Mộc bản chùa Dâu cũng có những tác phẩm mang đặc trưng của chùa là các nghi thức lập đàn tràng, cách dâng sớ các ban bách thần, ngũ phương long mạch, các bài cúng cầu mưa, cầu tạnh như: Thỉnh Long Vương nghi, Kỳ vũ kinh, Kỳ vũ hồng ân công văn.

Đặc biệt nhất là mộc bản “Cổ Châu hạnh” có niên đại 1752 đời Lê Cảnh Hưng thứ mười ba. Nhà sư Tĩnh Ngộ - trụ trì chùa Dâu lúc bấy giờ cho thợ khắc ván in thành văn bản gồm 426 cặp lục bát, khắc trên 21 tấm ván, mỗi tấm in thành 2 trang (khổ 15x22 cm). Tác phẩm văn vần lục bát này được khắc ván in cùng một lúc với một tác phẩm khác bằng văn xuôi chữ Hán (có kèm theo lời dịch sang chữ Nôm).

Ngoài “Cổ Châu hạnh”, bộ mộc bản “Cổ Châu lục” cũng quý hiếm và giá trị không kém, được người Pháp sưu tầm từ đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên phải đến những năm cuối thập niên 1980, bộ ba ván khắc chùa Dâu mới được giới học thuật biết đến, trở thành nhóm tài liệu độc đáo, được giới học thuật trong nước và quốc tế sử dụng trong nghiên cứu khoa học.

Với các giá trị quý hiếm ấy, mộc bản chùa Dâu không chỉ góp phần to lớn trong nghiên cứu Phật giáo Tứ Pháp, mà còn là căn cứ quan trọng thể hiện sự công nhận của Nhà nước đối với các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật.

Đồng thời, việc công nhận bảo vật quốc gia mộc bản chùa Dâu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để bảo tồn và phát huy giá trị di sản lâu dài và bền vững.

Vào thời Trần, chùa Dâu được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho xây dựng lại với quy mô “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp”. Đến nay, ngoài bảo vật quốc gia bộ tượng Phật Tứ Pháp vùng Dâu và bộ mộc bản, chùa Dâu còn giữ được nhiều di sản văn hóa quý giá như: Gần 100 pho tượng Phật, 22 bia đá, chuông đồng, khánh đồng thời Lê, Tây Sơn, Nguyễn.

Trần Hòa

Nguồn: Giáo dục và thời đại, ngày 16.5.2024.

Biên soạn tự điển theo môn loại giải nghĩa chữ Hán bằng chữ Nôm là một lĩnh vực đạt nhiều thành tựu của ngữ văn Việt Nam truyền thống, nhất là vào giai đoạn những thập niên cuối thế kỷ XIX. Trong đó có Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca嗣德聖製字學解義歌(Diễn ca giải nghĩa cho việc học chữ Hán do vua Tự Đức sáng suốt làm ra - TĐTCTHGNC) của vua Tự Đức. Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca từ tên gọi, kết cấu nội tại theo môn loại và tính thánh chế trong sự ban hành, phổ biến quả là như là một bách khoa thư Hán học song ngữ Hán Nôm. Qua bộ từ điển này chúng ta có thể thấy những tri thức Hán học theo định hướng chính thống, nhà nước do chính vua Tự Đức chế cho thần dân của ông cũng như con đường phổ biến những tri thức ấy qua tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm.

20220206 6

1. Giới thiệu tổng quát về bộ sách Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca

Vua Tự Đức (1829-1883) tên là Nguyễn Phúc Thì, làm vua từ năm 1848 đến 1883. Ông luôn đề cao Nho học, nên đã đem các sách nho học và hướng dẫn chính học nho giáo như Luận ngữ và Huấn địch thập điều ra diễn Nôm, theo văn vần để hy vọng có thể mang đạo lý thánh hiền đến với dân qua truyền khẩu thơ ca. TĐTCTHGNC cũng là bộ sách học chữ Hán nhằm truyền tải đạo đức thánh hiền, tri thức mang tính chất tam tài cho dân chúng đã được ông biên soạn trong hoàn cảnh và tinh thần như thế.

Bộ sách này khá đồ sộ gồm 13 quyển, sách in ván gỗ, giấy bản, gồm 295 tờ, mỗi tờ 2 mặt thành 590 trang, khổ 26x15cm. Đơn vị chữ Hán được mang ra diễn ca là tự (từ) tới 9.028 mục. Một mục tự (từ) thường bao gồm thứ tự như sau: mục tự (từ) chữ Hán - chữ Nôm - chú thích (nếu có). Chữ Hán được viết to, chính giữa dòng. Chữ Nôm diễn nghĩa cho chữ Hán được viết nhỏ bằng nửa chữ Hán về kích cỡ. (Do vậy trong bản viết này, mục từ chữ Hán được chúng tôi viết bằng chữ in).

Dưới cùng là phần giải nghĩa cho chữ Hán đó bằng Hán văn. Âm đọc của chữ Hán có thể được ghi bằng chữ Hán theo lối phiên thiết hay sử dụng đồng âm. Mục tự (từ) chữ Hán nối với phần diễn nghĩa bằng chữ Nôm được diễn theo thơ lục bát với tổng số là 4.572 câu.

Nếu so sánh về dung lượng mục tự (từ) so với các bộ tự điển song ngữ Hán Nôm khác thì TĐTCTHGNC là bộ sách có dung lượng đồ sộ nhất. Nó được vua Tự Đức tự mình thực hiện nhưng chưa được tổ chức khắc in khi ông còn sống. Đến năm Thành Thái thứ 8 (1896), Phủ Phụ chính mới giao cho Quốc sử quán kiểm chính lại. Năm sau (Thành Thái thứ 9, 1897), Tu Thư cục của Quốc sử quán tổ chức khắc ván cho in. Bản in này hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang số hiệu VHv.626/1-4 và một số số hiệu khác.

Toàn bộ vốn chữ của 9032 mục tự (từ) trong TĐTCTHGNC được chia thành 7 môn loại, phân bố trong các quyển như sau:

1. Kham dư loại (thượng, hạ): quyển 1 - 2, gồm 1379 mục tự (từ)

2. Nhân sự loại (thượng, trung, hạ): quyển 3 - 5, gồm 2162 mục tự

3. Chính hóa loại (thượng, hạ): quyển 6 - 7, gồm 1587 mục tự

4. Khí dụng loại (thượng, hạ): quyển 8 - 9, gồm 1474 mục tự

5. Thảo mộc loại (thượng, hạ): quyển 10-11, gồm 1114 mục tự

6. Cầm thú loại: quyển 12, gồm 770 mục tự

7. Trùng ngư loại:quyển 13 gồm 546 mục tự

Nếu so sánh với những bộ tự điển song ngữ Hán Nôm biên soạn theo môn loại thì số lượng môn loại ở đây rút gọn hơn. Ở các bộ từ điển song ngữ Hán Nôm theo chủ đề khác, số môn loại thường nhiều hơn.

Chẳng hạn, 指南玉音解義Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, bộ từ điển Hán Nôm sớm nhất có 40 môn loại cả thảy (1. Thiên văn / Phong vũ loại/ Vân vụ loại/ Tinh thần loại; 2. Địa lý bộ; 3. Nhân luân bộ; 4. Thân thể bộ; 5. Tạng phủ bộ; 6. Thực bộ;7. Ẩm bộ; 8. Bính bộ; 9. Y quan; 10. Cẩm tú bộ; 11. Cung thất bộ; 12. Chu xa bộ;13. Nông canh loại; 14. Hoà cốc bộ; 15. Tàm thất; 16. Chức nhiễm; 17. Chú dã bộ; 18. Mộc công bộ; 19. Kim ngọc bộ; 20. Tản võng loại; 21. Khí dụng loại; 22. Văn tự bộ; 23. Hôn nhân bộ; 24. Báo hiếu tế khí; 25. Tang lễ bộ; 26. Nhạc khí bộ; 27. Công khí bộ;28. Binh khí bộ; 29. Pháp khí bộ; 30. Tạp khí bộ; 31. Vũ trùng loại; 32. Mao trùng loại; 33. Lân trùng loại; 34. Giáp trùng loại; 35. Mộc loại; 36. Hoa loại; 37. Quả loại; 38. Căn đằng loại; 39. Bì đằng loại; 40. Nam dược loại).

Tương tự như vậy, các sách khác cũng chia nhiều môn loại hơn như 日用常談Nhật dụng thường đàm do Phạm Đình Hổ soạn vào khoảng nửa đầu thế kỉ XIX có 32 môn loại; 大南國語 Đại Nam quốc ngữ do Hải Châu tử Nguyễn Văn San, Văn Sơn đường tàng bản, Thành Thái Kỷ Hợi (1899) có 50 môn loại; hay 南方名物備攷Nam phương danh vật bị khảo do Đặng Xuân Bảng soạn, Thiện Đình tàng bản, Thành Thái Nhâm Dần (1902), gồm 30 môn loại.

Đa phần các bộ sách học chữ Hán dạng tự điển song ngữ Hán Nôm đều là những bộ sách biên soạn theo môn loại, phản ánh nội dung học vấn theo quan điểm tam tài THIÊN ĐỊA NHÂN đang ngự trị trong học giới đương thời. Sự khác biệt về số lượng môn loại trên đây phản ánh mức độ phân loại chi ly, chi tiết hóa mang tính bài học cho từng bộ sách. Càng nhiều môn loại thì càng chi ly, chi tiết, tính bài giảng, bài học càng cao. Còn trong trường hợp ngược lại, số môn loại ít thì mức độ tổng hợp bao quát cao hơn. TĐTCTHGNC trình bày số môn loại ít hơn các bộ sách khác chỉ thể hiện sự khác biệt trong quan điểm và cách làm của chính vua Tự Đức so với các tác giả khác đối với việc chi ly, chi tiết hóa cái học tam tài mà thôi.

Dưới đây chúng tôi sẽ đề cập đến từng môn loại cụ thể. Trong mọi ví dụ minh họa dưới đây, mục tự chữ Hán sẽ được trình bày bằng chữ in. Còn phần giải nghĩa tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm phiên ra quốc ngữ in nghiêng.

2. Môn loại và chủ đề vốn từ của môn loại

2.1. Môn loại KHAM DƯ (堪輿類KHAM DƯ LOẠI)

“Kham” theo thuật ngữ của phong thủy là chỗ cao; “dư” là chỗ thấp. Theo sách Hoài Nam tử, “Kham tức là đạo trời, dư là đạo của đất. 堪天道也輿地道也kham thiên đạo dãdư địa đạo dã). Kham dư loại là môn loại bao gồm những sự trỏ về trời đất nói chung với 1379 đơn vị mục tự. Mở đầu là những chữ nói về đặc tính chung của trời đất.

“THIÊN trời ĐỊA đất VỊ ngôi. PHÚ che TÁI chở LƯU trôi MÃN đầy. CAO cao BÁC rộng HẬU dày. THẦN mai MỘ tối CHUYỂN xoay DI dời”.

Từ sự bao quát chung về trời đất như thế, tiếp theo là sự cụ thể hoá về những sự vật, hiện tượng như: NGUYỆT, NHẬT, ÂM, DƯƠNG, PHONG, VŨ, VÂN, TUYẾT, SƯƠNG, LÔI…. Các phạm trù thời gian, không gian (TUẾ, CAN, CHI; XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG; ĐÔNG, TÂY, NAM, BẮC; các sự vật cụ thể có trên mặt đất: SA, LỊCH, NÊ,… KHÂU, TRẠCH, TUYỀN, KHÊ, SƠN, XUYÊN…

Các địa danh sơn xuyên thành quách cụ thể và đặc trưng của chúng có quá nhiều không thể liệt kê hết được.

Các sự vật, hiện tượng này lại mang trong mình những đặc tính, hay biểu hiện của mình. Những đặc tính đó rất chi ly, cụ thể, mang đặc trưng phân tích tính cao. Chẳng hạn: PHONG là gió nhưng lại có rất nhiều biểu hiện cụ thể của gió cũng như các đặc tính phân tích hay đặc trưng chi tiết chi ly của những biểu hiện cụ thể đó như sau: “VŨ mưa, PHONG gió, TINH sao, LỘ mù… PHIÊU PHIÊU gió thổi, LƯU LƯU gió hòa…THUYÊN gió động, ÂM mây che… CHIÊM là gió thổi sóng dồi… CỤ là gió bão khắp vòng bốn phương…SIÊU gió lạnh, HÁCH gió nồng…QUÁT gió dữ, SẦM mưa dầm… TIÊU gió bắc, SẮT gió thu. PHI PHI phơi phới, SƯU SƯU ào ào. ÔI gió thấp, ẢNH gió cao. BỒNG gió dậy, ĐỀ mưa tan…LY trời gió bụi tối ngày. YẾN trời trong sáng, Ế trời gió mây. LIỆT gió dữ, TƯ mưa bay….CHÚ mưa thuận, HIỆP gió đều. TÚC là gió lớn tiếng kêu ù ù. HỒNG tiếng gió, PHÂN khí mù. THÊ THÊ mưa gió hơi thu lạnh lùng… HOÀNH gió mạnh, TỪ mưa giong. NỖI gió lất, PHIÊU gió bay. VĨ VĨ gió bão rạp cây ầm ầm. LƯƠNG gió bắc, KHẢI gió nam…

Có thể nói, quyển 1 của môn loại KHAM DƯ là sự bao quát về trời đất và nhiều đặc tính cụ thể của trời đất cũng như các sự vật, hiện tượng tự nhiên có trong khoảng trời đất. Quyển 2 của KHAM DƯ chủ yếu nói về các địa danh nhưng các địa danh này chủ yếu ở Trung Quốc, gắn liền với các sách cổ, các sự kiện lịch sử xa xưa.

2.2. Môn loại NHÂN SỰ (人事類NHÂN SỰ LOẠI)

Nhân sự (việc người) là môn loại có mục tự lớn nhất (2162 mục), bố trí thành 3 quyển thành 3 tên gọi xác định: Nhân sự loại thượng, Nhân sự loại trung, Nhân sự loại hạ. Mở đầu mỗi loại nhân sự là sự bao quát về con người như sau: “PHỤ cha MẪU mẹ SẢN sinh. PHU da PHÁT tóc THÂN mình KIÊN vai”

Câu mở đầu về con người như thế đã gợi lên cho ta thấy đây là một sự diễn nghĩa theo sách Hiếu kinh (Thân thể phát phu. Thụ chi phụ mẫu. Bất cảm huỷ thương. Hiếu chi đại dã - Thân thể tóc da. Nhận từ cha mẹ. Chẳng dám hủy thương. Đấy điều hiếu lớn).

Nhân sự loại thượng (quyển 3) là một danh mục chứa những mục tự trỏ về giải phẫu sinh lý con người bằng Hán văn kèm lời dịch nghĩa như sau: “ĐẦU đầu, TỊ mũi, NHĨ tai. NGẠCH trán, MỤC mắt, ĐỒNG ngươi, MI mày. XỈ răng, THIỆT lưỡi, THẦN môi. BỐI lưng, DIỆN mặt, YÊM tai, TÌNH tròng. NÃO óc, HUYẾT máu, MAO long. YÊU lưng, DỊCH nách, DƯƠNG trong trang mày. TÚC chân, KHOANG bụng, THỦ tay. KHẨU miệng, CẢNH cổ, MÂU ngươi, THỦ đầu. THÙY tai rủ, LỤC mắt sâu. CỐT xương, NHỤC thịt, TU râu, HÀM cằm.

Nhân sự loại trung (quyển 4) lại là danh mục về các hoạt động cơ bản của con người như: nói năng, suy nghĩ, nhiều hoạt động mang tính bản năng của con người. Các hoạt động ấy được diễn tả và biểu hiện cụ thể đến mức chi ly, chi tiết. Chẳng hạn, trở về “nói” có đến hàng trăm từ diễn đạt hành động “nói” và các sắc thái nói năng: “CHIÊM nhìn, THUYẾT nói, THAI cười. BIỂN lời nói khéo, NGẠN lời nói quê. LŨY nói đón, BỘC nói che. DỰ khen, THÍ ví, SAN chê, ĐÀM bàn. TRỌNG nói khích, HU nói càn. KHÁ trách, MẠ mắng, TÁ than, ĐÊ . MIẾN nói dỗ, TẤN nói lừa. DU dua trước mặt; DUYỆT ưa trong lòng. MỴ nói dối, THIỀM nói không. TỐ kêu oan uổng, ÁI cùng âm tư. KHÔI diễu cợt, TÚY gièm chê. BIỆT lời nói lý phân chia rõ ràng…

Các động tác biểu thị các hoạt động cảm xúc vốn có của con người cũng có đến vài chục cách nói, thể hiện ở mức độ chi ly, chi tiết: “AI thương, TẮNG ghét, ÁI ưng. ƯU lo, CỤ sợ, HÂN mừng, CẤM ham. THÔI lo, NỘ giận, MÂU tham. HAO hờn, BẠO nhớ, HIỆU lầm, DU lo. ĐỘT TỐT là dáng thẹn thùng. ĐỊNH HUỲNH buồn giận, BIỆT PHU vội vàng

Nhân sự loại hạ (quyển 5) lại chứa đựng những mục từ diễn tả các danh từ trỏ tên gọi những người có khả năng biết các hoạt động chế tác mang tính tài năng khéo léo, được hình thành trong quá trình lao động của con người, các động tác của con người và những danh từ chỉ các quan hệ xã hội của con người. Nhờ tham gia quá trình lao động nên con người biết cải tạo tự nhiên, biết biến những vật còn thô sơ của tự nhiên thành đồ dùng tinh xảo, biết tổ chức, tạo nên một xã hội có tôn ty, trật tự, thoát cảnh bầy đàn, quần hôn nguyên thủy. Sống trong xã hội nên con người có chức vụ, địa vị, phẩm chất. Con người lại biết đến bệnh tật và khắc phục bệnh tật. Đó quả là những gì mang đặc trưng cho phẩm chất tính cách của con người trong các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, chẳng hạn:“TÚC thợ ngọc, HUỲNH thiếp vàng. MA mài, TRÁC chạm,VIÊN mang, BẢ cầm. SOẠN tắm ngựa, NGHĨ dời tằm. DUNG là người mướn, CỐ làm việc thuê. VÃN là dắt ở trước xe. LAO mò dưới nước, phu bè đưa qua. TẠM khắc đá, KIỆT thuộc da. TRUY là đẽo ngọc, SỐT là tôi dao”… “DUỆ dòng, TÍNH họ, TRÙ loài. NAM trai, NỮ gái, NHÂN người, NGÃ ta. TỔ tổ, BÁ bác, KHẢO cha. Tỉ mẹ, THÚC chú, BÀ bà, ÔNG ông. HUYNH anh, THÊ vợ, PHU chồng. TRỤC LÝ là bạn dâu cùng gọi nhau. NGHIỆT con thứ, ĐÍCH con đầu. ĐỆ em, TỶ chị, THIẾP hầu, TỨC dâu. TRĨ con trẻ, THỦ con so. MỤ mẹ, THẨM thím, CÔ cô, DÌ dì”.

2.3. Môn loại CHÍNH HÓA (政化類CHÍNH HÓA LOẠI)

Chính hóa là môn loại gồm 1587 đơn vị mục tự, như là một danh mục hệ thống hoá các vấn đề của chính trị giáo hoá theo tinh thần nho học. Môn loại Chính hoá có các nội dung chủ yếu như sau: Những vị thánh nhân theo như huyền thoại như Chuyên Húc, Phục Hy. Các sự kiện về văn hóa nhận thức buổi sơ khai có tính chất thần bí như số đếm, Hà đồ, Lạc thư, Bát quái, Thương Hiệt tạo nên chữ viết. Các việc chế tác lịch số, luật lệ, văn tự, thư khế, dùng thuốc chữa bệnh, vấn đề viết chữ, các thể chữ. Các loại văn bản viết và thuật ngữ về viết, thể văn, Thi, Thư. Các vấn đề về văn hóa tổ chức chính quyền (các vua thời Nhị đế, Tam vương: Đế Cốc, vua Nghiêu, vua Thuấn, các phẩm chất của Đế Nghiêu, Đế Thuấn (ôn, nhâm, tư, cương, kỷ, quỹ, bình, đạo, chính trung). Những sự kiện và nhân vật thời Tam Đại Hạ - Thương - Chu: Hiền quân (Vũ Thang, Văn Vương, Vũ Vương), tư tưởng cách mạng (Thành Thang cách mệnh), điếu dân phạt tội, cứu phần chửng nịch. Tôi hiền (Y Doãn, Lã Vọng). Đàn bà làm hỏng sự nghiệp của quân vương (Đát Kỷ, Bao Tự). Chế độ lễ nhạc thời Tam đại; Sự nghiệp của Khổng Tử. Văn hóa chính trị sắp xếp thứ quan. Tổ chức chính quyền các cấp. Tổ chức chế độ học hành. Chế độ thuế. Chế độ hình luật… Xin dẫn ra đây trích đoạn mở đầu môn loại làm minh họa:

“TỰ từ, TIỀN trước, VIỄN xa. ĐẾ vua, HOÀNG cả, THI ra, TRIỆU gầy. TRIẾP bèn, TRẠCH chọn, AI bày.CAN gốc, CHI nhánh, ĐIỆT thay, LŨY chồng. Y nương, DI để, HỖ thông. HẬU sau, TIÊN trước, TƯƠNG cùng, GIÁM soi. TỒN còn, CỬ cất, DUẬT noi.QUÂN vua, THÁNH thánh, THẦN tôi, HIỀN hiền. ĐẠI đời, THỊ họ, DANH tên.HIỆU hiệu, THẾ thế, QUYỀN quyền, OAI uy. HÚC vua Húc, HY vua Hy. THỤC đầu, ỨNG ứng, KỲ kỳ, ĐẢN sinh. LINH linh, ĐỐC hậu, THIỆN lành. ĐỒ đồ, THƯ sách, TRÌNH chiềng, XUẤT ra. NHẤT một, NHỊ hai, TAM ba. TỨ bốn, LỤC sáu, SỔ vài, NGŨ năm. THẬP mười, CỬU chín, BÁCH trăm. THẤT bảy, BÁT tám, ÁC cầm, THỪA nhân. GIA thêm, BỘI gấp, XÂM dần. THIÊN nghìn, VẠN vạn, XỨNG cân, ĐIỀU đều. TRÙNG trùng, QUÁI quẻ, HÀO hào. NGẪU đôi, KỲ lẻ, DIỆU mầu, HỖ ghi. KHẢM quẻ Khảm, LY quẻ Ly. CẤN là quẻ Cấn, KHOÁI chia, TỶ liền. CHẤN là quẻ Chấn, TẤN lên. TỐN quẻ Tốn, CÀN quẻ Càn, TÔN tôn. ĐOÀI quẻ Đoài, KHÔN quẻ Khôn. BIẾN biến, HÓA hóa, VIÊN tròn DUNG thông. TUY tuy, DỊ khác, ĐỒNG đồng. TÁC làm, CHẾ sửa, TINH ròng, LỰ lo. TU KHU là ngươi Tu Khu. HIỆT ngươi Thương Hiệt, SƯU cầu, HOÁN thay. LỊCH là sách lịch xem ngày. LUẬT ống hậu khí, TỀ tày, THÍCH bưa. BẢNG thiếp, TỰ chữ, KHẾ tờ…HỖ là giao hỗ, TIỄN đưa, TRÌ cầm. DƯỢC thuốc, CHÍCH cứu, CHÂM đâm”…

Như vậy, CHÍNH HÓA loại là giáo trình trình bày các mục từ hệ cổ về tổ chức chính trị, Tôn Nho sùng chính học của vua Tự Đức.

2.4. Môn loại KHÍ DỤNG (器用類KHÍ DỤNG LOẠI)

Môn loại KHÍ DỤNG gồm 1474 mục tự (từ) là danh mục sưu tập danh xưng của các đồ dùng, vật dụng như nhà cửa cung thất đền đài… Mở đầu các môn loại là mấy câu có tính bao quát cho cả môn loại như sau: “KHÍ là giống DỤNG là dùng. CƠ máy, XẢO khéo, CUNG cung, THẤT nhà. MIẾU tôn miếu, ĐIỆN đền tòa. THỰ nhà quan thự, SẢNH nhà công sảnh. ĐÀI đài, CÁC các, ĐÌNH đình. VIỆN viện, PHỦ phủ, THÀNH thành, LÂU lầu

Từ danh mục đồ vật này có thể phân loại ra các nhóm như sau:

Danh mục vật dụng, đồ dùng thuộc phạm trù nhà cửa, và liên quan tới nhà cửa. Danh mục vật dụng thuộc phạm trù thuyền bè và liên quan với thuyền bè. Danh mục vật dụng thuộc phạm trù nhạc khí (dụng cụ âm nhạc) và liên quan đến âm nhạc. Danh mục vật dụng thuộc phạm trù xe cộ và liên quan đến xe cộ. Danh mục vật dụng thuộc phạm trù cờ, quạt, tán, lọng và liên quan đến cờ, quạt, tán, lọng. Danh mục vật dụng thuộc phạm trù ấn túi. Danh mục vật dụng thuộc phạm trù cung tên, binh khí và liên quan đến cung tên binh khí. Danh mục tên vật kim loại. Danh mục tên các vật dụng về ngọc và liên quan đến ngọc. Danh mục tên các loại vải lụa và liên quan đến vải lụa. Danh mục tên các loại dép, guốc và thuộc về dép, guốc. Danh mục tên các loại bàn ghế và liên quan đến bàn ghế. Danh mục các vật dụng gia đình.

2.5. Môn loại THẢO MỘC (草木類THẢO MỘC LOẠI)

Môn loại THẢO MỘC gồm 1114 mục tự (từ) nhằm liệt kê danh mục tên các loài cây cỏ cũng như các thuộc tính, công dụng của chúng. Câu mở đầu của môn loại này đã cho ta một sự khái quát chung về nó: “THỤ cây THẢO cỏ HOA hoa. CỐC trăm giống lúa ấy là tên chung”.

Từ danh mục các loài thảo mộc này có thể chia ra các nhóm loài nhỏ như: Danh mục các loại lúa và các đặc tính công năng của lúa. Danh mục các loại đậu và thuộc tính công năng của đậu. Danh mục các loại rau, dưa và thuộc tính của rau, dưa. Danh mục các loài cây khác (…)

2.6. Môn loại CẦM THÚ (禽獸類CẦM THÚ LOẠI)

Môn loại này gồm 770 mục tự (từ), liệt kê và hệ thống hóa tên gọi của các loại cầm thú cũng như một vài đặc trưng tiêu biểu cho từng loài về mặt hình dáng, màu sắc, sinh hoạt. Câu mở đầu cho môn loại này là đã bao quát tên và các bộ phận đặc trưng cho loài cầm như: “CẦM chim ĐỘC nghê THÚ muông. VĨ đuôi LINH cánh VŨ lông TỐ diều”. Sau đó là một danh sách dài các loài chim về các phương diện: hình dáng, màu sắc, đặc tính sinh hoạt của các loài cầm này. Còn phần thú thì ở nửa phía cuối với sự bao quát như sau: “KỲ muông kỳ LÂN muông lân. NGƯU trâu MÃ ngựa THUẦN thuần SÚC nuôi”.

2.7. Môn loại TRÙNG NGƯ (蟲魚類TRÙNG NGƯ LOẠI)

Môn loại này có 546 mục tự (từ) nhằm hệ thống lại các loài côn trùng, cá tôm theo tên gọi bằng chữ Hán, cắt nghĩa sang tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm các loại.

Côn trùng cá tôm này về mặt tên gọi cũng như những đặc điểm chủ yếu dễ nhận ra. Mở đầu môn loại này được diễn đạt bằng câu như sự định nghĩa vậy: “TRÙNG sâu NGƯ cá LONG rồng. QUY rùa XÀ rắn LY dòng rồng con”.

Qua sự giới thiệu tóm lược trên đây về 7 môn loại của TĐTCTHGNC cho thấy, Diễn ca giải nghĩa học chữ Hán do vua Tự Đức soạn là một bộ tự (từ) điển song ngữ Hán Nôm theo môn loại, có tính chất bách khoa thư, thể hiện những kiến thức về các lĩnh vực chủ yếu của Hán học đương thời. Sự giới thiệu và mô tả đó sẽ là cơ sở cho chúng tôi đi vào tìm hiểu cách thức xây dựng và những định hướng nội dung của bộ sách.

3. Quy mô và cách thức xây dựng, tính phân tích của vốn tự (từ), chủ nghĩa lịch sử trong định hướng thông tin của bộ sách

3.1. Quy mô của bộ sách

Do chỗ TĐTCTHGNC vừa là một bộ từ điển song ngữ Hán Nôm vừa là một bộ sách học chữ Hán và các kiến thức Hán học nên quy mô của bộ sách cần được xem từ góc nhìn của một bộ từ điển và một bộ sách học chữ Hán. Nếu từ góc nhìn một bộ từ điển, với 9.028 mục tự cũng như so sánh nó với các bộ từ điển song ngữ Hán Nôm khác, có thể nói, TĐTCTHGNC là một bộ sách có quy mô lớn. Quy mô lớn của nó về mục tự so với các bộ từ điển song ngữ Hán Nôm khác được thể hiện qua bảng đối chiếu dưới đây:

 

TT Tên sách Kí hiệu(1) Số mục tự
大南國語Đại Nam quốc ngữ(2) AB.106 4.779
南方名物備攷Nam phương danh vật bị khảo(3) A.155/VHb.288 4.461
指南玉音解義Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa giải nghĩa(4) AB.372/VNv.201 3.394
三千字解音Tam thiên tự giải âm(5) AB.19 2.988
日用常談Nhật dụng thường đàm(6) AB.511 2.560
難字解音Nan tự giải âm(7) A.1542 1.066
千字文解音Thiên tự văn giải âm(8) AB.227/AB.91 1.000
嗣德聖製字學解義歌Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca VHv.626/1-4 9.028

Nếu như so sánh nó với các bộ tự điển chữ Hán của Trung Quốc trong lịch sử thì nó ngang với說文解字Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, thế kỉ I (9.353 chữ). Như chúng ta đã biết, lượng chữ Hán ngày càng nhiều lên theo tiến trình thời gian. Do vậy, theo thời gian lượng chữ Hán được sưu tập trong các tự điển cũng tăng lên. 說文解字Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, biên soạn vào thế kỉ I, sưu tập 9.353 chữ; 康熙字典Khang Hy tự điển biên soạn xong vào năm 1710, sưu tập 47.035 chữ Hán.

Còn như nếu so sánh với các bộ sách học chữ Hán song ngữ Hán Nôm khác, qua bảng trên cũng có thể nói, TĐTCTHGNC là một bộ sách có quy mô lớn. Các bộ sách học chữ Hán nói chung trong lịch sử do người Trung Quốc và người Việt Nam do yêu cầu về mặt sư phạm chỉ nhằm vào vốn chữ thông dụng. Lượng chữ Hán thông dụng mang ra dạy và học luôn chỉ là một phần trong tổng số chữ Hán nói chung. Thiên tự văn của Chu Hưng Tự thời Lương dạy 1000 chữ thông dụng. Lượng chữ trong Khang Hy tự điển tuy lớn (47.035 chữ) nhưng chỉ khoảng 3000 chữ thông dụng. Ngay cả ở thời hiện đại, lượng chữ thông dụng cũng có tình hình tương tự.

Ta biết rằng truyền thống tự điển học, tự thư học, văn thư học chữ Hán từ buổi sơ khai bắt đầu bằng sự sưu tập chữ Hán thành các bảng chữ như Sử Trựu thiên, Thương Hiệt thiên… Bộ Tam Thương của Lý Tư, Triệu Cao, Hồ Vô Kính ở thời Tần sưu tập trên 3 ngàn chữ cũng là một bảng sưu tập chữ. Khi chú giải các kinh điển Nho học ở thời Hán, giới ngữ văn học Trung Hoa truyền thống đã biên soạn nên Nhĩ nhã - bộ tự điển chữ Hán, chữ Hán được sắp xếp theo môn loại mà bảng hiện còn gồm 19 môn loại. Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Thuyết văn giải tự của Hứa Thận biên soạn theo bộ thủ (540 bộ). Từ đây sắp xếp chữ Hán theo bộ thủ trở thành phương thức chủ yếu. Từ thế kỷ thứ III trở đi, ở Trung Quốc lại nảy sinh biên soạn vận thư, một loại tự điển chữ Hán sắp xếp theo vần, kéo dài vài thế kỷ với các bộ vận thư lớn như Thiết vận do nhóm Lục Pháp Ngôn thực hiện vào đầu thế kỷ VII, Đường vận, Quảng vận. Sang đến thời Minh Thanh, việc biên soạn tự điển thành điển chế phục vụ cho chuẩn chính tả trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và dân gian. Tính pháp định, tính điển chế về văn tự đã được đánh dấu bằng uy quyền của vua ngay trong tên sách. Khang Hy tự điển là một bộ sách được một tập thể các nhà bác học biên soạn khi mang tên thì theo niên hiệu của triều vua Khang Hy (1662-1721), triều vua thứ 3 của nhà Thanh. Ta có thể thấy TĐTCTHGNC đã tiếp thu những điểm cơ bản của truyền thống biên soạn tự thư, tự điển, sách học chữ Hán Trung Quốc nói chung cả về nội dung, cách thức biên soạn, đặt tên cũng như truyền thống biên soạn tự điển và sách học chữ Hán song ngữ Hán Nôm Việt Nam nói riêng.

Có lẽ vua Tự Đức cũng muốn theo gương vua Khang Hy xác định tính pháp định cho thần dân của mình trong việc học chữ Hán. Nhà vua đã tự mình biên soạn bộ sách học chữ Hán dạng tự điển có tính chất bảng chữ, sắp xếp chúng theo môn loại, kèm giải nghĩa theo lời ca vần điệu. Cách làm đó vừa thể hiện một cách triết trung các phương pháp biên soạn sách học và tự điển chữ Hán nói chung và thể hiện tính biến thể Việt Nam của loại sách này. Do chỗ bộ sách tuân thủ theo tiêu chuẩn kép vừa là tự điển vừa là sách học chữ Hán và truyền tải các tri thức Hán học cho nên một loạt vấn đề đã nảy sinh. Để đáp ứng yêu cầu của tự điển thì phải thu thập nhiều chữ Hán. Song nhiều chữ Hán quá thì lại khó học và khó dạy và khó lưu truyền. Chính điều này đã làm cho vốn chữ Hán của TĐTCTHGNC mang tính phân tích tính mà dưới đây chúng tôi sẽ đề cập tới.

3.2. Tính phân tích của vốn tự (từ) trong TĐTCTHGNC

Như trên đây đã nói, về qui mô tự điển chữ Hán nói chung thì đây là bộ tự điển chữ Hán vào loại trung bình. Lượng chữ thường dùng ở đây cũng tuân theo quy luật chung về lượng chữ thường dùng của chữ Hán lúc bấy giờ nói chung. Điều này có nghĩa là lượng chữ Hán thuộc vào số thường dùng chỉ chiếm khoảng một phần ba, phần tư là cùng. Do vậy, quá nửa ở đây là những chữ ít dùng hay rất ít dùng. Có hiện tượng này là do trong chữ Hán, số chữ đồng nghĩa hơi nhiều và cũng do tích đọng của nhân tố thời gian nữa. Điều này tạo nên tính phân tích tính của vốn chữ.

Phân tích tính của vốn từ là một sự vật, hiện tượng được chi ly theo nhiều nét nghĩa mà mỗi một nét nghĩa ấy lại được diễn đạt bằng nhiều từ, còn trên văn tự thì được ghi bằng nhiều chữ khác nhau. Điều này ta có thể thấy qua một số ví dụ mang ra minh họa ở mục 2 của bài viết này. Ở đây, chúng tôi xin minh họa thêm về tính phân tích tính của vốn chữ qua trường hợp những chữ biểu thị “núi”. Trong chữ Hán để biểu thị “núi” với nhiều sắc thái và nghĩa khác nhau thì có những chữ khác nhau thể hiện qua những câu như: “XUYÊN sông, SƠN núi, HẠN ngăn… SUNG khe dưới núi, ĐÊ cồn giữa sông… MẬT dáng núi như nền nhà… ĐỒNG núi trọc, YẾT núi quanh. TIỆT hình núi cắt, QUY hình núi giăng… LỘC nơi chân núi, QUYNH nơi ngoài rừng. BÌ là núi có hai tầng. BIỆT núi Biệt, HÀO núi Hào. PHONG đầu chót vót, ĐIÊN đầu thôi ngôi. CHƯƠNG là núi giống bình phong. ĐÀ là núi đứng như chồng cối xay. DĨ là núi không cỏ cây. HỖ là núi có cỏ cây rườm rà. TIÊU dốc đứng, LIỄU rộng xa. CƯƠNG là sống núi, NHAI là mép sông. HIẾN là núi giống nồi hông. TOANH hòn đất đỏ, AO dòng nước đen… THÁP đất thấp, NAO núi bằng. KHANG LANG núi trống, LĂNG TẰNG núi cao. TRÁCH núi Trách, THAO núi Thao. KIÊM HIỂM núi dốc, LIÊU TÀO núi không. NGUNG DI núi ở cõi đông. PHỈ là lớp núi như trồng như xây. YÊM TƯ núi ở cõi tây. TỤ nơi hang núi, PHẤT nơi đường đèo. CỰ núi lớn, HOÃN núi nhiều. LINH DINH núi thẳm, LIÊU SÀO đỉnh cao. TRỞ núi đá lộn đất vào. ÔI LỖI dạng núi thấp cao nhiều tầng. OAI HOÀI hang núi chẳng bằng. TÙNG rằng núi lớn, nhạc rằng núi tôn. SẦM đỉnh nhỏ, LOAN đỉnh tròn. ĐẢO non giữa biển, châu cồn giữa sông. CÔN LUÂN núi ở địa trung. CÂU LÂU là đỉnh cao phong núi Hành. KỲ KHU đường núi gập ghềnh. TOÀN NGOAN lởm chởm, TRANH VINH chon von. LANG núi Lang, KHIÊN núi Khiên. TIỆP LIỆP dạng núi liên diên kéo dài. HIỆN núi Hiện, LAI núi Lai. NHAM hang đá hiểm, LĨNH vai núi bằng. Ủ núi Ủ, DƯƠNG núi Dương. LỰC dạng lớn, NGANG TÀNG dạng cao. ĐIỆN núi Điện, CAO núi Cao. THÔI NGÔI đất trộn đá vào lô xô. VẬN núi Vận, NGÔ núi Ngô (…). Ngoài những danh từ riêng chỉ tên núi, chúng tôi đã thống kê được hơn một trăm mục tự có ý nghĩa chỉ về núi và các nét đặc trưng của núi. Tình hình với nhiều danh từ khác cũng tương tự. Điều này cho phép chúng ta nói đến tính phân tích tính của vốn tự chữ Hán như là một điểm dễ nhận ra trong TĐTCTHGNC.

Tính phân tích của vốn tự (từ) Hán học trong TĐTCTHGNC cần phải được đề cập trong một nghiên cứu chuyên sâu. Ở đây chúng tôi chỉ mới đặt vấn đề mang tính minh họa mà thôi.

4. Tiếng Việt và chữ Nôm trong khả năng truyền tải tri thức Hán học

Qua sự trình bày các môn loại, các chủ đề vốn từ của từng môn loại, các định hướng nội dung của toàn bộ sách, tính phân tích tính của vốn từ đã cho thấy Tự học giải nghĩa ca của vua Tự Đức là một bộ sách mang tính bách khoa về Hán học theo định hướng chính thống và nệ cổ. Một bộ sách học chữ Hán và các kiến thức Hán học như thế thật khó đến với thần dân của hoàng đế. Điều này đã được vua Tự Đức nhận ra và khắc phục bằng cách đặt lời ca giải nghĩa cho chúng. Lời ca giải nghĩa Việt ngữ đã trở thành điểm sáng đặc biệt cho toàn bộ bộ sách. 9.028 mục tự (với 9827 chữ Hán vì có những mục tự gồm 2 hay 3 chữ Hán) đã được giải nghĩa. Độ dài giải nghĩa với tổng số 21.334 lượt chữ Nôm. Hầu hết phần giải nghĩa cho các mục tự đã đóng vai trò là vị ngữ có hệ từ trong các cụm chủ vị hay các câu (cả lục lẫn bát). Phân xuất 21.334 lượt chữ Nôm giải nghĩa ấy, chúng tôi đã lập được danh mục 4.458 chữ Nôm của toàn văn bản. Lượng chữ Nôm đó chỉ bằng nửa lượng chữ Hán nhưng đã giải thích được toàn bộ mục tự chữ Hán theo cách đối dịch hay diễn dịch. Chúng ta có thể thấy lối văn giải nghĩa của cả bộ sách qua một số ví dụ mà chúng tôi đã dẫn ra trong chính bài viết này. Vốn từ tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm ở đây đã diễn đạt được toàn bộ các tri thức Hán học mang tính bách khoa tương ứng của 9.028 mục tự trong 7 môn loại. Đây là một trong số những minh trưng quý giá cho vốn từ tiếng Việt thế kỷ XIX ở dạng từ điển ghi bằng chữ Nôm.

Với độ dài phần giải nghĩa cũng như lượng chữ Nôm có trong văn giải nghĩa đã làm cho TĐTCTHGNC trở thành một bộ từ điển Hán Nôm chứa đựng nhiều chữ Nôm nhất, nhiều từ vựng tiếng Việt nhất và cũng là một trong số không nhiều những bộ sách Hán Nôm nói chung, Hán Nôm cuối thế kỷ XIX nói riêng, chứa đựng nhiều từ vựng tiếng Việt ứng với các vấn đề Hán học mang tính học thuật nhất.

Do vậy, phần giải nghĩa Nôm của từ điển cần phải được trình bày trong những nghiên cứu riêng cả về mặt ngôn ngữ cũng như văn tự.

Qua sự trình bày trên đây cho phép chúng ta có một nhận thức chung rằng, TĐTCTHGNC từ tên gọi, kết cấu nội tại theo môn loại và tính thánh chế trong sự ban hành, phổ biến như là một bách khoa thư Hán học song ngữ Hán Nôm. Qua bộ từ điển này chúng ta có thể thấy những tri thức Hán học theo định hướng chính thống, nhà nước do chính vua Tự Đức chế cho thần dân của ông cũng như con đường phổ biến những tri thức ấy qua tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm. Bộ từ điển song ngữ Hán Nôm này đã phản ánh những vấn đề học thuật chứa đựng trong chữ Hán của nhà nho và xã hội lúc bấy giờ. Đó là cái học tam tài THIÊN - ĐỊA - NHÂN mang dấu ấn lịch sử cả về thực trạng cũng như hạn chế mà cái học ấy do đích thân vua phổ biến.

Từ điển song ngữ Hán Nôm cuối thế kỉ XIX nói chung, TĐTCTHGNC nói riêng đã nảy sinh, tồn tại, phổ biến và phản ánh chính bối cảnh ngôn ngữ - xã hội Việt Nam và những đặc trưng của cấu trúc văn hóa của Việt Nam những thập niên cuối cùng của thời trung đại. Trong bối cảnh ngôn ngữ - xã hội đó, một mặt, Hán văn, chữ Hán là ngôn ngữ chữ viết của thánh hiền, cao quý, thượng đẳng, quyền uy đến độc tôn. Nhưng mặt khác, muốn cái thượng đẳng, độc tôn ấy đến với đông đảo thần dân thì phải dùng phương ngữ phương ngôn, quốc ngữ, quốc âm, chữ Nôm như cái cầu chuyển ngữ. Do vậy, nó cũng là một trong những nhân tố có ý nghĩa cho sự nhận thức về khả năng và tiếng mẹ đẻ, của quốc âm, quốc ngữ Nôm trong việc diễn đạt những vấn đề học thuật Nho học mang tính bách khoa, chính học và thánh chế cả đối với tác giả soạn nó cách đây hơn một thế kỷ cũng như cả với chúng ta, những người đọc nó bây giờ.

Phạm Văn Khoái 

PGS..TS. Đại học KHXH & Nhân văn Hà Nội

Hà Đăng Việt

NCS. Khoa Việt Nam học Đại học Sư phạm Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 1 (116) 2013, tr.17-28.

 

Chú thích:

(1) Theo kí hiệu sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(2) Cuốn sách do Nguyễn Văn San biên tập, Văn Sơn đường tàng bản khắc in năm 1899. Sách được chia ra 50 mục-bộ, như Nhân luân mônTàm tang môn, Tục ngữ môn...

(3) Đặng Xuân Bảng: Từ điển Hán - Nôm, Thiện Đình khắc in năm 1902. Các chữ trong cuốn sách được xếp theo 32 mục, như Thiên văn, Địa lí, Thời tiết, Nhân phẩm, Quan chức…; có đặc điểm là tập hợp nhiều tên gọi các sản vật nước Nam.

(4) Cuốn sách còn có tên là Chỉ Nam phẩm vựng, tác giả là Hương Chân pháp tính. Sách được chia làm 40 bộ môn loại và trình bày theo thể văn vần, chủ yếu là lục bát.

(5) Do Ngô Thì Nhậm soạn, Phú Văn đường tàng bản khắc in năm 1831. Đây được xem là cuốn sách dạy chữ cho người mới học chữ Hán.

(6) Sách do Phạm Đình Hổ soạn năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), Đồng Văn trai tàng bản khắc in năm Tự Đức thứ 4 (1851). Đây là một bộ tự điển Hán - Nôm, xếp theo 32 môn loại như: Thiên văn, Đại lí, Nho giáo,…

(7) Sách chép tay, không ghi tên người soạn. Các chữ trong sách không sắp xếp theo môn loại, tập hợp những chữ khó để giải nghĩa.

(8) Cuốn sách do Quan Văn đường tàng bản khắc in năm 1890, không ghi tên người soạn. Chữ trong cuốn sách sắp xếp theo mục, có giải nghĩa và chú âm, trình bày theo lối lục bát.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1.Thiều Chửu: Hán Việt tự điển, Nxb. Văn hóa - Thông tin, 1999.

2.Thơ văn Tự Đức. Phan Đăng chủ biên, (tập 3 - Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca), Nxb. Thuận Hóa, 1996.

3.Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2, Nxb. KHXH, H. 1990.

4.Phạm Văn Khoái: Một số vấn đề chữ Hán thế kỉ XX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

5.Phạm Văn Khoái: Từ “Tứ thư ước giải” đến “Tự Đức Thánh chế Luận ngữ thích nghĩa ca” suy nghĩ về bước vận động xây dựng chính tả chữ Nôm, Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm, Hà Nội 2004.

6.Phương Thủ Nguyễn Hữu Quì:Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca (phiên âm), Ủy ban dịch thuật phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa của chính quyền Sài Gòn cũ xuất bản, 1971.

7.Lạc Thiện: Tự điển Hán Việt thông dụng, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1996.

8.Hà Đăng Việt: “Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca” và vấn đề chuẩn hóa chữ Nôm thời Nguyễn, Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb. KHXH, H. 2008.

II. TÀI LIỆU TIẾNG TRUNG QUỐC

9.Khang Hi tự điển, Trương Ngọc Thư chủ biên, Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, Thượng Hải, 2000.

10. Khang Hi tự điển thông giải, Thời đại văn nghệ xuất bản xã.

11. Từ nguyên, Trung Hoa thư cục phát hành, 1956.

12. Thư Tân Thành, Từ Nguyên Cật, Thẩm Di, Trương Tương, Từ Hải, Trung Hoa thư cục phát hành, 1966.

III. TÀI LIỆU HÁN NÔM (theo kí hiệu của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

1.指南玉音解義Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa giải nghĩa, AB.372/ VNv.201.

2.大南國語Đại Nam quốc ngữ, AB.106.

3.南方名物備攷Nam phương danh vật bị khảo, A.155/ VHb.288.

4.日用常談Nhật dụng thường đàm, AB.511.

5.難字解音Nan tự giải âm, A.1542.

6.三千字解音Tam thiên tự giải âm, AB.19.

7.千字文解音Thiên tự văn giải âm, AB.227/AB.91.

8.嗣德聖製字學解義歌Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca, VHv.626/1-4./.

Page 1 of 112

Thông tin truy cập

73626436
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
10002
49587
73626436

Đang có 767 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website