Năm 1948, nhân bàn đến phê bình luận chiến, trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đồng chí Trường Chinh có nêu lên rằng : "Không có phê bình, không có luận chiến phong trào văn nghệ nước ta êm đềm quá, trầm mặc quá. Nó khác nào con ngựa đi bước một, rũ cổ xuống đất, thiếu một cái roi phê bình quất cho nó lồng lên”(1). Đây là một ý kiến nhằm nhấn mạnh một phương diện của phê bình văn nghệ. Nhưng từ  ý kiến này đã không ít người có lúc, có khi xem đó là toàn bộ mục đích và nhiệm vụ mà phê bình văn nghệ hướng tới.

 

Trong nửa thế kỷ qua, các học viện trên khắp thế giới, nhất là ở Âu Mỹ, đã chứng kiến những chuyển biến quan trọng liên quan đến giới tính. Chẳng những số lượng nữ giáo sư và nữ sinh viên  tăng nhanh trong các học viện,  mà học thuyết nữ quyền còn ảnh hưởng đến nhiều bộ môn học thuật khác, từ triết học, lịch sử,  đến ngôn ngữ học, xã hội học,  nhân chủng học, truyền thông đại chúng, kinh tế, luật… Nhưng trước tiên và căn bản trong vòng ba thập niên qua, học thuyết nữ quyền có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn nhất đến phê bình văn học, đã làm thay đổi lớn lao cách đọc văn bản, việc bình giảng văn chương, sự định giá kinh điển trong nhà trường, ảnh hưởng đến cảm thụ văn học của công chúng và chuyển đổi cả ngành xuất bản. 

Chủ nghĩa lịch sử mới (New historicism) là một trong những biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa hậu hiện đại từ chỗ giải cấu, phản nghịch, vứt độ sâu, phá bỏ tất cả, nhưng đó chỉ là triệt để phá để mà xây cái mới, và tất yếu sẽ hồi quy văn học về bình diện lịch sử xã hội, hiển nhiên là với những khía cạnh mới trên cơ sở những cách nhìn mới.

Giáo sư Lê Đình Kỵ sinh năm Nhâm Tuất 1922 ở một vùng quê làm nghề dệt vải và buôn bán tơ tằm thuộc xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trong một đoạn hồi ức đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay, ông kể: "Cha tôi là nông dân, có học qua chữ Nho. Mẹ tôi tảo tần vất vả. Tuổi thơ tôi khá thiệt thòi vì trong nhà không có sách vở thi thư gì.

  Nguyen Huy ThiepHiện tượng đa thanh (polyphonie) là một phát hiện mới của thi pháp học và ngôn ngữ học hiện đại. Những phát ngôn phức hợp nhiều lời, nhiều giọng của nhiều chủ thể khác nhau là điều không có gì mới trong ngôn ngữ đời sống. Sự sống luôn là cuộc đối thoại vô tận với sự tác động, hoặc ảnh hưởng hoặc phủ định lẫn nhau giữa các quan niệm, tư tưởng.

20260105 3

Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.

1. Giới thiệu chung

Trong thơ văn của các nhà Nho mười thế kỷ thời trung đại, có thể thấy các vị chịu ảnh hưởng sâu đậm ba hệ tư tưởng của phương Đông bấy giờ là Nho - Phật - Lão. Và cho dù các vị được đào luyện trong cửa Khổng sân Trình, nhưng trong tư tưởng và quan điểm của các vị không chỉ thuần túy là Nho giáo, mà các vị còn học tập, nghiên cứu và ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, Lão - Trang và cửu lưu (chín trường phái tư tưởng triết học ở Trung Quốc thời cổ đại), cùng văn hóa dân gian bản địa. Cụ Đồ Chiểu cũng không ngoại lệ. Ở cụ Đồ, ngoài tư tưởng Nho giáo đã được học tập, cụ ít nhiều còn chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật và Lão - Trang cùng văn hóa dân gian. Trước đây, có vài ba bài viết đã khẳng định cụ Đồ có chống đối, bài xích Phật giáo, nhất là trong tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu(1). Sự thật có đúng như thế không? Bài viết này sẽ đi sâu tìm hiểu về cái nhìn/quan điểm của danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu về Phật giáo được thể hiện trong ba tác phẩm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước. Một nhà thơ đạo lý tỏa sáng đồng thời là ngọn cờ đầu của dòng văn học yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược hồi nửa cuối thế kỷ XIX; một thầy giáo mẫu mực với lý tưởng nhân nghĩa, đào tạo những con người trung hiếu tiết nghĩa vẹn tròn; một thầy thuốc ngời sáng coi trọng y đức. Văn nghiệp của cụ có thể chia thành hai giai đoạn sáng tác, lấy cái mốc là trước và sau khi Pháp xâm lược nước ta (1858) với sự chuyển hướng về tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm của cụ. Ở đây chỉ tập trung tìm hiểu về quan điểm của cụ đối với Phật giáo mà thôi.

2. Quan điểm về Phật giáo trong tác phẩm Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên là tác phẩm được cụ Đồ viết trước khi Pháp xâm lược (1858). Tác phẩm chở đạo, ca ngợi đạo lý, cụ thể là trung hiếu tiết nghĩa, những phẩm cách mà con người cần có theo lý tưởng của Nho giáo. Riêng về Phật giáo, cụ nhìn Phật giáo theo nhận thức chung của dân gian, rất gần gũi với quan niệm của dân gian: nhân quả báo ứng, nhân nào quả nấy, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão, được thể hiện rất rõ nét trong tác phẩm. Những người hiền lương như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tiểu đồng, Vương Tử Trực, Hớn Minh dù gặp nhiều tai ách, nhưng cuối cùng được bình yên, sống hạnh phúc. Trong khi đó những người như vợ chồng Võ công tráo trở lật lọng thì sinh bệnh mà chết sớm (bất đắc kỳ tử); mẹ con Võ Thể Loan thì bị cọp tha bỏ vào hang đá bịt bùng mà trước đây Võ công đã lừa bỏ Vân Tiên vào đó. Trịnh Hâm, Bùi Kiệm thì bị quả báo, chết thảm.

Quan điểm này được thể hiện ở nhiều nhân vật trong truyện, nhưng tập trung rõ nhất là ở hai nhân vật Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên.

Chẳng hạn, Kiều Nguyệt Nga là người lương thiện, thảo ngay, chung thủy nên được Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, nhiều lần được tai qua nạn khỏi. Trong tâm thức của người Việt xưa nay, Đức Phật Bà Quan Âm là biểu tượng cho tình thương yêu mênh mông bao la như biển cả, như tấm lòng bao dung của người mẹ hiền đối với con cái. Phật Bà luôn lắng nghe những âm thanh để cứu độ những người thiện lương thoát khỏi những kiếp nạn tai ách. Mỗi khi bị nạn, người ta thường niệm danh xưng của Phật Bà để cầu nguyện. Câu niệm “Nam-mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ-tát” mà những người theo Phật hay xưng tụng đã nói rõ điều vừa nêu.

Lần thứ nhất lúc nàng bị triều đình bắt đi cống sang nước Ô Qua, đến biên ải (ải Đồng) nàng đã gieo mình tự vẫn: “Nguyệt Nga nhảy xuống giữa vời/ Sóng thần đưa đẩy vào nơi bãi rày/ Bóng trăng vừa khuất ngọn cây/ Nguyệt Nga hồn hãy chơi rày âm cung”(2). Liền ngay sau đó, Phật Bà Quan Âm ứng hiện cứu giúp đưa nàng vào vườn hoa của nhà Bùi công: “Quan Âm thương đứng thảo ngay/ Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa/ Dặn rằng: Nàng hỡi Nguyệt Nga/ Tìm nơi nương náu cho qua tháng ngày/ Đôi ba năm nữa gần đây/ Vợ chồng sao cũng sum vầy một nơi”(3).

Lần thứ hai, khi tá túc tại nhà Bùi công, nàng bị cha con nhà này ép duyên lấy Bùi Kiệm, nàng tìm cách lần lữa để tính kế thoái thác, rồi lúc canh ba nửa đêm, nàng trốn khỏi nhà Bùi công. Trên đường lẩn trốn trong cảnh “Hai bên bờ bụi rậm rì/ Đêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng lờ/ Lạ chừng đường sá bơ vơ/ Có bầy đom đóm sáng nhờ đi theo”(4). Nàng đi đến lúc rạng đông, đang ngồi nghỉ chân thì gặp một bà lão theo lời Phật Quan Âm chỉ dẫn để đến giúp đỡ nàng, đưa nàng về nhà lão ở Ô Sào: “Nguyệt Nga đi đặng hồi lâu/ Tìm nơi bàn thạch ngõ hầu nghỉ chưn/ Người ngay Trời Phật cũng vưng/ Lão bà chống gậy trong rừng bước ra/ Hỏi rằng: Nàng phải Nguyệt Nga/ Khá tua gắng gượng về nhà cùng ta/ Khi khuya nằm thấy Phật Bà/ Người đà mách bảo nên già tới đây/ Nguyệt Nga bán tín bán nghi/ Đành liều nhắm mắt theo đi về nhà/ Bước vào thấy những đàn bà/ Làm nghề bô vãi lụa là mà thôi/ Nguyệt Nga đành dạ ở rồi/ Từ đây mới biết nổi trôi chốn nào/ Hỏi thăm ra chốn Ô Sào/ Quan san mấy dặm đi vào tới nơi”(5).

Lần thứ ba, lúc trước, Phật Bà Quan Âm đã báo mộng cho Nguyệt Nga, giờ đây đã thành hiện thực. Vân Tiên và Nguyệt Nga hội ngộ tại nhà bà lão. Lúc này, Vân Tiên truy đuổi tướng giặc Cốt Đột rồi giết hắn, sau đó chàng bị lạc, tình cờ vào nhà bà lão để hỏi đường, nhờ vậy mới gặp lại Nguyệt Nga, y như Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau trong đêm thất tịch mùng bảy tháng Bảy hàng năm nhờ bầy quạ bắt cầu ô thước: “Đoạn này tới thứ Nguyệt Nga/ Ở đây tính đã hơn ba năm rồi/ Đêm khuya chong ngọn đèn ngồi/ Chẳng hay trong dạ bồi hồi việc chi?/ Quan Âm thuở trước nói chi/ Éo le phỉnh thiếp lòng ghi nhớ hoài/ Đã đành đá nát vàng phơi/ Đã đành xuống chốn dạ đài gặp nhau/ Khôn trông mồng bảy đêm thu, / Khôn trông bầy quạ đội cầu đưa sao. / Phải chi hỏi đặng Nam Tào, / Đêm nay cho đến đêm nào gặp nhau/ Nguyệt Nga gợn giải cơn sầu/ Xảy nghe lạc ngựa ở đâu tới nhà/ Kêu rằng: Ai ở trong nhà/ Đường về quan ải chỉ ra cho cùng/ Nguyệt Nga ngồi sợ hãi hùng/ Vân Tiên xuống ngựa thẳng xông bước vào/ Lão bà lật đật hỏi chào:/ ‘Ở đâu mà tới rừng cao một mình?’/ Vân Tiên mới nói sự tình:/ ‘Tôi là quốc trạng triều đình sai ra/ Đem binh dẹp giặc Ô Qua/ Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây’/ Lão bà nghe nói sợ thay:/ ‘Xin ông chớ chấp tôi nay mụ già’/ Vân Tiên ngồi nhắm Nguyệt Nga/ Lại xem bức tượng lòng đà sinh nghi/ Hỏi rằng: ‘Bức ấy tượng chi/ Khen ai khéo vẽ dung nghi giống mình/ Đầu đuôi chưa rõ sự tình/ Lão bà khá nói tánh danh cho tường’/ Lão bà chẳng dám lời gian:/ ‘Tượng này vốn thiệt chồng nàng ngồi đây’/ Tiên rằng: ‘Nàng xích lại đây/ Nói trong tên họ tượng này ta nghe’/ Nguyệt Nga lòng rất kiêng dè/ Mặt thời giống mặt, còn e lạ người/ Ngồi che tay áo hổ ngươi/ Vân Tiên thấy vậy mỉm cười một khi/ Rằng: ‘Sao nàng chẳng nói đi/ Hay là ta hỏi động chi chăng là?’/ Nguyệt Nga khép nép thưa qua:/ ‘Người trong bức tượng tên là Vân Tiên/ Chàng đà về chốn cửu tuyền/ Thiếp lăm trọn đạo lánh miền gió trăng’/ Vân Tiên nghe nói hỏi phăn:/ ‘Chồng là tên ấy, vợ rằng tên chi?’/ Nàng bèn tỏ thiệt một khi/ Vân Tiên vội vã xuống quỳ vòng tay/ Thưa rằng: ‘May gặp nàng đây/ Xin đền ba lạy sẽ bày nguồn cơn/ Để lời thệ hải minh sơn/ Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi/ Vân Tiên vốn thiệt là tôi/ Gặp nhau đây đã phỉ rồi ước mơ/ Nguyệt Nga bảng lảng bơ lơ/ Nửa tin rằng bạn nửa ngờ rằng ai/ Thưa rằng: ‘Đã thiệt tên ngài/ Khúc nôi xin cứ đầu bài phân qua’/ Vân Tiên dẫn tích xưa ra/ Nguyệt Nga khi ấy khóc òa như mưa/ Ân tình càng kể càng ưa/ Mảng còn bịn rịn trời vừa sáng ngay”(6). Trong khi đó, Hớn Minh dẫn quân đi tìm và gặp Vân Tiên, được biết sự tình, Hớn Minh đề nghị Vân Tiên cho mình ra mắt chị dâu. Sau đó, cả hai hồi triều, sau khi Nguyệt Nga đề nghị Vân Tiên về triều tâu sự tình lên nhà vua; còn Vân Tiên thì dặn dò Nguyệt Nga ở lại ít ngày, sau khi tấu trình lên nhà vua xá tội thì sẽ rước nàng về.

Còn với nhân vật Lục Vân Tiên thì thông qua cuộc đời, số phận của chàng, người đọc sẽ thấy rất rõ tư tưởng nhân quả, ở hiền gặp lành này. Có thể tóm lược như sau:

1. Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga (câu 1-286): Vân Tiên là một Nho sinh, chàng từ giã thầy lên kinh ứng thí (câu 1-90). Trên đường đi, chàng gặp bọn cướp núi cướp của bắt người, chàng ra tay nghĩa hiệp đánh tan bọn cướp, giải cứu hai cô trò Nguyệt Nga. Nguyệt Nga nguyền gá nghĩa trăm năm để tạ lòng chàng (câu 91-286).

2. Vân Tiên bị tai nạn và được cứu giúp (câu 287-1264): Vân Tiên ghé về thăm nhà (câu 287-330). Vân Tiên thăm gia đình Võ Công, người đã đính ước gả Võ Thể Loan cho chàng (câu 331-418). Trên đường lên kinh, Vân Tiên kết bạn với Vương Tử Trực, gặp ông Quán nghe ông nói về lẽ ghét thương, và gặp Bùi Kiệm, Trịnh Hâm (câu 419-546). Đến kinh, chưa kịp thi thì Vân Tiên được tin mẹ mất, chàng cùng tiểu đồng trở về nhà, trên đường về chàng mang bệnh bị mù mắt vì khóc thương mẹ (câu 547-652). Tiểu đồng hết lòng chạy chữa thuốc thang cho thầy, nhưng bị lừa, tiền mất bệnh còn (câu 653-844). Tiểu đồng bị Trịnh Hâm lừa trói vào rừng, được “sơn quân” cứu, tưởng Vân Tiên đã chết, nguyện trọn bề “che chòi giữ mả” (câu 845-930). Vân Tiên bị Trịnh Hâm hãm hại đẩy xuống sông, được giao long và vợ chồng ông chài cứu sống (câu 931-1000). Vân Tiên bị cha con Võ Thể Loan bội ước, đem bỏ vào hang Thương tòng, được “du thần” và ông Tiều cứu (câu 1001-1118). Vân Tiên gặp lại Hớn Minh (câu 1119-1196). Võ công bị Vương Tử Trực mắng nhiếc, xấu hổ sinh bệnh rồi chết (câu 1197-1264).

3. Nguyệt Nga bị cống Hồ, quyết một lòng chung thủy với Vân Tiên (câu 1265-1664): Nguyệt Nga quyết giữ tiết trọn đời với Vân Tiên (câu 1265-1360). Nguyệt Nga bị triều đình bắt đi cống giặc Ô Qua, đến biên ải nàng nhảy xuống sông tự tử, được Phật Quan Âm cứu đưa vào vườn hoa nhà Bùi công (câu 1361-1532). Nguyệt Nga bị Bùi Kiệm ép duyên, trốn khỏi nhà Bùi công, được Phật Quan Âm báo mộng, bà lão trong rừng đến đưa nàng về ở với bà (câu 1533-1664).

4. Vân Tiên và Nguyệt Nga trùng phùng, nên nghĩa vợ chồng (câu 1665-2082): Vân Tiên được thuốc tiên mắt lại sáng ra, về thăm nhà, đi thi đỗ Trạng nguyên, đánh tan giặc Ô Qua, bị lạc vào rừng (câu 1665-1806). Vân Tiên gặp Nguyệt Nga tại nhà bà lão trong rừng, trở về triều báo công, gặp lại tiểu đồng, tạ ơn ông Ngư, ông Tiều, kẻ gian ác bị đền tội (câu 1807-2074). Vân Tiên cưới Nguyệt Nga, sống ấm êm hạnh phúc đời đời (câu 2075-2082).

Qua lược thuật, có thể thấy Vân Tiên là người trung hiếu nhân nghĩa thiện lương vẹn toàn. Những người hội đủ những phẩm cách này theo quan niệm của dân gian là những người luôn được quý nhân phù trợ. Chính vì thế mà qua bao lần bị nạn: bị bệnh mù mắt, bị gia đình Võ công bội ước, bị bắt bỏ vào hang, bị Trịnh Hâm đẩy xuống sông…, nhưng cuối cùng Vân Tiên đã vượt qua tất cả là nhờ cái đức độ, hiền lương của chàng. Nhân vật Vân Tiên là hiện thân và cũng là ước mơ lý tưởng của cụ Đồ. Những người ăn ở thiện lương sẽ được Phật trời phù hộ độ trì, trái lại những người sống bạc ác, tráo trở lật lọng sẽ bị quả báo. Đây là quan niệm của dân gian về quả báo nhãn tiền, đồng thời cũng là quan niệm của Phật giáo về nhân quả nghiệp báo. Vân Tiên đã được du thần, được giao long, được ông Ngư, ông Tiều cứu giúp, được thuốc tiên chữa bệnh làm cho mắt sáng trở lại, rồi đi thi đỗ Trạng, đánh giặc cứu nước, gặp lại Nguyệt Nga, được triều đình ban thưởng, cuối cùng được sống ấm êm hạnh phúc trọn đời “Sinh con sau nối gót lân đời đời” (câu 2082). Còn những người bạc ác, bất lương như gia đình Võ công, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm thì bị quả báo. Đây là chuyện nhân quả báo ứng. Dân gian còn cho rằng lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt, cũng xuất phát từ quan niệm trên.

Có thể thấy quan điểm của cụ Đồ Chiểu về Phật giáo trong truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên là bắt nguồn từ văn hóa dân gian có sự kết hợp với quan niệm nhân quả nghiệp báo của nhà Phật theo nhận thức của người bình dân.

3. Quan điểm về Phật giáo trong tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu

Tác phẩm được viết trước khi Pháp xâm lược (khoảng năm 1851) và hoàn chỉnh sau khi Pháp chiếm đóng Nam kỳ (từ sau năm 1862 trở đi). Theo nhà giáo Nguyễn Văn Nghĩa thì tác phẩm này được cụ Đồ đọc cho ông Nhiêu Cơ chép lại: “Khi cụ Đồ Chiểu ở lại Tân Thuận Đông, tổng Duy Hòa Hạ trong hai, ba năm ở nhà ông Nhiêu Lê Quang Hạ, kêu là Nhiêu Cơ. Ở đấy, muốn vui lòng ông bạn, lên tiếng bênh vực đạo Nho, cụ Đồ Chiểu đọc quyển Dương Từ - Hà Mậu cho ông Nhiêu Cơ chép”(7). 

Cũng như truyện thơ Lục Vân Tiên, truyện thơ Dương Từ - Hà Mậu là tác phẩm được cụ Đồ viết ra nhằm mục đích chuyên chở và quảng bá đạo lý, theo quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Với cụ Đồ, “đạo” ở đây không chỉ là đạo lý của Nho gia được ghi chép trong Thánh kinh hiền truyện, mà còn là đạo lý của nhân dân Việt Nam. Truyện đề cao Nho giáo và cho rằng đạo Tiên nằm trong và thuộc về đạo Nho, kịch liệt bài xích Công giáo, ít nhiều có nhắc Phật giáo. Đó là cái nhìn của một nhà Nho đứng trên quan điểm lập trường dân tộc, cụ đã xem Công giáo, Phật giáo là ngoại đạo, là dị đoan (khác mối) bởi ngoại nhập, nhất là trong tâm thức của cha ông ta lúc bấy giờ đã nhận thức rằng Pháp đã dùng các giáo sĩ sang truyền đạo để nắm tình hình, sau đó mang quân đi xâm lược nước ta, nên cụ mới công kích, phê phán Kitô giáo (đạo đi trước, nhà nước theo sau), tiện thể nhắc đến Phật giáo. Nhưng sự công kích bài xích này đối với nhà Phật, cụ Đồ không hề phê phán tư tưởng giáo lý Phật-đà, mà cụ chỉ tập trung phê phán bài xích đội ngũ sư sãi không nghiêm cẩn gìn giữ giới luật, làm những việc trái với đạo lý nơi chốn thiền môn. Như vậy trong tác phẩm, cụ Đồ không phê phán giáo lý tư tưởng Phật giáo mà chỉ phê phán Tăng đoàn. Theo tôi đây cũng là một sự phê phán tích cực, nhằm bảo vệ Chánh pháp. Và chắc chắn rằng, với những bậc chân tu phạm hạnh, sẽ rất đồng tình và ủng hộ sự phê phán này của cụ.

Có thể tóm lược câu chuyện như sau: Tác phẩm dài câu 3.456 câu(8) (theo văn bản của Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải), được chia làm 4 đoạn:

1. Dương Từ, Hà Mậu hoài nghi về đạo mà đi cầu mối đạo (câu 1-896): Hà Mậu theo đạo cầu Chúa cho có con, vợ nghi bị quỷ thai, bèn theo danh y Châu Kỷ đến Tùng Lãnh cầu thuốc tiên của đạo sĩ Lý Tri Niên. Nam Tào, Bắc Đẩu cho biết vợ Hà Mậu ốm nghén, sau sẽ sinh hai gái là Tuyết, Băng, và khuyên Châu, Hà đừng lầm đường theo đạo Gia Tô. Hà Mậu về nhà thì vợ đã sinh hai gái, thấy việc linh thiêng muốn tìm hiểu Tiên đạo. Dương Từ theo đạo Phật, vợ chồng ra sức khấn vái, bố thí cầu con, sau vợ là Đỗ thị sinh được hai trai là Dương Trân, Dương Bửu. Cảm ơn Phật tế độ, Dương Từ xuất gia đầu Phật ở Phù-đồ-sa, lấy hiệu là Thiện Trai. Vợ con ở nhà sống nheo nhóc. Trưởng tộc đặt tên cho con Hà Mậu là Xuân Tuyết, Thu Băng. Hà Mậu trở về, hoài nghi về đạo Thiên chúa, quyết cầu Tiên đạo. Hà Mậu gặp Lý Tri Niên, được Lý đưa gặp sư phụ là Lão Nhan Tử Thất tại chùa Linh Diệu. Dương Từ chán cảnh am vắng, xin đi vân du. Hà Mậu đi đến đâu cũng bị người đời chỉ trích bọn sư sãi trốn nhiệm vụ, ươn hèn, lợi dụng nhà chùa để làm xằng, đồng thời nêu gương cách mạng của nhân dân, tinh thần trung kiên, quyết vì đời mà dẹp tan những bất công phi nhân phi nghĩa và biết giữ mình trong sạch, không để thời thế khuất anh hùng, không để đời lợi dụng, lánh cõi đời ô trọc, nhưng vẫn theo đời để chờ phen giúp đời, lấy hành động của mình mà cải tạo đời cho đời ngày một tốt đẹp hơn. Sau cùng Dương Từ đến chùa Linh Diệu.

2. Dương Từ, Hà Mậu được Lão Nhan Tử Thất nói cho rõ lẽ chánh tà của tôn giáo (câu 907-2266): Lão Nhan Tử Thất dùng phép cho hai người lên Thiên đường và xuống địa ngục. Tại đây, Dương Từ, Hà Mậu không thấy ai cùng đạo với mình được lên Thiên đường. Hai người chỉ thấy Khổng Tử cùng các đại biểu đi dự hội. Tại địa ngục, Dương Từ gặp đủ các hạng người bất chính, lừa đảo nhân dân bị trừng phạt, nào là thầy pháp, thầy địa lý, bọn cho vay nặng lãi, bọn thơ lại ở cửa quan, bọn loạn luân, dâm bôn, trộm cướp, bọn thầy thuốc cùng các bà đỡ bất lương. Dương Từ, Hà Mậu được Lão Nhan Tử Thất giảng giải lẽ nguy hại, tà vạy của Công giáo và Phật giáo, khuyên hai người trở về chánh đạo, thực thi đạo lý trong đời sống. Dương Từ, Hà Mậu nghe ra, quyết tâm đi theo Nho đạo.

3. Gia đình Dương Từ, Hà Mậu được những người chánh đạo giúp đỡ. Con cái của họ trở nên trai tài gái tốt (câu 2267-3194): Xuân Tuyết, Thu Băng quyết không theo đạo Thiên Chúa, bỏ nhà đi tìm cha. Tần Khanh phụng mệnh Tấn vương đi giúp dân miền Dự Châu bị mất mùa, tình cờ gặp Xuân Tuyết, Thu Băng rồi nhận hai trẻ làm con nuôi. Tần Khanh nhậm chức Tổng trấn Hà Đông. Gia đình Dương Từ sa sút, được Đỗ Khoái là em vợ bao bọc. Dương Trân, Dương Bửu được Trình Kiệt dạy dỗ. Dương Trân, Dương Bửu đi tìm cha, không gặp, trở về tiếp tục học tập. Dương Trân, Dương Bửu đi thi, kỳ thi bị hoãn, buồn rầu trở về, đề thơ sen nở muộn ở cổ miếu để giải bày tâm sự cùng cảnh ngộ. Tần Khanh dẹp yên giặc Tây Châu trở về, thấy thơ Trân, Bửu ở cổ miếu, Tần Khanh truyền cho quan huyện Trần Doan đứng ra làm mai cho Trân, Bửu kết duyên cùng Xuân Tuyết, Thu Băng. Nhà vua mở khoa thi, Dương Trân đỗ Bảng nhãn, Dương Bửu đỗ Thám hoa. Hai người vinh quy bái tổ, làm văn tế cha.

4. Dương, Hà hai họ kết tình thông gia. Dương Từ, Hà Mậu cùng các tín đồ Công giáo, Phật giáo trở về vơi chánh đạo (câu 3195-3456): Dương Từ, Hà Mậu trở về quê cũ. Lão Nhan Tử Thất báo cho hai họ biết hai họ sẽ kết tình thông gia, lo giữ gìn nhân luân. Dương Từ trở về nhà cho con uống thuốc tiên khỏi bệnh. Hà Mậu trở về nhà, vợ chết, con gái làm con nuôi Tần Khanh. Hà Mậu khuyên con cháu từ bỏ đạo Thiên Chúa. Dương Từ, Hà Mậu được nhà vua mời vào triều hỏi việc. Tấn Vương ban dụ cấm đạo Thiên Chúa, đạo Phật, truyền lệnh cho Tần Khanh đứng ra lo việc chủ hôn cho hai họ Dương, Hà. Hai họ Dương, Hà kết tình thông gia. Các tín đồ Công giáo, Phật giáo thấy báo ứng cha lành con thảo, cùng nhau bàn luận, tự nguyện bỏ dị đoan theo đường nhân nghĩa.

Việc các nhân vật chính và các tín đồ tự nguyện từ bỏ dị đoan theo đường nhân nghĩa thể hiện quan điểm lập trường của tác giả là đề cao Nho giáo rõ nét. Với đạo Tiên, tức Đạo giáo như hiện nay thường gọi, thì theo cụ Đồ, Nho và Tiên tuy hai mà một, cả hai bổ túc cho nhau. Trong truyện thơ, qua phát ngôn của Lão Nhan Tử Thất khi trả lời câu hỏi của Dương Từ, Hà Mậu về đạo Nho và đạo Tiên, cụ Đồ cho rằng đạo Tiên thuộc đạo Nho, nằm trong đạo Nho, dù mỗi đạo có nhiệm vụ riêng nhưng bổ túc cho nhau: “Tôn sư thong thả đáp rằng:/ Đạo Tiên cũng ở trong lòng đạo Nho/ Đạo Tiên theo việc nhàn du/ Dạo chơi non nước trầm phù công danh/ Đạo Nho lo việc kinh doanh/ Giúp trong nhà nước cho minh cương thường/ Tiên xưa ở chốn thơ đường/ Một câu Nho giáo lòng hằng chẳng quên/ Muốn theo Tiên đạo cho bền/ Phải tìm Nho đạo mới nên đặng mình”(9).

Với đạo Chúa, dưới cái nhìn của cụ Đồ Chiểu hồi ấy, bất cứ cái gì gắn với Tây dương là cụ căm ghét đến tận cùng. Nếu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Văn tế sĩ dân Cần Giuộc), cụ viết: “Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ” được đa số nhân dân đồng tình, thì trong sinh hoạt thường nhật của cụ, bà con thường kể lại rằng cụ rất ghét Tây, không dùng xà phòng của Tây, không đi trên con đường của Tây làm, v.v. dù xét đến cùng, quan điểm này có vẻ cực đoan. Cho nên trong tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu, cụ công kích Thiên Chúa giáo (Kitô giáo/ Công giáo) rất kịch liệt, gay gắt cũng là lẽ đương nhiên. Cụ cho rằng, nước ta vốn đã nhiều mê tín, dị đoan nay lại còn thêm các tôn giáo ở phương Tây du nhập vào nữa: “Dị đoan xưa đã bời bời/ Lại thêm đạo Phật, đạo Trời lăng nhăng/ Thói đời nhiều việc băng xăng/ Đố ai biết đặng đạo hằng quy ta/ Đua chen kính chuộng đạo tà/ Một câu quả báo, muôn nhà đều tu”. Cho nên khi triều đình ra lệnh cấm đạo thì cụ đồng tình ủng hộ: “Tấn vương dụ xuống khắp kinh/ Cấm theo đạo Phật, đạo Trời chẳng nên/ Từ đấy trăm họ đều truyền/ Bao nhiêu tả đạo đều truyền đốt kinh”. Rồi cụ Đồ nêu câu hỏi: Sao đạo của dân tộc mình không theo mà lại theo đạo ngoại để mồ mả cha ông hoang tàn: “Cớ sao mình ở nước trung/ Lòng theo nước ngoại còn mong đợi gì/ Ông bà mồ mả bỏ đi/ Gốc mình chẳng kính, lại vì gốc ai?/ Cửa nhà làng xóm cách già/ Phận gần chẳng đoái, đoái hoài phận xa”. Mà kết cục không phải như đã truyền tụng là đi tu để được lên Niết-bàn, lên Thiên đàng. Khi Dương Từ, Hà Mậu được cho lên chiêm ngưỡng cảnh Tiên bồng thượng giới đã ngạc nhiên không thấy bóng vị Hòa thượng hay người Hòa Lan nào ở đấy: “Rằng: đi năm cửa Thiên đàng/ Cớ chi không thấy Hòa Lan người nào?/ Cũng không Phật Tổ ra vào?/ Hay là còn ở nơi nào nữa chăng?”(10)Hóa ra cũng chỉ là lừa gạt dân chúng mà thôi.

Với đạo Phật, trong tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu, cụ Đồ đã có những câu thơ bộc lộ quan điểm của mình như sau:

Trong Dương Từ - Hà Mậu phần thứ 11, cụ Nguyễn Đình Chiểu viết: “Ta nghe Phật ở Tây phương/ Vốn người mọi rợ luân thường chẳng ưa”(11), và “Trên vua dưới đến dân thôn/ Đua nhau kỉnh trọng một môn phù đồ/ Quỳ hương chẩn tế nam-mô/ Tới lui Tăng đạo ra vô Phật đường/ Bao nhiêu theo đạo Tây phương/ Phước lành chưa thấy tai ương tới mình/ Trên thời nghiêng nước nghiêng thành/ Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao/ Phật linh mấy cứu ai nào/ Người nay sao hãy lòn vào Thích gia?”(12).

Xin được khẳng định chỗ này là cụ Nguyễn Đình Chiểu đã nhầm, nhầm đến hai chi tiết. Nguồn gốc đạo Phật ở Bắc Ấn Độ thuộc châu Á (Đông phương) chứ không phải ở Tây phương. Và Đức Cồ Đàm Tất Đạt Đa (Gautama Siddhattha) sinh năm 564 TCN là thái tử, con vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) đang cai trị vương triều ở thành Ca-tỳ-la-vệ. Như vậy, Đức Phật xuất thân từ dòng dõi vua chúa (Sát-đế-lợi), chứ không phái “vốn người mọi rợ” hay “vốn người kẻ chợ”. Sự nhầm lẫn này có thể là vì trước đó cụ Đồ đã đả kích Công giáo nặng lời bởi đây là tôn giáo ngoại nhập, khác với chính thống, mà hồi ấy các nhà Nho gọi là “dị đoan” (khác giềng mối), để đến đây, theo mạch lô-gic, tác giả tiếp tục viết về đạo Phật như trên đã trích dẫn, bởi đạo Phật cũng là tôn giáo ngoại nhập.

Phần thứ 17 trong Dương Từ - Hà Mậu tác giả đã phê phán các nhà sư: “Kể từ sống ở dương gian/ Sợ xâu trốn thuế tìm đàng đi tu/ Vô chùa làm chước cạo đầu/ Trốn vua theo Phật trông cầu rảnh tay”,  “Miệng thời niệm chữ nam-mô/ Mắt xem gắm ghé mấy cô đi chùa/ Áo cơm khỏi tốn tiền mua/ No lòng ấm cật lại đua thói xằng/ Tham câu sắc dục ai bằng/ Lòng lang dạ cáo lăng nhăng trọn đời/ Khi buồn cô vãi đỡ chơi/ Khi vui vợ khách cũng nơi thanh lầu/ Chẳng trừ thịt chó, thịt trâu/ Trối thây giới cấm mặc dầu no say/ Ngoài am giả chước ăn chay/ Trong liêu rượu thịt ngày ngày liền xơi”(13)Việc phê phán này là có căn cứ từ thực tế đời sống, không chỉ đến cuối thế kỷ XIX thời cụ Đồ sống mới diễn ra, mà đã có ngay từ thời Lý - Trần, lúc đạo Phật nước nhà đang phát triển cực thịnh. Do Nhà nước coi trọng đạo Phật, vua chúa quý tộc tin theo Phật, cúng dường nhiều ruộng đất, vàng bạc; sư sãi thì được đặc ân không phải đóng thuế hay sưu dịch và cũng được miễn đi lính, chính vì thế bấy giờ có rất nhiều người lười biếng, nên vào chùa cạo đầu khoác áo cà-sa, không làm mà vẫn có cái ăn nơi ở. Do xuất phát từ mục đích vào chùa không chân chính nên số sư sãi này không tuân thủ giới luật, làm những điều xằng bậy. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần có chép lúc này “hơn nửa dân số là sư sãi”, do Tăng đoàn đông đúc nên tệ nạn lộn xộn xảy ra là lẽ đương nhiên. Xưa cũng thế mà nay cũng vậy. Từ đó các nhà Nho mới có phong trào bài Phật, mà văn bia của Đàm Dĩ Mông đời Lý, lời bàn của sử gia Lê Văn Hưu “Lý gia sùng Phật luận” trong Đại Việt sử ký, văn bia của Trương Hán Siêu “Khai Nghiêm tự bi ký” và “Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký”, của Lê Quát “Thiệu Phúc tự bi ký” đã thể hiện(14). Nửa cuối thế kỷ XIX ở Nam Kỳ, thời cụ Đồ sống cũng vậy. Cụ đã chứng kiến cảnh xô bồ tệ nạn của Tăng đoàn trong chốn thiền môn, nên cụ đã viết ra để phê phán và cũng là nhằm chấn chỉnh Tăng đoàn cần nghiêm cẩn giữ gìn giới luật. Tôi tin chắc những lời phê phán này của cụ Đồ đã được các bậc chân tu cao tăng thạc đức lúc bấy giờ hoàn toàn ủng hộ, bởi góp phần làm trong sạch cho Giáo hội như trên tôi có khẳng định. Việc này ít nhiều cũng đã góp phần vào công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà diễn ra hồi những năm 20, 30 thế kỷ XX.

4. Quan điểm về Phật giáo trong tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp

Ngư tiều y thuật vấn đáp được cụ Đồ viết lúc gần cuối đời, trước khi cụ về với tổ tiên. Tác phẩm dài 3.642 câu(15). Truyện thơ Nôm kể về hai nhân vật chính là Bào Tử Phược và Mộng Thê Triền, sau khi thất bại trong cuộc sống đã ẩn dật làm nghề chài lưới, nghề đốn củi, rồi được các bậc kỳ nhân truyền thụ y thuật để trị bệnh cứu đời.

Với các cụ nhà Nho khi xưa, bên cạnh học tập Thánh kinh hiền truyện, thì các vị còn học y, lý, số để phòng khi “tiến vi quan, thối vi sư”, đồng thời còn học tam giáo, cửu lưu nhằm mở rộng kiến văn, chứ không riêng gì kinh sách của Nho gia.

Ngư tiều y thuật vấn đáp chứa đựng kiến thức y học chuyên sâu về mạch, chế dược, vận khí, thương hàn, sản phụ, nhi khoa và đề cao đạo đức người thầy thuốc, phê phán lối hành nghề tham lam, vô trách nhiệm. Về giá trị, tác phẩm đề cao y đức của người thầy thuốc, nhắc nhở thầy thuốc không hành nghề vì tiền bạc hay danh lợi mà phải lấy việc trị bệnh cứu người làm đầu, đồng thời phê phán răn đe những kẻ lang băm gây hại cho người bệnh. Tác phẩm đã cung cấp những kiến thức y học sâu sắc, giúp thầy thuốc nắm vững hơn về cách bốc thuốc và điều trị bệnh qua các phương thang. Bên cạnh, tác phẩm nhấn mạnh giá trị đạo đức của người thầy thuốc, nhắc nhở người hành nghề phải có lòng thương người, chữa bệnh không toan tính, không vụ lợi.

Bên cạnh thể hiện tri thức y học thì tác phẩm còn bộc lộ lòng yêu nước thương dân. Về tư tưởng, tác phẩm thể hiện ba hệ tư tưởng của phương Đông. Riêng cái nhìn về Phật giáo của tác giả trong tác phẩm, đó là cái nhìn dung hòa, dung hợp trên cơ sở quan niệm “Tam giáo đồng nguyên”, “Tam giáo nhất gia”, “Tam giáo nhất thể”. Đây cũng là quan niệm chung của các bậc thức giả Việt Nam từ cuối thế kỷ II trở về sau. Có quan niệm dung hợp này là bắt nguồn từ tư duy tổng hợp và triết học chủ toàn, nhất nguyên nhất thể của con người phương Đông từ thời cổ đại đến trung cận đại.

Mở đầu tác phẩm, cụ Đồ viết: “Ngày nhàn xem truyện ‘Tam công’/ Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời/ Cuộc cờ thúc quý đua bơi/ Mấy thu vật đổi sao dời, thương ôi!/ Kể từ Thạch Tấn ở ngôi/ U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan/ Sinh dân nào xiết bùn than/ U Yên trọn, cũng giao bàn về Liêu/ Theo trong người kiệt rất nhiều/ Ôm tài giấu tiếng làm tiều, làm ngư/ Nước non theo thú ẩn cư/ Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời/ Lại thêm Phật, Lão đua lời/ Nghĩ lòng người với đạo đời thêm thương!/ Nhà năm ba gánh cương thường/ Phận ai nấy giữ, trọn giường thời thôi/ Đời vương đời đế xa rồi/ Nay Di mai Hạ biết hồi nào an!/ Năm trăm vận ở sông Vàng/ Nước còn đương cáu, không màng Thánh nhân/ Đã cam hai chữ ‘tỵ Tần’/ Nguồn Đào tìm dấu, non xuân ruổi miền/ Có tên rằng Mộng Thê Triền/ Tuổi gần bốn chục, nhân duyên năm lần/ Nhà nghèo ở núi Bạch Vân/ Dẹp văn theo võ, tách thân làm tiều/ Ngày ngày đốn củi rừng Nghiêu/ Hái rau non Thuấn, phận nhiều lao đao/ Đông Xuyên lại có người hào/ Tên rằng Tử Phược họ Bào, làm ngư/ Trong mình ba chục tuổi dư/ Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo/ Ngược xuôi trên nước một chèo/ Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài/ Họ Bào họ Mộng hòa hai/ Trước theo nghề học đều tài bậc trung/ Chẳng may gặp buổi đạo cùng/ Treo kinh dẹp sử, lánh vòng loạn ly/ Người Nam kẻ Bắc phân đi/ Non sông rẽ bạn cố tri bấy chầy/ Cách nhau mười mấy năm nay/ Tình cờ lại đặng một ngày gặp đây/ Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy/ Ngâm thi, uống rượu, đều bày chí xưa”(16).

Và: “Tiều rằng: sinh chẳng gặp thời/ Thân đà đến ấy, nghĩ thôi thêm phiền/ Lênh chênh chữ phận, chữ duyên/ Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền nho phong (…)/ Tiều rằng: Hỏi việc bất bình/ Xưa nay nhiều kẻ làm lành làm duyên/ Những người cùng Phật, cùng Tiên/ Cất chùa, cất miễu, bạc tiền đua nhau/ Những người đắp sửa đường cầu/ Làm chay hát bội, của giàu thí ra/ Ta nghe làm phúc nhiều nhà/ Cớ sao mắc họa lại ra bần xừ?/ Môn rằng: Đời lắm danh hư/ So câu ‘tích thiện hữu dư’ sao nhằm?/ Cho hay Tiên, Phật rằng tu/ Cũng trong bảo dưỡng đương đầu trổ ra (…)/ Ngư rằng: Thời vậy nài sao/ Dù Tiên, dù Phật, bề nào cũng xong/ Nay ta còn chỗ nghi lòng/ Nghề y, nghề bốc, khác dòng nhau xa/ Cờ sao ba tượng trong tòa/ Tiên thiên đồ ấy treo ra làm gì?”(17).

Trong tác phẩm, tác giả còn lên án các lang băm bốc thuốc hại người, các đạo sĩ và tu sĩ làm phép thuật, bùa chú để lừa dối người, do vậy, theo luật nhân quả báo ứng, những người này đã bị trừng trị thích đáng.

5. Lý giải sự chuyển hướng về quan điểm của cụ Đồ đối với Phật giáo

Qua nội dung ba tác phẩm, có thể thấy rõ ràng là quan điểm của cụ Đồ về Phật giáo có sự chuyển hướng. Ban đầu, nếu ở truyện thơ Lục Vân Tiên, tác giả nhìn Phật giáo theo quan điểm của dân gian, của quảng đại quần chúng nhân dân. Cái nhìn về Phật giáo ở đây rất gần gũi, có nét tương đồng của nhân dân được thể hiện trong văn hóa dân gian với quan niệm “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”, “hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”, mà quan niệm này lại gặp gỡ tư tưởng “nghiệp báo”, “nhân quả” của nhà Phật. Cho nên những người lương thiện, chính trực, chung thủy, hiếu thảo như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử trực, Tiểu đồng… cũng đều thoát được bao nhiêu tai nạn; còn những người bất lương, tâm địa hiểm ác, tráo trở như gia đình Võ Thể Loan, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm… cuối cùng phải nhận lấy quả báo bởi những nghiệp ác mà họ đã tạo ra. 

Sang tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu, tác giả đã đứng trên lập trường dân tộc của một nhà Nho để bài xích, công kích đạo Gia-tô, nhân tiện bài xích Phật giáo, bởi cho rằng cả hai đạo này là dị đoan, ngoại nhập, nhưng xét đến cùng, tác giả không bài xích giáo lý tư tưởng Phật giáo, mà chỉ phê phán sư sãi không gìn giữ giới luật nhà Phật, làm những điều xằng bậy trong chốn thiền môn. Điều này người đọc cũng đã thấy trong các văn bản của phong trào bài Phật trong văn học đời Trần, lúc Phật giáo còn thịnh đạt. Và chắc chắn rằng những cảnh báo của cụ Đồ đã được các bậc chân tu chấp nhận, góp phần làm thức tỉnh Tăng đoàn, và góp phần giúp cho Giáo hội Phật giáo chấn chỉnh kỹ cương, đây cũng là cơ sở tạo nên phong trào chấn hưng Phật giáo hồi đầu thế kỷ XX mà Nam Kỳ là nơi xuất phát đầu tiên.

Cũng cần lưu ý rằng, từ lúc Pháp xâm lược Sài Gòn, cụ đưa gia đình về lánh nạn ở Cần Giuộc là quê vợ, buổi đầu gia đình cụ tá túc tại chùa Tôn Thạnh, mà sư cụ trụ trì chùa là chỗ thân tình quen biết với cụ thân sinh Nguyễn Đình Huy. Tại đây, cụ Đồ đã dạy học, bốc thuốc cứu người, và viết bài Văn tế nghĩa sĩ dân Cần Giuộc nổi tiếng. Và có thể những năm tháng tá túc tại chùa, cụ đã nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về giáo lý Phật-đà về cuộc đời. Cho nên nói cụ Đồ chống đối, bài xích, phê phán Phật giáo là nói oan cho cụ, dù trong thơ, cụ đã có lời phê phán những tệ nạn của một số người khoác áo nhà sư nhưng không nghiêm cẩn giữ giới, làm ảnh hưởng chốn thiền môn và Giáo hội.

Đến tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp (Ngư tiều vấn đáp nho y diễn ca) là tác phẩm viết sau cùng, quan điểm về Phật giáo của tác giả có phần rộng mở hơn, đó là quan điểm dung hợp, dung hòa với quan niệm Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo nhất gia, Tam giáo nhất thể. Đây cũng là quan niệm chung của các danh sĩ trí thức Việt Nam từ thời Lý - Trần trở về sau.

Tóm lại, trong thế kỷ XIX, Phật giáo và Nho giáo cùng tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt. Trên tinh thần dân tộc, Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp thu và phát triển các giá trị đạo đức trong Nho giáo, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với Phật giáo trong các tác phẩm của mình. Ở đây, cụ Đồ không hề bài xích hay phê phán giáo lý tư tưởng Phật giáo như trước đây có vài nhà nghiên cứu đã nói, mà trái lại, cụ đã có thái độ tôn kính và xem Phật giáo là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm Lục Vân TiênNgư Tiều y thuật vấn đáp của cụ ca ngợi những giá trị đạo đức tốt đẹp, đồng thời chứa đựng những yếu tố Nho và Phật - Đạo, cho thấy sự giao thoa và dung hòa giữa ba hệ tư tưởng này trong tác phẩm. Cụ Đồ đã dung hòa các giá trị của Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo để tạo nên một nền văn học dân tộc, phản ánh tinh thần yêu nước và lòng nhân ái của nhân dân. Cụ đã hướng đến việc phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội và trong lòng con người, thể hiện tinh thần yêu nước và trí thức yêu nước của mình qua các tác phẩm văn chương.

Xét đến cùng cụ Đồ Chiểu trước sau vẫn là một nhà Nho chân chính, mang cốt cách Việt Nho, thấm đẫm tinh thần dân tộc.

----------------------------

(1)Xin xem:

- Nguyễn Văn Nghệ. Nhắc lại chuyện cụ Nguyễn Đình Chiểu bài xích Phật giáo. Nghiên cứu lịch sử. https://nghiencuulichsu.com 2-12-2019.

- Phạm Huy Thông. Quan niệm về các tôn giáo của nhà Nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Ubdkcgvn.org.vn. Cập nhật lúc 11:48 1-7-2022.

- Tiếng dân News 30-11-2019.

- V.v.

(2)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.153 (câu 1517-1520).

(3)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.153 (câu 1523-1528).

(4)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.158 (câu 1641-1644).

(5)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.159 (câu 1649-1670).

(6)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.165-168 (câu 1807-870).

(7)Theo nhà giáo Nguyễn Văn Nghĩa, Báo Việt Nam Sài Gòn ngày 14-11-1936.

(8)Có bản chép tác phẩm dài 3.460.

(9)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. Tr.358 (câu 2231-2240).

(10)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980.

(11)Câu thơ: “Ta nghe Phật ở Tây phương/ Vốn người mọi rợ luân thường chẳng ưa” có vài dị bản: “Ta nghe Phật ở Tây phương/ Vốn người kẻ chợ, luân thường chẳng ưa”, hoặc“Vả xưa Phật ở Tây phương/ Sống không biết lẽ cang thường là chi”.

(12)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980. 

(13)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980.

(14)Xem thêm: Nguyễn Công Lý. Văn học Việt Nam thời Lý - Trần. Mục: Văn phê bình, Phong trào bài Phật. NXB.ĐHQG TP.HCM. 2018, tr.293-206.

(15)Có bản chép dài 3.644 câu.

(16)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980.

(17)Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980.

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 1. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980.

Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Tập 2. Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải. NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội. 1980.

Nhiều tác giả. Nguyễn Đình Chiểu tấm gương lao động và sáng tạo nghệ thuật. NXB.KHXH. Hà Nội. 1980.

PGS.TS. Nguyễn Công Lý

Nguyệt san Giác Ngộ - 356

BaudelaireTrong giao lưu với văn học nước ngoài, Thơ Mới Việt Nam chịu ảnh hưởng của thơ ca phương Tây, trong đó có thơ tượng trưng là một thực tế không phủ nhận. Các tác giả thơ tượng trưng như Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine…, thậm chí cả nhà thơ lãng mạn và tượng trưng Mỹ Edgar Allan Poe đã để lại dấu ấn âm nhạc khác nhau trong sáng tác của một bộ phận của các nhà thơ mới. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh, Hoài Chân đã khẳng định: “Các nhà thơ mới không nhiều thì ít, ở mức độ đậm nhạt khác nhau, đều bị ám ảnh bởi Baudelaire, người đã khơi nguồn thơ ấy”. Ở chuyên luận “Thơ Mới”, Giáo sư Phan Cự Đệ viết: “Từ năm 1936 trở về sau, trường phái thơ tượng trưng được người ta chú ý hơn cả”. Trong lời tựa tập thơ “Những bông hoa Ác”, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã phân biệt hai “làn sóng” thơ, trong đó làn sóng thứ nhất chịu ảnh hưởng nhiều ở thơ lãng mạn, còn làn sóng thứ hai với các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng. Bản thân Xuân Diệu, một trong những trụ cột của thi đàn Việt Nam cũng đã thừa nhận một cách không dấu giếm: “Với Baudelaire, tôi đi toàn vẹn vào tính chất hiện đại của thơ”.1

Nghiên cứu tổng thể văn hoá Việt Nam mà không làm rõ nội dung và vị trí của văn hoá Phật giáo Việt Nam trong văn hoá Việt Nam là một điều cần bổ cứu mà tôi đã nêu lên trong một bài viết cách đây vài chục năm. Nghiên cứu tổng thể lịch sử văn hoá Phật giáo Việt Nam mà chưa nghiên cứu lịch sử văn học Phật giáo trong lịch sử văn hoá Phật giáo Việt Nam cũng là một thiếu sót cần khắc phục. Nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam mà chưa nghiên cứu lịch sử văn học tôn giáo Việt Nam trong đó có lịch sử văn học Phật giáo, kể cả lịch sử văn học Thiên chúa giáo dù chưa nhiều cũng là khiếm khuyết cần khắc phục.

Về văn học Phật giáo thì thực tế cũng đã có mặt khá phong phú với những trạng thấi như sau: Được chọn in lại trong nhiều bộ Hợp tuyển Văn học Việt Nam, chỉ nói riêng ở thời hiện đại thì như bộ Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam 4 tập của Nxb Văn học (1961-1964), bộ Tổng tập Văn học Việt Nam 42 tập Nxb Khoa học Xã hội (1995-1997, tái bản 2000), bộ Thơ văn  Lý – Trần của Viện Văn học 3 tập Nxb Khoa học Xã hội (1977, 1978, 1988), trong các sách Văn học sử Việt Nam và các giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt ở giai đoạn Văn học Lý – Trần thì hầu hết trong phần Khải luận chung đã ít nhiều có giới thiệu  văn học Phật giáo.

Bìa sách chuyên khảo “Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: Diện mạo và đặc điểm” của Nguyễn Công Lý

Rồi nữa, trong một số công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam, công phu như các công trình của thiền sư Thích Nhất Hạnh và của Lê Mạnh Thát đã có nói đến nhiều tác phẩm văn học Phật giáo thuộc thời đại Bắc thuộc và các thời đại sau. Còn trong việc nghiên cứu tác gia văn học như với Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Chu Mạnh Trinh… cũng đã có đề cập tới văn học Phật giáo trong các tác giả đó. Ví như với Truyện Kiều kiệt tác thiên tài, vấn đề hiện diện của Nho giáo và Phật giáo ở đây là thế nào cũng đã đặt ra nhiều lần và đã có các cách lý giải này nọ. Luận điểm của tôi là: Với Truyện Kiều, Nho giáo là hình hài, Phật giáo là hồn cốt.

Sự hiện diện của văn học Phật giáo dù đã phong phú như thế, nhưng vẫn có thể nói là chưa có công trình về lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam đúng theo yêu cầu của khoa Văn học sử. Cho đến năm 2002 sự xuất hiện chuyên khảo Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: Diện mạo và đặc điểm của Nguyễn Công Lý được Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cấp giấy phép in ấn và phát hành, rồi chỉ một năm sau đã tái bản và còn vài lần nữa nối bản mà tác giả không biết. Tiếp theo, năm 2022 thì có thêm chuyên khảo Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn cũng của Nguyễn Công Lý với phụ tá là Nguyễn Công Thanh Dung, thì mới có thể nói là bắt đầu có Lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam với hai công trình gồm 1056 trang đó.

***

Nguyễn Công Lý quê xã Ninh Quang, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà, xuất thân trong một gia đình nghèo nhưng hiếu học. Anh vốn bản chất thông minh, có trí nhớ rất tốt, có trình độ Hán Nôm, Anh văn, Pháp văn đủ để làm việc, lại còn ít nhiều có năng khiếu thơ ca. Như mọi người đã biết ở miền Nam trước năm 1975, Phật giáo vừa được bảo tồn vừa phát triển sâu rộng. Nguyễn Công Lý đã sinh ra và lớn lên trong không gian Phật giáo đó giữa thời buổi chiến tranh khói lửa nên từ nhỏ đã lui tới cửa Thiền, đã có 13 năm sống ở chùa để đi học, đã học xong chương trình Phật học cơ bản. Sau đó vào Sài Gòn học Đại học Sư phạm trước và sau 1975. Ra trường dạy ở Cao đẳng Sư phạm Buôn Mê Thuột gần 10 năm rồi về Cao đẳng Sư phạm Nha Trang quê nhà. Năm 1980 là học viên Sau đại học và tiếp theo năm 1994 là Nghiên cứu sinh tại khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội mà tôi là người hướng dẫn chính, PGS.TS. Nguyễn Đăng Na hướng dẫn phụ.

Bìa sách chuyên khảo “Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn” của Nguyễn Công Lý – Nguyễn Công Thanh Dung

Với Nguyễn Công Lý, qua hai đợt thỉnh giảng tại khoa Văn trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh sau năm 1975 lúc anh học năm thứ hai và năm thứ tư, tôi thấy đây là một sinh viên đã có tiềm lực tri thức vào loại hiếm, trong đó có tri thức về Phật học. Nên năm 1994 sau khi hai bên trao đổi, đề tài luận án đã được xác định là Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: diện mạo và đặc điểm. Có sự chọn đề tài này là vì trước đó nhiều năm, năm 1982, anh đã hoàn thành đề tài Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý – Trần, được Hội đồng đánh giá xếp loại xuất sắc, rồi năm 1997 Nxb Văn hóa Thông tin cho xuất bản.

Sau năm năm đánh vật với công trình theo chế độ không tập trung, năm 1998 và 1999, luận án đã được bảo vệ với kết quả xuất sắc 100% số phiếu, điểm trung bình 10,0. Tôi đã ứng khẩu bài tứ tuyệt với hai cặp đối nhau để tặng anh: “Nam Bắc nhất gia thành sư đệ / Phật văn nhị đạo hướng chân như/ Toàn tâm hiếu học quân bất tuyệt / Đồng nghiệp hân hoan ngã hữu dư”. 南北一家成師第,佛文二道向眞如.全心好學君不絕,同業欣歡我有餘.Trong đáp từ, anh đã xin phép ứng khẩu với lời dịch: “Nam Bắc một nhà thành sư đệ / Phật văn hai nẻo đến chân như / Dốc lòng ham học em không dứt/ Đồng nghiệp vui mừng, thầy có dư”.

Tôi đã khuyến khích anh tiếp tục nghiên cứu lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam vì đây còn là một khoảng đất trống. Mà để có được điều đó thì phải có một môi trường thuận lợi hơn. Nên sau đó, nhân dịp vào thỉnh giảng tại Khoa Ngữ văn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP Hồ Chí Minh, tôi đã xin cho anh về đây và được chấp nhận. Đúng đây là sinh địa, là đất hứa để TS. Nguyễn Công Lý mới có thể phát huy hết khả năng. Anh đã là một giảng viên giàu năng lực, được lãnh đạo khoa và trường yêu quý, giao thêm công việc phụ trách Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo. Anh còn là thành viên của Hội đồng Tư vấn về Tôn giáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài việc giảng dạy ở trường anh còn giảng dạy ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh và nhiều cơ sở Phật học khác ở miền Nam, đồng thời là thành viên của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Anh đã đào tạo được ba Tiến sĩ Văn học và gần 20 Thạc sĩ Văn học, Văn hóa học, Việt Nam học, Ngôn ngữ học, Phật học… vốn xuất thân là tăng ni.

20251110

PGS-TS Nguyễn Công Lý

Nội dung nghiên cứu của Nguyễn Công Lý khá phong phú thuộc phạm vi Phật học, văn học và văn hoá Việt Nam trung đại có cả Hán Nôm. Trước 1975, khi còn đang học anh đã say mê nghiên cứu và viết chuyên luận về nhà văn – triết gia Albert Camus mà mấy chục năm sau mới có điều kiện để xuất bản. Cho đến nay ở tuổi “cổ lai hy”, anh đã cho ra mắt một khối lượng công trình mà xem ra cả giới nghiên cứu văn học cùng trang lứa và đồng nghiệp khó có ai bằng.

Ngay về văn học Phật giáo thì ngoài hai công trình đã in, anh cũng đã có bản thảo về Văn học Phật giáo từ khởi thủy đến đầu thế kỷ thứ X (tức thời Bắc thuộc) hoàn thành từ năm 2007 với dung lượng 350 trang, đang chờ có cơ hội là cho xuất bản. Tôi còn được biết gần đây anh đã tuyển chọn 55 bài trong tổng số hơn 100 bài viết về Thiền Phật, về văn học Phật giáo Việt Nam đã được đăng trên các tạp chí từ 1982 đến nay, đặt tên là Thiền Phật và Văn chương với dung lượng gần 900 trang khổ 16×24, sắp được Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh in ấn phát hành. Sau đây là nội dung chính của hai công trình đã công bố của tác giả PGS-TS. Nguyễn Công Lý.

I. Văn học Phật giáo thời Lý Trần: Diện mạo và đặc điểm, Nxb ĐHQG TP.HCM, 2002, tb 2003, 2004, 2005, tái bản 2016 có bổ sung tư liệu thành tựu mới.

Như đã nói tiền thân của công trình này  là  luận án Tiến sĩ mà sau đó đã được tác giả tu chỉnh thêm thành mộtchuyên khảo dày 384 trang, đến năm 2016 tái bản lần thứ 5, bổ sung thêm tư liệu thành tựu mới với dung lượng 558 trang. Lúc sách mới ra mắt thì năm 2003 đã nhận được hai giải thưởng cao về Văn học Nghệ thuật của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà. Năm sau được tái bản, chưa kể có vài trường hợp in lại mà tác giả không biết ai in. Nội dung sách:

Trang trọng đôi lời của GS-NGND Nguyễn Đình Chú

Lời mở đầu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu văn học Phật giáo thời Lý – Trần

1.1. Tình hình sưu tầm dịch thuật văn bản văn học Phật giáo thời Lý – Trần

1.2. Tình hình nghiên cứu văn học Phật giáo thời Lý – Trần

Tiểu kết Chương I

Chương 2. Văn học Phật giáo Lý – Trần trong bối cảnh thời đại Lý – Trần, văn học Lý – Trần và Phật giáo Lý – Trần

2.1. Phật giáo và văn học Phật giáo trước thời đại Lý – Trần (từ khởi thuỷ đến đầu thế kỷ thứ X)

2.2. Đặc trưng thời đại Lý – Trần

2.3. Đặc điểm văn học Lý – Trần

2.4. Phật giáo thời Lý – Trần

Tiểu kết Chương 2

Chương 3: Diện mạo văn học Phật giáo Lý – Trần

Giới thuyết một số khái niệm

3.1. Về lực lượng sáng tác

3.2. Về hệ thống thể loại văn học

3.3. Về văn tự ngôn ngữ

3.4. Về đề tài phản ánh

Tiểu kết Chương 3

Chương 4: Đặc điểm văn học Phật giáo Lý – Trần

4.1. Văn học Phật giáo Lý – Trần với kiểu tư duy nghệ thuật trực cảm tâm linh

4.2. Văn học Phật giáo Lý – Trần với việc thể hiện tư tưởng giáo lý nhà Phật

4.3. Văn học Phật giáo Lý – Trần với tinh thần dung hợp các hệ tư tưởng

4.4. Văn học Phật giáo Lý – Trần với cảm hứng về đất nước và quan niệm về con người

4.5. Văn học Phật giáo Lý – Trần với cảm hứng về thiên nhiên

4.6. Văn học Phật giáo Lý – Trần với những thành tựu đặc sắc về nghệ thuật.

Tiểu kết Chương 4

Tổng kết

Tài liệu tham khảo

II. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn: Diện mạo – đặc điểm – thành tựu – tác giả tiêu biểu, Nxb KHXH, HN, 2022, 498 trang.

Lời cảm ơn của tác giả

Lời giới thiệu của GS.NGND Nguyễn Đình Chú

Mở đầu. Giới thuyết những vấn đề chung

Chương 1. Tổng quan về thời đại lịch sử và xã hội và văn học thời đại Lê – Nguyễn (thế ký XV đến thế kỷ XIX)

1.1. Khái niệm “thời Lê – Nguyễn”

1.2, Xã hội Đại Việt thời Lê – Nguyễn

1.3. Đặc trưng thời đại Lê – Nguyễn

1.4. Đặc điểm văn học thời Lê – Nguyễn

1.5. Vấn đề phân kỳ văn học thời Lê – Nguyễn

Chương 2. Diện mạo văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn

2.1. Lực lượng sáng tác

2.2. Hệ thống thể loại

2.3  Vấn đề ngôn ngữ

2.4. Đề tài phản ánh

Chương 3. Thành tựu văn học Phật giáo thời  Lê – Nguyễn

3.1. Giới thiệu chung

3.2. Trước tác của các thiền sư thời Lê – Nguyễn

3.3. Sáng tác của vua chúa, quý tộc, nho sĩ quan lại thời Lê – Nguyễn về Thiền Phật

3.4. Cảm quan Thiền Phật trong thơ văn các nhà Nho thời Lê – Nguyễn

Chương 4. Đặc điểm văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn

4.1. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn với kiểu tư duy nghệ thuật trực cảm tâm linh

4.2. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn với sự thể hiện tư tưởngThiền Phật

4.3. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn với tinh thần dung hợp Phật Lão Nho và quan niệm Tam giáo đồng nguyên

4.4. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn với cảm hứng thiên nhiên

4.5. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn quan niệm về con người

4.6. Văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn với những đặc sắc về nghệ thuật

Chương 5. Những tác giả thiền sư tiêu biểu của văn học Phật giáo thời Lê – Nguyễn

5.1. Thiền sư Minh Châu Hương Hải

5.2. Thiền sư Tuệ Đăng Chân Nguyên

5.3. Thiền sư Siêu Bạch Nguyên Thiều

5.4. Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán

5.5. Thiền sư Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nguyêm

5.6. Thiền sư Vị Bảo Toàn Nhật Quang Đài

5.7. Thiền sư Hải Lượng Ngô Thì Nhậm

5.8 Thiền sư Thanh Đàm

5.9. Thiền sư An Thiền Phúc Điền

Kết luận

Tài liệu tham khảo

***

Bạn đọc quý mến!

Nội dung nghiên cứu lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam bước đầu đã có là thế. Rất mong được quý vị tìm đọc và cho thêm ý kiến. Các bạn đã từng chuyên tâm về Lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại thì hẳn sẽ thấy chính văn học Phật giáo đã mở đầu văn học viết, văn học bác học Việt Nam; thấy kiểu tư duy nghệ thuật trực cảm tâm linh của văn học Phật giáo là khác với kiểu tư duy lý tính của Nho giáo, nó gần với tư duy thơ ca hơn. Tư duy Nho giáo thì có lợi cho văn chương chính luận hơn. Cũng thấy văn học Phật giáo giàu chất triết lý hơn văn học Nho giáo. Nhưng về giá trị phản ánh cuộc sống thì văn học Nho giáo lại có thế mạnh hơn bởi Nho giáo có ưu thế về tính chất nhập thế, trong khi Phật giáo là nhập thế dưới hình thức xuất thế. Lại còn thấy tinh thần dung hợp Phật Lão Nho trên phương diên xây dựng triết lý nhân sinh cho đất nước. Rút cục lại, chúng ta càng thấy ở đất nước Việt Nam thời trung đại, văn học thật là phồn vinh và có độ kết tinh kỳ diệu siêu việt, mặc dù đời sống vật chất bấy giờ thì còn nghèo nàn lạc hậu. Trong khi thời nay thì giàu có gấp trăm lần so với quá khứ nhưng sao văn chương thì lại đang ở mức không như ngày xưa. Nói thế có đúng không, thưa Hội Nhà văn Việt Nam?

Cuối cùng tôi muốn nói đôi chút về cuộc gặp gỡ và càng ngày càng gắn bó giữa tôi kẻ Bắc với Nguyễn Công Lý người Nam mà trong cuộc bảo vệ Luận án Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Công Lý, tôi đã có mấy câu “Nam Bắc nhất gia thành sư đệ / Phật văn nhị đạo hướng Chân như…” mà Lý đã ứng dịch tại chỗ: “Nam Bắc một nhà thành sư đệ / Phật văn hai nẻo đến Chân như…” như đã nói ở trên. Nay với PGS-TS. Nguyễn Công Lý người mở đầu công cuộc nghiên cứu Lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam, tôi lại có hai câu này: “Tử vưu ư phụ gia hữu phúc / Đệ việt quá sư quốc hằng kỳ”. 子尤於父家有福,第越過師國恒期. (Con hơn cha là nhà có phúc/ Trò hơn thầy đất nước hằng mong).

Nhân dịp Đại Quốc khánh kỷ niệm 80 năm Cách mạng thành công (1945-2025)

Yên Hoà thư trai

GS-NGND Nguyễn Đình Chú

NGUYỄN ĐÌNH CHÚ

Cao Ba Quat

          Cao Bá Quát là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn chương Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX. Điều đáng lưu ý trong sự nghiệp thơ văn ông là ông có nhiều dịp phát biểu những quan niệm của mình về nghệ thuật, về thơ ca. Tìm hiểu những quan niệm nghệ thuật ấy là một trong những tiền đề lý luận cần thiết để từ đó tiến đến nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp thơ văn của ông.

MỞ ĐẦU

Ra đời ở Trung Quốc vào đời Đường, truyện truyền kỳ nhanh chóng truyền đi khắp các nước Đông Á: Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và trở thành một thể loại quan trọng trong văn học các nước khu vực này. Truyện truyền kỳ là một bằng chứng nổi bật, thể hiện sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ và sự gần gũi giữa các nền văn học trong khu vực. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thể loại này, trong đó có những công trình nghiên cứu so sánh thể loại này trong hai, ba nền văn học khác nhau. Tuy nhiên còn khá nhiều ngộ nhận, nhiều thắc mắc về vấn đề này, ngay cả những điều cơ bản nhất, như: Thế nào là truyện truyền kỳ? Cơ sở xã hội của truyện truyền kỳ là gì? Truyện truyền kỳ có phải là tất cả các loại truyện có yếu tố ma quái thời trung đại? Ma quái là tư duy của tác giả truyện truyền kỳ hay chỉ là thủ pháp? Sức hấp dẫn của truyện truyền kỳ là gì? Bài viết này đi vào khảo sát tư liệu tổng quát về truyện truyền kỳ Đông Á, trong đó trọng tâm là các tác phẩm: Đường Tống truyền kỳ 唐宋傳奇集 (Lỗ Tấn 鲁迅), Truyện truyền kỳ Trung Quốc 中國傳奇 (Lâm Ngữ Đường 林語堂), Tiễn đăng tân thoại 剪燈新話 của Cù Hựu 瞿佑, Kim Ngao tân thoại  金鰲新話 của Kim Thời Tập 金時習 (Hàn Quốc), Truyền kỳ mạn lục 傳奇漫錄 của Nguyễn Dữ 阮與 (Việt Nam) và Vũ nguyệt vật ngữ 雨月物語 của Ueda Akinari 上田秋成 (Nhật Bản)1 để bước đầu giải quyết các vấn đề ấy.   

20250726

1. VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN TRUYỀN KỲ

1.1. Đi tìm một định nghĩa

“Truyền kỳ” 傳奇 có nhiều nghĩa: đời Đường “Truyền kỳ” vốn là tên bộ sách của Bùi Hình 裴鉶 tập hợp các loại truyện ngắn có yếu tố thần quái, kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian, đến đời Tống thì “Truyền kỳ” là tên một loại cung điệu (nhạc khúc cổ), đời Nguyên thì “Truyền kỳ” để chỉ một loại tạp kịch, đời Minh “Truyền kỳ” chỉ loại hý khúc dài, để phân biệt với tạp kịch phương bắc. Vậy là “Truyền kỳ” chỉ 4 thể loại văn học khác nhau. Tuy nhiên dưới đây chúng tôi chỉ khảo sát “Truyền kỳ” với tư cách là thể loại đoản thiên tiểu thuyết có nguồn gốc từ đời Đường, sau đó phát triển qua các đời nhưng vẫn là đoản thiên tiểu thuyết.

Trung Quốc văn học đại từ điển 中國文學大辭典 cho biết về thể loại Truyền kỳ như sau:

“Một loại thể tài đoản thiên tiểu thuyết bằng văn ngôn thời cổ, xuất hiện vào đời Đường, nguồn gốc xa của nó từ tiểu thuyết chí quái thời Lục triều, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc loại văn học sử truyện. Lúc đầu nó vẫn chưa thoát khỏi phong cách ghi chép chuyện thần quái thời Lục triều (…) dấu tích quá độ còn rất rõ. Từ sau thời Đại Lịch (766-779, tức Trung Đường) truyện truyền kỳ phát triển đến đỉnh cao, đề tài chuyển từ thần tiên quái dị sang xã hội nhân sinh”  

([傳奇]古代文言短篇小說體裁之一。產生於唐代。唐傳奇直接淵源於六朝志怪小說,並受到史傳文學的深刻影響。開始仍未脫記述神怪的六朝餘風 (…), 過渡的痕迹比較明顯。大曆以後出現了傳奇創作的高潮, 題材上逐漸由神仙怪異轉向社會人生.)2  

Hồ Ứng Lân 胡應麟, học giả đời Minh, nhận định:  

Chuyện biến hóa linh dị, thịnh ở thời Lục triều, nhưng phần lớn là chép những điều lẫn lộn sai ngoa, chứ tất cả chưa hẳn đều là những lời tưởng tượng bày ra. Đến đời Đường người ta mới có ý tự mình viết ra những chuyện kỳ lạ, mượn tiếng tiểu thuyết để gửi tình ý vào ngòi bút.” (變異之談,盛於六朝,然多是傳錄舛訛,未必盡幻設語,至唐人乃作意好奇,假小說以寄筆端。/ Biến dị chi đàm, thịnh ư Lục triều, nhiên đa thị truyền lục suyễn ngoa, vị tất tận huyễn thiết ngữ. Chí Đường nhân nãi tác ý hiếu kỳ, giả tiểu thuyết dĩ ký bút đoan.)3

Trong Trung Quốc tiểu thuyết sử lược 中國小說史略, Lỗ Tấn viết:

“Tiểu thuyết cũng như thơ, đến đời Đường thì có một cuộc biến đổi, tuy còn chưa rời hẳn việc sưu tầm chuyện kỳ lạ, ghi chép việc bỏ rơi, song kể chuyện uyển chuyển, lời văn đẹp đẽ, so với thời Lục triều trình bày thô thiển đại khái, thì có tiến bộ rất rõ ràng, hơn cả là thời đó mới bắt đầu có ý thức làm tiểu thuyết. (…) Gọi là “Truyền kỳ” để phân biệt với văn chương thanh cao của nhóm Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên.”

(小說亦如詩, 至唐代而一變, 雖尙不離於搜奇記逸, 然叙述宛轉, 文辭華艷, 與六朝之粗陳梗概者較, 演進之迹甚明, 而尤顯者乃在是時則始有意為小說。。。貶之曰“傳奇”, 以別於韓柳輩之高文。)4

Qua các định nghĩa trên có thể thấy một số đặc tính của Truyện truyền kỳ như sau:

- Tự sự ngắn (đoản thiên tiểu thuyết), khoảng một hai nghìn đến năm bảy nghìn từ

- Hình thành từ đời Đường, có nguồn gốc từ loại truyện chí quái thời Lục triều

- Có tác tác giả

- Viết bằng văn ngôn (cổ văn)

- Câu chuyện hư cấu, sử dụng nhiều yếu tố kỳ lạ, kỳ ảo, ma quái, thần tiên, siêu tự nhiên để hấp dẫn người nghe người đọc và biểu đạt tình cảm và suy nghĩ của tác giả.

Như vậy, có thể định nghĩa đầy đủ về truyện truyền kỳ như sau:

Truyện truyền kỳ là một loại đoản thiên tiểu thuyết trung đại, do tác giả có tên sáng tác, viết bằng cổ văn tương đối giản dị, có chiều dài khoảng vài nghìn từ. Truyện truyền kỳ hình thành từ đời Đường, trên cơ sở phát triển của loại truyện chí quái thời Lục triều. Cách kể chuyện có tính chất hư cấu, sử dụng nhiều yếu tố kỳ lạ, kỳ ảo, ma quái, thần tiên, siêu tự nhiên để hấp dẫn người nghe người đọc và biểu đạt tình cảm và suy nghĩ của tác giả. Truyện truyền kỳ từ Trung Quốc, ảnh hưởng ra khu vực, tạo thành thể loại truyện truyền kỳ ở Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Tên gọi lịch sử: Trong các văn bản cổ, cả tập thì gọi là: truyền kỳ (Truyền kỳ 傳奇 của Bùi Hình 裴鉶), tiểu thuyết (Cổ kim tiểu thuyết 古今小說 của Phùng Mộng Long 馮夢龍), ngôn (Tam ngôn三言: Dụ thế minh ngôn 喻世明言, Cảnh thế thông ngôn 警世通言, Tỉnh thế hằng ngôn 醒世恒言 của Phùng Mộng Long), thoại (Tiễn đăng tân thoại 剪燈新話 của Cù Hựu 瞿佑, Kim Ngao tân thoại 金鰲新話 của Kim Thời Tập 金時習), lục (Truyền kỳ mạn lục), ký (Thái Bình quảng ký 太平廣記), thảo (Thánh Tông di thảo 聖宗遺草), thảo tử (Ngự già tỳ tử 御伽婢子 của Asai Ryo-I 浅井了意), vật ngữ (Vũ nguyệt vật ngữ 雨月物語 của Ueda Akinari 上田秋成)… Ở cấp độ các truyện cụ thể thì thường gọi bằng các hình thức ghi chép như: ký, lục, chí, hay thường dùng hơn đó là truyện. Ví dụ:

- Ký: Ly hồn ký 離魂記, Chẩm trung ký 枕中記, (Truyền kỳ Đường Tống), Mẫu đơn đăng ký 牡丹燈記, Vĩnh Châu dã miếu ký 永州野廟記 (Tiễn đăng tân thoại), Vạn Phúc tự hu bồ ký 萬福寺樗蒲記, Túy du Phù Bích đình ký ký 醉遊浮碧亭記 (Kim Ngao tân thoại), Hạng Vương từ ký 項王祠記, Tây viên kỳ ngộ ký 西垣奇遇記, Đào thị nghiệp oan ký 陶氏業冤記 (Truyền kỳ mạn lục)

- Lục: Thủy cung khánh hội lục 水宮慶會錄, Lệnh Hồ sinh minh mộng lục 令狐生冥夢錄, Thiên Thai phỏng ẩn lục 天台訪隱錄 (Tiễn đăng tân thoại), Long cung phó yến lục 龍宮赴宴錄 (Kim Ngao tân thoại), Trà đồng giáng đản lục 茶童降誕錄, Long đình đối tụng lục 龍庭對訟 (Truyền kỳ mạn lục)

- Chí: chữ Chí dùng khá ít, chỉ có vài trường trường hợp: hai trong “Tiễn đăng tân thoại” (Tam Sơn phúc địa chí 三山福地志, Phú quý phát tích ty chí 富貴發跡司志), một trong “Kim Ngao tân thoại” (Nam Viêm Phù châu chí 南炎浮洲志).

- Truyện: Nam Kha thái thú truyện 南柯太守傳, Lý Oa truyện 李娃傳, Oanh Oanh truyện 鶯鶯傳 (Truyền kỳ Đường Tống), Ái Khanh truyện 愛卿傳, Thúy Thúy truyện 翠翠傳 (Tiễn đăng tân thoại), Lý sinh khuy tường truyện 李生窺墻傳 (Kim Ngao tân thoại), Khoái Châu nghĩa phụ truyện 快州義婦傳, Nam Xương nữ tử truyện 南昌女子錄 (Truyền kỳ mạn lục).

Sự phân biệt chung nhất giữa Ký, Lục, Chí, Truyện trong thể loại truyện truyền kỳ là: : thường ghi lại một cuộc gặp gỡ, một chuyến đi thăm di tích, danh thắng; Lục: thường kể lại một câu chuyện cũ đã đọc, đã nghe; Chí: ghi lại chuyện ở một địa phương, một nơi nào đó; còn Truyện kể một câu chuyện đầu cuối về một con người.  

Truyện truyền kỳ Nhật Bản viết bằng tiếng Nhật nên nhan đề các truyện cụ thể không còn dùng các thể loại có nguồn gốc Trung Quốc nữa mà đặt tên theo nội dung của truyện. Ví dụ như trong tập Vũ nguyệt vật ngữ: Đỉnh Shiramine (白峰/ Shiramine), Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu (吉備津の釜/ Kibitsu no kama), Ngôi nhà trong đám cỏ tranh (浅茅 が 宿/ Asaji ga yado)…

1.2. Phân biệt truyện truyền kỳ với các loại văn xuôi nghệ thuật tương cận

Truyện truyền kỳ có khi bị nhiều người lầm lẫn với một số thể loại khác như truyện cổ tích thần kỳ, thần tích thần phả, chí quái. Vậy điểm khác biệt nổi bật của truyện truyền kỳ với các loại tương cận ấy là gì?

Truyện truyền kỳ khác với truyện cổ tích thần kỳ: Điều khác nhau nổi bật nhất là thời gian của truyện cổ tích thần kỳ được đẩy ra khá xa, như câu mở đầu truyện hay dùng: “Ngày xửa ngày xưa”. Trong khi đó thời gian trong truyện truyền kỳ xác định hơn và gần hơn. Ngay cả một truyện khi lưu truyền trong dân gian và khi kể lại thành truyện truyền kỳ cũng xác định thời gian khác nhau. Ví dụ: Từ Thức lấy vợ tiên (Từ Thức tiên hôn lục/ 徐式仙婚錄): “陳光泰中, 顺宗年號。化州人徐式, 以父蔭補仙遊縣宰。” 5 (Trong năm Quang Thái đời Trần niên hiệu Thuận Tông (1388 – 1398), có người ở Hóa Châu (tên cổ của Thanh Hóa – Đ.L.G) tên là Từ Thức, vì có phụ ấm nên được bổ làm Tri huyện Tiên Du.)

Truyện truyền kỳ khác với truyền thuyết (thần tích, thần phả): Điểm khác nổi bật nhất là: Thần tích, thần phả (kiểu như Việt điện u linh tập 越甸幽靈集, Bách thần lục 百神籙) cố nhiên là kể chuyện về thần, chủ yếu là các phúc thần, vốn là thần tự nhiên và thần có nguồn gốc con người (nhân thần), được sùng bái thành phúc thần, được triều đình phong thần, kể một cách ngắn gọn theo kiểu tiểu sử. Trong khi đó truyện truyền kỳ thường kể về ma quỷ, yêu quái, là những lực lượng siêu tự nhiên, có nguồn gốc thấp, không được cộng đồng thờ cúng, không được vua phong thần, văn kể theo kiểu hư cấu.

Truyện truyền kỳ khác với chí quái: Truyện chí quái (Sưu thần ký 搜神記 của Can Bảo 干寶, Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪 của Vũ Quỳnh 武瓊 - Kiều Phú 喬富) là sưu tầm văn học dân gian, nên dài ngắn khác nhau và không có tên người sáng tác mà chỉ có người sưu tầm. Trong khi đó truyện truyền kỳ là sáng tác văn học viết, có tên tác giả. Truyện chí quái có độ dài không giống nhau, có khi ngắn chỉ 4-5 dòng, có khi dài mấy trang giấy in, tùy vào ghi chép của người sưu tầm. Trong khi đó truyện truyền kỳ thường có độ dài tương đương nhau, khoảng 6-10 trang in. Có những tác phẩm được liệt vào truyện truyền kỳ nhưng thực chất nó là các ghi chép theo kiểu sưu tầm như chí quái, như: Lan Trì kiến văn lục 蘭池見聞錄 của Vũ Trinh 武楨, Tang thương ngẫu lục 桑滄偶錄 của Phạm Đình Hổ 范廷琥.

Truyện truyền kỳ khác với sử truyện:  Có nhiều truyện truyền kỳ lấy đề tài từ lịch sử, như Trường hận truyện 長恨傳 của Trần Hồng 陳鴻 lấy chuyện về Đường Minh Hoàng - Dương Quý Phi, Triệu Phi Yến biệt truyện 趙飛燕別傳 của Tần Thuần 秦醇 (đời Đường) lấy chuyện Triệu Phi Yến cung nữ đời Hán làm đề tài. Điểm khác nhau cơ bản là: sử truyện thì dùng tư duy lịch sử, cố gắng ghi lại một câu chuyện, một nhân vật lịch sử khách quan, còn truyện truyền kỳ là kể chuyện về đời tư, hư cấu và chấp nhận cả những chuyện đồn đại, những chi tiết ly kỳ (gọi là “ngoại truyện”, “biệt truyện”).

Truyện truyền kỳ khác với tiểu thuyết thần ma, truyện tài tử giai nhân có yếu tố linh dị: Tiểu thuyết thần ma như Tây du ký 西遊記 của Ngô Thừa Ân 吳承恩, truyện tài tử giai nhân như: Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai 忠孝節義二度梅 (khuyết danh),  Kim Vân Kiều truyện 金雲翹 của Thanh Tâm Tài Nhân 青心才人, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có nhiều yếu tố kỳ lạ, kỳ ảo, ma quái. Các bộ truyện ấy là tiểu thuyết chương hồi, rất dài chứ không phải đoản thiên tiểu thuyết như truyện truyền kỳ.    

Truyện truyền kỳ khác với truyện kinh dị phương Tây: Truyện kinh dị là kể chuyện sao cho người đọc có cảm giác kinh sợ – kinh sợ mà thích thú, tò mò – gọi là mỹ học của cái kinh dị. Truyện kinh dị có nguồn gốc phương Tây hiện đại, không phải là truyện kỳ lạ, kỳ ảo có nguồn gốc phương Đông như truyện truyền kỳ. Truyện truyền kỳ không nhằm kể cho người ta kinh sợ, thậm chí rất nhiều truyện chỉ là truyện tình, không có yếu tố ma quái như truyện kinh dị.  

1.3. Các thể tài truyện truyền kỳ

Truyện truyền kỳ được phân ra thành nhiều thể tài khác nhau, cách phân chia cũng khác nhau ít nhiều.

Dịch Quân Tả 易君左 trong Văn học sử Trung Quốc 中國文學史 chia tiểu thuyết truyền kỳ thành 3 loại:

- Nhiệm hiệp 任俠

- Diễm tình 艷 情

- Thần quái 神怪 (bao gồm cả mộng ảo 夢幻)6

Sách Lịch sử văn học Trung Quốc (Sở Nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) chia truyện truyền kỳ ra thành 4 thể tài:

- Truyện quái dị

- Truyện ái tình

- Truyện hiệp khách (hiệp nghĩa)

- Truyện lịch sử.7

Chương Bồi Hoàn (Hằng), Lạc Ngọc Minh 章培恒, 骆玉明 trong Văn học sử Trung Quốc 中国文学史 chia tiểu thuyết truyền kỳ ra thành 5 loại:

- Thần quái tiểu thuyết神怪小說

- Triết lý tiểu thuyết 哲理小說 (như Chẩm trung ký, Nam Kha thái thú truyện…)

- Ái tình tiểu thuyết愛情小說

- Du hiệp tiểu thuyết遊俠小說

- Nghị luận tiểu thuyết議論小說8.  

Dựa vào các cách chia này, căn cứ vào thi pháp, chúng tôi chia truyện truyền kỳ ra thành 5 thể tài:

Truyện thần quái: bao gồm truyện quái lạ như: Cổ kính ký 古鏡記 (Vương Độ 王度), Bổ Giang Tổng bạch viên truyện 補江總白猿傳 (Khuyết danh); truyện thần tiên, thủy phủ: Du tiên quật 遊仙窟 (Trương Trạc 張鷟), Thủy cung khánh hội lục 水宮慶會錄 (Cù Hựu); truyện huyền bí: Huyền quái lục 玄怪錄 (Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺), Truyền kỳ 傳奇 (Bùi Hình裴鉶); truyện mộng ảo, triết lý: Chẩm trung ký 枕中記 (Thẩm Ký Tế 沈既濟), Nam Kha thái thú truyện 南柯太守傳 (Lý Công Tá 李公佐)…

Truyện diễm tình: bao gồm cả những truyện đời thường như: Lý Oa truyện 李娃傳 (Bạch Hành Giản 白行簡), Oanh Oanh truyện (Nguyên Chẩn 元稹), Liễu thị truyện 柳氏傳 (Hứa Nghiêu Tá 許堯佐); và truyện có yếu tố ma quái như: Ly hồn ký 離魂記 (Trần Huyền Hựu 陳玄祐), Liễu Nghị truyện 柳毅傳 (Lý Triều Uy 李朝威),  Hoắc Tiểu Ngọc truyện 霍小玉傳 (Tưởng Phòng 蔣防), Lưu Vô Song truyện 無雙傳 (Tiết Điệu 薛調), …

Truyện lịch sử: Cao Lực Sĩ ngoại truyện 高力士外傳 (Quách Thực 郭湜), An Lộc Sơn sự tích 安祿山事跡 (Diêu Nhữ Năng 姚汝能), Lý Lâm Phủ ngoại truyện 李林甫外傳 (Khuyết danh), Triệu Phi Yến biệt truyện (Tần Thuần), Trường hận truyện 長恨傳 và Đông Thành lão phu truyện 東城老父傳 (Trần Hồng 陳鴻)

Truyện hiệp khách: Hồng Tuyến truyện 紅線傳 (Viên Giao 袁郊), Nhiếp Ẩn nương truyện 聶隱娘傳, Côn Lôn nô truyện 崑崙奴 (đều của Bùi Hình), Cầu nhiêm khách truyện 虯髯客傳 (Truyện người khách râu xoăn - Đỗ Quang Đình 杜光庭)… 

Truyện nghị luận: Biên thứ Trịnh Khâm Duyệt biện đại đồng cổ minh luận 編次鄭欽悅辨大同古銘論 (Chuyện Trịnh Khâm Duyệt luận về tấm bia cổ, Lý Cát Phủ 李吉甫, đời Đường, Trung Quốc), Thiên Thai phỏng ẩn lục 天台訪隱錄 (Cù Hựu, “Tiễn đăng tân thoại” - Trung Quốc), Hạng Vương từ ký 項王祠記, Kim Hoa thi thoại 金華詩話記, Đà Giang dạ ẩm ký 沱江夜飲記 (cả ba đều của Nguyễn Dữ 阮嶼 trong “Truyền kỳ mạn lục” – Việt Nam), Bần phúc luận  貧福論 (Ueda Akinari 上田秋成 trong “Vũ nguyệt vật ngữ” – Nhật Bản).  

Trong thực tế thì có những truyện mang cả hai, ba yếu tố một lúc, tùy vào đặc điểm nổi bật mà xếp loại, ví dụ: Diễm tình – Thần quái,  Lịch sử – Diễm tình – Thần quái …

2. NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA TRUYỆN TRUYỀN KỲ

2.1. Truyện truyền kỳ nảy sinh từ xã hội Hậu kỳ trung đại có tính chất thị dân

Đời Đường (thế kỷ VII – thế kỷ X) là triều đại hưng thịnh nhất trong lịch sử Trung Quốc, so với các khu vực văn minh đương thời thì đời Đường là nền văn minh cao nhất thế giới. Đời Đường có những phát kiến địa lý quan trọng thông qua “Con đường tơ lụa”: Trên bộ “Con đường tơ lụa” đi từ Trường An qua Tân Cương, đi đến Ba Tư, La Mã. Trên biển, “Con đường tơ lụa” đi qua Đông Nam Á, Ấn Độ đến tận Ai Cập, châu Phi. Thông qua Con đường tơ lụa này mà hàng hóa và văn minh Trung Quốc đến Trung Cận Đông, châu Âu hay Nam Á và ngược lại.

Vào đời Đường, thiên văn học, địa lý, y học, in ấn, kỹ thuật… đều có nhiều thành tựu. Đời Đường là thời kỳ khai phóng về văn hóa: Tam giáo: Nho, Phật, Đạo đều được coi trọng. Việc chọn nhân tài qua khoa cử bắt đầu trở nên quy củ từ đời Tùy, đến đời Đường thì phát triển mạnh, nhờ thế giáo dục phát triển sâu rộng. Đạo giáo rất được coi trọng. Phật giáo phát triển mạnh đã đưa văn hóa Ấn Độ thấm sâu vào Trung Hoa, tạo ra thời kỳ khai hoa của văn hóa quốc gia này. Đây thời kỳ phát triển rực rỡ nhất về thi ca, truyện truyền kỳ, sử truyện. Nhiều nhà văn hóa “khổng lồ” ra đời trong thời kỳ này: Đường Minh Hoàng, võ công văn trị, nghệ sĩ; Vương Duy, họa sĩ, thi sĩ; Hàn Dũ, văn gia, thi gia, triết gia; Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị… là những nhà thơ lớn nhất mọi thời đại trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Lãnh thổ Trung Quốc đời Đường rộng gấp rưỡi nhà Hán, dân số khoảng 80 triệu người.  Vào đời Đường xuất hiện nhiều đô thị phồn thịnh như: Trường An, Lạc Dương, Dương Châu, Thành Đô… Trong đó kinh đô Trường An là đô thị lớn nhất. Không chỉ so với Trung Quốc, mà so với thế giới, thì Trường An cũng là thành phố đông dân nhất thế giới bấy giờ, dân số ước tính khoảng 2 triệu người, bằng Luân Đôn của Anh thế kỷ XVII. Theo điều tra dân số vào năm 742 được ghi trong Tân Đường thư, Trường An và các đô thị phụ cận có 362.921 hộ dân với 1.960.188 người. Trung tâm Trường An ước tính hơn 1,5 triệu người.9

Có thể coi đời Đường là thời Phục hưng đầu tiên của nhân loại – như quan điểm của nhà Đông Phương học người Nga N.Konrat:

“Nếu ta gọi chúng một cách có điều kiện là “Phong trào Phục hưng” thì Phong trào Phục hưng đời Đường và Phong trào Phục hưng Trung Á có những đặc trưng riêng của mình rất khác nhau, và mỗi cái đó lại rất khác với Phong trào Phục hưng châu Âu. Nhưng lẽ nào lại đúng nếu chúng ta chỉ thấy những khác biệt mà không chú ý đến điểm tương đồng, hơn nữa những điểm tương đồng này lại thuộc về bản chất lịch sử của các hiện tượng đó.”10

Thời Phục hưng ở phương Tây cũng được một số sách lịch sử văn học xếp vào cuối thời trung đại (Hậu kỳ trung đại – như cách gọi của chúng tôi11, nên nếu thận trọng hơn, thì có thể gọi đời Đường là giai đoạn Hậu kỳ trung đại của Trung Quốc với tính chất tương tự với thời Phục hưng.  Với ý nghĩ ấy chúng ta cũng thấy ở các nước Đông Á khác cũng có một giai đoạn Hậu kỳ trung đại:  

- Nhật Bản: Hậu kỳ trung đại là thời Edo từ đầu thế kỷ XVII đến 1867

- Hàn Quốc và Việt Nam: Hậu kỳ trung đại từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX.

Chính từ đô thị phồn thịnh, đông dân của Trung Quốc mà nảy sinh ra nền văn hóa thị dân, trong đó có truyện truyền kỳ. Truyện truyền kỳ kể chuyện đời thường, chuyện của những con người bình thường với yêu đương, ghen tuông, quan hệ gia đình; cách kể chuyện hư cấu diễn tả như thật; bằng ngôn ngữ cổ văn gần bạch thoại, tương đối dễ hiểu, nên nó được coi là một loại tiểu thuyết - đoản thiên tiểu thuyết. Đoản thiên tiểu thuyết này viết cho độc giả bình thường, trong đó chủ yếu là thị dân đọc, có khi in để bán. Yếu tố thần quái có trong truyện chủ yếu để thu hút người đọc hơn là cách tư duy. Ở các nước Đông Á khác (Hàn Quốc, Việt Nam), do sự phát triển không đồng đều, truyện truyền kỳ không chỉ là sản phẩm nội sinh mà chủ yếu do ảnh hưởng của Trung Quốc, nên không đợi đến Hậu kỳ trung đại của nước họ, mà Trung kỳ trung đại đã xuất hiện.

Tác giả của truyện truyền kỳ đa số sinh sống ở thành thị, họ được biết đến là tác giả văn học, chứ không có một sự nghiệp chính trị hay văn chương nào khác. Thử điểm qua tác giả các đời:

Đời Đường Tống có các tác giả truyện truyền kỳ nổi bật sau đây (căn cứ vào tuyển tập Đường Tống truyền kỳ của Lỗ Tấn – xếp theo thứ tự abc): Bạch Hành Giản 白行簡, Đỗ Quang Đình 杜光庭, Hoàng Phủ Mai 皇甫枚, Hứa Nghiêu Tá 許堯佐, Liễu Sư Doãn 柳師尹, Liễu Trình 柳埕, Lý Cảnh Lượng 李景亮, Lý Cát Phủ 李吉甫, Lý Công Tá 李公佐, Lý Triều Uy 李朝威, Ngô Căng 吳兢, Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, Nguyên Chẩn 元稹, Nhạc Sử 樂史, Nhan Sư Cổ 顏師古, Phòng Thiên Lý 房千里, Tần Thuần 秦醇, Thẩm Á Chi 沈亞之, Thẩm Ký Tế 沈既濟, Tiết Điệu 薛調, Trần Huyền Hựu 陳玄祐, Trương Thực 張實, Trương Trạc 張鷟, Tưởng Phòng 蔣防, Vương Độ 王度. 12

Trong danh sách trên không có ai nổi tiếng ở những vực khác, kiểu như: Hàn Dũ (đời Đường), được biết đến cả ở thơ, cổ văn, triết học; Liễu Tông Nguyên (đời Đường), nhà văn, nhà tư tưởng; Tô Đông Pha (đời Tống), nhà thơ, nhà văn, Thiền gia, Đạo gia…Như vậy các nhà văn truyền kỳ, nói theo kiểu người xưa là viết văn chỉ để giải trí, mua vui cho người bình phàm, chứ không làm thứ văn chương cao quý, văn chương triết lý, đạo lý cao siêu như các nhà văn nhà thơ kiểu “quân tử”.

Các nhà văn truyền kỳ thời Minh, Thanh cũng vậy, như là: Cù Hựu (tác giả Tiễn đăng tân thoại), Phùng Mộng Long (tác giả Tam ngôn: Dụ thế minh ngônCảnh thế thông ngôn, Tỉnh thế hằng ngôn), Lăng Mông Sơ 凌濛初 (tác giả Nhị phách: Sơ khắc Phách án kinh kỳ 初刻拍案 驚奇/ Truyện vỗ bàn vì kinh dị kỳ lạ, Nhị khắc Phách án kinh kỳ 二刻拍案驚奇), Viên Mai 袁枚 (tác giả Tử bất ngữ 子不語/ Những điều thầy Khổng không nói), Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (tác giả Liêu Trai chí dị 聊齋誌異)…. Họ là nhà văn “chuyên nghiệp”, tức là chỉ nổi tiếng về viết văn, chứ không nổi tiếng ở các lĩnh vực khác (chính trị, quân sự) như kiểu nhà văn quân tử. Điều ấy cho thấy nhà văn truyền kỳ rất gần với kiểu trí thức đô thị, nhà văn tự do, nhà văn chuyên nghiệp thời cận đại.

2.2. Truyện truyền kỳ thuộc trào lưu Nhân văn chủ nghĩa

Như đã nói ở trên, đời Đường có thể coi như thời Phục hưng đầu tiên của nhân loại, truyện truyền kỳ có thể coi như loại tiểu thuyết của người thị dân, và như thế truyện truyền kỳ là thể loại văn học nằm trong trào lưu Nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng – Hậu kỳ trung đại ở Trung Quốc.

Truyện truyền kỳ vừa chịu ảnh hưởng Nho, Phật, Đạo lại vừa có khuynh hướng thế tục, phi tôn giáo: phi Nho, phi Phật, phi Đạo. Chịu ảnh hưởng Nho giáo, truyện truyền kỳ vẫn viết về các nhân vật chính của xã hội phong kiến phương Đông: nho sĩ, quan lại, hoàng đế, nhưng nho sinh, quan lại ở đây không phải là những trung thần, họ xuất hiện trong truyện không nhằm xiển dương cho những bài học đạo lý Nho gia, mà họ là những chàng trai si tình, như anh chàng nho sinh trong Lý Oa truyện của Bạch Hành Giản, ông quan đa tình Hàn Hoành trong Liễu thị truyện của Hứa Nghiêu Tá, anh nho sinh họ Liễu trong Liễu Nghị truyện của Lý Triều Uy; hay từ si tình thành bạc tình như Trương Quân Thụy trong Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, Lý Ích trong Hoắc Tiểu Ngọc truyện 霍小玉傳 của Tưởng Phòng 蔣防.  Ngay cả hoàng đế, thì hoàng đế cũng không xuất hiện như một minh quân, anh quân với võ công văn trị làm rạng rỡ cho triều đại, mà chỉ là một ông vua si tình, si tình như bất cứ người đàn ông phàm trần nào khác, như Hán Thành Đế trong Triệu Phi Yến biệt truyện (Tần Thuần), Đường Minh Hoàng trong Trường hận truyện (Trần Hồng), Tống Huy Tông trong Lý Sư Sư ngoại truyện 李師師外傳 (Khuyết danh).

Phật giáo, Đạo giáo trong truyện truyền kỳ ít màu sắc triết lý cao siêu mà là Phật giáo, Đạo giáo mang màu sắc dân gian. Có khi là những đạo sĩ thanh cao, thân ở ẩn nhưng tâm vẫn lo lắng việc đời như trong Thiên Thai phỏng ẩn lục 天台訪隱錄 (Cù Hựu), Na Sơn tiều đối lục 那山樵對錄 (Nguyễn Dữ - Việt Nam); có khi là những đạo sĩ giúp dân trừ ma yểm quỷ như trong Mẫu đơn đăng ký 牡丹燈記 (Cù Hựu), Mộc miên thụ truyện 木棉樹傳 (Nguyễn Dữ). Nhưng cũng có khi là những kẻ quấy nhiễu dân lành như trong Đông Triều phế tự lục 東潮廢寺傳 (Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều – Nguyễn Dữ); có khi thành quỷ như trong Chiếc khăn trùm đầu màu xanh 青頭巾 (Ueda Akinari – Nhật Bản), nghĩa là rất đời thường, như Phật, Đạo trong đời sống hiện thực.

Tình yêu và niềm hạnh phúc trần thế là giọng lĩnh xướng trong giàn đồng ca truyện truyền kỳ Đông Á. Truyện diễm tình là thể tài đặc sắc nhất trong truyện truyền kỳ, đồng thời cũng mở ra cả dòng văn chương sắc tình trong văn học Đông Á. Những câu chuyện gây ấn tượng mạnh nhất là những câu chuyện về tình yêu, tính dục, tình yêu tan vỡ, phụ tình, lòng ghen tuông, hồn ma ân ái, hồn ma báo oán, tiêu biểu như: Du tiên quật (Trương Trạc), Oanh Oanh truyện (Nguyên Chẩn), Lưu hồng ký 流紅記 (Trương Thực), Thôi Hộ 崔護 (Mạnh Khải ), Kim phượng thoa ký 金鳳釵記, Mẫu đơn đăng ký, Ái Khanh truyện (cùng của Cù Hựu), Vạn Phúc tự hu bồ ký, Lý sinh khuy tường truyện (cùng của Kim Thời Tập), Tây viên kỳ ngộ ký, Đào thị nghiệp oan ký, Nam Xương nữ tử truyện (cùng của Nguyễn Dữ), Ngôi nhà trong đám cỏ tranh, Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu (cùng của Ueda Akinari)…    

3. NHỮNG VẤN ĐỀ THI PHÁP TRUYỆN TRUYỀN KỲ

Vấn đề thi pháp truyện truyền kỳ Đông Á là vấn đề có nội dung phong phú và khá phức tạp. Bài viết này chỉ nêu những vấn đề nổi bật về Không gian nghệ thuật, Thời gian nghệ thật, Quan niệm nghệ thuật về con người, còn một số phương diện về hình thức nghệ thuật xin lược qua. 

3.1. Không gian nghệ thuật trong truyện truyền kỳ

Không gian trong truyện truyền kỳ rất đa dạng: Có không gian đời thường, từ làng quê ra đến đô thị, triều đình, tùy vào mức độ đô thị hóa của các quốc gia và thời kỳ xuất hiện của truyện; có không gian thiêng như đình chùa đền miếu, hay không gian ma quái như mồ mả, nhà quàn, tang lễ; có không gian tôn giáo như cõi tiên, thiên đình, âm phủ, thủy phù. Không gian ấy mở rộng rất nhiều so với không gian trong sử truyện hay tiểu thuyết xã hội sau này. Ba loại không gian đặc biệt trong truyện truyền kỳ đó là:

3.1.1. Không gian đời thường: Truyện truyền kỳ có không gian cung đình như sách lịch sử. Tuy nhiên sử truyện hay thể hiện các các địa điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như cổng Ngọ môn, sân triều, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, hay nơi diễn ra thoán đoạt như Tử Cấm thành, Đông Cung, Vương phủ… thì trong truyện truyền kỳ lại chú trọng nơi ăn ngủ, vui chơi của phi tần, cung nữ như Hậu cung, nơi ngự tẩm, vườn ngự uyển, suối nước nóng, như trong Triệu Phi Yến biệt truyện, Trường hận truyện, Dương Thái Chân ngoại truyện, Lý Sư Sư ngoại truyện…

Truyện truyền kỳ cũng có không gian phủ đệ. Không gian phủ đệ thường là nơi diễn ra các mối tình của quý tộc công khanh, nhiều trong số đó có sự chênh lệch gia thế giữa hai bên nam nữ, như các truyện: Oanh Oanh truyện (Nguyên Chẩn), Thôi Hộ (Mạnh Khải), Phi Yên truyện (kể chuyện tình giữa Phi Yên, thiếp yêu của Thám quân Vũ Công Nghiệp với con trai nhà hàng xóm).   

Không gian đặc biệt nhất là thanh lâu kỹ viện. Điểm đặc biệt của không gian này ở chỗ nó là nơi diễn ra những cuộc tình rất đẹp của tài tử - giai nhân. Giai nhân quyền quý thì ở phủ đệ, nhưng giai nhân đô thị thì ở thanh lâu. Thanh lâu có nhiều loại, từ loại rất cao, ca kỹ giàu có rất nhiều vàng ngọc châu báu như: Đỗ Thập Nương giận dìm hòm bách bảo 杜十娘怒沉百寶箱 (Phùng Mộng Long), đến các cô ca kỹ bình thường hơn như trong các truyện Hoắc Tiểu Ngọc truyện (Tưởng Phòng), Lý Oa truyện (Bạch Hành Giản).  

Truyện truyền kỳ cũng có không gian làng quê, nhưng chủ yếu trong truyện Việt Nam (Nam Xương nữ tử truyện, Mộc miên thụ truyện của Nguyễn Dữ). Điều ấy cho thấy tình trạng đô thị hóa còn khá thấp của Việt Nam vào thế kỷ XV-XVI.   

3.1.2.  Không gian tôn giáo: Truyện truyền kỳ chịu ảnh hưởng ba loại tôn giáo - tín ngưỡng: Đạo giáo, Phật giáo, tín ngưỡng dân gian (Nho giáo là tư tưởng đạo đức, chính trị, xã hội, không phải tôn giáo), từ đó hình thành 2 loại không gian tôn giáo riêng:

Thứ nhất là thế giới thần tiên như: Thiên đình, Bồng Lai tiên cảnh, Thủy phủ. Đó là những hình ảnh của Đạo giáo pha trộn với tín ngưỡng dân gian. Thiên đình là quan niệm Đạo giáo, gần nhưng không đồng nhất với cõi trời trong quan niệm Phật giáo dân gian hay tín ngưỡng thờ thần.

Trong truyện truyền kỳ đời Đường có truyện ra đời rất sớm miêu tả cảnh tiên, đó là Du tiên quật (Chơi động tiên) của Trương Trạc (Trương Văn Thành). Truyện kể về nhân vật xưng tôi là Trương lang, tình cờ lạc vào động tiên, được hai cô tiên Thập nương, Ngũ tẩu tiếp đãi, xướng họa thơ ca, cùng các thị tì xinh đẹp là Quế Tâm, Tô Hợp, Lục Trúc, Tiên Nhân hầu rượu, vui chơi đàn sáo. Tiệc rượu tàn Thập nương và Trương lang động phòng hoa chúc. Sau một đêm mặn nồng sáng hôm sau khách lên đường, trong sự tiễn biệt quyến luyến chủ khách. Trương lang ngoái nhìn lại nhìn lại động tiên như một giấc mơ xa. Ở Việt Nam có chuyện Từ Thức gặp tiên. Từ Thức có công cứu giúp cô gái vô tình làm gãy cành hoa quý trong một ngôi chùa ở Tiên Du, không ngờ đó là tiên nữ Giáng Hương. Nhờ thế mà được mời lên núi Phù Lai, một trong ba mươi sáu cảnh tiên. Sau chàng nhớ quê xin về rồi không quay lại được nữa (Từ Thức tiên hôn lục – Nguyễn Dữ). Ở Hàn Quốc, chuyện về đình Phù Bích cũng tương tự. Chàng thư sinh họ Hồng say rượu mà bơi thuyền đến đình Phù Bích thì gặp tiên nữ từ thượng giới bay xuống. Hai bên làm thơ phú xướng họa suốt đêm. Sau mới biết có lẽ là giấc mơ (Túy du Phù Bích đình ký 醉遊浮碧亭記 của Kim Thời Tập).

Thủy phủ là hình ảnh thế giới dưới đáy nước có nguồn gốc dân gian Đông Nam Á, dù không phải là cảnh tiên nhưng rất gần với cõi tiên vì cảnh vật đẹp đẽ, kỳ lạ và cuộc sống hạnh phúc ở đấy.  Có thể thấy thủy trong các truyện của Trung Quốc: Thủy cung khánh hội lục (Cù Hựu), kể về chàng Dư Thiện Văn thì được Quảng Lợi Vương mời xuống thủy phủ; truyện của Hàn Quốc: Long cung phó yến lục (Kim Thời Tập) kể về Hàn sinh được Long vương mời xuống Long cung để làm một bài văn trong lễ cất nóc nhà. Hàn sinh được ngắm cảnh thần tiên ở Long cung, sau được đưa trả về nhà.

Có loại cảnh không phải cõi tiên, mà chỉ là lâu đài phủ đệ cũ hiện lên trong cõi khác, tuy nhiên cảnh đẹp, người đẹp, hạnh phúc trong yêu đương, ân ái thì không khác gì cõi tiên trong các truyện truyền kỳ về thể tài này. Đó là chuyện anh chàng Đằng Mục vui chơi, ân ái với cung nhân cũ của triều Tống ở kinh đô Lâm An (Đằng Mục Công say vườn tụ cảnh 滕穆醉游聚景園記 - Cù Hựu), hay anh chàng nho sinh gặp hồn hoa là mỹ nữ trong dinh thự cũ của quan Thái sư triều Trần, hai bên yêu đương ân ái thắm thiết (Tây viên kỳ ngộ ký - Nguyễn Dữ).

Có thể nói trong các truyện truyền kỳ thì loại truyện thần tiên với cõi tiên, Thiên đình, Long cung cho thấy dấu vết của truyện cổ tích, truyền thuyết dân gian còn khá rõ. Những truyện về lâu đài phủ đệ cũ hiện lên trong cõi khác thể hiện khát khao tình ái, sắc dục có tính nhân văn chủ nghĩa sâu sắc.

Thứ hai là Âm phủ: là thế giới theo quan niệm Phật giáo dân gian. Ở đấy không phải Niết bàn tại tâm, cũng không phải thế giới Tịnh thổ giải oan, mà là âm phủ, nơi Diêm vương xử kiện, nơi quỷ sứ hành hình tội nhân, nơi có ngục Cửu u đày đọa những linh hồn mắc tội nặng nhất trên dương gian. Trong truyện truyền kỳ, không gian hạnh phúc với cảnh thần tiên được hình dung theo kiểu Đạo giáo, nhưng không gian đày đọa thì lại tưởng tượng theo kiểu Phật giáo. Có khá nhiều truyện truyền kỳ đề cập đến không gian này. Đó là chuyện Lệnh Hồ sinh xuống âm phủ mà biết được địa ngục với những hình phạt thảm khốc cho những người có tội (Lệnh Hồ sinh minh mộng lục – Cù Hựu). Đó là chuyện Nguyên Tự Thực nhảy xuống giếng tự tử mà nước rẽ dẫn anh ta đến miền phúc địa núi Tam Sơn, nhờ đó biết số phận sau khi chết các quan tham (Tam Sơn phúc địa chí – Cù Hựu). Đó cũng là chuyện hàn sĩ Hữu Nhân, xin thành hoàng giúp đỡ, đêm đến các vị thần ở Ty Cai quản việc phát giàu sang, họp nhau báo cáo và cho biết tương lai giàu có hạnh phúc của Hữu Nhân. Tuy không phải âm phủ, nhưng không gian rất giống cảnh Diêm vương phán xét số phận của người dương gian (Phú quý phát tích ty chí – Cù Hựu). Đó cũng là chuyện về Ngô Tử Văn đốt đền thờ mà hồn bộ tướng của Mộc Thạnh (quân Minh) đã chiếm của Thổ thần. Cả ba đưa nhau xuống Diêm vương xử kiện, Ngô Tử Văn thắng kiện (Tản Viên từ Phán sự lục 傘圓祠判事錄 – Nguyễn Dữ). Thế giới cõi âm vừa phản ánh sự kết hợp giữa Phật giáo, Đạo giáo với tín ngưỡng bản địa, lại vừa phản ánh thế giới dương gian của từng quốc gia trong khu vực Đông Á.  

3.1.3.  Không gian linh thiêng, ma quái: Không gian linh thiêng là nơi thờ tự như đình chùa, đền miếu; không gian ma quái là không gian gắn với hồn ma, quỷ quái, như nghĩa địa, mồ mả. Đó cũng là các vật thiêng như cái gương cổ (Cổ kính ký), cái gối mộng (Chẩm trung ký), chiếc thoa vàng hình chim phượng của người đã chết (Kim phượng thoa ký), chiếc đèn lồng mẫu đơn, người hàng mã (Mẫu đơn đăng ký), cái bát bạc (Vạn Phúc tự hu bồ ký), cây gạo, tượng thờ bằng đất, quan tài (Mộc miên thụ truyện), cái nồi hấp thiêng, nhà quàn (Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu)…

Nói chung không gian thiêng và ma quái theo kiểu chuyện ma là điểm đặc biệt của truyện truyền kỳ, nó tạo nên cảm giác rờn rợn mà hấp dẫn của truyện, đồng thời cũng là khung cảnh, chi tiết nghệ thuật thể hiện tư tưởng của tác giả.  

3.2. Thời gian nghệ thuật trong truyện truyền kỳ

Thời gian nghệ thuật trong truyện truyền kỳ được thể hiện khá phong phú. Có thể thấy 5 loại thời gian nghệ thuật như dưới đây:

3.2.1. Thời gian đời thường: các truyện truyền kỳ thường kể những câu chuyện hiện tại hay quá khứ gần. Thời gian của truyện thường được xác định rõ. Ví dụ:

- “天授三年,清河张镒,因官家于衡州。” ( 离魂记/ Ly hồn ký) 13 (Năm Thiên Thụ thứ ba (692 đời Đường), có Trương Dật người Thanh Hà, nhân đi làm quan nên chuyển nhà tới Hành Châu.”

- “天宝中,昌黎韩翊有诗名,性颇落托,羁滞贫甚。” (柳氏传 / Liễu thị truyện) 14 (Đời Thiên Bảo (giữa thế kỷ VIII, đời Đường), Hàn Dực ở Xương Lê nổi tiếng tài thơ, tính tình phóng túng, nhưng lận đận nghèo khó lắm.)

- “承旨胡宗鷟工於詩,尤長規諷嘲謔。陳末奉命北使, 經項王祠下” (項王祠記/ Hạng Vương từ ký) 15 (Quan Thừa chỉ Hồ Tông Thốc là người hay thơ, lại giỏi lối châm biếm, giễu cợt. Cuối đời Trần phụng mệnh đi sứ Trung Quốc).  

Nằm trong loại thời gian đời thường có cả thời gian lịch sử. Thời gian lịch sử được miêu tả trong các truyện truyền kỳ lịch sử. Các truyện lịch sử có thể hơi xa một chút như truyện đời Hán (Triệu Phi Yến biệt truyện), đời Lương (Bổ Giang Tổng bạch viên truyện), nhưng thời gian được miêu tả trong ấy cũng là thời gian đời thường, không khác gì thời gian trong các truyện lịch sử gần hơn (như đời Đường – Trung Quốc, đời Lê – Việt Nam, thời Edo - Nhật Bản) và cũng không khác thời gian đời thường trong các truyện diễm tình, nghĩa là thời gian thực, thời gian của đời sống bình thường.

3.2.2. Thời gian cõi tiên: Thời gian cõi tiên là thời gian nghệ thuật được thể hiện trong các truyện truyền kỳ thần tiên, bao gồm thời gian trên Thiên đình, ở cõi tiên (núi, hang động tiên) và cả thủy phủ. Thời gian cõi tiên là thời gian hạnh phúc, vì vậy thường được thể hiện trôi đi rất nhanh, thoáng chốc: có khi là một đêm, có khi một vài ngày. Thủy cung khánh hội lục (Cù Hựu), Long cung phó yến lục (Kim Thời Tập) kể chuyện một đêm xuống thủy phủ; Tây du Phù Bích đình ký (Kim Thời Tập) kể chuyện một buổi tối. Trong một số truyện, thời gian cõi tiên được thể hiện ngắn ngủi nhưng so với thời gian trần gian rất dài, như trong truyện Từ Thức tiên hôn lục 徐式仙婚錄một năm ở cõi tiên bằng cả trăm năm ở trần gian.

3.2.3. Thời gian mộng ảo: Thời gian mộng ảo, như tên gọi của nó có thể là mộng, có thể là ảo. Loại thời gian này có thể thấy trong các truyện mộng ảo – triết lý như trong Chẩm trung ký (Thẩm Ký Tế), Nam Kha thái thú truyện (Lý Công Tá). Truyện của Thẩm Ký Tế kể về Lư Sinh mộng danh vọng, phú quý: đậu tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư, Tiết độ sứ, lập nhiều công trạng, nhưng đến khi tỉnh giấc, “nồi kê chưa chín”, đó chỉ là giấc mộng. Truyện của Lý Công Tá kể về Thuần Vu Phần thấy mình làm phò mã, làm Thái thú quận Nam Kha, có nhiều công trạng, con cái đủ cả trai gái đề huề, nhưng thực ra đó chỉ là giấc mộng tổ kiến ở gốc cây hòe phía nam sân nhà. Các câu chuyện ấy chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Lão Trang, coi đời là giấc mộng, công danh phú quý là ảo như Trang Chu hóa bướm, chỉ có điều nó được thể hiện cụ thể hơn, đời hơn.

3.2.4. Thời gian kiếp nghiệp luân hồi: Thời gian chết tạm, kiếp nghiệp, luân hồi thường là thời gian sau khi đã chết: có khi là chết tạm, sau đó thì sống lại (Ly hồn ký - Trần Huyền Hựu); có khi chết rồi, nhưng tái sinh tạm để gặp người yêu, chồng con (Mẫu đơn đăng ký – Cù Hựu, Khoái Châu nghĩa phụ truyện – Nguyễn Dữ, Ngôi nhà trong đám cỏ tranh – Ueda Akinari). Có khi chết bị đày đọa ở hỏa ngục, hoặc sống kiếp khác (Dạ Xoa bộ soái lục 夜叉部帥錄 Nguyễn Dữ). Có thể thấy kiểu thời gian này chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Phật giáo, thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc.

3.3. Nhân vật kỳ:

Thế giới nhân vật trong truyện truyền kỳ rất phong phú, phức tạp.

Nếu phân theo thực và hư, thì có hai loại: Một là nhân vật là người trong thế giới thực. hai là nhân vật trong thế giới tâm linh như: thần tiên, bụt thánh, ma quỷ, yêu quái.  Tuy nhiên giữa hai thế giới này có chuyển qua chuyển lại nên việc phân chia như thế ít có ý nghĩa. Cách phân chia theo thi pháp thì dựa vào đẳng cấp xã hội và giới tính. Theo đó thì có:

3.3.1. Nhân vật đàn bà nhu thuận: Thường là những người vợ nhu mì, tùng thuận, đẹp người đẹp nết, có đủ các đức tính lý tưởng của người phụ nữ theo quan niệm “tam tòng tứ đức” Nho giáo. Thế nhưng cuộc đời của họ chịu nhiều đau khổ - đau khổ vì chiến tranh loạn lạc, vì chế độ nam quyền “nam tôn nữ ty”, vì bất bình đẳng, bất công trong xã hội. Trong truyện truyền kỳ Trung Quốc đó là: nàng Ái Khanh, nàng Thúy Thúy trong các truyện cùng tên của Cù Hựu. Trong truyện truyền kỳ Việt Nam là: nàng Nhị Khanh trong Khoái Châu nghĩa phụ truyện, nhất là Vũ Thị Thiết trong Nam Xương nữ tử truyện của Nguyễn Dữ. Ở Nhật Bản thì có: nàng Isora trong truyện Chiếc nồi thiêng ở đền Kibitsu, nàng Miyagi trong Ngôi nhà trong đám cỏ tranh của Ueda Akinari.

3.3.2. Nhân vật giai nhân: Họ thường là các cô gái đẹp, nhiều trong số họ là ca kỹ (thái phu, hiệu thư, trường tam…), họ được yêu mến, theo đuổi, nhưng số phận bất hạnh – bất hạnh vì sự phân biệt đẳng cấp, vì lòng ham muốn danh lợi, vì thế thái nhân tình đổi thay. Đó là: danh kỹ Hoắc Tiểu Ngọc trong truyện cùng tên của Tưởng Phòng; là ca kỹ Lý Oa trong truyện của Bạch Hành Giản, cô gái bên hoa đào trong truyện Thôi Hộ của Mạnh Khải; là Đỗ Thập Nương trong truyện của Phùng Mộng Long, cô gái áo xanh trong Lục y nhân truyện, nàng Lệ Khanh trong Mẫu đơn đăng ký của Cù Hựu. Trong truyện truyền kỳ Việt Nam, đó là nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), Nhị Khanh (Mộc miên thụ truyện), Thị Nghi (Xương Giang yêu quái lục 昌江妖怪錄) của Nguyễn Dữ. Truyện truyền kỳ Hàn Quốc có cô gái đẹp trong Vạn Phúc tự hu bồ ký, tiên nữ trong Túy du Phù Bích đình ký của Kim Thời Tập.   

Trong số các giai nhân này có thể kể thêm những cô gái đẹp yểu mệnh, vẫn khát khao tình yêu mà hiện lên từ hồn hoa, hồn ma (Ly hồn ký của Trần Huyền Hựu, Kim phượng thoa ký của Cù Hựu). Các tiên nữ, đúng hơn là “nửa tiên nửa trần” vẫn nặng lòng trần (Du tiên quật của Trương Trạc, Từ Thức tiên hôn lục của Nguyễn Dữ).

3.3.3. Các nhân vật nam: Các nhân vật nữ là trung tâm của truyện truyền kỳ, bên cạnh đó còn có các nhân vật nam bao gồm cả chính diện và phản diện, đó là:

Nhân vật tài tử: Là nhân vật đi một đôi với giai nhân, thường là nho sinh, kẻ sĩ đa tình.

Nhân vật gia trưởng: Là quan nhân, tướng soái, thương nhân có quyền thế, tham dục, là tác nhân gây đau khổ cho nhân vật đàn bà nhu thuận.

Nhân vật quyền lực ác tâm: Thường là những kẻ có quyền lực, có khả năng gây tai họa, chết chóc hay đau khổ cho những người khác. Có thể kể ở đây các loại nhân vật phản diện như vua quan, tăng nhân, đạo sĩ...

Có thể kể thêm các nhân vật hiệp khách trong thể tài hiệp khách (Hồng Tuyến truyện - Viên Giao, Nhiếp Ẩn nương - Bùi Hình, Cầu nhiêm khách truyện - Đỗ Quang Đình)….

Điểm chung nhất của các nhân vật trong trong truyện truyền kỳ là họ là nhân vật của thế giới sắc tình, thế giới dục vọng, tức là thế giới của lòng ham muốn: ham muốn ái tình, dục tình, hương sắc, ham muốn công danh, phú quý, nói chung là ham muốn hạnh phúc trần thế. Thế giới nhân vật này khác với thế giới nhân vật chức năng trong thần phả, thần tích và sử truyện.  

20250726 2

Kết luận

Truyện truyền kỳ là một thể loại đoản thiên tiểu thuyết trong văn học trung đại Đông Á. Ra đời ở Trung Quốc đời Đường, truyện truyền kỳ viết về một thế giới mới – thế giới đô thị, về một kiểu nhân vật mới, nhân vật chủ yếu ở thành thị, thuộc thế giới sắc tình, đa dục, nó có đầy đủ thuộc tính của thể loại văn học thị dân. Đa số các truyện truyền kỳ đều có yếu tố thần linh, ma quái, nhưng đó không hẳn là tư duy cổ xưa theo kiểu “vạn vật hữu linh”, mà đa số chỉ là thủ pháp để tăng thêm sức hấp dẫn của truyện truyền kỳ, đồng thời cũng giúp tác giả thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình. Truyện truyền kỳ từ Trung Quốc đã ảnh hưởng đến các nước trong khu vực, tạo nên thể loại truyện truyền kỳ ở Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, mà mỗi nước do hoàn cảnh lịch sử và truyền thống văn hóa riêng đã tạo ra những hương sắc mới cho thể loại truyện này.     

* Ghi nhận tài trợ: Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số B2024-18b-01

Đoàn Lê Giang

PGS.TS., Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, ISSN: 1022-8640số 3 (190) năm 2025, tr.3 – tr.18

Tài liệu tham khảo

  1. 魯迅 (1997),『唐宋傳奇集』, 齐鲁书社出版的图书; 林語堂 (2019),『中國傳奇』, 湖南文藝出版社; Lỗ Tấn, (2017), Đường Tống truyền kỳ, Châu Hải Đường dịch, NXB. Hội Nhà văn, Hà Nội; Cù Hựu, Nguyễn Dữ (1999), Tiễn đăng tân thoại - Truyền kỳ mạn lục, Phạm Tú Châu, Trần Thị Băng Thanh, NXB Văn học, Hà Nội; Kim Thời Tập (2004), Kim Ngao tân thoại, Toàn Tuệ Khanh, Lý Xuân Chung dịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; 孫遜、鄭克孟、陳益源、朱旭強 (2011), 《越南漢文小說集成》, 上海古籍出版社, 第四冊 (傳奇漫錄); Nguyễn Dữ (1988), Truyền kỳ mạn lục, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, NXB Văn nghệ, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP HCM; Ueda Akinari, (2017), Vũ nguyệt vật ngữ/ 雨月物語, Đoàn Lê Giang trích dịch, trong Phan Thị Thu Hiền chủ biên (2017), Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á, NXB Văn hoá văn nghệ, TP HCM; Ueda Akinari, (2021), Truyện tối trăng mưa (Vũ nguyệt vật ngữ/ 雨月物語), Nguyễn Nam Trân dịch, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.
  2. 百川書局 (1994),『中國文學大辭典』, 全套十冊, 台灣, tr. 6457
  3. 《筆叢》三十六, dẫn theo 魯迅 (2001),『中國小說史略』, 三聯書店﹝香港﹞有限公司, tr. 72
  4. 魯迅 (2001),『中國小說史略』, 三聯書店﹝香港﹞有限公司, tr. 72
  5. 孫遜、鄭克孟、陳益源、朱旭強 (2011), 《越南漢文小說整合》, 上海古籍出版社, 第四冊, p.77
  6. Dịch Quân Tả 易君左 (1992), Văn học sử Trung Quốc 中國文學史, Huỳnh Minh Đức dịch, Quyển I, NXB Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, tr. 558-559
  7. Sở Nghiên cứu văn học (thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) (1997), Lịch sử văn học Trung Quốc, Dư Quan Anh và những người khác biên soạn, Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ và những người khác dịch, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.661-671
  8. 章培恒, 骆玉明 (1996),『中国文学史, 复旦大学出版社』, 卷 中, p.207-225
  9. 长安, 维基百科: https://zh.wikipedia.org/zh-hans/%E9%95%BF%E5%AE%89 (2025年2月21日 (星期五) 18:40)
  10. Konrat, N (1997), Phương Đông và phương Tây, những vấn đề triết học, triết học lịch sử, văn học Đông và Tây, Trịnh Bá Đĩnh dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 52
  11. Đoàn Lê Giang, (2006), “Thời trung đại trong văn học các nước khu vực văn hoá chữ Hán”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, tr. 89
  12. 12.      魯迅 (1997),『唐宋傳奇集』, 齐鲁书社出版的图书, bản điện tử
  13. 魯迅 (1997),『唐宋傳奇集』, 齐鲁书社出版的图书, 离魂记, bản điện tử
  14. 魯迅 (1997),『唐宋傳奇集』, 齐鲁书社出版的图书, 柳氏传, bản điện tử
  15. 孫遜、鄭克孟、陳益源、朱旭強 (2011), 《越南漢文小說整合》, 上海古籍出版社, 第四冊, p. 12 

  Quang truong doNhững ai từng tiếp xúc hay có quan tâm tìm hiểu khoa nghiên cứu văn học ở Nga hẳn đều có thể ghi nhận rằng lý luận văn học là một hoạt động đã để lại nhiều ảnh hưởng sâu đậm trên đời sống tinh thần của đất nước này. Sau những biến đổi căn bản trong xã hội, ảnh hưởng đó ít nhiều bị phai nhạt vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Nhưng bên cạnh một số tín niệm và khái quát lý luận đã bị vượt qua, những gì thật sự là giá trị của lý luận văn học xô-viết vẫn tiếp tục được đón lấy, kế thừa và cải biến để cùng đồng hành với trí thức Nga trong thế kỷ XXI.

Phật hoàng Trần Nhân Tông đề cập triết lý "một nửa" qua các phạm trù đối lập trong thơ, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, đạo và đời.

Sau tọa đàm ở TP HCM và Hà Nội, ngày 29/6, nhà thơ, nhà nghiên cứu kiêm dịch giả Nhật Chiêu, đưa chủ đề Đường Bụt đường hoa: Thơ ca Phật hoàng Trần Nhân Tông đến với khán giả Huế. Hàng trăm người dự buổi trò chuyện, trong đó có nhiều giảng viên, nhà thơ, bác sĩ, võ sư, sinh viên.

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sáng tác đa thể loại - từ thơ, phú, bài giảng, ngữ lục, văn xuôi đến văn thư ngoại giao. Học giả Nhật Chiêu nhấn mạnh triết lý "một nửa" (hai mặt một vấn đề, nửa này - nửa kia, cụm đối lập nhau) là nét độc đáo trong thi ca của ông, kết hợp hài hòa tư tưởng Phật giáo (Thiền tông) và hiện thực cuộc sống.

Phật hoàng vận dụng loạt phạm trù đối lập như hữu hình - vô hình, thế tục - thanh tịnh, thực - hư, sắc - không, hữu (có) - vô (không), động - tĩnh, xa - gần, vật chất - tinh thần, buồn - vui, đục - trong, ánh sáng - bóng tối... không nhằm mục đích đối chọi, mà chuyển hóa thành phương tiện ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, làm bật lên triết lý "cư trần lạc đạo" (ở đời vui đạo) đặc trưng: không tách rời cuộc sống trần tục mà vẫn giữ được sự thanh tịnh, an lạc trong tâm hồn.

Thay vì đi sâu phân tích một vế, Trần Nhân Tông thường bỏ ngỏ, để lại khoảng trống, tạo sự đa nghĩa, khuyến khích người đọc tự cảm nhận, chiêm nghiệm, liên tưởng và tìm ý nghĩa cho riêng mình.

Nhiều người yêu văn thơ tại Huế dự buổi trò chuyện của học giả Nhật Chiêu. Ảnh: Vỹ Cầm

Nhiều người yêu văn thơ tại Huế dự buổi trò chuyện của học giả Nhật Chiêu. Chương trình diễn ra ở "Không gian Sách và văn hóa" bên bờ sông Hương (số 23-25 Lê Lợi, TP Huế). Ảnh: Vỹ Cầm

Trong bản Xuân vãn (Cuối xuân), Trần Nhân Tông nhắc phạm trù sắc - không, để người đọc tự hình dung vẻ đẹp mùa xuân, hướng đến không gian nghệ thuật đậm tính Thiền. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt có đoạn: "Thuở nào chưa rõ sắc không/ Xuân về lòng bỗng vương lòng hoa chơi/ Chúa Xuân giờ khám phá rồi/Bồ đoàn ngồi ngắm hồng rơi rơi hồng" (Nhật Chiêu dịch).

Cụm đối lập xa - gần, nửa nắng - nửa râm được đề cập trong bài Lên núi Bảo Đài: "Đất vắng, lên đài cổ/ Còn mới nguyên mùa xuân/ Mây núi vừa xa vừa gần/ Đường hoa bên nắng bên râm/ Vạn sự nước trôi nước/ Một đời tâm nhủ tâm/ Tựa hiên, nghiêng sáo mà ngân/ Ngực dâng ánh sáng vô ngần trăng lên(Nhật Chiêu dịch).

Trong Thiên Trường vãn vọng (Ngắm cảnh chiều Thiên Trường), Trần Nhân Tông khai thác yếu tố có - không: "Trước xóm, sau thôn tựa khói lồng/ Bóng chiều man mác có dường không/ Theo lời kèn mục trâu về hết/ Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng" (Ngô Tất Tố dịch). Nội dung mô tả khung cảnh chiều quen thuộc ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, gợi bức tranh nửa thực nửa hư, mờ ảo nhưng cũng rõ từng chấm trắng nhỏ của cánh cò đang đáp xuống đồng.

Trạng thái tĩnh - động, mờ ảo - chi tiết thể hiện qua tác phẩm Trăng, Chiều thu ở Vũ Lâm, Tức sự, Cảnh chiều ở Châu Lạng. Dù hướng đến cái nhất thể và toàn diện, tác giả vẫn đề cao triết lý "một nửa": "Nửa ta đi kiếm, nửa ta còn lại hay Nửa ngày rồi tự tại thâm tâm" (trích Cư trần lạc đạo phú).

Trong buổi trò chuyện, Nhật Chiêu cho biết khi thăm đền thờ Trần Nhân Tông (núi Ngũ Phong, phường An Tây, cách trung tâm TP Huế khoảng 3 km) hôm 28/6, khi đi giữa khung cảnh rừng thông bên nắng - bên râm tương tự trong tứ thơ nổi tiếng của Phật hoàng, học giả tức cảnh sinh tình, bật lên sáu câu thơ: "Đường Bụt, đường hoa, đường trần/ Bước Huyền Trân nhẹ còn ngân ngang trời/ Người từ rót Huế vào tôi/ Rót em vào mộng, rót đời vào thiêng/ Rót tôi vào một cõi huyền/ Thì xin đáp tạ mà nghênh đón tình".

Diễn giả Nhật Chiêu cho rằng Phật hoàng Trần Nhân Tông khai sáng nền văn chương tiếng Việt, gây tiếng vang với hai bài phú dài bằng chữ Nôm: Cư trần lạc đạo (gồm 10 hồi) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Diễn giả tâm đắc đoạn kết trong Cư trần lạc đạo, cụ thể: "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/ Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền".

Trước đó ở phần mở màn, học giả Nhật Chiêu dùng cụm "toàn diện, hiếm có trên thế gian" để nói về tầm vóc, sự vĩ đại của Phật hoàng. Ở tuổi 20 (năm 1278), ông lên ngôi Hoàng đế, sau ba lần từ chối ngai vàng. Nhờ tài thao lược, hai lần vua Trần Nhân Tông lãnh đạo toàn quân đánh tan Nguyên Mông.

15 năm trị vì, ông huy động sức mạnh toàn dân, đạt thành tựu về chính trị, văn hóa, xã hội. Khi mới 35 tuổi (năm 1293), Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) để lên làm Thái Thượng Hoàng, nhưng vẫn cố vấn cho vua lẫn triều đình, ngoại giao ở Chiêm Thành. 41 tuổi, ông xuất gia tại chùa Hoa Yên - Yên Tử (Quảng Ninh), lấy Đạo hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, khai sinh thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử.

Nhà thơ, nhà văn, dịch giả Nhật Chiêu tại tọa đàm thi ca sáng 29/6. Ông có hơn 40 năm nghiên cứu, giảng dạy và viết lách. Ông từng xây dựng giáo trình cho sinh viên gồm Ba nghìn thế giới thơm (biên khảo), Những kiệt tác văn chương thế giới (viết chung), Basho và thơ Haiku (biên khảo), Nhật Bản trong chiếc gương soi (biên khảo), Đại cương văn hóa phương Đông (viết chung). Ở mảng văn xuôi, Nhật Chiêu sáng tác Mưa mặt nạ, Người ăn gió và quả chuông bay đi. Về thi ca, ông ra mắt Lời tiên tri của giọt sương (tập truyện song ngữ Việt - Anh), Tôi là một kẻ khác (thơ tượng quẻ), Người về với Như (thơ ca tương chiếu). Ảnh: Vỹ Cầm

Nhà thơ, nhà văn, dịch giả Nhật Chiêu tại tọa đàm thi ca sáng 29/6. Ông có hơn 40 năm nghiên cứu, giảng dạy và viết lách. Ông từng xây dựng giáo trình cho sinh viên gồm Ba nghìn thế giới thơm (biên khảo), Những kiệt tác văn chương thế giới (viết chung), Basho và thơ Haiku (biên khảo), Nhật Bản trong chiếc gương soi (biên khảo), Đại cương văn hóa phương Đông (viết chung). Ở mảng văn xuôi, Nhật Chiêu sáng tác Mưa mặt nạNgười ăn gió và quả chuông bay đi. Về thi ca, ông ra mắt Lời tiên tri của giọt sương (tập truyện song ngữ Việt - Anh), Tôi là một kẻ khác (thơ tượng quẻ), Người về với Như (thơ ca tương chiếu). Ảnh: Vỹ Cầm

Ở buổi trò chuyện, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu còn nhắc tên loạt nhân vật nổi bật, gắn liền Phật hoàng là hoàng đế Trần Thái Tông (ông nội Trần Nhân Tông), vua Trần Thánh Tông (cha Phật Hoàng). Câu chuyện của Huyền Trân công chúa - con gái vua Trần Nhân Tông, về sau cưới Chế Mân (vua Chiêm Thành) để đổi lấy hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) - được khán giả quan tâm.

Vỹ Cầm

Nguồn: VnExpress, ngày 01.7.2025.

Mấy chục năm qua đất nước chúng ta sống chủ yếu bằng đời sống chính trị. Cách mạng, chiến tranh, các sự kiện chính trị, sinh hoạt chính trị đi vào cuộc sống hàng ngày. Mọi thứ đều được đo bằng chính trị. Từ đánh giá con người đến xem xét tác phẩm, tất cả chủ yếu đều quy về lập trường, quan điểm, đôi khi cả những thứ rất xa như ăn mặc, cách sử dụng các hình thức miêu tả nghệ thuật. Người ta cũng tự nhiên biến thành con người chính trị lúc nào không biết. Trong không khí đó vấn đề văn nghệ và chính trị, hay nói đúng hơn, chính trị và văn nghệ, trở thành vấn đề cơ bản nhất của lý luận, thành nội dung chủ yếu của sáng tác nghệ thuật. Do tầm quan trọng của nó, vấn đề chính trị và văn nghệ trở nên một đề tài có cái gì như là hơi "thiêng", và vì vậy ít người dám bàn hoặc giả có bàn thì cũng chỉ nói một cách kính cẩn. Mà trong khoa học đã cung kính như thế thì khó có thể có ý kiến gì cho mới mẻ, sáng tạo.

Bản thảo truyện dài Nên làm gì khi trời nổi gió của Giai Du đã vượt qua hơn 610 tác phẩm để đoạt giải Nhất Giải thưởng Văn học Kim Đồng lần 1, với trị giá 100 triệu đồng. 

Sinh năm 2001, quê An Giang, Giai Du chia sẻ rằng vì yêu thích văn chương từ nhỏ, nên việc chọn văn chương làm sự nghiệp cũng là điều hết sức tự nhiên.

* Truyện dài "Nên làm gì khi trời nổi gió" liệt kê ra bao nhiêu điều nên làm khi trời nổi gió? Vì sao có con số này?

- Nội dung truyện dài có tổng cộng 20 điều có thể làm khi trời nổi gió, được nhân vật chính đề xuất, mỗi điều lại chứa đựng những lý giải bên trong khiến cho chúng "nghe thì vậy nhưng không phải vậy".

Con số 20 theo tôi là đủ nhiều cho một danh sách công việc dài đối với một đứa trẻ, nó không nhằm mục đích đề xuất để làm một lượt, mà đó là những điều ta sẽ làm suốt cuộc đời, vì thế con số 20 cũng đảm bảo được sự đa dạng cho bản danh sách.

Nhà văn Giai Du, giải Nhất, Giải thưởng Văn học Kim Đồng: "Người lớn viết về trẻ em là vô cùng khó" - Ảnh 1.

Giai Du (giữa) nhận giải Nhất, Giải thưởng Văn học Kim Đồng lần 1

* Trong những điều này, có bao nhiêu điều không bắt rễ từ hiện thực, theo nghĩa chỉ là những suy tư hoặc tưởng tượng?

- Tuy đây là câu chuyện hoàn toàn hư cấu, nhưng không hề có chi tiết huyền diệu hoặc phép màu, vì thế toàn bộ 20 điều trong danh sách đều là những công việc thường ngày mà một đứa trẻ (hoặc người lớn) có thể thực hiện.

Trong bản danh sách sẽ có vài điều rất dễ thực hiện, nhưng cũng có vài điều khó hơn đôi chút, tôi nghĩ chúng đều có những điểm đặc sắc riêng.

20250707 3

Giai Du có vóc dáng rất thư sinh

* Nếu so sánh về cấu trúc, phong cách hoặc thể loại, truyện dài này khác hoặc giống với những tác phẩm đã xuất bản của anh như "Chiều chiều quạ nói với diều", "Lân tinh", "Kiện trời" ở những điểm nào?

- Đây là tác phẩm duy nhất, đến thời điểm hiện tại, thuộc mảng văn học thiếu nhi của tôi, vì thế chắc chắn nó sẽ rất khác biệt so với những tác phẩm trước. Về mặt cấu trúc, tác phẩm này có lối xếp đặt khá đặc biệt, mà ở những tác phẩm trước không có. Vì vậy mà độc giả sẽ được nhìn thấy một Giai Du với phong cách rất khác, những nhân vật và câu chuyện rất khác.

* Nhân vật hoặc chủ thể trẻ em theo quan niệm của anh là như thế nào?

- Trẻ em rất khó hiểu, chúng ta nên thừa nhận điều này. Có những vấn đề đối với người lớn thì rất đơn giản, nhưng đối với một đứa trẻ lại phức tạp vô cùng. Ở chiều ngược lại cũng vậy, có những vấn đề phức tạp với người lớn, nhưng đối với trẻ em thì lại rất đơn giản. Vì vậy, người lớn viết về trẻ em là vô cùng khó.

Nhà văn Giai Du, giải Nhất, Giải thưởng Văn học Kim Đồng: "Người lớn viết về trẻ em là vô cùng khó" - Ảnh 4.

Cuốn sách "Kiện trời" của Giai Du

* Chất liệu và điển cố dân gian có vẻ cũng là một nguồn cảm hứng lớn để anh sáng tác?

- Chất liệu dân gian đến với sáng tác của tôi rất tự nhiên, chúng "hòa tan" vào việc sáng tác hơn là một lựa chọn có chủ đích. Mọi yếu tố dân gian trong sáng tác, nếu có, đều đến từ quá trình tiếp nhận và vận dụng thường ngày, trở thành một phần bên trong, sẽ nảy ra khi viết. Mọi thứ đều đến một cách hết sức tự nhiên mà đôi khi chính tác giả cũng không nhận ra.

Đối với tôi, yếu tố dân gian là một chất liệu mà ta có thể nêu bật hoặc phản tư tùy theo trường hợp và mục đích sáng tác. Riêng với Nên làm gì khi trời nổi gió, dường như có rất ít chất liệu dân gian được sử dụng, hoặc có lẽ như đã nói, chúng đã hòa tan đến mức tác giả cũng không nhận ra được.

* Hiện anh đang theo học thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học, vì sao chọn lý luận, trong khi sáng tác đang "ngon trớn"?

- Tôi thích tất cả những gì liên quan đến văn chương, từ việc đọc, viết và cả nghiên cứu. Việc học về tư duy lý luận và thu nạp kiến thức về thẩm mỹ nói chung hoặc văn chương nói riêng đều khiến tôi hứng thú.

Khi viết, tôi tách bản thân ra khỏi vai trò nghiên cứu văn chương, mà chỉ làm một người sáng tạo thuần túy, vì thế chúng cũng không ảnh hưởng lẫn nhau. Tôi cảm thấy bản thân khá may mắn khi tìm thấy được khoảng giữa của lý luận và sáng tác, để không quá sa đà vào một bên nào.

Nhà văn Giai Du, giải Nhất, Giải thưởng Văn học Kim Đồng: "Người lớn viết về trẻ em là vô cùng khó" - Ảnh 6.

Cuốn sách "Lân tinh" của Giai Du

Ở khoảng giữa ấy, tôi có thể quan sát được cả 2 phía. Công việc nghiên cứu giúp mình nhìn thấy người khác, còn việc sáng tác giúp mình nhìn thấy chính bản thân. Hiện tại, tôi cảm thấy 2 việc này không cản trở gì nhau, trừ việc chúng sẽ phải cạnh tranh trong quỹ thời gian giới hạn mà bản thân đang cố gắng sắp xếp, để cân bằng 2 phiên bản này.

Việc sáng tác văn chương, bất kể chủ đề hoặc nội dung nào, cũng đều là một công việc cần nhiều can đảm, giống như việc sống. Tôi hy vọng rằng chúng ta đều có đủ can đảm để sống và viết.

* Cảm ơn anh.

Giai Du sinh năm 2001, quê ở An Giang. Hiện đang theo học thạc sĩ ngành Lý luận văn học tại Khoa Văn học, Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM. Các tác phẩm đã xuất bản: Chiều chiều quạ nói với diều, Kiện trời, Lân tinh. "Việc sáng tác văn chương, bất kể chủ đề hoặc nội dung nào, cũng đều là một công việc cần nhiều can đảm, giống như việc sống. Tôi hy vọng rằng mình sẽ có đủ can đảm để sống và viết" - Giai Du.

Văn Bảy (thực hiện)

Nguồn: Thể thao và văn hóa, ngày 18.6.2025.  

Hoai ThanhLịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX không thể không nhắc đến Hoài Thanh. Người ta nhắc đến ông không phải vì ông đã từng giữ những trọng trách quan trọng trong giới văn nghệ. Người ta nhắc đến ông cũng không chỉ vì hồi nào ông đã góp phần làm cho văn đàn sôi động hẳn lên vì cuộc tranh luận “nghệ thuật vì nghệ thuật”. Người ta nhắc đến ông là nhắc đến một nhà văn, một nhà phê bình văn học, một tri âm của thi nhân, một tri âm của thơ ca. Mà quả đúng như vậy, những gì ông viết cách đây ngót nửa thế kỷ vẫn giữ nguyên giá trị. Những gì ông viết về Thơ mới vẫn chưa ai vượt qua. Chúng ta cảm ơn ông, cả phong trào Thơ mới biết ơn ông. Nếu phong trào Thơ mới ra đời vào năm 1932, thì chỉ 10 năm sau đó (1942) ông đã làm công việc của một người tổng kết. Và lạ lùng thay những tổng kết có tính chất tức thời của ông cho đến bây giờ vẫn nguyên vẹn ý nghĩa của nó.

Tập sách "Những tấm lòng yêu nước" của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ vừa ra mắt bạn đọc là kết quả của cả một đời gom nhặt ký ức, chắt chiu chi tiết, là thành quả của một người làm văn chương với tinh thần sử gia, và làm sử với trái tim thi sĩ.

20260623

Tần Hoài Dạ Vũ là một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam giai đoạn 1960-1975.

Tâm huyết của một nhà thơ phản chiến

Tần Hoài Dạ Vũ là một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam giai đoạn 1960-1975. Thơ ông thường được gọi là thơ phản chiến, thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng tự do trong bối cảnh chiến tranh.

Ngay từ khi còn là học sinh lớp đệ tam (lớp 10) tại Trường Quốc học Huế, Tần Hoài Dạ Vũ đã thể hiện sự quan tâm đến vận mệnh đất nước qua những bài thơ đăng trên các tạp chí uy tín như "Bách khoa" và "Văn". Bài thơ "Ca khúc của người hai mươi tuổi" đăng trên "Bách khoa" số 160 (ngày 1/9/1963) là minh chứng cho tinh thần yêu nước của ông:

Dầu nhỏ bé - xác thân này dâng hiến

Để bàn tay dài nối những bàn tay

Nếu nằm xuống - vườn thanh bình chưa đến

Vòng hoa cười cũng rực ánh sao bay

Thơ Tần Hoài Dạ Vũ không chỉ phản ánh hiện thực chiến tranh mà còn thể hiện khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước. Tập sách "Những tấm lòng yêu nước" do Tần Hoài Dạ Vũ biên soạn đã tái hiện chân thực, sinh động phong trào đấu tranh tại các đô thị giai đoạn 1960-1975, góp phần quan trọng vào nền văn học kháng chiến chống Mỹ.

Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã rất công phu khi giới thiệu kịp thời, đúng thời điểm công trình khảo luận có giá trị, dày hơn 560 trang in, được trình bày thanh nhã, trang trọng, kèm theo một số hình ảnh tư liệu. Trong "Lời nói đầu", nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ bày tỏ tâm nguyện: “Việc tìm hiểu tinh thần yêu nước của người Việt Nam trong chiến tranh, lâu nay người ta chỉ quan tâm đến dòng văn học cách mạng. Trong khi đó, văn học trong các phong trào đấu tranh chống chiến tranh, đòi hòa bình, đòi tự do, cơm áo tại miền Nam, nhất là phong trào đấu tranh của thanh niên - sinh viên học sinh trong lòng các đô thị miền Nam cũng đã thể hiện tinh thần yêu nước rất phong phú và sâu sắc. Vì vậy, nghiên cứu về tinh thần yêu nước trong văn học miền Nam cũng là một việc làm cần thiết...”.

Tập sách Những tấm lòng yêu nước. Ảnh: NGUYỄN TƯỜNG VĂN
Tập sách Những tấm lòng yêu nước. Ảnh: NGUYỄN TƯỜNG VĂN

Truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay

"Những tấm lòng yêu nước" được nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ biên soạn thành 5 chương: Bối cảnh lịch sử - xã hội miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1954-1975), Tổng quan về thơ yêu nước trong các phong trào đấu tranh tại đô thị miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1954-1975), Cảm hứng yêu nước trong thơ miền Nam (giai đoạn 1960-1975) nhìn từ phương diện nội dung, Tính chất trữ tình yêu nước của thơ đô thị miền Nam nhìn từ phương diện nghệ thuật, Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu (giai đoạn 1960-1975). Chương cuối chiếm trên 360 trang sách, giới thiệu 49 tác giả sáng tác thơ ca yêu nước miền Nam từ các phong trào đấu tranh đô thị giai đoạn 1960-1975, trong đó Phú Yên có 3 tác giả.

Qua "Những tấm lòng yêu nước", chúng tôi rất trân trọng về công việc sưu tầm và biên soạn công phu của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ khi ông gìn giữ và lan tỏa những giá trị lịch sử, văn hóa - nhất là trong giai đoạn đấu tranh ở đô thị miền Nam khi đất nước còn bị chia cắt. Nhà thơ không đơn thuần liệt kê sự kiện hay nhân vật mà đào sâu vào từng phận người, từng câu chuyện gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, từ đó khắc họa sinh động tinh thần yêu nước của nhiều tầng lớp nhân dân miền Nam qua thi ca của nhiều tác giả. Đây chính là kết quả của quá trình dài tiếp cận tài liệu, gặp gỡ nhân chứng, thậm chí phải thu thập tư liệu từ nhiều nguồn: thư từ, nhật ký, thơ ca, bài viết phản chiến... trước năm 1975.  

Với thế hệ chúng tôi, "Những tấm lòng yêu nước" không đơn thuần là một cuốn sách, mà là một bản khắc tâm hồn của thời đại, là sợi chỉ nối quá khứ với hiện tại trong hành trình 50 năm hòa bình và phát triển của Việt Nam.

Là một nhà thơ, Tần Hoài Dạ Vũ có con mắt tinh tế và trái tim nhạy cảm, nên từng trang viết đã được ông chuyển tải bằng chất văn chương sâu lắng. Điều này giúp người đọc dễ tiếp cận, nhất là những người trẻ, giúp họ hiểu rõ hơn về phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Tập biên khảo tái hiện một diện mạo khác của lòng yêu nước, bền bỉ, kiên cường trong lòng đô thị, dưới sự đàn áp khốc liệt.

Những tác phẩm văn học, bài viết của các cây bút trẻ từng hoạt động trong phong trào phản chiến được chú thích rõ ràng, đặt đúng bối cảnh, giúp độc giả hiểu đúng, hiểu đủ về họ. Không phải ai cũng đủ kiên nhẫn và ý thức trách nhiệm để thực hiện một công trình vừa mang tính tư liệu, vừa mang giá trị nhân văn cao như thế này. 

Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã công tâm, trung thực ghi lại những gương mặt nổi bật trong phong trào yêu nước ở đô thị miền Nam trước năm 1975. Đó là những thanh niên, sinh viên, học sinh, văn nghệ sĩ, trí thức… đã dấn thân vì lý tưởng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Họ là minh chứng sống cho tình yêu nước âm thầm nhưng mãnh liệt.

Trong dòng chảy văn hóa hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người đi trước, cuốn sách góp phần xây dựng một không gian ký ức tập thể - nơi các giá trị như lòng dũng cảm, sự hy sinh, tình yêu nước được tôn vinh và lưu giữ. 

Giữa thời bình, khi đất nước đang phát triển, những tấm gương trong sách vẫn truyền lửa cho thế hệ hôm nay: về lòng yêu nước không cần phô trương, về trách nhiệm công dân, về khát vọng phụng sự Tổ quốc trong từng việc nhỏ. Tập sách như một lời nhắn nhủ: Hòa bình không tự nhiên mà có, và không thể bị lãng quên.

Võ Quê

Nguồn: Phú Yên Online, ngày 15.5.2025

1.  Tình hình dạy và học môn lý luận văn học trong trường đại học hiện nay:

Từ những năm 60 thế kỷ trước đến nay, dưới nhà trường xã hội chủ nghĩa, môn lý luận văn học (LLVH) vẫn được xem là môn học quan trọng không chỉ đối với sinh viên ngành ngữ văn mà cả các ngành có liên quan đến văn hóa nghệ thuật. Môn này thường được phân bổ đều từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, bao gồm các học phần cơ sở và các học phần chuyên đề. Riêng các học phần cơ sở, việc phân bổ giờ dạy ở các trường đại học tổng hợp và đại học sư phạm khác nhau trong khoảng từ 105 tiết đến 150 tiết. Từ năm học 2005, chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo quyết định số 01 ngày 12-01-2005 quy định số giờ dạy môn cơ sở LLVH thống nhất cho tất cả các trường là 135 tiết. Đối với sinh viên chuyên ngành văn học, môn này từ trước đến nay vẫn là một trong hai môn thi tốt nghiệp, điều đó càng nói lên tầm quan trọng của nó.

Trong các bộ giáo trình LLVH được biên soạn vào những thập niên cuối thế kỷ trước, cấu trúc của chương trình LLVH thường bao gồm các phần: 1) Nguyên lý chung (còn gọi là Nguyên lý tổng quát hay Cơ sở lý luận chung); 2) Tác phẩm văn học; 3) Loại thể văn học; 4) Phương pháp sáng tác và trào lưu văn học (có sách thêm Trường phái văn học). Ở một số giáo trình, phần 2 và 3 được gộp chung, xem loại thể như một phương diện cấu thành của tác phẩm. Cũng có giáo trình cơ cấu thêm phần Phương pháp luận nghiên cứu văn học, nhằm bổ sung kiến thức cho sinh viên, tuy đây là một bộ môn ngày càng trở nên độc lập so với LLVH.

Trong bộ chương trình khung nói trên của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn LLVH bao gồm 3 phần: 1) Nguyên lý LLVH (45 tiết); 2) Tác phẩm văn học và loại thể văn học (60 tiết); 3) Tiến trình văn học (30 tiết). Ở đây những người soạn chương trình tránh dùng, như tiêu đề của một học phần, khái niệm Phương pháp sáng tác (hay Phương pháp nghệ thuật) vốn ra đời vào những năm 30 thế kỷ trước cùng lúc với khái niệm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; thay vào đó bằng khái niệm Tiến trình văn học có nội hàm rộng hơn, vốn cũng là một “đặc sản” ít nhiều được thử thách của LLVH xô-viết mà cho đến nay vẫn được sử dụng trong những bộ LLVH xuất bản ở Nga đầu thế kỷ XXI [1].

Hiện nay trong các trường đại học ở nước ta đang lưu hành khoảng 10 giáo trình LLVH, bao gồm những bộ được dịch từ tiếng Nga, những bộ của các tác giả trong nuớc biên soạn hai thập niên trước nay được tái bản và những bộ mới xuất bản những năm đầu thế kỷ này. Mỗi bộ giáo trình đều có những thế mạnh và ưu điểm riêng, vì vậy các giảng viên thường giới thiệu một danh mục sách tham khảo cho sinh viên học tập môn này. Theo sự khảo sát chưa đầy đủ của chúng tôi, được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trong sinh viên các trường là bộ LLVH của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình. Bộ này được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành lần đầu những năm 1986-1988 gồm 3 tập và đã được tái bản 2 lần dưới hình thức một tập khổ lớn dày hơn 700 trang. Công trình này đã kế thừa hai bộ Cơ sở LLVH khá phổ biến trước đây của các tác giả thuộc bộ môn LLVH các trường đại học ở Hà Nội và Vinh: một do NXB Giáo dục (4 tập, 1970-1971), một do NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp (3 tập, 1980-1983). Được biên soạn ngay “đêm trước” thời kỳ đổi mới, nên bộ sách nói trên phần nào tránh được những hạn chế của những công trình mà nó chịu ơn, đồng thời đã bổ sung vào nội dung giảng dạy những vấn đề có ý nghĩa khoa học như tư tưởng LLVH cổ ở phương Đông và Việt Nam, tính quốc tế và tính nhân loại của văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, bạn đọc và tiếp nhận văn học…

Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của bộ môn LLVH trên thế giới cũng như trước nhu cầu của một công chúng ngày càng nâng cao về kiến văn và trình độ, chính tác giả của các bộ sách công phu và dày dặn nói trên cũng thấy cần phải viết lại giáo trình về lĩnh vực này với những điều chỉnh và bổ sung hợp lý. Nỗ lực đó được ghi nhận qua hai công trình mới xuất bản gần đây cùng do NXB Đại học Sư phạm: Lý luận văn học (Tập I: Văn học, nhà văn, bạn đọc) do Phương Lựu chủ biên (2002) và Giáo trình lý luận văn học (Tập I: Bản chất và đặc trưng văn học) do Trần Đình Sử chủ biên (2004). Một dành cho sinh viên đại học, một dành cho sinh viên cao đẳng, cả hai cuốn này đều có phần câu hỏi hướng dẫn ôn tập ở cuối mỗi chương, riêng cuốn thứ hai còn bổ sung phần trích yếu tư liệu và thư mục tham khảo cho từng vấn đề.

So với các học phần lịch sử văn học Việt Nam và thế giới, việc dạy và học môn LLVH có những đặc điểm và yêu cầu riêng của nó. Có lẽ sau môn triết học và mỹ học, thì đây là môn học có sức khái quát và trừu tượng hơn cả. Sinh viên ngữ văn hiện nay, một mặt do cái nền học vấn các môn khoa học xã hội và nhân văn ở trường trung học có chiều hướng sa sút, mặt khác do được tuyển vào ngày càng đông, nhất là ở các đại học dân lập, nên trình độ tiếp thu không đồng đều, yếu về tư duy khái quát, về tinh thần và phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Đa số sinh viên học LLVH như một món nợ phải trả cho nhà trường, thầy dạy gì thì học nấy, ít chịu đọc thêm sách tiếng Việt chứ chưa nói sách tiếng nước ngoài. Đó là một sự thực.

Nhưng còn một sự thực khác: trong từng lớp học, bao giờ cũng có khoảng 10% sinh viên yêu thích môn LLVH. Họ quan tâm đến những vấn đề trừu tượng; họ có tiếng Anh để có thể dịch những đoạn văn lý luận, phê bình mà thầy giáo giao cho, có thể vào các trang web để tìm các tài liệu mà thầy giáo không cung cấp; họ cũng mạnh dạn đặt lại các vấn đề mà thầy giáo khẳng định nếu được khuyến khích trong một không khí cởi mở của lớp học. Việc dạy LLVH cần phải hướng đến những sinh viên xuất sắc đó, phát hiện ra họ và từ họ mà tác động đến cái đa số thầm lặng và trì trệ kia. Ở trường chúng tôi, những sinh viên trong lớp cử nhân tài năng giúp chúng tôi rất nhiều trong việc này: họ cung cấp cho thầy giáo những tài liệu mà thầy không có điều kiện cập nhật, bài thuyết trình của họ được sao chụp cho cả lớp cùng đọc trở thành kiến thức bổ sung cho bài giảng, những ý kiến thắc mắc của họ khiến thầy giáo phải suy nghĩ cẩn trọng hơn về bài giảng của mình cho năm học tới…

Đánh giá hoạt động LLVH hiện nay, một nhận định được nhiều người chia sẻ là LLVH chậm trễ, nếu không muốn nói là tụt hậu, so với sáng tác. LLVH không những không định hướng được cho sáng tác mà còn tỏ ra lúng túng, thậm chí bất lực trong việc lý giải, tổng kết và rút ra quy luật từ những hiện tượng mới xuất hiện trong đời sống văn học. Nhận định này chắc chắn có cơ sở khách quan của nó.

Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi muốn nhìn thực trạng từ một góc độ khác. Đó là nên chăng, chúng ta không chỉ đặt vấn đề về sự chậm trễ của LLVH so với sáng tác mà còn – và có lẽ quan trọng hơn – là đặt vấn đề LLVH chậm trễ so với chính nó, nghĩa là so với những yêu cầu đặt ra cho nó như một bộ môn khoa học, vừa quan hệ với sáng tác, mà cũng vừa độc lập so với sáng tác. Không có sáng tác hay thì khó có lý luận - phê bình sâu sắc, điều đó không sai. Nhưng trong điều kiện tương tác của những yếu tố văn hóa giữa một thế giới hội nhập như hiện nay, một nền văn học chưa có nhiều sáng tác độc đáo vẫn có thể thụ hưởng những thành tựu lý luận sâu sắc.

Vả chăng, chúng ta cũng chưa đủ căn cứ để khẳng định rằng hiện nay ở nước ta, về sáng tác, có những nhà văn đi tiên phong, còn về lý luận thì các nhà khoa học lại giẫm chân tại chỗ. Theo thiển ý, nói một cách công bằng, thì cả sự "tiên phong" lẫn sự "chậm trễ" đều có mặt ở cả hai giới sáng tác và lý luận - phê bình.

Chính vì vậy, chúng tôi trộm nghĩ rằng không phải lúc nào chúng ta cũng nên xem thực tiễn sáng tác là chuẩn mực và trình độ để lý luận và phê bình soi chiếu hay vươn tới. Nói lý luận gắn liền với thực tiễn, cần hiểu đó là thực tiễn đời sống nói chung, trong đó có thực tiễn văn học, mà một trong những nhân tố quan trọng là công chúng. Công chúng hiện nay đang cần được thụ hưởng những tinh hoa không chỉ trên bình diện sáng tác mà cả trên bình diện lý luận - phê bình. Đến lượt nó, LLVH tác động vào thực tiễn không chỉ qua trung gian của người sáng tác mà còn qua nhiều mối quan hệ phức tạp với công chúng nói chung. Nâng cao trình độ cảm thụ, thị hiếu và phán đoán thẩm mỹ của công chúng cũng là một cách tác động tích cực vào thực tiễn.

Trong chiều tác động ngược lại, vai trò của người đọc đối với sự phát triển của LLVH tuy không trực tiếp như đối với sự phát triển của sáng tác, nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Trong một điều kiện và môi trường công chúng nào đó, LLVH có đẳng cấp cao sẽ trở nên lạc lõng. LLVH thiếu bản lĩnh sẽ chiều theo lỗ tai của một công chúng nông nổi, hời hợt. Vì vậy lỗi để xảy ra tình trạng chậm trễ về LLVH hiện nay có một phần thuộc về bạn đọc. Sở dĩ còn tồn tại một loại lý luận - phê bình văn học gàn dở, thô lậu là vì có một bộ phận bạn đọc ưa thích loại lý luận - phê bình đó và có một số ít tờ báo, nhà xuất bản làm bà đỡ cho nó để "phục vụ" số bạn đọc kia.

Chưa có điều kiện làm một cuộc điều tra xã hội học, với sự ghi nhận còn chủ quan của mình, chúng tôi thấy rằng tỉ lệ người đọc sách LLVH đông nhất hiện nay không phải là những nhà sáng tác mà là sinh viên các ngành ngữ văn và văn hóa nghệ thuật. Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy và học LLVH ở các trường đại học là một điều kiện, một nhân tố quan trọng để nâng cao tính tích cực xã hội của LLVH. Những người sinh viên được đào tạo căn cơ, bài bản về LLVH sẽ góp phần sửa chữa những khiếm khuyết trong tiếp nhận văn học hiện nay và hình thành một công chúng lý tưởng cho đời sống văn học. Họ không chỉ là người đọc sách mà còn là độc giả văn học, để mượn cách phân biệt của P. Vjazemski. Đầu tư tâm huyết, tài năng, trí tuệ và công sức cho việc biên soạn và giảng dạy LLVH ở đại học là một kênh đầu tư có hiệu quả để tác động đến sự đổi mới toàn bộ cơ thể văn học của chúng ta.

Trong tinh thần đó, chúng tôi xin nêu mấy đề nghị cải tiến về nội dung, cấu trúc chương trình, phương pháp giảng dạy và việc biên soạn giáo trình LLVH ở đại học.

2.  Mấy đề nghị cải tiến việc giảng dạy môn lý luận văn học trong trường đại học:

          Trước hết chúng tôi muốn khẳng định rằng phương châm mà chúng tôi coi trọng là "kế thừa gắn liền với đổi mới, kế thừa để đổi mới có hiệu quả và đổi mới để kế thừa trong sáng tạo". Tôi nói điều này mà không sợ bị hiểu nhầm mình chẳng qua chỉ là một "kẻ chuyên rào đón trước", vì thực sự đây là nói về LLVH trong nhà trường mà thực tiễn đã chứng minh rằng những gì gắn liền với lĩnh vực giáo dục nếu kế thừa thuần tuý hoặc đổi mới thuần tuý thì chỉ có thất bại mà thôi.

2.1. Về nội dung giảng dạy và cấu trúc chương trình:

Đối với những vấn đề cơ bản của văn học, theo chúng tôi, giáo trình LLVH nên tập trung vào bốn chủ điểm là văn học và xã hội, văn học và văn hóa, văn học và cái đẹp, văn học và ngôn ngữ. Đó cũng là các mối quan hệ thiết thân của văn học từ rộng đến hẹp, và giải quyết các mối quan hệ này, sẽ đồng thời giải quyết vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học.

Ở vấn đề thứ nhất, chúng ta có thế mạnh là truyền thống văn học dân tộc và ảnh hưởng của LLVH mác-xít từ ngoại sinh đã trở thành nội sinh. Chúng ta có một loạt các luận chứng về chức năng xã hội của văn học và trách nhiệm xã hội của nhà văn từ các nhà kinh điển, các nhà lý luận mác-xít và các nhà văn hóa tiến bộ. Chúng tôi quan niệm rằng, đối với một giáo trình cơ bản cho sinh viên Việt Nam, thì điều đầu tiên cần phải nhấn mạnh chưa phải là vấn đề hình thức ngôn từ mà là tinh thần xã hội của văn học. Tuy nhiên, một số phương diện của vấn đề này trước đây được lý giải có phần xác quyết quá, nay có lẽ không có sức thuyết phục nữa: nguồn gốc lao động của văn học, thế giới quan và sáng tác… Trong phần này, giáo trình cũng có thể gắn văn học với cuộc sống nóng bỏng của thế giới hiện đại qua các vấn đề nữ quyền, bảo vệ môi trường, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc…

Vấn đề thứ hai lưu ý chúng ta đặt văn học trong bối cảnh văn hóa của dân tộc và của khu vực. Không thể hiểu thế giới nghệ thuật ngôn từ, nếu không nắm vững những đặc điểm văn hóa bản địa của một dân tộc cùng sự giao thoa, tiếp biến và dung hợp văn hóa trong lịch sử. Ở đây, chúng ta cũng có thể thấy được mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo, đạo đức, phong tục, tập quán… mà ảnh hưởng của nó vừa tạo ra những tác động thuận chiều, vừa gây nên những phản ứng nghịch chiều trong nghê thuật. Cần nhấn mạnh tính khoan dung văn hóa trong văn học dân gian và văn học cổ điển Việt Nam.

         Ở vấn đề thứ ba, văn học được xem xét như một hoạt động thẩm mỹ bên cạnh các loại hình nghệ thuật khác. Cùng với các hoạt động nghệ thuật, văn học góp phần khám phá và sáng tạo ra những giá trị theo quy luật của cái đẹp. Đặt văn học trong hệ thống các loại hình nghệ thuật, chúng ta càng nhận ra đặc trưng của nó. Về vấn đề này, chúng ta có thể tiếp thu từ các giáo trình văn học của Nga xuất bản mấy thập niên qua và cũng không xa lạ với các giáo trình của ta trong thời kỳ Đổi mới.

Vấn đề thứ tư sẽ nâng cao tính hiện đại của LLVH: ở đây ta có thể viện dẫn đến nhiều luận điểm của các nhà ngôn ngữ học, phong cách học và thi pháp học để làm rõ đặc trưng của văn học với tư cách là nghệ thuật ngôn từ. Việc giới thiệu F. de Saussure, R. Jakobson, các trường phái hình thức luận, cấu trúc luận được đẩy mạnh trong những năm gần đây là điều kiện thuận lợi để triển khai vấn đề này, tuy đã được đề cập trong các giáo trình trước, nhưng cần được nhận thức sâu hơn trong người dạy và người học [2].

         Về nghề văn, các giáo trình hiện nay của chúng ta đã đi sâu làm rõ nhà văn như là chủ thể sáng tạo văn học, các khái niệm cá tính sáng tạo, phong cách, tâm lý sáng tạo văn học và lao động của nhà văn. Ở một phía khác, các chuyên gia về mỹ học tiếp nhận ở nước ta tuy ít nhưng có thực học đã giúp ích rất nhiều cho việc biên soạn và giảng dạy phần lý luận về người đọc.

        Theo chúng tôi, phần đổi mới rõ nhất trong giáo trình LLVH hiện nay là phần viết về tác phẩm văn học như một cấu trúc nghệ thuật trong tính chỉnh thể của nó. Đó là nhờ học tập những thành tựu của thi pháp học, tự sự học… Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng nên cân nhắc khi vận dụng một số khái niệm không có ý nghĩa phổ biến trong việc phân tích tác phẩm. Chẳng hạn, khái niệm "quan niệm nghệ thuật về con người", trong tiếng Việt, dễ gây nhầm lẫn với khái niệm "quan điểm nghệ thuật". Trong tinh thần của M. Bakhtin, có lẽ khái niệm này chỉ nên vận dụng vào tác phẩm của những nhà văn lớn như F. Rabelais, F. Dostoievski… Gần đây, ở ta, có một số nhà nghiên cứu lại sử dụng khái niệm này theo hàm nghĩa của khái niệm "điểm nhìn nghệ thuật" (point of view) như điểm xuất phát từ vị trí của người trần thuật trong tương quan với nhân vật vốn chỉ liên quan đến văn xuôi hư cấu mà thôi. Vậy mà hiện nay trong nhiều công trình nghiên cứu, nhất là trong các luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, khái niệm này được áp dụng đại trà cho các nhà văn – lớn cũng như trung bình, và tác phẩm – văn xuôi cũng như thơ.

Theo sự cảm nhận của một số đồng nghiệp cũng như của bản thân chúng tôi, phần gây khó khăn và lúng túng nhất hiện nay là "Tiến trình văn học". Như trên đã nói, thuật ngữ này được khai sinh từ lý luận văn học Nga và việc luận giải cũng chưa thật rõ ràng. Nếu còn băn khoăn, ta có thể đặt tên phần này là "Các khuynh hướng và trào lưu văn học" (hay "Các hệ thống nghệ thuật" như cách dùng của I. Volkov). Nhưng điều đáng nói hơn cả là không thể chỉ dạy các trào lưu cổ điển, lãng mạn, hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa như những năm 70 về trước, mà cũng không thể đưa các trào lưu khác vào chung "các loại chủ nghĩa hiện đại" để tiện phê phán như những năm 80 về sau. Theo thiển ý, sinh viên cần được tìm hiểu một cách khách quan các trào lưu đã để lại dấu ấn trong tiến trình văn học, như những hiện tượng lịch sử có tính quy luật.

Cuối cùng, chúng tôi nghĩ giáo trình LLVH nên dành một chương về nghiên cứu và phê bình văn học, trong đó xác định đối tượng và nhiệm vụ các bộ môn hợp thành của khoa nghiên cứu văn học [3].

2.2. Về phương pháp giảng dạy và việc biên soạn giáo trình:

Trong việc giảng dạy LLVH, theo chúng tôi, bên cạnh việc đúc kết những thành tựu lý luận theo một hệ thống nhất quán, cần tạo điều kiện cho sinh viên tiếp xúc với các trường phái lý luận cụ thể thông qua việc đọc văn bản của những người sáng lập. Vì vậy, trong các giáo trình, nên có phần phụ lục in lại những trang văn tiêu biểu từ các lý thuyết văn học trên thế giới được dịch sang tiếng Việt. Tất nhiên, càng nên khuyến khích sinh viên đọc trực tiếp các lý thuyết từ nguyên bản. Và như vậy, người thầy giáo chỉ định hướng mà không thay thế sinh viên trong việc khám phá những tư tưởng lý luận của các học giả nổi tiếng.

         Khi viết giáo trình, ta thường đi theo phương pháp diễn dịch; nhưng khi dạy học lại nên theo phương pháp quy nạp. Người dạy học có thể xuất phát từ những hiện tượng văn học cụ thể để dẫn sinh viên đi đến những khái quát lý thuyết. Nhiều sách lý luận ở nước ngoài thường gắn một vấn đề lý luận văn học với một trích đoạn tác phẩm, từ đó phân tích để rút ra những kết luận tương ứng. Ngay khi dùng phương pháp diễn dịch, thì các thí dụ minh họa cũng nên đa dạng và thật sự tiêu biểu, không nên chỉ xoay quanh vài ba nền văn học hoặc vài ba trào lưu văn học mà thôi. Thiết nghĩ, trước khi bắt tay viết một giáo án hay giáo trình LLVH, bên cạnh đề cương cấu trúc và các luận điểm, cần có một đề cương các tác phẩm được phân tích để dẫn chứng.

Tính đến tình trạng tiếp thu không đều của sinh viên hiện nay, việc trình bày trong sách và trên lớp các vấn đề lý luận văn học cần thật khúc chiết, mạch lạc, tránh rườm và rối. Giáo trình khác sách chuyên khảo, không phải vì nó giản lược hơn mà vì nó cơ bản hơn. Chúng tôi quan niệm rằng thà cho sinh viên hiểu một số vấn đề cơ bản thôi mà hiểu cặn kẽ, "đến đầu đến đũa", còn hơn là cái gì cũng biết mà biết không tới nơi tới chốn. Về mặt kỹ thuật, các phương tiện giảng dạy hiện đại như overhead, projector không thể là điều xa lạ đối với người dạy lý luận. Chúng ta cũng nên tham khảo cách viết giáo trình mang tính thực tiễn cao của một số trường đại học nước ngoài: có lược thuật nội dung ở đầu mỗi chương, có tóm tắt đóng khung ở cuối mỗi chương, có những định nghĩa được in đậm, có sơ đồ và hình ảnh minh họa, có câu hỏi và thư mục vắn tắt cho từng phần, có phụ lục giải thích các thuật ngữ và chỉ dẫn chi tiết về tác gia và tác phẩm ở cuối sách. Bộ sách dành cho sinh viên của nhà xuất bản Ellipses (Paris) là một dẫn chứng.

Có nên tổ chức thi viết giáo trình LLVH như đề nghị của một số người nêu ra gần đây? Nước ta đã có nhiều cuộc thi văn học, có lẽ không nên thêm một cuộc thi nữa. Nhưng cần khuyến khích từng cơ sở đào tạo hay một nhóm giảng viên liên trường hợp tác biên soạn các bộ giáo trình khác nhau: có bộ lớn gồm nhiều tập, thực hiện trong nhiều năm; có bộ tinh giản nhưng cập nhật[4], để phổ biến rộng rãi cho cả giáo viên, sinh viên đại học và cao đẳng. Sau khi đã có một số giáo trình ra đời, cần có một hội đồng thẩm định và đánh giá để chọn được vài ba giáo trình chất lượng nhất dùng làm sách giáo khoa chính thức hay khuyến cáo các trường sử dụng. Chúng ta còn nghèo, không thể phân tán sức lực và thời gian. Hình như việc biên soạn giáo trình theo một vài dự án gần đây không được thông báo công khai để thu hút các chuyên gia, mà chỉ là việc riêng của một số người có quan hệ tốt với cơ quan chủ quản mà thôi.

3. Kết luận:

Sự phát triển của LLVH, trong một chừng mực nào đó, có thể được xem là thước đo sự phát triển của đời sống văn hóa và trình độ tư tưởng của xã hội nói chung. So sánh những giáo trình LLVH trong nhà trường nước ta hiện nay với các nước tiên tiến sẽ cho thấy chúng ta đang ở trình độ nào. Sinh viên khoa Văn các trường đại học của ta, sau khi tốt nghiệp, muốn theo đuổi chương trình sau đại học về LLVH ở nước ngoài có thể sẽ phải học lại và học thêm rất nhiều thứ, không chỉ ở Pháp, Mỹ mà cả ở Nga, Trung Quốc là những nước gần gũi với ta trước đây. Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc hiện nay lại giới thiệu nhiều lý thuyết văn học, kể cả trong nhà trường, trong khi vẫn khẳng định vai trò chủ đạo của tư tưởng mác-xít. Là vì chỉ có một không khí cởi mở như vậy mới tạo điều kiện cho những tìm tòi trong xã hội, mới nâng cao trình độ công chúng lên, mới làm phong phú đời sống tinh thần của đất nước, mới góp phần cho sự xuất hiện của những Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca…

Do những hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, chúng ta đã bỏ lỡ một số cơ hội để tạo ra những bước tiến trong công việc nghiên cứu LLVH ở nước ta. Năm 1975 khi đất nước thống nhất là một dịp tốt để chúng ta làm phong phú đời sống lý luận và văn hóa nói chung, nhưng rồi cấm vận, chiến tranh biên giới… khiến chúng ta không kịp sửa đổi những nhược điểm của nền lý luận thời chiến. Năm 1986 lại là một dịp may nữa, nhưng sự nghiệp đổi mới đã chưa phát triển được như chúng ta mong muốn. Giờ đây, bước qua thế kỷ 21 rồi, trong khi tiếp xúc với một thế giới đa dạng, nhiều nguồn thông tin phong phú qua sách báo, internet, chúng ta không thể theo đuổi một nền lý luận phong bế. Nói gì thì nói, trong vài ba thập niên nữa, nếu không khắc phục tình trạng chậm trễ của lý luận - phê bình văn học thời kỳ này, các thế hệ sau sẽ trách cứ chúng ta và lúc đó chúng ta không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh được nữa.

Những người thầy giáo dạy LLVH còn hạn chế về năng lực như chúng tôi không có tham vọng làm một điều gì to tát để nâng cao mặt bằng lý luận, mà chỉ có thể chuẩn bị cho những hạt mầm khi được gieo xuống sẽ có điều kiện thuận lợi để mọc thành cây xanh. Chúng tôi mong được ủng hộ để thực hiện điều tâm nguyện chính đáng của mình.

 

 

 

Tham luận tại Hội thảo “Lý luận – phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc”,

Hà Nội, tháng 3-2006.

Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4, tháng 4-2006.

 



[1] Trong bộ sách Teorija literatury (4 tập), do Yu. Borev chủ biên ( NXB IMLI RAN, Moskva, 2001-2005), tập IV lấy tên là Tiến trình văn học, nhưng trong tập I (Văn học), sau các chương Nhập môn lý luận văn học, Thế giới thi ca, Tính siêu nghệ thuật của văn học, Các phương pháp và phong cách văn học, Ngôn từ nghệ thuật là chương Về khái niệm phương pháp sáng tác. Trong Teorija literatury của V. E. Khalizev (NXB Đại học, Moskva, 1999), tác giả vẫn dùng khái niệm tiến trình văn học, nhưng đặt tên chương cuối là Các quy luật phát triển của văn học.

 

[2] Sách Nguyên lý văn học của Đồng Học Văn và Trương Vĩnh Cương (NXB Đại học Bắc Kinh, 2001) dành hẳn một chương cho vấn đề Văn bản văn học và giải mã văn bản.

 

[3] Chương này có thể tiếp thu kinh nghiệm từ các sách Lược khảo văn học (Tập 3: Nghiên cứu và phê bình văn học )của Nguyễn Văn Trung (NXB Nam Sơn, Sài Gòn, 1968); Theory of literature của R. Wellek và A. Warren (NXB Penguin Books, 1956); Théorie de la litérature do A. Kibédi Varga chủ biên (NXB Picard, Paris, 1981).

 

[4] Tương tự như các sách Literary Theory. A very short introduction của Jonathan Culler (Oxford University Press, 1997); Literary Theory. An introduction của Terry Eagleton (The University of Minnesota Press, 2001); Beginning Theory. An introduction to literary and cultural theory của Peter Barry (Manchester University Press, 2002).

 

Cột mốc 30-4-1975 tạo ra dấu ấn và thay đổi mạnh mẽ không chỉ với dòng chảy lịch sử dân tộc mà còn ở tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn chương của vùng đất ngày nay mang tên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc - Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Sự hợp lưu đặc biệt của những tài năng văn chương từ lực lượng đi tập kết miền Bắc về, đến lực lượng từ chiến khu ra, và cả những gương mặt nổi bật của văn đàn tại chỗ, đã làm nên một diện mạo văn chương độc đáo cho TPHCM.

20250519

Các đại biểu: Phan An, Nguyễn Khắc Thuần, Phan Xuân Biên, Nguyễn Văn Sơn (hàng trên, từ phải qua); Trần Ấm, Trần Thị Thắng, Hà Phương (hàng dưới, từ phải qua) tại Hội nghị Văn nghệ Sài Gòn - Gia Định năm 1973. Ảnh: Tư liệu từ nhà văn Trần Thị Thắng

Dấu ấn mang tên Văn nghệ giải phóng

Nhắc đến dấu ấn văn chương TPHCM những năm đầu sau giải phóng không thể không nhắc đến vai trò của tờ Văn nghệ giải phóng - mạch nguồn tiếp nối, tập hợp những trang viết và những tên tuổi nổi bật từ chiến khu về, góp phần định hình nên dòng chảy văn chương của TPHCM có lẽ là cho mãi đến hôm nay.

Chúng tôi tìm đến nhà thơ Hoài Vũ (89 tuổi, hiện cư trú tại phường Bình Trưng Tây, TP Thủ Đức, TPHCM), người hiếm hoi còn lại của lớp văn nghệ sĩ về từ chiến khu, từng công tác ở Báo Văn nghệ giải phóng. Theo chia sẻ của nhà thơ Hoài Vũ, ngày 15-7-1961, Hội Văn nghệ giải phóng được ra đời, Báo Văn nghệ giải phóng cũng được hình thành trong thời điểm này. Vào năm 1963, từ miền Bắc, ông cùng một số văn nghệ sĩ vượt Trường Sơn vào Nam. Đi gần 4 tháng ròng thì có mặt tại Trung ương Cục, ở đây, ông trở thành phóng viên chiến trường của Báo Văn nghệ giải phóng tại căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh).

Sau chiến thắng 30-4-1975, hầu hết các lực lượng, trong đó có đội ngũ văn nghệ sĩ trong chiến khu, đều có mặt ở thành phố. Tháng 5-1975, đội ngũ thực hiện Báo Văn nghệ giải phóng được khẩn trương thiết lập, tòa soạn đặt tại số 190 đường Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Nhà thơ Hoài Vũ (lúc đó là Tổng Biên tập Báo Văn nghệ giải phóng, sau là Phó Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng) kể lại, thời điểm đó, ông và mọi người nhận được nhiệm vụ của ông Trần Bạch Đằng (lúc đó là Phó Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam) giao: “Bất cứ giá nào trong tháng 5 phải ra Báo Văn nghệ giải phóng cho được”.

Tuy nhiên, vì điều kiện hoàn cảnh thời điểm đó gặp nhiều khó khăn nên phải đến ngày 28-5-1975, số 49 Báo Văn nghệ giải phóng mới được in xong. Báo dày 24 trang, ngoài bìa có hình Bác Hồ đang vẫy tay cùng loạt bài hết sức giá trị: Kỷ nguyên toàn thịnh của nền văn học nghệ thuật chân chính bắt đầu của ông Trần Bạch Đằng (ký tên là Trần Quang); thơ có: Tố Hữu, Giang Nam, Thu Bồn, Chim Trắng, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên; bút ký có: Nguyễn Văn Bổng, Thép Mới, Phan Tứ…

“Đó là số báo rất đặc biệt khi có sự tham gia của đông đảo văn nghệ sĩ miền Nam lẫn miền Bắc. Lúc đó, anh em văn nghệ sĩ miền Bắc gửi bài vở vào để hưởng ứng chào mừng cách mạng miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong cuộc đời làm báo, chưa bao giờ tôi có được hạnh phúc của nghề báo giống như lúc làm Báo Văn nghệ giải phóng. Số đầu tiên in 100.000 bản, những số tiếp theo vẫn duy trì được số lượng phát hành như vậy. Báo phát hành trong Nam ngoài Bắc, tạo tiếng vang rất lớn”, nhà thơ Hoài Vũ chia sẻ.

Báo Văn nghệ giải phóng hoạt động sôi nổi và mạnh mẽ, trở thành một trong những diễn đàn chính của giới văn chương thời bấy giờ. Đến năm 1977, báo hợp nhất với Báo Văn nghệ trung ương. Sau 16 năm ra đời và phát triển, Báo Văn nghệ giải phóng đã quy tụ được một lực lượng tác giả đông đảo với nhiều tác phẩm có chất lượng, phản ánh một thời kỳ hào hùng của lịch sử dân tộc.

Nhà văn Thạch Cương (87 tuổi, tên thật là Đặng Đức Thưởng) cũng là người hiếm hoi còn lại của lớp văn nghệ sĩ về từ chiến khu. Sau năm 1975, ông về công tác tại Báo Văn nghệ giải phóng trong vai trò Trưởng ban Văn xuôi. Đến bây giờ, trong ngôi nhà nằm bên cạnh chợ Hạnh Thông Tây (quận Gò Vấp, TPHCM), nhà văn Thạch Cương vẫn còn giữ những tờ Văn nghệ giải phóng in trong năm 1976 như một báu vật. Lần giở những trang báo cũ này mới thấy rằng, những năm đầu sau giải phóng, khi thành phố còn rất nhiều khó khăn, lớp nhà văn nhà thơ đã cùng sát cánh với thành phố, cùng nhau cầm bút và sáng tác nên những tác phẩm có giá trị.

CN3a.jpg

Kết thúc Hội nghị Văn nghệ Sài Gòn - Gia Định vào tháng 8-1973, các nhà văn nhà thơ cùng đồng chí Mai Chí Thọ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, chụp ảnh trên miệng hố bom, thể hiện tinh thần văn hóa văn nghệ vươn lên từ những sự tàn phá hủy diệt. Ảnh tư liệu từ nhà văn Trần Thị Thắng

 

Hội tụ những nguồn lực phong phú

Những năm đầu sau giải phóng, khi thành phố còn rất nhiều khó khăn, lớp nhà văn nhà thơ đã sát cánh cùng thành phố, thích nghi với cuộc sống mới để cầm bút và sáng tác nên những tác phẩm có giá trị. Đó cũng là một cách đóng góp cho thành phố hãy còn non trẻ. Nhờ vậy, trong giai đoạn này, văn học TPHCM thực sự sôi động khi hội tụ nguồn lực phong phú: từ lực lượng đi tập kết ngoài Bắc về như Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Bảo Định Giang, Chế Lan Viên, Trần Thanh Đạm, Trần Thanh Giao... đến lực lượng từ chiến khu về như Chim Trắng, Viễn Phương, Giang Nam, Hoài Vũ, Lê Văn Thảo, Dương Trọng Dật, Vũ Ân Thy, Trần Thị Thắng…; cộng thêm lực lượng tại chỗ như Sơn Nam, Vũ Hạnh, Bình Nguyên Lộc...

Sự hội tụ này đã mang đến nhiều tác phẩm được dư luận chú ý như: Miền sóng vỗ (Anh Đức), Người con đi xa (Nguyễn Quang Sáng), Chân dung một quản đốc (Nguyễn Hiểu Trường - Trần Bạch Đằng), Quê hương địa đạo (Viễn Phương), Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải), Ván bài lật ngửa (Nguyễn Trương Thiên Lý - Trần Bạch Đằng)… Bên cạnh đó còn hình thành một đội ngũ lý luận phê bình hùng hậu. Nhiều công trình của các tác giả Lê Đình Kỵ, Trần Thanh Đạm, Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn, Trần Hữu Tá… bám sát hơi thở văn chương TPHCM giai đoạn này, được bạn đọc chú ý.

PGS-TS Võ Văn Nhơn, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình - Hội Nhà văn TPHCM, nhớ lại cảm giác háo hức khi được đọc những bài thơ, truyện dài, truyện ngắn của những cây bút trong giai đoạn này như Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Giang Nam, Viễn Phương, Lê Văn Thảo... Trong đó, thật ấn tượng là nhà thơ Chế Lan Viên với những tập thơ như Ngày vĩ đại, Hoa trước lăng Người, Dải đất vùng trời; nhà văn Nguyễn Khải với tác phẩm Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người và nhà văn Nguyễn Quang Sáng với các tác phẩm giàu chất kịch, chất điện ảnh.

“Họ mang đến cho văn chương TPHCM giai đoạn này một sự mới mẻ, ấn tượng. Chính những tác phẩm đó của họ giúp bạn đọc tin tưởng vào cách mạng, tin tưởng vào đời sống. Những tác phẩm của thế hệ này góp phần giúp văn chương TPHCM có màu sắc mới mẻ. Ngoài ra, họ còn là nền tảng để sau này chúng ta có một thế hệ trẻ xông xáo với Nguyễn Đông Thức, Lý Lan, Lê Thị Kim, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Nhật Ánh, Bùi Chí Vinh, Cao Vũ Huy Miên, Phạm Sỹ Sáu…”, PGS-TS Võ Văn Nhơn cho biết thêm. 

Bằng đóng góp của mình, nhiều nhà văn, nhà thơ của TPHCM đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh với những giải thưởng danh giá như Giải thưởng Hồ Chí Minh dành cho những tên tuổi như Trần Văn Giàu, Trần Hữu Trang, Chế Lan Viên, Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi, Lê Văn Thảo; hay Giải thưởng Nhà nước dành cho những tác giả như Viễn Phương, Lý Văn Sâm, Giang Nam, Trần Bạch Đằng, Bảo Định Giang, Lê Vĩnh Hòa, Thu Bồn, Lê Đình Kỵ, Lê Anh Xuân, Lê Văn Thảo, Vũ Thị Thường, Vũ Hạnh, Lê Ngọc Trà, Lưu Trùng Dương, Chim Trắng, Mai Quốc Liên, Trần Văn Tuấn, Ngô Y Linh, Lê Duy Hạnh, Minh Khoa, Phi Hùng…

Một dấu ấn đặc biệt của văn chương TPHCM trong những năm đầu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là sự ra đời của ấn phẩm Văn thơ do Hội Văn nghệ giải phóng phát hành vào tháng 1-1977. Đây là lần đầu tiên có một ấn phẩm quy tụ các lực lượng sáng tác của TPHCM lúc bấy giờ như một món quà để chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (diễn ra vào tháng 12-1976). Ấn phẩm in 10.000 cuốn, đánh dấu một sự kiện của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” đối với những người yêu văn chương của TPHCM.

Hồ Sơn

Nguồn: Sài Gòn giải phóng, ngày 11.5.2025.

Thông tin truy cập

70672435
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
2735
17126
70672435

Đang có 288 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website