Lời vào đề

Tình cờ thấy cuốn Bức tranh thành thị của tác giả Đặng Thị Thanh Phương, giấy phép năm 1949, in năm 1950, bèn đọc ngấu nghiến và thấy mình ngày trước thiếu sót khi viết cuốn Văn chương tranh đấu miền Nam, Kỷ Nguyên Saigòn, 1969, đã không biết có cuốn nầy nên loại bỏ tác giả Đặng Thị Thanh Phương không giới thiệu vì cho rằng những truyện dài kia của bà không đạt, và không thấy phần đóng góp trong xu hướng văn chương nổi bật của miền Nam thời đó.

Tranh đấu chống Pháp có mặt trực diện là hầu hết những tác giả đã được tôi nói đến trong cuốn sách đầu tay của mình. Nhưng tranh đấu bàng diện cũng nên được nói tới, đó là những tác giả như Đặng Thị Thanh Phương, Nhất Tâm Nguyễn Bá Thế và những nhà văn nhà thơ có tác phẩm xuất hiện trong các tạp chí Thế Giới, Việt Báo, chẳng hạn như Vũ Hầu, Ái Lan và những tác giả in được chỉ 1 tập thơ và không có điều kiện sinh hoạt văn nghệ với những tạp chí hay nhựt báo thời đó như Phạm Từ Quyên, Ngụy Văn Thông, Vĩnh Sanh, Nhiêu Ân, Trúc Chi, Thanh Nhã… Chỉ in một thi tập nên tên tuổi ít được biết tới. Thiệt là bất công nếu chúng ta bỏ qua những tên được kể trên khi nghiên cứu về nền văn chương Nam Bộ 1949-50. Bài viết sau đây như một bổ khuyết cần thiết và cũng gián tiếp trả lời một câu hỏi từ một nhà giáo nghiên cứu văn học rằng có thêm tác giả nào nữa cho những tên tuổi đã được nhắc đến trong cuốn Văn chương tranh đấu miền Nam hay không?

Tác giả Đặng Thị Thanh Phương có tác phẩm năm 1950, trẻ nhứt lúc đó nữ sĩ cũng đã hai mươi, nghĩ là bà sanh khoảng 1920-1930, vì thế cho nên những năm cuối thế kỷ trước ta còn thấy tên Đặng Thị Thanh Phương xuất hiện trên vài tạp chí ở Âu Châu và Canada. (Nếu hai Đặng Thị Thanh Phương xuất hiện ở Việt Nam ngày trước và ngoại quốc gần đây là một!).

Mong nhận được chi tiết về tiểu sử của bà Đặng Thị Thanh Phương qua con cháu của bà. Xin coi email ở cuối bài.

Giờ xin giới thiệu Bức tranh thành thị.

Tác giả chỉ muốn cuốn sách của mình như tập hợp những bài phóng sự ngắn vẽ các cảnh đời bất hạnh bằng các chấm phá về đời sống đô thành Sài Gòn vào thời gian đặc biệt những năm 1948-1949. Bà không bận tâm viết những truyện ngắn bằng hư cấu dầu là nho nhỏ, hoặc tả cảnh vật, tâm trạng của nhân vật, hay tổng kết lại thành một cuốn truyện dài, mà chỉ vẽ phác, đơn sơ vài ba nét bằng lời văn thiệt sự ngoài đời, không trau chuốt, miễn diễn tả được điều bà muốn đưa ra cho người đọc: Sài Gòn còn quá nhiều người nghèo khổ, Sài Gòn cũng đương ẩn hiện những vọng hướng ngoài xa xăm kia.

Cuốn sách gồm mười ba mẩu chuyện nhỏ với lời nói đầu và một bài tổng kết cho thấy bà xót ruột vì cái Sài Gòn hoa lệ bề ngoài, cái gọi là hòn ngọc Viễn Đông kia cũng là chỗ chứa những cảnh đời đáng thương.

Tựa

Nắng rực rỡ lắm, xe pháo ồn áo trong các ngả đường của thành phố. Người qua lại trên các vỉa hè đông như hội. Thật là tấp nập!

Tất cả một họa phẩm đầy đủ màu sắc linh động trước mắt tôi, gió thổi, bụi của chốn thị thành vùng bay lộn lên, quyện vào nhịp bước của giai nhân, một màu trắng nhẹ như tơ.

Biết bao duyên dáng, thành thị như cô gái làm đỏm, luôn luôn khoe bộ mặt niềm nở chờ đón tất cả mọi người, tất cả khách của tứ phương.

Nhưng sau bức tranh hỗn độn màu sắc ấy, vẫn luôn luôn có một khung cảnh thật của đời sống thị thành.

Cái khung cảnh thật ấy đã luôn luôn làm cho chúng ta phải nghĩ ngợi, dù chỉ thoáng qua trong một phút. Nhưng tất cả những cảnh sống ô hợp, thiếu thốn và giả dối ở đây đã làm cho chúng ta có lẽ không bao giờ quên được cái khoảng tối tăm của xã hội.

Và, biết bao nhiêu nghẹn ngào khi chúng ta thấy rằng chung quanh chúng ta, mọi người còn đang quằn quại đang ngoi ngóp trong cái bóng tối chôn vùi của xã hội ấy.

… Nhưng rồi, giữa chúng ta, ai cũng như ai, chỉ đành lặng lẽ thở dài, hầu như chôn sâu những đắng cay ấy ở một đáy lòng…

Thanh Phương

 

1. Một tà áo màu. Cuộc nói chuyện giữa hai người bạn. Một có lẽ là tác giả, một là nữ tư chức lương công nhựt thiếu thốn, tiền lương thường chỉ đủ xây xài lây lất tới 20 tây, những ngày cuối tháng phải vay mượn hay cầm cố món gì đó mong có chút tiền giải quyết cấp thời. Người đọc không thấy chồng chị đâu, chỉ thấy đứa con nhỏ chừng 5 tuổi, mẹ nó khi đi làm phải đem gởi cho hàng xóm dầu nó đương rất buồn ngủ. Chuyện thương tâm và trái nghịch là người phụ nữ tư chức kia khổ như vậy nhưng khi đi tới sở phải có chút phấn son, có cái áo dài cho tươm tất. Và tác giả nói lên tâm trạng mình: Dưới con gió Hè, tà áo của Liên bay lên một cách nhẹ nhàng khả ái. Tôi chợt nhớ đến những tà áo màu mà thường ngày tôi vẫn gặp nhan nhản trong thành phố. Thốt nhiên tôi thở dài: Phải, biết đâu những tà áo màu đẹp đẽ ấy và những bộ mặt phấn son duyên dáng ấy chả đang che đậy cho một cuộc đời cần lao thiếu thốn?!! (trang 12)

2. Chiếc nhẫn cuối cùng. Khanh, với vai tác giả, tiếp người bạn gái nghèo, đến than thở vì con và mẹ bịnh mà không có tiền lo thuốc men, lại không được nghỉ làm để chăm sóc. Cuối cùng người bạn đưa cho Khanh chiếc nhẫn vàng - chắc là kỷ vật ngày cưới - nhờ bán giùm, Khanh nói như vậy thì phụ lòng người đương ở xa. Cách nói ưỡm ờ bóng gió của hai người hé cho người đọc chúng ta biết người ở xa đó là người đương ở trong bưng, đương chiến đấu chống Pháp. Viết ngắn nhưng hé lộ nhiều, phù hợp với khuynh hướng văn chương chung lúc đó. Đoạn tiêu biểu nhứt trong truyện:

…. Chị có biết ai mua , bán giùm tôi.

Lòng se lại, tôi gạt tay bạn.

- Biết người ở phương xa sống hay chết mà nỡ hủy bỏ một kỷ niệm duy nhất ấy?

Mắt rướm lệ, Khanh đứng dậy lảo đảo nàng nói qua gượng thổn thức:

- Chính vì nghĩ đến người ở phương xa cho nên tôi vẫn cố gắng… tôi vẫn tìm an ủi ở một ngày mai sum họp, nhưng quả thật tôi đã chán ghét cái cảnh sống giả dối và bóc lột ở chốn phồn hoa nầy lắm rồi. (trang 15)

3. Sen trên vũng bùn. Cũng là cảnh nghèo của một người đàn bà phải chật vật, bương chải buôn bán nhỏ để nuôi con nhưng bị đuổi xô, bị trời mưa sách tập giấy bút học trò món hàng chị bán bị ướt, hết vốn. Cũng như bài trên, tác giá hé lộ cho thấy người đàn bà đó đáng kính vì: Nếu trước kia chị cũng như những người đàn bà tầm thường khác quên đi tất cả những hành vi cao cả của một người chồng đã chết vì nghĩa vụ chị bước đi một bước nữa trong lúc tuổi còn xuân thì bây giờ chắc chị đã ở địa vị một người trưởng giả như các bạn của chị rồi… (trang 20)

4. Vì một người con. Về chuyện một người đàn bà nghèo sống bằng nghề làm tua ren khăn trải bàn. Giá công bèo, bà sống khó khăn nhưng sống để kiếm tiền gởi ra ngoài kia cho con. Con bà là ai? Hình tượng người con độc giả sẽ hiểu qua lời đối thoại của bà ấy với tác giả.

- Một mình tôi thì chả cần, nhưng vì tôi cũng muốn cố gắng làm lấy chút tiền, cốt ý để dành lâu lâu có dịp thuận tiện gửi cho con tôi; thế thôi.

Câu nói của bà chợt nhắc tôi nhớ tới người con trai duy nhứt của bà đã xa nhà từ mấy năm nay…

… Khi bà tiển tôi ra cửa, tôi hỏi vói lại một câu:

- Bà sống như thế này có khổ không nhỉ?

Nhưng bà tươi nét mặt, vuốt những sợi tóc đã đốm sương và đáp:

- Kể thì cũng cực nhưng không mấy buồn vì tôi còn mong đến ngày về của con!... (trang 25)

5. Một buổi trưa Hè. Một người đàn bà nghèo đi bán cà lem cây dạo, mỗi trưa phải ghé lại một chỗ kín đáo trong công viên để cho con bú, đứa nhỏ do chị nó ẵm ra. Ngày nào cũng vậy khiến tác giả để ý theo dõi và nói chuyện để tìm hiểu. Ba mẹ con sống sao đủ với tiền lời bán dạo như vậy nên rất cực khổ. chị khổ nhưng khi nghe hỏi đến người chồng thì chị tủm tỉm cười, ngập ngừng nhưng sung sướng. Cũng là cách dựng truyện như toàn thể cuốn sách, Đặng Thị Thanh Phương giới thiệu gián tiếp về người chồng của thiếu phụ bán cà lem dạo nầy.

…Anh ấy có việc gấp phải đi xa… Vì bây giờ vắng anh ấy nên tôi phải gần những đứa nhỏ nầy nhiều hơn!...

Tôi đứng ngây người như để lắng nghe cho hết câu nói tuy mộc mạc nhưng có lẽ lo cả một niềm âu yếm và ý nghĩa thốt ra ở miệng một người đàn bà nghèo khổ mà cao quý của đất Việt! (trang 32)

6. Những giọt mồ hôi. Một người đàn bà phụ hồ nghèo, chồng làm thợ điện bị điện giựt chết, nhà bị đuổi, tới xin mượn người thầu khoán chút tiền thì bị từ chối. Chị ta đi ra cửa kéo cái khăn rằn lên lau mặt, tác giả thú nhận là mình không biết chị ta lau mồ hôi hay lau nước mắt tủi nhục của thân phận.

Thoáng nhìn, tôi nhận thấy nét mặt chị đượm một vẻ đắng cay vô cùng. Chị rút chiếc khăn rằng xuống lau lia lịa lên mặt. Tôi không hiểu chị lau những giọt mồ hôi lao khổ hay là những giọt nước mắt tủi cực khóc một cuộc đời tăm tối khốn khổ mà luôn luôn bị tất cả mọi người bỏ quên!... (trang 37)

7. Tiếng sáo trúc. Cặp vợ chồng nghèo sống bằng nghề thổi sáo và hát dạo ở các tiệm ăn. Thực khách thường chẳng buồn nghe. Tiếng sáo ai oán, tiếng ca thê lương bay vô hư không. Và rồi hai năm sau người đàn ông xuống cấp hơn, không còn người vợ đi theo mà phải ôm đứa con nhỏ, tiếng sáo anh trở thàmh tiếng sáo thổi lên để cám ơn ai đó bố thí cho mình vì giọng ca bên đời anh đã không còn. Câu chuyện phơi bày nỗi cơ cực của người đàn ông kia nhưng cũng cho thấy tình cha con cao trọng mà tác giả chỉ phớt qua bằng một vài ba câu đối thoại.

Lúc vợ tôi mới chết, nó còn nhỏ quá nên tôi phải đem cho nhà mồ côi nuôi… nhưng sau vì thương mẹ nó quá, tôi phải xin nó ra để nuôi lấy! Nghèo đói quá nhưng tôi chắc rằng tôi không thể xa nó được.

Bây giờ không thể kiếm ăn bằng nghề thổi sáo này nữa, tôi đành phải đi hành khất… tuy tôi cũng biết như thế này là nhục nhã lắm!... (trang 43)

8. Đứa bé đánh giày. Cuộc đời một đứa bé đánh giày. Vì sao nó phải ra thân như vậy? Cha nó bị bố bắt. Người ta không cho nó mướn nhà nữa, nó không có thân nhơn nên phải kiếm cách tự sống. Cuối truyện tác giả thán:

Đêm hôm ấy trời mưa to quá, gió ở đâu vứt lên từng cơn lạnh buốt. Thốt nhiên, nhìn mưa rơi, tôi chợt nhớ tới những đứa trẻ ‘đầu đường xó chợ’ ấy, không biết chúng đã ẩn núp ở đâu một đêm mưa lạnh lẽo như đêm nay? Và những tấm thân nhỏ bé ấy, những linh hồn cô đơn ấy, không biết chúng có thèm thuồng một cảnh êm đềm dưới một cái nhà ấm áp không? (trang 50)

9. Gánh cỏ xanh. Cảnh đời nghèo của một đứa nhỏ mồ côi, kiếm sống bằng cách cắt cỏ bán cho người đánh xe ngựa nhưng nó cũng chật vật và phải tranh đấu nhiều vì rất khó kiếm chỗ có cỏ để cắt. Xin trích vài ba câu cuối truyện. Cách nói chuyện của thằng nhỏ và tiếng ‘tụi’ nó xài, để thay tiếng mầy nhưng có vẻ thân thương nhiều, gần 80 năm nay tôi, Nguyễn Văn Sâm, mới thấy lại.

-Vậy nhà em không có ai à?

Nó nói một cách uể oải:

- Hổng ai hết, mình tui ở đậu với người ta!

- Cha mẹ em đâu?

Nó đáp một cách cộc lốc:

- Chết hết rồi!

Ngồi một lát, nó giận dũi đứng dậy, nói một mình:

- Thứ cỏ hoang đó mà, xin vô cắt dùm cho sạch cũng làm phách, Phải họ chịu, họ có sân bảnh mà mình cũng có tiền xài phải sướng hông?

Và nó nhăn mặt, xoa vào chỗ tay bị đứt, nói một câu rất ý nhị:

- Đừng hành nữa nhe tụi, bộ tính hổng cho người ta đi kiếm cơm sao? (trang 55)

10. Một tối mưa. Chuyện về mấy đứa nhỏ đêm mưa đi bắt cóc bán để kiếm tiền cơm cho ngày mai. Đời nghèo khổ, được một con cóc thì mừng quính, nghĩ tới niềm vui bán lấy tiền hay nấu cháu ăn đỡ đói dễ ngủ để sáng mai còn đi lục thùng rác kiếm lon sữa bò bán kiếm tiền sống qua ngày. Vẫn theo kỹ thuật cũ, bà Đặng Thị Thanh Phương cuối truyện đưa dòng suy nghĩ của mình đi xa.

- Ê bây, về bán “đại” món nầy đặng mai còn thức sớm đi mò lon sữa bò chớ?

Đứa khác đáp:

- Đói quá xá, ngủ gì nổi! Đi kiếm gạo nấu cháo ăn đi!...

Những tiếng nói chuyện nhỏ dần, chúng đã đi cách xa tôi hàng chục thước. Tôi ngơ ngẩn đứng nhìn theo những chấm lửa đỏ mỗi lúc một khuất dần,…

Mưa vẫn đều đều, từng giọt theo mái nhà rơi xuống thềm gạch ti tách, đằng xa, trong khoảng tối tăm của một đêm mưa dầm, nào ai có biết đâu, đang có những đứa trẻ bơ vơ, không nhà cửa không kẻ thân thuộc sống bằng tất cả những sinh kế kỳ lạ của xã hội!... (trang 61)

11. Dưới cột đèn đêm. Ba mẹ con nghèo không có chỗ ngủ, bị ông trật tự đuổi đá vì đã làm xấu thành phố.

Bên ngoài thành phố, những chiếc xe lộng lẫy, vẫn thi nhau lăn bánh trên giải đường thênh thang, và gần đây, những quán rượu vẫn tưng bừng trong tiếng cười đùa của dạ khách, và trên những từng lầu cao, từ bao khung cửa sổ vẫn tỏa ánh đèn ấm áp…

Ngoài trời, đêm mỗi lúc một yên lặng, nhưng trong tĩnh mịch của đêm thành thị ấy, vẫn còn bao nhiêu những tiếng thổn thức của đám dân đầu đường xó chợ mà cuộc đời của họ luôn luôn bị đè nén giữa bao nhiêu gọng kềm của xã hội… (trang 65)

12. Những chiều thành thị. Tác giả luận về hai đoàn người buổi chiều ở thành phố, một khốn khổ mệt mỏi đi mau ra ngoại ô về nhà sau một ngày mệt nhọc làm việc, một sung sướng nhởn nhơ đi vô thành phố để hưởng nhưng thú vui về đêm.

13. Những chùm me. Những đứa nhỏ hái me, bị bồi trong căn biệt thự gần đó ra đuổi đánh, đạp nát hết những chiến lợi phẩm của chúng…

Bỗng cùng lúc ấy, cánh cổng một tòa biệt thự vụt mở toang, và nhanh như chớp, một bác bồi ở trong nhà chạy ra; bác cầm ở tay một chiếc roi đánh ngựa, nhẩy bổ vào đám trẻ khốn nạn ấy, vừa quất, vừa chửi rủa om xòm.

Trong lúc bất ngờ, lũ trẻ hoảng hốt xô nhau chạy tản mác, bỏ lại ở giữa đàng những chùm me mà chúng đã giành giựt với nhau ban nãy.

Đuổi bọn trẻ xong bác bồi trở về chỗ cũ và giận dữ lấy chân giẫm nát lên những chùm me nõn nà và hầm hừ một lát rồi quay trở vào… (trang 71)

14. Và đây, một nét phác cuối cùng. Tác giả nhắc là hai cảnh đời đã viết ở trên.

 

***

Nhìn chung Đặng Thị Thanh Phương vẻ phác bộ mặt tạo nên điểm đen u ám của đô thành Sài Gòn năm 1948, 1949. Họ là những phụ nữ nghèo, những em bé đánh giày, mấy đứa trẻ ăn xin nơi nhà hàng kiếm chút cơm dư canh cặn, người bán cà lem cây, thiếm bán giấy mực, mấy đứa nhỏ hái me, thằng nhỏ cắt cỏ, mấy em nhỏ dầm mưa bắt cóc nhái, người thổi sáo ở các quán ăn, thiếu phụ làm tua ren khăn bàn… Tất cả đều khổ sở vì tiền kiếm được không đủ ăn cho gia đình nhỏ của họ. Có nhiều nguyên nhơn để họ lâm vô tình cảnh đó, tụi nhỏ thì do cha mẹ chết, không nơi nương dựa, đàn bà thì chồng đã quá cố hay đương đi làm nghĩa vụ thiêng liêng. Điều đặc biệt là tất cả đều lăn xả ra ngoài đời tìm cách sống, tuy khó khăn nhưng lương thiện. Người có con hay chồng vắng mặt có lý do chánh đáng thì lòng hãnh diện dâng tràn khi có ai nhắc tới nhắc tới những người ở phương xa đó. Nói chung họ nghèo khổ do hoàn cảnh, nhưng nhân vật của Đặng Thị Thanh Phương đều có thiên lương, họ than thở nhưng an phận thủ thường, không chưởi trời trách đất cũng không nghĩ cách tranh đoạt của ai để thoát nghèo. Ta không thấy chuyện lường gạt, cướp giật, giết chóc ở đây. Cũng không thấy chánh quyền làng xã địa phương ậm oẹ, chèn ép. Xã hội thời Pháp thuộc, mặc dầu chiến tranh lảng vảng mà thanh bình cách gì, chẳng thấy bất công lớn, không nghe chuyện bị tước đoạt toàn bộ gia tài bằng những cơ chế, cũng chẳng có ai bị giam tù hơn một thập niên do phát biểu về cái xấu của người cầm quyền. Cũng chẳng có ai bị người của chánh quyền quyết đánh cho mầy bị bịnh hậu hay phải tự tử… Cuốn sách đáng coi vì được viết ra từ quan sát và từ thâm tâm của tác giả, không phải từ sự đặt hàng tuyên truyền như những cuốn sách xuất hiện do nhu cầu giai đoạn, in năm 1945, 1946 ở Hà Nội của Hội Văn Hóa Cứu Quốc ngày trước.

Tôi không cho sự mô tả trong tác phẩm của Đặng Thị Thanh Phương là tả chân xã hội gì gì hết. Đó là những chấm phá về cuộc đời từ những cái có thiệt. Có thể người đọc ngày nay không thấy hứng thứ vì nó chơn chất quá. Nhưng đó là ý hướng viết của tác giả. Một vài truyện ngắn của Lý Văn Sâm cũng nói về cảnh nghèo của Sài Gòn, như Ngoài mưa lạnh, Oan gia, Thèm một ngọn đèn… nhưng đã dùng sự kiện thấy được ngoài đời để nhào nặn thành những tác phẩm văn chương. Hai người hai con đường khác nhau. Một bên là chất liệu thô, một bên đã pha chế thành phẩm. Không có sự hay dở khi so sánh, chỉ có ý thích của người đọc để đánh giá theo chủ quan nhưng cả hai đều có khuynh hướng phơi bày một mặt gì đó bất toàn của xã hội. Dầu sao, nói về sự dám viết, dám phô bày sự bất cập, những tác giả thời nầy nói chung và Đặng Thị Thanh Phương nói riêng đều dám viết…

Tôi cho là cũng đáng đọc để suy nghĩ đoạn văn sau của Phan Tấn Hải có liên hệ chút ít với cuốn sách của bà Đặng Thị Thanh Phương:

Truyện Kiều kể về cuộc đời một người con gái xinh đẹp, đức hạnh, thông minh, đa cảm nhưng đã bị một xã hội vô luân vùi dập xuống bùn đen. Kiều phải tự bán mình để lấy tiền cứu cha mẹ, đi làm đĩ để giữ mạng sống, bị trao qua đổi lại như một món đồ chơi trong tay bọn quan lại và lũ “đại gia”. Chuyện ấy có xa lạ gì với xã hội chúng ta đang sống không? Không, tuyệt nhiên không. Ngày xưa chỉ có một Thúy Kiều, ngày nay là hàng ngàn hàng vạn. Thúy Kiều ở khắp nơi, Thúy Kiều kêu khóc trên mọi miền của đất nước chúng ta.

Cái xã hội mà Kiều sống, với “Người nách thước kẻ tay đao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”, với “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh”, với “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” với “Có ba trăm lạng việc này mới xong”; cái xã hội ấy thì có khác gì chốn ta đang sống đây, nếu có khác thì chẳng qua thời của Nguyễn chỉ một hai còn bây giờ thì nhan nhản, phủ kín mặt đất này. Có gì không phải mua bán chạy chọt, có gì không phải “trà nước, lót tay”; những nỗi oan khốc cứ từ trời giáng xuống, bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu phận người bị vứt ra lề đường…

Hãy lấy chính cuộc sống của các em học sinh, cuộc sống của cha mẹ các em, của gia đình các em, xóm giềng các em mà giúp chúng nhìn lại. Quay quắt, bơ phờ, đầu tắt mặt tối, bị móc túi, bị hà hiếp, bị bịt mồm; lo chạy cửa trên cửa dưới, lo đút cửa trong cửa ngoài… Rồi hãy giúp chúng hình dung ra tương lai cuộc đời đời chúng ở ngày mai khi phải sống trong một xã hội giả trá, hư ngụy, một xã hội vì tiền mà tán tận lương tâm, một xã hội dùng quyền mà hà hiếp đày đọa con người. Đó, đó chính là Truyện Kiều đó. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ chất liệu sinh động để minh họa cho văn học lại giàu có như thời đại chúng ta đang sống đâu, đừng lãng phí nó.

(Trích lại từ Phan Tấn Hải, bài ngày 20/7/21. Việt Báo online.)

Tóm lại, đọc cuốn phóng sự Bức tranh thành thị của Đặng Thị Thanh Phương, 1950, ta đắng lòng, nhưng đọc sự phân tích của Phan Tấn Hải về thời đại của Kiều ngày xưa và hoàn cảnh của các em học sinh ngày nay thì ta không những đắng lòng còn phải giơ tay lên than: Thua! Hết biết! Bó Tay! Nghĩa là tan nát cõi lòng luôn.

Vài giải thích cần thiết.

Ngày nay người thế hệ sau 1954 ít biết hay không biết về nhiều điều nói đến trong tác phẩm:

  1. Bố: Nhà cầm quyền Pháp thỉnh thoảng bố ráp một khu nào đó lùa hết đàn ông từ 18 tuổi trở lên về một địa điểm, chẳng hạn như sân trường học rồi cho một hai bao bố - người đã hoạt động và bị bắt từ trước, đầu bị trùm bằng cái bao bố, chỉ chừa ra hai mắt, nhìn mặt. Hễ ai bị bao bố gật đầu thì người nó bị coi là trước đây có liên hệ với bao bố, sẽ bị bắt để điều tra. Đời của người đó khổ từ đấy. Chuyện nầy xảy ra không biết bao nhiêu là oan ức vì bao bố sẽ bị đòn nếu không gật đầu người nào trong lần bố ráp đó nên thường gật đại gật đùa ai đó cho có. Chuyện về bao bố thấy nhiều của văn chương thời nầy.
  2. Kiếm lon sữa bò: Thời đó người mua ve chai thâu mua lon sữa bò đem về bán cho cắc chú. Họ lột giấy nhãn các hiệu sữa cao giá ra như sữa Con chim Nestlé, sữa Trái núi để dành bán lại cho người ta đem về thay nhãn những loại sữa rẻ tiền hơn, không có nhiều giá trị thương mãi để bán ra cho người tiêu thụ. Cái lon sữa bò được bán cho tiệm làm chao, hồi đó chao bán ra được đựng trong lon sữa bò.
  3. Cầm đồ: Tiệm cầm đồ bình dân, cầm bất cứ món gì họ thấy sau nầy bán ra được nếu chủ không chuộc. Cầm đồ mỗi tháng tiền lời là 10%. Quá ba tháng không chuộc thì kể như mất đồ cầm, nếu không tới đổi giấy. Đổi giấy là đóng tiền lời ba tháng, như vậy thì coi như mới cầm, đồ không bị mất có thể chuộc ra được. Nhiều người nghèo làm như vậy nhiều lần nhưng vẫn kiếm không được tiền chuộc được đành để mất đồ mà mình quí hay tiếc của vì trước đó cầm thấp giá.
  4. Hái me: Sài Gòn lúc đó có một khu rộng gần Sở Thú, quá bịnh viện Đồn Đất ngày nay có một khu cây trên lề đường người Pháp trồng toàn me, thập niên 50 đã trở thành cổ thụ, nhiều người leo lên hái bán cũng kiếm được chút đỉnh. Dĩ nhiên là thỉnh thoảng cũng có tai nạn do trợt tay trợt chưn hay do nhánh khô gãy khi bị leo trèo.
  5. Đất Hộ: Tức vùng Đa Kao ngày nay. Đường M: Nghĩ là đường Mitch cũ, ở trong vùng có nhiều cây me nói trên.

Nguyễn Văn Sâm

Victorville, CA, 7/20/1921

Phụ lục: Chuyện số X – MỘT TỐI MƯA

Ngoài ý nghĩa nội dung, bài văn còn đáng chú ý ở phần hình thức với những chữ dùng của mấy đứa nhỏ mà tác giả Đặng Thị Thanh Phương đã ghi lại trung thực như chữ đại, chữ lợi, chữ hỏng, chữ ăn thua giống gì, chữ chớ bao nhiêu… (NVS)

Trời đã bắt đầu tối hẳn, nhưng mưa vẫn chưa dứt cơn; thỉnh thoảng một luồng gió vút lên, đưa theo từng loạt nước mưa lún phún hắt vào nhà. Xa xa, bắt đầu vẳng lại những tiếng rền rỉ của loài ễnh ương. Ngoài đường, vắng bóng người qua lại, có chăng chỉ vài người đi xe đạp, chùm áo mưa tùm hụp, đạp vội vàng cho mau về đến nhà.

Tất cả cảnh vật như sợ giọt mưa đêm, ngại ngùng nép vào nhau. Vài gian nhà gần đấy, đã khép chặt đôi cánh cửa như để ngăn ngừa gió lạnh đừng lùa vào giữa những khung cảnh sum họp êm đềm của gia đình họ!

Bỗng từ đằng xa, thấp thoáng bốn, năm chấm lửa đỏ chập chờn đi tới, lúc ngừng lại, lúc tiến lên, tạt qua bên này một chút rồi lại khuất đi một chút để một phút sau mới lại hiện ra. Chúng ẩn hiện như con ma trơi. Nhưng một lát sau, khi những chấm lửa ấy tới gần, tôi mới nhận thực, thì ra đấy là một đám bốn, năm đứa nhỏ xách đèn đi bắt cóc.

Chúng đi lặng lẽ, vào những tối mưa dầm, đứa nào cũng cầm theo một chiếc đèn gió. Thỉnh thoảng chúng ngừng lại, soi đèn vào những hóc cây hoặc những lùm cỏ rậm rạp. Chúng có vẻ hình như luôn luôn rình rập những mô đất, những khoảng đường mà chúng vừa đi qua. Một vài đứa trong bọn đội trên đầu những chiếc nón lá rách bươm, có đứa để đầu bù xù như sẵn sàng hứng nước mưa, áo cũng tả tơi và cũn cỡn.

Chúng đeo cạnh sườn một chiếc giỏ nhỏ xíu kín miệng để đựng cóc. Vừa đi vừa vồ cóc, có khi nhằm chỗ có vũng nước, chúng nó cũng không từ, lội bì bõm, cần mò theo những nơi có tiếng ương ợp của cóc nhái. Mưa vẫn rơi và những giọt nước ấy lặng lẽ thấm vào mình chúng, có đứa yếu chịu lạnh, đã bắt đầu run, nó thu một tay qua ngực và lom khom đi cạnh các bạn nó. Chúng đi tản mát ra xa, lúc xúm lại gần nhau. Tò mò, tôi cũng đi theo bước chúng; thấy có bóng người lạ, một đứa trong bọn quay lại nhìn tôi.

Đi độ vài bước, một đứa nhỏ nhứt vồ được một con cóc lớn, thằng nhỏ toan bỏ cóc vào giỏ bỗng hoảng hốt la:

- Ý, nó cắn đau quá mấy anh ơi!

Rồi nó dẫy lia lịa cánh tay.

Mấy đứa lớn quay cả lại, cùng hùa nhau đuổi theo con cóc đang nhủi vào bãi cỏ rậm, một đứa lên tiếng rầy thằng nhỏ:

- Đồ ngu như mọi! Vậy mà cũng đòi đi theo. Rồi sẵn tay nó đánh bừa lên đầu thằng nhỏ; thấy vậy, tôi vội ngăn nó:

- Nó nhỏ, đánh vậy tội quá em!

Thằng lớn nhìn tôi, rồi quay sang mắng thằng nhỏ:

- Ai biểu mầy tham ăn, bửa nào cũng than đói. Rồi đi bắt cóc thì nhát nhũng, mà ăn thì ăn quá trời. Thằng nhỏ bị đòn, ôm đầu mếu máo:

- Mấy anh đánh tôi hoài!!! Cho tôi ăn chút xíu ít bữa má tôi về, tôi kiếm thứ gì tôi cho lại.

- Thôi mầy, mê ăn thấy trời mà ai chịu nổi! Má mầy đi ở đợ với người ta mà dư nổi giống gì đặng cho mầy?

Một đứa nhỏ khác xen vào:

- Sao mầy không theo má mầy đi ở dưới người ta?

Thằng nhỏ bị hắt hủi thút thít vừa đi vừa khóc. Tôi kéo tay nó hỏi nhỏ:

- Sao em không ở với má em?

Nó không buồn nhìn tôi, vừa quệt nước mắt vào cánh tay:

- Dạ người ta chê tôi nhỏ “hổng” làm được “giống” gì, mà ăn cơm hao quá, “hổng” thèm nuôi!

- Thế mấy đứa kia làm nghề gì?

- Tụi nó sáng đi mò thùng rác, đêm nào mưa tụi nó đi bắt cóc bán “lợi” cho người ta!

Tôi chụp hỏi:

- Bán cóc à? Bán cho ai em?

Một đứa đứng gần đấy, thoáng nghe thấy, làm vẻ “dạy đời”:

- Bán cho người ta mua về nấu cháo ăn chớ ai! Ăn cóc còn hiền hơn mấy thứ khác nữa a!

- Mấy em bán bao nhiêu một con?

Nó đáp cộc lốc:

- Ba cắc chớ bao nhiêu!

Vừa nói chuyện với tôi chúng nó vừa chạy theo vồ lũ cóc dơ dáy ấy; báo hại tôi cứ phải chạy theo hoài. Đứa nầy đi xa hơn thì tôi nói đứa kia:

- Bán vậy ăn thua gì em?

Thằng nhỏ nầy có vẻ “hiền lành” hơn, nó đáp:

- Vậy cũng còn hơn đi mò đồ bỏ ở thùng rác a!

- Thế còn những tối không mưa, mấy em làm gì?

- Thì đi tới mấy rạp hát ở T.Đ mà xin bạc cắc!

- Mấy em ở đâu mà tối đi ra ngoài ấy, xa vậy mà sao về kịp?

Nó vừa bỏ con cóc nhỏ vào giỏ xong, liền đứng thẳng người lên đáp tôi bằng một giọng chán nản?

- Ôi! Khỉ khô gì nhà cửa, trễ thì ngủ bậy ngoài hiên chợ Hộ ấy!

Nó lắc lắc chiếc giỏ, nghiêng đầu có ý nghe ngóng xong thò tay vô miệng giỏ, mò mẫm một lúc, nó túm cổ một con cóc lớn nhất lôi ra. Con vật dẫy dụa trong bàn tay nó. Như bằng lòng lắm, nó cười một cách sung sướng:

- Mập dữ ta để dành nấu cháo ăn chơi!

- Sao em nói không có nhà cửa thì làm chỗ nấu cháo?

- Nấu đại ngoài chợ ấy. Kiếm bậy nó cái chi nấu mà không được.

Rồi nó đi lại chỗ cột đèn sáng hơn, ghé mắt nhìn vào trong chiếc giỏ nói một mình:

- Khá rồi ta! Rồi nó nhìn ra phía bọn nhỏ kia mà kêu lớn lên:

- Ơ… ờ…! Về bây ơi!...

Mấy đứa kia nghe tiếng đằng này, lần lượt đứa trước, đứa sau về chỗ cột đèn: một vài đứa còn cố ý tiếc muốn bắt thêm, nhưng rồi chúng cũng đành đi theo cả bọn để về.

Trời vẫn lấm tấm mưa, có lẽ quần áo của chúng cũng đã ướt cả và hình nước mưa đã thấm vào da thịt chúng. Một đứa lên tiếng dục:

- Đi mau lên bây, lạnh quá nổi ốc cùng mình đây!

Rồi cả bọn ríu ríu đi sát nhau. Tôi lững thững theo sau, bỗng một đứa lên tiếng:

- Ê bây, về bán “đại” món nầy đặng mai còn thức sớm đi mò lon sữa bò chớ?

Đứa khác đáp:

- Đói quá xá, ngủ gì nổi! Đi kiếm gạo nấu cháo ăn đi!...

Những tiếng nói chuyện nhỏ dần, chúng đã đi cách xa tôi hàng chục thước. Tôi ngơ ngẩn đứng nhìn theo những chấm lửa đỏ mỗi lúc một khuất dần…

Mưa vẫn đều đều, từng giọt theo mái nhà rơi xuống thềm gạch ti tách, đằng xa, trong khoảng tối tăm của một đêm mưa dầm, nào ai có biết đâu, đang có những đứa trẻ bơ vơ, không nhà cửa không kẻ thân thuộc sống bằng tất cả những sinh kế kỳ lạ của xã hội!...

Nguồn: https://sites.google.com/site/nkltnguyenvansam/tuyen-tap/van-hoc---bien-khao/dhang-thi-thanh-phuong-qua-thien-phong-du-buc-tranh-thanh-thi

40 năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ hình ảnh Lê Văn Nghĩa trong lần đầu tiên gặp anh tại buổi sinh hoạt văn nghệ vào một tối mùa hè năm 1981, tổ chức ở ngôi nhà 62 Trần Quốc Thảo, quận 3...

20210727

Nhà văn Lê Văn Nghĩa - Ảnh: T.T.D

Lần đó khá vui, sau khi Trịnh Công Sơn hát bài Chiều trên quê hương tôi và các nhà thơ đọc tác phẩm mới, ông Nguyễn Quang Sáng giới thiệu Lê Văn Nghĩa - người đoạt giải nhì (không có giải nhất) về thể loại kịch bản trong cuộc thi sáng tác văn học của Thành đoàn. 

Nghĩa lên phát biểu vắn tắt về nội dung vở kịch, vẻ e dè, có phần lúng túng nữa.

 

Một tuổi trẻ can trường

Tuy biết Lê Văn Nghĩa hoạt động trong Tổng đoàn học sinh Sài Gòn trước 1975, nhưng hồi đó tôi không ngờ con người có bề ngoài rụt rè ấy lại từng trải qua một tuổi hai mươi can đảm. 

Vài năm trước đây, khi ngồi soạn lại những tài liệu cũ để tặng Nghĩa, tôi tìm được hai tập "Tù chính trị" mà Ủy ban Vận động cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam, do linh mục Chân Tín làm chủ tịch, đã tổ chức biên soạn và ấn hành ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết. 

Lần giở lại hai tập tài liệu dày gần 700 trang, in ronéo trên giấy khổ A4, tôi bắt gặp tên Lê Văn Nghĩa trong danh sách các tù nhân và lá thư của mẹ anh gửi ban quản lý trại giam để xin đi thăm con. 

Thì ra, vì tham gia phong trào tranh đấu mà Lê Văn Nghĩa - một học sinh Sài Gòn có cha là viên chức của chính quyền - đã bị bắt giam qua các nhà tù khác nhau: Chí Hòa, Tân Hiệp, Côn Đảo, và khi được thả ra lại bị "chỉ định nơi cư trú" cho đến ngày hòa bình. 

Trong kỳ thi tú tài mùa hè đỏ lửa năm 1972, Bộ Quốc gia giáo dục Việt Nam cộng hòa, làm đúng chức trách của mình, đã tổ chức một hội đồng thi riêng cho các tù nhân là học sinh ngay trong nhà lao Chí Hòa, có giám thị coi thi nghiêm túc. Tù nhân - học sinh Lê Văn Nghĩa đã thi đậu tú tài năm đó.

Gần đây, Lê Văn Nghĩa có kể là sau 1975 anh được cử đi học Trường Tuyên huấn trung ương ở Hà Nội mà lớp trưởng là một cựu quan chức cao cấp mới từ trần. 

Lớp của anh chắc sau này có nhiều người giữ cương vị quan trọng, riêng Nghĩa thì chức vụ cao nhất mà anh đảm nhiệm trước khi về hưu là phó tổng thư ký tòa soạn phụ trách báo Tuổi Trẻ Cười, một đặc sản báo chí và văn nghệ của TP.HCM mà anh có công xây dựng từ đầu, đã tồn tại hơn 37 năm, trở thành tờ báo trào phúng có tuổi đời lâu nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam.

 

Người vẽ bức tranh về Sài Gòn ngày cũ

Tôi thực sự yêu thích văn kể chuyện tự nhiên, hoạt náo của Lê Văn Nghĩa khi đọc bốn cuốn truyện anh viết về học đường miền Nam, bắt đầu với Mùa hè năm Petrus và gần đây là Mùa tiểu học cuối cùng. 

Gần 1.300 trang sách trang trải những kỷ niệm thiếu thời qua hình ảnh những thầy cô giáo đáng trọng, những học trò đáng yêu trong sân trường, lớp học và trên những ngả đường, góc phố Sài Gòn thời chiến. 

Tác phẩm của anh lôi cuốn không chỉ nhờ cốt truyện mà còn nhờ những chi tiết từ đời thực được tái tạo trong văn hư cấu. 

Như chuyện ông chủ hiệu sách Khai Trí tha thứ và tặng sách cho cậu học trò nghèo vì ham đọc mà "chôm" sách hay; chuyện nhà văn Sơn Nam cất công vào tận Trường Petrus Ký xác thực với cô giáo điều người học trò viết về ông trong bài thuyết trình; chuyện bác soát vé xe buýt bảo cậu bé đi lậu vé hãy quét sàn xe để bác trả công hai đồng đủ tiền mua vé; chuyện mấy đứa học trò đi viếng đám tang bà cụ bán bánh mì trước cổng trường mà cảm hóa được đứa cháu tưởng như bất trị của bà. 

Mối quan hệ giữa văn chương và giáo dục đạo đức thật là hài hòa dưới ngòi bút Lê Văn Nghĩa.

Mấy năm nay, phát hiện bệnh trọng, vừa lo chạy chữa, Lê Văn Nghĩa vừa tranh thủ thời gian ghi lại những ấn tượng và nhận thức về xã hội miền Nam thời cũ một cách chân thực và khách quan qua những tản văn và tạp bút. 

Có thể nói những tác phẩm của anh được hình thành từ sự hồi phục của ký ức, ký ức cá nhân hòa trong ký ức cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả xem đó như kết quả của việc khâu vá lại những mảnh thời gian, qua đó mà khâu vá lại chính tâm hồn mình. 

Những mảnh ghép hồi cố chân thành mà không ủy mị thoạt nhìn có thể rời rạc, phân tán nhưng liên kết lại sẽ cho ta một bức tranh về Sài Gòn ngày cũ, Sài Gòn của thời niên thiếu Lê Văn Nghĩa.

Về hưu, không bị công việc làm báo thúc bách, anh Nghĩa hay ngồi với bạn bè. Anh có những nhóm bạn già thân thiết, "khi ly khi tô" - thường cà phê sáng, thỉnh thoảng bia bọt chiều cuối tuần nhân dịp có người ra sách mới hay dự đoán trúng kết quả một trận bóng đá. 

Trong bàn, lúc tranh luận một chuyện gì, anh cũng đều nói ý kiến mình một cách dè dặt, khiêm tốn, chẳng bao giờ áp đảo ý kiến của ai. Và điều lạ nhất là bỉnh bút của báo cười lại là người ít cười nhất trong những lần tụ họp bạn bè. 

Hình như tiếng cười anh đã gửi hết vào các tiểu phẩm châm biếm và những trang truyện thiếu nhi đầy trò đùa vui tinh nghịch của anh. Luôn chu đáo với bạn bè, Lê Văn Nghĩa lại kín tiếng về mình. 

Biết anh nằm viện, nhiều lần bạn bè muốn vào thăm nhưng lần nào anh cũng từ chối vì e ngại ảnh hưởng dịch Covid-19, còn nói đùa đó là "bí mật quân sự".

Trong bữa cà phê sáng sau Tết Tân Sửu, tôi nói Lê Văn Nghĩa cố gắng viết thêm một cuốn truyện nữa về tuổi trẻ băn khoăn và thao thức ở miền Nam; anh cười buồn, bảo e không còn đủ sức. 

Hai cuốn truyện trào phúng về điệp viên Không Không Thấy - một nhân vật hấp dẫn của Lê Văn Nghĩa - vừa rời bàn biên tập để đưa tới nhà in. Một luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tác phẩm của anh cũng đang triển khai.

Vậy mà Lê Văn Nghĩa không chờ được, đã vội ra đi.

Huỳnh Như Phương

Nguồn: Bảo Tuổi trẻ, ngày 26.7.2021.

 

Lê Văn Nghĩa trong cõi nhớ Sài Gòn - Ảnh 2.

NHỚ TÔ THÙY YÊN

Tự bao giờ anh đã biến thành hoa cỏ

- Tô Thùy Yên -

Đãng tử đi đãng tử đi

âm thầm vang động

thao thức đê mê

**

Đãng tử đi đãng tử đi

mầm xanh cỏ mọc

xuân thì càn khôn

Nhật Chiêu

(Thơ đôi 154)

20210422 2

Tô Thùy Yên là nhà thơ lớn mà sự nghiệp thơ ca đa dạng thể hiện dạn dầy sự sống của ông sẽ được nhắc nhở hoài vì những thi cảm ấy đi với con người dù con người thường đi trong gió loạn.

Sinh năm 1938 tại Gò Vấp Gia Định lớn lên như một người Sài Gòn, trở thành sinh viên Đại Học Văn Khoa, từng đi dạy học, vào quân đội... từng chủ biên tạp chí Thế kỷ 20, góp mặt trong nhóm Sáng Tạo.
Viết thơ trước năm 1975 nhưng chỉ phổ biến trên báo chí. Mãi khi sang Mỹ mới in thơ thành tập: Thơ Tuyển (1995), Thắp tạ (2005).
Tô Thùy Yên qua đời vào năm 81 tuổi tại Houston, 2019.
“Thơ còn – con người còn” đó là niềm tin của Tô Thùy Yên.
Con người thở và mơ. Thở trong khí quyển và mơ trong thi quyển. Thơ vui cùng người và đau cùng người.
“Thơ là hình loại văn nghệ đầu tiên của con người, khi con người không có gì cả trong tay, và thơ chắc chắn cũng là loại văn nghệ cuối cùng của con người khi con người chẳng còn gì cả trong tay. Thơ sẽ còn hiển hiện tồn tại rạng rỡ với con người, nếu mà con người còn ngôn ngữ, còn tấm lòng, còn ký ức, còn là con người trong cái ý niệm cực kỳ cao cả đầu tiên và cuối cùng của mình.” (Tô Thùy Yên, 1997).
Thơ như sương khói (Yên) nhưng mãi nhớ thương người.
Đọc Tô Thùy Yên để mà thương nhớ thơ.

Cà phê Thơ

Chủ đề : THƠ TÔ THÙY YÊN, ĐỂ MÀ THƯƠNG NHỚ THƠ

Diễn giả : Nhà thơ Nhật Chiêu

Chủ trì : Ns Dương Thụ

Thời gian :09:00-11:30 thứ Bảy ngày 24.4.2021

Địa điểm : Salon Văn hoá Cà Phê Thứ Bảy, 79A Phan Kế Bính, P. Đa Kao, Q.1

Nhà văn, nhà báo Lê Văn Nghĩa, cây bút biếm và viết truyện trào phúng gắn bó với làng báo Sài Gòn - TP.HCM vừa qua đời lúc 22h25 hôm nay, 25-7, sau thời gian dài chống chọi với bạo bệnh.

20210726

Chương trình Mừng Tết Tân Sửu 2021 do NXB Trẻ tổ chức tại Đường sách TP.HCM - Tết đến mọi nhà, tặng quà sách hay. Giao lưu cùng giáo sư Phan Văn Trường và nhà văn Lê Văn Nghĩa (ngày 24-1-2021) - Ảnh: LÊ ĐỨC TRUNG

Ông Lê Văn Nghĩa sinh ngày 20-5-1953 tại tỉnh Chợ Lớn. Ông làm việc tại báo Tuổi Trẻ từ năm 1975 đến năm 2015.

Nhà báo Lê Văn Nghĩa thuộc thế hệ thanh niên học sinh Sài Gòn trưởng thành trong phong trào đấu tranh đô thị trước 1975. Ông từng xuống đường lãnh đạo thanh niên học sinh đấu tranh trực diện với cảnh sát, từng bị bắt, trải qua một số nhà tù giam của chế độ Việt Nam Cộng hòa, kể cả ở Côn Đảo.

Sau ngày thống nhất đất nước, Lê Văn Nghĩa thuộc thế hệ làm báo đầu tiên của báo Tuổi Trẻ, cùng với làng báo TP.HCM lúc bấy giờ góp phần xây dựng đời sống mới.

Vĩnh biệt nhà văn - nhà báo - anh Hai Cù Nèo Lê Văn Nghĩa - Ảnh 2.

Nhà báo Lê Văn Nghĩa phát biểu trong lễ trao giải Cù Nèo Vàng 2013 - Ảnh: T.T.D.

 

Linh hồn của Tuổi Trẻ Cười 

Ông thể hiện thiên khiếu của mình trong các tác phẩm trào phúng, châm biếm khi nhận thấy tác dụng độc đáo của thể loại báo cười trong công cuộc đấu tranh cái xấu và uốn nắn nhân quần theo lẽ phải.

Lê Văn Nghĩa có một thời gian dài phụ trách tờ Tuổi Trẻ Cười (báo Tuổi Trẻ), ông tham gia xây dựng nhiều chuyên mục cũng như các nhân vật trào phúng được xem là "để đời" gắn với ông như các bút danh: Hai Cù Nèo, Đại Văn Mỗ, Điệp Viên Không Không Thấy, Thằng Hề...

Sự xuất hiện của báo Tuổi Trẻ Cười vào trước lúc Đổi mới, vắt qua đến cuối thập niên 1980 đã trở thành tờ báo ăn khách khắp trong Nam ngoài Bắc, ở tận các vùng nông thôn xa xôi, nhiều gia đình không đọc báo Tuổi Trẻ nhưng vẫn đặt mua Tuổi Trẻ Cười do lẽ người dân mến mộ "ông Hai Cù Nèo" - một bút danh chung do Lê Văn Nghĩa sản sinh và ký phần lớn dưới các bài viết.

Vĩnh biệt nhà văn - nhà báo - anh Hai Cù Nèo Lê Văn Nghĩa - Ảnh 3.

Nhà văn Lê Văn Nghĩa - Ảnh: T.T.D.

 

Viết văn đến ngày cạn sức 

Khi tuổi đời đã cao, tạm gác công việc làm báo, Lê Văn Nghĩa tập trung viết sách và tiếp tục giành được nhiều cảm tình từ người đọc qua các tập hồi ức/tự truyện và các thiên khảo cứu về văn nghệ Sài Gòn một thời.

Đó là các tác phẩm hồi ức về một thời niên thiếu Lê Văn Nghĩa đi học dưới mái trường Bình Tây (nay là trường Nguyễn Huệ - Q.6): Chú chiếu bóng, nhà ảo thuật, tay đánh bài và tụi con nít xóm nhỏ (2014), Tụi lớp nhứt trường Bình Tây, cây viết máy và con chó nhỏ (2018), Mùa tiểu học cuối cùng (2020); câu chuyện về thời trung học của ông được kể lại xúc động trong truyện dài Mùa hè năm Petrus (2012).

Đồng nghiệp của ông còn nhớ mấy năm trước khi ra mắt quyển truyện về ngôi trường Bình Tây, nhà văn - nhà báo Lê Văn Nghĩa quay lại ngôi trường thuở xưa mình học để tặng sách cho các học sinh thế hệ con cháu bây giờ, trò chuyện cùng nhau, bất giác ông rơi nước mắt khóc ngon lành.

Dịp ra mắt quyển Mùa hè năm Petrus, ông còn tâm sự riêng với một số đồng nghiệp thân thiết rằng chế độ giáo dục của Sài Gòn trước đây rất hay, "nhất là hệ thống trường công lập, ai thi đậu vô đó là chuyện học được bảo đảm chắc chắn không phải lo lắng gì".

Vĩnh biệt nhà văn - nhà báo - anh Hai Cù Nèo Lê Văn Nghĩa - Ảnh 4.

Nhà báo Lê Văn Nghĩa (trái) trong một dịp họp măt cộng tác viên báo Tuổi Trẻ Cười (1-2011) - Ảnh: T.T.D.

Vào những năm cuối đời, dù đã lâm trọng bệnh, nhà văn Lê Văn Nghĩa vẫn cần cù làm việc, tìm kiếm trong nhiều nguồn tư liệu để thực hiện các thiên biên khảo về đời sống văn nghệ Sài Gòn một thời sôi động hàng đầu của cả miền Nam mà theo ông là không khi nào có được không khí đặc biệt như vậy.

Kết quả của những ngày tháng vừa chống chọi bạo bệnh vừa làm việc cật lực là các quyển sách: Sài Gòn chuyện xưa mà chưa cũ (NXB Trẻ, 2020), Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian (NXB Trẻ, 2018), Văn học Sài Gòn 1954 - 1975 những chuyện bên lề (NXB Tổng Hợp TP.HCM, 2020).

Cả một đời gắn liền với nghiệp viết, Lê Văn Nghĩa xuất bản rất nhiều tác phẩm. Tác phẩm sớm nhất của ông là Vượt sóng (1986) - tập truyện ký kể lại những tháng ngày trong nhà tù Côn Đảo, tiếp theo là các tác phẩm:

Thằng láu cá (1989), Vua lừa (1990), Ôi bóng đá (1990), Hoa hậu phường Cây Mít (1991), Đám cưới nàng Thanh Mã (1991), Nô tế bồ (1994), Nếu Adam không có xương sườn (tuyển tập truyện vui cười về phụ nữ dưới con mắt của đàn ông xấu / Lê Văn Nghĩa sưu tầm và bình, 2016),

Sài Gòn - Dòng sông tuổi thơ (tạp văn 2016), Phá án sex-tour (tiểu phẩm trào phúng, 1995), Nhà mùi học (tiểu phẩm trào phúng, 2000),

Bạn đời (truyện ngắn, 2002), Điệp viên 00 thấy (2003), Tùy viên giảm béo (tiểu phẩm trào phúng, 2004), Trùm cá độ (2005), Người bán nụ cười (2006),

Ngôi nhà ma (tập truyện ngắn trào phúng, 2009), Tào lao xịt bộp (tuyển tập truyện trào phúng, 2010), Hạt bụi bên nhau (tập truyện rất ngắn và truyện trào phúng, 2010), Chuyện chán phèo (tuyển tập truyện trào phúng, 2011), Nỗi buồn đàn ông (2017)...

Vĩnh biệt nhà văn - nhà báo - anh Hai Cù Nèo Lê Văn Nghĩa - Ảnh 5.

Nhà văn Lê Văn Nghĩa trong lễ trao giải Cù Nèo Vàng - Ảnh: T.T.D.

 

Trong trái tim bạn bè, đồng nghiệp 

Khi hay tin bệnh tình của nhà văn Lê Văn Nghĩa trở nặng, NXB Tổng Hợp TP.HCM ráo riết làm bản thảo để in 2 tập truyện trào phúng của ông là: Điệp viên Không Không Thấy và nhà thơ thần giáng, Điệp viên Không Không Thấy và Đại Văn Mỗ.

Tuy nhiên, trong những ngày qua TP.HCM đang thực hiện giãn cách xã hội chống dịch COVID-19, hầu hết các nhà in dừng hoạt động nên in chưa kịp. Bè bạn thân thiết hay tin đều tiếc cho người bạn vốn nặng tình với anh em, mà khi ra đi lại gặp lúc mọi người không thể đến viếng.

"Cách đây chừng hai mươi ngày, anh Nghĩa còn viết mấy dòng thư điện tử gửi cho chúng tôi và nhóm bạn, đại ý nói rằng ‘mệt lắm các anh ơi, chắc khó gặp các anh rồi’, quả đúng đó là lời tuyệt mệnh của anh Lê Văn Nghĩa vậy", nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh chia sẻ.

Lam Điền

Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 25.7.2021.

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm qua đời chiều 20/4 ở nhà riêng tại Hà Nội, thọ 69 tuổi.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói nhà thơ đột ngột qua đời, chưa rõ nguyên nhân. Khi người thân về đến nhà, ông đã mất. Ông mắc bệnh phổi nhiều năm nay.

Sinh thời, Hoàng Nhuận Cầm nổi tiếng với các bài thơ tình gắn với học sinh, sinh viên, được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích như Chiếc lá buổi đầu tiên, Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu, Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, Viên xúc xắc mùa thu... Ngoài thơ, ông còn sáng tác kịch bản phim, trong đó có nhiều tác phẩm nổi tiếng như Đêm hội Long Trì, Hà Nội mùa Đông năm 46, Mùi cỏ cháy.

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm. Ảnh: X.T.

Dù bận rộn viết kịch bản, làm phim, Hoàng Nhuận Cầm nói ông chưa từng xao lãng việc làm thơ. Ông từng chia sẻ quan niệm sáng tác: "Thơ ca cũng như tình yêu, không ép buộc được đâu, khi gọi nó không đến nhưng khi đuổi thì nó không chịu đi. Bằng kinh nghiệm làm thơ riêng của mình, tôi thấy những bài thơ hay lại ra đời trong hoàn cảnh chẳng thơ chút nào".

Nhà thơ đoạt giải của Báo Văn nghệ năm 1972 - 1973 trong thời gian đi chiến đấu ở Quảng Trị, dành cho chùm thơ trong đó có bài Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu. Tuy nhiên, sau tập thơ in năm 2008, nhà thơ không ra mắt tuyển tập mới. Ông nói: "Theo thời gian, tôi tự nhận thấy mình trầm tĩnh hơn, sâu sắc và thận trọng hơn khi công bố trước công chúng, dù chỉ là một bài thơ của mình. Nhưng dù trước đây hay sau này, tôi không muốn phụ lòng bạn đọc. Nếu không làm được hay hơn và mới hơn trước thì thà đừng in còn hơn".

Trong lĩnh vực biên kịch, Hoàng Nhuận Cầm được vinh danh "Biên kịch xuất sắc" tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 và Cánh Diều Vàng 2011, cho kịch bản phim Mùi cỏ cháy. Tác phẩm lấy cảm hứng từ nhật ký Mãi mãi tuổi 20 của Nguyễn Văn Thạc và hàng loạt nhật ký thời chiến của các liệt sĩ khác như Đặng Thùy Trâm, Vũ Xuân, Hoàng Thượng Lân, Hoàng Kim Giao, được ông thai nghén suốt sáu năm. Ông xây dựng bốn nhân vật chính Hoàng - Thành - Thăng - Long, trong đó nhân vật Hoàng yêu thơ, mơ mộng, hay xúc động, mang dáng dấp của chính nhà thơ.

Hoàng Nhuận Cầm sinh năm 1952 ở Hà Nội, là con trai nhạc sĩ Hoàng Giác. Ông từng chiến đấu trong Sư đoàn 325B ở Quảng Trị. Năm 1975, ông trở lại học nốt chương trình đại học đến năm 1981. Ông từng làm việc cho Hãng Phim truyện Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, cùng vợ lập hãng phim tư nhân Điệp Vân. Ông từng đóng phim, nổi tiếng với vai bác sĩ Hoa Súng trong chương trình Gặp nhau cuối tuần và vai nhà thơ phim Số đỏ.

Nguồn: https://vnexpress.net/nha-tho-hoang-nhuan-cam-qua-doi-4265975.html

Nhà văn Sơn Tùng - tác giả của nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân cách mạng, danh nhân văn hóa Việt Nam, trong đó nổi tiếng nhất là tiểu thuyết Búp sen xanh viết về cuộc đời Bác Hồ - vừa qua đời đêm qua.

Nhà văn Sơn Tùng - Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Tin từ gia đình nhà văn Sơn Tùng cho biết ông trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng vào khoảng 23h05 hôm qua 22-7. Nhà văn ra đi ở tuổi 93, sau hơn 11 năm cùng người vợ tảo tần, thủy chung chống chọi với bệnh nặng do tai biến.

"Ông là một người đặc biệt và là một nhà văn đặc biệt. Ý chí sống và sáng tạo phi thường của ông là một tấm gương lớn", chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều chia sẻ lòng ngưỡng mộ của ông với nghị lực sống và sức sáng tạo của nhà văn Sơn Tùng.

Theo nhà văn Thiên Sơn - cháu gọi nhà văn Sơn Tùng bằng bác, tác giả Búp sen xanh sinh năm 1928 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Ông sớm rời quê hương Diễn Châu tham gia cách mạng từ những năm 1950. Ông hoạt động ở tỉnh đoàn, sau ra Hà Nội học Đại học Nhân dân rồi làm giảng viên đại học, làm báo Tiền Phong. Từ năm 1964 ông vào chiến trường Nam Bộ lập báo Thanh Niên Giải Phóng, rồi bị thương nặng trở ra Bắc cuối năm 1971.

Kể từ đó ông bắt đầu cuộc đời của một người cầm bút chuyên tâm, kiên định, sáng tạo trong nghèo khó, bệnh tật bởi những vết thương chiến tranh.

Sơn Tùng có viết về chiến tranh qua các tiểu thuyết: Vườn nắng, Lõm; về danh nhân cách mạng qua các truyện lịch sử như Trần Phú, Nguyễn Hữu Tiến… Mảng sách thành công nhất của ông, để lại ấn tượng nhất là mảng sách về đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông đã viết hàng loạt tiểu thuyết về Bác Hồ như Búp sen xanh, Bông sen vàng, Trái tim quả đất và truyện ký Bác về, Nguyễn Ái Quốc qua ký ức một bà mẹ Nga…

Ngoài tiểu thuyết, cuối năm 1987 Sơn Tùng còn hoàn thành kịch bản phim mang tên Cuộc chia ly trên bến Nhà Rồng mà năm 1990 được dựng phim Hẹn gặp lại Sài Gòn, đạo diễn Long Vân, quay phim Nguyễn Quang Tuấn, diễn viên Tiến Lợi vào vai Bác Hồ.

Sơn Tùng còn sáng tác thơ, trong đó đáng chú ý là bài Gửi em chiếc nón bài thơ (1955) và Cửa sổ xanh (1971). Bài Gửi em chiếc nón bài thơ sau ngày đất nước thống nhất đã được nhạc sĩ Lê Việt Hòa phổ nhạc.

Năm 2011, ông được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, trở thành người thứ 4 thuộc Hội Nhà văn Việt Nam được nhận danh hiệu này.

Nguồn: https://tuoitre.vn/nha-van-son-tung-tac-gia-bup-sen-xanh-qua-doi-20210723084518353.htm

Ngoài Ban Kiểm tra do đại hội Hội Nhà văn TP HCM trực tiếp bầu tại đại hội, 7 ban công tác còn lại được chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM ký quyết định thành lập theo đề nghị của các trưởng ban và được thông qua Ban Chấp hành Hội Nhà văn TP HCM nhiệm kỳ VIII.  

Ngày 26-3, tại trụ sở Hội Nhà văn TP HCM (81 Trần Quốc Thảo, quận 3, TP HCM), Hội Nhà văn TP HCM nhiệm kỳ VIII (2020-2025) đã làm lễ ra mắt các ban công tác.

Ngoài Ban Kiểm tra do đại hội Hội Nhà văn TP HCM trực tiếp bầu tại đại hội, 7 ban công tác còn lại được chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM ký quyết định thành lập theo đề nghị của các trưởng ban và được thông qua Ban Chấp hành (BCH) Hội Nhà văn TP HCM nhiệm kỳ VIII.

Ban Kiểm tra có 5 thành viên, do nhà thơ Bùi Phan Thảo, Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban.

Ban Tổ chức Hội viên có 7 thành viên, do nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; hai phó ban là nhà văn Đỗ Viết Nghiệm và nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu.

Ban Sáng tác văn học có 6 thành viên, do nhà văn Trầm Hương, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; hai phó ban là nhà thơ Lê Tú Lệ (Phó chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP HCM) và nhà văn Trần Thanh Hà.

20210328 4

Các thành viên Ban Văn học thiếu nhi và một số thành viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn tại buổi ra mắt

Hội Nhà văn TP HCM ra mắt các ban công tác - Ảnh 2.

Các thành viên Ban Tổ chức hội viên và một số thành viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn TP HCM tại buổi ra mắt

Ban Văn học thiếu nhi có 7 thành viên, do nhà thơ Phan Trung Thành, Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; hai phó ban là nhà văn Trần Quốc Toàn và nhà văn Văn Thành Lê.

Ban Nhà văn trẻ có 8 thành viên, do nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; hai phó ban là nhà thơ Ngô Thị Hạnh và nhà thơ Phạm Phương Lan.

Ban Nhà văn nữ có 6 thành viên, do nhà thơ Huệ Triệu, Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; hai phó ban là nhà thơ Trần Thị Thắng và nhà thơ Trần Mai Hường. 

Ban Công tác Câu lạc bộ văn học có 7 thành viên, do nhà thơ Nguyên Hùng, Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; hai phó ban là nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và nhà thơ Phạm Thanh Bình.

Ban Truyền thông có 3 thành viên, nhà văn Phương Huyền, Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM làm trưởng ban; phó ban là nhà văn Hồ Huy Sơn và ủy viên là nhà văn Tống Phước Bảo.

Phát biểu tại lễ ra mắt, nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM cho biết với nhà văn, điều quan trọng nhất là phải có tác phẩm và tác phẩm cần đến với người đọc, được chia sẻ, lan tỏa. Các ban chuyên môn của Hội sẽ góp phần quảng bá, đưa tác phẩm đến với công chúng. Từ đầu năm đến nay, các ban chuyên môn của Hội đều có những hoạt động thực chất, với tâm huyết và nỗ lực, đồng lòng xây dựng ngôi nhà chung của Hội Nhà văn TP.

Các nhà thơ Bùi Phan Thảo, Trần Quốc Toàn, Lê Thiếu Nhơn cũng bày tỏ những điều tâm huyết của các thành viên trong ban, với mong muốn có được những kết quả thực chất và xây dựng đội ngũ, hỗ trợ những người viết trẻ…

Trước đó, ngày 19-3, Hội Nhà văn TP HCM đã ra mắt 3 Hội đồng chuyên môn là Hội đồng Thơ, Hội đồng Văn xuôi và Hội đồng Lý luận – phê bình.

Hội đồng Thơ có 5 thành viên, do nhà thơ Lê Minh Quốc làm chủ tịch, nhà thơ Trương Nam Hương làm phó chủ tịch.

Hội đồng Văn xuôi có 5 thành viên do nhà văn Lê Văn Nghĩa làm chủ tịch, phó chủ tịch là nhà văn Cao Chiến.

Hội đồng Lý luận – phê bình có 5 thành viên, nhà văn Bùi Thanh Truyền làm chủ tịch, phó chủ tịch là nhà văn Võ Văn Nhơn.

Danh sách thành viên các Ban công tác và các Hội đồng chuyên môn Hội Nhà văn TP HCM

Ban Kiểm tra:

Nhà thơ Bùi Phan Thảo, Trưởng ban

Nhà thơ Nguyên Trân, Ủy viên

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo, Ủy viên

Nhà văn Chu Quang Mạnh Thắng, Ủy viên

Nhà văn Hồ Thị Ngọc Hoài, Ủy viên

Ban Tổ chức Hội viên:

Nhà văn Bích Ngân, Trưởng ban

Nhà văn Đỗ Viết Nghiệm, Phó ban

Nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, Phó ban

Nhà văn Kim Quyên, Ủy viên

Nhà thơ Phạm Trung Tín, Ủy viên

Nhà thơ Nguyễn Thanh Hoàng, Ủy viên

Nhà thơ Nguyễn Khắc Pha, Ủy viên

Ban Sáng tác văn học:

1. Nhà văn Trầm Hương, Trưởng ban

2. Nhà thơ Lê Tú Lệ, Phó ban

3. Nhà văn Trần Thanh Hà, Phó ban

4. Nhà văn Trần Hoài Anh, Ủy viên

5. Nhà thơ Trần Hoàng Nhân, Ủy viên

6. Nhà văn Hoài Hương, Ủy viên

 

Ban Văn học thiếu nhi:

1. Nhà thơ Phan Trung Thành, Trưởng ban

2. Nhà văn Trần Quốc Toàn, Phó ban

3. Nhà văn Văn Thành Lê, Phó ban

4. Nhà văn Kim Hài, Ủy viên

5. Nhà văn Lưu Thị Lương, Ủy viên

6. Nhà văn Trần Gia Bảo, Ủy viên

7. Nhà thơ Nguyệt Thu, Ủy viên

Ban Nhà văn trẻ:

1. Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, Trưởng ban

2. Nhà thơ Ngô Thị Hạnh, Phó ban

3. Nhà thơ Phạm Phương Lan, Phó ban

4. Nhà thơ Gili Nguyễn, Ủy viên

5. Nhà thơ Tô Minh Yến, Ủy viên

6. Nhà văn Võ Chí Nhất, Ủy viên

7. Nhà thơ Nguyễn Khắc Thắng, Ủy viên

8. Nhà văn Nguyễn Tý, Ủy viên

Ban Nhà văn nữ:

1. Nhà thơ Huệ Triệu, Trưởng ban

2. Nhà thơ Trần Thị Thắng, Phó ban

3. Nhà thơ Trần Mai Hường, Phó ban

4. Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy, Ủy viên

5. Nhà thơ Võ Miên Trường, Ủy viên

6. Nhà văn Võ Thu Hương, Ủy viên

Ban Công tác Câu lạc bộ văn học:

1. Nhà thơ Nguyên Hùng, Trưởng ban

2. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo, Phó ban

3. Nhà thơ Phạm Thanh Bình, Phó ban

4. Nhà thơ Hương Thu, Ủy viên

5. Nhà thơ Phạm Đình Phú, Ủy viên

6. Nhà thơ Vũ Đình Nguyệt, Ủy viên

7. Nhà văn Lê Công Sơn, Ủy viên

 

Ban Truyền thông:

1. Nhà văn Phương Huyền, Trưởng ban

2. Nhà văn Hồ Huy Sơn, Phó ban

3. Nhà văn Tống Phước Bảo, Ủy viên.

Hội đồng Thơ:

1. Nhà thơ Lê Minh Quốc, Chủ tịch

2. Nhà thơ Trương Nam Hương, Phó chủ tịch

3. Nhà thơ Cao Xuân Sơn, Ủy viên

4. Nhà thơ Thu Nguyệt, Ủy viên

5. Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân, Ủy viên

Hội đồng Văn xuôi:

1. Nhà văn Lê Văn Nghĩa, Chủ tịch

2. Nhà văn Cao Chiến, Phó chủ tịch

3. Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, Ủy viên

4. Nhà văn Lại Văn Long, Ủy viên

5. Nhà văn Phan Hồn Nhiên, Ủy viên

Hội đồng Lý luận – phê bình:

1. Nhà văn Bùi Thanh Truyền, Chủ tịch

2. Nhà văn Võ Văn Nhơn, Phó chủ tịch

3. Nhà văn Nhật Chiêu, Ủy viên

4. Nhà văn Đào Lê Na, Ủy viên

5. Nhà văn Bùi Mạnh Nhị, Ủy viên.

Tin - ảnh: Nguyễn Minh

Nguồn: Người lao động, ngày 26.3.2021.

1. Hình ảnh trong đầu đề bài viết là lấy ý ở câu cuối trong bài kệ của thiền sư Vạn Hạnh (?-1025) đã đọc cho đồ đệ nghe trước phút Ngài lâm chung (kệ thị tịch):

示弟子

身如電影有還無, 萬木春榮秋又枯.

任運盛衰無怖畏, 盛衰如露草頭鋪.

Thị đệ tử

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. (1)

(Bảo các đồ đệ. Thân người ta như bóng chớp, có rồi lại không,/ Như cây cối mùa xuân thì tốt tươi, mùa thu thì khô héo./ Mặc cho vận đời dù thịnh hay suy đừng sợ hãi,/ Vì sự thịnh suy [cũng mong manh] như giọt sương trên đầu ngọn cỏ.)

Dịch thơ:

Thân như bóng chớp, có rồi không,

Cây cối xuân tươi, thu não nùng.

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

(Ngô Tất Tố, Văn học đời Lý, Mai Lĩnh xb, HN, 1942)

2. Hiện chưa rõ tên thực cùng năm sinh của thiền sư Vạn Hạnh, còn họ thì sách Thiền uyển tập anh ngữ lục chép là họ Nguyễn. Nhưng cần lưu ý là, từ sau khi nhà Trần (1225-1400) thay thế nhà Lý (1009-1225), Thái sư Phụ chính Trần Thủ Độ ra lệnh buộc những ai trong nước mang họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn, nên không rõ thiền sư gốc họ Lý hay họ Nguyễn (bởi có nhiều sách chép là Lý Vạn Hạnh, mà theo thiển ý, có lẽ sư mang họ Lý thì đúng hơn). Chỉ biết, thiền sư người ở hương Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), thuở nhỏ tinh thông Tam giáo, say mê Phật học; xuất gia tu học tại chùa Lục Tổ, hương Dịch Bảng (nay là Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đắc pháp với thiền sư Thiền Ông, là thế hệ thứ 12 được truyền thừa dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Nhờ chuyên trì pháp môn Tổng trì tam ma địa mà sư có thể đoán biết trước nhiều việc, lời nào sư nói ra, thiên hạ đều cho là sấm truyền. Chẳng hạn sử sách có ghi: chuyện sư tiên đoán giặc Tống phải tan vỡ nội trong ba bảy ngày vào năm 981; chuyện vua Lê muốn cất binh đi đánh Chiêm Thành vào năm Nhâm Ngọ, 982 (Thiên Phúc năm thứ 2) nhưng còn do dự thì sư khuyên làm mau, đừng để mất cơ hội, quả nhiên năm ấy, Chiêm Thành thua to; hay như chuyện nhà Lý sẽ thay nhà Lê vào năm 1009, v.v.. Dưới đời Tiền Lê (981-1009), thiền sư làm cố vấn triều đình, giúp vua trị nước an dân, hiến kế chống giặc phương Bắc ngoại xâm, được vua Lê Đại Hành rất tôn kính; sư lại là người có công đầu trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi lập ra nhà Lý, thay thế nhà Lê, sau khi bạo chúa Lê Long Đĩnh (Lê Ngoạ Triều) mất, vua Lý Thái Tổ càng tôn kính, phong làm Quốc sư. Năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), thiền sư viên tịch. Trước lúc lâm chung, thiền sư đã đọc bài kệ trên để dặn dò đệ tử. Về thơ văn, ngoài bài kệ thị tịch, thiền sư còn có 4 bài nữa đều mang tính chất những lời sấm và lời kệ và một đoạn khuyên Lý Công Uẩn lên ngôi, mà sử sách xưa có chép như: Ký Đỗ Ngân, Khuyến Lý Công Uẩn, Quốc tự, Yết bảng thị chúng, Thị đệ tử.

Nhân đây, xin được đính chính lại năm viên tịch của Quốc sư Vạn Hạnh, bởi vấn đề này từ xưa đến nay sử sách đã nhầm lẫn, ghi không nhất quán.

Sách Thiền uyển tập anh ngữ lục cả hai bản in đời Lê trung hưng và đời Nguyễn thì chép: Ngày rằm tháng 5 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Thiên Ứng thứ 9. Chép như thế là nhầm, bởi Ứng Thiên là niên hiệu đời vua Lê Đại Hành từ 994 đến 1005 và Lê Ngoạ Triều từ 1005 đến 1007, chứ không có niên hiệu Thiên Ứng. Nếu là niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 9 tức năm 1002, thì cũng không đúng, bởi Vạn Hạnh không thể mất trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009). Vì thế mà cụ Trần Văn Giáp trong sách Le Bouddhisme en Annam, BEFEO XXXII, 1932 (2) và trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (3), nghi ngờ sách in sai, nên đã sửa lại thành năm Thuận Thiên thứ 9 (1018). Từ đó về sau nhiều nhà nghiên cứu khi làm sách đều ghi theo ý kiến của cụ Trần Văn Giáp, trong đó có Thơ văn Lý – Trần tập 1; bản dịch Thiền uyển tập anh của Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thuý Nga.

Trong khi đó Đại Việt sử lược, một cuốn sử viết vào đời Trần, khuyết danh, tại tờ 4a7 ghi: “Năm Ất Sửu hiệu Thuận Thiên thứ 16, sư Vạn Hạnh hoá” (4), mà năm Ất Sửu, Thuận Thiên thứ 16 là năm 1025; Và sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển 2, kỷ nhà Lý, tại tờ 10a3-4 thì ghi: “Ất Sửu, Thuận Thiên năm thứ 16 (...) Sư Vạn Hạnh mất. Sư không có bệnh gì mà mất, người bấy giờ bảo là hoá thân” (5). Ở đây, chúng tôi ghi theo Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư. Như vậy, thiền sư Vạn Hạnh tịch ngày rằm tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 16, tức năm 1025.

3. Các bài kệ vốn thường không có đầu đề. Nhan đề của bài là do Lê Quý Đôn dựa vào nội dung mà đặt đầu đề khi soạn bộ Toàn Việt thi lục. Từ đó về sau, khi biên soạn hợp tuyển thơ văn, các nhà nghiên cứu đều ghi theo học giả họ Lê.

Bài kệ trên được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật với niêm luật chặt chẽ. Hai câu đầu “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.” Với hình ảnh hiện dụ theo lối so sánh bằng cách ví thân thể con người chẳng khác nào như bóng chớp, có đó rồi tan biến đó; chẳng khác nào như cây cối mùa xuân thì tươi tốt, mùa thu thì khô héo.

Những hình ảnh dụ như trên được các vị thiền sư sau này hay dùng nhằm mục đích gợi mở tâm thức cùng phương pháp tu tập cho hành giả - người học đạo. Mà dụ là phương pháp mà khi Đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài thường dùng để giảng thuyết cho chư đệ tử, bởi tư tưởng - giáo lý nhà Phật là giáo lý Khế cơ, nên với việc sử dụng hình thức dụ sẽ dễ dàng phù hợp với căn cơ trình độ của từng người, ai cũng có thể hiểu được, nhận thức rồi vận dụng được với từng mức độ khác nhau. Dụ 喻 (Thí dụ 譬 喻) là Hán dịch, còn Phạn ngữ là Apadana (A-ba-đà-na). Đây là một trong 12 bộ kinh. Nội dung kinh này nêu ra những thí dụ, nhờ chúng mà người học đạo, nghe kinh sẽ hiểu được rõ ý nghĩa của giáo lý - tư tưởng của kinh. Thí dụ chính là lấy cái pháp mình đã biết để làm sáng tỏ cái pháp chưa được biết. Kinh Pháp hoa văn cú quyển thứ 5 có giải thích như sau: “Thí là so sánh, dụ là nói cho hiểu rõ, bằng cách dựa vào cái này để so sánh với cái kia, dùng cái nông cạn để nói cái sâu sắc… Chẳng hạn, nói cây đang lay động để cho biết là có gió; làm quạt hình tròn để ví với mặt trăng. Cho nên gọi là thí dụ”. Trong kinh văn nhà Phật, cụ thể là kinh Niết bàn quyển thứ 29 có chỉ ra 8 cách thức dụ (Thuận dụ, Nghịch dụ, Hiện dụ, Phi dụ, Tiên dụ, Hậu dụ, Tiên hậu dụ, Biến dụ) (6).

Hình ảnh trong bài kệ là hiện dụ. Bằng biện pháp ví von so sánh sinh động, diễm lệ, giàu hình ảnh gần gũi đời sống, thiền sư Vạn Hạnh đã so sánh với kiếp người vô thường, có đó rồi mất đó.

Câu thơ đầu bàn về quy luật của kiếp người: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, so sánh thân xác con người chẳng khác nào ánh chớp, bóng hình, có đó rồi tan biến ngay, nó hiện hữu nhưng xét đến cùng là không có thật.

Câu thứ hai bàn về quy luật tuần hoàn của tự nhiên: Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô, mùa xuân thì cây cối tốt tươi, mùa thu thì héo úa. Con người qua thời gian cũng vậy, khi còn trẻ thì dồi dào sức sống, lúc về già thì tàn tạ, bởi bệnh tật ùa về.

Vấn đề mà thiền sư muốn trao truyền dặn dò đồ đệ là cần nhận thức rõ cái quy luật tuần hoàn của cuộc đời, của sự sống, tức nhận chân cái lẽ ‘nhậm vận thịnh suy’ với một thái độ bình thản, không sợ hãi trước quy luật tuần hoàn, biến thiên, vô thường ấy. Bởi thịnh và suy của cuộc đời, của sự sống chẳng khác nào như giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ. Giọt sương long lanh ấy thật mỹ lệ, nhất là lúc ánh nắng ban mai chiếu vào nó càng lung linh hơn, nhưng một lúc sau đó khi nắng lên thì nó tan biến ngay:

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Có lẽ khi thể hiện tư tưởng trên, vị Quốc sư của vương triều nhà Lý đã triệt ngộ triết lý tính Không của bài kệ trùng tụng ngũ ngôn trong kinh Kim cang bát nhã ba la mật 金剛般若波羅蜜經 mà Đức Thế tôn đã truyền giảng cho ngài Tu Bồ Đề và toàn thể đại chúng nghe trong pháp hội:

一切有為法,如夢幻泡影.

如露亦如電,應作如 是觀.

Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh,

Như lộ diệc như điện, Ưng tác như thị quán.

(Tất cả các hiện tượng trong thế giới khách quan, Như giấc mộng, như hình ảnh không có thật, như bóng nổi, như bóng hình, Như giọt sương, và cũng như ánh chớp, [Các ông] nên quán tưởng như thế).

Bởi tất cả những gì có hình tướng đều là hư ảo, là không có thật, như lời Đức Thế tôn đã giảng trong kinh Kim cang bát nhã ba la mật: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng 凡所有相皆是虛妄 (Phàm cái gì có hình tướng, hết thảy đều không có thật). Cái hiện thực mà bằng mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, tay chạm được, con người cứ tin là chúng tồn tại, hiện hữu, có thực tướng, nhưng xét đến cùng, tất cả đều huyễn ảo, bởi chúng không tồn tại vĩnh hằng, chúng không thường hằng bất biến, không có thật như chúng ta đã thấy, mà tất cả đều phải theo quy luật ‘thành trụ hoại diệt’, ‘sinh lão bệnh tử’; theo lý duyên sinh, duyên khởi. Nếu chúng ta nhận chân cái lẽ: Sắc tức thị không, không tức thị sắc; sắc bất dị không, không bất dị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị - Có tức là không, không tức là có; có chẳng khác không, không chẳng khác có (Bát nhã tâm kinh) thì sẽ thanh thản chấp nhận cái quy luật vô thường này của tất cả hiện thực trong thế giới khách quan, từ đó sẽ có thái độ ‘vô bố úy’ (không sợ hãi) trước hiện thực. Thái độ này là hai trong ba đức của nhà Phật: Trí và Dũng.

Từ nhận thức đó nên thiền sư mới khuyên chúng đệ tử: Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Hình ảnh so sánh ví von ở câu kết thúc (câu hợp) của bài kệ thật lung linh, diễm lệ, đậm chất văn chương. Ở đây, qua câu thơ, tư tưởng tính Không của kinh văn hệ Bát nhã đã được thiền sư chuyển tải bằng hình ảnh hiện dụ thật sinh động. Giọt sương mai có đó, hiện hữu đó, dưới cái nhìn của con người, nó thật đẹp, thật long lanh ngời sáng trên đầu ngọn cỏ, nhưng chỉ trong một cái chớp mắt, một sát-na, khi nắng sớm vừa chiếu lên thì nó tan biến ngay, tức không còn tồn tại, hiện hữu. Thúc hốt tức vô (thoạt có liền không). Cuộc đời là vô thường. Vạn pháp đều vô thường. Nhận thức được điều này, con người ta mới thanh thản, an nhiên, tự tại mà vui sống trong cõi đời với sắc thân giả tạm này.

4. Đối với Phật pháp và đất nước, uy đức và công nghiệp của thiền sư thật lớn lao, nhất là với vương triều nhà Tiền Lê, nhà Lý. Uy đức ấy vẫn toả sáng đến đời sau, và cho đến hôm nay. Bởi thế nên mấy mươi năm sau khi thiền sư thâu thần nhập tịch, vua Lý Nhân Tông (1066-1128) vẫn còn làm bài kệ tán (thơ ca ngợi tán dương) Ngài:

追贊萬行禪師 (7)

萬行融三際,真符古讖詩 (8).

鄉關名古法 (9),拄錫鎮王畿.

Truy tán Vạn Hạnh thiền sư

Vạn Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ sấm thi.

Hương quan danh Cổ Pháp, Trụ tích trấn vương kỳ.

(Vạn Hạnh [học rộng] thông suốt được ba cõi, [Lời nói của sư] quả là phù hợp với những câu thơ sấm cổ. Quê hương tên Cổ Pháp, Chống gậy tầm xích giữ vững kinh đô nhà vua.)

Dịch thơ: Vạn Hạnh thông ba cõi, Lời ông nghiệm sấm thi.

Quê hương làng Cổ Pháp, Chống gậy trấn kinh kỳ. (10)

Lời truy tán của nhà vua đã tổng kết đầy đủ công trạng của thiền sư đối với đất nước. Công đức ấy thật là vô lượng, không thể luận bàn. Tôi không thể nói thêm được lời nào nữa.

NCL

Chú thích

(1) Dị bản: Sách Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ, tờ 83a7-b1, có chép câu thứ ba của bài kệ khác hai chữ: 隨運盛衰休怖畏 Tuỳ vận thịnh suy hưu bố uý. Trong khi đó, các sách Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích thì chép: Dụng vận 用運. Ngô Tất Tố trong Văn học đời Lý chép là Nhậm vận và sách Thơ văn Lý – Trần, tập 1 cũng chép là Nhậm vận.

(2) Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam, BEFEO XXXII, 1932, Hà Nội, tr. 239.

(3) Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Sử học, HN, 1962, tr.183.

(4) Đại Việt sử lược (Việt sử lược), Trần Quốc Vượng dịch (1959), Nxb Thuận Hoá, Huế, tái bản, 2005, tr.77.

(5) Quốc Sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển 2, Kỷ nhà Lý, bản dịch của Viện Sử học, do Cao Huy Giu dịch; Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng, Nxb KHXH, HN, 1971, tập 1, tr. 198.

(6) Xin xem lý giải tám phép Dụ trong bài “Ý chỉ đoạn Ngữ lục và bài kệ Thị tịch của Khuông Việt thiền sư” của Nguyễn Công Lý trên Nguyệt san Giác Ngộ số 180, tháng 3-2011.

(7) Về nhan đề bài thơ này, trong sách Việt điện u linh tập và sách Thiền uyển tập anh ngữ lục thì ghi là Truy tán Vạn Hạnh thiền sư. Trong khi đó Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn và Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích thì ghi là Tặng Vạn Hạnh thiền sư. Thiết nghĩ, ghi như sách Việt điện u linh và Thiền uyển tập anh thì đúng hơn, vì lúc nhà vua viết thơ ca ngợi thì thiền sư đã tịch rồi, nên mới Truy tán, chứ không thể làm thơ Tặng.

(8) (Bản Thiền uyển tập anh chép câu này là 真符古讖機 Chân phù cổ sấm cơ/ky (Lời nói của sư quả thực hợp với những câu thơ sấm cổ).

(9) Theo Đoàn Lê Giang thì câu Hương quan danh Cổ Pháp cần được hiểu là “Quê hương ông nổi danh là nơi phát tích Phật pháp cổ” (Đoàn Lê Giang: “Hai bài thi kệ Đường luật quan trọng thời Lý - Trần: khảo sát văn bản và ý nghĩa”. In trong: Thơ Đường luật đời Lý. Nguyễn Công Lý, Nguyễn Đức Hùng (đồng chủ biên). Nxb Thanh niên, Hà Nội. 2019. Tr. 155-156.

(10) Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình dịch, Thơ văn Lý – Trần, tập 1, Nxb KHXH, HN, 1977, tr. 433.

Tài liệu tham khảo

1. Bát nhã tâm kinh và Kim cang Bát nhã Ba la mật kinh.

2. Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam, BEFEO XXXII, Hà Nội, 1932.

3. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Sử học, HN, 1962.

4. Đại Việt sử lược, Trấn Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hoá, tái bản, 2005.

5. Quốc Sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Sử học, do Cao Huy Giu dịch; Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng, tập 1, Nxb KHXH, HN, 1971.

6. Ngô Tất Tố, Văn học đời Lý, Mai Lĩnh xb, HN, 1942.

Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ số 304 tháng 7-2021.

Tin nhà văn Nguyễn Huy Thiệp bị tai biến thì nhiều người đã biết nhưng tin tác giả Tướng về hưu qua đời khiến giới văn chương và độc giả bất ngờ. Theo nhà thơ Văn Công Hùng, "văn đàn Việt vắng đi một bóng cây lớn".

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp lúc sinh thời /// Ảnh: T.L

 Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp lúc sinh thời (ẢNH: T.L)

Nhớ về kỷ niệm với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh không quên những lần gặp gỡ tác giả Tướng về hưu. Nữ giảng viên trường ĐH KHXH và NV TP.HCM kể lại: “Tôi gặp nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tổng cộng ba lần. Lần thứ nhất là do nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh rủ khi anh Thiệp vào Nam chơi. Lần thứ hai khi trường tôi mời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và nhà thơ dân gian Bảo Sinh đến nói chuyện với sinh viên và lần thứ ba là khi tôi ra Hà nội dự hội thảo của Viện Văn. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đến dự với một túi lạc luộc và khoai lang rồi mời mọi người ăn. Anh vẫn nhớ tên tôi (có lẽ vì cái tên đặc biệt chứ không phải vì cái gì khác). Ngoài đời anh ít nói, không hoạt ngôn, cứ im im ngồi, thi thoảng nói vài câu. Người như vậy để hết tâm vào con chữ rồi..."

20210328 6

Tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh (bìa trái) và nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (thứ hai từ trái sang) cùng các bạn văn chương

(ẢNH: FBNV)

Gặp trực tiếp chỉ ba lần, nhưng với tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh “gặp” truyện của ông thì không biết bao nhiêu lần: Tướng về hưu, Không có vua, Những ngọn gió Hua Tát, Muối của rừng, Những người thợ xẻ, Những bài học nông thôn, Trương Chi, Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết... Cô nhận xét: "Những trang văn gai góc, không màu mè, xoáy sâu vào tim gan độc giả với những cảnh tình nhiều khi rùng rợn và không tưởng tượng nổi. Tôi đọc đi đọc lại nhiều tác phẩm, nhất là Không có vua, một mảnh vỡ chông chênh của những giá trị giao thời, mà khi đọc Tiệm may Sài Gòn của Phạm Thị Hoài, tôi chỉ phục thôi chứ không cảm và lặng người như đọc Nguyễn Huy Thiệp. Gần nhất, năm ngoái, khi dạy truyện Tướng về hưu qua bản dịch tiếng Anh, sinh viên Mỹ rất thích. Nhiều bạn trẻ bày tỏ rằng nhờ truyện này mà họ hiểu được cái tâm tình đổ vỡ của người lính hậu chiến, thì ra người chiến thắng cũng đổ vỡ chứ không phải chỉ người thua".

Cũng theo tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh: “Nếu chọn vài nhà văn lớn nhất nửa sau thế kỷ 20, có lẽ chỉ có Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh (giống như tôi chọn Vũ Trọng Phụng là nhà văn lớn nhất Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 vậy). Một kiếp người gian truân, vất vả, nhưng để lại cho đời từng đó tác phẩm hay, âu cũng là phần thưởng xứng đáng".

Bạn văn thương nhớ Nguyễn Huy Thiệp, một kiếp người gian truân và tài hoa  - ảnh 2

Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (ẢNH: T.L)

 

Còn nhà văn Bùi Anh Tấn thì chia sẻ trên trang cá nhân với những dòng cảm động: “Dẫu biết đời người là một vòng quay sinh - bệnh - lão -tử, không ai tránh khỏi. Tuy nhiên biết tin, vẫn rất buồn. Ra đi ở tuổi 71 không gọi là trẻ nhưng cũng chưa hẳn là quá già. Xin tiễn ông, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp”.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh cho biết: “Anh Thiệp biết tôi ra Hà Nội nên mời tôi đi ăn. Anh Thiệp là một nhân vật nổi tiếng nên thật ra người ta thường mời anh chứ anh ấy rất ít mời ai (!?). Điều này cũng dễ hiểu. Anh nói hụt hơi trong điện thoại: - "Minh, Minh. Phải gặp nhau nhé! Việc gì cũng phải bỏ! Chiều mai đến cà phê Nhân nhé! Tôi cũng sẽ cố gắng để ra sớm... Đúng rồi! Đúng rồi! Cái quán ấy. Góc ngồi ấy..".

Bạn văn thương nhớ Nguyễn Huy Thiệp, một kiếp người gian truân và tài hoa  - ảnh 3

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (phải) và nhà văn Trần Nhã Thụy tại sự kiện gặp gỡ cộng tác viên Viết & Đọc tại Hà Nội, tháng 10.2019 (ẢNH: NVCC)

Nguyễn Hữu Hồng Minh tâm sự: “Cả buổi chiều đó Hà Nội quá nóng, bất chợt đổ một cơn mưa lớn. Cơn mưa lớn đến nỗi, hai phụ bàn chạy lăng xăng đóng lại mấy cửa kính. Tôi phải đổi qua một cái bàn mới khuất sâu hơn để tránh mưa. Và gọi cho anh Thiệp. Tiếng anh lòe nhòe trong mưa: -"Đang tới Minh. Mưa to.Tắc đường. Tôi đang chờ ngớt mưa để đi....Tôi quay lại thì nghe loảng xoảng phía ngoài sân. Nhìn ra phía ngoài một giỏ hoa quán cà phê Nhân đã bị gió cuốn đứt xõa một đống trước sân. Nhân viên chỉ thò đầu ra, rồi rụt cổ thè lưỡi chứ không ai dám đổ ra dọn. Mưa Hà Nội. Hà Nội cũng bất thần có những cơn mưa lớn như thế mà lần đầu tôi được biết khi hẹn với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp".

Còn nhà văn Trần Nhã Thụy chia sẻ ngắn ngủi: "Vĩnh biệt ông, nhà văn - cây bút truyện ngắn tầm cỡ của văn học Việt Nam. Một cuộc đời trầm luân nhưng đáng giá. Danh càng lớn họa càng cao - đó là câu của Nguyễn Huy Thiệp mà tôi xem như là công án tu tập cho đời mình".

Lê Công Sơn

Nguồn: Thanh niên, ngày 20.3.2021.

      Khi xem xét các tác phẩm văn xuôi ở đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1954, không khó để nhận ra tác giả và độc giả thời ấy nhận thức về các thể loại văn xuôi khác với chúng ta hiện nay. Không chỉ vậy, một số tác phẩm còn cho thấy sự thiếu nhất quán trong quan niệm về thể loại giữa những người cùng thời với nhau.

       Nhìn chung, quan niệm về các thể loại văn xuôi ở Nam Bộ thời bấy giờ tiếp nối quan niệm thể loại đã hình thành từ buổi đầu của văn học Quốc ngữ Nam Bộ. Văn học Việt Nam tiếp biến các thể loại văn xuôi hiện đại từ văn học Pháp trong sự dung hợp có tính sáng tạo với những khái niệm trong văn xuôi trung đại Đông Á, như tiểu thuyết (roman), truyện ngắn (nouvelle), tuỳ bút, bút kí, tản văn (essai), hồi kí (mémoire), kí sự, phóng sự (reportage)... Mỗi thể loại có chức năng xã hội khác nhau. Các thể loại ít tính hư cấu như reportage, essai, mémoire nhấn mạnh chức năng truyền tin và giá trị của thông tin xác thực, trong khi các thể loại hư cấu như roman và nouvelle chú trọng hơn vào việc truyền tải thông điệp (tôn giáo, đạo đức, tình cảm...) và phục vụ giải trí.

      Roman khi vào Việt Nam được gọi là “tiểu thuyết”, một khái niệm có sẵn trong văn học Đông Á dùng để chỉ tác phẩm tự sự hư cấu kể các chuyện vụn vặt, đời thường, đối lập với “đại thuyết” là văn của thánh nhân và “trung thuyết” là văn của các hiền sư, sử gia. Chịu ảnh hưởng văn học Trung Quốc cận hiện đại, người ta lại chia tiểu thuyết thành đoản thiên, trung thiên và trường thiên tiểu thuyết, vốn là những khái niệm chưa xuất hiện trong văn học cổ trung đại. Tuy cũng có người cố gắng xác định điểm khác biệt về mặt cấu trúc rằng “trường thiên tả phần nguyên, đoản thiên tả phần lẻ”, nhưng thực tế sáng tác cho thấy người ta định danh thể loại cho tác phẩm chủ yếu căn cứ vào độ dài, và trường thiên hay trung thiên tiểu thuyết còn được gọi tắt là tiểu thuyết để phân biệt với đoản thiên tiểu thuyết. Bộ khái niệm truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài không rõ xuất hiện từ khi nào, nhưng được sử dụng rộng rãi trên báo chí trong Nam ngoài Bắc từ thập niên 1930. Võ Văn Nhơn cho rằng khái niệm “truyện ngắn” xuất hiện sớm nhất trên báo Nam Phong, Bình Nguyên Lộc khẳng định khái niệm “truyện dài” được báo Phong Hóa sử dụng đầu tiên.

     Đến giai đoạn 1945-1954, ở Nam Bộ đã có những bài viết có tính lí luận phân biệt truyện và tiểu thuyết, cũng như nhấn mạnh đặc trưng của truyện ngắn. Triều Sơn có bài Chuyện phiếm về tiểu thuyết phân biệt tiểu thuyết (roman) với truyện kể (récit), cho rằng truyện chú trọng việc kể còn tiểu thuyết chú trọng việc tả, truyện giúp ta biết còn tiểu thuyết giúp ta thấy, truyện chỉ rút thông tin từ thế giới thường ngày còn tiểu thuyết xây dựng một thế giới riêng trong tác phẩm. Bình Nguyên Lộc có bài Truyện ngắn và tân truyện khác nhau như thế nào? phân biệt khái niệm truyện ngắn (conte) là truyện kể truyền thống theo kiểu dân gian chú trọng cốt truyện, còn tân truyện (nouvelle) là truyện ngắn hiện đại, chú trọng yếu tố tình huống và miêu tả. Ông cho rằng các truyện ngắn phổ biến đương thời phải gọi là tân truyện mới chính xác.

    Tuy nhiên, những bài lí luận nói trên không chi phối nhiều đến nhận thức thể loại của người sáng tác ở Nam Bộ giai đoạn này, vì các khái niệm trường thiên, trung thiên, đoản thiên tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tân truyện vẫn được sử dụng lẫn lộn, có khi kết hợp các định ngữ tạo ra những tổ hợp như “truyện vừa vừa”, “tiểu thuyết dài”, “tiểu thuyết ngắn”... Một số sách có in chữ “tiểu thuyết” ở bìa lại là các tập truyện gồm nhiều truyện ngắn biệt lập. Nhiều tiểu thuyết có dung lượng rất ngắn, chỉ khoảng trên dưới 30 trang. Về thành của Hoài Tân ngoài bìa ghi “truyện dài” nhưng bên trong lại ghi là “tiểu thuyết”. Tiếng chó tru đêm của Kiên Giang, Cành hoa sim của Minh Đăng Khánh, Màu đỏ hoa vông của Thương Lan, Lá thư chúc tết của Anh Tuyến... được gọi là tân truyện, mặc dù đặc điểm nghệ thuật không khác mấy các truyện được định danh là truyện ngắn. Nỗ lực về mặt lí luận của Bình Nguyên Lộc không được người đương thời để ý mấy, và theo thời gian khái niệm tân truyện không còn được dùng để gọi tên thể loại nữa. Các định ngữ “dài”, “ngắn” được gắn vào truyện hoặc tiểu thuyết chỉ để nói về dung lượng tác phẩm một cách cảm tính.

      Có vẻ như nhận thức thể loại văn xuôi ở Nam Bộ sau hơn nửa thế kỉ chẳng những không ổn định hay rạch ròi hơn mà lại còn bội phần phức tạp khi ngày càng nhiều tên gọi mới xuất hiện cùng tồn tại với những khái niệm đã có từ trước. Tiểu thuyết và truyện ngắn Nam Bộ xuất hiện chủ yếu trên báo, vốn không thuận tiện cho sự nghiền ngẫm đầu tư, mặt khác không khí thời kì tranh đấu gấp gáp, khẩn trương luôn thúc giục nhà văn viết nhanh, viết nhiều, nên nhà văn Nam Bộ khó có thể sản xuất được tiểu thuyết (roman) như Triều Sơn định nghĩa. Điều này cho thấy đặc điểm của hoạt động sản xuất văn học đã chi phối tư duy thể loại của nhà văn và công chúng Nam Bộ, khiến phần đông trong số họ nhận thức rằng tiểu thuyết và truyện cũng chỉ là một mà thôi. Họ dùng các khái niệm thể loại của văn xuôi hư cấu một cách lẫn lộn vì cả người viết lẫn người đọc đều không có nhu cầu phân biệt chúng về mặt thi pháp.

     Giai đoạn 1945-1954 rộ lên nhiều tác phẩm gọi là kí sự, phóng sự, hồi kí, bút kí, tuỳ bút nhưng cách viết lại đậm chất hư cấu. Các thể loại reportage, essai, mémoire khi vào Việt Nam cùng với báo chí đã kết hợp với những khái niệm có sẵn trong văn học trung đại Việt Nam vốn dùng để kể chuyện có thật, chú trọng tính xác thực của thông tin, cùng với quan điểm, cảm nhận của tác giả về thông tin ấy. Nhiều khái niệm được tạo mới với thành tố “kí” (ghi chép) như hồi kí, bút kí, truyện kí... để gọi tên những thể loại mới cần được phân biệt với những thể loại đã có, nhưng vẫn dựa trên nguyên tắc tôn trọng thông tin. Phóng sự (đọc chệch âm từ phỏng sự) gắn liền với báo chí nên tính xác thực là yêu cầu quan trọng hàng đầu, nhưng được viết một cách sinh động, với nhiều chi tiết phong phú theo kiểu văn chương. Các hồi kí Lao tù của Thiên Giang, Chị Dung của Hợp Phố, phóng sự Tam Giác Tự của Võ Hoà Khanh hay bút kí Cứu lấy quê hương của Hoàng Tấn rất ít thông tin xác thực. Phóng sự Tam Giác Tự chỉ có những địa điểm hư cấu kèm lời giải thích có tính mô tả đặc điểm hơn là cung cấp thông tin, chẳng hạn như Tam Giác Tự là tên một trại giam tù binh ở miền Đông. Phóng sự vui Đơ-dèm cúp-bắp của Vũ Xuân Tự viết về những thanh niên đợi ngày bị chính quyền bắt lính để thoát những khoản tiền nợ hút xách, bài bạc được kể như một truyện ngắn, chủ yếu gồm những đoạn thoại giữa các nhân vật ghép lại với nhau tạo tình huống bất ngờ cho độc giả. Hồi kí Lao tù của Thiên Giang gồm nhiều truyện ngắn viết ở ngôi thứ ba, và một số truyện viết ở ngôi thứ nhất với nhân vật xưng “tôi” tên Tiến - một nhân vật hư cấu. Tương tự, bút kí Cứu lấy quê hương của Hoàng Tấn mô tả trải nghiệm, cảm xúc của chính bản thân tác giả nhưng lại kể từ góc nhìn của nhân vật hư cấu tên Nhi. Các trường hợp nói trên là minh chứng cho một thực tế rằng sự chồng lấn trong cách hiểu về “hiện thực” và “sự thật” trong sáng tác văn học đã khiến các tên gọi thể loại thuộc nhóm hư cấu và phi hư cấu bị sử dụng lẫn lộn. Khái niệm tiểu thuyết có thể kéo giãn tới mức bao trùm cả những văn bản tường thuật chuyện có thật, và những câu chuyện có thật của bản thân tác giả lại có thể được kể như thể nó được hư cấu ra. Từ trước 1945 đã phổ biến khái niệm “phóng sự tiểu thuyết” - một thể loại trộn lẫn hư cấu và phi hư cấu. Vũ Ngọc Phan (1989) giải thích: “Phóng sự tiểu thuyết là thế nào? Là một tiểu thuyết mà tác giả muốn thuật lại những việc có thực, những việc có thể làm đầu đề cho những thiên phóng sự và chỉ có rất ít tưởng tượng. Ở lối tả chân, nhà tiểu thuyết có thể dùng rất nhiều tưởng tượng, miễn là chỉ căn cứ vào sự thực, vào những điều mắt thấy tai nghe là đủ.” Qua định nghĩa của Vũ Ngọc Phan thì tiểu thuyết phóng sự và tiểu thuyết kí sự có hàm lượng hư cấu cao hơn phóng sự, kí sự thuần tuý, nghĩa là định ngữ “tiểu thuyết” mang hàm ý gia tăng phần hư cấu cho những câu chuyện có thật được kể lại trong “phóng sự”, “kí sự”. Thế nhưng không phải tác phẩm nào cũng tuân theo cách phân chia này. Bằng chứng là “phóng sự lao tù” Tam Giác Tự của Võ Hoà Khanh gần như không có thông tin xác thực nào để độc giả có cảm giác đây là một câu chuyện có thật được kể lại từ một người trực tiếp chứng kiến hoặc trải nghiệm sự việc. Tấn công tài xỉu của Vũ Xuân Tự trình bày kết quả quan sát, thâm nhập sâu nghề cờ bạc tài xỉu, với cách bố cục theo kiểu báo chí có đề mục, số thứ tự cho từng luận điểm, diễn đạt theo kiểu cung cấp thông tin xác thực, thì lại in chữ “tiểu thuyết” ở trang bìa. Trường hợp quyển phỏng sự Đồng quê của Phi Vân lại đặc biệt hơn nữa. Tác phẩm gồm hai phần “phỏng sự ngắn” và “phỏng sự tiểu thuyết”. Trong trường hợp này, “phỏng sự” ngụ ý về tính có thật của những câu chuyện được kể, còn khái niệm “ngắn” và “tiểu thuyết” ngụ ý về độ dài tác phẩm. Các bài viết trong phần “phỏng sự ngắn” thì độc lập, trong khi các bài trong phần “phỏng sự tiểu thuyết” lại liên kết với nhau thành một câu chuyện dài hơn.

      Giống như vấn đề lẫn lộn các thể loại văn xuôi hư cấu đã trình bày ở trên, việc không phân biệt rạch ròi các thể loại hư cấu và phi hư cấu cũng bắt nguồn từ tư duy hiện thực của người viết. Khi sáng tác truyện, họ xem trọng tính hiện thực, muốn kể cho độc giả những câu chuyện đáng tin, nên chi tiết trong truyện đều được lấy từ trong hiện thực đời sống. Khi mô tả và phân tích hiện tượng xã hội, tường thuật sự kiện, ghi chép lại kí ức, họ lại muốn trang viết của mình thật sinh động nên tạo ra những nhân vật hư cấu thay mình kể lại những trải nghiệm, nhưng lại tước bỏ các thông tin chi tiết xác thực của sự việc, vì cho rằng bản thân tên gọi “kí” của thể loại đã đủ bảo chứng cho tính có thật của tác phẩm.

      Việc mơ hồ trong nhận thức thể loại văn xuôi Quốc ngữ từ buổi đầu hình thành đến tận thời điểm 1945-1954 còn là kết quả của việc tương tác thể loại theo hình thức tổng hợp thể loại trong lược đồ văn học Quốc ngữ của Nguyễn Thành Thi. Áp dụng quan điểm của trường phái Bakhtin, Nguyễn Thành Thi phác họa lịch sử phát triển văn học Quốc ngữ qua sự vận động và tương tác giữa các thể loại với ba hình thức: (1) tổng hợp thể loại; (2) đổi ngôi - tiếp sức giữa các thể loại; (3) thay thế thể loại. Hình thức 2 và 3 gần như không xảy ra trong giai đoạn 1945-1954, vì chín năm ngắn ngủi thuộc đoạn giữa của thời kì hiện đại không đủ để một thể loại nào đó soán ngôi một thể loại khác, hay khiến cho thể loại khác biến mất. Hình thức 1 là rõ nét nhất, khi các thể loại văn xuôi luôn va chạm lẫn nhau dẫn đến việc đường biên giữa chúng bị mờ nhòe. Đứng giữa nhiều luồng lực tương tác từ các nền văn hóa, văn chương khác nhau khắp Đông Tây kim cổ, nhà văn Nam Bộ luôn nhạy bén và cởi mở với tất cả. Họ chắt lọc từ các thể loại để chọn cách viết phù hợp nhất với mình trong từng trường hợp cụ thể.

       Giai đoạn 1945-1954 vẫn phổ biến truyện phóng tác mặc dù ý thức về quyền tác giả lúc này đã rất phát triển. Một số tác giả chỉ ghi tác phẩm của mình là “phóng tác” nhưng lại không cho biết tác phẩm nguồn, như Chúa đảo trả thù của Long Mỹ Nhân, Ngày mai đã muộn rồi của Giang Tân. Ngược lại, truyện dài feuilleton Giết cha của Thiên Giang không có từ “phóng tác” ở phần tên thể loại nhưng trong lời giới thiệu, ông cho biết nó là bản tóm tắt của Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky, với những nhân vật, bối cảnh đã được ông Việt hóa. Thông tin này độc giả chỉ có thể biết được khi đọc kì đăng đầu tiên của truyện. Nếu theo dõi truyện từ giữa chừng, độc giả của báo sẽ không thể biết đây là tác phẩm phóng tác mà dễ hiểu nhầm rằng đây là sáng tạo của Thiên Giang. Ngoài ra, một số nhà văn còn không phân biệt giữa phóng tác và dịch. Tám Thu dịch tóm tắt một đoạn trong tiểu thuyết Túp lều bác Tôm thành truyện ngắn Quyết cứu đứa con, nhưng lại không cho biết nguồn gốc của câu chuyện. Tác phẩm chỉ được ghi là “truyện ngắn nhi đồng”, không có thông tin dịch hay phóng tác, nhưng tên nhân vật và bối cảnh trong truyện gốc được giữ nguyên không Việt hóa. Ngược lại, một số truyện không có bất cứ thông tin nào cho biết nó là phóng tác. Việc nhận ra đó có phải truyện phóng tác hay không hoàn toàn dựa vào kiến thức của độc giả. Hợp Phố Việt hóa cốt truyện Món quà Giáng sinh của O’Henry thành truyện ngắn Món quà ngày Tết, kể về hai vợ chồng nghèo, mỗi người âm thầm bán thứ giá trị nhất mà mình sở hữu để mua quà cho người kia, nhưng hóa ra món quà mới không thể sử dụng được nếu không có thứ đã bán. Truyện dài “phóng tác” Người nữ cứu thương của Hoàng Thơ đăng nhiều kì trên báo Đời mới những năm 1952-1953 có cốt truyện rất giống truyện dài Hờn chinh chiến của Việt Quang đã in sách năm 1949. Truyện kể về diễn biến tâm lí phức tạp của một nữ cứu thương đối mặt với người chồng thương binh trở về với khuôn mặt bị cháy biến dạng, để rồi nàng trưởng thành hơn trong nhận thức và tình cảm của mình. Theo Lê Văn Nghĩa, cũng trong những năm 1948-1949, ở chiến khu phổ biến vở cải lương Người mặt cháy của soạn giả Năm Châu, dựng từ truyện Mối tình cao thượng của Bảo Định Giang và Bích Lâm, vốn được Việt hóa từ truyện ngắn Tính cách Nga của Aleksey Tolstoy, kể về anh thương binh mặt cháy về thăm nhà với danh tính khác vì sợ thương tật của mình sẽ làm người thân khiếp sợ và đau khổ. Việt Quang hẳn đã mượn ý tưởng tình huống từ Tính cách Nga hoặc Người mặt cháy để khai thác sâu hơn tâm lí của người vợ, nhưng Hoàng Thơ đã bám sát cốt truyện của Việt Quang đến từng tình tiết nhỏ và gọi tác phẩm của mình là “phóng tác”. Có thể thấy, khái niệm “phóng tác” vẫn được công chúng chấp nhận, là một bảo chứng cho đạo đức nhà văn trong việc sử dụng lại ý tưởng của người khác, nên không thấy ai thắc mắc gì về trường hợp Hoàng Thơ sử dụng lại toàn bộ cốt truyện của một nhà văn người Việt khác. Nếu từng có ai đó chỉ trích tác phẩm vì lỗi đạo nhái thì nó đã không thể yên ổn xuất hiện đều đặn hàng tuần trong suốt hai năm trên một tờ báo rất nổi tiếng thời bấy giờ là tờ Đời mới.

      Thực tế nói trên cho thấy giới nhà văn và công chúng văn học Quốc ngữ ở Nam Bộ không để tâm nhiều đến vấn đề hình thức thể loại của văn xuôi, mà tập trung hơn vào câu chuyện và tác động xã hội của câu chuyện được kể. Họ không chú tâm vào đặc trưng thi pháp tiểu thuyết, không phân biệt rạch ròi các thể loại hư cấu và phi hư cấu, cũng chưa đi được xa trên con đường phân biệt giữa dịch và phóng tác. Họ quan tâm hơn đến việc kể câu chuyện sao cho hấp dẫn công chúng nhất, có hiệu quả tác động nhất, và gọi câu chuyện đó bằng tên thể loại mà họ nghĩ rằng có thể đem lại hiệu quả ấy. Đó là lí do các thể loại thường có định ngữ chỉ báo nội dung tác phẩm, và trong nhiều trường hợp các định ngữ này kết hợp với nhau, chồng chéo lên nhau, như tiểu thuyết tình ái, tiểu thuyết tâm lí, tiểu thuyết tâm lí-ái tình-xã hội, truyện dài lao tù, truyện ngắn kỉ niệm... Đây không phải là cách định danh hệ thống, khoa học của nhà lí luận phê bình, mà là cách định danh của nhà văn nhằm thu hút sự chú ý của độc giả và định hướng độc giả khi theo dõi câu chuyện. Việc gọi một tác phẩm được viết như tiểu thuyết là kí hay phóng sự cũng nhằm mục đích tương tự, để bảo đảm với độc giả mức độ chân thực của câu chuyện được kể, để thuyết phục độc giả tin mình, từ đó đạt được hiệu quả xã hội cần thiết.

Nguồn: Nguyễn Thị Phương Thúy (2021). Nhận thức thể loại của nhà văn Nam Bộ giai đoạn 1945-1954. Văn nghệ Quân đội (4), tr. 97-101. http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/nhan-thuc-the-loai-cua-nha-van-nam-bo-giai-doan-1945-1954_12177.html

Xét riêng thể truyện ngắn, phong cách Nguyễn Huy Thiệp thống nhất trong sự biến hóa khó lường: trữ tình dân gian, hiện thực khắc nghiệt pha lẫn yếu tố kỳ ảo. Đó còn là truyện kể qua ngôn ngữ sân khấu, với những xung đột được đẩy đến cao trào.

20210322

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp - Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN

Trước khi gây chấn động văn đàn với tác phẩm Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã công bố trên báo Văn Nghệ hai truyện ngắn (Mỵ, Vết trượt). Nếu tiếp tục cách khai thác chất liệu sáng tác và bút pháp của những truyện ngắn này, có lẽ ông vẫn tìm được một vị trí trong văn học sử nhưng không thể trở thành hiện tượng độc đáo gây nhiều tranh cãi như chúng ta chứng kiến suốt ba thập niên văn học.

Trong thế kỷ 20 ở nước ta, trên lĩnh vực văn xuôi hư cấu xuất hiện nhiều văn tài đa dạng, tầm cỡ, nhưng thiết nghĩ hai người có tính cách tân và mang số phận kỳ lạ nhất là Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Huy Thiệp.

Một người cầm bút trong xã hội thuộc địa; một người trong bối cảnh đất nước thống nhất, hòa bình. Một người vào nghề và hoàn thành sự nghiệp khi tuổi đời còn rất trẻ; một người khởi nghiệp khi đã qua tuổi thanh niên và có nhiều trải nghiệm cay đắng trong cuộc đời. Một người chủ yếu thành công ở thể loại tiểu thuyết; một người đạt đến đỉnh cao nghệ thuật của thể loại truyện ngắn.

Như những ngôn sứ trong Kinh Thánh từng không được chấp nhận trên quê hương mình, dư luận xã hội đã có lúc không chiều đãi, thậm chí phủ nhận hai văn tài nói trên.

Những mũi tên bắn vào tác phẩm Vũ Trọng Phụng chủ yếu khi ông đã nằm xuống, còn Nguyễn Huy Thiệp thì phải chịu trận và chống đỡ với những làn sóng đả kích khi còn đang sức sáng tạo để tiếp tục khẳng định chính mình.

Nói hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của thời Đổi mới có lẽ cũng đúng, nhưng tác động của thời cuộc may lắm là kích thích và tạo môi trường tương đối thuận lợi cho tác phẩm được công bố.

Còn sự thật thì Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của chính Nguyễn Huy Thiệp, với nội công thâm hậu mà ông rèn luyện trong mười năm dạy học ở Tây Bắc, miền đất của Những ngọn gió Hua Tát.

Xét riêng về thể truyện ngắn, có thể xếp Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh Nam Cao. Phong cách Nam Cao thống nhất trong sự viên mãn; phong cách Nguyễn Huy Thiệp thống nhất trong sự biến hóa khó lường: trữ tình dân gian, hiện thực khắc nghiệt pha lẫn yếu tố kỳ ảo. Đó còn là những truyện kể qua ngôn ngữ sân khấu, với những xung đột được đẩy đến cao trào.

Không có gì khó hiểu khi nhà thơ trong văn xuôi đó cũng là tác giả của những vở kịch đặc sắc mang chiều sâu tư tưởng. Tiếc là kịch của Nguyễn Huy Thiệp ít được dàn dựng trên sân khấu nên vẫn còn xa lạ với công chúng.

Khoảng trống Nguyễn Huy Thiệp để lại hôm nay có lẽ còn lâu lắm mới được lấp đầy. Người đọc chắc chắn sẽ đọc lại Nguyễn Huy Thiệp và lịch sử sẽ còn dành nhiều giấy mực để luận bàn về sự nghiệp của ông.

Nguyễn Huy Thiệp: người gợi lại dũng khí cho tất cả nhà văn

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp - tên tuổi đáng chú ý nhất văn đàn Việt Nam trong vài chục năm qua - vừa qua đời lúc 16h45 ngày 20-3 tại nhà riêng sau một thời gian chống chọi với bệnh đột quỵ. Ông hưởng thọ 72 tuổi.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 20-4-1950 ở Thái Nguyên, nhưng nguyên quán ở Hà Nội.

Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như Tướng về hưu, Muối của rừng, Không có vua, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Thương nhớ đồng quê, Sang sông, bộ ba truyện ngắn lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết...

Ngoài ra ông còn viết tiểu thuyết, kịch bản, thơ, tiểu luận. Nhưng thành công hơn cả vẫn là truyện ngắn. Ba cuốn tiểu thuyết đã xuất bản gồm: Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm, Tuổi 20 yêu dấu.

Năm 2020, kỷ niệm 70 tuổi, Nguyễn Huy Thiệp cùng với Công ty sách Đông A đã cho ra đời một tuyển tập truyện ngắn chọn lọc với những tranh minh họa của những họa sĩ xuất sắc, cũng là bạn bè của ông ở Hà Nội.

Cuốn sách tập hợp những truyện ngắn mà nhà văn ưng ý nhất. Từ hơn chục năm nay, ông hầu như gác bút, vui tuổi già với con cháu.

Nhà văn Nguyễn Bình Phương - phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - đánh giá Nguyễn Huy Thiệp là "một trong những nhà văn gần như là quan trọng số 1 từ sau Đổi mới, người đã gợi lại dũng khí cho tất cả các nhà văn, cho họ thấy thế nào là quyền năng một người viết, quyền thay đổi, quyền khám phá, phản biện xã hội, khiến ta nhìn thấy lại giá trị của nhà văn".

"Chắc chắn anh Thiệp sẽ ở lại với lịch sử văn học. Ông thật sự là một nhà văn lớn. Tôi thật sự tiếc bởi ông ra đi sớm. Ông còn thì anh em làng văn cảm giác ấm cúng hơn" - tác giả tiểu thuyết Mình và họ nói về bậc đàn anh văn chương vừa rời cõi tạm trong lúc đi bộ qua những con phố lướt thướt mưa phùn của Hà Nội.

Về con người cá nhân, Nguyễn Bình Phương rất trân quý Nguyễn Huy Thiệp, một con người rất lặng lẽ, quyết liệt, tôn trọng bạn bè, đồng nghiệp.

Nguyễn Bình Phương còn tiếc nuối hơn khi Nguyễn Huy Thiệp chưa được đánh giá xứng đáng, ông chưa được trao giải thưởng nhà nước, cũng chưa có giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

"Đây là món nợ lớn nhất của Hội Nhà văn với Nguyễn Huy Thiệp" - phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nói.

Hội Nhà văn Việt Nam sẽ cùng gia đình nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tổ chức tang lễ cho ông, dự kiến tại Nhà tang lễ quốc gia.

Thiên Điểu

Huỳnh Như Phương

Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 21.3.2021.

Tin nhà văn Anh Động qua đời được con gái ông là nhà văn Nguyễn Thị Diệp Mai đưa lên trang cá nhân, nghẹn ngào: "Tiễn biệt cha - ngủ ngon, sẽ bình yên, sẽ không còn đau nữa. Cha vẫn ở bên mẹ và tụi con mỗi ngày”.

Nhà văn Anh Động tên thật là Nguyễn Việt Tùng. Ông sinh ngày 20.10.1941 ở Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang và thường trú tại số nhà 23 Trương Định, TP. Rạch Giá, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Không chỉ "văn hay chữ tốt”, ông còn là một chiến sĩ dũng cảm, gan dạ trong các trận chiến đấu với quân thù. Khi nước nhà thống nhất, nhà văn Anh Động tham gia công tác quản lý và từng giữ chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang. Nhà văn có nhiều tác phẩm dành cho vùng đất miền Tây thương mến của mình như: Ven rừng tràm, Bóng núi Tô Châu, Dòng sông lấp lánh.

Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM Bích Ngân cho biết: “Nhà văn Anh Động là một trong rất ít người cầm bút của miền Tây Nam bộ được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam từ thập niên 70 của thế kỷ trước. Miền Tây lúc đó, người từ bưng biền kháng chiến viết văn làm thơ chưa đếm đủ trên đầu ngón tay: Nguyễn Bá, Lê Chí, Nguyễn Thanh, Anh Động.Trong số người theo nghiệp văn chương, có lẽ nhà văn Anh Động là người phải nỗ lực, phải "chiến đấu" với trang viết gian nan nhất. Bởi, vốn chữ nghĩa được học hành bài bản của ông quá ít. Ông mới học xong tiểu học và rời gia đình tham gia kháng chiến. Ông tự học, tự mày mò, tự vượt lên, tự khẳng định mình, khẳng định vị trí văn chương ở một vùng đất mà đờn ca tài tử chiếm ưu thế so với các loại hình nghệ thuật khác”.

Chia sẻ những kỷ niệm về một người miền Tây có duyên kể chuyện bác Ba Phi, nữ văn sĩ Bích Ngân kể: “Trong số những nhà văn nhà thơ thành danh từ vùng đất U Minh và cũng là đàn em, gọi ba tôi là "anh út" hay "anh Út Nghệ", thì chú Sáu Động (chị em tôi thường gọi "Chú Sáu") luôn dành tình cảm đặc biệt đối với ba tôi. Khi tìm kiếm lại bài viết và tư liệu để in quyển sách Ngày ấy đã lùi xa, quyển sách cuối cùng của ba tôi, tôi gặp một xấp thư dày của người thân, bè bạn gởi cho ba tôi. Trong số thư đó, nhiều lá thư đã ố vàng, nhiều lá thư được viết trong lúc tạm yên giữa khói lửa chiến tranh, là của nhà văn Anh Động. Nhiều lá thư dày kín nhiều trang".

Trên trang cá nhân của mình, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn viết: “Dù chưa từng được đào tạo qua một trường lớp nào, nhưng nhà văn Anh Động chính là người có công văn bản hóa hình tượng lão nông Nam bộ hài hước Bác Ba Phi lừng lẫy trong đời sống tinh thần của người dân sông nước Cửu Long nói riêng và người dân cả nước nói chung. Từ những câu chuyện truyền tụng trong dân gian của nguyên mẫu Nguyễn Long Phi (1884-1964) ở xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nhà văn Anh Động đã viết Kể chuyện Bác Ba Phi xuất bản lần đầu tiên năm 1995 và nhanh chóng lan tỏa khắp nơi”.

Nói về sự sáng tạo nhân vật Bác Ba Phi nổi tiếng của nhà văn Anh Động, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn bày tỏ sự ngưỡng mộ: “Bằng chứng là ngoài Bác Ba Phi có thật, nhà văn Anh Động còn sáng tạo thêm nhân vật thằng Đậu cho có ông có cháu, rồi từ đó công chúng lại sáng tạo thêm nhân vật quyến rũ không kém là vợ thằng Đậu. Ngay cả nhà văn Anh Động cũng không biết “vợ thằng Đậu” mồm ngang mũi dọc thế nào, nhưng cái câu “tệ hơn vợ thằng Đậu” được dùng phổ biến để nói về một phụ nữ hậu đậu, lười nhát.Từ ngày nghỉ hưu, nhà văn Anh Động bán căn nhà ở trung tâm TP. Rạch Giá và chuyển ra cư ngụ ở khu vực ngoại ô. Tư gia của nhà văn Anh Động gần sân vận động Rạch Sỏi lúc nào cũng rộn ràng tiếng cười nói của cháu con”.

Vậy mà kể từ hôm nay, nhà văn Anh Động - người cha kính yêu và thân thương nhất thường được con gái Diệp Mai gọi bằng 3 chữ "cây di sản”, đã lặng lẽ rời xa dương thế, để lại cho đời những câu chuyện kể về Bác Ba Phi nổi tiếng của miền sông Tây nước.

Nguồn: https://thanhnien.vn/van-hoa/vinh-biet-nha-van-anh-dong-nguoi-mien-tay-co-duyen-ke-chuyen-bac-ba-phi-1402687.html

TTO - Theo tin từ anh Nguyễn Phan Khoa - con trai nhà văn Nguyễn Huy Thiệp - Nguyễn Huy Thiệp vừa qua đời lúc 16h45 hôm nay, ngày 20-3 tại nhà riêng sau một thời gian chống chọi với bệnh đột quỵ. Ông hưởng thọ 72 tuổi.

20210320

Nguyễn Huy Thiệp ngoài tài văn còn rất ham vẽ trên đĩa gốm tặng bạn bè - Ảnh: Gia đình cung cấp

Con trai của Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cho biết, cho đến trưa nay nhà văn vẫn ăn uống được nhưng chiều nay thì nhà văn từ từ ra đi trong nhẹ nhàng, bên đông đủ con cháu. 

 Hội Nhà văn Việt Nam sẽ đứng ra cùng gia đình tổ chức tang lễ cho nhà văn Nguyễn Huy Thiệp dự kiến tại Nhà tang lễ quốc gia.

Vậy là tên tuổi đáng chú ý nhất văn đàn Việt Nam trong vài chục năm qua đã ra đi trong một ngày mưa u ám của Hà Nội.

"Sinh lão bệnh tử/ Luật trời đã ban/ Thì đành chấp nhận/ Với nụ cười thôi… Nói chỉ nói vậy thôi/ Lòng buồn không tả nổi…".

Những câu thơ đã là cuối cùng trên giường bệnh của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp - một tên tuổi lừng lẫy trên văn đàn Việt Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI - khiến những người yêu thương ông và yêu tài văn của ông không khỏi đau thắt lòng.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp qua đời, văn đàn Việt Nam lòng buồn không tả nổi - Ảnh 2.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ký tặng sách chiều 11-8-2020 tại nhà riêng - Ảnh: YÊN BA

Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 20-4-1950 ở Thái Nguyên, nhưng quê gốc ở Thanh Trì - Hà Nội. 

Trước khi trở thành người viết chuyên nghiệp, ông đã có 10 năm là một thầy giáo ở miền núi phía Bắc. Đó là 10 năm ông “úp mặt vào núi mà đọc sách”. 

Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng trên Báo Văn nghệ năm 1986. Ngay lập tức, ông trở thành trung tâm của những cuộc tranh luận văn chương sôi nổi bởi một giọng văn “phũ”, dám đi đến tận cùng cái ác của con người để mà tiêu trừ nó. 

Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như Tướng về hưu, Muối của rừng, Không có vua, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Thương nhớ đồng quê, Sang sông, bộ ba truyện ngắn lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết… 

Ngoài ra ông còn viết tiểu thuyết, kịch bản, thơ, tiểu luận. Nhưng thành công hơn cả vẫn là truyện ngắn. Ba cuốn tiểu thuyết đã xuất bản gồm: Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm, Tuổi 20 yêu dấu

Trong đó cuốn Tuổi 20 yêu dấu thành công hơn cả, cuốn sách ông viết từ nguyên mẫu là con trai của mình, một cậu trai đã bị cơn bão ma túy và cơn bão của thời đại đô thị hóa mạnh mẽ cuốn đi. Ông vẫn còn có một cuốn tiểu thuyết hoàn thành đã lâu nhưng chưa xuất bản.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp qua đời, văn đàn Việt Nam lòng buồn không tả nổi - Ảnh 3.

Nguyễn Huy Thiệp nhiều năm về già đã thanh thản hơn với niềm vui chăm con chăm cháu và học đạo - Ảnh: Gia đình cung cấp

Năm 2020, kỷ niệm 70 tuổi, Nguyễn Huy Thiệp cùng với nhà sách Đông A cũng với những người bạn họa sĩ của ông đã cho ra đời một tuyển tập truyện ngắn chọn lọc với những tranh minh họa của những họa sĩ hàng đầu hiện nay như Lê Thiết Cương, Thành Chương, Đào Hải Phong, Đặng Xuân Hòa, Lê Trí Dũng, Phan Cẩm Thượng… 

Cuốn sách tập hợp những truyện ngắn mà nhà văn ưng ý nhất, một cuốn sách ông gọi là “liên tài” khi tập hợp những họa sĩ xuất sắc nhất, cũng là bạn bè của ông ở Hà Nội vẽ minh họa. 

Từ hơn chục năm nay, ông hầu như gác bút, vui tuổi già với con cháu. 

Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng đánh giá Nguyễn Huy Thiệp là một trong số ít nhà văn Việt Nam xuất sắc nhất thế kỷ 20. Theo ông, sau Nam Cao thì Việt Nam chỉ có Nguyễn Huy Thiệp là một người viết có văn và có tư tưởng. Trong khi Nam Cao viết rất hay về người nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 thì Nguyễn Huy Thiệp cũng xuất sắc trong việc viết về người Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20. 

Cái xuất sắc của Nguyễn Huy Thiệp chính là một nhà văn có tư tưởng. Không nhiều nhà văn Việt Nam có được điều này. Và cái đặc sắc làm lên dấu ấn riêng của Nguyễn Huy Thiệp trong văn chương, theo Phan Cẩm Thượng, chính là ông dám đi đến tận cùng cái ác của con người, làm một cuộc phẫu thuật vào cái ác của con người và phơi bày nó ra mà “chữa bệnh” cho con người. 

Đó là điều mà các nghệ sĩ Việt Nam trước ông nói chung luôn dè dặt không dám bước đến tận cùng. Tuy lột trần cái ác trong con người nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại không bao giờ quên nhìn thấy chất người trong mỗi con người, dù là một tên cướp. 

Không có cái gì là đơn giản, một chiều trong thế giới người ở văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vương Trí Nhàn cũng nhìn ra phẩm chất này trong viết lách của Nguyễn Huy Thiệp và ông cho rằng chính cái lúc mà cái ác bị phơi bày là lúc cái ác được tiêu diệt. 

Ông nhận định: “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” (hay là “cây bút vàng”) dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 - và cả nửa đầu năm 1988 - người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. 

Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về hưu gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ Một thoáng Xuân Hương lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ Con gái thuỷ thần lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện”.

Thiên Điểu

Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 20.3.2021.

Tin từ gia đình nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho biết, tác giả ‘Đội gạo lên chùa’ vừa qua đời vào 14h55 hôm nay 12-6, vì tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 88 tuổi.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán vừa trở về từ gia đình nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau khi mang ảnh thờ cho nhà văn từ bức ảnh ông chụp cho biết tác giả Mẫu Thượng Ngàn qua đời tại nhà riêng. Nhà văn đã ốm mấy năm nay.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại làng Cổ Nhuế, Hà Nội. Ông đỗ tú tài toán, học Đại học Y khoa Hà Nội cho đến hết năm 1952 thì đi theo kháng chiến, tham gia bộ đội.

Hòa bình lập lại, ông công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, rồi báo Thiếu Niên Tiền Phong nhưng sớm nghỉ hưu từ năm 1973. Trong thời gian làm báo, ông đã bắt đầu viết văn, viết biên khảo. Năm 1963, ông cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên có tên Rừng sâu.

Sau khi nghỉ hưu, ông bắt đầu cuộc đời nghèo khó của mình cùng hoàn cảnh khó khăn của đất nước lúc bấy giờ và cần mẫn, chuyên tâm hơn bên những trang viết đêm đêm. Hình ảnh ông đạp máy khâu, viết hàng ngàn trang tiểu thuyết luôn được giới văn nghệ sĩ và bạn đọc nhắc tới với niềm tôn kính sâu sắc.

Những bộ tiểu thuyết đồ sộ liên tiếp ra đời nhưng phải kiên nhẫn nằm trong ngăn kéo đợi nhiều năm sau mới được xuất bản. Sáng tác của ông theo hai thể loại là tiểu thuyết văn hóa lịch sử và tiểu thuyết phúng dụ.

Nổi tiếng nhất trong mảng tiểu thuyết văn hóa lịch sử có Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa.

Với Đội gạo lên chùa ra mắt năm 2011, Nguyễn Xuân Khánh từng được nhắc tới là nhà văn lớn tuổi nhất viết dài nhất, gần 900 trang.

Thể loại phúng dụ có thể kể đến Miền hoang tưởng, Chuyện ngõ nghèo. Trong đó, Miền hoang tưởng đã được xuất bản lần đầu tiên khá sớm, vào năm 1985, trong khi Chuyện ngõ nghèo viết năm 1982 nhưng mãi tới năm 2016 mới được Nhã Nam xuất bản với tên mới, không giữ được tên gốc của tác phẩm là Trư cuồng.

Chuyện ngõ nghèo lấy chất liệu từ chính đời sống nghèo khổ của tác giả một thời, cái thời mà người Hà Nội phải tăng gia nuôi lợn trong không gian sống vốn đã quá chật hẹp của gia đình để tồn tại qua cái nghèo.

Tuy thế, đây không phải là cuốn tự truyện mà tác giả chỉ dùng chút chất liệu hiện thực cộng với thủ pháp phúng dụ để viết lên câu chuyện buồn khi con người bị “lợn hóa”. Chuyện ngõ nghèo được trao giải Sách hay 2018, hạng mục Tác phẩm văn học.

Ngoài ra, ông còn dịch thuật nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Những quả vàng, Chuông nguyện cầu cho kẻ đã khuất, Năm tuần trên khinh khí cầu, Tâm lý học đám đông.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh được Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Hà Nội trao nhiều giải thưởng như:

- Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998 - 2000 cho Hồ Quý Ly.

- Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2001 cho Hồ Quý Ly.

- Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006 cho Mẫu Thượng Ngàn.

- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011 với tiểu thuyết Đội gạo lên chùa.

- Giải thưởng Thành tựu văn học trọn đời năm 2018 của Hội Nhà văn Hà Nội.

Nguồn: https://tuoitre.vn/nha-van-nguyen-xuan-khanh-qua-doi-20210612205807326.htm

Chán chương trình học và không khí ở Văn khoa trường Luật, bỏ học, đi làm thư kí riêng cho một tỉ phú, không bao lâu lại bỏ công việc ấy, về Nha Trang dạy học nhưng bị từ chối, chuyển lên Đà Lạt rồi lại bỏ Đà Lạt, mãi đến mùa hè năm 1964, với một xấp giấy pelure mỏng ố vàng, một cây bút, và một tháng trong đời, Nguyễn Thị Hoàng mới ngồi xuống và viết một mạch.

Bìa tái bản năm 2021 của tác phẩm “Vòng tay học trò”

Sau này, vị nữ sĩ đã kể lại như thế sự tích ra đời tiểu thuyết “Vòng tay học trò”, tác phẩm từng làm điên đảo giới thanh thiếu niên Sài Gòn một thuở, tái bản tới 4 lần trong vòng mấy tháng, cũng suýt chút nữa đã được Kiều Chinh và Đặng Trần Thức chuyển thể thành phim.

Sự tung hô, như bao giờ cũng vậy, luôn đi kèm với sự hạ bệ. Các nhà phê bình thời ấy không tiếc những lời cay nghiệt nhất cho “Vòng tay học trò”: "phi luân", "sự buôn lậu tư tưởng trong một con bệnh dâm thành phố", "trường hợp ngoại lệ, mất thăng bằng, bệnh hoạn". Khi nhà văn Dương Nghiễm Mậu so sánh Nguyễn Thị Hoàng với Quỳnh Dao, cây bút diễm tình nổi tiếng của Đài Loan, thì nhà văn Viên Linh đã phản đối ngay: "Quỳnh Dao viết về cái trong sáng, không viết về cái nhầy nhụa".

Những cụm từ sởn gai ốc được ném không thương tiếc vào một tác phẩm mà nói cho cùng chỉ là kể lại một mối tình dằn vặt giữa một cô giáo và một cậu học trò, một tình cảm thường bị coi là cấm kỵ. Tầm thời điểm này, ở Pháp cũng có hai tác phẩm với đề tài tương tự, một là “Un certain sourire”, cuốn thứ hai của nữ sĩ Francoise Sagan sau “Buồn ơi chào mi”, hai là “Mourir d'aimer”, một bộ phim rất ăn khách năm 1971 của đạo diễn André Cayatte. Không tác phẩm nào gây ra một vụ ì xèo ở quê hương của nó như “Vòng tay học trò” đã gây ra ở miền Nam Việt Nam.

Đem so với những cuốn "dâm thư" nặng đô như “Justine” của Marquis de Sade hay “Chuyện nàng O” của Pauline Réage, những cuốn tiểu thuyết cũng sục sạo đời sống tinh thần của những người đàn bà, thì khó có thể hiểu tại sao “Vòng tay học trò” lại bị coi là một văn hóa phẩm nguy hiểm và đồi bại. Không những trò tra tấn tình dục và không tình dục, thậm chí không cả khao khát hay huyễn tưởng tình dục, “Vòng tay học trò” giống hơn một bài thơ hiện sinh, hay đứa con lai của chủ nghĩa diễm tình Đài Loan của Quỳnh Dao, Trương Ái Linh và niềm hứng khởi với nhánh triết học hiện sinh phi lý do Jean-Paul Sartre khởi xướng đang được giới văn nghệ sĩ và thanh thiếu niên bấy giờ say mê, tin rằng "con người sinh ra không lý do, kéo lê cuộc đời vì nhu nhược và chết do ngẫu nhiên".

Sau hơn nửa thế kỷ im hơi lặng tiếng vì những đổi thay lịch sử, “Vòng tay học trò” và một số tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Thị Hoàng như “Một ngày rồi thôi”, “Tiếng chuông gọi người tình trở về”, “Tuần trăng mật màu xanh”, “Cuộc tình trong ngục thất” vừa được một đơn vị làm sách tuyển lựa và in ấn công phu, giới thiệu trở lại với bạn đọc đương thời về một nữ sĩ của văn chương miền Nam, một trong ngũ đại nữ sĩ hàng đầu của Sài Gòn xưa. Trong một tác phẩm của Haruki Murakami, ông từng cho một nhân vật tuyên bố rằng mình không muốn tốn thời gian cho những cuốn sách vớ vẩn và chỉ sờ vào những cuốn sách mà tác giả của nó đã chết được ít nhất 30 năm, vì chỉ những cuốn sách ấy mới đáng tin cậy mà thôi, hàm ý thời gian là thước đo duy nhất cho giá trị của một tác phẩm văn học. Nguyễn Thị Hoàng tuy vẫn còn đương thế, nhưng có lẽ 50 năm là quãng thời gian đủ dài để ta có thể nhìn lại “Vòng tay học trò” cùng các tác phẩm của bà với sự khách quan và sự "lạnh" cần thiết, triệt tiêu được những dung sai không đáng có gây ra bởi sức nóng hầm hập của những vụ ồn ào, của vòng kim cô mà cái gọi là "thuần phong mỹ tục" đội lên đầu chúng ta hay những lời phán xét được buông ra một cách cẩu thả trong quá khứ.

Vậy thì ở thời điểm này, đọc “Vòng tay học trò” còn hay không? Còn hay. Nhưng nó còn liên quan gì tới thời đại này không và liệu nó có mang cái phẩm chất bất tử, vượt thời đại của những tác phẩm kinh điển? Có lẽ là cả có và không. Ở mặt nào đó, cuốn sách đã lỗi thời. Vẻ diêm dúa trong nội tâm các nhân vật và sự thiếu vắng tính sáng tạo cho những màn cút bắt ái tình khiến “Vòng tay học trò” khó mà hấp dẫn được những độc giả ngày nay vốn đã được bọc đường trong trí tưởng tượng phong phú nơi những cuốn sách ngôn tình "ngược luyến tàn tâm" của Trung Quốc, những series phim tình cảm hoa hòe hoa sói của Hàn Quốc hay những bộ tiểu thuyết của những ông hoàng, bà hoàng lãng mạn châu Âu như Marc Levy, Guillaume Musso hay Cecelia Ahern.

Kể cả cái bi kịch mối tình "sư đồ" hay rộng hơn là người đàn bà lớn tuổi đắm say bên người tình trẻ thì thời đó có thể mới mẻ, còn ngày nay cũng đã sáo mòn và bị khai thác đến cùng tận, không còn tạo nên cảm giác hưng phấn kích thích khi khám phá "vùng đất cấm” ít ai dám bén mảng như đã từng. Nói tóm lại, mong muốn “Vòng tay học trò” được tìm lại như tìm lại một đứt gãy bị lãng quên trong lịch sử văn chương Việt Nam hiện đại, hay như tìm lại một toàn cảnh đầy đủ hơn về văn học nước nhà, thì sẽ khả thi hơn là mong muốn “Vòng tay học trò” được đón nhận nhiệt liệt, được trở thành sách gối đầu giường (hay sách chụp ảnh sống ảo) của những kẻ lãng mạn (hay ra vẻ lãng mạn) khăn gói lên Đà Lạt sống chậm (hay khoe sống chậm).

Nhưng, “Vòng tay học trò” có thể không còn phù hợp với thị hiếu đại chúng đương đại, nó lại nặng những tâm tư không bao giờ cũ với một tập hợp những người thuộc chủ nghĩa hư vô không mưu cầu sự đồng điệu với những giá trị chung của xã hội và có thể sẽ dần trở thành một "cult", nghĩa là một tác phẩm không dành cho tất cả nhưng lại được một nhóm người nhất định yêu thích điên cuồng. Thường xuyên trong “Vòng tay học trò” và các tác phẩm khác của Nguyễn Thị Hoàng, nhân vật hãi hùng bắt gặp mình lạc trong những vùng sương giá băng của thực tại, nơi không gì chờ họ, họ không chờ ai, họ chuội khỏi thế giới họ đang sống, chuội khỏi tình yêu, chuội khỏi vòng tay người tình, hay nói như Jean-Paul Sartre thì họ "không do ai tạo thành, không lý do, không có một tương quan nào với một hữu thể nào khác, hữu thể tự thân thực là thừa đến muôn đời".

Văn chương của Nguyễn Thị Hoàng bỏ qua mọi sắp đặt lộ liễu khác, diễm lệ đến mức khiến cho sự chán chường, nỗi buồn u tối, sự lẻ loi triền miên, sự chơ vơ không lối thoát, sự sầu bi ngột ngạt cũng lấp lánh một vẻ cuốn hút khôn nguôi. Ta không thể ngăn mình muốn được thử một lần lao đầu vào đời sống như họ: tự chôn mình dưới cát như Điệp trong “Tiếng chuông gọi người tình trở về” hay vui một đêm cùng người tình trên chuyến đò xứ Huế như Ý Lan và Đông trong “Tuần trăng mật màu xanh”. Ngay cả cách họ tự dày vò chính mình cũng cám dỗ làm sao, như cái cách mà cô giáo Trâm của “Vòng tay học trò” lấy 200 đồng của mình đưa cho người tình trẻ, rồi chỉnh áo quần cho cậu, dù biết là để cậu đi gặp một người con gái khác, hay cách mà một người vợ trong “Tiếng chuông gọi người tình trở về” mường tượng về người tình năm xưa của người chồng biến mất. Cuộc đấu tranh duy nhất mà họ phải đấu tranh là cuộc đấu tranh để tìm ý nghĩa cho sự tồn tại, vốn cũng là cuộc đấu tranh chỉ xảy ra khi rốt cuộc, người ta không còn phải đấu tranh vì bất cứ điều gì thực tế hơn và thiết thực hơn. Họ có lẽ đã sung sướng đến nỗi không mưu cầu hạnh phúc mà lại "thích hưởng thú đau thương", một sở thích có thể bị gọi là "trưởng giả".

Giờ đây, nhìn lại vị trí của văn chương Nguyễn Thị Hoàng trên văn đàn, ta có thể thấy đó dường như là một trong những trường hợp đầu tiên của văn chương hiện đại bị phê phán và ngờ vực vì tính bi lụy, ướt át, quẩn quanh những huyễn tưởng tầm thường, mà sau này những nhà văn ngôn tình, diễm tình sẽ trở thành nạn nhân chịu trận tiếp theo. Chính Nguyễn Thị Hoàng cũng đã từng tự trào về văn chương phái nữ. Bà để một nhân vật của mình trong “Vòng tay học trò” nói thế này về nữ văn sĩ George Sand của văn học Pháp, "nổi tiếng cũng chỉ vì phụ nữ hiếm trong làng văn, chứ thật ra sự nghiệp của bà ta có đáng gì so với những tác phẩm vĩ đại của các văn hào nam giới".

Cũng có thể là chẳng đáng gì thật. Và số phận của những tác phẩm như “Vòng tay học trò” sẽ lại tiếp tục chìm trôi cùng thời gian, cũng có thể sẽ bị lãng quên, bị chối bỏ, nhưng trải qua một đời đã nếm trải hết "mê lầm, oan khiên, bạc đãi, ngộ nhận, của khổ nạn triền miên tâm và cảnh", nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng nhận chân điều đó hơn ai hết: "Thế hệ đọc những trang cũ ngày xưa đã già cỗi hoặc lụi tàn. Tuổi trẻ ngày nay sẽ hoàn toàn xa lạ và có thể vô cảm với mớ đồ cũ trên tay, nhưng qua dòng trôi chảy của thời gian và thế sự, biết đâu vẫn còn có ai vớt lại chút bọt bèo mong manh của quá khứ. Chút bọt bèo có thể sẽ là mầm xanh cho mùa hoa trái mới, cũng có thể là phiến hóa thạch vô tri vì cuộc đợi chờ vô vọng mấy mươi năm mà kỳ thực đã mấy nghìn năm bên bờ ảo hóa”.

 

Nguồn: http://antgct.cand.com.vn/Chuyen-de/Mot-9x-nghi-gi-khi-doc-Vong-tay-hoc-tro-633288/

  Không phải ngẫu nhiên và khen cho con mắt tinh đời, người vào năm 1928 đỗ thủ khoa toàn xứ Trung Kỳ trong kỳ thi tốt nghiệp cao đẳng tiểu học, người vào năm 1941 đã xúc động kể về sự xuất hiện của một thời đại mới trong thi ca, người vào cuối tháng 7/1948 đã reo lên thi ca đang đi vào giai đoạn mới của thời đại, thì cũng con người đó, vào năm 1966 đã sớm tiên đoán về một cây bút trẻ nhiều triển vọng khi mà thơ Lưu Quang Vũ mới đăng rải rác chừng độ một chục bài trên các báo. Người ấy là Hoài Thanh, đã nhìn nhận Vũ như là một tiếng nói riêng nhỏ nhẹ mà sâu lắng một thời đại mới trong thơ – phong trào thơ ca chống Mỹ cứu nước. Với Hoài Thanh, Vũ là một trong những người đầu tiên báo hiệu sự ra đời của phong trào ấy. Quả thật. Những tên tuổi như Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm v.v.. đã dần dần xuất hiện và trở thành những gương mặt sáng giá của một thời đại Thơ. Người ta hay nói Phạm Tiến Duật là người lĩnh xướng của phong trào ấy. Nhưng đó là câu chuyện sau năm 1969. Lưu Quang Vũ có một vị trí đặc biệt khác. Vũ nằm trong số ít một, hai người ghi dấu ấn đầu tiên đặc sắc của phong trào thơ ca chống Mỹ cứu nước. Đúng như điều Hoài Thanh đã dự báo. Nói là không phải ngẫu nhiên lại rơi vào Hoài Thanh – Là bởi vì với thơ Lưu Quang Vũ, Hoài Thanh đã như gặp lại những người thơ cũ của mình trong ân tình mà tha thiết của Thơ Mới 25 năm về trước và của Thơ kháng chiến chống Pháp 18 năm cách đó; Cũng là bởi vì ít có thi sỹ trẻ nào lúc đó lại tiêu biểu cho một khuynh hướng kế thừa truyền thống trong sáng tạo thi ca như Lưu Quang Vũ từ trong âm hưởng và giọng điệu cũng như những tiết tấu của hình tượng thơ, như là sự nối liền giữa 3 khoảng trời thi ca – Thơ Mới 1930 – 1945; Thơ ca kháng chiến chống Pháp 1946 – 1954; và Thơ thời những năm nửa sau 1960 và 1980.

Vào năm 1965 – 1967, khi cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước bắt đầu rầm rộ và ác liệt, tuyển thơ Sức mới – tập 1, tập 2 hội tụ thơ của các nhà thơ trẻ được xuất bản. Sau đó là tập Thơ 3 năm chống Mỹ cứu nước (1965 – 1967). Khi Chế Lan Viên viết lời giới thiệu, ông ấy còn thật dè dặt với lực lượng này. Đến năm 1968, tình hình đã khác. Hương cây Bếp lửa của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt được xuất bản là một hiện tượng thi ca nổi bật của thời kỳ đó. Người ta hồ hởi và ngạc nhiên trước một Lưu Quang Vũ mượt mà và tươi trẻ, một hồn thơ đằm thắm tình yêu quê hương đất nước với tình yêu lứa đôi trong chiến tranh mang tên gọi Hương cây. Và như Hoài Thanh, ta như gặp lại một lối thơ trữ tình trào ra từ cảm xúc, những vần thơ nhẹ nhàng mà lãng mạn tưởng như không để ý đến cấu tứ một bài thơ, tựa như tràn đầy rồi rung lên trong lắng đọng; chất tự sự không gồ lên thành một vỉa mà chỉ như một mái chèo thấp thoáng đẩy những vòng sóng cảm xúc lãng mạn lan tỏa và giao hòa vào nhau. Ta như gặp lại bóng dáng của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên thời 1930 – 1945 trong những vần thơ tươi trẻ mà ý tình đằm thắm của Vũ. Gửi các Anh. Qua sông Thương. Phố huyện. Hơi ấm bàn tay. Vườn trong phố. Lá bưởi lá chanh. Thức với quê hương v.v.. Những vần thơ nghe được trong dịu mát yêu thương của con người hơn là tiếng gầm thét và gớm ghiếc của chiến tranh, mặc dù trong những bài thơ đó đều có hình thù của chiến tranh ẩn náu.

Đó là Hơi ấm bàn tay của hai người yêu nhau giữa hai đầu trận tuyến như đặt trên ngực lớn cuộc đời, như giao cảm giữa các thế hệ người mà bồi hồi tình quê hương xứ sở trong sự giao hòa của những lứa đôi.

Khi đàn chim bay đến rợp trời trưa

Cồn mây về mang cơn mưa đầu hạ

Hai vì sao đổi ngôi trong gió ...

Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa

Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta.

1967

Đó là Vườn trong phố nơi ngưng tụ những điều hẹn ước của tình yêu tuổi trẻ, nơi bé nhỏ mà đêm khuya còn vọng lại tiếng còi tàu trong sự chở che của lá để cho nhớ xa xôi những miền quê đất nước, ta nghe như vang lại cảm xúc mới của tình thơ Xuân Diệu, Nguyễn Bính tan chảy trong se sẽ dịu dàng của Vũ, làm nên áng thơ tình vào loại hay nhất của thi ca Việt Nam hiện đại

Nghe lá chuối che nghiêng như một cánh buồm

Cánh buồm xanh đi về trong hạnh phúc

Se sẽ chứ không cánh buồm bay mất

Qua dịu dàng ẩm ướt của làn môi.

1967

Dòng cảm xúc dâng trào mãnh liệt không chỉ ở Hương cây, mà còn gặp lại nhịp điệu bồng bột yêu thương ấy trong nhiều vần thơ sau 1970 của Lưu Quang Vũ. Hoa Tầm xuân kể lại con đường xưa nơi hoa đã nở mà dòng sông cũ cánh buồm vẫn giăng giăng trắng xóa giữa buổi hoa tầm xuân đã xưa cũ mất rồi chỉ để lại những giọt sương run rẩy, khi

Những đền đài thuở trước đã tan hoang

Những chùa cổ chiều mưa rêu ướt lạnh

Chìm trong đất những chùm hương dĩ vãng

Tầm Xuân ơi! Hoa chết đã lâu rồi.

Mùng 3 Tết Nhâm tý.

Di chúc tình yêu có cảm tưởng đồng cảm với những ý tình của Điêu Tàn trong Chế Lan Viên mà Vũ đã siêu hình về trong dáng vẻ điêu linh.

Thịt xương ta là tù ngục của hồn ta

Thân xác hẹp hòi mà khao khát bao la

Bầy chim dữ đen ngòm đang chặn lối

Những buồn chán nửa người nửa khói.

Hương cây viết khoảng thời gian 1965 – 1967. Bộ mặt thật của chiến tranh được Lưu Quang Vũ cho lùi lại ở phía sau; còn phía trước là con người, là những người con trai ra trận đánh thù đường trăm ngả. Buổi chiều họ xuống đò qua dòng sông mênh mông sóng vỗ. Đã ba vầng trăng rồi. Ngày mai tan giặc sẽ về với cái của muôn năm là tháng 8 sen tàn bưởi chín, chim ngói bịn rịn bay về trên quê hương nhiều lắm yêu thương. Bởi những người mẹ, người em.

Cây lá nơi này cây lá quê hương

Ôi những mẹ, những em ta hiền hậu.

1965

Trong Di cảo, nhật ký từ 21/2/1963 đến 8/10/1965 ít nhất có hai lần Vũ nhắc đến Bên kia sông Đuống. Và thơ của Vũ, ở một phương diện nào đó đi lên và nối liền với Thơ kháng chiến chống Pháp trong trường hợp Hoàng Cầm từ cách tổ chức bài thơ ngay từ Hương cây. Gửi các anh, Qua sông Thương, Lá bưởi lá chanh, Phố huyện... với lối thơ tự do có vần linh động và biến hóa một cách tự nhiên. Những bài thơ viết những năm 1970, dường như Hoàng Cầm đã trở thành nỗi ám ảnh của Vũ trong sự sáng tạo mới, khi một lần Vũ lên xứ Đoài xưa, Ba Vì mây trắng. Một miền thơ khác. Một không gian văn hóa khác.

Nhớ mặt em gầy sau lá mưa

Lênh đênh bến nước Trung Hà

Những chị buôn chè

Ngủ hè phố cũ

Con bò gầy đói cỏ

Đi trên đồng miên man

Những pho tượng gỗ chùa Phùng

Thiêm thiếp.

11/1972

Xứ Đoài 1972 có nét văn hóa tương đồng với đất Kinh Bắc 1948 để hai thi sỹ tài danh của hai thời đại thi ca gặp nhau. Cho nên cô gái buôn chè phố cũ, bà già chợ huyện khóc thời con gái thuốc lào say gần gụi với cô hàng xén ở Bên kia sông Đuống hồi 1948 nắm nghiêng nghiêng bên kháng chiến trường kỳ. Nhiều bài thơ viết khoảng thời gian 1970 và đầu 1980, người ta thấy cách tổ chức nhịp điệu thơ tự do có vần hết sức linh động của thơ Lưu Quang Vũ. Viết cho em từ biển. Không đề II. Nói với mình và các bạn. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi… và đặc biệt bài Đất nước đàn bầu viết 1972 – 1983, khi trở lại vùng văn hóa Kinh Bắc, trở lại với sông Cầu xa thăm thẳm, vạt áo tứ thân lau nước mắt người xưa, Vũ ngồi chẻ tre đan nón ba tầm đội lên quán dốc tìm cô bán rượu ngày xưa giữ miền quê ngào ngạt văn hóa dân gian…

Khoảng sau năm 1970, Lưu Quang Vũ rời khỏi quân ngũ, nơi Vũ đã tình nguyện nhập vào khi mới 17 tuổi. Nỗi đa đoan của một con người lúc nào cũng canh cánh tình yêu quê hương đất nước; mong mỏi được sống vì mọi người. Chính trong hoàn cảnh cam go đó, đã làm rạng ngời phẩm chất tuyệt vời của thi nhân. Thơ Lưu Quang Vũ chuyển tới một giai đoạn mới. Không tránh khỏi những cảm xúc bi thiết và đau đớn. Nhưng âm hưởng chủ đạo của thơ Lưu Quang Vũ những năm 1970 – 1980 luôn luôn là nỗi đau đáu tình yêu quê hương xứ sở cùng nhịp thở với tình yêu lứa đôi tha thiết đôi khi đến nghẹn ngào trong thử thách. Đó là thần khúc ngợi ca đất nước và con người Việt Nam. Tầm vóc của Lưu Quang Vũ là ở đó. Ta không thấy sự bi lụy, rã rời phủ bóng lên sự nghiệp thơ của một thi nhân với bao dằn vặt cuộc sống đời thường. Lưu Quang Vũ đã mang tới tiếng nói khác lạ của phong trào thơ ca chống Mỹ cứu nước bằng việc sớm đi tìm sự tiệm tiến giữa cái ta với các cá nhân để vang lên ở đấy những tiếng khắc khoải của số phận con người trong chiến tranh. Tuyển thơ Lưu Quang Vũ xuất bản 2010 ở phần 3 mang tên Đất nước đàn bầu như một tráng ca tình yêu tổ quốc nhiều đau thương mà da diết trong sự chan hòa với hạnh phúc lứa đôi. Khác với Hương cây, ở đây thi pháp Lưu Quang Vũ đã đẩy yếu tố tự sự lên hàng đầu như là một yếu tố chính của thơ, làm nên một phong cách thơ độc đáo của phong trào thơ ca chống Mỹ cứu nước dưới góc nhìn mới mẻ về chiến tranh và hòa bình, về thân phận con người trong máu lửa và chiến tranh, chiến tranh không ẩn đằng sau con người như ở Hương cây nữa. Nó gieo rắc thảm họa. Bây giờ. Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn. Mấy đoạn Thơ. Đất nước đàn bầu. Ghi vội một đêm 1972. Viết lại một bài thơ Hà Nội. Tiếng Việt. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Hải Phòng mùa đông. Cầu nguyện. Mùa thu ấy vẫn còn nguyên ở đó v.v.. Thơ thời đó, ít ai có góc nhìn như Lưu Quang Vũ về chiến tranh và hòa bình, vận mệnh đất nước và số phận con người mang sắc thái riêng biệt như thế. Khuynh hướng tự sự, tả thực để bộc lộ tâm trạng là bút pháp chủ đạo của thơ Vũ.

Vũ không ngần ngại chỉ ra những hy sinh mất mát khủng khiếp do chiến tranh giữa một chốn nhân gian đầy đổ vỡ:

Gió hú ầm ầm qua gạch vỡ

Người chết vùi thây dưới hố bom

Kẻ sống vật vờ không chốn ở

Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường.

Đêm tháng chạp 1972, bộ mặt gớm ghiếc và tàn bạo của chiến tranh xâm lược khiến con người nghẹn lại nỗi đau thương.

Bom ném lên cao những đường tàu gãy nát

Những bàn ghế những lá thư những cánh tay người

Mùi thịt cháy rợn mình mùi khói cay

Ta đứng lặng trong tiếng gầm báo động

Dưới vầng trăng tê dại nỗi kinh hoàng.

Dường như tự sự còn chưa đủ, Lưu Quang Vũ siêu thực hóa bộ mặt chiến tranh bằng cách vẽ lên những rừng đen mặt nạ hoang vắng trong mưa. Vì.

Vực sâu đã mở ra

Chôn cả lời trăng trối của mùa thu

Một chiếc lá khổng lồ đỏ thắm.

Với Lưu Quang Vũ tình yêu quê hương đất nước dù đang trải qua khổ đau như vậy vẫn vang lên tiếng nói trường tồn của văn hóa Việt. Nền văn hóa mà Vũ yêu bắt đầu từ sâu thẳm những cổ xưa như những chiếc trống đồng vùi trong cát, những mũi tên đồng lăn lóc khắp núi đồi hoang vu, những rìu đá bên đống lửa còn tro tàn sót lại, những cánh chim lạc mỏ dài cất tiếng kêu hoang dại trong đêm nồng nhiệt đới, những người đàn bà tết cỏ cây che vú đến một đêm quan họ giã bạn ra về mưa bụi mịt mù bay… Tất cả từ đó để nghe nỗi lòng đất nước trong nức nở tiếng đàn bầu. Từ xa xưa Vũ đưa ta trở về hiện tại trong một áng thơ hay tuyệt bích.

Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích

Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông.

 Tổ quốc Việt Nam đẹp như chưa bao giờ đẹp thế để Lưu Quang Vũ phải thốt lên đầy cảm thán mang tên gọi những bài thơ. Việt Nam ơi!. Tiếng Việt!. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi!... đầy phấn khích mà trong đó lại ẩn chứa những câu thơ điềm tĩnh lạ thường.

Tổ Quốc là nơi tỏa bóng yên vui

Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất.

Khi tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm, tiếng cha dặn thì thầm lúc nhóm lửa đời ta đã bắt đầu từ…

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày như lụa.

Điều đáng quý Lưu Quang Vũ đã nhìn thấy từ rất sớm ngày dân tộc đoàn viên sau những cuộc chiến tranh dài. Có lẽ vì thế mà nhiều người đã gắn tên tuổi Lưu Quang Vũ với Trịnh Công Sơn. Theo Vũ là bởi vì người Việt Nam ta có gốc gác chung một nền văn hóa.

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc bể

Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya

Ai ở phía bên kia cầm súng khác

 Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Thơ Lưu Quang Vũ những năm 1970 – 1980 tỏ rõ sự trưởng thành về chính trị, sự sâu sắc trong tư tưởng nghệ thuật với sự kết hợp giữa những vỉa tự sự và dòng cảm xúc như là một trong những đặc trưng cơ bản của thơ Việt Nam từ chiến tranh bước tới hòa bình. Bài thơ Tìm về như một khúc đoàn viên. Thời gian và lịch sử đẩy lùi xa thời đào huyệt hận thù chia miền cắt đất để có được một ngày bình thường như Văn Cao lỗi lạc đã từng viết và nói theo thơ Lưu Quang Vũ là để nở hoa muống tím, để đừng quên hoa mắc cỡ trong vườn, để anh em ruột thịt cầm tay lạy mẹ Việt Nam; oán thù đổ xuống ao sâu, rửa sạch đất bùn nhơ nhuốc… Bài thơ Những đám mây ban sớm hay Hồ sơ mùa hạ 1972, Tháng 5 – 1975… mang hơi thở ấm áp của hòa bình làm nguôi ngoai những trường đoạn về nỗi ân hận của một thời đã qua, để dân tộc trở về lợp lại mái nhà xưa…

Có người nói: toàn bộ thơ Lưu Quang Vũ là một bản tình ca giành cho nữ sỹ Xuân Quỳnh. Bao nhiêu tâm sự yêu đương cho Quỳnh và viết về Quỳnh. Thư viết cho Quỳnh trên máy bay. Cho Quỳnh những ngày xa. Phút em đến. Em sang bên kia sông. Thơ ru em ngủ v.v.. Họ có lẽ là cặp uyên ương đẹp nhất của thi ca thế kỷ 20. Nhưng có lẽ họ cũng là những người bất hạnh nhất khi tình thơ của họ bù đắp cho nhau dù chữ mệnh làm cho đoản mệnh. Thơ của Vũ gọi sự bất tử của tình yêu là Mắt của trời xanh.

Tóc của đêm dài, mắt của trời xanh

Mắt của phương xa, tay của đất nâu lành.

Người yêu như lửa và như lụa

… Như vầng trăng như ngọn thủy triều

Mặc dù hiện thực đời thường cái tổ uyên ương của họ chỉ là căn phòng chật hẹp không nhìn thấy vẻ viên mãn của trời xanh, nơi Vũ đã nghẹn ngào mà viết nên câu Ta chỉ có mấy thước vuông cho hạnh phúc của mình.

Tôi không thể không tìm đến mấy thước vuông đó khuất nẻo trên tầng 3 – 96A phố Huế. Dù đã là quá muộn, khi Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh đi khỏi nơi này 33 năm rồi. Vào 1 buổi chiều cuối tháng 4 – 2021, khi trời Hà Nội đang rơm rớm khép cửa mùa xuân để bước sang hè. Căn phòng chật chội. Tối và nóng vì không có điện. Người nhà Vũ giúp chúng tôi thắp 3 ngọn nến đỏ. Các giá gỗ không có kính xếp sách ngăn nắp đứng dựa vào tường. Tôi thắp 3 nén hương cầu khẩn linh hồn hai thi sỹ tài năng đã làm nên sự nghiệp ở chốn nhỏ bé này. Ở đây, Lưu Quang Vũ đã viết nên những vở kịch đi trước thời đại, bằng cái nhìn thấu tận đáy những tấn trò đời và khát vọng sống của nhân dân. Ở một thời sắp bước vào đổi thay như chưa bao giờ được thấy. Và những vần thơ mang bao nỗi lo toan trần thế đã được hát lên cũng ở nơi này. Không gian ấy chiều nay vàng ánh nến như một bằng chứng im lặng mà đầy hiển hách, tôn vinh một nhân cách nhà văn của thời đại chúng ta.

Cao Bá Quát đã từng viết: Tạo vật bản lai vô trước tướng. Chỉ lưu nhất bán tại sơn nguyên. Có nghĩa là: Từ xưa tạo vật vốn không có hình tượng nhất định, chỉ để cho núi sông thấy một nửa mà thôi. Mặc dù, Hoài Thanh là một cây bút phê bình kiệt xuất, nhưng nếu theo Cao Bá Quát, ông ấy cũng chỉ tiên đoán một phần văn nghiệp của Lưu Quang Vũ. Kẻ hậu sinh này càng như vậy.

Chắc không phải ngẫu nhiên dòng sông Hồng phù sa chưa nguôi đỏ bao giờ mà Vũ có lần hình dung phù sa như là khái niệm đầu tiên của nước Văn Lang đã ám ảnh Lưu Quang Vũ đến mức có 4 bài thơ về dòng sông ấy. Vũ một lần viết: Nước lũ qua sẽ còn lại phù sa là theo nghĩa đó. Cuộc đời cá nhân của mỗi chúng ta cuốn vào bao cơn lũ thời cuộc. Xưa phù du mà nay đã phù sa. Cá nhân mỗi con người vỗn chỉ là phù du của lịch sử để phù sa ngưng tụ lại. Văn chương Lưu Quang Vũ như phù sa ở lại mãi với đời.

Bây giờ thành phố Đà Nẵng có tên hai đường phố Lưu Quang Thuận và Lưu Quang Vũ. Nếu mở internet hàng ngày sẽ thấy những quảng cáo dóng dả về nhà hàng khách sạn, quán cá phê, giá bất động sản mặt đường ngạo nghễ, đôi khi nhiều hơn những tin tức văn chương của hai người thi nhân ấy. Có ai trong trong số khách qua đường biết rõ lý do con đường họ đang đi lại mang tên như vậy? Buổi kinh tế thị trường xô bồ khắp Bắc Trung Nam những tưởng người ta chỉ lo việc đếm tiền mà quên cả thi ca? Nhưng tôi tin tượng đài văn chương mà Lưu Quang Vũ dựng lên không bao giờ bị lãng quên trong lịch sử văn học nước nhà. Vì điều đó đã thuộc về lịch sử. Nghĩ thế, chiều nay khi ra khỏi nhà 96A phố Huế, tôi không đi sang đường để vào chợ Hôm mà đi thẳng ra bờ hồ Hoàn Kiếm đón một cơn gió mát của cuối ngày đầu hạ - Con đường mà hồi 1963 – 1965 Vũ vẫn thường đi. Vang lên đâu đây lời Vũ nói. Điều mình mơ ước thật sự vẫn còn xa lắm ở phía trước./.

Hà Nội tháng 4/2021.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ số ra ngày 29/5/2021.

Tôi nhớ khi Nguyễn Tuân mất (tháng 7 năm 1987), Nguyễn Minh Châu trong bài báo Người cầm bút ấy... có viết rằng: “Đời người được cưng chiều. Thời nào ông cũng được người đời hết mực nâng niu chiều chuộng, vì lòng mến mộ một tài năng đích thực và đồng thời vì một khát vọng cháy bỏng của mọi con người: được sống giữa cõi đời này với tất cả các bản ngã đích thực của mình. Nhà thơ Chế Lan Viên một lần nói với tôi: Văn chương ta mà tất cả đều là Nguyễn Tuân thì mệt quá, nhưng thiếu đi một Nguyễn Tuân thì thiệt to quá, hổng lớn quá, thiếu đi nhiều quá!” Nhắc tới Nguyễn Tuân là nhớ đến mấy câu ngắn gọn nhưng thật đầy đủ về ông của nhà văn cùng thời Nguyễn Đình Thi: “Đây là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp, cái thật. Là người sinh ra để tôn thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa.” Nhân tết đến xuân về xin kể cùng bạn đọc mấy mẩu chuyện về nhà văn lão thành người Hà Nội đặc sắc này.

20210301 2

Nhà văn Nguyễn Tuân.

1. Ôi Đại tướng ơi!

Mùa xuân năm 1948, cùng với nhiều văn nghệ sĩ khác, Nguyễn Tuân theo bộ đội lên Việt Bắc đánh giặc. Ông đi với Trung đoàn Thủ đô. Ông kể trong bài Buổi thi chính trị rằng, có một lần ông và nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ- tác giả bài thơ Màu thời gian và vở kịch Ngã ba xuất bản từ trước Cách mạng tháng Tám - được mời tham gia làm giám khảo một cuộc thi chính trị của bộ đội nhân kết thúc cuộc vận động “Luyện quân lập công”.

Ông viết về cảm nghĩ của mình lúc đó như sau: “Thật là một điều mới mẻ cho đời tôi! Một người vốn chỉ sống với hoa nở bên đường, trôi nổi bên dòng liễu nhân và thích những vùng mây xa quá tầm với của tay mình, một người nặng căn mộng tưởng như thế này mà nhất đám phải đứng trước chỗ ba quân, để đố thách những người quân nhân cách mạng! Mà lại đột ngột! Mà lại không được chuẩn bị từ trước! Ôi, Đại tướng ơi! Thật chỉ có Cách mạng thì mới có những việc như thế này!” Và ông đã chứng tỏ được “sự thân thiết giữa anh em cầm bút và anh em cầm súng”.

Ông hỏi năm mươi anh em trong Trung đoàn một câu. Mới đầu định hỏi “Tại sao về chính trị, Trung đoàn Thủ đô lại giỏi hơn các đơn vị khác?”, song nghĩ hỏi như vậy sẽ dễ gợi cái “ý đố kị sai lầm” không tốt, nên trước khi ngồi vào ghế giám khảo cuộc thi vấn đáp chính trị ông đã đổi lại câu hỏi thành “Tại sao anh em Trung đoàn Thủ đô lại không được phép thua những đơn vị khác về chính trị?” Chỉ đổi mấy từ “phải giỏi hơn” thành “không được phép”, câu hỏi thi của Nguyễn Tuân đã không chỉ “chính trị” hơn mà còn toát lên một tinh thần rất “quân sự” nữa. Mới hay với Nguyễn Tuân dù là khi nói hay lúc viết thì ngôn từ luôn luôn được ông tính toán đắn đo rất kĩ. Ông đúng là một nhà văn có “trình độ sử dụng tiếng Việt điêu luyện” và có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn xuôi quốc ngữ Việt Nam hiện đại như nhận xét của người đời sau.

2. Để “tôi píp”

Năm 1950, ta mở chiến dịch lớn nhằm giải phóng biên giới, mở toang cánh cửa thông thương với Trung Quốc và các nước anh em. Trong chiến dịch này, Nguyễn Tuân được phái đi theo một đơn vị thiện chiến thuộc Đại đoàn Quân Tiên phong. Trong một trận đánh, quân ta thắng lớn, chiếm được đồn của quân Pháp. Trong đồn có rất nhiều thuốc lá Cotab và rượu cognac - những thứ mà khi còn ở Hà Nội, nhà văn rất thích. Nhưng ở chiến trường, kỉ luật của quân đội rất nghiêm không thể uống hút say sưa được. Nguyễn bèn nghĩ ra một cách là đổ cognac vào mũ sắt, ngâm tẩu thuốc vào đó suốt hai mươi tư giờ. Nhà văn bảo ấy là để “tôi píp” (ướp tẩu). Với sáng kiến độc đáo này, trong thời gian tham gia chiến dịch lúc nào bên ông cũng có hơi rượu bởi chiếc píp là vật bất li thân của ông.

3. Đã ngửi thấy mùi Hà Nội

Trong đội ngũ nhà văn đi kháng chiến hưởng ứng phong trào “Văn nghệ sĩ đầu quân” những năm chống Pháp (1946-1954) có nhiều nhà văn tiền chiến, trong đó có nhà văn lão thành Nguyễn Tuân. Đi kháng chiến, theo bước chân bộ đội vào Tây Bắc, lên Việt Bắc, Nguyễn đã viết được nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó phải kể đến Tình chiến dịch. Ông là người rất được bộ đội yêu và cũng thích đi cùng bộ đội kể cả dự những chiến dịch. Trong chiến dịch Biên giới, đi cùng một đơn vị thuộc Đại đoàn Quân Tiên phong (308), ông rất phấn khởi vì đây là trận đánh có ý nghĩa lớn: khai thông biên giới, chuẩn vị cho tổng phản công. Một đêm, khi cùng các chiến sĩ bò qua đường số 4 đánh sang Thất Khê, Nà Hang, ông đã tỏ ra... quyến luyến cái đường nhựa. Thấy vậy, người chỉ huy đã phải giục ông vượt nhanh lên kẻo nguy hiểm. Ông thì thầm, rằng ông rất xúc động khi thấy đường cái nhựa, rằng đã ra được đường cái nhựa tức là đã sắp đến ngày chiến thắng rồi và rằng thấy được đường nhựa, đường 4, tức là đã… ngửi thấy mùi Hà Nội. Quả nhiên, sau chiến thắng Biên giới, lực lượng kháng chiến liên tục giành thắng lợi và chưa đầy bốn năm sau nhà văn đã có mặt trong đoàn quân chiến thắng trở lại tiếp quản Thủ đô giải phóng (10/1954).

4. Cà phê ngon…

Thời kì Mĩ ném bom miền Bắc, Nguyễn Tuân đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh. Tuy là ở cách Thủ đô hàng trăm cây số, lại dưới trời bom đạn nhưng tác giả Vang bóng một thời vẫn không bỏ được thói quen rất người Hà Nội của mình. Ông không xài nổi thứ cà phê mậu dịch hai hào thơm nức... mùi ngô rang. Một hôm ông bảo Hoàng Gia Điền, người cán bộ địa phương (sau đi bộ đội và làm việc ở Tổng cục Chính trị) có trách nhiệm dẫn đường cho các nhà văn:

- Cháu có biết chỗ nào có quán cà phê tư không?

- Dạ thưa có, nhưng cháu không biết phân biệt thế nào là cà phê ngon, thế nào là cà phê không ngon - Anh Điền trả lời khiêm tốn và thật thà.

- Cà phê ngon à... đơn giản thôi. Thế này nhé. Trừ cà phê mậu dịch quốc doanh, cứ cà phê tư là ngon, nhưng loại ngon nhất phải là đen, đen như quỷ sứ; nóng, nóng như địa ngục và uống vào phải say, say như đàn ông gặp đàn bà...

Nắm được “công thức” ấy, người giao liên trẻ đã dẫn nhà văn đi đến được các hang cùng ngõ hẻm của Quảng Yên, Hòn Gai, Uông Bí, Đông Triều - nơi có những quán cà phê danh tiếng của đất mỏ.

5. Không thèm ăn

Nhà văn Nguyễn Tuân và nhà văn Tô Hoài là những người rất thuộc Hà Nội, biết rành rẽ nhiều lĩnh vực ở Thủ đô, từ chuyện cũ xưa như lời ăn tiếng nói, thói quen của người Tràng An đến phong cảnh, danh thắng. Trong lĩnh vực ẩm thực, hai ông cũng là những người sành điệu có tiếng, chẳng kém cạnh gì những Tản Đà, Thạch Lam, Vũ Bằng... trước đây.

Tô Hoài kể, trong quyển hồi kí Chiều chiều, rằng sinh thời Nguyễn Tuân thường cùng ông tới các hiệu ăn, tiệm giải khát nổi tiếng của Thủ đô. Cũng chẳng ăn cao lương mĩ vị gì, có khi chỉ là uống một li bia hơi, thưởng thức một đĩa bánh cuốn, một tô phở. Một lần, vào lúc chập tối, Tô Hoài cùng Phạm Khoa Văn và Nguyễn Tuân rủ nhau đến nhà hàng Bôđêga - một nhà hàng cao lâu nổi tiếng thời Pháp thuộc nằm ở phố Tràng Tiền định thưởng thức một món gì đó. Nhưng vừa vào đến cửa đã thấy Nguyễn Tuân quay ra ngay. Ông bảo những người cùng đi: “Lên cà phê Nhân, uống một cái phin rồi về.” Tô Hoài cùng Phạm Khoa Văn không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao nữa, cứ phân vân. Sang đến bên kia bờ hồ Hoàn Kiếm rồi, Nguyễn Tuân mới nói: “Mặc quần áo ngủ đón khách vào ăn, bẩn quá không nuốt được.” Thì ra, khi cả ba văn nghệ sĩ bước vào, Nguyễn Tuân đã nhìn thấy cảnh ông trưởng cửa hàng cao lâu mặc pizama xanh ngồi ở ngoài hiên, đứng dậy chào. Thế là Nguyễn Tuân không thèm vào, không thèm ăn nữa.

6. Để tiếp tục tranh luận

Theo Thanh Tịnh, sinh thời Nguyễn Tuân rất nghiệt ngã với các nhà phê bình. Một lần có người đến thăm hỏi nhà văn làm việc vào lúc nào, ông trả lời: “Viết vào lúc nửa đêm.” Hỏi tại sao, nhà văn bảo: “Lúc ấy các ông phê bình ngủ cả rồi.” Và một lần khác khi đang ốm nặng, có người hỏi ông có di chúc gì không, nhà văn nói: “Tôi chết hãy chôn tôi cạnh ông phê bình.” Hỏi tại sao thì được trả lời: “Để tiếp tục tranh luận cùng họ!”

7. Thơ phải đủ sắc hương, mùi vị

Nguyễn Tuân là người rất yêu hoa. Giáp Tết năm ấy có người đem đến tặng nhà văn một chậu hoa lan hàm tiếu rất đẹp. Nguyễn hi vọng đúng khi hoa nở sẽ có bạn quý tới chơi để cùng thưởng thức. Một người bạn đến, hoa chưa nở. Ông cảm thấy buồn tiếc bởi bạn cũ lâu ngày mới gặp, chẳng được cùng nhau thưởng hoa. Sáng xuân sau, Nguyễn dậy sớm, ngồi độc ẩm. Lạ thay, đúng lúc các nhành lan đua nhau nở và đưa hương thoang thoảng. Tức cảnh, Nguyễn Tuân đọc liền câu thơ:

Bạn cũ về rồi hoa mới nở
Nổi tăm lòng rượu một hương ai

Ấy là lần đầu tiên trong đời tác giả Vang bóng một thời làm thơ, làm chỉ đúng hai câu mà có đủ cả hoa, rượu và hương thơm. Và nhớ ông, tôi lại nhớ đến bài của nhà văn Kim Lân viết hôm giã biệt bậc đàn anh: “Anh Nguyễn Tuân ơi! Anh vốn là người yêu hoa, quý hoa. Trong phòng viết của anh quanh năm không lúc nào vắng hoa. Hôm nay, hoa Hà Nội tề tựu cả ở đây, cùng chúng tôi, các bạn bè thân thiết của anh, các bạn đọc xa gần từ lâu vẫn ái mộ anh..., tất cả hoa, và chúng tôi cùng đưa tiễn anh về nơi yên nghỉ cuối cùng… Thế thì anh Tuân ạ, trước sau anh vẫn đúng là người sung sướng nhất đời đấy!”

Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội. Quê gốc của ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Thân sinh của nhà văn là cụ Tú Hải Văn - một nhà nho tài hoa đậu khoa thi Hán học cuối cùng đồng thời là người ảnh hướng lớn nhất đến hồn văn của Nguyễn Tuân sau này. Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Năm 1950, ông được kết nạp vào Đảng. Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Nội. Năm 1996 ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Ngô Vĩnh Bình

Nguồn: Văn nghệ quân đội, ngày 20.02.2021.

Hồn thơ Quang Dũng sớm biết rung cảm trước những cuộc lữ. Bài Chiêu Quân ông viết năm mười sáu tuổi là một thí dụ: Đây Nhạn Môn quan đường ải vắng/ Trường thành xa lắm Hán vương ơi!/ Chiêu Quân che khép mền chiên bạch/ Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi. Năm năm sau, tức năm 1942, khi viết Giang hồ, Quang Dũng càng tỏ rõ nỗi xúc động đặc biệt của mình trước những kiếp gió bụi: Mấy gã thanh xuân, lòng bốn cõi/ Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi/ Gói, khăn, trăng, gió trời mây bạc/ Hồn nhẹ quên trong xác nặng nề.

20210512

Điều này có vẻ hơi khác thường, song nếu biết đôi chút về đời tư Quang Dũng, hẳn sẽ thấy không có gì khó hiểu cho lắm. Quang Dũng sinh năm 1921, quê ở làng Phượng Trì, xã Đan Phượng, tức phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây xưa - vùng bán sơn địa cổ thường được gọi với cái tên bình dị là xứ Đoài. Nhưng quãng thời gian Quang Dũng gắn bó với nơi này không dài. Mới lên bảy, ông đã được gia đình cho ra Hà Nội học, ở nhà người cậu ruột. Cảnh sống xa nhà và những thân phận u uẩn chiều lưu lạc/ buồn viễn xứ khôn khuây có lẽ vì vậy mà đã ám ảnh tâm hồn Quang Dũng ngay từ thơ ấu.

Từ năm 1946, khi gia nhập Vệ quốc đoàn rồi trở thành một thành viên của Binh đoàn Tây Tiến, ông càng dấn mình vào kiếp phiêu bạt. Cuốn hồi kí Đoàn Võ trang Tuyên truyền Biên khu Lào - Việt(1) được Quang Dũng hoàn thành năm 1952 là bản biên sử sinh động về quãng đời lênh đênh đầy nhọc nhằn nhưng lãng mạn và tươi đẹp ấy. Mà có lẽ cũng chính từ đây, ông bắt đầu nhận ra cái khoái thú của những chuyến đi. Cho nên sau này, dù đã giải ngũ, chuyển sang làm công tác văn hóa, xuất bản rồi về hưu, ông vẫn không quên được đời ngao du bay nhảy, thậm chí xem đó như một niềm mê đắm. Nhà thơ Trần Lê Văn, trong Lời giới thiệu Tuyển tập thơ văn Quang Dũng (Nxb Hội Nhà văn, 2014), khẳng định điều ấy khi nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng, người bạn thân của ông có niềm say mê “được luôn luôn cất bước trên những dặm đường”, lúc nào cũng “hăm hở đi, mải miết đi, như có một ma lực lôi kéo”.

Tâm thức lữ khách ấy len vào đến tận nguồn mạch thơ ca Quang Dũng, làm thành một thứ thơ mà tôi muốn gọi là thơ “ở trên đường”.

*

*          *

Nhìn tổng quát đời thơ Quang Dũng, dễ thấy chủ thể trữ tình trong các sáng tác của ông thường là kẻ đang dấn bước trên những hành trình xê dịch. Đó là chàng lính vệ quốc đang hành quân trong Tây Tiến, Sử một trung đoàn, Quán bên đường, Mắt người Sơn Tây, Nhà bên đường, Lính râu ria, Nhớ… Đó là kẻ sống đời lữ thứ trong Cố quận, Những cô hàng xén, Buồn êm ấm, Thu… Đó là người viễn khách đang trên đường qua Bố Hạ, đến Việt Trì, đi ngang sông Châu, Phủ Lí, trằn trọc đêm Bạch Hạc, nín thở vượt dốc Pha Đin… Chưa kể, thử lướt qua phần cuối các bài thơ, nơi Quang Dũng ghi lại địa điểm sáng tác và nhất là nhìn vào sự hiện diện dày đặc của hàng loạt địa danh khác nhau, những tên đường, tên sông, tên núi trải từ miền ngược đến miền xuôi trong thơ Quang Dũng (đơn cử đoạn trong bài Bắt đầu: Ôi sông Hồng Hà cuộn đỏ/ Đêm thu qua bến Việt Trì/ Sông ơi có biết/ Lòng người ra đi/ Cổ Đô - Thổ - Tạng - những làng/ Sơn Tây - Ba Vì những núi/ Bạch Hạc là đâu/ Phong Châu đất cũ/ Bến vắng thuyền xuôi giọng hát ả đào/ Trăng lạnh mái chèo ca nữ), người ta đã phần nào hiểu được sức đi của vị thi sĩ tài hoa này và cái cảm hứng “trên đường” chảy rào rạt trong thơ ông.

Nói đến đi và viết, có một thực tế thường thấy, rằng khách văn chương, khi bước vào những hành trình, hình như không phải muốn kiếm tìm hay phát kiến ra một thứ gì mới mẻ. Họ không phải là Columbus dong thuyền ra khơi trong niềm khát khao những vùng đất lạ; họ không giống Darwin lênh đênh trên biển suốt nhiều năm để quan sát và ghi nhận tự nhiên, từ đó gây dựng thuyết tiến hóa; và họ cũng khác Lévi-Strauss - người từng bỏ công đi sâu vào vùng rừng rậm Amazon, tìm đến những bầy người da đỏ nguyên thủy để khám phá xem đâu mới là cái cơ cấu tư duy phổ quát của nhân loại đã có từ thượng cổ. Người văn chương, ngược lại, ra đi kì thực là để tâm thức thực hiện những cuộc trở về. Tôi rất thích tựa đề quyển bút kí của nhà văn Lê Vũ Trường Giang, “Đi như là ở lại”. Nghe có vẻ nghịch nhĩ, song thực tế là trên những chặng đường ra đi ấy, hẳn có lúc ta đã để lại một mảnh hồn, một khối tình cho những xứ sở ta qua, cho ngọn cỏ dại ta nhìn thấy bên đường, cho trang sách ta tình cờ lần giở, cho tiếng chuông sơn tự vang vọng vào những buổi sớm sương giáng… Cứ thế, ta đi nhưng thực ra đã mãi ở lại trong những nơi chốn mà ta từng đến, trong những duyên tình ta hạnh ngộ. Đi vì thế cũng là một cách nhung nhớ, mà thậm chí sâu bền và mãnh liệt hơn nhiều so với ở lại: sự quen thân, nghịch lí thay, nhiều khi mới chính là nguồn cội của quên lãng.

Thơ ca Quang Dũng phát khởi từ chính những thương nhớ trên đường như vậy. Điều này lí giải vì sao trong nhiều bài thơ về đời lính, Quang Dũng không nói đến những đoàn quân hào khí ngút trời hay những chiến công hiển hách, oai dũng, mà lại rất hay kể về chặng đường hành quân gắn với những kỉ niệm chỉ một lần gặp gỡ.

Đó là những cái quán nhỏ, những mái tranh vẹo xiêu ở lưng chừng đèo dốc mà ông và đồng đội, trong một đêm ngắn ngủi nào, đã dừng lại nghỉ chân: Khuya khoắt sông bờ vắng/ Lửa hồng quán tản cư/ Lính mấy chàng vất vả/ Tìm sống một đêm thơ (Lính râu ria); Đây căn nhà chật hẹp/ Tạm bợ dựng bên đường/ Tường xếp gạch phá hoại/ Đôi mái liếp che sương/ Năm năm trời kháng chiến/ Đây làm quán giang hồ/ Cửa rộng đón bằng hữu/ Rừng núi về trung du (Nhà bên đường); hay Nhà tranh hốc hác/ Cuối làng chơ vơ/ Đường xa công tác/ Người lính ghé nhờ (Nhớ).

Đó là một đêm vui hiếm có giữa rừng Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa/ Kìa em xiêm áo tự bao giờ/ Khèn lên man điệu nàng e ấp/ Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ (Tây Tiến), là một khoảng yên bình chóng vánh thời chiến mà thi sĩ bắt gặp trên đường hành quân Bên cuối thôn xuân hoa gạo rơi/ Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi/ Đò ngang một chuyến qua mưa bụi/ Ấm áp trong mưa tiếng nói cười/ Cái giọng ru con từ ngõ trúc/ Thanh bình như phút sống đang trôi (Đất nước).

Đó còn là cô em gái tản cư chung cảnh ngộ “thiếu quê hương” Và chợt nhớ chúng ta xa nhà cửa/ Em tản cư tôi làm lính tiền phương/ Quê Hà Nội cùng xa từ một thuở/ Lòng rưng rưng thương nhau qua dọc đường (Quán bên đường), là người gái núi vừa gặp gỡ đã phải chia xa Ngỡ hết thôi rồi muôn giới biên/ Em là gái núi mộng bình yên/ Anh là trai lỗi thời binh lửa/ Môi lạnh không chờ chuyện lứa duyên (Đêm lạnh).

Thơ Quang Dũng viết sau khi ông rời quân ngũ vẫn tiếp nối mạch cảm hứng của các sáng tác giai đoạn trước đó, vẫn là những hành trình đi và viết, nhưng tâm thức lính đã nhạt dần, nhường chỗ cho những xúc cảm mang đậm màu sắc thế sự hơn. Có nhiều bài là nỗi xót xa trước những điêu tàn thời chiến như Đường chiều thứ bảy, Chabbi - Chabbi, Nhớ bạn, Những nghĩa trang… Song cũng có những bài như Bắt đầu, Rừng, Hoa chè, Pha Đin, Bất Bạt đêm giao quân, Những người tóc đã trắng, Mây đầu ô… lại là lời ca hi vọng, là tiếng reo vui, dầu vẫn ở giọng trầm, trước những sinh sắc chớm nở ở miền Bắc hậu chiến.

Tuy nhiên, có một thứ kí ức sâu đậm hơn tất thảy, thứ kí ức đã ở lại và day dứt mãi trong suốt cuộc đời Quang Dũng dù những hành trình thăm thẳm có đưa bước chân ông đi đến tận đâu, và ngược lại, có lẽ cũng chính vì đi nhiều mà cái kí ức ấy trong ông càng nhức nhối. Tôi đang muốn nhắc đến nỗi nhớ cố hương phủ dày trong thơ Quang Dũng.

Hãy thử làm một thống kê: Ngồi đây năm năm miền li hương/ Quê người đôi gót mỏi tha phương (Cố quận); Bộ hành thiêm thiếp nhớ trung châu (Trưa hè); Và chợt nhớ chúng ta xa nhà cửa (Quán bên đường); Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì, Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm, Buồn viễn xứ khôn khuây (Mắt người Sơn Tây); Hồn còn buồn vương hình dáng quê xưa (Tình quê); Quê mẹ không còn dấu vết/ Như chẳng có bao giờ (Nhớ về mẹ); Có nhớ về đất Bắc/ Những người xa quê hương (Có nhớ về đất Bắc); Trưa hè bỗng nhớ sông quê (Mây làng); Ai biết Hồ Nam giờ ra sao/ Xa cách hồn quê động bóng cau (Hồ Nam); Áo chàm lên ga/ Hương rừng đã ngái/ Chạnh niềm quê hương (Bắt đầu); Đường về quê hương về quê hương/ Có một ngày sao mà bất tận (Không đề 2); Em chở anh qua đò/ Đi tòng quân một sớm/ Dòng sông của quê ta/ Trong mắt anh chầm chậm (Đám cưới qua sông Đáy); Nhớ Sơn Tây hơn một mối tình (Gửi Sơn Tây); Sấm đầu mùa đã động/ Sao động lòng tha hương? (Chiều núi mưa rào); Nước mắt em buông lã chã/ Long lanh nhớ giếng quê nhà (Bắt tép kho cà); Đất đá ong trong lòng giếng mát/ Ôi Sơn Tây! Sài Sơn yêu thương! (Nhớ một bóng núi)…

Dễ thấy, trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ quê hương của ông đã được bày ra với gần như toàn bộ những cạnh khía, những biến thể phức tạp nhất của nó. Quang Dũng nhớ đất, nhớ sông, nhớ núi, nhớ da diết cảnh mây trắng trùm bọc xứ Đoài, nhớ cái giếng nước mát, những tảng đá ong, thậm chí chỉ cần nghe tiếng sấm một chiều giữa rừng, ông cũng bâng khuâng nhớ thương quê cũ.

Nhưng thao thiết và ám ảnh nhất có lẽ vẫn là nỗi nhớ về những cố nhân nơi quê xưa, nỗi nhớ đã trở thành nguồn cảm hứng cho Đôi bờ, Mắt người Sơn Tây, Những cô hàng xén - những bài thơ tiêu biểu nhất làm nên tên tuổi Quang Dũng. Đôi bờ mở ra một bến sông khuya chìm khuất trong rét mướt và mưa bụi, nhưng nỗi nhớ và khói thuốc đã đưa người em gái bên bờ sông Đáy quê cũ năm nào trở về trong mộng mị: Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa/ Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ/ Thoáng hiện em về trong đáy cốc/ Nói cười như chuyện một đêm mơ. Mắt người Sơn Tây lại diễn tả cái khắc khoải trong một đôi mắt xứ Đoài, đôi mắt mà binh lửa, lưu lạc và điêu tàn đã hằn lên thành những “suối lệ”. Trong khi đó, Những cô hàng xén lại là nỗi nhớ đẹp về một làng quê Bắc Bộ tươi nhuận đang vào độ vải chín, và nhất là về những cô gái hàng xén ven sông Đáy duyên xinh, “đẹp như ca dao nước Việt”...

*

*          *

Mỗi lần đọc thơ Quang Dũng, tôi hay nhớ về chân dung ông, bức chân dung chàng quân nhân Bùi Đình Diệm chụp những ngày Tây Tiến với chút râu ria điệu nghệ, nhân trung hõm rõ, mà nhất là đôi mắt, một đôi mắt sâu, xa vắng, thăm thẳm. Mắt người Sơn Tây có đoạn: Đôi mắt người Sơn Tây/ U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây. Nhiều người sẽ nghĩ rằng đôi mắt ấy là đôi mắt của một người con gái. Nhưng có gì để bảo chứng? Trong một thoáng mơ lãng, tôi nghĩ đó cũng rất có thể là bức tranh bằng chữ mà Quang Dũng đã dùng để tự họa đôi mắt mình - đôi mắt mà ông cho là “u uẩn” vì “buồn viễn xứ”. Viễn xứ quả là buồn, và Quang Dũng thực ra thấm thía lắm nỗi buồn ấy. Dầu vậy, ông vẫn đi, tha thiết được đi, đi như một phận sự và đi như một lời réo gọi từ nội tại. Bởi rõ ràng những hành trình trong đời đã khiến nỗi nhớ trong ông thêm cuồn cuộn và sâu thẳm. Những thương nhớ trên đường u uẩn ấy, chính chúng tạo cho thơ Quang Dũng một thứ hồn cốt hiếm có, một thế đứng độc đáo trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Đình Minh Khuê

Nguồn: Văn nghê quân đội, ngày 03.5.2021.

-------

1. Quyển hồi kí vừa được gia đình nhà thơ Quang Dũng công bố vào năm 2019, Nxb Kim Đồng ấn hành, đặt lại tên là Đoàn binh Tây Tiến.

Sáng 19.2 tại số 81 Trần Quốc Thảo, Q.3, Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức lễ trao giải thưởng năm 2020 và kết nạp hội viên mới trong không khí ấm áp, chan hòa tình đồng nghiệp trong ngôi nhà chung văn chương đầu năm mới.

Theo nhà văn Bích Ngân – Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM: “Hội đồng chuyên môn và Ban Chấp hành (BCH) Hội Nhà văn đã làm việc với tinh thần cầu thị, với nỗ lực không bỏ sót bất kỳ mọi khám phá, tìm tòi nào ...để tìm ra những tác phẩm xứng đáng trao giải thưởng hàng năm. Một mặt BCH luôn tôn trọng đánh giá của các Hội đồng chuyên môn; mặt khác tranh luận, phản biện để đi đến quyết định trao giải thưởng và tặng thưởng. Mặc dù từng có 10 năm trong BCH, dù không muốn so sánh nhưng theo tôi giải thưởng năm nay là đầy đặn và chất lượng nhất, với đủ các thể loại: văn, thơ lý luận phê bình...”.

 

Niềm vui của các tác giả nhận giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm 2020: nhà văn - đạo diễn Xuân Phượng (thứ hai từ trái qua), nhà văn Bùi Quang Lâm và nhà thơ Cao Xuân Sơn.

 

Được biết, trong số ba tác giả được trao giải thưởng thì điều bất ngờ là hai tác phẩm hồi ký – truyện ký của hai tác giả chưa là Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM là đạo diễn Xuân Phượng (tác phẩm Gánh gánh gồng gồng...) và tác giả Bùi Quang Lâm (Đất K). Nhà văn đạo diễn Xuân Phượng (sinh năm 1929), dù tuổi năm nay đã cao nhưng bà...quá vui, có mặt ngay từ sáng sớm để nhận giải. Nhà văn Trầm Hương – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM đánh giá "những trang viết của bà đậm chất nữ tính sự từng trải, nhân hậu, trí tuệ đã làm sống dậy gần trọn một thế thế kỷ đầy biến động, đau thương, bi hùng của đất nước. Động cơ thôi thúc bà cầm bút là để hóa giải uẩn khúc được chôn giấu sau hơn nửa thế kỷ, tuôn ra cùng những giọt nước mắt đoàn viên".

Nhà văn Trầm Hương nói: “Dù đậm chất trữ tình, xót xa, bi phẫn... Nhưng trên tất cả là niềm tự hào về người phụ nữ Việt Nam không cúi đầu khuất phục nghịch cảnh, một người mẹ tràn ngập tình mẫu tử cao đẹp, một nghị lực phi thường vượt qua những khúc quanh nghiệt ngã của lịch sử và số phận... Một hồi ký nhưng đậm chất điện ảnh, sâu thẳm nhân sinh; lấp lánh nước mắt thấm ướt, kết nối các thế hệ và ngân vang tiếng cười lạc quan từ trong chiến tranh tàn khốc; trong đói khổ, bóng tối những ngày hậu chiến, khao khát hướng tới tương lai tươi đẹp bằng nỗ lực kết nối con người...”.

Ngược lại, truyện ký Đất K Bùi Quang Lâm lại là những lát cắt chưa xa về những ngày hậu chiến khó khăn của đất nước, về những người mẹ tần tảo lo từng cái ăn cái mặc cho gia đình lại tiễn những đứa con ra chiến trường ác liệt.

Bấm chân qua tuổi dại khờ là tập thơ duy nhất được trao giải thưởng của Hội Nhà văn TP.HCM năm 2020. Nói về sức hấp dẫn của tập thơ này, nữ văn sĩ Trầm Hương không giấu được cảm xúc khi trải lòng: “Ẩn đằng sau vẻ ngoài hầm hố, bặm trợn của người đàn ông không còn trẻ nữa là trái tim đa cảm, mềm yếu, mong manh của Cao Xuân Sơn. Anh đã tự hoạ chân dung mình:“Anh. Gã đàn ông lênh khênh, vạm vỡ/ đủ tự mình làm núi ngắm mình chơi. Nhưng vượt lên trên, giá trị cốt lõi của tập thơ được vinh danh giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM 2020 là sự lắng đọng, chiêm nghiệm, triết lý bật lên một cách hồn nhiên từ trải nghiệm cuộc sống của anh".

So với mọi năm thì số tiền được trao của giải thưởng của Hội Nhà văn TP.HCM năm nay có tăng khá hơn với 16 triệu đồng/giải và tặng thưởng 8 triệu đồng cho các tác phẩm Chúng tôi - một thời mũ rơm mũ cối (nhà thơ - nhà báo Huỳnh Dũng Nhân - hồi ký - NXB Tổng hợp TP.HCM); Đoản khúc chiều phù dung (Vũ Văn Song Toàn - tập truyện ngắn - NXB Trẻ); Đi tìm mỹ cảm văn chương (Trần Hoài Anh - tiểu luận – Phê bình – NXB Hội Nhà văn).

21 nhà văn – nhà thơ được kết nạp lần này, gồm: Đỗ Thị Anh, Phan Thị Thanh, Trúc Thuyên (Tống Phước Bảo), Đoàn Minh Phong, Đới Xuân Việt, Bùi Quang Lâm, Lê Công Sơn, Trần Võ Thành Văn, Đinh Thị Phúc (Phúc Đinh), Võ Thị Mai (Hoa Mai), Nguyễn Thị Dung (Thanh Dung), Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Hân (Phương Hùng), Nguyễn Thị Nguyệt (Nguyệt Thu), Nguyễn Đinh Nhật Lân (Chiêu Dương), Đoàn Lâm, Hồng Ngọc Châu, Nguyễn Văn Thành, Lê Thị Lựu (Thiên Hương), Nguyễn Thanh Hoàng, Nguyễn Thị Hường (Thu Hường), cũng đã được BCH Hội Nhà văn TP.HCM trao thẻ nhà văn và tặng hoa chúc mừng cho các tân hội viên trong những tình thân.

Nguồn: https://thanhnien.vn/van-hoa/hoi-nha-van-tphcm-trao-giai-thuong-nam-2020-chan-hoa-trong-tinh-van-chuong-1343639.html

Lần đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước, giữa TP.HCM có buổi trò chuyện về một nhà thơ lớn nổi tiếng trong giới tri thức miền Nam nhưng vẫn còn ít người trong độc giả đại chúng biết đến: nhà thơ Tô Thùy Yên (1938 - 2019).

20210425

Nhiều bạn trẻ tham gia buổi cafe thơ Thơ Tô Thùy Yên - Để mà thương nhớ thơ - Ảnh: KHẢ LINH

Buổi trò chuyện mang tên Thơ Tô Thùy Yên - Để mà thương nhớ thơ diễn ra ngày 24-4 tại địa chỉ mới của không gian văn hóa Cà phê thứ bảy: 79A Phan Kế Bính, Q.1, TP.HCM.

Một tiếng Việt được chưng cất tài hoa qua thơ Tô Thùy Yên

Nhạc sĩ Dương Thụ - người chủ trì buổi café thơ - bày tỏ cuộc trò chuyện đặc biệt này như là một nén nhang "tưởng nhớ một người chúng ta kính trọng", để chúng ta cùng hưởng thụ những di sản văn hóa có giá trị, trong bối cảnh không tránh khỏi của sự phân ly về văn hóa mà lịch sử tác động đến. Ông khẳng định Tô Thùy Yên chính là một nhà thơ của Việt Nam, không phải của riêng miền Nam.

Nhà nghiên cứu, nhà văn Nhật Chiêu cũng khẳng định: "Tô Thùy Yên chính là một nhà thơ lớn của Việt Nam, một bậc thầy của tiếng Việt" - một tiếng Việt "được chưng cất tài hoa mà nếu nhiều người không biết là một cái tội". Ông thừa nhận trong thực tế, rất nhiều bạn trẻ chưa đọc thơ Tô Thùy Yên hay chỉ mới mang máng nghe tên nhà thơ, và hi vọng buổi trò chuyện về một nhà thơ sinh ra ngay thành phố này sẽ lấp một phần nào khoảng trống đó.

Dẫn lại một câu thơ trong bài thơ Ta vềBếp lửa nhân quần ấm tối nay, nhà văn - nhà thơ Nhật Chiêu nêu quan niệm: Sứ mệnh của thơ ca cũng chính là bếp lửa để mọi người đưa tay vào cùng hơ ấm. Thơ Tô Thùy Yên vượt qua mọi phía, phía này hay phía kia để đi tới "bếp lửa nhân quần" đó, đi trên một "con đường lớn" không có phân ly.

Theo ông Nhật Chiêu, đọc thơ của nhà thơ có tư cách triết nhân này sẽ thấy thi sĩ yêu ca dao, yêu tiếng Việt, có chiều sâu triết học, và có kiến thức về văn học thế giới "kinh khủng" đến mức nào.

Ông đi từ Đông sang Tây, từ cổ điển đến hiện đại, để hiểu thơ của ông hết các tầng nghĩa là không dễ với người đọc nói chung, "nhưng chỉ tiếp xúc với bề mặt thơ thôi, hiểu một đến hai tầng nghĩa thôi cũng đủ thấy tuyệt vời", như bài Con sáoCon sáo trong lòng con đã chết/ Bé ơi, sao bé còn đi tìm?/ Còn kêu lạc giọng sáo ơi sáo/ Rồi khóc trong chiều muộn nhá nhem? Hay bài Không kịp có "4 câu thôi mà cực thâm sâu": Gặp lại nhau nhìn sững chẳng ra/ Em thay đổi quá, tựa sơn hà/ Thơ làm không kịp theo dâu biển/ Mắt dẫu khô mà nhớ lại hoa.

Nhà thơ Nhật Chiêu cũng minh chứng về những biểu tượng đầy tính liên văn bản trong thơ Tô Thùy Yên qua các bài xuất sắc như Du mộng, Vườn hạ, Góa bụa…

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu: Nhà thơ Tô Thùy Yên là bậc thầy của tiếng Việt - Ảnh 2.

Ta về - một bài thơ được xem là kiệt tác của Tô Thùy Yên được đọc vang trong không khí khá xúc động - Ảnh: K.LINH

Đầy lượng từ tâm, không nuôi oán hờn 

Giữa buổi trò chuyện, 126 câu của Bài thơ Ta về - bài thơ được diễn giả Nhật Chiêu xem là 1 trong 4 kiệt tác của Tô Thùy Yên - được TS Hoàng Kim Oanh - vốn thân thiết với gia đình nhà thơ Tô Thùy Yên - và nhà thơ Ngã Du Tử cùng đọc cho khán phòng nghe. Không ít bạn trẻ nghe thơ mà mắt rớm lệ.

Dẫn lời thơ Ta về khai giải bùa thiêng yểm/ Giải oan cho cuộc biển dâu này, Nhật Chiêu bình: Từ Ta về, có thể thấy "thơ Tô Thùy Yên khai giải oan ức để đưa lá rơi về cội, về với giang đầu, về với con người, với cội nguồn, về với nhân quần, không phải về với phe phái nào, bởi lẽ phải là sự tương tác, thương yêu nhau. Khai giải là phương pháp trị liệu vết thương nhân văn nhất".

Từ đó, nhà nghiên cứu luôn tôn vinh vẻ đẹp của tiếng Việt thêm một lần khẳng định: Thơ Tô Thùy Yên đề cao tình tự dân tộc, tinh thần hòa giải, mỗi người cần "góp vui" vào thay vì góp hận (Bao giờ, cho đến bao giờ nữa/ Em gánh vui về họp chợ đông?).

Kết lại bài nói chuyện của mình, ông trích đọc mấy câu trong bài Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai của Tô Thùy Yên để nhắc lại một tư tưởng triết học Phật giáo - Cơ hội làm người là hiếm quý vô cùng - và đúc kết: "Khi mà ta biết hư vô là gì, thì ta sẽ quý con Người":

Biểu dương - hãy biểu dương cùng tận/ Vinh dự lầm than của kiếp người/ Hi hữu một lần trên trái đất/ Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai.

"Thơ cũng như đất trời đầy lượng từ tâm, không nuôi oán hờn. Đây là bài học vĩ đại nhất của Tô Thùy Yên. Nhiệm vụ của chúng ta là gỡ bỏ cái "bùa yểm" rằng dân tộc ta vốn quen với chia ly, với phân tranh (từ thời Trịnh - Nguyễn). Chiến tranh, phân tranh làm gì khi chúng ta là anh em với nhau" - nhà văn Nhật Chiêu nói.

Kết lại buổi trò chuyện, nhạc sĩ Dương Thụ chia sẻ: "Thơ Tô Thùy Yên đánh mạnh về cả trí và tâm. Tôi đã rất xúc động khi đọc Ta về. Một người rất dân gian là Nguyễn Bính. Một người rất tinh tế, bác học là Huy Cận. Tô Thùy Yên hội tụ cả dân gian lẫn bác học. Đầu óc những nhân vật lớn không nhỏ hẹp. Người hẹp hòi thì rất đông. 1 nhà thơ lớn, 1 tâm hồn lớn thì họ nhìn khác, rất bao dung".Ông nói thêm với các bạn trẻ những lời thấm thía: "Những nhà thơ cỡ như Tô Thùy Yên không nhiều được. Tôi phải thừa nhận càng già càng ít đọc, những tôi sẽ tiếp tục đọc thơ Tô Thùy Yên. Chúng ta nên sống với những bài thơ thế này. Đây là một gia tài và chúng ta nên nhận lấy gia tài này. Tôi mong các bạn cũng hãy tiếp tục đọc Tô Thùy Yên, không phải để làm thơ hay mà để chúng ta sống tốt hơn, sống tử tế hơn".

Nhìn vào bên trong để hiểu con người

Trước nhận xét cho rằng Tô Thùy Yên "từ tâm" có lẽ được ảnh hưởng bởi nền giáo dục ông thừa hưởng, có mặt tại buổi trò chuyện, dịch giả Nguyễn Văn Trọng cho rằng thi sĩ có được cái từ tâm đó hay không là câu chuyện của mỗi cá nhân, tâm hồn mỗi con người là huyền bí và nói cho cùng là anh có ngộ hay không, ý thức thế nào về kiếp sống của mình. "Vấn đề là anh nhìn vào bên trong mình để hiểu thế giới con người, hiểu cuộc đời hay nhìn ra bên ngoài để kiếm một con vật tế thần nào đó mà đổ tội".

Dịch giả Nguyễn Văn Trọng cũng bày tỏ nỗi lo ngại khi con đường nhân loại đang đi có vẻ đều hướng về văn minh vật chất, và nếu vậy thì dù là ý thức hệ nào cũng sẽ nguy hiểm.

Tiếp nối ý này, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu cho rằng các nhà thơ lớn đều là những người gìn giữ, lưu truyền những giá trị mà văn minh vật chất có thể cuốn trôi đi.

Khả Linh

Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 24.4.2021.

Vậy là những cố gắng cuối cùng của nhà thơ Đoàn Vị Thượng để trải qua cái Tết Tân Sửu 2021 vừa dừng lại: anh trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng lúc 11h04 ngày mùng 5 Tết (16-2) sau thời gian dài lâm bạo bệnh.

Nhà thơ Đoàn Vị Thượng

Nhà thơ Đoàn Vị Thượng sinh năm 1959, tên thật là Trần Quang Đoàn, được bạn đọc nhiều độ tuổi yêu mến. Là người gốc Huế, lại sống suốt thời niên thiếu ở Quảng Ngãi, lớn lên lập nghiệp tại Sài Gòn, thơ ông có nhiều ý vị, những cảm xúc hồn nhiên tuổi mới lớn và cả độ trầm lắng suy tư sau khi đối diện với chìm nổi của cuộc đời.

Sự kiện mới nhất về thơ ông là buổi ra mắt tập Thơ Đoàn Vị Thượng hồi cuối tháng 12-2020, do gia đình và bạn hữu cùng NXB Hội Nhà Văn chung tay thực hiện. Tập thơ khiến ông vui hơn một chút trong những ngày cuối đời chống chọi với bệnh tật. 

Nhiều bạn bè yêu quý Đoàn Vị Thượng bắt đầu từ những vần thơ trong trẻo và cá tính. Trong các mối giao tình, họ nhận ra ở nhà thơ gốc miền Trung những độ rung trong tâm hồn có thể tạo ra nhiều giao cảm đồng điệu. 

Đoàn Vị Thượng sống một đời trong niềm yêu thương tin cậy của bạn bè, tránh xa thị phi và không dính dáng đến những được thua còn mất.

Dường như, tự thẳm sâu ông hiểu được sự tạm bợ của kiếp người, sự giả lập của thời gian, và chỉ gửi gắm suy tư vào câu chữ, vào thơ.

Trong buổi ra mắt tập thơ Đoàn Vị Thượng cách đây mới hơn một tháng, nhà nghiên cứu Tịnh Thy chia sẻ với mọi người một góc nhìn về bài thơ Tôi là ai trong tập. 

Theo Tịnh Thy, đây có thể là lời nhắn gửi của Đoàn Vị Thượng đến với mọi người, với cuộc đời: "Tôi là ai, em hỏi lúc gặp nhau/ Chợt câu hỏi cũng là tôi bối rối... Như thể rằng, tôi là một nhà thơ/ Hay là kẻ si tình, thì cũng thế/ Sự có mặt của tôi, có đôi khi không đáng kể/ Tôi lẫn chìm giữa cuộc sống quanh em/ Em yêu đời này, xin yêu một cái tên: Đoàn Vị Thượng".

Cái tên ấy hẳn sẽ còn được nhiều người nhắc mãi, như những vần thơ ông luôn được bạn đọc yêu thích, cho dù ông vừa làm chuyến từ biệt thi đàn để đi vào cõi vĩnh hằng.

Một số tác phẩm của Đoàn Vị Thượng xuất bản trước đây:

- Ngôi trường, hoa phượng và tôi (thơ, 1987)

- Thơ Đoàn Vị Thượng (1988)

- Chuyện tình chim hót (truyện dài, 1989)

- Môi thơm (truyện dài, 1990)

- Tóc em còn thả mùa đi học (truyện dài, 1991)

Hiện linh cữu nhà thơ Đoàn Vị Thượng quàn tại nhà: 41/9 Trần Kế Xương, phường 7, quận Phú Nhuận, TP.HCM.

Thông tin tang lễ: Lễ viếng bắt đầu sau 20h30 ngày 16-2, Lễ động quan: 6h ngày 19-2, sau đó linh cữu được đưa đi hỏa táng tại trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa.

Nguồn: https://tuoitre.vn/nha-tho-doan-vi-thuong-tu-biet-van-dan-o-tuoi-63-2021021614465951.htm

Thông tin truy cập

71545914
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
17019
17754
71545914

Đang có 924 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website