Những đặc điểm nổi bật của văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945

Đoàn Lê Giang ([1])

Ngày 15/4/1865 tờ Gia Định báo ra số báo đầu tiên, đánh dấu chữ Quốc ngữ đã ra khỏi nhà thờ Thiên chúa giáo để gia nhập đời sống văn hóa chung, mở đường cho nền văn học mới ra đời.

Trải qua một quá trình dài gần 80 năm, từ một vùng văn học mới phôi thai, văn học quốc ngữ Nam Bộ trở thành một vùng văn học phát triển, có nhiều thành tựu phong phú và giàu bản sắc.

Cuối thế kỷ XIX, các nhà văn chủ yếu là các trí thức xuất thân từ nhà thờ hay có liên hệ mật thiết với nhóm ấy, như: Trương Vĩnh Ký với Trương Minh Ký – con rể ông, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản. Đầu thế kỷ XX lực lượng sáng tác có sự mở rộng, phong phú đa dạng hơn: hai thập niên đầu tiên của thế kỷ XX lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà văn duy tân, như: Nguyễn Thần Hiến, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toản, Đặng Thúc Liêng…. Thập niên hai mươi và ba mươi có sự bổ sung phong phú hơn: có những nhà nho bắt đầu chuyển sang dùng chữ quốc ngữ: Thượng Tân Thị, Lê Sum, Nguyễn An Khương, Trần Phong Sắc, Huyền Mặc Đạo Nhân…; có khá nhiều nhà văn nữ xuất hiện: Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân, Elen Anh Hoa, Nguyễn Thị Manh Manh, Mộng Tuyết…; đông đảo hơn cả là các trí thức Tây học: Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Tân Dân Tử, Biến Ngũ Nhi, Phú Đức, Đông Hồ, Trúc Hà, Lư Khê…; có những nhà văn từ miền Trung, miền Bắc vào như: Nam Kiều Trần Huy Liệu, Bửu Đình, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất… Cuối thập niên ba mươi đến 1945 có thêm nhóm trí thức cách mạng như: Cao Hải Để, Trần Hữu Độ, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Nguyễn, Kiều Thanh Quế…

Mục đích của việc sáng tác, dịch thuật trước hết là để học chữ quốc ngữ và làm quen với văn hóa phương Tây, au đó mới sáng tác để thưởng thức và hiểu biết con người và xã hội. Bên cạnh đó là sáng tác để khơi dậy lòng yêu nước và làm cách mạng.

Quá trình sáng tác đi từ dịch thuật và mô phỏng, sau đó mới chuyển viết sáng tạo. Văn thể chuyển từ thơ, văn vần sang văn xuôi là chính.

Qua quá trình đó, văn học Nam Bộ đã có những giá trị và đặc điểm gì, có vị trí thế nào trong quá trình hiện đại hóa dân tộc.

Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) năm 1883, tuổi 46 – Ảnh : historicvietnam.com

  1. Văn học Nam Bộ tiên phong trên con đường hiện đại hóa

Từ cuối thế kỷ XIX ở Sài Gòn đã xuất hiện một thế hệ trí thức mới. Có người học trường đạo Penang (Malaysia) như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của; có người ở Trường Lycée Alger (Algieria) như: Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương). Họ trở thành những nhà văn tiên phong trong việc xây dựng văn học Quốc ngữ.

Dịch văn học: Với các tập Chuyện Phan Sa diễn ra quốc ngữ (Bản in Nhà hàng C.Guilland et Martinon, S.1884), Truyện ngụ ngôn của Pháp (1884-1885), Phú bần diễn ca (S.Nhà hàng C.Guilland et Martinon, in lần đầu 1885), Tê Lê Mặc phiêu lưu ký (đăng báo 1885, in sách 1887, dịch từ Telémarque phiêu lưu ký / Aventures de Telémaque của Fénelon), Francinet (đăng Gia Định báo từ số 36, năm 21, ngày 5.9.1885)…Trương Minh Ký trở thành dịch giả tiên phong trong việc dịch văn học phương Tây và văn học Pháp của nước ta. Sau đó là bản dịch Truyện Robinson do Trần Thái Nguyên dịch đăng trên Gia Định báo ngày 24/4/1886 , Tiền căn báo hậu của Trần Chánh Chiếu dịch từ Le Comte de Monte Cristo của A.Dumas, xuất bản năm 1907…

Ký: Ký sự bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên là quyển Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất hợi (1876) phụ đề tiếng Pháp: Voyage au Tonkin en 1876, Bản in Nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1881. Sau đó là 2 thiên du ký bằng thơ của Trương Minh Ký: Chư quấc thại hội (Commerciale Rey, Curiole & Cie xuất bản, Sài Gòn, 1891), cuốn ký sự bằng thơ song thất lục bát ghi lại chuyện đi dự Hội đấu xảo Paris 1889; Như Tây nhựt trình (khởi đăng trên Gia Định báo từ 10.04.1888 đến 16.04.1890, sau đó Imp.Ruy et Curiol xuất bản, 1889), cuốn ký sự bằng thơ song thất lục bát dài 2000 câu ghi về một chuyến đi Pháp.

Tiểu thuyết, truyện ngắn: Cuộc thi “Quốc văn thí cuộc” do Trần Chánh Chiếu, chủ bút khởi xướng trên báo Nông cổ mín đàm năm 1906 có thể coi như cuộc thi sáng tác tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Giải thưởng được công bố một năm sau trên tờ báo ấy, số 280, ngày 5/3/1907, giải nhất, giải duy nhất dành cho Lương Hoa Truyện của Pierre Eugène Nguyễn Khánh Nhương, tác phẩm duy nhất dự giải. Nhưng tác phẩm này sẽ mở ra một mùa sai quả sẽ rộ lên vài năm sau đó. Đó là: Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Thiên Trung, cuốn tiểu thuyết mở đầu cho khuynh hướng hiện thực phê phán; Lâm Kim Liên tự truyện, của Trần Chánh Chiếu, 1910). Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản, cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng quốc ngữ đầu tiên; Chơn cáo tự sự (1910) của Michel Tinh; Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu, cuốn tiểu thuyết tâm lý – xã hội đầu tiên… Vài năm sau nữa sẽ xuất hiện kiện tướng của tiểu thuyết Nam Bộ: Hồ Biểu Chánh với hàng loạt tác phẩm phóng tác và sáng tác: Ai làm được (1919), Cay đắng mùi đời (1923), Cháu tàu Kim Quy (1923), Ngọn cỏ gió đùa (1926)…

Nếu so với các nước khác trong khu vực văn hóa chữ Hán, với thành tựu của văn học Nam Bộ, thì nền văn học mới của Việt Nam ra đời rất sớm, tương đương với Nhật Bản, sớm hơn nhiều Trung Quốc và Triều Tiên/ Hàn Quốc:

Về báo chí, báo Việt Nam là sớm nhất (1865), kế đến là Nhật Bản (1870 tờ Yokohama mainichi shimbun / Nhật báo Yokohama). Trung, Hàn muộn hơn nhiều.

Về văn học dịch: Nhật Bản sớm nhất: 1878 bản dịch Tám mươi ngày vòng quanh thế giới của Jules Verne do Kawajima Chùnosuke dịch, 5 năm sau là Việt Nam (1881 đến 1886 Chuyện Phan Sa diễn ra quốc ngữ); 15 năm sau mới đến Trung Quốc (năm 1896 bản dịch đầu tiên: Cha và con của nhà văn Nga Ivan Turgenev mới ra đời).

Về ký sự: du ký sớm nhất là thuộc về Nhật Bản: 1866 Tây dương sự tình của Fukuzawa Yukichi. Kế đến là Việt Nam: du ký trong quốc ngữ trong nước là của Trương Vĩnh Ký 1876 (Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất hợi), du ký quốc ngữ về nước ngoài là Như Tây nhựt trình - de Saigon à Paris của Trương Minh Ký (1889). Trung Quốc thì chậm hơn nhiều - phải 10 năm sau mới có Hạ Uy Di du ký của Lương Khải Siêu (hoàn thành năm 1899).

Về tiểu thuyết: tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nasm và Nhật Bản ra đời gần như cùng một năm: Truyện thầy Lazaro Phiền tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Quản xuất bản năm 1887, cũng năm ấy tiểu thuyết Phù vân (Ukigumo) của Futabatei Shimei cũng ra đời. Nhưng Trung Quốc và Hàn Quốc phải trên 30 năm sau mới có những tiểu thuyết đầu tiên của Lỗ Tấn (Nhật ký người điên, 1918), của Lee Kwang-su (Vô tình, Nỗi bi ai của cậu bé, tiểu thuyết 1917).

Tất cả các hiện tượng tiên phong của văn học Việt Nam nói trên đều là thành quả của văn học Nam Bộ.

  1. 2.Văn học Nam Bộ đậm đà tinh thần yêu nước và thống nhất dân tộc

Thế kỷ XX ở Nam Bộ mở ra bằng phong trào duy tân mạnh mẽ. Nguyễn Thần Hiến người Hà Tiên, sau cuộc gặp gỡ với Phan Bội Châu vào năm 1904 đã trở thành nhân vật tích cực của phong trào Đông du. Ông từng làm Tổng Ủy viên sự vụ khi lưu lạc sang Xiêm, phụ trách Nam Kỳ trong ban lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội (1912), cuối cùng bị bắt, bị giam trong Hỏa Lò và chết trong tù ngục. Trần Chánh Chiếu từ điền chủ giàu có ức vạn ở Rạch Giá, có quốc tịch Pháp với tên gọi là Gillbert Chiếu, sau trở thành nhân vật lãnh đạo phong trào Minh Tân Nam Kỳ. Ông lập hệ thống Minh Tân khách sạn, hãng xà bông Canard (Con vịt)… Với tư cách là chủ bút Lục tân tân văn, ông đã biến tờ báo này thành cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng duy tân và ông bị bắt, bị bỏ tù từ ngay trong chức vụ đó. Cùng tham gia phong trào Minh tân Nam Kỳ còn có Trương Duy Toản, nhà văn, nhà báo, soạn giả cải lương. Sau các ông một chút, có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, chủ bút tờ báo nữ giới đầu tiên Nữ giới chung, Phan Thị Bạch Vân chủ bút tờ tạp chí Tinh thần phụ nữ vừa đấu tranh cho nữ quyền, vừa hoạt động yêu nước. Nhà xuất bản Nữ lưu thư quán Gò Công của bà là sách phụ nữ sớm nhất và lớn nhất trong cả nước, quy tụ nhiều nhà văn Nam Trung Bắc. Phan Thị Bạch Vân bị ra tòa “về tội phá rối cuộc trị an trong xứ bằng văn chương tư tưởng” (Phụ nữ tân văn số 39, 13.2.1930, tr.25). Nguyễn Văn Vinh người Bến Tre, bị 5 năm tù treo vì hoạt động chống Pháp, mà tác phẩm Tam Yên di hận của ông một trong những bằng chứng để chính quyền buộc tội ông. Bửu Đình, tác giả của Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ, Một thiên tuyệt bút Trường hận…cũng bị tù và đày ra Côn Đảo vì những hoạt động yêu nước. Đã có đến hàng trăm quyển tiểu thuyết của các nhà văn Nam Bộ bị chính quyền thực dân Pháp cấm lưu hành, như các tác phẩm của Nguyễn Kim Đính, Dương Quang Nhiều, Phú Đức, Cao Chánh, Ngọc Sơn (Phi Long), Sơn Vương, Lưu Thoại Khải (Việt Đông)…

Tinh thần yêu nước cũng làm nảy sinh ra trào lưu sáng tác tiểu thuyết lịch sử từ giữa thập niên 1920 trở đi, nhất là tiểu thuyết viết về lịch sử dân tộc. Không kể Trương Duy Toản, Tân Dân Tử, hai nhà văn chuyên viết về lịch sử Nam Bộ thời Nguyễn Ánh([2]) thì có thể thấy một số tác giả dưới đây viết về đề tài lịch sử dân tộc Lý Trần Lê:

Hồ Biểu Chánh có: Nam cực tinh huy, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1924, viết về Ngô Quyền; Nặng gánh cang thường, Càng Long, 1930 viết về lịch sử thời Lê Thánh Tông.

Nguyễn Chánh Sắt có: Việt Nam Lê Thái Tổ, tiểu thuyết lịch sử, 4 tập, Đức Lưu Phương xuất bản, SG, 1929

Việt Đông có: Vì nước bạc tình (Triệu Võ Vương đánh Thục), lịch sử tiểu thuyết, Phạm Đình Khương xuất bản, SG, 1935

Phạm Minh Kiên là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử dân tộc nhiều nhất – 6 tác phẩm. Đó là: Vì nước hoa rơi (Nhà in Xưa nay, SG, 1926), Việt Nam anh kiệt - Vì nghĩa liều mình (Impr. Duy Xuân, Sađec, 1926), Việt Nam Lý trung hưng (Việt Nam Lý Thường Kiệt) (Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1929), Lê triều Lý thị (Impr. Nguyễn Văn Viết, SG, 1931), Tiền Lê vận mạt (Tín đức thư xã, SG, 1932), Trần Hưng Đạo (Tín đức thư xã, SG, 1933).

Khi viết về lịch sử dân tộc, các nhà văn ấy có ý thức rất rõ về công việc của mình là nhằm phổ biến quốc sử vào dân chúng, qua đó hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Trong lời Tựa cho tiểu thuyết Lê triều Lý thị của mình, Phạm Minh Kiên viết: “Sự tích ly kỳ của ông Lý Công Uẩn chẳng khác nào Triệu Khuông Dẫn bên Tàu: mà Triệu Khuông Dẫn người ta đã có đem ra thêu thùa bày vẽ, sắp đặt nên truyện nên tuồng rất dài để bia danh nên giá; còn Lý Công Uẩn nhà ta thì chôn chặt ở trong hòm quốc sử”.

Trong Lời tựa tiểu thuyết Việt Nam Lê Thái Tổ của mình, Nguyễn Chánh Sắt nhắc đến lịch sử Đinh, Lê, Lý, Trần và mục đích sáng tác của mình: “Nước Việt Nam ta từ ngày lập quốc nhẫn xuống Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê cho đến bổn triều, trải bốn ngàn năm, biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt, dọc trời ngang bể, oanh oanh liệt liệt mà đối phó với nước ngoài (…), sánh với các nước bên cõi Á Đông này thì dân tộc Việt Nam ta cũng được vẻ vang trong lịch sử (…). Nay ký giả viết bộ tiểu thuyết này đây là rút ra trong quốc sử mà phô diễn ra, gồm đủ văn chương và luân lý, có ý biểu dương những công lao sự nghiệp của một đấng vĩ nhân Nam Việt là Lê Thái Tổ cùng những trang hào kiệt danh tướng đương thời”.

           Ngay như việc sáng tác văn học bằng tiếng mẹ đẻ, để từ đó bồi đắp văn hóa nước nhà cũng là biểu hiện của tinh thần yêu nước sâu sắc. Còn nhớ trên báo đầu thập niên 1930 có đăng bài của ông Hồ Duy Kiên, nghị viên quản hạt, trong bài báo ấy ông cho rằng tiếng Việt là patois - chỉ là thổ ngữ, đầy những bất hợp lý và lạc hậu. Ông chủ trương dùng tiếng Pháp, một thứ ngôn ngữ chặt chẽ, khoa học, thay cho tiếng mẹ đẻ trong hành chính, cũng như trong giáo dục, báo chí. Bài báo ấy bị Phan Khôi phản đối kịch liệt trên Phụ nữ tân văn. Như vậy các nhà văn Nam Bộ viết văn viết báo bằng tiếng Việt cũng là tránh cho tiếng Việt chỉ là “thổ ngữ” mà trở thành ngôn ngữ văn học, tinh tế và phong phú, sâu sắc.

3. Văn học Nam Bộ giàu tính đạo lý

Trọng đạo lý là một truyền thống trong văn học Nam Bộ được mở ra từ Võ Trường Toản (thế kỷ XVIII), được vun đắp bởi Gia Định Tam Gia (Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh, Trịnh Hoài Đức), Phan Thanh Giản và thành tựu bởi Nguyễn Đình Chiểu và thế hệ các nhà văn cùng thời với ông: Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị… Văn học quốc ngữ Nam Bộ vẫn tiếp tục truyền thống đó. Hồ Biểu Chánh là nhà văn xã hội lớn nhất Nam Bộ. Tác phẩm của ông với những Chúa Tàu Kim Quy, Ngọn cỏ gió đùa, Nặng gánh cang thường, Cay đắng mùi đời, Chút phận linh đinh, Cha con nghĩa nặng…dù mang đậm hơi thở của cuộc sống hiện thực, nhưng cũng là những câu chuyện thấm đẫm đạo lý với những hiếu hạnh, tiết nghĩa, với những ước mơ đạo lý cổ truyền: “Ở hiền gặp lành”, “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu(Lưới trời lồng lộng/ Thưa nhưng khó thoát), “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo/ Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì” (Thiện ác cuối cùng rồi sẽ báo/ Chỉ là sớm muộn đến mà thôi)…    

Không riêng gì Hồ Biểu Chánh, các nhà văn khác khi phản ánh đời sống xã hội Nam Kỳ đang trên con đường đô thị hóa tư bản chủ nghĩa, thường đứng từ lập trường đạo lý cổ truyền để phê phán.

Nguyễn Thành Long với: Lỗi bước phong tình (Chuyện cô Ba Jeannette), (tiểu thuyết, 4 tập, Imprimerie de l’Ouest, Cần thơ, 1922); Sổ đoạn trường của cô Lâm Kim Lang tự thuật” (tiểu thuyết, 4 tập, Imp.Đông Pháp, Nguyễn Kim Đính, SG, 1924).

Sơn Vương với: Bạc trắng lòng đen (đoản thiên tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1930); Phản bạn vì tình (đoản thiên tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG,1930); Làm nhơn được vợ (Vô Song Nữ (tức Sơn Vương), tiểu thuyết, SG, Nhà in Đức Lưu Phương, 1931); Ai bạc tình? (đoản tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1931); Anh bạc tình (đoản thiên tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1931)…

Việt Đông với: Lỗi hẹn quên thề (tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG); Nghĩa tào khương (In lần thứ 1. - Chợ Lớn : Impr. Phạm Đình Khương, 1935); Rể thảo là trai (Ellen Anh Hoa và Việt Đông, S. : Impr. Bảo Tồn, 1935); Vợ hiền của tôi (In lần thứ 1. - S. : Impr. Bảo Tồn, 1937)...

Nguyễn Bửu Mọc với: Chút phận cam go (Tâm lý tiểu thuyết, 3 cuốn, Impr.J.Viết, năm ?), Chút phận cô đơn (tiểu thuyết, Lục tỉnh tân văn 1931), Kén rể chọn dâu (2 tập, tiểu thuyết, Imp.J.Nguyễn Văn Viết, SG, 1931); Cô giáo Yến Hoa lụy vì tình (tiểu thuyết, Imp.J.Nguyễn Văn Viết, SG, 1931); Kẻ oan người ưng (tiểu thuyết, Imp.J.Nguyễn Văn Viết, SG, 1932); Hổ thầm (tiểu thuyết, Imp.J. Viết, SG, 1932); Chị em bạn dâu (tiểu thuyết, Imp.J.Viết, SG, 1933)…

Và hàng loạt các nhà văn khác như: Cẩm Tâm, Đào Thanh Phước, Ellen Anh Hoa, Gabriel Võ Lộ…Cảm hứng đạo lý làm nền cho các tác phẩm phản ánh hiện thực tạo ra khuynh hướng xã hội-đạo lý khá đặc biệt của văn học quốc ngữ Nam Bộ.

4. Văn học Nam Bộ có tính chất đại chúng và phong cách bình dân

Nền văn học mới theo mô hình phương Tây được sinh ra trong các đô thị tư bản chủ nghĩa, về bản chất đã có tính đại chúng, thị trường và hướng tới độc giả bình dân. Tuy nhiên do tính chất đô thị hóa sớm và sâu sắc, do điều kiện kinh tế tương đối dễ dàng và còn do chịu sự chi phối bởi truyền thống mà tính đại chúng, thị trường và phong cách bình dân trong văn học Nam Bộ được chú ý nhiều hơn ở các vùng khác của đất nước.

Báo chí ra đời sớm, lại được hưởng quy chế có phần tự do hơn Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nên báo chí Nam Kỳ phát triển rất mạnh. Vào cuối thế kỷ XIX, trong khi các vùng khác chưa biết báo chí là gì thì ở Sài Gòn đã có 3 tờ báo và 1 tờ tạp chí: Gia Định báo (ra đời năm năm 1865), Nam Kỳ nhựt trình (le Journal de Cochinchine, 1885), Phan Yên Báo của Diệp Văn Cương (ra đời năm 1898) và Miscellanées / Thông loại khoá trình của Trương Vĩnh Ký (1888). Đến đầu thế kỷ XX hàng loạt các tờ báo lớn ra đời: Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907), Công luận báo (1916), Nữ giới chung (1918), Nam Kỳ kinh tế báo (1920), Đông Pháp thời báo (1923), Trung lập báo (1924), Thần chung (1929), Đuốc nhà Nam (1928), Phụ nữ tân văn (1929)… Sài Gòn thực sự trở thành “Kinh đô báo chí” của cả nước. Báo chí đã tạo ra một tầng lớp đọc mới: anh công chức, ông tiểu chủ, chị tiểu thương, các bạn học sinh sinh viên, kể cả bác tài xế, anh đạp xích lô… mỗi người một tờ báo đọc khi rảnh rỗi, rồi từ báo mà đến sách. Người vùng khác đến sẽ rất ngạc nhiên ở Sài Gòn tầng lớp lao động thành thị cũng đọc báo, thậm chí nhiều tờ báo vào buổi sáng hay những lúc chờ khách, trong khi đó ở các vùng khác, đối tượng này hình như bị các nhà báo, nhà văn bỏ quên.

Độc giả đã quyết định sáng tác. Rất nhiều các nhà văn bắt đầu sự nghiệp văn học từ báo chí: người ta đăng truyện trên báo bằng hình thức feuilleton trước khi đưa cho các nhà xuất bản in thành sách, như: Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Bửu Mọc, Phú Đức, Nam Đình… Người ta dùng tiểu thuyết để thu hút độc giả, rồi từ đó tạo ra thị trường sách văn học. Nhiều hình thức xuất bản, in ấn ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của độc giả. Sách được tách ra thành từng tập mỏng, thường dày khoảng 36 trang vì vừa một “tay giấy” (một tờ giấy in typo khổ to, gấp lại thành 18 tờ, in 2 mặt thành 36 trang). Số lượng sách in lớn – từ 2000 đến 5000 bản in lần đầu. Giá sách rẻ - chỉ khoảng 3 xu. Có những nhà văn được độc giả mến mộ đã in truyện của mình hàng tuần ra cố định vào một ngày như Lưu Thoại Khải với Việt Đông văn tập ra ngày thứ Sáu.

Chữ quốc ngữ, báo chí đã tạo ra độc giả mới, từ lớp độc giả này người ta đã quy định nền văn học mới đáp ứng yêu cầu của mình.

Trước hết là ngôn ngữ: ngôn ngữ phải như lời nói thường. Ngay từ đầu các nhà văn Quốc ngữ đã chủ trương dùng câu văn xuôi tiếng Việt, đó là "tiếng An Nam ròng" như Trương Vĩnh Ký nói (Ý sách (lời tựa) Chuyện đời xưa, Imprimerie de Quy Nhơn, 1914, tr.3), “lấy tiếng thường mọi người hằng nói” như Nguyễn Trọng Quản chủ trương (Tựa Truyện thầy Lazaro Phiền, Sài Gòn, J. Linage, Libraire – Editeur, 1887). Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nam Kỳ chính là lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người nơi đây. Giai đoạn đầu, nhiều tác phẩm còn viết bằng thứ ngôn ngữ nặng nề, vụng về, và in ấn sai chính tả nhiều. Bên cạnh đó một số tác giả đã vượt lên, viết bằng thứ ngôn ngữ trong sáng, có giá trị văn học cao. Đó là Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Phan Thị Bạch Vân, Phú Đức, Phan Huấn Chương, Phi Vân…

Tính chất đại chúng còn thể hiện ở sự phát triển mạnh mẽ một số thể loại, thể tài văn học có sức hút cao. Đó là tiểu thuyết tình ái với Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Việt Đông, Cẩm Tâm…; Tiểu thuyết lịch sử với Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử…; Tiểu thuyết nghĩa hiệp với Nguyễn Chánh Sắt, Phạm Minh Kiên...; Tiểu thuyết trinh thám với Biến Ngũ Nhi, Phú Đức…; Tiểu thuyết vụ án với Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Phi Long…

Tính đại chúng, bình dân của văn học Nam Kỳ còn thể hiện ở loại tiểu thuyết chú ý khai thác cốt truyện ly kỳ, giàu hành động. Nhiều nhà văn chú ý ở kể chuyện và đối thoại mà ít chú trọng đến phân tích tâm lý. Nhân vật trong tác phẩm của những nhà văn đó thường trải qua nhiều gian truân, lưu lạc nhiều nơi, gặp nhiều cảnh ngộ éo le, cuối cùng thì kết thúc có hậu. Xã hội được nhìn qua lăng kính đẳng cấp (giàu nghèo), nhân vật được nhìn qua lăng kính đạo đức, lý tưởng xã hội chủ yếu là ở hiền gặp lành, ở ác thì bị trừng phạt. Đó là cách nhìn của người bình dân. Chỉ có một số nhà văn, một số tác phẩm nhìn nhận vấn đề xã hội sâu sắc hơn và phản ánh vào tác phẩm một thứ hiện thực trần trụi hơn.

Kết luận

Văn học quốc ngữ Nam Bộ được sinh ra từ đô thị hiện đại hóa sớm nhất là Sài Gòn, và mấy chục năm sau đó đều chủ yếu diễn ra ở thành phố này. Sinh ra từ thành phố thuộc địa của một dân tộc bị mất nước, nên nó không thể phát triển tự do. Mặc dầu vậy nó vẫn tìm cách tồn tại để xây dựng nền văn học mới bằng ngôn ngữ dân tộc và có tính chất đại chúng. Trong mấy chục năm từ cuối thế kỷ XIX đến thập niên 1930, văn học quốc ngữ Nam Bộ đã đạt được những thành tựu rực rỡ với hàng mấy chục tác giả và hàng trăm tác phẩm. Văn học quốc ngữ Nam Bộ là bộ phận tiên phong của văn học dân tộc, bên cạnh những tính chất chung, nó cũng có những đặc điểm riêng làm phong phú thêm cho văn học dân tộc.

Chú thích:

(*) Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh (VNU-HCM) trong đề tài “Văn học Việt nam từ giữa thế kỷ XIX đến 1932: Những vấn đề về tác giả, thể loại, khuynh hướng”, mã số C2014-18b-04

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12 năm 2016


[1] PGS.TS., Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP. Hồ Chí Minh.

[2] Trương Duy Toản viết Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân, Tân Dân Tử viết: Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc, Hoàng Tử Cảnh như Tây.

Bài viết cùng tác giả

Thông tin truy cập

37731469
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
5904
10008
37731469

Thành viên trực tuyến

Đang có 441 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929