PHAN THU HIỀN (*)

Báo cáo này khái quát tình hình nghiên cứu yếu tố nội và ngoại sinh trong quá trình hình thành, phát triển “văn học mới” Korea. Trong tình hình “văn học mới” Korea hầu như chưa được tìm hiểu sâu sắc, có hệ thống ở Việt Nam, một cái nhìn khái quát như vậy có thể cần thiết để nhận diện những khía cạnh cơ bản về nội dung cũng như cách tiếp cận vấn đề, từ đó có thể tiếp tục suy ngẫm phương hướng nghiên cứu “văn học mới” Việt Nam nói riêng, “văn học mới” khu vực Đông Á nói chung.

 
 

             Sử thi là một trong những hiện tượng đặc biệt của nghệ thuật ngôn từ dân gian Nga.

 

Từ cuối thế kỷ XVIII, một lượng lớn các tác phẩm sử thi dân gian đã được phát hiện và sưu tập ở các vùng phía bắc nước Nga, được gọi là bylina (điều xảy ra trong quá khứ) hay starinabylina được nhà folklore học I.P.Sakharov (1807 – 1863) đưa vào khoa học những năm 40 thế kỷ XIX. (chuyện thời xưa), bởi cơ sở cốt truyện của chúng là một biến cố anh hùng nào đó, hay một tình huống đặc biệt nào đó của lịch sử Nga. Thuật ngbylina được nhà folklore học I.P.Sakharov (1807 – 1863) đưa vào khoa học những năm 40 thế kỷ XIX.

 Phạm Thị Hảo(*)

 

Quách Mạt Nhược là một hiện tượng  phức tạp đối với giới nghiên cứu học  thuật Trung Quốc. Cuộc đời ông có giai đoạn dài lừng lẫy huy hoàng với những hoạt động văn hoá và cách mạng tốt đẹp. Song có giai đoạn (thời kỳ cuối đời) do tư tưởng sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông  cực đoan dẫn đến nhiều hành vi bị xem thường về tư cách, bị đánh giá thấp ở một số tác phẩm.

Derzhavin sinh năm 1743 trong một gia đình quý tộc Nga gốc Tatar ở vùng Kazan, cha mẹ nghèo gia sản nhưng là những người tử tế, hiền lành. Nếu như tin theo “Bút ký về những biến cố và những sự việc nổi bật có thực diễn ra trong cuộc đời của Gavrila Romanovich Derzhavin” – tác phẩm hồi ký của chính nhà thơ viết vào năm 1812 – thì từ đầu tiên trong đời mà nhà thơ tương lai cất lên (khi lên một tuổi) là từ “Bog” (Chúa).

Nguyễn Đình Phức (*)

 I. Quá trình hình thành và giai đoạn đầu trong lịch sử phát triển của thơ mới Trung Quốc

Thơ ca cổ điển Trung Quốc phát triển đến cuối đời Thanh, hình thức của nó đã không còn thích ứng với nhu cầu của xã hội. Thế nên, ngay từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt sau khi cuộc biến pháp Mậu Tuất thất bại, đứng trước nhu cầu cải cách, Lương Khải Siêu đã hô hào thực hiện cuộc cách mạng trong thơ. Trong Hạ Uy Di du ký viết năm 1899, ông nói: “Nếu China không thực hiện cuộc cách mạng thơ ca thì e rằng vận mệnh thơ ca sẽ tuyệt…và lúc này chính là thời điểm chín muồi cho việc cải cách.” Không chỉ nêu cao ngọn cờ “cách mạng thi giới” (thi giới cách mạng), Lương Khải Siêu còn nêu rõ ba tiêu chuẩn mà thơ ca Trung Quốc cần đạt tới ở thế kỷ XX. Đó là, thơ cần mang ý cảnh mới (tân ý cảnh), ý cảnh mới ấy phải được diễn đạt bằng những danh từ, thuật ngữ mới (tân ngữ cú), và điều quan trọng không kém là, quyết không được rời bỏ phong cách thơ của người xưa (dĩ cổ nhân chi phong cách nhập chi).” Cái gọi “ý cảnh mới” theo Lương Khải Siêu chính là sự cao viễn thâm trầm của lý tưởng (“lý tưởng chi thâm thuý hoành viễn”) được thi nhân biểu đạt trong thơ; những danh từ, thuật ngữ mới chính là những danh từ, thuật ngữ có nguồn gốc Âu châu, ở đây chúng sẽ đóng vai trò tạo ra tính mới mẻ trong thơ; việc chủ trương kế thừa phong cách thơ ca truyền thống chứng tỏ Lương Khải Siêu chỉ chú trọng cải cách về mặt tinh thần, tức nội dung của tác phẩm, chứ chưa đặt nặng vấn đề cải cách hình thức. Chủ trương cải cách thơ ca của Lương Khải Siêu rõ ràng có phần giống chủ trương “độc tích tân giới nhi uyên hàm cổ thanh” (mở ra thế giới thơ mới nhưng vẫn hàm dưỡng phong cách truyền thống) mà Tiền Huyền Đồng đã nêu ra trước đó, hơn nữa những quan điểm của Lương Khải Siêu được nêu ra với tư cách một nhà phê bình, chứ chưa phải với tư cách một nhà thơ, thế nên, mớ lý thuyết này thực sự còn tồn tại rất nhiều bất cập.

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Xưa nay khi nói đến ảnh hưởng của phương Tây đến Lỗ Tấn, người ta thường nói chung chung về kỹ thuật viết văn phương Tây, cấu trúc tác phẩm… Ở phần này, mục đích của chúng tôi sẽ là chỉ ra cụ thể từng trường hợp mà Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng.

LÊ QUANG TRƯỜNG (*)

Ngải Thanh tên thật là Tưởng Hải Trừng (sinh ngày 27-3-1910, mất ngày 5-5-1996) sinh ra trong một gia đình địa chủ họ Tưởng, tại làng Kim Hoa, huyện Tưởng, tỉnh Chiết Giang. Ông là một trong những nhà thơ mới Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đến các nhà thơ mới ở thời kỳ sau.

Prof. Phong Le

(Institute of Literature, Hanoi, VN)

 

ABSTRACT

To establish the mordern face of Vietnamese literature and philosophy, while distinguishing and putting it off its middle-age form and comparing the same cultures in East Asia, such as China, South Korea, North Korea and Japan

 

Vấn đề hiện đại hoá văn học Việt Nam

trong đối sánh khu vực Đông Á

 

1/ Các giáo sĩ Thiên Chúa giáo và thuyền buôn phương Tây đã vào các cảng biển Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII; tiếng súng xâm lược của liên quân Pháp- Iphanho đã nổ vào Đà Nẵng 1858; Hiệp ước Patenôtre nhường đứt chủ quyền dân tộc cho Thực dân Pháp được ký năm 1884… Thế nhưng quá trình hiện đại hoá văn chương - học thuật Việt Nam chỉ có thể diễn ra một cách có ý thức và chủ động, với hiệu quả thấy được, từ thập niên đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam hoàn toàn chuyển sang xã hội bán phong kiến - thuộc địa. Đó là điều khác với Trung Hoa và Nhật Bản.

2/ Đặc thù thứ hai: Ở Việt Nam, quá trình hiện đại hoá cùng song song tiến hành với quá trình cách mạng hoá, cũng đã diễn ra ngay từ thập niên đầu thế kỷ XX cho đến 1945. Trong 45 năm ấy trên biến động của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, đời sống văn chương - học thuật đã đi qua nhiều chặng, cho đến thời 1930-1945 là thời hoàn thiện diện mạo hiện đại của văn học dân tộc, theo ý nghĩa dứt bỏ triệt để mô hình trung đại, với sự xuất hiện của ba trào lưu văn học: cách mạng, hiện thực và lãng mạn; và kết thúc ở thời điểm Cách mạng tháng Tám – 1945. Đó là điều khác với Hàn Quốc và Nhật Bản.

3/ Thế nhưng lịch sử còn tiếp tục một cuộc đi dài cho đến 1975, với 30 năm chiến tranh- chống Pháp, rồi chống Mỹ ( trong đó có 20 năm đất nước chia đôi), trong tình thế chiến tranh lạnh giữa hai phe; cho đến đầu 90 khi Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ. Phải từ đây, từ thập niên cuối thế kỷ XX, ngót nửa thế kỷ sau Cách mạng tháng Tám, văn học Việt Nam mới có hoàn cảnh thuận lợi và thích hợp để tiếp tục và phát triển sự nghiệp hiện đại hoá; như là sự trở lại trên một tầm cao hơn và một quy mô rộng hơn, những mục tiêu đã đặt ra từ thập niên đầu thế kỷ XX. Từ đây, trong bối cảnh Toàn cầu hoá lần thứ 3, hy vọng văn học Việt Nam sẽ nhanh chóng đến được với những mục tiêu chung của nhân loại, dựa trên hai định hướng Dân chủVăn minh, nhằm giải quyết tối ưu mối quan hệ giữa Dân tộcThời đại, giữa Văn hoá dân tộcXã hội hiện đại.

Toàn bộ diễn biến như trên, diễn ra trong suốt thế kỷ XX, qua sự trình bày cụ thể về nó, là vừa có điểm chung, vừa có điểm khác với khu vực đồng văn - Trung Hoa, Hàn Quốc - Triều Tiên, và Nhật Bản.

 

GS. Phong Lê

Nơi công tác:  Viện Văn học

Điện thoại:   0912357748 ;  04.3.8561020

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Địa chỉ liên hệ: Phòng 302 - Nhà F1 - Ngõ 165 đường Thái Hà, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội.

 

Hoàng Thị Xuân Vinh (*)
 

Dịch giả Phong Vũ trong lời giới thiệu “Một đôi nét về Akutagawa và truyện ngắn của ông”, đã nhận định: “Ông sống vào một thời kỳ phức tạp của Nhật Bản khi những cái cũ bị phá vỡ, những khái niệm mới, những trào lưu tư tưởng mới đang được sinh ra” [3, 344].

 

1. Kết cấu truyện lồng truyện và kiểu truyện khung

 

Kết cấu truyện lồng truyện ở góc độ một thủ pháp văn chương đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học thế giới. Một cách đơn giản đây là thủ pháp để lồng ghép một câu chuyện độc lập (có liên quan hoặc không về mặt nội dung) vào tác phẩm chính trong quá trình diễn tiến của tác phẩm. Có thể thấy biểu hiện xa xưa của nó trong sử thi Odyssey của Hy Lạp (thế kỷ VIII trước công nguyên) khi người anh hùng Ulysses tự kể lại những chuyện phiêu lưu của mình trong bữa tiệc.

                                                                                                             Nguyễn Thị Mai Liên(*)

      Trong những năm  cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do sự tiếp xúc với các nước phương Tây nên tại các nước châu Á đã diễn ra quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tây. Quá trình này tác động đến văn hoá, văn học châu Á vô cùng sâu sắc. Một mặt, văn minh phương Tây đã làm thay đổi không ít những giá trị văn hoá truyền thống ngàn đời ở các nước phương Đông. W.Durant, sử gia người Mỹ gốc Pháp cho rằng sự tiếp xúc với người Âu đã thay đổi một truyền thống tốt đẹp trong văn học Ấn Độ là truyền thống thơ ca, là “tâm hồn thi sĩ thiên phú” của người Ấn. Ông viết: “Văn xuôi mới xuất hiện ở Ấn hồi gần đây và ta có thể nói rằng nó là hậu quả một tác động bại hoại do tiếp xúc với người Âu”1. Ở Nhật Bản, nuối tiếc cho cái đẹp truyền thống đang bị mai một trước sức tấn công của văn minh phương Tây, văn hào Y.Kawabata đã làm “người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp” (M.Yoko), “cứu rỗi cái đẹp” (Nhật Chiêu), nâng niu và phát huy giá trị của những cái đẹp truyền thống trong thời đại mới. Tại Việt Nam, các nhà thơ sống ở buổi giao thời cũng tiếc nuối, bâng khuâng tự hỏi: “Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ?”. Tuy nhiên, công cuộc tiếp thu văn hoá này cũng đem lại cho văn hoá, văn học các nước châu Á một diện mạo mới hiện đại, trẻ trung, năng động. Là một nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, Nhật Bản cũng trải qua quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn học phương Tây. Tuy nhiên, nếu các nước như Ấn Độ, Việt Nam và khu vực Đông Nam Á tiếp xúc một cách cưỡng ép thì Nhật Bản lại chủ động mở cửa đón luồng gió phương Tây như họ đã từng làm thời cổ đại khi mở cửa đón nhận văn hoá Trung Hoa. Trong lĩnh vực văn học, Nhật Bản đã tiếp thu thành công các thể loại, đề tài, nội dung, hình thức mới từ văn học phương Tây. Riêng ở thể loại tiểu thuyết, nhiều trường phái bắt đầu xuất hiện từ thời Meiji như tiểu thuyết cổ điển, lãng mạn, hiện thực, tự nhiên... và phát triển đến cực thịnh, trong đó đặc biệt phải kể đến những thành tựu của tiểu thuyết lãng mạn.

 

Sách Sáng thế trong Thánh Kinh có kể về Cain - kẻ phạm tội sát nhân đầu tiên trên thế gian. Cain giết Abel em trai mình, và vì thế Chúa trời nguyền Cain bị đất chối bỏ. Cain lang thang trên mặt đất như một kẻ trốn chạy, và dòng giống của hắn cũng chối từ thờ phụng Thiên Chúa.

Nói đến thơ ca Nhật Bản, người ta nghĩ ngay đến Matsuo Basho (Mat-su-ô Ba-sô/ Tùng Vĩ Ba Tiêu, nhà thơ lớn nhất mọi thời của xứ sở Phù Tang, người đã đưa thể thơ haiku (hai-kư) lên đến đỉnh cao...Ở Việt Nam tên tuồi Basho đã được nhiều người biết đến, nhưng người ta thường nghĩ về ông như một Thiền sư và tuy có biết thơ haiku của ông là có giá trị,, nhưng đại đa số đều cho là rất khó hiểu và xa lạ. Đồng thời do vấn đề chuyển ngữ mà nhiều bài dịch thơ của ông đã trở nên ngô nghê hoặc bí hiểm như một công án. Tuy nhiên tìm hiểu kĩ về ông chúng ta thấy, Basho là một nhà thơ phương Đông, một nhà thơ gắn liền với thời đại mà ông sống, vì thế nếu nhìn từ văn học Việt Nam thì thấy hồn thơ của ông cũng rất gần gũi với những nhà thơ lớn của chúng ta, nhất là với Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Ngược lại nhìn Nguyễn Trãi, Nguyễn Du qua cái nhìn đối sánh với Basho chúng ta cũng phát hiện ra nhiều điểm mới lạ.

Văn phong, cách dẫn chuyện của Cervantes cho đến nay đã có nhiều lỗi thời: dài dòng, mâu thuẫn và lặp không cần thiết, nhưng hạt nhân tư tưởng, giá trị thẩm mỹ của tác phẩm vẫn toả sáng và âm vang qua mọi thời đại. Nhất là những bài học về sáng tạo, tiếp nhận và phê bình văn học vẫn còn có ý nghĩa thời sự đối với chúng ta.

 

Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam từ rất sớm có thể từ trước công nguyên. Tuy là một tôn giáo ngoại nhập nhưng các nhà nghiên cứu thường thống nhất rằng mỗi dân tộc đều có một ông Phật của riêng mình. Vậy thì cái riêng, bản sắc Phật giáo Việt Nam là gì ?. Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận Phật giáo thời Lý - Trần là tinh hoa, đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Chính Phật giáo Lý - Trần đã góp phần làm nên cái chất Đại Việt, làm nên cái hào khí Đông A của thời đại, tạo nên bước nhảy vọt về tư tưởng của dân tộc ta lúc bấy giờ, làm nên sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc sau hơn một ngàn năm bị nô lệ phương Bắc từ năm 111 TCN đến năm 938 SCN. Để góp phần giải đáp cái nét riêng của văn hóa Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo thời Lý Trần có lẽ cần đặt nó trong mối giao lưu - tiếp biến với Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Quốc và tín ngưỡng - văn hóa dân gian bản địa.

I. TỪ NÀNG TIÊN CÁ CỦA ANDERSEN ĐẾN NÀNG TIÊN CÁ CỦA WALT DISNEY.

 

I.1. NÀNG TIÊN CÁ CỦA ANDERSEN.

 

Nàng tiên cá là câu chuyện cổ tích quá quen thuộc “khi người ta trẻ”.  Ra đời năm 1836, Nàng tiên cá trở thành một trong những truyện nổi tiếng trong số 168 truyện kể của Andersen. Câu chuyện kể về nàng công chúa út sống dưới đáy biển khơi, nơi “nước xanh hơn cánh hoa mua biếc nhất, trong vắt như pha lê, nhưng sâu thăm thẳm, sâu đến nỗi neo buông không tới đáy…” cùng vua Thủy tề và bà Hoàng Thái hậu. Nàng đẹp nhất và hát hay nhất trong số 6 chị em, mỗi người cách nhau một tuổi. Khi vừa tròn 15 tuổi, các cô sẽ được bơi trên mặt biển để tha hồ  nhìn ngắm thế giới đất liền. Nàng tiên út của chúng ta rất say mê những câu chuyện về đất liền và về con người.

 Những nhà du lịch chuyên nghiệp cũng như những nhà văn, nhà thơ xuất sắc đều là những nhà khám phá vĩ đại. Họ thích đào sâu vào những vùng đất lạ lẫm, xa xăm, những cánh rừng hoang dã, những con người, xã hội để khám phá ra bí ẩn của chúng. Họ sở hữu kho vô tận sự hiếu kỳ và bí mật. Họ sẽ sử dụng kinh nghiệm, con mắt chuyên nghiệp để quan sát những phong tục và văn hóa của loài người. Là chứng nhân của thiên nhiên và những phong cách sống, họ sẽ sử dụng những quan sát đó để phản ánh những thiếu sót, khiếm khuyết của xã hội mà họ đang sống.

                     

           Nếu văn minh là cái con người thêm vào thiên nhiên thì nghệ thuật là sự thêm vào cuộc sống.

           Thời đương đại, con người trở thành ký hiệu giữa một hiện thực thậm phồn, thành mắt xích trong guồng máy bất tận của đời sống. Sự hiện hữu của con người dường như càng ngày càng bị thu hẹp lại cùng với những tiến bộ của văn minh vật chất. Con người sống nhiều với “xa lộ” của cuộc hiện hữu- làm việc, ăn uống, vui chơi- mà đánh mất những “đường hầm” lẽ ra phải là chốn về quen thuộc.

Mặc dù văn học Trung Quố́c từ thời cổ  đại đã có nhiề̀u tác phẩm đề cập tới nhân vật nữ mang tinh thần phản kháng đối với tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh nữ (Đỗ Lệ Nương, Thôi Oanh Oanh, Lâm Đại Ngọc…), nhưng hầu hết những giá trị, phẩm chất, đời số́ng cá nhân, thế́ giới tinh thần và thể xác của họ vẫn được nhìn nhận dưới quan điể̉m của nam giới. Còn sự trải nghiệ̣m của nữ giới với tư cách là cá nhân có cảm nhận, suy nghĩ, trạng thái sinh tồ̀n… vẫn không được nhìn nhận dưới góc độ người nữ làm chủ thể. Kể cả trong sáng tác của các tác giả nữ, tự yù thức về chủ thể tính vượt lên trên mặc cảm giới tính vẫn chưa xuất hiện. Những tác phẩm như vậy chỉ có thể xem là tiếng nói bênh vực hoặc ca ngợi phái nữ, chứ chưa thể gọi là “văn học nữ”.       ‎‎‎

Thông tin truy cập

54089626
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
9196
9223
54089626

Thành viên trực tuyến

Đang có 298 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website