Nếu như con sống Vũ Đình Liên năm nay vừa tròn trăm tuổi (1913– 2013). Vũ Đình Liên sinh ngày 12.11.1913 (nhằm ngày 15.10 năm Quý Sửu) ở Hà Nội. Quê gốc của ông ở Châu Khê, Bình Giang, Hải Hưng với dòng họ Vũ giàu truyền thống văn hiến. Thuở ấu thơ, ông là một học trò giỏi có tiếng ở đất Hà thành. Đỗ tú tài trường Bưởi năm 1932, ông dạy học ở các trường tư thục Thăng Long, Gia Long, trường nữ sinh Hoài Đức vừa để kiếm sống vừa có điều kiện học Đại học Luật. Thời gian này, Vũ Đình Liên cũng bắt đầu xuất hiện như một nhà thơ, nhà báo trên báo Phong hoá của Đoàn Phú Tứ, và một số báo khác như Phụ nữ thời đàm, Tinh hoa... Ông chủ trương mở Tạp chí Giáo dục bằng tiếng Pháp Revue Pédagogique.

 Đinh Thị Thu Vân là một trong những nhà thơ nữ của ĐBSCL. Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Long An, tốt nghiệp Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh năm 1977 nhưng không theo nghề dạy học, Đinh Thị Thu Vân trở về phục vụ cho quê hương bên ngành thư viện. Thời gian đầu cô làm Biên tập viên, sau trở thành Tổng Biên tập cho tạp chí Văn Nghệ Long An.

 

 Tham luận tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại 

Lê Thuỵ Tường Vy(*)

Mình tự vượt mình, để luôn luôn ở đầu ngọn sinh hoạt: trổi với dòng sống không ngừng.

(Quan niệm)

 Mười năm sau cuộc cách mạng Thơ Mới, Xuân thu nhã tập lội dòng nước ngược, trở về với cội nguồn Á Đông. Tinh thần tiên phong, “luôn luôn ở đầu ngọn sinh hoạt”, là động lực thôi thúc các tác giả Xuân thu bứt phá và vượt qua Thơ Mới. Có những bứt phá thành công, có những bứt phá chỉ mới là dự phóng nhưng vẫn đầy sức lôi cuốn. Sức lôi cuốn ấy không chỉ xuất phát từ những ý tưởng mới mẻ, táo bạo của các tác giả Xuân thu nhã tập mà còn ở tư thế tiên phong và dám dấn thân của những người sáng tạo ra nó. Vì vậy, thưởng thức Xuân thu nhã tập ở góc độ một tác phẩm biết cách “tự vượt mình” là một điều thú vị.

Tên thật là Hồ Văn Cam, sinh năm 1960 tại xã Sơn Đông, tỉnh Bến Tre, Kim Ba hiện là Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu - Bến Tre. Xuất thân trong một gia đình nông dân cả đời cơ cực, Kim Ba đã mang cái chất mộc mạc, giản dị, nắng gió của đồng bằng vào các tập thơ của mình một cách tự nhiên và chân thật. Năm 1993, ông đạt giải nhất cuộc thi thơ do báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Đó cũng là bước ngoặc đáng nhớ cho sự ra đời hàng loạt các tập thơ sau này.

Tham luận tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại    

Trần Ngọc Hồng (*)

1. Khái niệm “khách chinh phu” theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên) được hiểu như sau: “Khách” là người tài hoa, người anh hùng, người hiệp khách(1); “chinh phu” là người đàn ông đi đánh trận thời phong kiến(2). Cách hiểu này cũng phản ánh cái cốt lõi của hình tượng “khách chinh phu” trong văn học lãng mạn 1930-1945 mà cụ thể là trong phong trào Thơ Mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Nó được xem là những con người, những nhân vật sẵn sàng hi sinh tất cả những gì riêng tư theo tiếng gọi lên đường cho một lí tưởng đẹp đẽ, thiêng liêng. Lí tưởng đó được hiểu một cách chung nhất là phụng sự cho đất nước, cho dân tộc trong một chặng đường trầm luân của lịch sử. Cách hiểu này kết tinh trong Thơ Mới bằng cái tôi trữ tình trong một số tác phẩm của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân v.v. và các nhân vật như Dũng, Thái, Tạo, Trúc v.v. của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Nó hiện ra thật đẹp với hình ảnh:

(Tạp chí Văn hoá - Du lịch số 1 (bộ mới), ngày 11.11.2012)

1. Năm 1965 Hội Văn nghệ Giải phóng công bố Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu. Có cả thảy 54 tác phẩm được tặng thưởng. Văn học chiếm 17 giải. Có hai giải đặc biệt là Từ tuyến đầu Tổ quốc, tập thư của nhân dân miền Nam gửi cho người thân tập kết ra Bắc; Sống như anh (Phan Thị Quyên kể, Trần Đình ghi) kể về cuộc đời anh Nguyễn Văn Trỗi. Trong 15 giải chính thức về thơ có 4 giải chính. Đó là tập Quê hương của Giang Nam, Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn, Những đồng chí trung kiên của Thanh Hải, và Tập thơ của nhiều tác giả. Thế là từ đây Thanh Hải bắt đầu được khẳng định.

Tham luận đọc tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại    

Hà Thanh Vân(*)
Ra đời cách đây vừa tròn 80 năm, Phong trào Thơ mới và những tác phẩm tiểu thuyết của  nhóm Tự lực văn đoàn đã chứng tỏ một sức sống dài lâu trong lòng công chúng Việt Nam. Thời gian trôi qua, có những giá trị được xác định lại, có giá trị được đề cao, cho thấy nghiên cứu về Thơ mới và Tự lực văn đoàn bao giờ cũng có sức thu hút riêng.

Nhà thơ Đơn Phương      

 “Hồn từ giã xác thân ra khỏi thế

Bay về trời hay bay mãi về đâu?

Dưới không gian lướt thướt ánh nhiệm màu

Xác bất động nằm im trong tê dại…

Đọc đoạn thơ trên, nếu không biết tên tác giả có lẽ sẽ gợi lên cho chúng ta nhớ về những vần thơ rướm máu của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Mấy ai biết rằng đó lại là dấu vết tâm hồn của một thi nhân cùng chịu chung một trong “tứ chứng nan y” với thi sĩ họ Hàn và cũng vô cùng có duyên với thi sĩ này, nhà thơ Đơn Phương.

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn giao thời, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 5/2012, tr.84-98
Lê Tú Anh(*)
                                                           
Trong thi pháp tiểu thuyết, ngôn ngữ là một phương diện rất quan trọng. Ngoài tư cách là công cụ để chuyển tải tư duy - một kiểu tư duy khác hẳn các thể loại văn học khác, ngôn ngữ tiểu thuyết còn mang những nét đặc trưng khu biệt. Trong giai đoạn giao thời văn học Việt Nam, những đổi thay trên phương diện ngôn ngữ là một thành tựu quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền văn học theo hướng hiện đại. Nhưng trên hết, chúng là những hiện hữu sống động về quá trình hiện đại hóa của thể loại có vị trí quan trọng số một này trong nền văn học.

Tham luận đọc tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại  

Với bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ đăng trên Phụ nữ tân văn số 122 (10/3/1932), Phan Khôi đã tuyên chiến công khai với Thơ cũ. Mở đầu ông kể lại duyên do ông làm bài thơ theo lối mới này:

Nguyễn Công Lý, Tiểu thuyết lịch sử của Phạm Minh Kiên, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ,  Tập 15 X1-2012, tr 15-29

I. Về tiểu sử, dù các nhà nghiên cứu và chúng tôi đã bỏ nhiều công sức kiếm tìm, nhưng hiện vẫn chưa rõ quê quán, năm sinh và mất của Phạm Minh Kiên. Chỉ biết ngoài bút danh Phạm Minh Kiên, ông còn ký tên Tuấn Anh và Dương Tuấn Anh. Có thể Dương Tuấn Anh là tên thật của ông. Về quê quán, qua thông tin giới thiệu trên vài tờ báo lúc bấy giờ cho biết, thì Phạm Minh Kiên quê gốc ở miền Trung (Bình Định ?), trước vốn là một tu sĩ Phật giáo, sau vào Sài Gòn gia nhập làng văn làng báo từ những năm 20 của thế kỷ XX. Những năm tháng hoạt động ở Sài Gòn, ông cộng tác thường xuyên các báo Nông cổ mín đàm, Đông Pháp thời báo, Lục tỉnh tân văn, Nam kỳ kinh tế báotrong các mục Tự do diễn đàn, Văn uyển, Xã luậnvới nhiều bài viết có phong cách, tạo dấu ấn riêng và ông đã từng là trợ bút tờ Nông cổ mín đàm trong hai năm 1923-1924, rồi làm chủ bút của tờ báo này từ số 123, ngày 26 tháng 8 đến số 133 (là số cuối), ngày 04 tháng 10 năm 1924; và chủ bút tờ báo Nhựt tân (lúc ông Lê Thành Tường sáng lập, hiện chưa rõ thời điểm cụ thể). Một số tiểu thuyết của ông trước khi xuất bản thành sách thường đã được cho đăng nhiều kỳ trên các tờ báo vừa nêu.

Vu Gia (thực hiện)

           Ngày 20/10/2012,  tại Trường ĐH Sư phạm TP. HCM, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP. HCM phối hợp với Trường ĐH Sư phạm TP. HCM, Tạp chí Thế Giới Mới, Khoa Văn học và Ngôn ngữ Trường ĐH KHXH-NV TP. HCM tổ chức Hội thảo "Phong trào Thơ mới và Văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại". Nhân dịp này, PGS. TS. Trần Hữu Tá - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP. HCM cùng PGS. TS. Nguyễn Thành Thi - Trưởng Khoa Ngữ Văn Trường ĐH Sư phạm TPHCM có cuộc trao đổi về những vấn đề được chú ý trong hội thảo. 

Sau biết bao chìm nổi thăng trầm suốt một trăm năm qua, di sản Hàn Mặc Tử ngày càng chứng tỏ một sức sống không thể vùi dập, một giá trị không thể quên lãng. Chúng ta đã có thừa căn cứ để khẳng định Hàn Mặc Tử là một thiên tài thi ca. Nhìn cuộc đời và thi nghiệp của thiên tài này từ cái nhìn hôm nay, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quí giá đối với việc sáng tạo.

NVTPHCM- Ngày 01.10.2012, nhà văn Lê Văn Thảo mừng sinh nhật lần thứ 73. Từ kinh nghiệm đời văn bền bỉ của mình, ông đúc kết: “Tôi thấy nhà văn cần có trước tiên sự chân thật. Sống chân thật để viết chân thật, viết từ lòng mình, sâu thẩm trong trái tim mình, một chút “mạ vàng” sẽ lộ ra ngay. Văn chương rất khắc nghiệt, không chấp nhận sự làm dáng, phô trương, nghĩ thế này nói thế khác. Có thể che giấu với người đời, không thể che dấu với chữ nghĩa”.

Một ngày cuối thu tháng Mười năm 1965 tôi nghe qua Đài Tiếng nói VN một tin quan trọng: Hội Văn nghệ Giải phóng công bố Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu. Có cả thảy 54 tác phẩm được tặng thưởng. Văn học chiếm 17 giải. Có hai giải đặc biệt là Từ tuyến đầu Tổ quốc, tập thư của nhân dân miền Nam gửi cho người thân tập kết ra Bắc; Sống như anh (Phan Thị Quyên kể, Trần Đình ghi) kể về cuộc đời anh Nguyễn Văn Trỗi. Trong 15 giải chính thức về thơ có 4 giải chính. Đó là tập Quê hương của Giang Nam, Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn, Những đồng chí kiên của Thanh Hải, và Tập thơ của nhiều tác giả. Thế là từ Thanh Hải bắt đầu được khẳng định.

LÊ THỊ THANH TÂM

(*)

Tham luận tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại  

1. Một nhà thơ mới giữa “trời Nam”

Trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca (phần đầu cuốn Thi nhân Việt Nam), Hoài Thanh đã đặt tên tuổi Hồ Văn Hảo, một thi sĩ của đất Nam kỳ, vào văn học sử một cách nhẹ nhàng khi nhắc đến ông cùng với nữ sĩ Manh Manh như một sự kiện có tính thời sự theo con đường thăng trầm của trào lưu Thơ Mới. Và ở phần giới thiệu những gương mặt thơ mới tiêu biểu, các tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam đã chọn Đông Hồ, Mộng Tuyết cùng một số nhà thơ trẻ tuổi khác như những đại diện thơ ca của xứ Nam kỳ. Từ đó, việc thẩm định, đánh giá những thi nhân nổi bật của làn sóng thơ mới 1932-1945 không ưu ái gì thêm cho nhà thơ Hồ Văn Hảo - người làm thơ lặng lẽ không hề có bút danh, nghệ danh.

Tóm tắt:  Ba thập niên đầu tiên của thế kỉ XX là một giai đoạn đặc biệt của lịch sử văn học Việt Nam: giai đoạn diễn ra quá trình chuyển đổi loại hình từ một nền văn học Trung đại, song ngữ Hán – Nôm, cấu trúc theo mô hình văn học Trung Quốc sang nền văn học Hiện đại, đơn ngữ Quốc ngữ, cấu trúc theo mô hình văn học Tây phương. Nói cách khác, đây là giai đoạn tái cấu trúc và hình thành nên văn học hiện đại ở Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội số 9 (133)/2009 trang 55-68

                                                     

TÓM TẮT

 Thế Lữ là người “khởi điểm của những khởi điểm”. Trong buổi đầu của nền văn học quốc ngữ Việt Nam, ông đã có những đóng góp to lớn cả ở thơ, truyện, báo chí, và sân khấu kịch nói. Với ý thức chủ động học tập phương Tây để đổi mới nền văn học nước nhà, thực hiện tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn, ông đã tìm đến văn học Anh Pháp và có sự tiếp nhận sáng tạo độc đáo kĩ thuật sáng tác trong thể loại truyện ngắn. Đặc biệt là thể loại truyện trinh thám. Tiếp thu linh hoạt năm hình mẫu truyện trinh thám của nhà văn Mỹ Edgar Poe mà hầu hết các nhà viết truyện trinh thám coi là khuôn mẫu, kết hợp tư duy Đông – Tây độc đáo, Thế Lữ đã có nhiều thử nghiệm mới mẻ, góp phần đặt nền móng cho truyện trinh thám Việt Nam.

Hàn Mặc Tử - Tạ Tỵ vẽ

Hàn Mặc Tử - Tạ Tỵ vẽ

            1. Trước khi có Hàn Mặc Tử, người ta chỉ biết có hai loài đáng trọng vọng là “Thiên thần” và “loài Người”. Nhưng từ khi có Hàn Mặc Tử, người ta mới biết còn có thêm một loài nữa, đó là “loài thi sĩ”. Sau 15 năm làm thơ, đến năm 27 tuổi, ông mới định vị được cái loài lạ lùng đó khi viết thư cho một người bạn thân nói về quan niệm thơ của mình: “Đức Chúa Trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí Tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “thiên thần” và “loài người”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: “loài thi sĩ”!”. Tại sao Hàn Mặc Tử lại tách Thi sĩ ra khỏi loài người? Cứ tưởng đấy là một quan niệm điên khùng, siêu hình, nhưng không phải như thế; và ông đã giải thích rõ khi viết tiếp liền sau đó: Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã tạo nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch” - (Thư gửi cho Hoàng Trọng Miên, bạn thân của HMT trong bài Quan niệm về Thơ). Thì ra loài người không biết và không thể làm được cái việc “trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch”. Tách thi sĩ ra khỏi loài người không phải để thoát ly người, mà là để đề cao Thi sĩ, đề cao nghệ thuật, đề cao thiên chức của người sáng tạo, chung quy cũng là để đề cao cái đẹp tuyệt đối mà thôi. Bởi đối với Hàn, Thi sĩ cũng là người, nhưng là siêu người. Trong Lời tựa tập “Đau thương” ông bộc lộ rõ điều đó:

Thông tin truy cập

71541236
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
12341
17754
71541236

Đang có 425 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website